Tự Lực Văn Đoàn dù đặc sắc đến mấy cũng chỉ là thành phần của một trào lưu văn học nói chung trong một thời. Bởi vậy ở đây thiết tưởng chúng ta nên có một cái nhìn tổng quát để bao giồm những hoạt động văn nghệ đương thời. Chúng ta lần lượt xét:
Một nhóm đồng thời với Tự Lực Văn Đoàn Một vài nhà văn điển hình đồng thời với Tự Lực Văn Đoàn Một vài nhà thơ điển hình đồng thời với Tự Lực Văn Đoàn Mấy nhóm đồng thời với Tự Lực Văn Đoàn
Nhóm Hàn Thuyên
Giữa ngày Nhật đặt chân lên mảnh đất Đông Dương để chia quyền lợi với Pháp, một số tri thức Đệ tứ đứng ra thành lập nhóm Hàn Thuyên.
Khác hẳn với Tự Lực Văn Đoàn nhóm này mở đầu bằng một loại biên khảo như Nguyễn Đức Quỳnh, với Lịch Sử Thế Giới, Gốc Tích Loài Người; Nguyễn Bách Khoa với Nhân Loại Tiến Hóa Sử, Văn Chương Truyện Kiều; Nguyễn Hải Âu với Kinh Tế Học Nhập Môn..., dịch thuật có Đặng Thái Mai, Nguyễn Tuân, Nguyễn Đức Quỳnh, Nguyễn Đình Lạp, Chủ Thiên, Trương Tửu viết tiểu thuyết, Vi Huyền Đắc viết kịch; Họa sĩ Nguyễn Đỗ Cung trình bày bìa.
về phần biên khảo nhóm này muốn đi sâu vào mọi mặt lịch sử chính trị, học thuyết kinh tế theo quan điểm Mác-xít.
về loại sáng tác, Nguyễn Tuân có thái độ (qua giọng văn và qua các nhân vật của ông) đài điếm, quý phái, rất cổ kính, ưa khinh bạc, phóng túng.
Chu Thiên (tên thật là Hoàng Minh Giám) tả lại một thời dĩ vãng của trường ốc thời xưa, trong cuốn Bút Nghiên. Nguyễn Đức Quỳnh viết Thằng Cu So, Thằng Phượng, Thằng Kình tiểu thuyết giáo dục hướng thượng, phân tách cuộc đời một thằng bé nhà quê từ lọt lòng cho đến khi học tới lớp nhì A cần phải tranh đấu với bản thân và trường đời nhỏ bé ra sao?
Nhóm Xuân Thu nhã tập
Xuân Thu nhã tập là một nhóm văn nghệ gồm có Đoàn Phu Tứ, Nguyễn Xuân Sanh, Phạm Văn Hạnh, (nòng cốt) và những nhà thơ cộng tác hưởng ứng như Nguyễn Lương Ngọc, Đình Gia Trinh, Diệu Anh...
Những vở kịch hoặc dài hoặc ngắn của Đoàn Phu Tứ lời văn bay bướm tài hoa được sự hưởng ứng nồng nàn của tuổi trẻ.
Thơ của Nguyễn Xuân Sanh rất chau chuốt về kỹ thuật nhiều hình ảnh nhưng bí hiểm. Thơ Nguyễn Xuân Sanh mà không có lời giải thích của Đinh Gia Trinh bên cạnh thì thực khó có ai hiểu nổi những điều nhà thơ muốn nói.
Thí dụ hai câu dưới đây trích trong bài Buồn Xưa.
Quỳnh hoa chiều đọng nhạc trầm mi
Hồn xanh ngát chở dấu xiêm y
có nghĩa là: Buổi chiều trong hoa quỳnh, vẳng nghe nhạc, ngửi thấy hương trầm, trông thấy mi kỹ nữ của cả một thời xưa. Hồn ta say sưa vì đẹp dĩ vãng (hồn màu xanh tươi, ngát hương) chở mang dấu xiêm y của các mỹ nhân thời xưa múa khúc nghê thường.
Một vài nhà văn điển hình đồng thời với Tự Lực Văn Đoàn
Các nhà tiểu thuyết
Lan Khai (1906-1946)

