Tia sáng đầu tiên của ban mai tìm thấy tôi nơi ngưỡng cửa phòng ngủ của Julián nhỏ bé. Đây là lần đầu nó ngủ ngon vậy, cách xa khỏi mọi thứ và mọi người, với nụ cười hé trên môi. Tôi nghe thấy Bea tiến đến và cảm thấy bàn tay nàng trên lưng mình.
“Anh đứng đây bao lâu rồi?” nàng hỏi.
“Một lúc rồi.”
“Anh đang làm gì thế?”
“Anh đang ngắm con.”
Bea bước đến nôi của Julián đoạn cúi xuống hôn lên trán nó.
“Tối qua anh về lúc mấy giờ?”
Tôi không đáp.
“Fermín thế nào?”
“Không đến nỗi.”
“Còn anh?” Tôi gượng cười. “Anh có muốn nói về chuyện đó không?” nàng nài nỉ.
“Để hôm khác.”
“Em tưởng là giữa hai ta không có gì bí mật cả,” Bea nói.
“Anh cũng nghĩ vậy.”
Nàng ngạc nhiên ngước nhìn tôi.
“Ý anh là sao, Daniel?”
“Không sao cả. Anh không có ý gì hết. Anh rất mệt. Chúng ta về giường được không?”
Bea nắm tay dẫn tôi về phòng ngủ.
Chúng tôi nằm xuống giường và tôi ôm nàng.
“Đêm nay em đã mơ về mẹ anh,” Bea nói. “Về Isabella.”
Cơn mưa bắt đầu trút lên khung cửa sổ.
“Trong mơ em là một cô bé con, và mẹ đang nắm tay em. Em và mẹ ở trong một căn nhà rộng và rất cũ, có những phòng lớn và chiếc dương cầm lớn, cùng ban công lắp kính quay về một khu vườn có hồ nước. Có một cậu bé ở bên hồ. Cậu bé trông giống như Julián, nhưng em biết thực ra đó là anh, đừng hỏi em vì sao. Isabella quỳ xuống bên cạnh và hỏi em có nhìn thấy anh không. Anh đang chơi bên hồ nước với một con thuyền giấy. Em bảo có. Rồi bà dặn em chăm sóc anh. Chăm sóc anh suốt đời bởi bà phải đi xa.”
Chúng tôi nằm đó mà không nói gì một hồi lâu, lắng nghe tiếng mưa rơi tí tách.
“Tối qua Fermín đã kể chuyện gì với anh?”
“Sự thật,” tôi đáp. “Anh ấy kể sự thật.”
Khi tôi cố tường thuật lại câu chuyện của Fermín, Bea yên lặng lắng nghe. Ban đầu tôi thấy nỗi giận dữ trào dâng trong lòng, nhưng khi dấn sâu vào câu chuyện tôi bắt đầu thấy buồn và tuyệt vọng. Chuyện này hoàn toàn mới mẻ với tôi và tôi vẫn không biết mình sẽ sống ra sao với những bí mật và ẩn ý đằng sau những điều Fermín đã hé lộ. Những sự kiện ấy đã xảy ra gần hai chục năm trước, và thời gian trôi đi đã biến tôi thành một khán giả, không hơn không kém, của một vở kịch trong đó số mệnh của tôi đã được định đoạt trước.
Khi kể xong, tôi nhận thấy vẻ lo lắng trong mắt Bea. Không khó để đoán ra nàng đang nghĩ gì.
“Anh đã hứa với bố là chừng nào bố còn sống anh sẽ không tìm kẻ đó, Valls, hay làm điều gì khác,” tôi nói thêm, để trấn an nàng.
“Khi bố còn sống ư? Vậy sau đó thì thế nào? Anh không nghĩ về chúng ta ư? Về Julián nữa?”
“Dĩ nhiên là có. Và em đừng có lo lắng,” tôi nói dối. “Sau khi nói chuyện với bố anh hiểu rằng mọi chuyện đã xảy ra từ rất lâu rồi và chúng ta không thể làm gì để thay đổi được cả.”
Bea dường như không tin.
“Đó là sự thật...” tôi lại dối nàng.
Nàng cứ nhìn tôi một lát, nhưng đó là những lời nàng muốn nghe và cuối cùng nàng đầu hàng trước cám dỗ và tin vào chúng.
2
Chiều hôm đó, khi cơn mưa vẫn trút xuống những con phố hoang vắng, ngập nước, bóng dáng dữ tợn của Sebastian Salgado xuất hiện ngoài hiệu sách. Lão ta đang đứng ngoài cửa kính quan sát chúng tôi với cái vẻ sẵn sàng ăn tươi nuốt sống không lẫn vào đâu được, ánh đèn từ cảnh chúa Giáng sinh chiếu vào khuôn mặt bị tàn phá của lão. Bộ vét của lão - cũng chính là bộ vét cũ lão mặc vào lần đầu tiên đến đây - ướt sũng. Tôi bước ra mở cửa.
“Cái máng hay nhỉ,” lão nói.
“Ông có vào không?”
Tôi giữ cửa mở và Salgado tập tễnh đi vào. Sau vài bước chân lão dừng lại, tì vào gậy. Fermín ngồi ở quầy dõi mắt nhìn lão đầy nghi hoặc. Salgado mỉm cười.
“Cũng lâu rồi đấy nhỉ,” lão lên giọng.
“Tôi nghĩ ông chết rồi cơ đấy,” Fermín đáp.
“Tôi cũng nghĩ anh chết rồi, mọi người cũng nghĩ vậy. Người ta bảo chúng tôi thế. Rằng anh bị bắt khi đang chạy trốn và chúng đã bắn anh.”
“Đời nào.”
“Nói thật nhé, tôi luôn hy vọng anh trốn được. Anh biết đấy: thánh nhân đãi kẻ khù khờ mà...”
“Ông làm tôi xúc động muốn khóc đây này, Salgado. Ông ra từ bao giờ?”
“Khoảng một tháng trước.”
“Đừng bảo tôi ông được thả vì cải tạo tốt đấy,” Fermín nói.
“Tôi nghĩ chúng phát mệt vì chờ tôi chết. Anh có biết là tôi được ân xá không? Tôi được phát một tờ giấy ân xá, do chính Tướng Franco ký.”
“Hẳn ông phải đem đóng khung nó, tôi chắc vậy.”
“Tôi đặt nó vào chỗ danh dự: trong nhà vệ sinh, phòng khi tôi hết giấy.”
Salgado tiến thêm mấy bước đến quầy và chỉ chiếc ghế ở góc.
