Những tù nhân mới được đưa vào đây ban đêm, trên ô tô hoặc xe tải chạy từ đồn cảnh sát trên phố Vía Layetana qua thành phố trong lặng lẽ, không ai nhận thấy hoặc mong nhìn thấy chúng. Những chiếc xe của cảnh sát đi trên con đường mòn theo triền dốc của đồi Montjuic và không chỉ một tù nhân đã kể lại rằng, cái thời khắc họ thoáng thấy tòa lâu đài trên đỉnh đồi hiện ra giữa những đám mây đen từ phía biển đổ về, họ chắc rằng mình sẽ không bao giờ sống sót thoát ra khỏi nơi đó.
Pháo đài neo mình trên đỉnh cao nhất của rặng núi đá, nằm cheo leo giữa một bên là biển, một bên là tấm thảm những bóng đen của Barcelona, và về phía nam là thành phố của cái chết trải dài bất tận - nghĩa trang Montjuic cổ kính với cái mùi hôi thối bốc lên giữa những tảng đá và len lỏi qua những khe nứt trong đá và xuyên qua những song chắn của phòng giam. Thời trước, lâu đài này được người ta sử dụng để oanh tạc thành phố bên dưới, nhưng chỉ vài tháng sau khi Barcelona sụp đổ, vào tháng Giêng, và trận thua cuối cùng vào tháng Tư, thần chết lặng lẽ đến trú ngụ ở đó và những người Barcelona, bị mắc kẹt trong cái đêm dài nhất lịch sử của họ, không muốn nhìn lên bầu trời và để mắt đến cái nhà tù ngự trên đỉnh núi.
Khi đến nơi, các tù nhân bị cảnh sát giải đến sẽ được đánh số, thường sẽ là số của phòng giam nơi họ sẽ trú ngự và rất có thể là sẽ nằm lại. Đối với hầu hết khách trọ, như cai ngục thường gọi, hành trình đến lâu đài này là con đường chỉ có một chiều. Vào đêm khách trọ số mười ba đến Montjuic trời mưa như trút. Những mạch nước đen mỏng manh rỉ xuống từ tường đá và không khí sặc mùi đất bị đào xới. Hai viên cảnh sát giải anh vào một căn phòng chỉ có mỗi cái bàn đá và một chiếc ghế. Một bóng đèn trơ trọi treo trên trần nhà, sáng chập chờn mỗi khi dòng điện của máy phát yếu đi. Anh đứng đó chờ đợi trong nửa tiếng đồng hồ, áo quần ướt sũng, được một tên lính gác có khẩu súng trường canh chừng.
Cuối cùng, anh nghe thấy có tiếng bước chân, cửa mở ra và một người đàn ông chưa quá tuổi ba mươi bước vào. Hắn mặc một bộ vét mới được là và người toát lên mùi nước hoa. Hắn không có cái nét hung dữ của một sĩ quan hay quân nhân chuyên nghiệp: nét mặt hắn mềm mại và gọi vẻ dễ chịu. Với người tù hắn ta bộc lộ cái vẻ một người tỏ ra ta đây sang giàu, đang chiếu cố mà đến một chốn dơ đáy thế này. Nét nổi bật nhất ở hắn chính là cặp mắt. Màu xanh dương, xuyên thấu và sắc sảo, đượm vẻ tham lam và hoài nghi. Chỉ mỗi cặp mắt thôi, đã lột tả hết bản chất hắn giấu sau cái vẻ lịch thiệp học thức và cung cách tử tế.
Cặp kính tròn tôn chúng lên, và mái tóc bôi sáp thơm, chải ngược ra sau, tạo cho hắn một vẻ giả tạo mơ hồ chẳng ăn nhập gì với khung cảnh xấu xa kia. Gã đó ngồi lên chiếc ghế sau bàn và mở tập hồ sơ hắn mang theo. Sau một hồi xem xét sơ qua nội dung bên trong, hắn đan hai tay lại, đầu ngón tay chống lên cằm, và ngồi soi mói tù nhân, anh cuối cùng cũng đã chịu lên tiếng.
“Xin lỗi, nhưng tôi nghĩ chắc có nhầm lẫn nào ở đây...”
Cú đánh bằng báng súng vào bụng người tù khiến anh nghẹt thở và ngã xuống, cuộn tròn như quả bóng.
“Mày chỉ được nói khi ngài giám thị hỏi mày,” tên lính gác bảo anh.
“Đứng lên,” viên giám thị nói, giọng run run, vẫn chưa quen với việc ra lệnh.
Người tù xoay xở đứng lên và bắt gặp cái nhìn chằm chặp không mấy dễ chịu của viên giám thị.
“Tên?”
“Fermín Romero de Torres.”
Người tù nhận thấy vẻ khinh bỉ và thờ ơ trong đôi mắt xanh kia.
“Tên cái kiểu gì thế? Anh nghĩ tôi là thằng ngớ ngẩn à? Nói đi: tên, tên thật kia.”
Người tù, một người đàn ông nhỏ bé, yếu đuối, đưa giấy tờ ra cho viên giám thị xem. Tên lính gác giật lấy và đưa lên bàn. Viên giám thị nhìn lướt qua, đoạn tặc lưỡi và mỉm cười.
“Lại một tác phẩm khác của Heredia...” hắn lẩm bẩm trước khi ném chỗ giấy tờ vào sọt rác. “Những giấy tờ này chẳng có nghĩa lý gì cả. Anh có định khai tên không hay chúng tôi phải dùng biện pháp mạnh?”
Khách họ số mười ba cố thốt ra mấy lời, nhưng môi anh run rẩy và anh chỉ biết lắp bắp điều gì đó không tài nào hiểu nổi.
“Đừng sợ, anh bạn tốt, không ai định cắn anh đâu. Người ta đã nói gì với anh? Có rất nhiều tên đỏ khốn kiếp ngoài kia đang cố lan truyền những lời lẽ vu khống, nhưng ở đây, nếu người ta hợp tác, họ sẽ được đối xử tốt, như những người Tây Ban Nha. Thôi nào, cởi quần áo ra.”
Vị khách trọ mới đến dường như dè dặt một lát. Viên giám thị nhìn xuống, như thể toàn bộ tình huống này khiến hắn cảm thấy khó chịu và chỉ có sự cứng đầu của người tù mới giữ hắn ở lại đó. Liền ngay sau đấy, tên lính gác dùng báng súng thọi một cú nữa, lần này đau vào đến thận, và khiến anh ngã gục.
“Mày nghe ngài giám thị nói rồi đấy. Cởi đồ ra. Chúng tao không có cả đêm đâu.”
Vị khách trọ số mười ba gặng gượng quỳ dậy và cởi bộ quần áo bẩn thỉu, bê bết máu. Khi anh đã hoàn toàn trần trụi, tên lính canh chọc nòng súng vào nách và ép anh đứng lên. Viên giám thị ngước mắt từ bàn nhìn lên và cau mày ghê tởm khi thấy những vết cháy phủ khắp người, sau mông và gần như khắp đùi anh.
“Có vẻ như nhà vô địch của chúng ta là người quen cũ của Fumero,” tên lính canh nhận xét.
“Câm mồm đi,” viên giám thị ra lệnh, không mấy tự tin.
Hắn sốt ruột nhìn người tù và nhận ra rằng anh đang khóc.
“Thôi đi, đừng khóc nữa và nói tên của anh đi.”
Người tù lí nhí nhắc lại tên mình.
“Fermín Romero de Torres...”
Viên giám thị thở dài mệt mỏi.
“Này, tôi bắt đầu mất kiên nhẫn rồi đấy. Tôi muốn giúp anh và tôi thực sự không thích phải gọi thanh tra Fumero và cho ông ta biết anh ở đây...”
Người tù bắt đầu lắp bắp như một con chó bị thương và run rẩy dữ dội đến mức viên giám thị, rõ ràng thấy khó chịu trước cảnh tượng này và muốn kết thúc vụ việc càng sớm càng tốt, bèn liếc nhìn tên lính gác, không nói một lời, rồi vừa viết cái tên mà người tù đã khai vào sổ đăng ký, vừa chửi thầm trong bụng.
“Cuộc chiến chết tiệt này,” hắn ta lẩm bẩm một mình khi người ta đưa tù nhân về phòng giam bằng cách kéo cơ thể trần trụi của anh qua đường hầm đầy máu.
2
Phòng giam là một khối vuông tối đen, ẩm ướt. Khí lạnh thổi vào qua một lỗ nhỏ khoan vào vách đá. Những bức tường đầy rẫy các ký hiệu và những thông điệp được khắc nham nhở do khách trọ trước để lại. Một số viết tên, ngày tháng, hay những bằng chứng khác về sự tồn tại của họ. Một người trong số đó đã khắc nguệch ngoạc không biết bao nhiêu hình thập ác trong bóng đen, nhưng thượng đế dường như không để ý đến họ. Những song sắt phòng giam bị han gỉ và để lại một lớp màng nâu lên tay ta.
Co ro trên chiếc giường xiêu vẹo, Fermín cố che cơ thể trần trụi của mình bằng những mảnh vải rách rưới mà anh đồ là được dùng để làm chăn, đệm và gối. Ánh sáng mờ nhạt pha sắc đồng, như hơi thở của một ngọn nến đang tàn. Sau một lát, mắt anh dần quen với bóng tối, và đôi tai tinh nhạy hơn, giúp anh bắt được tiếng của những chuyển động rất nhẹ bị lấn lướt bởi tiếng những giọt nước rỉ xuống và tiếng gió lùa rít từ ngoài vọng vào.
Fermín ngồi ở đó được nửa tiếng thì nhận thấy một hình dạng trong bóng đêm, đằng kia phòng giam. Anh đứng lên và chầm chậm bước đến: đó là một chiếc túi vải bẩn thỉu. Cái lạnh và sự ẩm ướt đã bắt đầu ngấm vào xương cốt, và dù mùi của cái bọc ấy, cái bọc dính đầy vết bẩn, không báo cho biết nó là gì, Fermín nghĩ có lẽ nó chứa quần áo của tù nhân mà không ai thèm đưa cho anh, và với chút may mắn, cả một tấm chăn bao bọc anh khỏi cái lạnh buốt. Anh quỳ xuống và tháo nút buộc ở đầu túi.
Khi anh mở toang cái túi ra, ánh sáng lờ mờ từ chiếc đèn dầu lập lòe nơi hành lang làm lộ ra thứ mà ban đầu anh tưởng là khuôn mặt của một con búp bê, một ma nơ canh mà thợ may đặt trong cửa hàng để bày quần áo. Mùi hôi thối và chất nôn mửa khiến anh nhận ra đấy không phải người giả. Anh lấy một tay che mũi và miệng, kéo phần còn lại của tấm bạt ra, rồi lui lại cho đến khi anh chạm vào bức tường phòng giam.
Cái xác dường như là của một người trưởng thành đâu chừng giữa bốn mươi đến bảy lăm, và chắc chắn là chưa đầy năm chục cân. Một mớ tóc trắng, bộ râu phủ kín khuôn mặt, và thân hình gầy giơ xương. Bàn tay gầy guộc, móng tay dài cong vút, trông như móng vuốt của loài chim. Đôi mắt anh ta mở to, giác mạc teo lại như trái cây chín héo. Miệng anh ta há, lưỡi đen và sưng phồng lên giữa hai hàm răng.
“Hãy lấy quần áo của anh ta trước khi người ta đến khiêng anh ta đi,” một giọng nói từ phòng giam đối diện cất lên. “Anh sẽ không có gì khác để mặc cho đến tháng sau đâu.”
Fermín liếc nhìn trong bóng tối và nhận thấy cặp mắt sáng long lanh từ chiếc giường ở phòng giam bên kia đang quan sát anh.
“Đừng sợ, linh hồn tội nghiệp kia không thể làm hại ai được nữa,” giọng nói trấn an anh.
Fermín gật đầu và bước đến cái túi, tự hỏi làm thế nào để tiếp tục thực hiện hành động này.
“Tôi thành thực xin lỗi,” anh lẩm nhẩm với người đã khuất. “Mong Chúa phù hộ cho linh hồn anh.”
“Anh ta là người vô thần,” giọng nói từ phòng giam đối diện cho anh biết.
Fermín lại gật đầu và quyết định bỏ qua các thủ tục. Cái lạnh thấm vào phòng giam buốt đến độ cắt da thịt và bất kỳ phép lịch sự nào cũng cơ hồ thừa thãi. Anh nín thở và bắt tay vào việc. Bộ quần áo có mùi y như mùi của người chết kia. Cơ thể anh ta đã bắt đầu đông cứng và nhiệm vụ cởi bỏ quần áo cái xác hóa ra lại khó khăn hơn anh dự đoán. Khi bộ quần áo tốt nhất của người chết đã được cởi bỏ, Fermín lấy bao tải đắp lên người chết và buộc lại với một nút thắt mà đến cả Houdini vĩ đại cũng không tài nào tháo ra được. Cuối cùng, khi đã mặc vào bộ đồ tù rách rưới và sặc mùi xú uế, Fermín lại nằm co trên giường, tự hỏi trước anh đã có bao nhiêu tù nhân khoác bộ quần áo này.
“Cảm ơn nhiều lắm,” cuối cùng anh nói.
“Không sao,” giọng nói từ phòng giam bên kia đáp.
“Fermín Romero de Torres.”
“David Martín.”
Fermín nhíu mày. Cái tên nghe quen quá. Phải đến năm phút lục tìm trong ký ức xa xưa anh mới thình lình nhận ra. Anh nhớ đến những buổi chiều ngồi trong góc thư viện trên phố Carmen, ngấu nghiến một loạt những cuốn sách có nhan đề và bìa sách đầy hấp dẫn.
“Tác giả Martín? Của cuốn Thành phố bị nguyền rủa?”
Một tiếng thở dài trong bóng đêm.
“Không còn ai trân trọng bút danh nữa.”
“Xin thứ lỗi cho lời nói bất cẩn của tôi. Chỉ là tôi sùng kính các tác phẩm của ông và tìm đọc tất cả. Thế nên tôi mới biết chính ông đã viết những tiểu thuyết về Ignatious B. Samson bất tử...”
“Rất hân hạnh.”
“Ồ, thưa ông Martín, thật là vinh hạnh được gặp ông, dù là trong hoàn cảnh khốn cùng này, bởi tôi là người ngưỡng mộ ông đã nhiều năm nay...”
“Hai kẻ si tình kia có định câm miệng không hả? Để cho người khác ngủ với chứ,” giọng nói gay gắt gầm lên dường như là ở phòng giam bên cạnh.
“Lão Càu Cọ lại bắt đầu rồi,” giọng nói thứ hai xen vào từ cuối hành lang. “Đừng để ý đến lão ta, Martín. Nếu ông mà ngủ ở đây, ông sẽ bị lũ bọ ăn sống mất, bắt đầu từ bộ củ. Nói tiếp đi, Martín, sao ông không kể chuyện cho chúng tôi? về Chloé...”
“Đúng rồi, để ông có thể xóc lọ như con đười ươi ấy à,” một giọng thù nghịch đáp lại.
“Fermín, bạn của tôi,” Martín thông báo từ phòng của mình. “Để tôi giới thiệu anh với Mười Hai, người luôn tìm thấy điều sai trái trong mọi sự, ý tôi là tất cả, và Mười Lăm, một kẻ mất ngủ, có giáo dục và là nhà tư tưởng chính thức của khu phòng giam. Những người còn lại không nói nhiều, đặc biệt là Mười Bốn.
“Tôi nói khi có gì đó để nói,” một giọng trầm lạnh băng ngắt lời, mà Fermín cho là của Mười Bốn. “Nếu chúng ta ai cũng làm thế, thì chúng ta sẽ có một chút yên bình trong đêm.”
Fermín hòa nhập vào cộng đồng kỳ quái này.
“Chào mọi người. Tôi là Fermín Romero de Torres và thật vui khi được quen với các vị.”
“Có mỗi anh là thấy vui thôi,” Mười Lăm nói.
“Chào mừng anh, và tôi hy vọng anh ở đây không lâu,” Mười Bốn đưa lời.
Fermín liếc nhìn một lần nữa cái túi chứa xác trương phồng kia.
“Đó là Lucio, cố tù nhân Mười Ba,” Martín giải thích. “Chúng tôi không biết gì về anh ta bởi vì gã khốn khổ đó bị câm. Một viên đạn xé nát thanh quản anh ta trong trận Ebro.”
“Thật tiếc vì hắn ta là người duy nhất bị vậy,” Mười Lăm nhận xét.
“Sao anh ta chết?” Fermín hỏi.
“Cứ ở đây là người ta chết thôi,” Mười Hai trả lời. “Chẳng cần thêm lý do gì nữa.”
3
Lề thói hằng ngày cũng góp ích. Mỗi ngày một lần, trong một giờ, các tù nhân ở hai gian nhà tù đầu tiên được đưa ra sân, trong phạm vi đường hào để có chút nắng, mưa, hay bất kỳ thứ gì mà thời tiết đem lại. Thực đơn gồm có một bát vơi cháo nhầy mỡ, xám xịt và lạnh cóng mà không xác định được là nấu từ cái gì, còn mùi vị ôi thiu, mà sau vài ngày, cộng với những cơn co bóp dạ dày vì đói, cuối cùng cũng trở nên không có mùi và vì vậy mà dễ nuốt hơn. Đồ ăn được bố thí vào giữa buổi chiều và dần dà các tù nhân bắt đầu trông chờ đến cái giờ đó.
Mỗi tháng một lần tù nhân nộp lại quần áo bẩn và được cấp một bộ hẳn là đã được nhúng vào nước sôi chừng một phút, dù những con bọ chét dường như chẳng nhận thấy. Vào những ngày Chủ nhật tù nhân được khuyến nghị đi dự lễ Misa. Không ai dám bỏ buổi này, bởi cha đạo sẽ điểm danh và nếu thiếu bất kỳ tên nào ông ta sẽ ghi lại. Hai lần vắng mặt nghĩa là một tuần treo bát. Ba lần vắng, một tháng nghỉ dưỡng tại phòng giam biệt lập trong tòa tháp.
Các gian nhà tù, sân và bất cứ khu vực nào khác mà tù nhân bị đẩy vào đều được canh gác nghiêm ngặt. Một đội lính gác được trang bị súng trường, súng ngắn để tuần tra nhà tù và, khi tù nhân ra khỏi phòng giam, họ không thể nhìn bất cứ hướng nào mà không trông thấy ít nhất cả chục lính gác, đầy cảnh giác, vũ khí luôn sẵn sàng. Bên cạnh đó cũng có cả những cai ngục ít vẻ hăm dọa hơn, những người này trông không có vẻ gì là lính; anh em trong tù đều có chung cảm giác rằng họ là một đám linh hồn bất hạnh, không thể tìm được công việc tốt hơn trong thời buổi khó khăn này.
Mỗi gian nhà tù được phân một cai ngục. Được trang bị một lô chìa khóa, hắn ta làm việc theo ca mười hai tiếng ngồi trên ghế ở cuối hành lang. Hầu hết cai ngục đều tránh kết thân với tù nhân và không nói với họ một lời hay nhìn xa hơn mức cần thiết. Ngoại lệ duy nhất là con quỷ tội nghiệp có biệt danh Bebo, chột một mắt trong một cuộc không kích khi gã đang làm gác đêm tại một nhà máy ở Pueblo Seco.
Có tin đồn rằng Bebo có người anh em sinh đôi đi tù ở Valencia và có lẽ vì vậy gã tỏ ra tử tế đôi chút với các tù nhân. Khi không có ai theo dõi, gã sẽ tuồn cho họ chút nước uống, một chút bánh mì khô hay bất cứ thứ gì xoáy được trong kho của lính gác vốn được cóp nhặt từ những gói viện trợ do gia đình tù nhân gửi đến. Bebo thích kéo ghế của gã đến buồng giam của David Martín và nghe những câu chuyện ông nhà văn này thỉnh thoảng vẫn kể cho những bạn tù khác. Trong cái địa ngục ấy, Bebo gần như là một thiên sứ.