.
Chúng ta có thể nói Lan Khai là nhà văn đã khai thác truyện đường rừng trước tiên (Tiếng Gọi Trong Rừng Thẳm, Suối Đàn...). Về tiểu thuyết dã sử, nhiều nhà phê bình văn học đồng ý là Ai Lên Phố Cát là cuốn truyện dã sử giá trị nhất của Lan Khai. Ông có viết truyện xã hội nói về cảnh khổ sở của người dân Việt qua cuốn Lầm Than. Ông lại còn viết truyện phong tục đồng quê Cô Dung. Nhưng điểm trội ở Lan Khai vẫn là truyện đường rừng rồi đến truyện dã sử.
Nguyễn Triệu Luật (1903-1946)

.
Chuyên viết truyện dã sử và thường dùng tài liệu sử trong Hoàng Lê Nhất Thống Chí (Ngô Tất Tố dịch). Tác phẩm: Bà Chúa Chè (1938), Loạn Kiêu Binh (1939), Chúa Trịnh Khải (1940), Hòm Đựng Người, Rắn Báo Oán (1941).
Phan Trần Chúc (1907-1946)

.
Ông vừa viết tiểu thuyết dã sử vừa viết biên khảo.
Tiểu thuyết dã sử: Lê Hoan (1939), Sau Lũy Trường Dục (1942), Hồi Chuông Thiên Mụ... Những cuốn biên khảo: Vua Hàm Nghi (1935), Vua Quag Trung (1940), Danh Nhân Việt Nam Qua Các Triều Đại (1942), Văn Chương Quốc Âm Về Thế Kỷ 19 (1944).
Vũ Trọng Phụng (1912-1939)

.
Ông viết phóng sự, tiểu thuyết ngắn và dài. Những tác phẩm của ông như Cạm Bay Người, Kỹ Nghệ Lấy Tây, Cơm Thầy Cơm Cô, Lực Sĩ, Giông Tố, Dứt Tình, Lấy Nhau Vì Tình, Vỡ Đê, Làm Đĩ, Không Một Tiếng Vang, Trúng Số Độc Đắc, Số Đỏ... đều do nhà Mai Lĩnh và Tân Dân xuất bản. Nhưng mọi người đều đồng ý rằng sự nghiệp của nhà văn tiền chiến này căn cứ vào hai tác phẩm xuất sắc nhất của ông: Giông Tố và Số Đỏ.
Ngô Tất Tố (1894-1954)

.
Ông là một nhà Nho. Ông viết hai loại chính: biên khảo văn học và sáng tác.
Loại biên khảo có Thi Văn Bình Chú, Lão Tử, Mặc Tử.
Loại sáng tác có Việc Làng, Tắt Đèn, nhưng đáng kể là cuốn Lều Chông vẽ lại cả một thời đại vàng son của một thế hệ Nho sĩ đã qua đi.
Nguyễn Công Hoan (1903-1977)

.
Ông viết những truyện trào phúng hoặc những truyện tố cáo nếp sống khắt khe của xã hội phong kiến. Tác phẩm: Thanh Đạm (1933), Lá Ngọc Cành Vàng (1934), Cô Giáo Minh (1936), Tắt Lửa Lòng (1936), Tấm Lòng Vàng (1937), Tơ Vương (1938), Bước Đường Cùng (1938), Tay Trắng Trắng Tay (1940), Trên Đường Sự Nghiệp (1941), Tranh Tối Tranh Sáng (1946), Ép Duyên (1948).
Một vài nhà văn về biên khảo, phê bình, dịch thuật
Phan Văn Hùm (1902-1946)