“Anh có phiền nếu tôi ngồi xuống không? Tôi vẫn chưa quen với việc đi quá mười mét theo đường thẳng và tôi rất chóng mệt.”
“Tùy ông thôi,” tôi đáp.
Lão buông người xuống ghế và hít một hơi thật sâu trong khi xoa đầu gối. Fermín nhìn lão như vừa trông thấy con chuột chui ra từ nhà xí.
“Buồn cười quá, phải không, khi nghĩ rằng người mà ai cũng cho là sẽ về chầu trời trước tiên lại là người cuối cùng... Anh có biết điều gì khiến tôi vẫn sống sau suốt những năm đấy không, Fermín?”
“Nếu không biết rõ ông thì hẳn tôi sẽ bảo là do chế độ ăn kiêng kiểu Địa Trung Hải và khí biển trong lành.”
Salgado cố cười một tiếng, nhưng nghe như là ho khan hoặc như thể cuống phổi của lão như sắp đứt.
“Anh không bao giờ thay đổi nhỉ, Fermín. Thế nên hồi đó chúng ta mới hợp cạ nhau như vậy. Ôi những ngày tháng ấy. Nhưng tôi không muốn làm chàng thanh niên này phát chán bằng ký ức về những ngày xưa cũ tuyệt vời. Thế hệ của cậu ta chẳng quan tâm đến chuyện của chúng ta. Chúng thích những điệu nhảy charleston, hay cái gì gì đấy kiểu vậy. Chúng ta bàn công việc chứ?”
“Tôi đang nghe đây.”
“Anh mới là người phải nói đấy, Fermín. Tôi đã nói tất cả những gì cần nói. Anh có định đưa tôi thứ anh còn nợ tôi không? Hay chúng ta sẽ kéo nhau vào một cuộc chiến mà anh tốt hơn hết đừng nên để cho mình bị dính vào?”
Fermín tiếp thu cái vẻ vô cảm thêm một lát, đẩy chúng tôi vào một sự yên lặng khó chịu. Salgado đang nhìn thẳng vào mặt anh ta với ánh mắt đầy ác ý. Fermín quăng cho tôi một cái nhìn tôi không tài nào hiểu nổi và thở dài chán nản.
“Ông thắng rồi, Salgado.”
Anh ta lôi trong túi ra một vật nhỏ rồi đưa cho lão. Một chiếc chìa khóa. Chìa khóa. Ánh mắt Salgado sáng lên như mắt trẻ con. Lão đứng lên và chầm chậm bước đến chỗ Fermín, nhận lấy chiếc chìa khóa bằng bàn tay còn lại, run run vì xúc động.
“Nếu ông định đưa vật này vào lại cái vùng bí mật trên cơ thể ông, tôi xin ông vì phép lịch sự hãy vào phòng trong. Đây là hiệu sách gia đình, là nơi công cộng,” Fermín cảnh cáo.
Salgado, dường như đã lấy lại tuổi thanh xuân, bật cười với vẻ thỏa mãn vô bờ.
“Nghĩ cho cùng thì, anh thực đã cho tôi một ân huệ lớn khi giữ nó giúp tôi trong chừng ấy năm,” lão tuyên bố.
“Bạn bè là thế chứ,” Fermín trả lời. “Chúa phù hộ, và ông cứ vô tư không việc gì phải quay lại đây nữa.”
Salgado mỉm cười, nháy mắt với chúng tôi. Lão bước về phía cửa, chìm đắm trong suy nghĩ. Trước khi bước ra đường lão quay lại một lát và giơ tay làm cử chỉ tạm biệt cầu hòa.
“Tôi chúc anh may mắn và sống lâu, Fermín. Và cứ yên tâm là tôi sẽ giữ bí mật cho anh.”
Chúng tôi nhìn lão đi trong mưa, một ông già mà hẳn ai cũng nghĩ đã bước đến ngưỡng cửa nhà thần chết, song tôi chắc rằng, lão không hề cảm thấy những giọt mưa lạnh ngắt đang trút xuống người lão, hay thậm chí là những năm tù đày khốn khó lão mang theo trong máu. Tôi liếc nhìn Fermín, anh ta đứng như chôn chân xuống đất, trông tái mét và bối rối khi gặp lại người bạn tù cũ.
“Chúng ta để lão đi như vậy sao?” tôi hỏi.
“Cậu có kế hoạch nào hay hơn không?”
3
Sau một phút chờ đợi truyền thống, chúng tôi hối hả xuống phố trong chiếc áo mưa sẫm màu và mang theo chiếc ô to như cái dù mà Fermín đã mua ở một hàng tạp hóa ngoài cảng - ý định là để sử dụng cho cả mùa hè và mùa đông trong những chuyến ăn chơi ngoài bãi biển La Barceloneta cùng Bernarda.
“Fermín, cầm cái ô này chúng ta dễ bị lộ lắm,” tôi cảnh báo anh ta.
“Đừng lo. Tôi chắc chắn cái duy nhất mà con lợn kia có thể thấy là những đồng vàng từ trên trời rơi xuống,” Fermín đáp.
Salgado đi trước chúng tôi vài trăm mét, rảo bước dọc theo phố Condal dưới cơn mưa. Chúng tôi thu hẹp khoảng cách một chút, vừa kịp lúc thấy lão sắp leo lên một chiếc xe điện chạy tới đường Layetana. Chúng tôi tăng tốc độ, vừa chạy vừa thu ô lại, và nhờ phép mầu mà nhảy lên được chỗ đuôi xe. Thể theo truyền thống hay ho nhất thời bấy giờ chúng tôi thực hiện cuộc hành trình bằng cách treo mình ở sau xe. Salgado đã tìm được một ghế ở đằng trước, được một người tốt bụng nhường cho, người ấy hẳn không thể nào biết được mình đang đối mặt với ai.
“Điều đó xảy ra khi người ta chạm ngưỡng tuổi già,” Fermín nói. “Không ai nhớ bọn họ cũng đã từng khốn nạn.”
Chiếc xe điện ầm ầm chạy theo phố Trafalgar cho tới khi đến Arco de Triunfo. Chúng tôi liếc vào trong và thấy Salgado vẫn dính chặt vào ghế. Người soát vé, có bộ râu rậm rạp, quắc mắt nhìn chúng tôi.
“Đừng có nghĩ là các người đứng ở đó thì tôi sẽ giảm giá. Tôi đã để mắt từ khi các người nhảy lên xe.”
“Chẳng ai còn quan tâm đến chủ nghĩa hiện thực xã hội nữa,” Fermín lẩm bẩm. “Đất nước gì thế này.”