Thông thường, sau buổi lễ Misa ngày Chủ nhật, giám thị sẽ phát biểu đôi lời để giáo huấn các tù nhân. Họ chỉ biết tên của hắn là Mauricio Valls, và trước chiến tranh hắn từng là một nhà văn đầy khát vọng, là thư ký và chân chạy việc vặt cho một tác gia địa phương nổi tiếng, một kình địch lâu đời của ngài Pedro Vidal yểu mệnh. Trong thời gian rảnh rỗi, Valls hạ bút tạo ra những dịch phẩm kém cỏi của các tác phẩm kinh điển Hy Lạp và La Mã, và với sự giúp đỡ của vài tâm hồn thánh thiện, hắn còn biên những cuốn sách mỏng về văn hóa với những kỳ vọng rất cao nhưng lại có lượng lưu hành thấp. Họ cũng tổ chức những cuộc tọa đàm văn chương, với cả một tiểu đoàn những tinh tú đồng tư tưởng cùng lên tiếng xót xa cho nhân tình thế sự, dự đoán rằng nếu một ngày họ có thể nắm quyền hành, thì thế giới sẽ bay cao lên đỉnh Olympus.
Cuộc đời của hắn dường như được mặc định phải chịu một số phận đắng cay, u ám của những kẻ tầm thường, những kẻ mà Chúa, trong sự tàn nhẫn đến vô định của Người, đã ban phát những ảo tưởng về sự vĩ đại và tham vọng vô biên vượt quá tài năng của bọn họ. Cuộc chiến, tuy nhiên, đã viết lại số mệnh của hắn như nó đã làm với nhiều người khác, và vận của hắn thay đổi từ lúc ấy, trong một tình huống nằm đâu đó giữa sự tình cờ và sự săn tìm vận may, Mauricio Valls, cho đến lúc bấy giờ chỉ mê đắm cái tài năng phi thường và sự tinh tế tuyệt trần của chính mình, đã cưới con gái của một kẻ tài phiệt, những công ty có tầm ảnh hưởng sâu rộng của lão đã hỗ trợ ngân sách cho Tướng Franco và các binh đoàn của ông ta.
Cô dâu, hơn hắn những tám tuổi, bị giam hãm trên xe lăn từ năm mười ba tuổi, héo mòn đi vì căn bệnh bẩm sinh đã nhẫn tâm phá hủy các cơ bắp và cuộc đời cô. Chưa người đàn ông nào từng nhìn vào mắt cô hay cầm tay cô để nói rằng cô là người xinh đẹp và hỏi tên cô là gì. Mauricio, cũng như bao gã làm văn bất tài, sở hữu thói thực dụng cũng cao như thói kiêu ngạo của hắn, là người đầu tiên và là người cuối cùng làm điều đó, và một năm sau cặp đôi này kết hôn ở Seville, với sự có mặt của Tướng Queipo de Llano và những tinh tú khác của bộ máy chính quyền.
“Valls, cậu sẽ tiến xa đấy,” chính Serrano Súner* đã dự báo như vậy tại một cuộc hội kiến riêng ở Madrid mà Valls đến để xin cái chân giám đốc Thư viện Quốc gia.
•
Serrano Súner (1901-2003): người giữ vị trí bộ trưởng Bộ Nội vụ và sau đó là bộ trưởng Bộ Ngoại giao trong bộ máy chính quyền của Franco, đồng thời cũng là anh rể của Franco.
“Tây Ban Nha đang trải qua thời khắc khó khăn và những người thuộc dòng dõi trâm anh thế phiệt ở Tây Ban Nha cũng phải chung vai gánh vác và giúp ngăn chặn lũ người Mác xít đang rắp tâm làm thối nát quyết tâm, tinh thần của chúng ta,” anh rể Tướng Franco tuyên bố, trông rất lộng lẫy trong bộ quân phục đô đốc như mượn từ kịch câm.
“Ngài có thể tin ở tôi, thưa ngài,” Valls ướm lời. “Bất kể vị trí nào.”
“Bất kể vị trí nào” hóa ra là vị trí giám đốc, không phải của Thư viện Quốc gia diệu kỳ ở Madrid như hắn hằng mong ước, mà là ở một nhà tù đầy tai tiếng, ngự trên mỏm đá nhìn xuống thành phố Barcelona. Danh mục bạn thân và người được bảo trợ đòi hỏi những vị trí béo bở còn rất rất dài và Valls, bất chấp mọi cố gắng của hắn, chỉ đứng thứ ba từ dưới lên trong danh sách ấy.
“Hãy kiên nhẫn, Valls. Nỗ lực của cậu sẽ được đền đáp.”
Đó là cách Mauricio Valls học được bài học đầu tiên trong cái môn nghệ thuật truyền thống, phức tạp của đất nước ấy là dùng thủ đoạn để tiến thân sau mỗi lần chế độ thay đổi: hàng ngàn người ủng hộ đã gia nhập hàng ngũ và cuộc cạnh tranh rất khốc liệt.
4
Đó là câu chuyện mà người ta bảo với nhau. Đống tin đồn, hoài nghi và cáo buộc chưa được xác nhận này đã đến tai những người tù - và bất kể ai muốn nghe - nhờ những mưu đồ đen tối của viên giám thị trước. Lão ta đã bị khai trừ một cách phũ phàng ra khỏi vị trí đó chỉ sau hai tuần tại vị, và bị đầu độc bởi những oán hờn đối với gã Valls mới phất, kẻ đã cướp đi cái chức vị mà lão phải tranh đấu qua suốt cuộc chiến tranh mới có được. May mắn thay cho Valls lão giám thị về vườn kia chẳng có họ hàng làm quan to và từng bị bắt gặp trong tình trạng say xỉn, khi đang thốt ra những lời đùa cợt về ngài tổng tư lệnh của toàn cõi Tây Ban Nha và vẻ giống nhau đến ngạc nhiên của ông ta với chú lùn Dopey. Trước khi bị tống sang làm phó giám thị ở nhà tù Ceuta, lão đã dồn hết sức lực vào việc nói xấu Mauricio Valls khắp bốn phương.
Điều chẳng cần bàn cãi là không một ai được nhắc đến Valls bằng cái tên nào khác ngoài “giám thị”. Bản chính thức, mà chính hắn bịa đặt ra và cho phép được lưu truyền, ấy là hắn, Mauricio, một tay chữ nghĩa, có thành tựu được công nhận và đầy trí thức và kèm theo đó là sự uyên bác tinh diệu mà hắn đã thu nhận trong những năm học ở Paris. Ngoài địa vị tạm thời trong mảng cải tạo của chế độ, tương lai và nhiệm vụ của hắn nằm ở việc giáo huấn thường dân của một nước Tây Ban Nha đã bị tàn phá, dạy cho họ cách suy nghĩ với sự giúp đỡ của một nhóm tinh tuyển những kẻ đồng cảm.
Bài giảng của hắn thường là các câu trích dài dòng từ chính những bài viết, những bài thơ hay những bài báo giáo dục hắn đăng thường xuyên trên thông tấn quốc gia, về văn chương, triết học và những tư tưởng khai sáng cần thiết của thế giới phương Tây. Nếu các tù nhân tán đồng một cách hào hứng khi những bài giảng bậc thầy này kết thúc, viên giám thị sẽ ra một cử chỉ hào hiệp là lệnh cho những cai ngục phát thuốc lá, nến hay một số đồ xa xỉ khác thu từ những gói hàng tiếp tế do người nhà gửi cho tù nhân. Những món đồ đáng giá hơn cả đã bị lính canh chiếm đoạt trước để đem về nhà hay đôi khi là bán lại cho các tù nhân. Thế còn tốt hơn là không có gì.
Những người chết vì nguyên nhân tự nhiên hay một nguyên nhân mơ hồ nào đó - bình quân năm đến mười người một tuần - được thu gom vào giữa đêm, ngoại trừ cuối tuần và ngày nghỉ lễ, lúc ấy xác sẽ nằm ở trong phòng giam cho đến thứ Hai hoặc ngày làm việc tiếp theo, và bè bạn với khách họ mới. Khi các tù nhân báo bạn tù của họ qua đời, cai ngục sẽ tiến đến, xem mạch và hơi thở của cái xác rồi bọc vào loại túi được dùng riêng cho mục đích này. Khi túi được buộc chặt, nó nằm lại trong phòng giam cho đến khi phu đào huyệt ở nghĩa trang Montjuic bên cạnh đến khiêng đi. Không ai biết họ làm gì với những cái xác và khi tù nhân hỏi Bebo, gã không chịu trả lời, mắt cúi xuống.
Cứ nửa tháng một lần, một phiên tòa sẽ chóng vánh diễn ra và những người bị kết án sẽ bị bắn lúc trời mờ sáng. Đôi khi, nhờ tình trạng tồi tệ của chỗ súng ống đạn dược mà đội xử bắn đã bất thành trong việc xuyên thủng một cơ quan nội tạng thiết yếu và những tiếng gào thét đau đớn của những người bị thương cứ vang lên mãi nhiều giờ sau. Thi thoảng người ta nghe thấy một tiếng nổ và tiếng gào thét đột nhiên ngừng bặt. Một giả thuyết lan truyền trong đám tù nhân là một trong những viên cảnh sát đã tiễn vong họ bằng một quả lựu đạn, nhưng không ai dám quả quyết điều này là đúng.
Một tin đồn khác cũng được lan truyền rằng vào các sáng thứ Sáu giám thị tiếp các bà vợ, con gái, vị hôn thê hay thậm chí cả bà dì và bà nội, ngoại của tù nhân tại phòng làm việc của mình. Sau khi đã tháo nhẫn cưới và giấu ở ngăn bàn trên cùng, hắn lắng nghe đề nghị của họ, cân nhắc những lời cầu xin của họ, đưa khăn cho họ lau nước mắt, và nhận quà cùng những ân huệ khác, sau khi hứa hẹn những khẩu phần ăn ngon hơn, sự đối đãi tử tế hơn với người thân yêu của họ, hay xem xét lại những bản án chưa minh bạch, điều mà tiếc thay chẳng bao giờ được thực hiện.
Vào những dịp có chọn lọc, Mauricio Valls mời họ ăn bánh, và một ly rượu nho xạ, và giả như, bất chấp thời buổi khó khăn và chế độ ăn uống thiếu thốn, họ vẫn còn hấp dẫn đến nhói lòng, hắn sẽ đọc cho họ nghe mấy thứ hắn viết và thú nhận rằng hôn nhân của hắn với một cô vợ đau ốm quả như một bài kiểm tra tính thánh thiện giáng xuống đời hắn. Rồi hắn sẽ lải nhải về công việc cai ngục hắn đang làm và rằng hắn thấy bẽ bàng vì một con người cao nhã và học thức tót vời như hắn lại bị giam hãm vào một chức vị đáng hổ thẹn như vậy, trong khi đáng ra hắn phải ở nấc thang cao vời của đất nước này.
Các tù nhân đầy kinh nghiệm khuyên ta đừng nên nhắc tới giám thị, và nếu có thể thì đừng có nghĩ tới hắn. Hầu hết họ thích nói về gia đình mà họ bỏ lại và cuộc sống họ còn nhớ. Một số có ảnh bạn gái hoặc người vợ mà họ vô cùng trân quý và sẽ đem tính mạng ra để bảo vệ nếu có ai định giật khỏi tay họ. Không chỉ một tù nhân đã bảo Fermín rằng ba tháng đầu tiên là tồi tệ nhất. Sau đó, một khi đánh mất mọi hy vọng, thời gian bắt đầu trôi nhanh hơn và những ngày vô nghĩa sẽ khiến tâm hồn chết dần đi.
5
Vào những ngày Chủ nhật, sau lễ Misa và bài giáo huấn của giám thị, một số tù nhân sẽ tụ tập vào góc có nắng của sân nhà tù để hút chung một hai điếu thuốc hay nghe những câu chuyện David Martín kể cho họ, khi đầu óc ông còn tỉnh táo. Fermín, vốn biết hết những chuyện ấy vì anh đã đọc toàn bộ loạt sách Thành phố bị nguyền rủa, sẽ gia nhập nhóm này và để cho trí tưởng tượng của mình bay bổng. Nhưng thường thì Martín không đủ minh mẫn, đến mức hỏi mấy giờ ông còn chẳng biết, nên những người khác sẽ bỏ mặc ông đi vẩn vơ nói chuyện một mình. Fermín theo dõi ông sát sao, thỉnh thoảng lại đi sau ông, bởi ở con người khốn khổ ấy có điều gì đó khiến con tim anh nhức nhối. Sử dụng mọi mưu mẹo xảo trá và quỷ quyệt của mình, Fermín cố tìm được vài điếu thuốc lá cho ông, hay thậm chí là vài viên đường, thứ Martín yêu thích.
“Anh là người tốt, Fermín. Cố đừng để lộ điều đó ra,” nhà văn nói với anh.
Martín luôn mang bên mình một tấm ảnh cũ mà ông thích ngắm nhìn mê mẩn thật lâu. Ảnh chụp một người đàn ông mặc đồ trắng, cầm tay một bé gái chừng tám tuổi. Cả hai đang ngắm hoàng hôn ở cuối chiếc cầu tàu gỗ vươn ra bờ biển, như một con đường lơ lửng trên làn nước pha lê. Khi Fermín hỏi ông về bức ảnh, thường ông không đáp. Ông chỉ cười, trước khi bỏ tấm ảnh vào lại trong túi.
“Cô bé trong ảnh là ai, ông Martín?”
“Tôi không chắc, Fermín ạ. Nhiều khi tôi thất vọng về trí nhớ của mình quá. Chuyện đó không xảy ra với anh sao?”
“Dĩ nhiên. Ai cũng bị như vậy mà.”
Có tin đồn rằng đầu óc Martín hoàn toàn không được tỉnh táo, nhưng chẳng bao lâu sau khi Fermín bắt đầu kết thân với ông anh nhận ra rằng con người tội nghiệp này đang ở tình trạng tệ hơn rất nhiều so với những gì tù nhân khác nói. Có những khoảnh khắc ông tỏ rõ mình minh mẫn hơn những người khác, nhưng thường thì ông dường như không hiểu mình đang ở đâu và ông nói về những người và nơi chốn rõ ràng chỉ tồn tại trong trí tưởng tượng hoặc ký ức.
Fermín hay dậy sớm và nghe Martín nói chuyện. Nếu lén lút lại gần song sắt và chăm chú lắng nghe, anh có thể thấy rất rõ ông đang tranh cãi với một người tên là “ngài Corelli”, và xét đến những lời lẽ trao đổi của Martín, người này dường như là một nhân vật thâm độc khét tiếng.
Vào một trong những đêm ấy Fermín thắp phần còn lại của cây nến cuối cùng và giơ cao về phía phòng giam đối diện. Anh muốn chắc chắn rằng Martín thực sự ở một mình và cả hai giọng nói, giọng của ông và giọng thuộc về người có tên Corelli, là do cùng một người phát ra. Martín đang đi thành vòng tròn trong buồng giam của ông, và khi ánh mắt họ gặp nhau, Fermín nhận ra rằng người bạn tù không thể nhìn thấy anh. Ông hành động như thể những bức tường kia không tồn tại và cuộc trò chuyện với người lạ kia đang diễn ra ở một nơi nào đó rất xa.
“Đừng quan tâm đến ông ta,” Mười Hai lẩm bẩm trong bóng tối. “Đêm nào ông ta cũng vậy cả. Ông ta loạn trí rồi. Thật may cho ông ta.”
Sáng hôm sau, khi Fermín hỏi ông về người tên là Corelli và những cuộc trò chuyện lúc nửa đêm, Martín ngạc nhiên nhìn anh rồi mỉm cười bối rối. Vào một dịp khác, khi trời lạnh quá không ngủ được, Fermín bước lại song sắt và lắng nghe Martín nói chuyện với một trong những người bạn vô hình của ông. Đêm đó, Fermín cả gan nói xen vào.
“Martín? Là tôi đây. Fermín, bạn của ông ở đối diện hành lang đây. Ông có làm sao không?”
Martín bước đến song sắt buồng giam của mình và Fermín có thể thấy khuôn mặt ông đẫm nước mắt.
“Ông Martín? Isabella là ai? Lúc nãy ông nói về cô ấy.”
Martín nhìn chằm anh.
“Isabella là điều tốt đẹp duy nhất còn lại giữa thế giới bẩn thỉu này,” ông đáp sau một lát, với giọng cay đắng khác thường. “Nếu không phải vì cô ấy, chúng ta đã châm lửa đốt hết tất cả và mặc cho nó cháy đến lúc cả tro tàn cũng bay đi.”
“Tôi xin lỗi, Martín. Tôi không định làm phiền ông.”
Martín rút vào bóng tối. Ngày hôm sau người ta thấy ông run rẩy trong chính vũng máu của ông. Thấy Bebo đã ngủ gật trên ghế, ông đã khứa rách cổ tay bằng cách cọ vào đá. Khi người ta lấy cáng khiêng ông đi trông ông nhợt nhạt đến mức Fermín tưởng sẽ chẳng bao giờ còn gặp lại ông nữa.
“Đừng lo về người bạn của anh, Fermín,” Mười Lăm nói. “Nếu là bất kỳ ai khác, thì người đó hẳn sẽ chui thẳng vào túi vải rồi, nhưng giám thị sẽ không để Martín chết đâu. Không ai biết tại sao.”
Phòng giam của David Martín trống trơn trong năm tuần. Khi Bebo đưa ông trở lại, bế ông như bế một đứa trẻ, ông mặc bộ pyjama màu trắng, tay được băng bó đến tận khuỷu. Ông không nhớ ai hết và đêm đầu tiên ông nói chuyện một mình và bật cười. Bebo đặt ghế của gã đối diện song sắt phòng Martín, và theo dõi ông sát sao suốt cả đêm, cho ông những viên đường gã trộm từ phòng mấy sĩ quan rồi giấu trong túi áo.
“Ông Martín, xin đừng nói như thế nữa. Chúa sẽ trừng phạt ông đấy,” gã cai ngục thì thầm giữa những lần đưa đường cho ông.
Trong thế giới thực, Mười Hai từng là bác sĩ Román Sanahuja, trưởng khoa Nội ở Bệnh viện Lâm sàng Barcelona, một người khả kính, được chữa lành khỏi những ảo tưởng về chế độ, lương tâm của ông cộng với việc ông không chịu tố giác bạn bè đã đẩy ông vào ngục. Theo quy định, trong phạm vi những bức tường kia, không ai được biết nghề nghiệp của tù nhân cả. Trừ phi cái nghề đó mang lại chút lợi ích cho giám thị. Trong trường hợp bác sĩ Sanahuja, do được việc nên nhanh chóng được ghi nhận.
“Thật không may, chỗ tôi không có đủ đồ y tế,” viên giám thị giải thích cho ông. “Nói thẳng thắn, chế độ có những mối lo lắng khác và không thèm bận tâm dù các người có chết trơ xương trong phòng giam vì chứng hoại tử. Sau nhiều tranh đấu tôi đã buộc người ta phải cung cấp cho tôi một tủ thuốc nghèo nàn cùng một gã lang băm ăn hại không đáng làm gác cổng cho bất cứ phòng khám thú y nào, tôi dám chắc là thế. Nhưng chuyện là vậy đấy. Tôi biết một điều rằng trước khi mắc phải sai lầm và đi vào con đường trung lập ông là một bác sĩ danh tiếng. Vì những nguyên do ông không cần thiết phải biết đến, tôi vô cùng mong mỏi rằng người bạn chung David Martín của chúng ta không rời bỏ chúng ta vĩnh viễn. Nếu ông đồng ý hợp tác và giữ cho ông ấy khỏe mạnh, tôi có thể đảm bảo rằng cuộc sống của ông ở trong này sẽ dễ chịu hơn, và cá nhân tôi sẽ lo liệu để ông được xem xét giảm án tù.”
Bác sĩ Sanahuja gật đầu.
“Tôi nhận thấy rằng một số tù nhân coi Martín là người đầu óc hơi có vấn đề. Phải vậy không?” viên giám thị hỏi.
“Tôi không phải bác sĩ tâm thần, nhưng theo hiểu biết khiêm nhường của mình, tôi tin Martín rõ ràng đang mất cân bằng.”
Viên giám thị cân nhắc nhận xét ấy.
“Và, theo ý kiến chuyên môn của ông, thì ông ấy còn kéo dài được bao lâu?” hắn hỏi. “Ý tôi là còn sống.”
“Tôi không biết. Điều kiện trong nhà tù này không tốt và...”
Viên giám thị cắt lời ông bằng vẻ chán nản.
“Và đúng mực? Ông nghĩ Martín còn duy trì được sự tỉnh táo trong bao lâu nữa?”
“Không lâu, tôi nghĩ.”
“Tôi hiểu.”
Viên giám thị mời ông thuốc lá, ông từ chối.