.
Sinh năm 1902 ở Búng, Lái Thiêu (Nam Phần), ông đứng trong lập trường Đệ tứ với Tạ Thu Thâu, Trần Văn Thạch nên bị Cộng sản thủ tiêu vào năm 1946. Ông đã từng ra Hà Nội theo học ngành Công chánh, khi tốt nghiệp trở về Nam bộ làm vườn, không ra làm việc với Pháp. Năm 1929, vì ông là bạn của Nguyễn An Ninh, nên bị thực dân lấy cớ vụ lộn xộn ở Cầu Bến Lức bắt giam ông vào Khám Lớn Saigon. Năm 1933 ông qua Paris du học, đậu cử nhân triết học (tốt nghiệp ở Sorbonne). Về nước ông xuất bản tờ La Lutte và Đồng Nai. Năm 1937 ra ứng cử nhân viên Hội đồng quản hạt (Conseiller Colonial). Năm 1939 lại bị vào tù vì một bài trên báo La Lutte. Năm 1942 ra tù, ông bị đưa đi quản thúc ở Tân Uyên (Biên Hòa).
Trong tác phẩm “Ngồi Tù Khám Lớn” (Bảo tồn -1929), ông tả những cảnh não nề trong khám và lên án thực dân bằng một giọng văn căm hờn. Ông cho rằng đúng như lời Nguyễn An Ninh, vào tù trái tim sẽ nát như tương hay sẽ cứng như đồng: En prison le coeur se brise ou se bronze.
Những tác phẩm biên khảo của ông: Biện Chứng Pháp, Phật Giáo Triết Học (Tân Việt 1941), Vương Dương Minh (Tân Việt 1941), Nỗi Lòng Đồ Chiểu
Ông quả là một nhà biên khảo văn học giá trị, một học giả uyên thâm rất có công với nền văn học của chúng ta.
Hoàng Xuân Hãn (1908-1996)

.
Ông du học ở Pháp, đậu thạc sĩ Khoa học. Năm 1945 ông có tham gia Chánh phủ Trần Trọng Kim làm Tổng trưởng Bộ Quốc Gia Giáo Dục.
Tác phảm đã xuất bản: La Sơn Phụ Tử, Lý Thường Kiệt, Danh Từ Khoa Học (Tự Điển).
Các sách biên khảo và chú giải có tính cách giáo khoa như: Hà Thành Thất Thủ, Thi Văn Việt Nam Chinh Phụ Ngâm Bị Khảo ...
Vũ Ngọc Phan

.
Ông là một nhà văn biên khảo và phê bình có giá trị. So với các nhà phê bình đồng thời như Thiếu Sơn, Trương Chính, Hoài Thanh... ông làm việc có hệ thống hơn cả.
Tác phẩm dịch của ông là An Na Kha lệ Ninh, Tiêu Nhiên Mỵ Cơ.
Năm 1942 ông viết bộ phê bình văn học Nhà Văn Hiện Đại gồm bốn tập. Ở đây ông không theo lối phê bình đại cương cũ, mà dùng phương pháp phân tách tỉ mỉ từng tác giả.
Hoài Thanh - Hoài Chân
Hai ông là tác giả cuốn Thi Nhân Việt Nam. Tác phẩm này có tính cách một cuốn thi tuyển kèm theo những lời giới thiệu khuynh hướng thi ca của từng thi nhân.
Nhượng Tống

.
Tên thật là Hoàng Phạm Trân. Có chân trong Việt Nam Quốc Dân Đảng. Ông viết báo, rồi viết văn dịch sách. Năm 1950 ông bị ám sát ở Hà Nội vì lý do chính trị.
Tác phẩm đã xuất bản: Lan Và Hữu (1940), Sử Ký Tư Mã Thiên (1944) (dịch trích diễm). Tây Sương Ký (biên chú), Ngự Điểu Vấn Đáp (dịch với Phạm Văn Hùm) nguyên tác của Đồ Chiểu; Đại Việt Sử Ký (dịch của Ngô Sĩ Liêm), Ly Tao (dịch thơ Khuất Nguyên), Nguyễn Thái Học...
Một vài nhà thơ điển hình đồng thời với Tự Lực Văn Đoàn
Vũ Hoàng Chương