Chúng tôi đưa cho ông ta vài xu lẻ và ông ta đưa vé cho chúng tôi. Chúng tôi bắt đầu nghĩ rằng Salgado hẳn đã ngủ thì chiếc xe điện rẽ sang đường dẫn đến ga Norte và lão đứng lên, kéo dây yêu cầu dừng lại. Tài xế cho xe chạy chậm lại, nên chúng tôi nhảy xuống chỗ đối diện trụ sở nguy nga của công ty Điện nước được xây theo phong cách nghệ thuật mới và chạy bộ theo xe điện cho tới khi xe dừng. Chứng tôi thấy Salgado bước xuống, được hai hành khách đỡ, rồi lão tiến vào nhà ga.
“Anh có nghĩ điều tôi đang nghĩ không?” tôi hỏi.
Fermín gật đầu. Chúng tôi theo Salgado vào sảnh lớn nhà ga, bọn tôi ngụy trang - hay có lẽ là làm cho mình nổi bật hơn - sau chiếc ô to đùng của Fermín. Khi đã vào trong, Salgado tiến đến dãy tủ sắt xếp dọc theo một bức tường trông như phiên bản thu nhỏ của tủ đựng di cốt ở nghĩa trang. Chúng tôi ngồi vào một góc khuất trong sảnh nhà ga. Salgado đang đứng trước vô số những ngàn tủ, nhìn chằm vào chúng, mải mê tột cùng.
“Anh có nghĩ lão ta quên mất đã giấu đồ ăn cướp ở đâu không?” tôi hỏi.
“Dĩ nhiên là không. Lão đã đợi giây phút này hai chục năm nay. Chẳng qua là lão đang nhấm nháp nó thôi.”
“Nếu anh nói vậy... Nhưng nếu anh muốn biết ý kiến của tôi, thì tôi cho là lão quên rồi.”
Chúng tôi vẫn ở đó, quan sát và chờ đợi.
“Fermín này, thật sự là anh chưa bao giờ kể nơi anh giấu chìa khóa khi anh trốn khỏi lâu đài...”
Fermín ném về tôi cái nhìn thù nghịch.
“Thôi quên đi,” tôi nhún nhường.
Việc chờ đợi tiếp tục kéo dài thêm mấy phút nữa.
“Có lẽ lão còn một kẻ đồng phạm...” tôi nói, “và lão đang chờ kẻ đó.”
“Salgado không phải hạng người biết san sẻ.”
“Có lẽ ai đó...”
“Suỵt,” Fermín bảo tôi im lặng, đoạn chỉ về phía Salgado, cuối cùng lão cũng động đậy.
Lão già bước đến một ngăn tủ và đưa tay lên cửa sắt. Lão lấy chìa khóa, tra vào ổ, mở cửa và nhìn vào trong. Ngay lúc đó hai tên hiến binh, đang từ sân ga đi vào nhà ga và bước đến chỗ Salgado đứng, lúc này đang cố lôi thứ gì đó trong tủ ra.
“Ôi trời, ôi trời...” tôi lẩm bẩm.
Salgado quay lại và chào hai tên hiến binh. Bọn họ trao đổi vài lời rồi một người lôi chiếc hộp ra khỏi tủ đoạn để xuống sàn cạnh chân Salgado. Lão trộm cảm ơn họ nồng nàn vì sự giúp đỡ và hai tên hiến binh đưa tay lên sát mũ ba sừng ra dấu chào và tiếp tục công việc.
“Chúa phù hộ Tây Ban Nha,” Fermín lẩm bẩm.
Salgado nắm lấy tay nắm chiếc va li và kéo nó đến một chiếc ghế dài khác ở đầu phòng bên kia.
“Lão không định mở nó ra ở đây chứ?” tôi hỏi.
“Lão phải chắc chắn tất cả đều ở trong đó,” Fermín đáp. “Cái tay bẩn thỉu đó đã phải đánh đổi nhiều năm đau đớn để lấy lại kho báu của mình.”
Salgado nhìn quanh mình mấy lượt để đảm bảo không có ai ở gần, và cuối cùng lão cũng quyết định hành động. Chúng tôi thấy lão mở hé chiếc va li vài phân rồi liếc vào trong.
Lão giữ nguyên tư thế đó chừng một phút, hoàn toàn bất động. Fermín và tôi nhìn nhau không hiểu. Bất giác Salgado đóng va li lại và đứng lên, đoạn bước về lối ra, bỏ chiếc va li lại sau lưng, ngay trước một ngăn tủ đang mở.
“Lão đang làm gì thế kia?” tôi hỏi.
Fermín đứng lên và ra hiệu cho tôi.
“Cậu lấy chiếc va li, còn tôi sẽ theo lão...”
Không cho tôi thì giờ trả lời, Fermín tức tốc chạy về phía lối ra. Tôi vội đến nơi Salgado đã bỏ chiếc va li. Một gã bảnh bao đang đọc báo ở băng ghế gần đó cũng để mắt đến nó, ngó nghiêng sang hai bên để chắc rằng không có ai quan sát gã đứng lên và chuẩn bị nhào vào nó như một con chim săn mồi. Tôi rảo nhanh bước chân. Kẻ lạ sắp có được chiếc va li thì, nhờ một phép mầu, trong tích tắc tôi đã giật nó khỏi tay hắn.
“Cái va li này không phải của anh,” tôi nói.
Gã nhìn chằm tôi với cái nhìn chống đối và nắm chặt quai va li.
“Tôi có nên gọi hiến binh không nhỉ?” tôi hỏi.
Với vẻ bối rối, tên vô lại kia buông nó ra và lẻn đi ngay lập tức về hướng sân ga. Tôi bê nó đến chỗ ghế của mình và, sau khi chắc chắn không có ai dòm ngó, tôi mở ra.
Nó trống rỗng. Kho báu của Salgado đã biến mất.
Đến lúc ấy tôi mới nghe thấy tiếng la ó và khi quay đầu lại thì nhận thấy có biến cố đã xảy ra ngoài nhà ga. Tôi đứng lên và nhìn qua cửa kính. Hai tên hiến binh đang rẽ lối giữa một đám khách qua đường đang túm tụm lại dưới mưa. Khi đám đông tản ra, tôi thấy Fermín đang quỳ dưới đất, hai tay ôm lấy người Salgado. Ánh mắt lão nhìn vào không trung.
Một phụ nữ đi vào ga, một tay che miệng.
“Chuyện gì thế?” tôi hỏi.
“Một ông già tội nghiệp, ông ta bị ngã...” bà nói.