“Ông quý mến ông ấy, phải không?”
“Tôi gần như chẳng biết ông ấy,” bác sĩ đáp. “Ông ấy dường như là một người lịch duyệt.”
Viên giám thị mỉm cười.
“Và một nhà văn tồi tệ. Có lẽ là nhà văn tồi nhất mà đất nước này từng có.”
“Ông là người có thẩm quyền được công nhận trong địa hạt văn chương, thưa ngài giám thị. Tôi chẳng biết gì về chủ đề này cả.”
Viên giám thị lạnh lùng nhìn ông.
“Tôi đã cho nhiều người vào phòng biệt giam trong ba tháng vì những nhận xét ít láo xược hơn thế đấy. Ít người sống sót được và những người còn sống thì quay lại trong tình trạng tồi tệ hơn ông bạn Martín của ông. Đừng có phạm lỗi chết người và đi giả định rằng tài năng của ông sẽ cho ông được hưởng chút đặc quyền nào đó. Hồ sơ của ông cho biết ông có vợ và ba con gái đang ở ngoài kia. Vận may của ông, cũng như của gia đình ông, tùy thuộc vào việc ông có ích thế nào với tôi. Tôi nói thế ông đã hiểu rõ chưa?”
Bác sĩ Sanahuja nuốt khó nhọc.
“Vâng, thưa ngài giám thị.”
“Cảm ơn ông, bác sĩ.”
Thỉnh thoảng, gã giám thị đề nghị Sanahuja khám cho Martín. Rành rành là tay giám thị không tin vào bác sĩ nội trú của nhà tù, một tên lang băm bất tín dường như đã quên khái niệm chăm sóc phòng ngừa vì ký quá nhiều giấy chứng tử. Viên giám thị đã cho lão nghỉ không lâu sau đó.
“Ông mô tả trình trạng tổng thể của bệnh nhân ra sao, bác sĩ?”
“Yếu.”
“Tôi hiểu. Còn những yêu ma, nếu có thể nói như vậy? Ông ta vẫn nói chuyện một mình và tưởng tượng mọi thứ chứ?”
“Về mặt này thì không có thay đổi đáng kể nào cả.”
“Tôi coi câu trả lời là có. Tôi đã đọc một bài viết xuất sắc mà ông bạn tốt Sebastian Jurado của tôi đăng trên ABC, trong đó ông ấy nói về chứng tâm thần phân liệt, căn bệnh của bọn thi sĩ.”
“Tôi không đủ chuyên môn để chẩn đoán một bệnh như thế.”
“Nhưng tôi hy vọng, ông đủ chuyên môn để cứu sống ông ấy, phải vậy không?”
“Tôi đang cố hết sức trong khả năng của mình.”
“Chỉ cố gắng hết mức không thôi chưa đủ. Hãy tính đến hoàn cảnh của con mình. Quá trẻ và quá dễ tổn thương. Không được bảo vệ trong khi lũ súc vật nhẫn tâm cùng bọn đỏ vẫn lẩn trốn ngoài kia.”
Nhiều tháng trôi qua, bác sĩ Sanahuja trở nên quý mến Martín và một ngày, trong khi hút chung những mẩu thuốc lá, ông kể cho Fermín điều ông biết về con người mà, do những lời nói lảm nhảm của ông cộng với cái danh hiệu cư dân mất trí của nhà tù, một số người đã đùa cợt gọi ông là “Tù nhân của thiên đường”.
6
“Thật ra mà nói, tôi cho rằng lúc người ta mang David Martín đến đây ông ấy đã bị bệnh một thời gian rồi. Anh đã bao giờ nghe nói đến chứng tâm thần phân liệt chưa, Fermín? Đó là một trong những cụm từ mới yêu thích của giám thị.”
“Đó là điều mà dân thường chúng ta hay gọi là ‘chập mạch’.”
“Không phải chuyện đùa đâu, Fermín. Đó là một bệnh rất nghiêm trọng. Dù không phải chuyên môn của tôi, nhưng tôi đã chứng kiến một vài ca và các bệnh nhân thường nghe thấy những giọng nói, hay họ nhìn thấy và nhớ đến những người và sự kiện chưa bao giờ xuất hiện... Tâm trí tệ dần và bệnh nhân không thể nào phân biệt được thực tại và hư ảo.”
“Cũng như bảy mươi phần trăm dân Tây Ban Nha thôi... Và ông nghĩ Martín tội nghiệp mắc bệnh đó ư, bác sĩ?”
“Tôi không chắc. Như tôi nói đấy, tôi không phải chuyên gia trong chuyện này, nhưng tôi cho rằng ông ấy có những triệu chứng thường gặp nhất.”
“Có lẽ trong hoàn cảnh này bệnh tình của ông ấy là một ân phước...”
“Đó không bao giờ là ân phước cả, Fermín.”
“Và ông ấy có biết rằng mình, kiểu như là, bị bệnh không?”
“Người điên luôn nghĩ rằng chỉ kẻ khác mới điên.”
“Đó là điều tôi ám chỉ khi nói về bảy mươi phần trăm dân Tây Ban Nha...”
Một tên lính gác đang quan sát họ từ trên đỉnh tháp canh, như thể hắn đang cố đọc khẩu hình của họ.
“Nói nhỏ thôi, không chúng ta sẽ gặp rắc rối đấy.”
Vị bác sĩ ra hiệu cho Fermín quay lưng lại và bước đến đằng kia sân.
“Trong thời buổi như thế này, đến cả bức tường cũng mọc tai đấy,” bác sĩ nói.
“Chỉ cần mấy bức tường kia mọc thêm được nửa bộ não giữa hai tai là chúng ta có thể thoát ra khỏi đống rắc rối này,” Fermín trả lời.
“Anh có biết Martín nói gì với tôi vào lần đầu tiên giám thị bảo tôi khám cho ông ấy không?”
“‘Bác sĩ, tôi nghĩ tôi đã tìm ra cách duy nhất để thoát khỏi nhà tù này rồi.’
‘Cách nào?’
‘Chết.’
‘Ông không nghĩ được cách nào thực tế hơn à?’
‘Đã bao giờ ông đọc Bá tước Monte Cristo chưa, bác sĩ?’
‘Khi còn bé. Tôi gần như chẳng nhờ gì cả.’
‘Ồ, vậy đọc lại đi. Trong đó cả đấy.’ “
“Tôi không muốn nói với ông ấy là giám thị đã ra lệnh bỏ tất cả những sách của Dumas khỏi thư viện của nhà tù, cùng với bất cứ cuốn nào của Dickens, Galdós và nhiều tác giả khác mà hắn cho là rác rưởi vì là thứ tiêu khiển cho đám đông thiếu văn hóa. Hắn ta thay thế chúng bằng tuyển tập những tiểu thuyết và truyện ngắn chưa được xuất bản của hắn, cùng những cuốn sách của bạn bè hắn, được bọc da bởi Valentí, một tù nhân được đào tạo về nghệ thuật tạo hình. Ngay khi Valentí làm xong việc, giám thị để cho ông ta chết vì nhiễm lạnh, bắt ông ta năm đêm ở ngoài sân, dưới mưa, vào giữa tháng Giêng, chỉ vì ông ta cợt nhạo sự tinh tế trong những áng văn của hắn. Valentí đã rời khỏi chốn này bằng phương pháp của Martín: chết.
“Sau khi đã ở đây một thời gian, được nghe những cuộc trao đổi giữa các cai ngục, tôi nhận ra rằng David Martín đã được đưa vào nhà tù này theo yêu cầu của chính giám thị. Ông ấy từng bị giam ở nhà tù Modelo, bị cáo buộc một loạt tội mà tôi không nghĩ có người thực sự tin là ông ấy mắc vào. Ngoài những tội danh khác, người ta bảo ông ấy đã giết thầy và bạn thân của mình trong một cơn ghen - một người giàu có tên Pedro Vidal, cũng là nhà văn như ông ấy - và giết cả vợ Vidal, bà Cristina. Người ta cũng bảo ông ấy đã lạnh lùng giết chết một số cảnh sát và một người nào đó, tôi không thể nhớ là ai. Thời này người ta cáo buộc người khác đủ thứ tội, ta không thể biết được. Tôi thấy khó mà tin rằng Martín là kẻ giết người, nhưng quả là trong những năm chiến tranh tôi đã thấy nhiều người ở các phe phái cởi bỏ mặt nạ cho thấy con người thật của họ, rằng bất cứ điều gì cũng có thể xảy ra. Ai cũng ném đá và chỉ tay sang hàng xóm.”
“Nếu phải nêu ý kiến thì...” Fermín nhận xét.
“Kỳ thực cha của nhân vật Vidal này là một nhà công nghiệp quyền lực, giàu nứt vách. Họ bảo ông ta là một trong những tay trùm ngân hàng đứng về phe chủ nghĩa dân tộc. Tại sao trong mọi cuộc chiến tranh, bọn nhà băng đều là kẻ thắng cuộc? Dù sao, tay trùm tư bản Vidal đã đích thân yêu cầu Bộ Tư pháp tìm Martín và bảo đảm ông ấy sẽ chết rũ trong tù vì điều ông đã gây ra cho con trai và con dâu lão. Dường như, Martín đã trốn ra nước ngoài gần được ba năm thì người ta phát hiện ra ông ấy ở gần biên giới. Hẳn ông ấy bị điên thì mới quay về Tây Ban Nha nơi người ta đang chờ để đóng đinh ông ấy - ít nhất, đó là điều tôi nghĩ. Và còn tệ hơn nữa, chuyện này xảy ra vào những ngày cuối của cuộc chiến, khi hàng ngàn người tràn qua biên giới theo chiều ngược lại.”
“Đôi khi chỉ là người ta mệt mỏi vì phải chạy trốn,” Fermín nói. “Khi ta không biết phải đi đâu thì thế giới này nhỏ bé lắm.”
“Tôi cho rằng hẳn Martín cũng đã nghĩ vậy. Tôi không biết làm sao ông ấy qua được biên giới, nhưng dân địa phương ở Puigcerdà đã báo cho hiến binh sau khi họ thấy ông ấy lang thang nhiều ngày ở thành phố này, ăn mặc rách rưới và nói lảm nhảm một mình. Rồi một số mục sư bảo họ nhìn thấy ông ấy trên đường phố Bolvir, cách Puigcerdà mấy cây số, gần một ngôi nhà cổ lớn tên là La Torre del Remei, trong thời chiến nó được dùng làm quân y viện cho thương binh. Nơi này được một nhóm phụ nữ quản lý, có lẽ họ cảm thấy Martín đáng thương và nghĩ ông là một người lính nên đã cho ông chỗ ở và thức ăn. Khi quân hiến binh đến đó, ông ấy đã rời đi rồi, nhưng đêm hôm ấy họ bắt được ông ở trên mặt hồ đóng băng, đang dùng một hòn đá đào lỗ trên băng. Lúc đầu họ nghĩ ông ấy định tự tử, nên họ mang ông ấy đến Villa San Antonio, một trại điều dưỡng. Hình như một bác sĩ ở đó nhận ra ông ấy - đừng hỏi tôi tại sao - và ngay khi tin tức về ông được truyền về tổng hành dinh, ông được chuyển đến Barcelona.”
“Hang hùm.”
“Anh có thể nói vậy. Dường như phiên tòa kéo dài chưa đến hai ngày. Danh mục những cáo buộc dành cho ông ấy dài vô tận và dù gần như chẳng có bất kỳ chứng cứ hay chứng lý nào làm cơ sở, công tố viên vẫn moi ra được một đám nhân chứng. Hàng tá người xếp hàng vào tòa, bày tỏ một lòng thù ghét ngút ngàn mà đến cả thẩm phán cũng phải ngạc nhiên - chắc chắn tất cả bọn họ đã được lão già Vidal gí tiền. Trong số đó có cả đồng nghiệp cũ của Martín hồi những năm ông ấy còn làm cho một tờ báo nhỏ tên là Tiếng nói Công nghiệp. Những trí thức phòng trà, những linh hồn tội nghiệp và các hạng ghen ăn tức ở đủ các thể loại bất ngờ xuất hiện rồi thề thốt rằng Martín phạm đủ thứ tội mà ông ấy bị cáo buộc, và còn hơn thế nữa. Anh biết ở đây mọi thứ vận hành thế nào mà. Theo lệnh của quan tòa, và khuyến nghị của lão Vidal, tất cả tác phẩm của ông ấy bị tịch thu rồi đem đốt, vì bị coi là tài liệu mưu phản, vô luân lý và trái ngược với những ứng xử cao đẹp. Khi Martín tuyên bố tại phiên tòa rằng ứng xử cao quý duy nhất mà ông ấy bào chữa cho đó là việc đọc, và bất cứ việc gì khác đều là việc của người đọc, quan tòa cho ông thêm mười năm nữa vào án phạt. Có vẻ như thay vì giữ mồm giữ miệng tại phiên tòa Martín lại trả lời tất cả những gì bị hỏi mà không vòng vo câu chữ, để rồi tự đào mồ chôn mình.”
“Trong thế giới chúng ta đang sống điều gì cũng có thể tha thứ, ngoại trừ việc nói ra sự thật.”
“Thực ra, ông ấy bị kết án chung thân. Tờ Tiếng nói Công nghiệp, thuộc sở hữu của lão Vidal, đã cho đăng một bài dài liệt kê mọi tội trạng của ông ấy, không những thế, còn có cả một bài xã luận. Đoán xem là của ai ký.”
“Giám thị lừng lẫy của chúng ta, ngài Mauricio Valls.”
“Đúng hắn đấy. Hắn mô tả ông ấy là ‘nhà văn tồi nhất trong lịch sử’ và lấy làm vui vì sách của ông ấy đã bị phá hủy bởi chúng là ‘sự sỉ nhục với nhân loại và gu thưởng thức tử tế’.”
“Đó chính là điều người ta nói về nhà hát Palau de la Música,” Fermín chỉ ra. “Chúng ta thật may khi sống ở một đất nước được hưởng cái tinh túy nhất của cộng đồng trí thức quốc tế. Unamuno đã đúng khi nói rằng: sáng tạo là việc của người khác, chúng ta sẽ chỉ đưa ra ý kiến.”
“Dù vô tội hay không, sau khi chứng kiến người ta hạ nhục mình công khai và từng trang sách mình viết ra bị đốt trụi, Martín rốt cuộc đã vào nhà tù Modelo, ông ấy hẳn đã chết chỉ trong vòng mấy tuần ở đây nếu không phải giám thị của chúng ta, kẻ đã đeo đuổi vụ án này với một niềm vui thú bao la và vì một lý do kỳ lạ nào đó đã bị ám ảnh về Martín, tiếp cận được hồ sơ của ông ấy rồi đề nghị chuyển ông ấy đến nơi này. Martín bảo tôi rằng ngày ông ấy đến đây, Valls đã đưa ông ấy vào văn phòng rồi sa sả rao giảng một trong những bài diễn thuyết của hắn.
“‘Martín, ông là một tội đồ bị kết án và có lẽ cũng là một tên mưu phản hoang tưởng, song có gì đó ràng buộc hai ta. Chúng ta đều là người của chữ nghĩa và dù ông dành cả sự nghiệp thất bại của mình viết ra những thứ rác rưởi cho đám đông ngu muội, một lũ người thiếu sự dẫn dắt trí tuệ, thì tôi nghĩ rằng ông có thể giúp tôi và qua đó chuộc lại lỗi lầm. Tôi có một tuyển tập tiểu thuyết và thơ sáng tác mấy năm qua. Đó là một thứ văn chương có chuẩn chất lượng cao phi thường. Cao đến mức tôi rất mực lo sợ rằng ở đất nước thất học này chưa đầy ba trăm độc giả có thể hiểu được và trân trọng giá trị của chúng. Thế nên tôi mới nghĩ rằng có lẽ, bởi cách ông đã bán rẻ trang viết của ông, và sự tiệm cận của ông với giới dân đen, những kẻ chỉ đọc các loại thứ phẩm khi ngồi xe điện, ông có thể giúp tôi tạo ra vài thay đổi nho nhỏ kéo tác phẩm của tôi lại gần hơn với trình độ thảm hại của độc giả Tây Ban Nha. Nếu ông đồng ý hợp tác, tôi có thể đảm bảo với ông rằng tôi sẽ làm cho sự tồn tại của ông dễ chịu hơn nhiều. Tôi thậm chí có thể lật lại vụ án của ông. Cô bạn nhỏ của ông... Tên cô ta là gì nhỉ? À, đúng rồi, Isabella. Một người đẹp, nếu ông cho phép tôi nhận xét. Dù sao, bạn gái ông đã đến gặp tôi, bảo rằng cô ta đã thuê một luật sư trẻ, một gã tên Brians, và đã huy động đủ tiền để biện hộ cho ông. Hãy thôi hoang tưởng đi: cả hai chúng ta đều biết rằng vụ án của ông không có đủ căn cứ gỡ tội và ông bị kết tội do những nhân chứng đáng ngờ. Ông dường như đã gây thù oán một cách dễ dãi đến khó tin, dù là với cả nhưng người mà tôi chắc ông không biết đến sự tồn tại. Đừng có mắc sai lầm là biến tôi thành một kẻ thù nữa, Martín. Tôi không phải một trong số những kẻ đáng thương kia đâu. Ở đây, giữa bốn bức tường này, nói trắng ra, tôi là Chúa.”
“Tôi chẳng biết Martín có chấp nhận đề nghị của tay giám thị không, nhưng tôi có cảm giác là có, bởi ông ấy vẫn sống và rõ ràng vị Chúa cá thể của chúng ta vẫn thích duy trì sự việc như vậy, ít nhất là cho đến lúc này. Hắn ta thậm chí còn cho Martín cả giấy bút đem vào phòng giam, tôi nghĩ là để ông ấy có thể viết lại những tác phẩm vĩ đại của giám thị và giúp hắn đi vào Ngôi Đền Danh Vọng, đạt được cái vinh quang văn chương mà hắn thèm khát. Cá nhân tôi không biết phải nghĩ ra sao. Ấn tượng của tôi là Martín tội nghiệp không ở tình trạng phù hợp cho việc viết, ngay cả là tên mình. Dường như phần lớn thời gian ông ấy mắc kẹt trong nhà tù mà ông ấy dựng lên trong tâm trí, nơi sự ăn năn và đau đớn đang giết dần giết mòn ông ấy. Dù chuyên môn của tôi là nội khoa, và tôi không đủ tư cách để đưa ra lời chẩn đoán...”
7
Câu chuyện của vị bác sĩ tốt bụng đã khơi dậy mối quan tâm của Fermín. Trung thành với nguyên tắc giúp đỡ vô điều kiện những ai mất hết hy vọng, anh quyết định tiến hành một cuộc điều tra nhỏ, những mong khám phá thêm vẻ Martín và, cùng lúc đó, hoàn thiện ý tưởng tẩu thoát thông qua cái chết, theo phong cách của ngài Alexandre Dumas. Càng lật lại vấn đề trong đầu, anh càng thấy rằng, ít nhất trong trường hợp cụ thể này, Tù nhân của thiên đường không điên như người ta hay nghĩ. Mỗi khi họ được phép ra sân, Fermín sẽ tìm đủ mọi cớ để lại gần Martín và trò chuyện với ông.
“Fermín này, anh và tôi bắt đầu giống một cặp đôi đấy. Hễ tôi quay lại là thấy anh ở đó.”
“Xin lỗi, thưa ông Martín, chỉ là tôi quan tâm đến một vài chuyện.”
“Chuyện gì vậy, chính xác là, chuyện gì làm anh quan tâm vậy, xin anh cho biết?”
“Ồ, nói toạc ra nhé, dù nghĩ kiểu gì thì tôi cũng không thể hiểu nổi sao một người nhã nhặn như ông lại bằng lòng giúp đỡ tên giám thị bị thịt gian xảo tự phụ kia, trong nỗ lực tham lam muốn biến thành chúa tể văn chương của hắn.”
“Thẳng thắn nhỉ? Dường như ở đây chẳng có bí mật nào cả.”
“Chỉ là tôi có biệt tài bẩm sinh dò tìm và theo đuổi những cuộc điều tra vì mục đích tốt đẹp.”
“Trong trường hợp đó anh hẳn cũng đã phỏng đoán được rằng tôi không phải người cao quý, mà là một tội phạm.”
“Đó dường như là nhận định của quan tòa.”
“Được chống lưng bởi một đoàn quân đã tuyên thệ làm chứng.”