.
Tác phẩm: Thơ Say (1940), Mây (1943), Trương Chi, Hồng Điệp (1944), Rừng Phong (1954).
Bài dưới đây trích trong tập thơ “Mây”
Đời tàn ngõ hẹp
Gối vải mộng phong hầu,
Vàng son mở gác xép
Bừng tỉnh mưa còn mau
Chiều tàn trong ngõ hẹp
Mưa lùa gian gác xép
Ngày trắng theo nhau qua
Lá rơi đầy ngõ hẹp
Đời hiu hiu xế tà
Ôi ta đã làm chi đời ta
Ai đã làm chi lòng ta
Cho đời tàn tạ lòng băng giá
Sương mong manh quạnh chớm thu già
Mải mê theo sự nghiệp
Quá trớn lỡ giầu sang
Mưa rơi chiều ngõ hẹp
Lá vàng bay ngổn ngang
Dìu vương nhau mươi chiếc lá khô vàng
Xuân đời chưa hưởng kịp
Mây mùa thu đã sang
Giấc hồ nghe phất phới
Cờ biển nhịp mơ màng
Đường hoa son phấn đợi
Áo gấm về xênh xang
Chập chờn kim ốc giai nhân
Gió lạnh đưa vèo
Khoa danh trên gối rụng tàn theo
Nao nao đàn sáo phai dần
Hạnh phúc tàn theo
Nửa gối thê nhi lá rụng vèo
Song hồ lơ lửng khép
Giường chiếu ẩm hơi mưa
Chiêm bao giờ thoáng hương thừa
Tan rồi mộng đẹp
Ôi thời xưa
Ta đã làm chi đời ta xưa
Ta đã dùng chi đời ta chưa
Thiên thu ngờ sự nghiệp
Chiều mưa rồi đêm mưa
Gió lùa gian gác xép
Đời tàn trong ngõ hẹp.
Lưu Trọng Lư