Tôi đi ra ngoài và bước qua đám đông đang đứng xem cảnh tượng kia. Tôi có thể thấy Fermín đang ngước lên trao đổi mấy lời với hai tên hiến binh. Một gã gật đầu. Rồi Fermín cởi áo mưa phủ lên xác Salgado, trùm qua cả mặt lão. Lúc tôi đến nơi, một bàn tay chỉ còn ba ngón đang thò ra khỏi lớp áo. Trong lòng bàn tay, ánh lên dưới cơn mưa, là chiếc chìa khóa. Tôi dùng ô che cho Fermín, và đặt tay lên vai anh ta. Chúng tôi từ từ bước đi.
“Anh có ổn không, Fermín?”
Anh bạn tốt của tôi nhún vai.
“Về nhà thôi,” anh thốt ra.
4
Khi chúng tôi bỏ lại nhà ga sau lưng để bước đi, tôi cởi áo mưa khoác lên vai Fermín. Anh ta đã để áo của mình lại trên xác Salgado. Tôi không nghĩ trong tình trạng này, bạn mình có thể đi bộ nhiều, bèn vẫy một chiếc taxi. Tôi mở cửa cho anh ta, và khi anh ta đã ngồi vào ghế, tôi đóng cửa lại và vào xe từ cửa bên kia.
“Chiếc va li rỗng,” tôi nói. “Ai đó đã chơi trò bẩn với Salgado.”
“Cần một tên trộm để bắt một tên trộm...”
“Anh nghĩ là ai?”
“Có lẽ chính là kẻ đã bảo lão tôi có chìa khóa và rằng lão có thể tìm thấy tôi ở đâu,” Fermín lẩm bẩm.
“Valls?”
Fermín cất tiếng thở dài não nề.
“Tôi không biết, Daniel ạ. Tôi không còn biết phải nghĩ sao nữa.”
Tôi nhận thấy tài xế đang nhìn chúng tôi qua gương chiếu hậu, chờ đợi.
“Chúng tôi đến đầu quảng trường Real, trên phố Fernando,” tôi nói.
“Chúng ta không về hiệu sách sao?” Fermín hỏi, anh ta vốn chẳng còn đủ sức trong người để cãi xem taxi nên đi đâu.
“Tôi sẽ về hiệu sách. Còn anh sẽ đến nhà ông Gustavo, từ giờ đến hết hôm nay anh sẽ ở bên Bernarda.”
Chúng tôi tiếp tục hành trình trong lặng im, nhìn chằm ra thành phố Barcelona, một quang cảnh mờ mịt dưới mưa. Khi chúng tôi đến những mái vòm ở phố Fernando, nơi nhiều năm trước tôi đã gặp Fermín, tôi trả tiền và chúng tôi bước ra. Tôi tiễn Fermín đến cửa nhà ông Gustavo rồi ôm anh ta.
“Anh giữ gìn sức khỏe nhé, Fermín. Hãy ăn chút gì đó, không thì đêm tân hôn Bernarda sẽ bị xương đâm vào người mất.”
“Cậu đừng lo. Khi đã đặt quyết tâm, tôi có thể tăng cân hơn cả một nghệ sĩ opera. Ngay khi lên nhà tôi sẽ ngấu nghiến những chiếc bánh hạnh nhân mà ông Gustavo mua ở Casa Quílez và đến sáng mai tôi sẽ trông như một con gà tây nhồi thịt.”
“Tôi cũng hy vọng thế. Cho tôi gửi lời hỏi thăm cô dâu nhé.”
“Được rồi, dù với cái rắc rối về mặt pháp lý tôi đang phải đối mặt cùng từng ấy các thủ tục nhiêu khê, thì tôi có thể thấy mình như đang sống trong tội lỗi.”
“Không hề đâu. Nhớ điều anh từng bảo tôi không? Rằng định mệnh không ghé thăm ta tận nhà, rằng ta phải tự tìm đến nó?”
“Tôi phải thú nhận rằng câu đó trong sách của Carax. Tôi thấy nó rất hay.”
“Ồ, tôi đã tin như vậy và vẫn tin. Thế nên tôi mới bảo anh rằng định mệnh của anh là cưới Bernarda vào đúng ngày đã định với mọi giấy tờ hợp pháp - với cha xứ, gạo và tên họ của anh.”
Anh bạn của tôi nhìn tôi ngờ vực.
“Hai năm rõ mười như tên tôi là Daniel, anh chắc chắn sẽ kết hôn với nghi lễ đàng hoàng,” tôi hứa với Fermín. Trông anh ta tuyệt vọng đến nỗi tôi nghĩ chẳng có gì vực lại tinh thần anh ta được: kể cả là một gói kẹo Sugus, hoặc một bộ phim hay ở rạp Femina có cảnh Kim Novak mặc bộ áo ngực lộng lẫy thách thức cả trọng lực.
“Nếu cậu nói vậy, Daniel...”
“Anh đã mang lại sự thật cho tôi,” tôi nói. “Tôi sẽ mang lại tên cho anh.”
5
Chiều hôm ấy, khi quay lại hiệu sách, tôi khởi động kế hoạch giải cứu danh tính của Fermín. Bước đầu tiên là gọi vài cú điện thoại ở phòng sau và lên danh sách những việc cần làm. Bước thứ hai đòi hỏi phải có một đội ngũ những chuyên gia danh tiếng.
Hôm sau hóa ra là một ngày dễ chịu và đầy nắng. Chừng giữa trưa tôi đi bộ đến thư viện ở phố Carmen, tôi hẹn gặp Giáo sư Alburquerque ở đó, tin rằng có điều gì ông không biết thì cũng chẳng có ai biết cả.
Tôi tìm thấy ông ở dưới những mái vòm cao của phòng đọc chính, bao quanh là những chồng sách và giấy tờ. Ông đang tập trung, bút cầm trong tay. Tôi ngồi đối diện ông, ở phía bên kia bàn, và để ông tiếp tục công việc. Ông mất gần một phút mới nhận ra sự có mặt của tôi. Khi ngước lên, ông nhìn tôi đầy ngạc nhiên.
“Đó hẳn là một chủ đề rất hay,” tôi thăm dò.
“Tôi đang viết loạt bài về những nhà văn Barcelona bị nguyền rủa,” ông giải thích. “Cậu có nhớ người tên Julián Carax không, một tác giả mà mấy tháng trước tại hiệu sách cậu đã gợi ý tôi nên đọc ấy?”
“Dĩ nhiên rồi,” tôi đáp.