“Ngẫu nhiên thay, tất cả được trả công bởi một tên đốn mạt bị táo bón kinh niên vì lòng đố kỵ và mánh khóe vụn vặt, nếu tôi có thể nói vậy.”
“Anh có thể, nhưng khó mà thay đổi được điều gì. Nói xem, Fermín, có điều gì về tôi mà anh chưa biết?”
“Cả đống ấy chứ. Nhưng có một chuyện thật sự khiến tôi ngứa ngáy ấy là tại sao ông lại làm ăn với kẻ đần độn ích kỷ kia. Hạng như hắn là bệnh thối hoại của đất nước này.”
“Người như hắn thì có ở khắp nơi, Fermín.”
“Nhưng chỉ ở đây chúng ta mới không coi chúng như không tồn tại.”
“Có lẽ, nhưng đừng có phán xét hắn vội vàng thế. Trong toàn bộ tấn kịch này, viên giám thị là một nhân vật phức tạp hơn rất nhiều so với vẻ bề ngoài. Kẻ đần độn ích kỷ này, như anh rộng lượng gọi hắn, trước hết là một người rất có quyền lực.”
“Chúa trời, hắn đã tự nhận như vậy.”
“Trong cái chốn luyện ngục này, nhận xét đó cũng chẳng sai mấy đâu.”
Fermín chun mũi lại. Anh ta không thích điều đang nghe thấy. Nghe như thể Martín đang nhấm nháp cơn suy sụp của mình.
“Hắn ta đe dọa ông à? Phải vậy không? Hắn có thể làm gì khác với ông được đây?”
“Với tôi ư? Chẳng gì cả, ngoại trừ làm tôi buồn cười. Nhưng với người khác, ngoài nơi này, hắn có thể gây hại cho họ.”
Fermín yên lặng một hồi lâu.
“Xin ông tha lỗi cho tôi, Martín. Tôi không có ý xúc phạm ông. Tôi đã không nghĩ được như vậy.”
“Anh không xúc phạm tôi đâu, Fermín. Ngược lại là khác. Tôi nghĩ anh có một cách nhìn quá rộng lượng về hoàn cảnh của tôi. Sự tin tưởng của anh nói nhiều điều về bản thân anh hơn là về tôi.”
“Có phải là vì cô gái ấy không? Isabella.”
“Một quý bà.”
“Tôi không biết ông đã kết hôn.”
“Tôi chưa. Isabella không phải vợ tôi. Cũng chẳng phải người tình của tôi, nếu đó là điều anh đang nghĩ.”
Fermín im lặng. Anh không muốn nghi ngờ lời Martín nói, nhưng chỉ cần nghe ông nói về người phụ nữ ấy - dù cô còn độc thân hay đã kết hôn - thì anh cũng rất tin rằng cô là người mà Martín tội nghiệp yêu thương nhất trên đời này, có lẽ là điều duy nhất giúp ông còn sống trong hố sâu đau khổ ấy. Và buồn nhất là ông dường như không nhận ra điều đó.
“Isabella và chồng cô ấy quản lý một hiệu sách, một nơi luôn có ý nghĩa rất đặc biệt với tôi, kể từ khi tôi còn bé. Gã giám thị bảo tôi rằng nếu tôi không làm như hắn đòi hỏi, hắn sẽ khiến họ bị kết tội bán những tài liệu phản động. Hiệu sách bị tịch thu và họ sẽ bị tống vào tù, và con trai họ, cậu bé chưa đầy ba tuổi, sẽ bị tước đoạt khỏi tay họ.”
“Thằng chó đẻ đó,” Fermín lẩm bẩm.
“Không, Fermín,” Martín nói. “Đây không phải cuộc chiến của anh. Là của tôi. Tôi đáng bị vậy sau những thứ tôi đã làm.”
“Ông chẳng làm gì cả, Martín.”
“Anh không biết rõ tôi đâu, Fermín. Anh không cần biết. Điều anh phải chú tâm là thoát ra khỏi đây.”
“Thật mừng là ông khơi chuyện đó ra, vì đấy cũng là điều tôi muốn hỏi. Tôi nghe bảo ông đang thử nghiệm một phương pháp để thoát ra khỏi cái bô này. Nếu ông cần một vật thí nghiệm gầy còm - nhưng ngập hàn nhiệt huyết - ông không phải tìm đâu xa.”
Martín trầm ngâm quan sát anh.
“Anh đã đọc Dumas chưa?”
“Từ đầu đến cuối.”
“Trông anh giống hạng người đó. Nếu đúng vậy, anh sẽ có ý niệm qua loa về cái sắp xảy đến. Nghe cho rõ nhé.”
8
Sáu tháng sau khi Fermín bị cầm tù một chuỗi những tình huống xảy ra đã làm thay đổi gần như hoàn toàn cuộc đời anh. Sự kiện đầu tiên là trong quãng thời gian ấy, khi chế độ vẫn tin rằng Hitler, Mussolini và bè lũ sẽ giành phần thắng và châu Âu sẽ sớm diễu binh với những sắc màu như trên quần lót của Tổng tư lệnh, một làn sóng không gì cản trở nổi những kẻ côn đồ, chỉ điểm và những chính ủy mới được chỉ định đã đẩy số lượng công dân bị bỏ tù, bắt bớ, kết án hoặc “biến mất” lên cao nhất mọi thời đại.
Các nhà tù không chứa xuể số tù nhân đổ vào. Giới chức quân sự đã chỉ thị cho quản lý nhà tù Montjuic tăng số lượng tù nhân lên gấp đôi hoặc gấp ba và tiếp nhận một phần dòng người bị kết án đang tràn ngập Barcelona thất thủ và đau thương năm 1940 ấy. Và thế là, trong bài giáo huấn hoa mỹ ngày Chủ nhật, viên giám thị đã thông báo cho các tù nhân biết từ nay họ sẽ phải ở ghép buồng. Bác sĩ Sanahuja được chuyển sang phòng giam của Martín, hẳn là để trông chừng và bảo vệ ông khỏi lên cơn tự tử. Fermín phải chia sẻ phòng giam số mười ba với ông già gắt gỏng ở bên cạnh, Mười Bốn. Tất cả bị nhét chung buồng với nhau để chừa chỗ cho đám người mới được xe tải đưa đến hằng đêm từ nhà tù Modelo hoặc trại tập trung Bota.
“Đừng có làm cái mặt ấy. Tôi cũng không thích thú gì với chuyện này đâu,” Mười Bốn thông báo khi ông ta chuyển vào.
“Tôi cảnh báo ông rằng thái độ thù địch thiếu kiềm chế làm tôi lên cơn xả khí đấy,” Fermín hăm dọa. “Nên bỏ ngay cái hành động kiểu Buffalo Bill kia đi. Cố mà biết đường cư xử và đi đái thì quay mặt vào tường, đừng có vẩy tung tóe lên, nếu không thì chẳng mấy hôm nữa ông sẽ tỉnh dậy với đầy nấm mốc trên người đấy.”
Năm ngày đầu cựu Mười Bốn không nói chuyện với Fermín. Cuối cùng, đầu hàng trước cơn đầy hơi khí lưu huỳnh mà Fermín thết đãi về đêm, ông ta thay đổi chiến lược.
“Tôi đã cảnh báo ông rồi đấy thôi,” Fermín nói.
“Được rồi. Tôi chịu thôi. Tên tôi là Sebastián Salgado, thành viên nghiệp đoàn thương mại. Chúng ta hãy bắt tay làm bạn, nhưng mà, làm ơn, tôi xin anh, đừng có đánh rắm như thế nữa, bởi vì tôi bắt đầu bị ảo giác và trong những giấc mơ tôi thấy đồng chí Joseph Stalin đang nhảy điệu sanxtơn.”
Fermín bắt tay Salgado và nhận thấy ông ta bị cụt ngón út và ngón đeo nhẫn.
“Fermín Romerro de Torres, cuối cùng cũng được hân hạnh làm quen với ông. Nhân viên mật vụ tại khu vực Caribe của Chính phủ Catalan, hiện ở lực lượng dự phòng bí mật. Nhưng nghề thực của tôi là thư mục viên và tình nhân của văn chương.”
Salgado nhìn người bạn cùng chiến hào đoạn trợn mắt.
“Thế mà người ta bảo Martín bị điên đấy.”
“Một người điên là người tự coi mình là tỉnh táo, và nghĩ rằng những kẻ ngu ngốc không cùng đẳng cấp với mình.”
Salgado gật đầu, bó tay.
Sự kiện thứ hai xảy ra vài ngày sau đó, khi hai tên lính canh xuất hiện lúc mờ sáng để đưa anh đi. Bebo mở cửa phòng giam, cố giấu nỗi lo lắng.
“Mày, thằng gầy đét kia, đứng lên,” một tên lính canh lầm bầm.
Trong giây lát, Salgado nghĩ rằng những lời cầu nguyện của ông ta được đáp lại và Fermín sắp bị lôi đi xử bắn.
“Dũng cảm lên, Fermín.” Ông ta mỉm cười khích lệ. “Hãy đi chết vì Chúa và vì đất nước này, còn điều gì đẹp đẽ hơn?”
Hai tên lính canh túm lấy Fermín, cùm tay chân anh lại, đoạn lôi anh đi giữa những ánh mắt đau đớn của toàn thể khu nhà giam cùng tiếng cười rú của Salgado.
“Mày có đánh rắm kiểu gì cũng không thoát được quả này đâu, đó là điều chắc chắn,” bạn tù của anh cười cợt.
9
Fermín được dẫn qua một mê cung những đường hầm cho tới khi họ đến hành lang dài một đầu là cánh cửa gỗ. Anh cảm thấy buồn nôn, trong đầu tin chắc rằng cuộc đời khốn khổ của mình đã chấm hết và rằng sau cánh cửa kia thanh tra Fumero sẽ đợi anh cùng cây đuốc hàn và một đêm rảnh rỗi. Ngạc nhiên thay, lúc đến cửa, một tên lính gác tháo cùm cho anh trong khi tên kia gõ cửa.
“Vào đi,” một giọng nói quen thuộc trả lời.
Và vậy là Fermín đã tới văn phòng của giám thị, một căn phòng được trang hoàng xa hoa với những đồ đạc và thảm đẹp đẽ hẳn là ăn cắp từ một tòa nhà sang trọng nào đó trong khu Bonanova. Cảnh tượng càng trở nên trọn vẹn hơn khi có một lá cờ Tây Ban Nha - con đại bàng, quốc huy và dòng chữ - một bức chân dung của Caudillo được chỉnh sửa còn nhiều hơn cả hình chụp quảng cáo của Marlene Dietrich, và viên giám thị, ngài Mauricio Valls, đang mỉm cười đằng sau bàn làm việc, hưởng thụ điếu xì gà nhập khẩu cùng một ly rượu mạnh.
“Ngồi đi. Đừng sợ,” hắn ta mời.
Fermín để ý thấy bên cạnh hắn là một chiếc khay, với một đĩa đầy thịt nạc được nướng chín hoàn hảo, đậu tươi áp chảo và khoai tây nghiền đang bốc hơi dậy mùi bơ nóng và gia vị.
“Không phải ảo ảnh đâu,” viên giám thị nói khẽ. “Là bữa tối của anh. Tôi hy vọng là bụng anh đang đói.”
Fermín, người kể từ năm 1936 chưa nhìn thấy gì như vậy, đã lao vào đống đồ ăn trước khi hình ảnh đó bay hơi. Nhìn anh ngấu nghiến nuốt đồ ăn viên giám thị thoáng tỏ vẻ ghê tởm và khinh thị đằng sau nụ cười thường trực trên môi, chốc chốc hắn lại rít thuốc và đưa tay vuốt mái tóc chải ngược. Khi Fermín đã liếm đĩa cho sạch sẽ như gương, Valls bảo mấy tên lính gác lui ra. Còn lại một mình, viên giám thị dường như thâm hiểm hơn cả khi có quân hộ tống.
“Fermín, phải không nhỉ?” hắn hỏi bâng quơ.
Fermín gật đầu.
“Anh hẳn băn khoăn tại sao tôi cho gọi anh.”
Fermín ngồi co rúm trên ghế.
“Chẳng việc gì phải lo lắng cả. Mà ngược lại. Tôi cho anh đến bởi tôi muốn cải thiện điều kiện sống của anh, và ai biết được, có lẽ còn xem xét lại bản án cho anh nữa kìa: chúng ta đều biết những cáo buộc dành cho anh đều không mấy minh bạch. Đó là vấn đề trong thời đại của chúng ta, nhiều việc bị khới lên và đôi khi những người vô tội phải chịu đựng. Đó là cái giá cho sự phục sinh của dân tộc. Ngoài những lý do trên, tôi muốn anh hiểu rằng tôi cũng như anh mà thôi. Chính tôi đây cũng có gì đó giống một tù nhân. Tôi chắc rằng cả hai chúng ta đều muốn thoát khỏi nơi này sớm nhất có thể và tôi nghĩ chúng ta có thể giúp đỡ nhau. Thuốc lá chứ?”
Fermín rụt rè nhận lấy.
“Nếu ông không phiền, tôi sẽ để dành rồi dùng sau.”
“Dĩ nhiên. Tùy anh thôi. Này, lấy cả gói đi.”
Fermín bỏ chúng vào trong túi. Viên giám thị rướn người qua mặt bàn, mỉm cười. Trong sở thú cũng có một con rắn trông như vậy, Fermín nghĩ, song con rắn kia chỉ bắt chuột thôi.
“Vậy, anh thấy người bạn tù mới thế nào?”
“Salgado à? Một nhà nhân đạo đúng nghĩa.”
“Tôi không biết anh có nhận ra rằng trước khi vào tù, con lợn này là một sát thủ đánh thuê, làm cho quân cộng sản.”
Fermín lắc đầu.
“Lão bảo tôi lão là thành viên nghiệp đoàn.”
Valls cười khẽ.
“Tháng Năm năm 1938, lão lẻn vào nhà Vilajoana trên Paseo de la Bonanova, và một tay lão đã xử hết người trong nhà họ, cả năm đứa con của họ lẫn bốn cô hầu và một cụ bà tám mươi sáu tuổi. Anh có biết gia đình Vilajoana là thế nào không?”
“Ồ, thực ra...”
“Một gia đình làm kim hoàn. Vào thời điểm xảy ra tội ác, đống châu báu và tiền mặt trong nhà họ trị giá đến sáu mươi lăm ngàn peseta. Anh có biết hiện số tiền này ở đâu không?”
“Tôi không biết.”
“Anh không biết, không ai biết cả. Người duy nhất biết đó là đồng chí Salgado, kẻ đã quyết định không chuyển giao nó cho đồng đội, mà giấu đi, để lão có thể hưởng cuộc sống xa hoa sau chiến tranh. Đấy là điều lão sẽ không bao giờ làm được bởi chúng tôi sẽ giam lão ở đây cho tới khi lão ngoan ngoãn mở miệng, hay tới khi ông bạn Fumero của anh thái phần xác còn lại của lão thành từng miếng nhỏ.”
Fermín gật đầu, tỏ ý hiểu.
“Tôi nhận thấy lão mất hai ngón ở bàn tay trái và lão có kiểu đi buồn cười lắm.”
“Một ngày nào đó anh hãy bảo lão tụt quần xuống và anh sẽ thấy lão còn mất cả một thiết bị trọng yếu do cái thói cứng đầu thiếu hợp tác của lão.”
Fermín nuốt cái ực.
“Tôi muốn anh biết rằng tôi thấy kinh tởm những tội ác đấy. Đó là một trong hai lý do khiến anh ở đây, và là lý do tôi đã lệnh cho Salgado chuyển sang phòng giam của anh. Bởi tôi tin rằng khi người ta nói chuyện thì họ sẽ hiểu nhau. Tôi muốn anh khám phá xem lão giấu đồ ăn trộm được của nhà Vilajoana ở đâu, cả những vụ trộm và tội ác lão đã thực hiện trong mấy năm qua, và tôi muốn anh kể lại cho tôi.”
Fermín cảm thấy tim như rớt xuống nền nhà.
“Còn lý do kia?”
“Lý do thứ hai là tôi nhận thấy anh gần đây trở nên thân thiết với David Martín. Với tôi chuyện đó không sao. Tình bạn là một phẩm chất giúp con người trở nên cao quý và giúp tù nhân cải tạo. Tôi không rõ anh có biết Martín là nhà văn hạng bét không.”
“Tôi có nghe qua.”
Viên giám thị ném cho anh cái nhìn lạnh băng nhưng vẫn giữ nụ cười thân thiện.
“Martín không phải là người xấu, thực sự là vậy, nhưng ông ta đã nhầm lẫn rất nhiều điều. Một trong những điều đó là quan niệm ngây thơ về việc bảo vệ những người yếu đuối và vô tội.”
“Ông ta thật ngông cuồng làm sao.”
“Quả vậy. Nên tôi mới nghĩ có lẽ anh cứ thân với ông ta thì sẽ tốt, anh cứ căng tai mở mắt ra, và cho tôi biết ông ta đã kể chuyện gì, ông ta nghĩ gì và cảm thấy ra sao... Tôi chắc phải có gì đó ông ta nhắc tới có thể khiến anh chú ý.”
“Nhắc đến mới nhớ, thưa giám thị, ông ấy gần đây rất hay kêu ca về một cái vết ở háng chỗ quần lót cọ vào.”
Viên giám thị thở dài và lẩm bẩm gì đó trong họng, rõ ràng là mệt mỏi vì phải giả vờ lịch sự với một hạng người khó ưa như vậy.
“Xem nào, thằng đần, mày muốn chúng ta chơi kiểu dễ hay kiểu khó? Tao đang cố tử tế với mày, nhưng tao chỉ cần nhấc máy gọi và nửa tiếng nữa là ông bạn Fumero của mày sẽ đến đây. Gần đây tao nghe đồn, ngoài đuốc hàn, ông ta còn có một bộ đồ nghề mộc cất dưới tầng hầm nhà tù dùng để tạc nên những kỳ quan. Tao nói có rõ không nhỉ?”
Fermín siết chặt tay để giấu sự run rẩy.
“Thật diệu kỳ. Xin thứ lỗi cho tôi, thưa giám thị. Tôi lâu lắm rồi không ăn thịt bò, nên protein hẳn đã đi thẳng lên đầu tôi. Chuyện đó sẽ không xảy ra nữa.”
Viên giám thị lấy lại nụ cười và tiếp tục như chưa có gì xảy ra.
“Cụ thể là, tôi muốn tìm hiểu xem ông ta đã bao giờ nhắc đến Nghĩa Trang Những Cuốn Sách Bị Lãng Quên, hay những cuốn sách chết, hay gì đó tương tự. Nghĩ cho kỹ trước khi trả lời. Martín đã bao giờ kể cho anh về một nơi như vậy chưa?”
Fermín lắc đầu.
“Tôi xin thề, thưa ngài, trong đời mình tôi chưa bao giờ nghe ông Martín, hay bất kỳ ai, nhắc đến nơi đó...”
Viên giám thị nháy mắt với anh.
“Tôi tin anh. Thế nên tôi biết rằng nếu ông ta có nhắc đến, anh sẽ cho tôi hay. Và nếu ông ta không nhắc, anh sẽ khơi chủ đề này ra và tìm hiểu xem nó ở đâu.”
Fermín gật đầu lia lịa.
“Còn một điều nữa. Nếu Martín có kể cho anh về công việc tôi đã đề nghị ông ta làm cho tôi, thì hãy thuyết phục ông ta rằng vì lợi ích của ông ta, và nhất là vì lợi ích của một quý cô mà ông ta rất trọng vọng, cũng như người chồng và đứa con của cô ta, tốt hơn hết ông ta nên viết ngay cái tác phẩm hay nhất của mình.”
“Ý ông là quý cô Isabella?” Fermín hỏi.
“À, tôi thấy là ông ta có nhắc đến cô gái này... Anh nên gặp cô ta,” viên giám thị nói trong khi dùng khăn lau kính. “Trẻ, rất trẻ, da thịt săn chắc như một nữ sinh... Anh không biết cô ta thường ngồi ở đây thế nào đâu, ngay chỗ anh đang ngồi lúc này, và cầu xin cho lão Martín khốn nạn tội nghiệp. Tôi sẽ không cho anh hay cô ta đã đề nghị gì với tôi đâu, bởi vì tôi là một quý ông, nhưng chỉ anh với tôi biết thôi nhé, sự tận tâm mà cô gái này dành cho Martín thật lớn lao. Nếu tôi phải đánh cược, tôi sẽ nói rằng đứa bé kia, Daniel, không phải con của chồng cô ta, mà là con của Martín. Hắn ta có thể có gu cực tệ trong khoản văn chương nhưng lại có một con mắt tinh nhạy với lũ phụ nữ đàng điếm.”