.
Sinh năm 1919 tại làng Cô Lao hạ, huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình (Trung Phần). Ông có viết tiểu thuyết (Cổ Nguyệt, Huyền Không Động, Chiếc Cáng Xanh) nhưng địa vị của ông là ở thi ca, ông là một thi nhân có những vần thơ sầu nhè nhẹ, với những hình ảnh vô cùng gợi cảm của thiên nhiên vạn vật. Tập thơ Tiếng Thu của ông xuất bản vào năm 1939.
Đọc bài thơ lục bát sau đây chúng ta phải đồng ý với Hoài Thanh - Hoài Chân mà thấy bóng người con gái quay tơ như ẩn sau màn mây mờ, biết có nàng nhưng không thấy nàng, và cũng đừng tìm nàng làm chi, cứ để mặc cho lòng trôi theo âm hưởng đặc biệt của bài thơ ngân nga dằng dặc buồn và đều như tiếng guồng xa. Sau khi đọc xong bài thơ ta thấy bát ngát một trời đất ta không hiểu, thi nhân cũng không hiểu.
Thơ Sầu Rụng
Vừng trăng từ độ lên ngôi,
Năm năm bến cũ em ngồi quay tơ.
Để tóc vương vần thơ sâu rụng,
Mái tóc buồn thơ cũng buồn theo.
Năm năm tiếng lục se đều ...
Những ngày lạnh rớt gió vèo trong cây.
Nhẹ bàn tay, nhẹ bàn tay,
Mùi hương hàng xóm bay đầy mái đông.
Nghiêng nghiêng mái tóc hương nồng,
Thời gian lặng rót một giòng buồn tênh.
Và đây là những vần âm thanh dịu hiền và bâng khuâng của mùa thu:
Tiếng Thu
Em không nghe mùa thu
Dưới trăng mờ thổn thức
Em không nghe rạo rực
Hình ảnh kẻ chinh phu
Trong lòng người cô phụ.
Em không nghe rừng thu
Lá thu kêu xào xạc
Con nai vàng ngơ ngác
Đạp lên lá vàng khô.
Hàn Mặc Tử
.jpg)
.
Tên thật là Nguyễn Trọng Trí, sinh ngày 22-9-1912 ở Đồng Hới. Cuộc sống của ông qua nhiều nghề: thư ký, nhà buôn, làm báo... vô cùng nghèo khổ. Năm 1936, sau khi du lịch Huế, Nha Trang. ông mắc bệnh hủi, rồi mất ở Quy Nhơn ngày 2-9-1940.
Trước khi mắc bệnh hủi, thơ ông có dáng hấp hiền dịu (Gái Quê 1936).
Chúng ta hãy đọc bài Tình Quê dưới đây trích trong tập trên:
Trước sân anh thơ thẩn,
Đăm đăm trông nhạn về,
Mây chiều còn phiêu bạt,
Lang thang trên đồi quê.
Gió chiều quên dừng lại,
Dòng nước luôn trôi đi,
Ngàn lau không tiếng nói,
Lòng anh dường đê mê.
Cách nhau ngàn vạn dặm,
Nhớ chi tới trăng thề.
Dù ai không ngóng đợi,
Dù ai không lắng nghe,
Tiếng buồn trong sương đục,
Tiếng hờn sau lũy tre.
Dù ai bên bờ liễu,
Dù ai dưới cành lên,
Với ngày xanh hờ hững,
Cố quên tình phu thê,
Trong khi nhìn mây nước.
Lòng xuân cũng não nề.
Nhưng từ sau ngày mắc chứng nan y, thơ ông đau khổ não nuột, hơi thơ mạnh bạo và có một bản sắc rõ ràng. Về loại thơ này dưới đây tóm tắt lời phê bình của hai ông Hoài Thanh - Hoài Chân trong Thi Nhân Việt Nam.
Trong “Thơ Điên’” của Hàn Mặc Tử, vườn thơ của người rung rinh không bờ bến, càng đi xa càng ớn lạnh.
Có những câu gần với ta:
Ngả nghiêng đồi cao bọc trăng ngủ,
Đầy minh lốm đốm những hào quang.
Lại có những cảm giác với ta rất thường, với Hàn Mặc Tử lại rất ghê sợ:
Mây chết đuối ở dòng sông vắng lặng,
Trôi thây về xa tận cõi vô biên.
Tập Xuân Như Ý là một ngôi đền thờ Chúa của Hàn Mặc Tử. Ở đây phảng phất không khí Athalie (vở kịch của Racine) ngộp vẻ huy hoàng, trang trọng, uy linh, huyền ảo. Với Hàn Mặc Tử thơ có một quan hệ phi thường. Thơ chẳng những để ca tụng Thượng đế và cũng để nối người ta với Thượng đế:
Đường thơ bay sáng láng như sao sa,
Trên lục trắng mười hai hàng chữ ngọc.
Cho nên mỗi lần thi sĩ há miệng cho thơ trào ra là chín tầng mây náo động, muôn vì tinh tú xôn xao.
Tập thơ Cẩm Châu Duyên ghi sự gặp gỡ của thi nhân với một người con gái có cái tên khả ái là nàng Thương Thương. Có lẽ nàng yêu thơ Hàn Mặc Tử và Hàn Mặc Tử cũng không biết gì hơn về nàng, nhưng như thế cũng đủ để thi nhân đưa nàng vào tháp thơ. Thi nhân có khi mơ thấy mình như Tư Mã Tương Như đương nghe lời Trác Văn Quân năn nỉ:
Đã mê rồi! Tư Mã chàng ôi,
Người thiếp lao đao sượng cả người.
Ôi! Ôi! Hãm bớt cung cầm lại,
Lòng say đôi má cũng say thôi...
Song những phút mơ khoái lạc ấy có được là bao? Tỉnh dậy người thấy:
Sao trìu mến thân yêu đâu vắng cả?
Trơ vơ buồn và không biết kêu ai!
Bức thơ kia sao chẳng viết cho dài,
Cho khăng khít nồng nàn thêm chút nữa.
Mối tình với nàng Thương Thương còn khiến Hàn Mặc Tử viết ra hai vở kịch thơ: Duyên Kỳ Ngộ và Cẩm Châu Duyên. Ở Duyên Kỳ Ngộ, thi nhân diễn tả đến một chốn nước non thanh lịch chưa từng in dấu chân người.
Với lời hai ông Hoài Thanh - Hoài Chân kết luận về Hàn Mặc Tử:
Người đã sống trong túp lều tranh, phải lấy bì thơ và giấy nhật trình che mái nhà cho đỡ dột. Mỗi bữa cơm đưa đến không sao nuốt được vì khổ quá. Đã trong cảnh cơ hàn lại thêm chứng bịnh kinh khủng. Một người đau khổ nhường ấy, lúc sống là hững hờ bỏ quên, lúc mất rồi thì xúm lại kẻ khen người chê. Chê hay khen đều có cái gì như bất nhẫn.
Nguyễn Bính