“Ồ, tôi đã tìm hiểu về ông ấy và câu chuyện của ông ấy thực sự phi thường. Cậu có biết đã nhiều năm rồi có một nhân vật hiểm ác đi khắp thế giới tìm tác phẩm của Carax để đốt không?”
“Ôi trời ạ,” tôi nói, giả vờ ngạc nhiên.
“Một vụ rất kỳ quặc. Tôi sẽ cho cậu đọc khi tôi viết xong.” “Ông nên viết một cuốn sách về chủ đề này,” tôi đề xuất. “Lịch sử bí ẩn của Barcelona được nhìn qua những nhà văn bị nguyền rủa, những điều bị cấm đoán trong chính sử.”
Giáo sư cân nhắc ý tưởng đó, vẻ thích thú.
“Tôi cũng đã nảy ra ý đó, phải nói là như vậy, nhưng viết báo và công việc ở trường quá bận rộn...”
“Nếu ông không viết, sẽ không có ai viết đâu...”
“Vâng, ồ, có lẽ tôi sẽ liều mình bắt tay vào công việc này.
Tôi không biết tìm đâu ra thời gian, nhưng...”
“Sempere & Con trai sẽ cung cấp cho ông danh mục sách và bất cứ sự hỗ trợ nào ông có thể cần đến.”
“Tôi sẽ ghi nhớ điều này. Giờ sao nhỉ? Chúng ta đi ăn trưa chứ?”
Giáo sư Alburquerque dừng làm việc và chúng tôi đến Casa Leopoldo nhâm nhi ly rượu và chút bánh tiêu nhân thịt trong khi đợi hai đĩa đuôi bò hầm, món đặc biệt trong ngày.
“Anh bạn Fermín tốt bụng của chúng ta sao rồi? Vài tuần trước, khi tôi thấy anh ta ở Can Lluís, trông anh ta buồn lắm.”
“Lạ thay tôi đang định nói chuyện với ông về anh ta đây.
Vấn đề khá tế nhị và tôi buộc phải đề nghị ông giữ bí mật.”
“Dĩ nhiên rồi. Tôi có thể làm gì nào?”
Tôi bèn kể tình hình ra, một cách chính xác nhất có thể, cố không chạm đến những chi tiết gai góc và không cần thiết. Vị giáo sư cũng cảm thấy rằng còn nhiều điều nữa ngoài những gì tôi kể cho ông, nhưng ông vẫn giữ vẻ thận trọng theo thói quen.
“Thử xem tôi hiểu đúng không nhé,” ông nói. “Fermín không thể sử dụng danh tính của mình, một cách chính thức, bởi anh ta bị tuyên bố là đã chết cách đây gần hai chục năm, trong mắt chính phủ, anh ta không tồn tại.”
“Chính xác.”
“Nhưng, từ điều cậu kể, tôi hiểu rằng danh tính đã bị hủy này cũng do chính Fermín ngụy tạo trong chiến tranh, để bảo vệ mình.”
“Chính xác.”
“Đó chính là điểm mà tôi bị rối. Giúp tôi nào, Daniel. Nếu Fermín đã nghĩ ra một danh tính giả một lần, tại sao anh ta không thể bịa ra một danh tính khác lúc này để làm đám cưới?”
“Bởi hai lý do, thưa giáo sư. Điều đầu tiên hoàn toàn thực tế, đó là, dù sử dụng tên thật hay tên bịa ra, hiện tại Fermín không có giấy tờ pháp lý nào cả. Do vậy, dù quyết định sử dụng danh tính nào thì nó cũng phải được tạo ra từ con số không.”
“Nhưng anh ta muốn tiếp tục làm Fermín, tôi cho là vậy.”
“Chính xác. Và đây là lý do thứ hai, hoàn toàn về mặt tinh thần, nếu có thể nói như vậy, và là lý do quan trọng hơn nhiều. Fermín muốn tiếp tục làm Fermín bởi đó là người mà Bernarda đem lòng yêu thương, là người bạn của chúng ta, là người tất cả chúng ta đều biết và là con người mà anh ta muốn trở lại. Con người trước đây của anh ta đã không tồn tại từ rất nhiều năm rồi. Cái lớp vỏ đó anh ta đã rũ bỏ. Đến cả tôi, có lẽ là bạn thân nhất, cũng không biết tên rửa tội của anh ta là gì. Với tôi, và với tất cả những người yêu mến anh ta, đặc biệt là với bản thân anh ta, thì anh ta là Fermín Romero de Torres. Và khi ta nghĩ kỹ về chuyện này, nếu việc cần làm là tạo cho anh ta một danh tính mới, thì tại sao không lấy luôn cái danh tính hiện nay?”
Giáo sư Alburquerque cuối cùng cũng gật đầu tán thành.
“Đúng,” ông tuyên bố.
“Vậy ông nghĩ chuyện này có khả thi không, thưa giáo sư?”
“Ờ, đó là nhiệm vụ viển vông kiểu Don Quixote, nếu thực sự có nhiệm vụ nào như vậy,” vị giáo sư cân nhắc. “Làm thế nào cũng cho hiệp sĩ hốc hác Don Fermín xứ Mancha một dòng dõi, chó săn và một lô lốc giấy tờ giả để sánh đôi với người đẹp Bernarda xứ Toboso dưới ánh mắt của Chúa và văn phòng đăng ký kết hôn đây?”
“Tôi đang nghĩ về chuyện này và đi tham khảo mấy cuốn sách pháp lý,” tôi nói. “Ở đất nước này, danh tính của một người bắt đầu từ giấy chứng sinh, mà ngẫm ra, thì đó là một loại giấy cực kỳ đơn giản.”
Giáo sư nhướng mày.
“Điều cậu đang gợi ý nhạy cảm lắm đấy. Nếu không muốn nói là một tội nghiêm trọng.”
“Đúng là chưa có tiền lệ, ít nhất là trong thư tịch tư pháp. Tôi đã kiểm chứng.”
“Thật ư? Xin hãy tiếp tục, chuyện này đang mỗi lúc một hay hơn.”
“Cứ giả sử như có ai đó, nói giả sử thôi, vào được Phòng Đăng ký Hộ tịch, và có thể, nói toạc ra, cấy một tờ giấy chứng sinh vào hồ sơ lưu trữ... Liệu điều đó có mang lại đủ căn cứ để tạo ra danh tính của một người không?”
Giáo sư lắc đầu.
“Với trẻ mới sinh thì có lẽ được. Nhưng giả như chúng ta đang nói, giả sử thôi, về một người lớn, chúng ta sẽ phải tạo ra một đống các giấy tờ. Và dù cho có tiếp cận được, giả dụ thôi, các kho lưu trữ, thì cậu lấy đâu ra những giấy tờ này?”