Viên giám thị dừng lại khi nhận thấy gã tù nhân đang nhìn mình bằng ánh mắt khó hiểu mà hắn không mấy thích thú.
“Anh nhìn cái gì?” hắn gặng hỏi.
Hắn gõ xuống bàn và ngay lập tức cánh cửa sau lưng Fermín mở ra. Hai tên lính gác đã túm vai anh, xốc anh dậy cho tới khi chân anh treo lơ lửng trên không.
“Nhớ điều tôi bảo đấy,” viên giám thị nói. “Trong bốn tuần tới, tôi muốn anh lại ngồi vào chiếc ghế kia. Nếu anh mang đến kết quả, tôi có thể bảo đảm cuộc sống sẽ thay đổi theo chiều tốt hơn. Nếu không, tôi sẽ cho anh vào phòng giam dưới hầm với Fumero và đồ chơi của ông ta. Sáng ra chưa?”
“Như pha lê.”
Sau đó, với vẻ mặt chán chường, giám thị ra hiệu cho quân của hắn đưa người tù đi, đoạn đặt ly rượu xuống, chán nản và mệt mỏi vì suốt ngày này qua tháng nọ phải trò chuyện với những đứa quê mùa vô học.
10
Barcelona, 1957
“Daniel, mặt cậu tái rồi kìa,” Fermín thì thầm làm tôi tỉnh cơn mê.
Phòng ăn ở Can Lluís, những con phố chúng tôi vừa đi qua, tất cả đã biến mất. Trước mặt tôi chỉ có thể nhìn thấy cái văn phòng trong lâu đài Montjuic và khuôn mặt của gã đàn ông đang ám chỉ về mẹ tôi bằng những lời lẽ làm tôi bầm gan tím ruột. Cũng trong lúc ấy, một điều gì đó lạnh lùng và sắc nhọn đang khuấy động trong lòng tôi, một cơn cuồng nộ trước nay tôi chưa bao giờ biết. Trong một tích tắc, điều tôi nôn nóng muốn làm nhất trên đời là tên chó đẻ kia đứng trước mặt để tôi có thể vặn cổ hắn mà nhìn cho tới khi những mạch máu trong mắt hắn bục ra.
“Daniel...”
Tôi nhắm mắt và hít một hơi thật sâu. Khi mở mắt ra, tôi lại trở về Can Lluís, và Fermín Romero de Torres đang nhìn tôi, hoàn toàn gục ngã.
“Tha thứ cho tôi, Daniel,” anh ta nói.
Miệng tôi khô khốc. Tôi rót nước vào ly và uống cạn, chờ cho lời lẽ bật ra khỏi miệng.
“Chẳng có gì phải tha thứ cả, Fermín. Những điều anh kể cho tôi, chẳng có gì là lỗi của anh hết.”
“Trước hết, lỗi của tôi là đã kể cho cậu,” anh ta nói, bằng giọng khe khẽ gần như không nghe thấy.
Tôi thấy anh ta hạ mắt xuống, như thể anh ta không dám nhìn thẳng vào mặt tôi. Anh ta dường như đã mất tự chủ do nỗi đau khi nhớ về thời kỳ đó và việc phải tiết lộ sự thật, tôi bỗng thấy hổ thẹn về nỗi cay đắng của bản thân.
“Fermín, nhìn tôi này.”
Fermín cố nhìn tôi qua khóe mắt và tôi mỉm cười với anh ta.
“Tôi muốn anh biết rằng tôi biết ơn anh vì đã kể cho tôi sự thật và tôi hiểu tại sao anh lại không muốn kể cho tôi chuyện này suốt những năm qua.”
Fermín gật đầu yếu ớt nhưng điều gì đó trong mắt anh ta làm tôi nhận ra những lời của mình không mảy may an ủi được anh ta. Ngược lại là đằng khác. Chúng tôi ngồi yên lặng một lúc.
“Còn nữa, phải không?” cuối cùng tôi hỏi.
Fermín gật đầu.
“Chuyện sau đó còn tệ hơn ư?”
Fermín lại gật.
“Tồi tệ hơn rất nhiều.”
Tôi quay mặt đi và mỉm cười với Giáo sư Alburquerque, ông đang ra về và không quên giơ tay chào tạm biệt.
“Vậy sao chúng ta không gọi một chai nước nữa và anh kể cho tôi phần còn lại?”
“Nếu có rượu thì tốt hơn,” Fermín suy tính. “Rượu mạnh.”
11
Barcelona, 1940
Một tuần sau cuộc gặp giữa Fermín và giám thị nhà tù, hai nhân vật mà không một ai trong khu nhà giam từng nhìn thấy trước đó - dù bọn chúng nồng nặc mùi tay sai chính phủ mà có cách xa cả dặm cũng ngửi ra - đến còng tay Salgado và đưa lão đi mà không nói một lời.
“Bebo, anh có biết họ đưa ông ta đi đâu không?” Mười Chín hỏi.
Tên cai ngục lắc đầu, nhưng cái nhìn trong mắt gã cho thấy rằng gã đã nghe được điều gì đó và không muốn bàn về chuyện này. Không còn gì để nói nữa, sự vắng mặt của Salgado ngay lập tức trở thành chủ đề để tranh cãi và phỏng đoán giữa đám tù nhân, họ nghĩ ra đủ các giả thuyết.
“Lão ta là dân chìm, được chính quyền cài vào đây để moi thông tin về chúng ta, thế nên lão mới bịa chuyện rằng vì lão là người của nghiệp đoàn nên bị nhốt vào đây.”
“Chắc chắn rồi, thế nên bọn họ mới chặt đứt hai ngón tay lão và Chúa mới biết chuyện gì khác, để làm cho mọi việc đáng tin hơn.”
“Tôi cá giờ lão đang ăn tối ở Amaya với đồng bọn, đang nhồi nhét toàn đồ kiểu cá tuyết xứ Basque, và cười cợt chúng ta.”
“Tôi thì nghĩ lão đã thú nhận bất cứ điều gì bọn họ muốn lão thú nhận, và họ đã ném lão ra biển xa cả chục cây số với một tảng đá buộc quanh cổ.”
“Trông lão giống gián điệp lắm. Ơn Chúa tôi đã không mở miệng. Các người có khối chuyện phải lo rồi.”
“Các ông không biết đâu, chúng ta có khi sẽ phải ngồi tù.”
Vì thiếu trò tiêu khiển, những cuộc bàn tán cứ thế ầm ĩ cho đến khi, hai ngày sau, chính những kẻ đã bắt lão đi giờ lại mang lão quay về. Điều đầu tiên những người tù nhận thấy là Salgado không thể đứng nổi và bị lôi đi như một bị thịt. Điều thứ hai là lão nhợt nhạt như xác chết và ướt sũng vì mồ hôi lạnh. Người tù quay về trong hạng thái ở trần và người dính đầy vảy nâu trông như hỗn hợp máu khô và cứt. Chúng vứt lão xuống sàn phòng giam, như thể lão là một bao phân rồi bỏ đi không nói một lời.
Fermín nắm cánh tay lão dìu lên giường. Anh bắt đầu lau người cho lão bằng mảnh vải xé từ áo của mình và thấm chút nước do Bebo lặng lẽ mang đến. Salgado còn tỉnh và thở khó nhọc, nhưng mắt lão ta sáng lên nhờ ngọn lửa bên trong. Chỗ hai ngày trước là bàn tay trái, giờ là một khối thịt phập phồng tẩm nhựa đường. Fermín lau mặt cho lão ta, Salgado mỉm cười nhe vài cái răng sót lại.
“Sao ông không khai với lũ đồ tể kia điều chúng muốn biết, chỉ một lần rồi thôi, hả Salgado? Chỉ là tiền thôi mà. Tôi không biết ông giấu bao nhiêu, nhưng không đáng để phải chịu như thế.”
“Đời nào!” lão ta lẩm bẩm bằng chút hơi thở còn lại. “Tiền đó là của tôi.”
“Nó thuộc về tất cả những người ông giết và cướp, nếu ông không thấy trái tai với nhận xét đó.”
“Tôi không cướp của ai cả. Chúng cướp của người ta từ trước. Và nếu tôi xử tử họ thì đó là để đem lại công bằng cho mọi người.”
“Chắc chắn rồi. Cảm ơn Chúa ông đã xuất hiện, Robin Hood của Địa Trung Hải, để sửa những điều sai trái và báo thù cho dân thường khốn khó.”
“Chỗ tiền đó là tương lai của tôi,” Salgado khạc ra.
Fermín dùng giẻ ướt lau cái trán lạnh đầy những vết xước của Salgado.
“Ta không nên mơ về tương lai của mình, mà phải giành được nó. Và ông không có tương lai, Salgado ạ. Cả ông hay một đất nước sản sinh ra những con quỷ như ông và tên giám thị kia, rồi cứ thế nhắm mắt làm ngơ đi. Tôi nói cho ông biết nhé, chúng ta đã hủy hoại tương lai và điều chờ đợi chúng ta phía trước là cứt đái như thứ cứt đang rỉ ra từ người ông và tôi buồn nôn vì phải lau cho ông lắm rồi.”
Salgado cất tiếng rên rỉ mà Fermín cho là tiếng cười.
“Cứ việc giữ lấy mấy bài thuyết giảng ấy, Fermín. Đừng ra vẻ anh là người hùng.”
“Không, ở đây có đủ người hùng rồi. Tôi chỉ là một thằng hèn. Chính xác là vậy,” Fermín nói. “Nhưng ít nhất tôi biết và thừa nhận điều đó.”
Fermín tiếp tục ra sức lau người cho lão ta, trong yên lặng, và sau đó lấy tấm chăn họ dùng chung đắp lên cho lão - cái chăn đầy chấy rận và nồng mùi nước đái. Anh ngồi cạnh lão trộm cho tới khi lão nhắm mắt và chìm vào một giấc ngủ mà Fermín không nghĩ rằng lão sẽ tỉnh lại.
“Hãy nói là lão ta chết rồi đi,” giọng Mười Lăm cất lên.
“Chấp nhận lời cược,” Mười Bảy đế vào. “Cá một điếu thuốc là lão sẽ ngủm củ tỏi.”
“Thôi đi ngủ đi, hoặc đi chết đi, tất cả các người,” Fermín nói.
Anh cuộn tròn người ở đầu kia phòng giam và cố chợp mắt, nhưng sớm nhận ra sẽ không ngủ được đêm hôm ấy. Sau một lúc, anh thò đầu qua song sắt và thòng hai tay trên thanh chắn ngang. Phía bên kia hành lang, từ trong bóng đêm của phòng giam đối diện, hai con mắt sáng lập lòe trong đốm lửa thuốc lá đang quan sát anh.
“Anh chưa kể cho tôi hôm trước Valls muốn gì,” Martín nói.
“Ông có thể tưởng tượng ra mà.”
“Có yêu cầu nào bất thường không?”
“Hắn ta muốn tôi moi móc từ ông điều gì đó về nghĩa trang những cuốn sách, hay cái gì đại loại thế.”
“Hay đấy,” Martín nói.
“Tuyệt ấy chứ.”
“Hắn có cho anh biết tại sao hắn quan tâm đến đề tài này không?”
“Nói thẳng thắn là, thưa ông Martín, quan hệ giữa chúng tôi chưa thân mật đến vậy. Viên giám thị chỉ đe dọa phanh thây tôi thành nhiều mảnh, trừ phi tôi thi hành lệnh hắn trong vòng bốn tuần, và tôi chỉ nói ‘vâng, thưa ngài’.”
“Đừng lo, Fermín. Trong bốn tuần nữa anh sẽ ra khỏi đây.”
“Ồ, chắc chắn rồi, trên một bờ biển Caribe, với hai cô em da ngăm đen đẫy đà xoa bóp chân cho.”
“Hãy cứ tin đi.”
Fermín cất tiếng thở dài nghe đến nản lòng. Tương lai anh đang nằm trong tay những người điên, kẻ trộm và những người đang chết.
12
Chủ nhật đó, sau buổi thuyết giảng ngoài sân, viên giám thị đưa ánh mắt dò hỏi nhìn Fermín và bồi thêm một nụ cười khiến anh thấy trong bụng nôn nao. Ngay khi lính canh cho các tù nhân tản ra, Fermín mon men đến chỗ Martín.
“Bài thuyết giảng tuyệt ghê,” Martín nhận xét.
“Mang tầm vóc lịch sử. Mỗi lần gã kia mở miệng nói, lịch sử tư tưởng phương Tây lại trải qua một cuộc cách mạng Copernicus*.”
•
Nicolaus Copernicus (1473-1543): nhà thiên văn học Ba Lan, người đầu tiên đưa ra lý thuyết các hành tinh quay xung quanh Mặt trời.
“Anh không hợp với lối mỉa mai đó đâu Fermín. Nó trái với cái bản chất hiền hòa của anh.”
“Đi chết đi.”
“Tôi đang trên đường đây. Thuốc lá không?”
“Tôi không hút thuốc.”
“Người ta nói nó giúp ta chết nhanh hơn.”
“Vậy tới luôn đi.”
Anh không kịp rít xong hơi đầu tiên. Martín lấy điếu thuốc từ ngón tay Fermín rồi vỗ vỗ lên lưng anh mấy cái trong khi anh đang ho sặc ho sụa, dường như đến nôn ra cả những ký ức về lễ ban thánh thể đầu tiên.
“Tôi không biết sao ông có thể nuốt thứ đó. Mùi như chó thui vậy.”
“Đây là loại tốt nhất kiếm được ở đây. Hình như người ta làm từ vụn thuốc lá nhặt nhạnh từ hành lang của trường đấu bò Monumental.”
“Mùi thuốc cho thấy nhiều khả năng là vụn thuốc được lấy ở bồn tiểu.”
“Hít thở sâu nào, Fermín. Thấy tốt hơn chưa?”
Fermín gật đầu.
“Ông có định kể cho tôi điều gì đó về nghĩa trang kia để tôi còn có chút cặn bã mà ném cho con lợn đầu đàn đó không? Không nhất thiết là phải nói thật. Bất cứ điều vớ vẩn nào ông nghĩ ra cũng được.”
Martín mỉm cười trong lúc phả làn khói hôi hám qua kẽ răng.
“Bạn cùng phòng của anh sao rồi, lão Salgado bảo vệ người nghèo ấy?”
“Có chuyện này cho ông đây. Tôi nghĩ mình đã sống đủ và thấy đủ mọi chuyện trong cái rạp xiếc cuộc đời này rồi. Nhưng, sáng sớm nay, khi tưởng như Salgado đã đầu hàng thần chết, tôi nghe thấy lão tỉnh dậy và, như một con ma cà rồng, bước lại chỗ giường tôi.”
“Đúng là ông ta có gì đó giống ma cà rồng,” Martín đồng tình.
“Dù gì, ông ta đã đến và đứng đó nhìn chằm tôi. Tôi vờ như đang ngủ và khi Salgado cắn câu, tôi thấy ông ta hấp tấp lui vào một góc đoạn dùng bàn tay duy nhất còn sót lại để móc vào nơi mà y khoa gọi là ruột thẳng hay là phần cuối cùng của ruột già,” Fermín nói tiếp.
“Anh nói gì cơ?”
“Ông nghe thấy rồi đấy. Lão già Salgado, vẫn đang dưỡng bệnh sau ca phẫu thuật cắt tay kiểu Trung cổ gần đây, quyết định ăn mừng tự do bằng cách khám phá cái khu vực bị cho là thấp kém ấy trong giải phẫu cơ thể người, nơi mà Mẹ Tự Nhiên đã ban sắc lệnh cho mặt trời không bao giờ chiếu đến.
Tôi không tin nổi vào mắt mình, cũng không dám thở. Một phút trôi qua, trông Salgado như đang thọc hai hay ba ngón tay, những ngón lão còn sở hữu, vào đó tìm kiếm hòn đá của triết gia hay búi trĩ nào đó rất sâu. Tất cả những hành động đó được kèm theo tiếng rên rỉ khe khẽ mà tôi ái ngại không muốn lặp lại ở đây.”
“Tôi thật chẳng biết nói gì,” Martín nói.
“Vậy ông hãy chuẩn bị tinh thần nghe phần chung cuộc đây này. Sau một đôi phút đào bới, lão ta cất một tiếng thở dài kiểu như Thánh John Thánh Giá, rồi chuyện kỳ diệu xảy đến. Khi rút ngón tay ra khỏi đặc khu hậu môn, lão lôi ra một thứ sáng bóng, mà thậm chí từ góc phòng nơi nằm nhìn ra, tôi cũng có thể xác nhận rằng dựa theo các chuẩn mực thì không thể coi là cứt được, xin lỗi vì tôi nói bậy.”
“Vậy đó là cái gì?”
“Chìa. Không phải chìa vặn đai ốc, mà một chiếc chìa khóa nhỏ, dùng để khóa va li hay tủ đồ.”
“Rồi sau đó?”
“Lão cầm chìa khóa trong tay, nhổ nước bọt rồi đánh bóng - vì tôi đồ là nó có mùi hoa hồng - rồi lão đến bức tường, sau khi tin chắc là tôi đang ngủ, tình trạng được tôi xác nhận thông qua tiếng ngáy phát ra một cách tinh tế, như tiếng ngáy của loài chó Saint Bernard, lão ta giấu chìa khóa vào khe đá, đoạn lấy một thứ bẩn thỉu trát lại, và tôi dám nói rằng, đó là sản phẩm phụ từ cuộc khai quật vùng hạ thể.”
Trong một lát Martín và Fermín nhìn nhau không nói gì.
“Ông có nghĩ cái tôi đang nghĩ không?” Fermín hỏi.
Martín gật đầu.
“Ông cho rằng lão già thợ săn rác rưởi ấy giấu được bao nhiêu trong cái tổ bé nhỏ tham lam của lão?” Fermín hỏi.
“Đủ để tin rằng nó đáng để cho lão ta chịu mất ngón tay, bàn tay, một phần ngọc hành và có Chúa biết được còn gì khác để không cho nó lọt vào tay kẻ khác,” Martín phỏng đoán.
“Vậy tôi làm gì bây giờ? Trước khi tôi cho một con rắn như tay giám thị vồ vập kho báu nhỏ bé của Salgado - để cúng tiền in bản bìa cứng tuyển tập tác phẩm của hắn, và mua cho hắn một ghế tại Viện Ngôn ngữ Hoàng Gia - tôi thà nuốt cái chìa khóa đó còn hơn, hoặc nếu cần thiết, thậm chí cài vào phần thấp kém nhất trong hệ tiêu hóa của tôi.”
“Lúc này đừng làm gì cả,” Martín khuyên. “Hãy đảm bảo rằng chiếc chìa khóa vẫn nằm đó và chờ chỉ thị của tôi. Tôi đang hoàn tất chi tiết cuối cùng cho cuộc tẩu thoát cho anh.”
“Tôi không có ý làm mất lòng đâu, thưa ông Martín, bởi tôi cực kỳ biết ơn lời khuyên bảo cũng như sự an ủi về tinh thần của ông, nhưng bằng ý tưởng này ông đang mang đầu tôi cùng một vài bộ phận cao sang khác lên sàn đấu giá đấy, và tính đến cái quan niệm chung rằng ông là một kẻ rồ dại như ông thợ mũ*, thì đặt tính mạng của mình vào tay ông tôi cũng thấy lo ngại.”
•
Nguyên văn: as mad as a hatter. Mad Hatter là nhân vật thợ làm mũ đầu óc lập dị trong tác phẩm Alice lạc vào xứ sở kỳ diệu của nhà văn thiếu nhi nổi tiếng Lewis Carroll.
“Chẳng có gì mếch lòng cả, nhưng nếu anh không tin một tiểu thuyết gia, thì anh định tin ai đây?”
Fermín quan sát Martín bước đi giữa sân, người bị vây bọc trong một đám mây khói thuốc di động.
“Thánh thần ơi,” anh thì thầm với gió.