.
Sinh năm 1919 ở Nam Định.
Thi phẩm đã xuất bản: Lỡ bước sang ngang, Mây Tần, Mười Hai Bến Nước, Tâm Hồn Tôi, Hương Cố Nhân. Thơ Nguyễn Bính rất gần ca dao, với những bài tình tứ nhẹ nhàng man mác, diễn đạt dưới thể lục bát. Chúng ta hãy đọc bài Lẳng Lơ dưới đây:
Láng giềng đã đỏ đèn đâu,
Chờ em ăn giập miếng giầu em sang.
Đôi ta cùng ở một làng,
Cùng đi một ngõ vội vàng chi anh?
Em nghe họ nói mong manh,
Hình như họ biết chúng mình với nhau.
***
Ai làm cả gió đắt cau,
Mấy hôm sương muối cho giầu đổ non.
Đoàn Văn Cừ

.
Xin tóm tắt lời của Hoài Thanh - Hoài Chân nói về ông:
Trong các nhà thơ đồng quê, không ai có ngòi bút dồi dào mà rực rỡ như Đoàn Văn Cừ. Đoàn Văn Cừ biết nhận xét tinh vi lại có hồn thơ phong phú. Màu nét nào cũng ngộ nghĩnh vui vui. Thỉnh thoảng giữa những câu tả chân chặt chẽ, chen vào một câu bất ngờ vụt ngời lên như một vừng sáng giữa bức tranh:
Bà cụ lão bán hàng bên miếu cổ,
Nước thời gian gội tóc trắng phau phau.
Và bao giờ cuối mỗi bài cũng có một vài câu khêu gợi. Cuối bài Chợ Tết:
Ánh dương vàng trên cỏ kéo lê thê,
Lá đa rụng tơi bời bên quán trọ.
Cuối bài Đám Cưới Mùa Xuân:
Chỉ còn nghe văng vẳng tiếng chim xuân,
Ca ánh ỏi trên cành xuân tắm nắng.
Những câu ấy khép vào một thế giới và mở ra một thế giới. Khép một thế giới thực, mở một thế giới mộng. Cảnh trước mắt vừa tan thì tình trong lòng cũng vừa nhóm.
Nguyễn Nhược Pháp