“Cứ cho rằng tôi có thể tạo ra một loạt những bản sao đáng tin cậy. Vậy ông nghĩ chuyện này có thể thành công không?”
Vị giáo sư suy tính cẩn thận vấn đề này.
“Rủi ro chính ấy là nhỡ có người phát hiện ra vụ gian lận này và muốn mang nó ra ánh sáng. Hãy nhớ trong đầu là trong trường hợp này kẻ phá bĩnh, tạm gọi là vậy, người sẽ làm lộ việc của ta thông qua những bất thường trong chứng từ đã chết, những việc phải làm chỉ bao gồm a), truy cập kho lưu trữ và chèn một tệp hồ sơ vào hệ thống với một danh tính ảo nhưng hợp lý và b), tạo một chuỗi chứng từ cần thiết, đủ để làm nên một danh tính. Tôi đang nói đến những giấy tờ với đủ mọi hình dạng và kích thước, và đủ loại chứng nhận gồm chứng nhận rửa tội của nhà thờ giáo khu, giấy căn cước...”
“Về điểm a), tôi biết rằng ông đang viết một loạt những bài báo về những điều kỳ diệu trong hệ thống pháp luật Tây Ban Nha, được hội đồng đặt hàng. Tôi đã tìm hiểu một chút và phát hiện ra rằng trong chiến tranh, một số kho lưu trữ trong Phòng Đăng ký Hộ tịch đã bị ném bom. Thế có nghĩa là hàng trăm, thậm chí hàng ngàn, những danh tính đã được đồng loạt làm lại. Tôi không phải chuyên gia, nhưng tôi đồ rằng điều này sẽ tạo một vài kẽ hở mà những người thạo tin, có mối quan hệ tốt và có một kế hoạch sẽ có thể lợi dụng...”
Vị giáo sư nhìn tôi qua khóe mắt.
“Tôi thấy là cậu đã tìm hiểu nghiêm túc đấy, Daniel.”
“Xin thứ lỗi, thưa giáo sư, nhưng hạnh phúc của Fermín xứng đáng với điều đó và hơn thế nữa.”
“Cũng khá khen cho cậu. Nhưng ai làm như vậy có thể sẽ phải nhận lấy một hình phạt nặng nề nếu bị bắt quả tang.”
“Vậy nên tôi nghĩ nếu có ai, giả sử thôi, tiếp cận được với đống tư liệu được làm lại đó trong Phòng Đăng ký Hộ tịch, thì người đó có thể dẫn một người phụ việc đi cùng, và người này sẽ làm cái công việc rủi ro kia.”
“Nếu đúng như vậy, thì người phụ việc giả định kia hẳn có thể đảm bảo cho người tạo điều kiện được chiết khấu trọn đời hai mươi phần trăm tại hiệu sách Sempere & Con trai. Cộng thêm lời mời đến dự lễ cưới của đứa bé mới sinh.”
“Coi như đã thỏa thuận xong. Và tôi thậm chí sẽ tăng lên thành hai lăm phần trăm. Mặc dù, ngẫm cho kỹ thì tôi biết có người, giả định thôi, sẽ sẵn sàng hợp tác vì lợi ích chung, lấy làm vui khi có cơ hội phá hoại một chế độ thối nát, ruỗng mục mà chẳng cần nhận được gì.”
“Tôi là học giả, Daniel. Đem cảm xúc ra chẳng dọa dẫm được tôi đâu.”
“Vậy thì vì Fermín.”
“Đó lại là chuyện khác. Chúng ta hãy bàn đến vấn đề kỹ thuật.”
Tôi lấy ra tờ một ngàn peseta Salgado đã đưa cho tôi và cho ông xem.
“Đây là số tiền dùng để chi trả cho các phí tổn,” tôi giải thích.
“Cậu đúng là chi tiền chẳng chùn tay. Nhưng tốt hơn cậu nên giữ số tiền này cho những công đoạn khác trong cái việc cao cả này. Tôi làm miễn phí,” giáo sư đáp. “Phần làm tôi lo lắng nhất, trợ lý thân mến, là tạo được một bộ chứng từ cần thiết. Hãy bỏ qua các công trình công cộng với cả sách kinh: các quan chức quân sự mới của chế độ cũng đã tăng gấp đôi cấu trúc vốn đã đồ sộ của bộ máy nhà nước quan liêu, xứng đáng là những cơn ác mộng tồi tệ nhất của ông bạn Franz Kafka của chúng ta. Như tôi nói, một vụ việc như thế này sẽ đòi hỏi ta phải tạo ra đủ loại thư tín, đơn từ, kiến nghị và những tài liệu khác, trông chúng phải rất đáng tin cậy và có được cái chất liệu tông màu và mùi đặc trưng cho một hồ sơ bụi bặm, quăn góc và không gây ngờ vực...”
“Chúng ta được yểm trợ trên mặt trận này,” tôi nói.
“Tôi sẽ phải có một danh mục những kẻ đồng lõa trong mưu đồ này, để đảm bảo rằng cậu không bịp bợm.”
Tôi giải thích phần còn lại của kế hoạch.
“Có thể thành công đấy,” ông kết luận.
Khi món chính được mang ra, chúng tôi gác lại vấn đề và cuộc trao đổi đi theo một hướng khác. Dù đã kìm nén trong suốt bữa ăn, nhưng đến lúc cà phê được mang tới, thì tôi không thể giữ miệng lâu hơn được nữa. Làm ra vẻ thờ ơ, tôi ngây thơ hỏi:
“Giáo sư này, hôm trước tại hiệu sách, một khách hàng tán gẫu với tôi về việc gì đó, rồi cái tên Mauricio Valls được buột ra - người từng là bộ trưởng Bộ Văn hóa hay cái gì đại loại đấy. Ông biết gì về ông ta không?”
Vị giáo sư nhướng mày.
“Về Valls ư? Điều mà ai cũng biết, tôi cho là vậy.”
“Tôi chắc ông biết nhiều hơn mọi người chứ, thưa giáo sư. Rất nhiều là đằng khác.”
“Ồ, thực ra đã khá lâu tôi không nghe đến cái tên này rồi, nhưng cho đến rất gần đây thì Mauricio Valls vẫn là một nhân vật có số má. Như cậu nói đấy, ông ta là một vị bộ trưởng Bộ Văn hóa nổi tiếng, tại vị trong vài năm, đứng đầu một số cơ quan tổ chức, một con người có địa vị cao trong chế độ và được trọng vọng trong giới cầm quyền, là người bảo trợ cho nhiều nhân vật, cậu bé vàng của những trang văn hóa trên báo chí Tây Ban Nha... Như tôi nói đấy, có số má.”