13
Cái cuộc cá độ sởn tóc gáy do Mười Bảy tổ chức tiếp tục thêm vài ngày nữa. Salgado thỉnh thoảng trông như thể lão sắp ngỏm và rồi, bỗng dưng, lại đứng dậy, lê thân đến song sắt nhà tù và gào ầm lên: “Lũ-con-hoang-chúng-mày-sẽ-không-lấy-nổi-một- xu-của-tao-đâu-chó-đẻ-ạ” và những biến thể khác cùng chủ đề, cho đến khi lão khản giọng và kiệt sức ngã xuống sàn, để Fermín phải nhấc lão lên và dìu về giường.
“Con gián già kia đang chết hả Fermín?” Mười Bảy hỏi mỗi lần ông ta nghe thấy lão ngã sầm xuống sàn.
Fermín không thèm cập nhật tình hình sức khỏe bạn tù của mình nữa. Nếu chuyện đó xảy ra, họ sẽ sớm thấy cái túi vải được chuyển đến thôi.
“Này, Salgado, nếu ông sắp chết, thì chết luôn đi, còn nếu ông định sống, tôi xin ông hãy sống một cách lặng lẽ vì tôi ngán tận răng mấy câu chửi sùi dãi mép của ông rồi,” Fermín nói với lão, đắp cho lão một tấm bạt bẩn thỉu. Vì không thấy Bebo đâu, anh nhờ một gã cai tù khác kiếm cho, sau khi dụ hắn bằng một chiến lược tán gái chắc chắn ngon ăn - tức là chiến thắng sự kháng cự của các cô gái bằng món kem sữa béo và bánh quy xốp với một liều lượng được đong đếm cẩn thận.
“Đừng có giở cái giọng từ bi rác rưởi đó với tôi. Tôi biết anh định nói gì. Anh chẳng tốt đẹp gì hơn lũ kền kền sẵn sàng đem quần lót ra cá cược rằng tôi sắp chết đâu,” Salgado đáp. Dường như lão định giữ cái tính khí thô lỗ ấy cho tới chết.
“Tôi không định tranh cãi với một người đang quằn quại sắp chết nhưng nói cho ông biết, tôi không cá cược một chinh nào vào vụ đó, và nếu tôi có muốn sa vào thói trụy lạc thì tôi cũng không đánh cược trên mạng sống của một con người. Dù nói ông là người thì cũng chẳng khác nào nói tôi là đom đóm,” Fermín tuyên bố.
“Đừng bao giờ nghĩ rằng mớ lời lẽ của anh sẽ khiến tôi phân tâm,” Salgado cay độc quát lại. “Tôi biết mười mươi anh và ông bạn tâm giao của anh đang âm mưu gì từ cái quyển Bá tước Monte Cristo.”
“Tôi không biết ông đang bi bô chuyện gì, Salgado. Ngủ một chút đi, hoặc một năm cũng được, vì dù sao cũng sẽ chẳng có ai nhớ ông đâu.”
“Nếu anh nghĩ sẽ thoát được khỏi chốn này thì anh cũng điên như ông ta thôi.”
Fermín cảm thấy mồ hôi chảy lạnh dọc sống lưng. Salgado mỉm cười, chìa hàm răng nham nhở ra.
“Tôi biết mà,” lão nói.
Rủa thầm trong bụng, Fermín cuộn mình trong góc, tránh xa Salgado hết mức có thể. Sự bình yên chỉ kéo dài một phút.
“Sự yên lặng của tôi cũng có giá đấy,” Salgado tuyên bố.
“Lẽ ra tôi nên bỏ mặc cho ông chết lúc người ta mang ông về đây,” Fermín lẩm bẩm.
“Để làm bằng chứng cho lòng biết ơn của tôi, tôi sẵn sàng giảm giá cho anh,” Salgado nói. “Tôi chỉ đề nghị anh giúp tôi một lần cuối cùng và tôi sẽ giữ bí mật cho anh.”
“Sao tôi biết được đó là lần cuối cùng?”
“Bởi vì anh sẽ bị bắt, cũng như bất kỳ ai có ý định chuồn ra khỏi đây, và sau vài ngày chịu hành hạ tinh thần anh sẽ bị treo cổ ngoài sân, để cho lũ còn lại chúng tôi sáng mắt ra. Và lúc ấy tôi sẽ không thể đòi hỏi anh gì khác nữa. Anh nói sao nào? Một ân huệ nhỏ để đổi lại sự hợp tác tuyệt đối của tôi. Tôi hứa danh dự.”
“Lời hứa danh dự của ông ư? Trời ơi, sao ông không nói sớm từ trước? Điều đó làm thay đổi tất cả.”
“Lại gần đây...”
Fermín dè dặt một lúc, nhưng tự nhủ anh chẳng có gì mà mất cả.
“Tôi biết gã con hoang Valls đã dụ dỗ anh tìm cho ra nơi tôi giấu tiền,” lão ta nói. “Đừng có mà chối.”
Fermín nhún vai.
“Tôi muốn anh bảo với hắn,” Salgado chỉ thị cho Fermín.
“Ông nói gì cũng được, Salgado. Tiền ở đâu?”
“Bảo với tên giám thị rằng hắn phải đến một mình. Nếu có ai đi cùng, hắn sẽ không được một xu nào hết. Bảo hắn phải đến nhà máy Vilardell ở Pueble Nuevo, sau vườn nho. Vào nửa đêm. Không sớm hơn, không muộn hơn.”
“Nghe như một hồi trong vở Bóng ma, Salgado, một trong những hồi tệ nhất...”
“Nghe cho kỹ này. Bảo hắn phải đi vào nhà máy và tìm ngôi nhà của người gác, cạnh xưởng vải. Khi đến đó, hắn phải gõ lên cửa, và khi họ hỏi tên, hắn phải nói: “Durruti còn sống”
Fermín cười khoái trá.
“Đó là thứ ngu nhất tôi nghe được kể từ sau bài thuyết giảng gần đây của tay giám thị.”
“Anh cứ kể cho hắn điều tôi vừa bảo.”
“Làm sao ông biết là tôi sẽ không tự đến đó? Nếu tôi làm theo cái vở kịch rẻ tiền của ông tôi có thể lấy được tiền.”
Vẻ tham lam sáng lên trong mắt Salgado.
“Đừng bảo tôi là: bởi vì tôi sẽ chết,” Fermín nói nốt.
Nụ cười như bò sát của Salgado tràn lên môi lão. Fermín dò xét ánh mắt đó, ánh mắt hao mòn vì cơn khát báo thù. Lúc ấy anh nhận ra Salgado đang theo đuổi điều gì.
“Đó có phải bẫy không?”
Salgado không đáp.
“Nếu Valls còn sống thì sao? Ông có nghĩ đến việc người ta sẽ làm gì với ông không?”
“Chưa có gì mà chúng không làm với tôi cả.”
“Ông cũng lắm bi đấy*, ờ mà ông còn mỗi một bên. Và nếu âm mưu của ông bất thành, thì ông sẽ chẳng còn gì sất,” Fermín ngụ ý.
•
You’ve got balls. Thành ngữ để chỉ ai đó can đảm, nhưng chữ ball cũng có nghĩa là ngọc hành.
“Đó là việc của tôi,” Salgado bật lại. “Vậy sao nào, Monte Cristo? Thỏa thuận không?”
Salgado chìa bàn tay còn lại ra. Fermín nhìn chằm một lát đoạn miễn cưỡng bắt tay.
14
Fermín phải đợi đến buổi thuyết giảng truyền thống vào ngày Chủ nhật sau lễ Misa và quãng thời gian ngắn ngủi ở trong sân để lại chỗ Martín và thổ lộ với ông điều Salgado bảo anh làm.
“Nó không gây trở ngại gì đến kế hoạch đâu,” Martín trấn an anh. “Cứ làm những gì lão ta bảo. Thời điểm này, chúng ta không thể mạo hiểm để lộ ra được.”
Fermín, từ mấy ngày nay đang lơ lửng giữa cảm giác buồn nôn và trạng thái tim đập liên hồi, lau khô mồ hôi đang chảy giọt trên trán.
“Martín, chẳng phải tôi không tin ông, nhưng nếu kế hoạch ông đang chuẩn bị là tốt sao ông không dùng mà thoát ra khỏi đây?”
Martín gật đầu, như thể ông chờ đợi câu hỏi đó đã lâu.
“Bởi tôi đáng phải ở đây, và dù nếu không đáng, thì ngoài bốn bức tường này chẳng còn chỗ nào cho tôi cả. Tôi không còn nơi nào khác để đi.”
“Ông có Isabella...”
“Isabella lấy một người tốt hơn tôi hàng chục lần. Tất cả những gì tôi đạt được sau khi thoát ra khỏi đây là làm cho cô ấy khổ hơn thôi.”
“Nhưng cô ấy làm mọi điều có thể để cho ông được ra mà...”
Martín lắc đầu.
“Anh phải hứa với tôi một điều, Fermín. Đó là điều duy nhất tôi đòi hỏi ở anh trong giao kèo giữa chúng ta giúp anh trốn thoát.”
Tháng này đúng là tháng của những hạch sách mà, Fermín nghĩ, và vui vẻ gật đầu.
“Ông nói gì tôi cũng làm.”
“Nếu anh ra được khỏi nơi này, tôi muốn anh, nếu có thể, hãy quan tâm đến cô ấy. Từ xa, không để cô ấy biết thậm chí là cả sự tồn tại của anh. Tôi muốn anh quan tâm đến cô ấy và con trai Daniel của cô ấy. Anh sẽ làm điều đó vì tôi chứ, Fermín?”
“Dĩ nhiên.”
Martín cười buồn.
“Anh là người tốt, Fermín ạ.”
“Đây là lần thứ hai ông bảo tôi thế, mỗi lần như vậy tôi lại thấy tệ hơn.”
Martín lôi ra một điếu thuốc hôi hám rồi châm lửa.
“Chúng ta không còn nhiều thì giờ. Brians, vị luật sư mà Isabella đã thuê bào chữa vụ của tôi, hôm qua đã đến đây. Tôi đã sai lầm khi cho anh ta biết điều Valls muốn tôi làm.”
“Việc viết lại thứ rác rưởi của hắn...”
“Chính xác. Tôi đã yêu cầu anh ta không nói gì với Isabella, nhưng tôi biết anh ta, sớm muộn gì anh ta cũng sẽ nói, và Isabella, người mà tôi còn biết rõ hơn nữa, sẽ tất tả đến đây đe dọa Valls rằng sẽ đứng trên các sân thượng mà loan báo bí mật của hắn.”
“Ông không thể ngăn cô ấy à?”
“Cố ngăn Isabella cũng như ngăn tàu chở hàng vậy: vô vọng thôi.”
“Ông càng nói nhiều về cô ấy tôi lại càng muốn gặp cô ấy hơn. Tôi thích phụ nữ kiên cường...”
“Fermín, tôi mong anh giữ lời hứa.”
Fermín đưa tay lên ngực và trịnh trọng gật đầu. Martín tiếp tục.
“Như tôi đang nói dở, khi chuyện này xảy ra, Valls sẽ làm điều gì đó ngu ngốc. Hắn bị xui khiến bởi hư danh, tham lam và đố kỵ. Khi hắn cảm thấy bị dồn vào đường cùng hắn sẽ mắc sai lầm. Tôi không biết là gì, nhưng tôi chắc hắn sẽ cố làm gì đó. Chúng ta phải đảm bảo rằng đến lúc đó anh đã ra khỏi đây rồi.”
“Như ông biết đấy, tôi cũng chẳng thiết tha gì chỗ này...”
“Anh không hiểu rồi. Chúng ta phải tăng tốc kế hoạch lên.”
“Thế kế hoạch ấy bao giờ thì bắt đầu.”
Martín nhìn anh thật lâu qua làn khói thuốc từ miệng ông phả ra.
“Đêm nay.”
Fermín cố nuốt cái ực, anh cảm giác như miệng mình đầy bụi đất.
“Nhưng tôi còn chưa biết kế hoạch là gì cơ mà...”
“Nghe cho kỹ đây.”
15
Chiều hôm ấy, trước khi về phòng giam, Fermín tiến đến chỗ một trong hai lính gác đã hộ tống anh đến phòng Valls.
“Bảo với giám thị tôi cần nói chuyện với ông ta.”
“Về chuyện gì?”
“Bảo là tôi có thứ ông ta đang chờ đợi. Ông ta sẽ hiểu.”
Chưa đầy một giờ sau, tên lính gác và đồng nghiệp của hắn đã ở cửa phòng giam số mười ba đón Fermín. Salgado nằm trên giường háo hức xem toàn bộ sự việc, tay xoa xoa khúc bị cụt. Fermín nheo mắt với lão khi bước ra, được lính gác hộ tống.
Viên giám thị đón tiếp anh bằng nụ cười trìu mến và một đĩa đầy thứ bánh thơm ngon của hiệu Casa Escribá.
“Fermín, bạn thân mến, thật vui được gặp lại anh ở đây và được bắt đầu một cuộc trò chuyện thông minh và hữu ích với anh. Ngồi xuống chứ, xin mời. Và hãy nếm loại bánh ngọt tuyệt vời này, vợ một tù nhân mang đến cho tôi đấy.”
Fermín, vốn nhiều ngày rồi chẳng có được thứ gì vào miệng dù là thức ăn của chim, cầm lên một chiếc bánh hình tròn để khỏi trái lệnh Valls, rồi anh cầm trong tay như thể cầm một lá bùa. Valls rót cho mình một ly rượu đoạn buông mình ngồi xuống chiếc ghế tướng quân.
“Vậy là? Tôi hiểu rằng anh có tin tốt cho tôi,” giám thị nói.
Fermín gật đầu.
“Trước tiên hãy nói đến chuyện viết lách, tôi có thể đảm bảo với ông rằng Martín không chỉ đã bị thuyết phục đơn thuần là thực hiện cái công việc trau chuốt và gọt giũa mà ông ấy được đề nghị. Hơn thế nữa, ông ấy còn nhận xét rằng tư liệu mà ông đã cung cấp cho ông ấy thuộc hàng chất lượng cao và rất tinh tế, ông ấy nghĩ sẽ không gặp mấy khó khăn. Ông ấy chỉ cần thêm dấu chấm vào chữ i và gạch ngang vào chữ t là tác phẩm thiên tài của ngài sẽ thành một kiệt tác xứng tầm với Paracelsus vĩ đại.”
Valls khững lại đặng hấp thu loạt ngôn từ như đạn oanh tạc của Fermín, song cũng lịch sự gật đầu mà không gỡ bỏ nụ cười lạnh băng của mình.
“Anh không cần phải dụ ngọt tôi như vậy, Fermín. Tôi chỉ cần biết Martín sẽ làm những gì ông ấy phải làm thế là đủ rồi. Cả hai chúng ta đều biết rằng ông ấy không thích nhiệm vụ được giao, nhưng tôi thấy vui rốt cuộc ông ấy đã nhìn ra lẽ phải và hiểu rằng làm như vậy có lợi cho tất cả chúng ta. Và bây giờ, còn hai việc kia...”
“Tôi đang định nói đây. Về chuyện nơi chôn cất những tác phẩm đã mất...”
“Nghĩa Trang Những Cuốn Sách Bị Lãng Quên,” Valls sửa lại. “Anh có moi được gì về vị trí của nó từ Martín không?”
Fermín gật đầu với vẻ thành khẩn tột cùng.
“Từ những gì tôi thu thập được, cái kho hài cốt ấy được giấu tại một mê cung những đường hầm và phòng ốc, dưới chợ Borne.”
Valls suy xét cái tiết lộ đó, ngạc nhiên thấy rõ.
“Và lối vào?”
“Tôi chưa tìm hiểu đến. Tôi đồ rằng phải đi qua một ô cửa sập ngụy trang bôi một mớ đồ linh tinh và cái mùi hôi thối của những hàng rau quả bán buôn. Martín không muốn nói về chuyện này và tôi nghĩ rằng nếu bị ép quá ông ấy sẽ đổi ý.”
Valls chầm chậm gật đầu.
“Anh đã làm đúng. Tiếp đi.”
“Và cuối cùng, về yêu cầu cuối cùng của đức ngài, lợi dụng cơn giãy chết và những dằn vặt tinh thần của lão Salgado ti tiện kia, trong khi lão mê sảng, tôi đã thuyết phục được lão thú nhận nơi giấu món tài sản kếch xù kiếm được từ các hoạt động phi pháp của lão khi phục vụ Hội Tam điểm và phe Mác xít.”
“Vậy, anh nghĩ lão ta sắp chết ư?”
“Bất kỳ lúc nào. Tôi nghĩ lão ta tự phong là Thánh Leon Trotsky và đang chờ trút hơi thở cuối cùng để thăng lên Bộ Chính trị ở kiếp sau.”
“Tôi đã bảo lũ súc sinh kia là dùng bạo lực sẽ chả moi được gì ở lão ta mà,” Valls lẩm nhẩm trong họng.
“Nghiêm túc mà nói, tôi tin họ cũng moi được tuyến sinh dục hay một chi của lão, nhưng tôi đồng ý rằng, thưa ngài, với một kẻ sâu mọt như Salgado phương pháp khả dĩ duy nhất là tâm lý học ứng dụng.”
“Vậy là? Lão giấu tiền ở đâu?”
Fermín nghiêng người và hạ giọng bí mật.
“Giải thích rối rắm lắm.”
“Đừng lòng vòng không tôi tống anh xuống tầng hầm để luyện dây thanh âm đấy.”
Fermín bèn rót vào tai Valls cái mưu đồ kỳ quái anh vớ được từ miệng Salgado. Tay giám thị lắng nghe trong sự ngờ vực.
“Fermín, tôi cảnh báo anh, nếu nói dối anh sẽ hối tiếc sâu sắc đấy. Điều bọn chúng làm với Salgado sẽ không bằng món khai vị chúng sẽ làm với anh đâu.”
“Tôi có thể bảo đảm với đức ngài rằng tôi nhắc lại, từng lời một, điều Salgado đã kể. Nếu ngài muốn tôi có thể thề trước bức chân dung của Franco không thể chối cãi trên bàn kia.”
Valls nhìn thẳng vào mắt anh. Fermín nhìn lại không chớp, y như Martín đã chỉ dạy. Cuối cùng, khi đã lấy được thông tin mong muốn, tay giám thị cất đi nụ cười cùng đĩa bánh. Không tỏ ra dù chỉ một chút thân ái, hắn đánh ngón tay cái tách và hai tên lính gác đến dẫn Fermín quay lại phòng giam.
Lần này Valls thậm chí không thèm đe dọa Fermín. Khi họ lôi anh xuống hành lang, Fermín thấy gã thư ký của viên giám thị đi qua và dừng ngoài phòng của Valls.
“Thưa ngài giám thị, Sanahuja, bác sĩ ở phòng giam của Martín...”
“Có chuyện gì?”
“Ông ấy bảo Martín bị ngất và cho rằng chuyện này nghiêm trọng. Ông ấy xin được đến tủ thuốc lấy mấy thứ...”
Valls giận dữ đứng lên.
“Còn chờ gì nữa? Đưa ông ta đến đó và để ông ta lấy bất cứ gì ông ta cần.”
16
Theo lệnh của giám thị, tên cai ngục bỏ vị trí gác trước phòng giam của Martín trong khi bác sĩ Sanahuja chữa cho ông. Tên cai ngục là một thanh niên chừng hai mươi tuổi vẫn còn lạ lẫm với ca trực. Ca đêm lẽ ra của Bebo, nhưng thay vào đó gã lính mới này đã xuất hiện không lời giải thích, trông có vẻ bất lực trước cả việc phân loại đống chìa khóa và vẻ mặt còn lo lắng hơn cả đám tù nhân. Tầm chín giờ, ông bác sĩ, rõ ràng đã mệt, bước đến song sắt phòng giam đoạn nói với hắn:
“Tôi cần thêm gạc sạch và chất khử trùng.”
“Tôi không thể bỏ vị trí được.”
“Còn tôi không thể bỏ mặc bệnh nhân được. Làm ơn. Gạc và chất khử trùng.”
Gã cai ngục lo lắng ngọ nguậy.
“Giám thị không thích mệnh lệnh của ông ấy không được tuân thủ từng lời.”
“Ông ấy lại càng không thích nếu có chuyện gì xảy ra với Martín bởi vì anh đã bỏ qua lời của tôi.”
Gã cai ngục trẻ đánh giá tình hình.
“Nghe này, ông chủ,” vị bác sĩ tranh luận. “Chúng tôi không thể đi xuyên tường hay nuốt song sắt được...”