.
Sinh năm 1914 tại Hà Nội, mất năm 1938.
Tác phẩm đã xuất bản: Ngày xưa (1935). Trong thi phẩm này ông đã làm sống lại cả thời xưa. Dĩ vãng trong thơ ông không nặng nề như Sử học, không tráng lệ mơ màng như ở Phạm Huy Thông, đây là một thời xưa gồm những màu sắc tươi vui, ngộ nghĩnh.
Trong Sơn Tinh và Thủy Tinh, đây cảnh Thủy Tinh cưỡi rồng vàng đến xin cưới:
Theo sau cua đỏ và tôm cá,
Chia đôi năm mươi hòn ngọc trai.
Khập khiễng bò lê trên đất lạ,
Trước thành tấp tểnh đi hàng hai.
Thủy Tinh bị hụt bèn ra lệnh cho đồ đệ:
Cá voi quác mồm to muốn đớp,
Cá mập quắp đuôi cuồng nhe răng.
Càng cua lởm chởm giờ như mác,
Tôm càng chạy quắp đuôi xôn xao.
Nụ cười của Nguyễn Nhược Pháp thật hiền lành, thanh tao. Những người, những cảnh khiến thi nhân cười và cũng khiến thi nhân mến. Thi nhân mến cô bé đi chùa Hương và san sẻ mọi ước mơ sung sướng, hay bâng khuâng của cô.
Người thông cảm nỗi niềm ly biệt với Mỵ Nương khi nàng từ biệt cha già, từ biệt kinh đô ra đi theo chồng:
Lầu son nàng ngoái trông lần nữa,
Mi xanh lệ ngọc mờ hơi sương.
Một điều nhận xét nữa của hai ông Hoài Thanh - Hoài Chân: Những câu thật tình tứ, ghép bên những câu thật buồn cười mà không chút bỡ ngỡ. Cái duyên của Nguyễn Nhược Pháp là ở chỗ đó.
Vũ Đình Liên
.jpg)
.
Sinh năm 1913 tại Hà Nội, Thi cảm chính: Tình thương người và lòng hoài cổ. Hai nguồn cảm hứng này gặp nhau trong bài thơ kiệt tác Ông Đồ dưới đây:
Ông Đồ
Mỗi năm hoa đào nở
Lại thấy ông đồ già
Bầy mực tầu giấy đỏ
Bên phố đông người qua.
Bao nhiêu người thuê viết
Tấm tắc ngợi khen tài
Hoa tay thảo những nét
Như phượng múa rồng bay.
Nhưng mỗi năm mỗi vắng
Người thuê viết nay đâu?
Giấy đỏ không buồn thấm
Mực đọng trong nghiên sầu.
Năm nay đào lại nở
Không thấy ông đồ xưa
Những người muôn năm cũ
Hồn ở đâu bây giờ
Phạm Huy Thông
Sinh năm 1918 ở Hà Nội.
Tác phẩm đã xuất bản: Yêu Đương (1933, Anh Nga (1934), Tiếng Địch Sông Ô (1935), Tần Ngọc (1937)...
Ngay cả khi tả những tình cảm buồn mơ, thơ ông vẫn huy hoàng tráng lệ:
Ta sẽ đưa binh Nam đi vùng vẫy
Khắp bốn phương trời đất mịt mùng tăm
Buồn mênh mông chuyển động tiếng loa gầm
Tiếng gươm ca, tiếng trống hồi ngựa hí.
(Giấc Mộng Lê Đại Hành)
Hương muôn hoa như êm đềm quyến luyến,
Vừng cây khuya nghinh gió dưới trăng ngà.
Nhưng đêm biếc rồi tàn giăng xuân biến,
Và vừng hồng sẽ tắm nắng chân mây xa.
(Anh Nga)
Chế Lan Viên

Tên thật là Nguyễn Ngọc Hoán, sinh năm 1920 ở Quy Nhơn.
Thi phẩm đã xuất bản: Điêu Tàn (1937). Trong thi phẩm này Chế Lan Viên đã nói lên nỗi đau khổ uất hận của giống Chàm bị tiêu diệt. Ông dựng lên cả một thế giới đầy sọ dừa, xương máu và yêu ma.
Chỗ này một yêu tinh nghe tiếng cầm canh, chợt nhớ nơi trần thế:
Rồi lấy ra một khớp xương rợn trắng
Nút bao dòng huyết đẫm khi tanh hôi
Tìm những “miếng trần gian” trong tủy cạn
Rồi say sưa, vang tiếng reo cười.
Nơi kia ông dựng lại cảnh chiến địa rợn rùng, xương trắng máu đào:
Đây chiến địa nơi đôi bên giao trận
Muôn cô hồn tử sĩ hét ầm vang
Máu Chàm cuộn tháng ngày niềm oán hận
Xương Chàm luôn rào rạt nỗi căm hờn.
Cũng cần ghi chú thêm rằng sở dĩ chúng ta xét đến một số văn hữu đồng thời với Tự Lực Văn Đoàn để có một cái nhìn tổng quát về văn học thời đó và cũng chỉ ở thời đó thôi (thời tiền chiến), còn từ sau kháng chiến hướng sáng tác của một số nhà văn, nhà thơ (Nguyễn Công Hoan, Vũ Ngọc Phan, Hoài Thanh, Lưu Trọng Lư, Vũ Đình Liên, Phạm Huy Thông ...) bỏ con đường dân tộc sang con đường duy vật, ca ngợi căm thù giai cấp thì đó là bước ngoặt của riêng họ, họ sẽ chịu sự phê phán của các nhà viết văn học sử sau này mà ở đây chúng ta không bàn đến.
Sau khi đã lần lượt xét những nhóm với một số nhà văn, nhà thơ điển hình đồng thời với Tự Lực Văn Đoàn, giờ đây chúng ta bắt đầu riêng xét đến Tự Lực Văn Đoàn.