Tôi mỉm cười yếu ớt, vờ như ngạc nhiên một cách thích thú.
“Ông ta không còn số má nữa sao?”
“Nói thẳng ra, tôi cho là ông ta đã biến mất khỏi bản đồ cách đây một thời gian, hay ít nhất là khỏi chốn công cộng. Tôi không biết ông ta có được bổ làm đại sứ hay được giữ chức vị trong một tổ chức quốc tế nào không, cậu biết mấy thứ này là thế nào mà. Kỳ thực là gần đây tôi mất dấu vết ông ta... Tôi biết cách đây mấy năm ông ta đã cùng với mấy người thành lập một nhà xuất bản. Công ty này làm ăn rất tốt - nó không ngừng cho ra những cuốn sách mới. Thực tế, mỗi tháng một lần tôi lại nhận được thư mời đến dự buổi ra mắt một trong những đầu sách của họ...”
“Vậy Valls có đến những sự kiện này không?”
“Ông ta thường đến, hồi nhiều năm trước. Chúng tôi luôn đem ra làm trò đùa chuyện ông ta nói về bản thân nhiều hơn nói về cuốn sách hay tác giả mà ông ta giới thiệu. Nhưng cũng lâu rồi. Nhiều năm rồi tôi không gặp ông ta. Liệu tôi có thể hỏi tại sao cậu lại quan tâm thế không, Daniel? Tôi không nghĩ cậu thuộc dạng người hứng thú với cái hội chợ phù hoa nhỏ bé của văn chương nước nhà.”
“Tôi chỉ tò mò thôi.”
“Tôi hiểu.”
Trong khi Giáo sư Alburquerque trả tiền, ông nhìn tôi ngờ vực.
“Tại sao tôi luôn nghĩ rằng cậu không thèm kể cho tôi dù chỉ một góc câu chuyện thế nhỉ?”
“Một ngày nào đó tôi sẽ kể cho ông phần còn lại, thưa giáo sư. Tôi hứa.”
“Cậu nên vậy, bởi các thành phố không có ký ức và chúng cần người như tôi, một nhà hiền triết điềm tĩnh, để giữ những ký ức đó lại.”
“Đây là thỏa thuận: ông giúp tôi giải quyết vấn đề của Fermín và đổi lại, một ngày nào đó tôi sẽ kể cho ông nghe những chuyện mà Barcelona nên quên đi thì hơn. Vì cái lịch sử huyền bí của ông.”
Vị giáo sư chìa tay ra, và tôi bắt tay ông.
“Tôi tin lời cậu. Bây giờ, quay lại chủ đề Fermín và các giấy tờ mà chúng ta cần có để lôi ra từ trong một cái mũ...”
“Tôi nghĩ mình đã tìm được người hợp với công việc này.”
6
Oswaldo Darío de Mortenssen, ông hoàng viết chữ thuê xứ Barcelona và là một người quen cũ của tôi, đang tận hưởng phút nghỉ ngơi sau bữa trưa trong quầy của chú ta cạnh La Virreina Palace, nhấm nháp một ly espresso đúp với một chút cô nhắc và hút xì gà. Khi thấy tôi tiến lại chú ta giơ tay chào.
“Đứa con hoang đàng quay về rồi. Cậu đã thay đổi ý định sao? Chúng ta sẽ bắt tay vào viết cái bức thư tình sẽ giúp cậu tiếp cận được vùng cấm đoán nơi khuy quần và cúc áo của người thiếu nữ cậu mê đắm chứ?”
Tôi cho chú ta xem nhẫn cưới của tôi và chú ta gật đầu, đã nhớ ra mọi chuyện.
“Tôi xin lỗi. Đó là do thói quen. Cậu là một trong những tay bảo thủ. Tôi có thể làm gì cho cậu đây?”
“Hôm trước tôi nhớ ra tại sao tên chú nghe quen thuộc với tôi đến thế, chú Oswaldo. Tôi làm việc ở một hiệu sách và tôi đã tìm được một cuốn tiểu thuyết của chú vào năm 1933, Kỵ sĩ buổi tà đương.”
Câu nói đó thắp sáng lên một vùng ký ức. Oswaldo mỉm cười hoài niệm.
“Những ngày tháng tươi đẹp... Barrido và Escobillas, các nhà xuất bản của tôi, đã bòn rút của tôi đến đồng xu cuối cùng, lũ lợn. Mong chúng bị thiêu trụi vĩnh viễn ở địa ngục. Song, cái niềm vui viết ra nó - không ai có thể cướp đi của tôi niềm vui ấy được.”
“Hôm nào tôi mang sách đến, chú sẽ ký vào sách cho tôi chứ?
“Dĩ nhiên. Đó là tác phẩm cuối cùng của tôi. Thế giới chưa sẵn sàng cho một phương Tây được đặt ở đồng bằng Ebro, với những kẻ cướp dùng xuồng thay vì cưỡi ngựa, và những con muỗi to như quả dưa hấu.”
“Chú đúng là Zane Grey của bờ biển Tây Ban Nha.”
“Tôi ước thế. Tôi có thể làm gì cho cậu đây, chàng trai?”
“Cho tôi mượn tài năng và sự khéo léo của chú vào một cuộc phiêu lưu xứng đáng với những gì chú có.”
“Tôi vểnh hết tai lên đây.”
“Tôi cần chú giúp tôi tạo ra một quá khứ bằng tư liệu cho một người bạn, để anh ta có thể kết hôn với người phụ nữ anh ta yêu mà không gặp phải trở ngại pháp lý nào.”
“Một người tốt chứ?”
“Người tốt nhất mà tôi biết.”
“Nếu là như vậy, coi như ta đã thỏa thuận xong. Cảnh tượng tôi yêu thích luôn là đám cưới và lễ rửa tội.”
“Chúng ta sẽ cần các giấy tờ hành chính như đơn từ, báo cáo, kiến nghị, giấy chứng nhận - tất tần tật luôn.”
“Không thành vấn đề. Chúng ta sẽ giao một phần công việc cho Luisito, người mà cậu đã làm quen. Anh ta hoàn toàn đáng tin cậy và là một bậc thầy về mười hai kiểu chữ viết.”
Tôi lấy ra tờ một ngàn peseta mà vị giáo sư đã từ chối và đưa cho chú ta. Oswaldo gạt phăng đi, mắt chú trợn trừng như cái đĩa.