Gã cai ngục chửi thề và hối hả chạy đến tủ thuốc, trong khi Sanahuja đứng chờ bên song sắt. Salgado đã ngủ được vài tiếng, thở một cách khó khăn. Fermín nhón chân đến cửa phòng giam của mình và trao đổi ánh mắt với bác sĩ. Sanahuja sau đó ném cho anh một gói, to bằng cỗ bài, bọc trong miếng vải và được buộc dây. Fermín bắt lấy nó trong không trung rồi nhanh chóng rút vào khoảng tối cuối phòng giam của mình. Khi gã cai ngục quay trở lại mang theo thứ Sanahuja yêu cầu, hắn nhòm qua song sắt, dò xét hình hài của Salgado trên giường.
“Lão ta đang đi những bước cuối cùng,” Fermín nói. “Tôi không tin lão sẽ sống đến ngày mai.”
“Phải giữ cho lão ta sống cho đến sáu giờ. Tôi không muốn lão gây rắc rối cho tôi. Cứ để lão chết trong ca gác của người khác.”
“Tôi sẽ làm những gì mà con người có thể làm được, thưa ông chủ,” Fermín đáp.
17
Đêm đó, trong khi Fermín mở gói nhỏ được bác sĩ Sanahuja ném cho từ phía bên kia hành lang, thì một chiếc Studebaker màu đen chở viên giám thị theo đường đồi Montjuic đi về phía những con phố tối tăm ở ven cảng. Jaime, người lái xe, hết sức cẩn trọng để tránh những ổ gà và cú nẩy xóc có thể làm hành khách của mình không thoải mái hoặc làm gián đoạn mạch suy nghĩ của hắn. Giám thị mới này không như người tiền nhiệm. Giám thị trước sẽ bắt chuyện với anh ta trên xe và thỉnh thoảng ông ta còn ngồi ghế trước, cạnh lái xe. Giám thị Valls không bao giờ gọi tới Jaime trừ lúc ra lệnh và họa hoằn lắm mới đưa mắt nhìn, trừ phi anh ta mắc lỗi, hoặc cán phải cục đá, hay cua quá nhanh. Khi ấy mắt hắn sẽ lừ lừ nhìn vào gương chiếu hậu và khuôn mặt mang vẻ cáu bẳn. Giám thị Valls không cho anh ta bật radio bởi, như hắn nói, mọi chương hình đều xúc phạm đến trí tuệ của hắn. Hắn cũng không cho Jaime để hình vợ và con gái của anh ta trên bảng điều khiển xe.
Thật may, giờ này trong đêm xe vắng và tuyến đường không có bất ngờ ngoài mong đợi nào. Chỉ mất vài phút chiếc xe đã chạy qua Xưởng Đóng tàu Hoàng Gia, nó chạy vòng qua bức tượng rồi đến Columbus và bắt đầu vào Ramblas. Hai phút sau họ đã đến Café de la Opera và dừng lại. Khách đi xem kịch ở Liceo, nằm ở phía bên kia đường, đã vào để xem buổi diễn đêm ấy và phố Ramblas gần như bị bỏ hoang. Tài xế ra khỏi xe và, sau khi chắc chắn không còn ai trên đường, mở cửa cho Mauricio Valls. Tay giám thị bước ra, nhìn cái đại lộ bằng ánh mắt thờ ơ, rồi chỉnh lại cà vạt và phủi cầu vai.
“Đợi ở đây,” hắn nói với tài xế.
Khi tay giám thị bước vào quán cà phê, quán gần như trống trơn. Đồng hồ sau quầy bar điểm mười giờ kém năm. Hắn đáp lại lời chào của nhân viên phục vụ bằng một cái gật đầu và ngồi xuống một cái bàn ở phía cuối. Hắn bình tĩnh tháo găng tay và lấy ra hộp đựng thuốc lá bằng bạc, món quà bố vợ đã tặng hắn vào lễ kỷ niệm ngày cưới đầu tiên. Hắn châm một điếu thuốc và ngắm cái quán cà phê cũ. Phục vụ bê khay đến rồi dùng khăn ướt sặc mùi thuốc tẩy để lau bàn. Tay giám thị ném cho anh ta cái nhìn kinh tởm, người phục vụ lờ đi.
“Quý ông muốn dùng gì?”
“Hai trà hoa cúc.”
“Cho vào một ly ạ?”
“Không. Để riêng ra.”
“Quý khách đang đợi ai sao?”
“Hiển nhiên.”
“Tuyệt quá. Quý khách còn cần gì nữa không?”
“Mật ong.”
“Vâng, thưa quý khách.”
Phục vụ rời đi không vội vã, trong khi viên giám thị lẩm nhẩm buông mấy lời nhận xét khinh miệt trong lòng. Cái radio trên bàn đang rỉ rả một chương trình trả lời bạn nghe đài dành cho những trái tim cô đơn, xen vào đó là quảng cáo từ hãng mỹ phẩm Bella Aurora, sử dụng nó hằng ngày đảm bảo cho ta trẻ mãi không già và có một sắc đẹp chói lòa. Cách đó bốn chiếc bàn là một ông già gần như ngủ gật với tờ báo vẫn cầm trên tay. Những bàn còn lại đều trống. Hai chiếc cốc bốc hơi nghi ngút được mang đến năm phút sau đó. Với tốc độ sên bò, người phục vụ đặt chúng lên bàn, tiếp theo là một lọ mật ong.
“Như thế đã đủ chưa, thưa ngài?”
Valls gật đầu. Hắn không động đậy cho tới khi phục vụ quay lại quầy. Rồi hắn lấy trong túi ra một lọ nhỏ. Hắn vặn nắp, liếc nhanh ông khách đang bị tờ báo đánh chìm vào giấc ngủ. Phục vụ đứng sau quầy, lưng quay về phía phòng, đang dùng tấm vải trắng lau khô cốc chén.
Valls cầm lọ lên và đổ hết chất bên trong vào cốc bên kia bàn. Rồi hắn cho một lượng kha khá mật ong vào và bắt đầu dùng thìa khuấy trà cho đến khi mật ong hoàn toàn tan ra. Trên radio ai đó đang đọc bức thư thống thiết của một thính giả trung thành ở Betanzos, chồng của chị ta, hình như bực dọc vì chị ta làm cháy món thịt hầm cho ngày lễ vong hồn, nên đã đến quán bar để cùng bạn bè nghe tường thuật trận bóng đá mà không về nhà và kể từ hôm đó không đi lễ Misa nữa. Chị ta được khuyên phải cầu nguyện, phải kiên nhẫn và tận dụng mưu chước của đàn bà, nhưng chỉ trong giới hạn nghiêm ngặt của những gia đình Cơ Đốc giáo. Valls lại xem đồng hồ. Lúc này đã mười giờ mười lăm.
18
Mười giờ hai mươi, Isabella Sempere bước qua cửa. Cô mặc một chiếc áo khoác giản dị, không trang điểm, và tóc cô búi cao. Valls trông thấy cô bèn giơ một tay lên. Isabella dừng lại một lát ngây ra nhìn hắn, rồi chầm chậm bước đến bàn. Valls đứng lên và chìa một tay ra với một nụ cười thân thiện. Isabella bỏ qua cử chỉ ấy và ngồi xuống.
“Tôi đã tự ý gọi hai ly trà cúc. Đó là thứ đồ uống hợp nhất với một buổi tối lạnh giá như thế này.”
Isabella gật đầu lơ đãng, tránh ánh mắt của Valls. Tay giám thị dò xét cô sát sao. Mỗi lần phải đến gặp hắn, cô Sempere tạo cho mình vẻ ngoài giản dị nhất có thể hòng che giấu vẻ đẹp. Valls xem xét khuôn miệng cô, nhịp mạch nơi cổ cô và đường cong khuôn ngực dưới lớp áo khoác cô mặc.
“Tôi nghe đây,” Isabella nói.
“Trước hết, hãy để tôi cảm ơn cô vì đã đồng ý gặp tôi sau một thông báo gấp gáp như vậy. Tôi nhận thư của cô chiều nay, và nghĩ quả là ý hay nếu được trao đổi vấn đề này ở một nơi cách xa phòng làm việc và nhà tù.”
Isabella đáp lại bằng một cái gật đầu khác. Valls nhấp một ngụm trà hoa cúc đoạn liếm mép.
“Tuyệt vời. Món trà ngon nhất toàn cõi Barcelona này. Cô nếm thử đi.”
Isabella lờ đi lời mời của hắn.
“Như cô sẽ biết đấy, cẩn trọng thế nào cũng không đủ. Liệu tôi có thể hỏi cô có kể với ai chuyện tối nay cô đến gặp tôi không?”
Isabella lắc đầu.
“Chồng cô chẳng hạn?”
“Chồng tôi đang kiểm kho ở hiệu sách. Anh ấy mãi đầu giờ sáng mới về nhà. Không ai biết tôi ở đây.”
“Tôi gọi cho cô món gì khác nhé? Nếu cô không thích trà hoa cúc...”
Isabella lắc đầu và cầm ly trong hai tay.
“Thế này cũng được.”
Valls mỉm cười bình thản.
“Như tôi nói đấy, tôi nhận được thư của cô. Tôi rất hiểu sự phẫn nộ của cô và muốn cho cô biết rằng tất cả chỉ là hiểu lầm thôi.”
“Ông đang đe dọa một con người tội nghiệp bị tâm thần, là tù nhân của ông, buộc ông ấy viết một cuốn sách để quảng bá cho bản thân ông. Tôi không nghĩ mình hiểu lầm gì.”
Valls rê bàn tay về phía Isabella.
“Isabella... Tôi có thể gọi cô như vậy không?”
“Đừng chạm vào tôi, xin ông.”
Valls rút tay lại, nở một nụ cười dàn hòa.
“Được thôi, nhưng chúng ta hãy nói chuyện một cách bình tĩnh.”
“Chẳng có gì phải nói cả. Nếu ông không để David yên, tôi sẽ mang câu chuyện và sự gian trá của ông đến Madrid hay bất cứ nơi nào cần thiết. Mọi người sẽ biết ông thuộc hạng người nào, và hạng văn nhân nào. Không gì và không ai ngăn tôi được.”
Đôi mắt Isabella đẫm lệ và ly trà cúc rung rinh trong tay cô.
“Làm ơn, Isabella. Hãy uống một chút đi. Sẽ tốt cho cô.”
Isabella nhấp vài ngụm.
“Uống thế này, với một chút mật ong, thì vị trà mới đúng là ngon nhất,” Valls nói thêm.
Isabella nhấp thêm vài ba ngụm nữa.
“Tôi phải nói rằng, tôi thực sự ngưỡng mộ cô, Isabella ạ,” Valls nói. “Ít ai có đủ dũng cảm và điềm tĩnh để bảo vệ một kẻ bần cùng đáng thương như Martín... kẻ mà ai ai cũng bỏ mặc và phản bội. Tất cả mọi người trừ cô.”
Isabella lo lắng liếc nhìn đồng hồ trên quầy. Đã mười giờ ba lăm. Cô nhấp thêm vài ngụm trà hoa cúc nữa rồi uống cạn cốc.
“Chắc hẳn cô rất quý mến ông ta,” Valls đánh bạo. “Đôi khi tôi tự hỏi, nếu có thêm thời gian, khi cô biết tôi rõ hơn chút nữa, và thấy con người thực sự của tôi ra sao, cô sẽ quý mến tôi như quý mến ông ta chăng.”
Cô lạnh lùng nhìn hắn một hồi lâu, chiếc cốc đã uống sạch vẫn ở trong tay cô.
“Ông làm tôi thấy buồn nôn, ông Valls ạ. Ông và cả những kẻ bẩn thỉu như ông.”
Valls mỉm cười nồng ấm.
“Tôi biết, Isabella. Nhưng bọn bẩn thỉu như tôi luôn thống trị đất nước này và những người như cô luôn bị bỏ mặc trong bóng tối. Bên nào nắm dây cương cũng chẳng có gì khác biệt.”
“Lần này thì khác. Lần này cấp trên của ông sẽ biết ông đang làm gì.”
“Điều gì khiến cô nghĩ là họ quan tâm, hay họ không làm y như vậy hoặc thậm chí còn tồi tệ hơn? Dù gì, tôi chỉ là một kẻ nghiệp dư.”
Valls mỉm cười và lấy ra một tờ giấy gập nhỏ từ trong túi áo khoác hắn.
“Isabella, tôi muốn cô biết tôi không phải hạng người như cô nghĩ. Và để chứng minh, đây là lệnh trả tự do cho David Martín, có hiệu lực vào ngày mai.”
Valls cho cô xem tờ văn bản. Isabella xem xét trong sự ngờ vực. Valls lấy bút ra đoạn không ngần ngại mà ký vào.
“Của cô đấy. Davis Martín, đằng thẳng mà nói, giờ là người tự do rồi. Nhờ cô đấy, Isabella. Nhờ cô đấy...”
Khi Isabella nhìn lại hắn mắt cô đã đờ đẫn. Valls nhận thấy đồng tử của cô đang từ từ dãn ra và một lớp mồ hôi dường như đã xuất hiện ở môi trên.
“Cô có sao không? Trông cô tái nhợt kìa...”
Isabella loạng choạng đứng lên, vẫn bám vào ghế.
“Cô thấy chóng mặt ư, Isabella? Tôi dìu cô đi nhé?”
Isabella lùi lại mấy bước và va phải người phục vụ trên đường ra cửa. Valls vẫn ngồi trên ghế, hắn nhấp trà cho tới khi đồng hồ điểm mười giờ bốn lăm. Rồi hắn để lại vài đồng xu trên bàn và từ từ đi về phía lối ra. Chiếc xe đang đợi hắn bên lề đường. Tài xế đứng cạnh xe, giữ cửa mở cho hắn.
“Ngài giám thị muốn về nhà hay quay lại lâu đài?”
“Nhà. Nhưng trước hết chúng ta sẽ ghé qua Pueblo Nuevo, nằm trong nhà máy Vilardell cũ,” hắn ra lệnh.
Trên đường đi nhận món tiền thưởng đầy hứa hẹn, Mauricio Valls, tương lai rạng rỡ của văn học Tây Ban Nha, nhìn những con phố tối đen, vắng lặng của Barcelona bị nguyền rủa mà hắn rất đỗi căm ghét, và rỏ vài giọt nước mắt cho Isabella, và cho những gì đáng lẽ đã xảy đến.
19
Khi Salgado tỉnh dậy sau cơn hôn mê và mở mắt, điều đầu tiên lão nhận thấy là có ai đó đang đứng bất động ở cuối giường nhìn lão. Lão cảm thấy hơi lo lắng và lúc ấy lão nghĩ mình vẫn đang ở tầng hầm. Ánh sáng lập lòe từ chiếc đèn dầu trong hành lang vẽ nên những đường nét quen thuộc.
“Fermín, có phải anh không?” lão hỏi.
Hình dáng trong bóng đêm gật đầu và Salgado thở sâu.
“Miệng tôi khô quá. Còn nước không?”
Fermín từ từ tiến lại gần. Trong tay anh cầm gì đó: một miếng vải và một lọ thủy tinh nhỏ.
Salgado thấy Fermín đổ chất lỏng trong chai lên tấm vải.
“Cái gì thế, Fermín?”
Fermín không đáp. Khuôn mặt anh không biểu lộ cảm xúc gì. Anh ghé người xuống nhìn vào mắt lão.
“Fermín, không...”
Trước khi Salgado có thể thốt thêm âm thanh nào nữa, Fermín đã để tấm vải lên miệng và mũi lão, rồi ép thật chặt, ghì đầu lão xuống giường. Salgado ú ớ với chút sức lực còn lại, trong khi Fermín vẫn giữ tấm vải trên mặt lão. Salgado nhìn anh, lão run rẩy vì sợ hãi. Vài giây sau, lão bất tỉnh. Fermín không bỏ miếng vải ra. Anh đếm năm giây nữa và chỉ đến lúc ấy mới cất đi. Ngồi trên giường, lưng quay về phía Salgado, anh đợi vài phút. Rồi, theo lời Martín bảo, anh đến cửa phòng giam.
“Cai ngục!” anh gọi.
Anh nghe thấy bước chân của tên lính mới đang tiến đến trong hành lang. Theo kế hoạch của Martín, lẽ ra Bebo trực ca đêm nay, không phải gã đần độn kia.
“Chuyện gì nữa đây?” cai ngục hỏi.
“Salgado. Lão tiêu rồi.”
Tên cai ngục lắc đầu bực bội.
“Chó má thật. Làm sao bây giờ?”
“Mang cái túi đến đây.”
Tên cai ngục nguyền rủa vận đen của mình.
“Nếu ông chủ muốn, tôi sẽ cho lão ta vào bao, thưa ông chủ,” Fermín đề nghị.
Tên cai ngục gật đầu với chút ít vẻ biết ơn.
“Nếu mang túi đến ngay bây giờ, ông chủ có thể đi thông báo cho họ trong khi tôi cho lão ta vào bao. Như vậy, họ sẽ đến bốc xác lão trước nửa đêm,” Fermín nói thêm.
Viên cai ngục lại gật và đi tìm túi vải. Fermín đứng bên cửa phòng giam. Phía bên kia hành lang, Martín và Sanahuja quan sát trong yên lặng.
Mười phút sau, tên cai ngục quay lại tay cầm một đầu túi, không che giấu nổi cơn buồn nôn do mùi thịt thối gây nên. Fermín di chuyển về phía cuối phòng giam mà không đợi phải nhắc nhở. Tên cai ngục mở cửa phòng giam và ném cái túi vào trong.
“Ông nên đi báo cho họ biết. Như thế họ sẽ mang đống thịt đi trước nửa đêm - hay là chúng ta sẽ phải để lão ta ở đây đến đêm mai.”
“Anh chắc là một mình anh cho xác lão vào được chứ?”
“Đừng lo, thưa ông, tôi thực hành nhiều lần rồi.”
Tên cai ngục lại gật đầu, không hoàn toàn tin tưởng.
“Cứ hy vọng là chúng ta may mắn và mọi chuyện sẽ đâu vào đó, bởi vì xác lão bắt đầu rỉ nước và thật khó mà nói được mùi của nó sẽ như thế nào...”
“Cứt thật,” tên cai ngục nói, hấp tấp chạy đi.
Ngay khi nghe hắn chạy đến cuối hành lang, Fermín bắt đầu cởi quần áo Salgado. Rồi anh cởi quần áo của mình đoạn
chui vào mớ đồ rách rưới của lão trộm. Cuối cùng, Fermín mặc áo của mình cho Salgado và đưa lão lên giường, đặt lão nằm nghiêng, mặt quay vào tường, và lấy chăn đắp lên người lão, để chăn che đến nửa khuôn mặt. Rồi anh lấy túi vải và chui vào trong. Lúc sắp sửa khép túi lại thì anh nhớ ra điều gì đó.
Vội vã, anh chui ra và đến bên tường. Dùng móng tay, anh cào vào khe đá chỗ thấy Salgado giấu chìa khóa, cho đến khi đầu cái chìa lộ ra. Anh cố dùng ngón tay kéo nó ra, nhưng chiếc chìa trơn trượt vẫn kẹt giữa hai viên đá.
“Nhanh lên,” Martín rít lên phía bên kia hành lang.
Fermín lấy móng tay bấu chặt chìa khóa và kéo ra. Móng ngón tay đeo nhẫn bị bong ra và vài giây sau mắt anh nhòe đi vì đau đớn. Fermín nén tiếng gào thét và mút ngón tay. Vị máu của chính anh, mặn và có vị sắt, lan khắp miệng. Khi mở mắt lại anh nhận thấy rằng một đoạn chìa khóa dài một phân đã nhô ra khỏi tường. Lần này anh có thể kéo ra dễ dàng.
Anh lại chui vào túi, và buộc chặt túi từ bên trong, chặt nhất có thể, chỉ để lại một lỗ hổng bằng bàn tay. Nén lại cơn buồn nôn dâng lên đến tận họng, anh nằm trên sàn và thắt chặt sợi dây cho tới khi chỉ còn lại một khoảng nhỏ, bằng một nắm tay. Anh lấy ngón tay bịt mũi. Thà hít mùi hôi thối của mình còn hơn phải ngửi cái mùi thối rữa đó. Lúc này, việc còn lại của anh là đợi, anh tự nhủ với mình.
20
Những con phố của Pueblo Nuevo vùi trong màn sương dày, ẩm ướt len lỏi dâng lên từ lớp lớp những mái lều trên bãi biển Somorrosho. Chiếc xe Studebaker của tay giám thị chậm rãi xuyên lớp sương mờ, qua những hẻm tối tạo nên bởi những nhà máy, nhà kho và những căn nhà phụ tối tăm, đổ nát. Phía trước, ánh đèn pha xe tạc thành hai luồng sáng. Chẳng mấy chốc hình dạng của xưởng vải cũ Vilardell đã lộ ra qua làn sương. Những cột ống khói và nóc nhà của các nhà lều và xưởng làm việc hoang vắng hiện ra cuối con đường. Lối vào có cổng che chắn; thấp thoáng đằng sau đó, là một vạt cây dại mọc tràn lan, và từ đó nhô lên bộ khung của những chiếc xe tải bị cháy rụi và những xe kéo hỏng nát. Tài xế dừng lại trước lối vào của cái nhà máy cũ.
“Cứ để xe nổ máy đi,” tay giám thị ra lệnh.
Những chùm sáng của đèn pha ô tô xé tan màn đêm bên kia cổng, lộ ra tình trạng đổ nát của nhà máy, nơi đã bị đánh bom trong chiến tranh và bị bỏ hoang như nhiều tòa nhà khác trên khắp thành phố này.
Ở một bên, vài túp lều được dựng lên từ những mảnh ván gỗ. Cạnh đó, đối diện khu nhà để xe trông như thể đã bỏ mạng trong một đống lửa, là thứ mà Valls cho là chỗ ở cũ cho đám nhân viên bảo vệ. Ánh sáng đỏ của ngọn nến, hoặc của chiếc đèn dầu, lướt qua một trong những cửa sổ đã đóng kín. Tay giám thị chậm rãi đón nhận cảnh tượng ấy từ ghế sau của ô tô. Sau vài phút chờ đợi, hắn nghiêng người ra trước và nói với tài xế.
“Jaime, anh có thấy ngôi nhà phía bên tay trái không, đối diện nhà để xe ấy?”
Lần đầu tiên giám thị gọi tên anh ta. Điều gì đó trong cái giọng nói ấm áp và bất thần lịch sự ấy khiến người lái xe thích kiểu đối xử lạnh lùng thường thấy của hắn hơn.
“Ý ông là, ngôi nhà gỗ?”
“Chính xác. Tôi muốn anh bước lại đó và gõ cửa.”
“Ngài muốn tôi vào đó ư? Vào trong nhà máy?”
Tay giám thị thở dài khó chịu.
“Không phải vào nhà máy. Nghe kỹ đây. Anh thấy ngôi nhà kia đúng không?”
“Vâng, thưa ngài.”
“Tốt lắm. Vậy thì khi bước đến cổng, anh chui qua cái khe giữa thanh chắn, rồi đến ngôi nhà gỗ và gõ cửa. Có nghe rõ không?”
Tài xế gật đầu, không mấy hứng thú.
“Được rồi. Khi gõ cửa xong, có người sẽ ra mở cửa, rồi anh nói với anh ta: “Durruti còn sống”
“Durruti ư?”
“Đừng ngắt lời. Anh chỉ cần nhắc lại lời tôi vừa bảo. Họ sẽ đưa cho anh thứ gì đó. Có lẽ là một cái va li hoặc một cái bọc. Anh mang nó lại đây, thế thôi. Đơn giản, phải không?”
Tài xế đã tái cả mặt và đang tiếp tục nhìn vào kính chiếu hậu, tưởng như bất kỳ lúc nào cũng có thể có ai đó hoặc cái gì đó từ bóng đêm lao ra.
“Bình tĩnh đi, Jaime. Sẽ chẳng có chuyện gì đâu. Tôi đang đề nghị anh làm việc này với tư cách cá nhân, không phải với tư cách ông chủ. Nói xem, anh đã kết hôn chưa?”
“Tôi đã kết hôn ba năm trước, thưa ngài.”
“À, vậy thì tốt. Anh có con cái gì không?”
“Chúng tôi có một cô con gái xinh đẹp hai tuổi, và vợ tôi sắp sinh thêm đứa nữa, thưa ngài.”
“Chúc mừng anh. Gia đình là quan trọng nhất, Jaime ạ. Anh là một người Tây Ban Nha tốt. Nếu anh đồng ý, như là một món quà tặng trước lễ rửa tội, và là bằng chứng cho lòng biết ơn của tôi vì công việc tuyệt vời của anh, tôi sẽ cho anh một trăm peseta. Và nếu anh làm giúp tôi việc nhỏ này, tôi sẽ đề nghị thăng chức cho anh. Anh có thích một chân văn phòng trong Hội đồng không? Tôi có những người bạn tốt và họ đang tìm người có phẩm chất để lôi đất nước ra khỏi cái hố đen mà phe đỏ đã bỏ lại.”
Anh tài xế mỉm cười yếu ớt trước món tiền và cái tiền đồ xán lạn.
“Có nguy hiểm gì không hay...?”
“Jaime, là tôi, giám thị đây mà. Lẽ nào tôi lại đề nghị anh làm việc gì nguy hiểm hay bất hợp pháp sao?”
Anh tài xế nhìn hắn nhưng không nói gì. Valls mỉm cười với anh ta.
“Nhắc lại mấy cái mà anh phải làm nào.”
“Tôi đến cửa ngôi nhà và gõ. Khi cửa mở, tôi nói: ‘Durruti sống mãiʼ”
“Durruti còn sống.”
“À đúng rồi. Durruti còn sống. Họ sẽ trao cho tôi một cái va li và tôi mang nó về đây.”
“Rồi chúng ta về nhà. Đơn giản vậy thôi.”
Tài xế gật đầu và, sau một lát dè dặt, ra khỏi xe và bước đến cổng. Valls dõi theo bóng anh ta đi qua luồng sáng đèn pha đến lối vào. Ở đó, tài xế ngoảnh lại một giây nhìn về phía ô tô.
“Vào đi, thằng ngu, vào đi,” Valls lẩm bẩm.
Anh tài xế lách qua những thanh chắn, tìm đường qua đống phế liệu và cỏ dại, từ từ tiến đến cửa căn nhà gỗ. Tay giám thị rút khẩu súng hắn vẫn giữ trong túi áo khoác ra và kéo cò. Anh tài xế đến cửa rồi dừng lại ở đó. Valls thấy anh ta gõ hai lần rồi đợi. Gần một phút trôi qua, chẳng có gì xảy ra cả.
“Một lần nữa,” Valls lẩm bẩm một mình.
Anh tay tài xế lúc này đang nhìn về phía ô tô, cơ hồ anh ta không biết phải làm gì tiếp theo. Bất thình lình, một ánh đèn vàng vọt lấp đầy cái không gian chỉ một giây trước vẫn còn là cánh cửa khép kín. Valls thấy tài xế thốt ra cái mật ngữ. Anh ta quay lại một lần nữa để nhìn về phía ô tô, miệng mỉm cười. Phát súng, nổ ra ở tầm gần, xé nát thái dương anh ta và xuyên qua hộp sọ. Một dòng máu chảy ra từ phía bên kia, và cái xác, đã chết, đứng một lúc giữa khói thuốc súng trước khi đổ sụp xuống đất như một con búp bê hỏng.
Valls nhảy vội ra khỏi ghế sau chiếc xe Studebaker và cầm lấy tay lái. Tay trái cầm súng lục kê lên bảng điều khiển và nhằm về phía cổng nhà máy, hắn điều khiển chiếc xe giật lùi và nhấn ga. Chiếc xe chạy lùi vào bóng đen, đâm qua mấy ổ gà và vũng nước trên đường. Khi lái xe lùi hắn có thể thấy ánh lửa của mấy phát súng nhằm vào cổng, nhưng không phát nào trúng xe. Chỉ khi chạy lùi được chừng hai trăm mét, hắn mới quay xe lại. Rồi, rồ ga hết tốc lực, hắn lái xe chạy khỏi nơi đó, cắn môi giận dữ.
21
Bị trói trong túi, Fermín chỉ có thể nghe thấy giọng bọn chúng đang tiến đến phòng giam.
“Này, chúng ta may đấy,” tên cai ngục mới gào lên.
“Fermín ngủ rồi,” bác sĩ Sanahuja nói từ phòng giam của ông nói.
“Một số người thật dễ ngủ,” cai ngục nói. “Kia kìa, anh có thể mang cái túi đi được rồi đấy.”
Fermín nghe tiếng bước chân quanh mình và bất thình lình bị giật mình khi một kẻ phu đào huyệt buộc chặt cái nút lại. Rồi họ nhấc cái túi lên, mỗi người một đầu, không chút thận trọng, rồi kéo anh dọc theo hành lang đá như kéo một khối chết. Fermín không dám động đậy dù chỉ một múi cơ.
Những cú va đập, gây ra bởi các bậc thang, những góc cua và các cánh cửa giáng xuống anh không thương xót. Anh đút nắm tay vào miệng và cắn chặt để cản mình khỏi hét lên. Sau chuyến đi dài quanh co Fermín nhận ra sự suy giảm đột ngột về nhiệt độ và những tiếng vọng rùng rợn dội lại trong khắp lâu đài cũng không còn nữa. Họ đã ra ngoài. Anh bị kéo đi vài mét nữa trên nền lát đá vung vãi đây đó vài vũng nước khiến bao tải ướt sững. Không khí lạnh nhanh chóng xuyên qua bao tải.
Cuối cùng, anh cảm thấy mình đang bị nhấc lên và ném vào khoảng không. Anh rơi vào nơi dường như là một bề mặt gỗ cứng, rồi nghe thấy tiếng bước chân rời xa. Fermín thở một hơi thật sâu. Bên trong túi ẩm ướt và nồng nặc mùi phân, mùi thịt thối và mùi dầu. Fermín nghe thấy tiếng động cơ xe tải nổ máy, và sau một cú giật, chiếc xe bắt đầu chạy. Chẳng bao lâu con đường bất đồ đổ dốc xuống khiến cho bao tải lăn về trước và Fermín đoán rằng chiếc xe đang lăn bánh trên con đường đã mang anh vào tù mấy tháng trước. Anh vẫn nhớ đường lên núi dài và đầy những khúc quanh ra sao. Tuy nhiên, chỉ một lúc sau, anh nhận thấy chiếc xe đang rẽ và đi vào một hướng mới, đường không dốc, gồ ghề và không lát đá. Họ đã rời đường chính và Fermín chắc rằng họ đang tiến sâu vào núi thay vì đi về phía thành phố. Có điều gì đó không ổn.
Chỉ lúc này anh mới nghĩ ra rằng Martín đã không lường hết mọi chuyện, rằng ông đã bỏ qua một chi tiết then chốt. Rốt cuộc, không ai biết chắc người ta làm gì với xác tù nhân. Martín hẳn đã không xét đến khả năng họ thủ tiêu xác tù nhân bằng cách ném vào một lò thiêu. Anh tưởng tượng ra Salgado, tỉnh dậy sau khi bị chuốc thuốc mê, sẽ bật cười và nói rằng Fermín Romero de Torres, hay tên quái gì cũng được, trước khi bị đốt trong Địa ngục thì đã bị đốt trong Cõi đời rồi.
Hành trình tiếp tục vài phút nữa. Rồi, khi chiếc xe bắt đầu chạy chậm lại, Fermín mới nhận thấy cái mùi ấy. Chưa bao giờ trong đời anh được ngửi cái gì kinh khiếp đến như vậy. Tim anh thắt lại và khi mùi hôi thối không tài nào tả xiết gây ra những cơn buồn nôn, anh những mong mình đừng nghe lời lão điên ấy, Martín, và vẫn ở lại phòng giam của mình.
22
Khi tay giám thị về đến lâu đài Montjuic, hắn bước ra khỏi xe và hộc tốc vào văn phòng. Thư ký của hắn ngồi nép sau chiếc bàn nhỏ gần cửa, đang gõ thư chỉ bằng hai ngón tay.
“Để đó rồi đưa thằng chó đẻ Salgado đến đây ngay,” hắn ra lệnh.
Tay thư ký bối rối nhìn hắn, rồi băn khoăn xem có nên mở miệng không.
“Đừng có ngồi như thằng ngu thế. Đi đi.”
Tay thư ký đứng lên, luống cuống, không dám nhìn vào ánh mắt phẫn nộ của giám thị.
“Salgado đã chết, thưa giám thị. Tối nay...”
Valls nhắm mắt và thở một hơi thật sâu.
“Giám thị... thưa ngài...”
Không thèm nghe giải thích, Valls chạy thẳng một mạch đến phòng số mười ba. Khi thấy hắn, tên cai ngục trẻ liền tỉnh khỏi cơn buồn ngủ và chào hắn theo kiểu nhà binh.
“Thưa ngài, điều gì...”
“Mở ra. Nhanh.”
Cai ngục mở cửa phòng giam và Valls xông vào. Hắn bước đến giường và, nắm lấy vai thi thể đang nằm trên giường, kéo mạnh. Mặt Salgado ngửa lên. Valls cúi xuống và ngửi hơi thở lão. Rồi hắn quay sang cai ngục, gã này đang nhìn hắn run rẩy khiếp sợ.
“Cái xác đâu?”
“Phu đào huyệt đã mang đi...”
Valls tát mạnh khiến hắn ngã ngửa ra. Hai tên lính gác đã xuất hiện ở hành lang, đang chờ chỉ thị của giám thị.
“Tao muốn bắt sống nó,” hắn bảo họ.
Hai tên lính gật đầu và bước nhanh. Valls vẫn ở đó, dựa vào song sắt phòng giam của Martín và bác sĩ Sanahuja. Tên cai ngục, lúc này đã đứng lên và không dám thở, nghĩ rằng hắn thấy tay giám thị đang cười.
“Ý của ông, Martín, phải không?” cuối cùng Valls hỏi.
Tay giám thị khẽ cúi đầu và, trong lúc bước dọc hành lang, chầm chậm vỗ tay.
23
Fermín có thể cảm thấy xe chạy chậm dần và đang vượt qua những vật cản cuối cùng trên con đường bẩn thỉu. Sau vài phút kinh qua những ổ gà cùng tiếng kêu rệu rã của chiếc xe, thì động cơ dừng lại. Cái mùi hôi thối len qua bao tải quả là không thể nào tả xiết. Hai phu đào huyệt bước ra sau xe và Fermín nghe thấy tiếng kêu của thanh kim loại chốt thùng xe. Đột nhiên, một cú ném mạnh hất anh vào khoảng không.
Anh chạm đất bằng một bên người, cơn đau tê dại lan khắp bờ vai. Trước khi anh kịp phản ứng, hai phu đào huyệt đã khiêng bao tải xác khỏi nền đá, mỗi người xách một đầu, mang lên đồi. Được mấy mét thì họ dừng lại. Họ lại thả bao tải xuống và lúc ấy Fermín nghe thấy một người quỳ xuống và bắt đầu tháo cái nút buộc. Anh có thể nghe thấy tiếng chân của người còn lại khi hắn rời khỏi đó và cầm lên một vật kim loại. Fermín cố hít vào chút không khí nhưng mùi chướng khí như thiêu đốt cổ họng anh. Anh nhắm nghiền mắt và cảm thấy cơn gió lạnh táp lên mặt. Phu đào huyệt nắm lấy đầu kia của túi và giật mạnh. Thi thể Fermín lăn trên đá và bùn.
“Nào, đếm đến ba,” một người nói.
Bốn bàn tay nắm lấy cổ tay cổ chân anh. Fermín cố nén hơi thở.
“Này, chẳng phải hắn đang đổ mồ hôi sao?”
“Xác chết thì đổ mồ hôi thế chó nào được, mày đùa à? Chắc là do bùn. Thôi nào, một hai và...”
Ba. Fermín cảm thấy mình bị quăng lên không. Một tích tắc sau, anh đang bay và đành phó mặc bản thân cho số mệnh.
Anh mở mắt khi đang bay giữa chừng và điều duy nhất anh nhìn thấy được là mình đang bị ném xuống một cái rãnh đào sâu vào núi. Dưới ánh trăng, anh có thể thoáng thấy cái gì đó nhạt màu đang che phủ mặt đất. Fermín tin rằng thứ mình đang nhìn thấy là đá và, một cách bình thản, trong khoảng nửa giây rơi xuống, anh đã quyết định rằng có chết cũng không sao.
Nhưng cú tiếp đất lại nhẹ nhàng. Thân thể Fermín rơi xuống cái gì đó mềm và ướt. Cách năm mét phía trên kia, một tên phu đào huyệt đang cầm cái thuổng, rồi hất nó vào không trung. Một thứ bột trắng tỏa ra như làn sương lấp lánh xoa dịu da anh, và một giây sau, bắt đầu như a xít ăn mòn. Hai phu đào huyệt bỏ đi và Fermín đứng lên, phát hiện ra mình đang ở trong một khu mộ lộ thiên, với bao nhiêu là xác thối bị phủ đầy vôi sống. Anh cố phủi đi lớp bụi cay nồng và bò qua những cái xác cho tới khi đến vách đất. Anh trèo lên vách, sục tay vào đất và mặc cơn đau. Khi trèo được lên mặt đất rồi, anh lê thân đến vững nước để rửa sạch vôi. Anh đứng lên và thấy ánh đèn chiếc xe tải biến mất vào đêm. Quay lại một lát để nhìn sau lưng, Fermín nhìn chằm xuống khu mộ lộ thiên trải rộng dưới chân mình như một đại dương những xác chết chồng chất lên nhau. Anh thấy buồn nôn và ngã khuỵu xuống, nôn ra cả mật những máu. Nỗi sợ hãi cùng mùi xác chết cơ hồ làm anh nghẹn thở. Rồi anh nghe thấy tiếng rầm rầm ở đằng xa. Anh ngước lên và nhìn thấy ánh đèn của hai chiếc xe đang tiến đến. Anh chạy sang sườn đồi và đến một bãi đất nhỏ mà từ đây có thể thấy biển ở chân núi, và ngọn hải đăng của bến cảng phía cuối đê chắn sóng.
Phía trên anh, lâu đài Montjuic mọc lên giữa những đám mây đen trải rộng trên bầu trời và che khuất mặt trăng. Tiếng xe đang tiến đến gần hơn. Không chần chờ gì thêm, Fermín thả mình xuống dốc, rơi và lăn qua những thân cây, sỏi đá và bụi gai, chúng va đập vào thân anh và xé nát thịt da anh. Anh không còn cảm thấy đau, hay sợ, hay mệt mỏi khi ra tới đường. Rồi anh chạy về phía nhà kho nơi bến cảng. Anh chạy mà không dừng lại để thở, mất đi cảm giác về thời gian, không biết rằng khắp mình mẩy đầy những vết thương.
24
Ánh ban mai đang tỏa khắp chân trời khi anh đặt chân đến một mê cung vô tận những căn lều phủ khắp bờ biển Somorrostro. Một làn sương sớm từ biển len vào, trườn bò qua những mái lều. Fermín lang thang qua những hẻm nhỏ và đường hầm trong cái thành phố của người nghèo cho tới khi gục xuống giữa hai đống phế thải. Anh được hai đứa trẻ rách rưới phát hiện ra khi đang kéo những hộp gỗ, chúng dừng lại để nhìn thân hình như bộ xương dường như chỗ nào cũng rỉ máu ấy.
Fermín mỉm cười với chúng và hai ngón tay anh làm biểu tượng chiến thắng. Hai đứa trẻ nhìn nhau. Một đứa nói gì đó mà Fermín không nghe ra. Sau đó anh phó mặc bản thân cho cơn kiệt sức và đôi mắt khép hờ nhận thấy mình đang được bốn người khiêng lên rồi sau đó đặt xuống một cái giường bên đống lửa. Anh cảm thấy hơi ấm trên da và từ từ khôi phục cảm giác nơi bàn chân, bàn tay và cánh tay. Cơn đau đến sau đó, như một con thủy triều chậm nhưng không tài nào ngăn nổi. Xung quanh anh, những tiếng xì xào của phụ nữ vang lên. Họ cởi bỏ chút đồ rách rưới còn dính vào thân thể anh. Những miếng vải nhúng qua nước ấm và long não xoa nhẹ cơ thể trần truồng, đầy thương tích của anh bằng sự dịu dàng vô tận.
Anh khẽ mở mắt khi cảm thấy tay một cụ già đặt lên trán mình, cái nhìn thông thái và mệt mỏi dính chặt vào anh.
“Con từ đâu tới?” trong cơn mê, Fermín tưởng lầm giọng nói ấy là của mẹ mình.
“Từ cõi chết, mẹ ơi,” anh thầm thì. “Con từ cõi chết trở về.”