“Thế mà người ta bảo ở Tây Ban Nha cậu không sống bằng nghề viết được,” chú nói.
“Số tiền này có đủ trang trải mọi chi phí không?”
“Thừa sức. Khi đã thu xếp được mọi thứ tôi sẽ cho cậu biết toàn vụ này tốn bao nhiêu, nhưng cứ như tôi nhẩm tính thì tôi đồ rằng chỉ cần ba hoặc bốn trăm đồng là đủ.”
“Tôi phó thác việc này cho sự khôn ngoan của chú đấy, Oswaldo. Bạn tôi, Giáo sư Alburquerque...”
“Một cây viết tuyệt vời...” Oswaldo xen vào.
“Và còn là một quý ông tuyệt vời nữa. Như tôi nói, bạn tôi, ngài giáo sư, sẽ qua đây và cho chú một danh sách những loại giấy tờ cần đến, và mọi chi tiết. Nếu cần gì, chú có thể tìm tôi ở hiệu sách Sempere & Con trai.”
Khuôn mặt chú ta sáng lên khi nghe đến cái tên này.
“A, chốn tôn nghiêm. Hồi còn trai trẻ tôi thường đến đó mỗi ngày thứ Bảy và những cuộc gặp gỡ với ngài Sempere đã giúp tôi mở rộng tầm mắt.”
“Hẳn người đó là ông tôi.”
“Tôi không đến đó nhiều năm rồi. Tài chính của tôi eo hẹp nên tôi đành mượn sách thư viện.”
“Ồ, hãy cho chúng tôi vinh dự được đón chú quay lại hiệu sách, thưa chú Oswaldo. Cứ xem đó như nhà chú và chúng ta sẽ tìm ra cách để xử lý vấn đề tiền bạc.”
“Tôi sẽ đến.”
Chú ta chìa tay ra, và tôi bắt tay chú.
“Thật vui khi được làm việc với nhà Sempere.”
“Hy vọng chúng ta sẽ có nhiều dịp như thế này.”
“Chuyện gì đã xảy ra với lão què có cặp mắt sáng lên khi nhìn thấy vàng vậy?”
“Hóa ra không phải thứ nào lấp lánh cũng là vàng,” tôi nói.
“Một dấu hiệu của thời đại của chúng ta...”
7
Barcelona, 1958
Tháng Giêng đến, kéo theo những bầu trời băng giá tươi sáng, phủ một lớp tuyết mịn lên những mái nhà của thành phố. Mặt trời tỏa sáng mỗi ngày, tạo nên những mảng sáng tối sắc nét trên những mặt tiền của một Barcelona trong suốt như pha lê. Những chiếc xe buýt hai tầng chạy trên đường với cái tầng hai vắng tanh còn xe điện thì để lại một quầng hơi trên đường ray.
Đèn Giáng sinh rực sáng trên khắp khu phố cổ và những khúc nhạc Giáng sinh mang theo lời ước may mắn yên bình vang lên từ hàng ngàn lẻ một cái loa ở những cửa hiệu. Thông điệp mùa Giáng sinh ngập tràn đến độ một cảnh sát đứng gác tại cảnh Chúa giáng sinh đặt gần tòa thị chính ở Plaza San Jaime đã vờ như không trông thấy khi một người nảy ra cái ý tưởng sáng láng là đội chiếc mũ bê rê Catalan lên đầu Chúa hài đồng - lờ đi những yêu cầu của một nhóm bà lão ngoan đạo mong anh ta cho người kia một cái tát và lôi đến trụ sở cảnh sát. Cuối cùng, ai đó ở văn phòng tổng giám mục đã báo cáo biến cố này và ba bà xơ xuất hiện để vãn hồi trật tự.
Doanh số mùa Giáng sinh nhích lên và những chữ số màu đen* trong tài khoản nhà Sempere & Con trai đảm bảo rằng chúng tôi ít nhất cũng có thể đương đầu với các hóa đơn điện và lò sưởi. Với chút may mắn, chúng tôi thậm chí có thể có được một bữa ăn nóng đúng nghĩa mỗi ngày một lần. Cha tôi dường như đã lấy lại được tinh thần và ban chỉ dụ rằng năm tới chúng tôi sẽ trang trí cửa hàng ngay chứ chẳng chờ đợi.
•
Trong kế toán, chữ số màu đen nghĩa là có lời. Ngược lại, màu đỏ là lỗ.
“Chúng ta sẽ phải treo cái máng đó trong một thời gian dài,” Fermín càu nhàu, sự phấn khích tựa hồ như đã biến mất.
Sau mồng sáu tháng Giêng, ngày Lễ Ba Vua, cha chỉ thị cho chúng tôi thu dọn một cách cẩn thận cảnh Chúa giáng sinh và đem cất dưới tầng hầm chờ đến mùa Giáng sinh tiếp theo.
“Cẩn thận đấy,” cha tôi cảnh báo. “Tôi không muốn nghe nói rằng cậu vô tình làm rơi những chiếc hộp đâu, Fermín.”
“Tôi sẽ cẩn thận tột cùng, thưa ngài Sempere. Tôi mang tính mạng ra để bảo đảm cho sự nguyên vẹn của cái máng này, cùng với cả những con vật đứng quanh Chúa cứu thế quấn tã.”
Khi chúng tôi đã dọn dẹp xong để lấy chỗ cho những chiếc hộp chứa đồ trang trí Giáng sinh, tôi dừng lại một lát để ngó quanh tầng hầm cùng những góc bị lãng quên của nó. Lần trước chúng tôi ở đây, cuộc trò chuyện đã đụng đến những vấn đề mà tới nay cả Fermín và tôi đều không khơi lại, nhưng ít nhất chúng vẫn đè nặng trong tâm trí tôi. Fermín dường như đọc được ý nghĩ của tôi và anh ta bèn lắc đầu.
“Đừng bảo tôi là cậu vẫn còn nghĩ đến bức thư của gã ngốc kia nhé.”
“Thỉnh thoảng.”
“Cậu chưa nói gì với cô Beatriz, tôi hy vọng thế.”
“Không. Tôi đã bỏ thư vào trong áo khoác của cô ấy và không nói một lời nào.”
“Còn cô ấy? Cô ấy có nhắc đến việc nhận được thư của gã Don Joan Tenorio không?”
Tôi lắc đầu. Fermín chun mũi, như thể muốn nói rằng đó không phải tín hiệu tốt.
“Cậu đã quyết định xem phải làm gì chưa?”
“Về chuyện gì?”
“Đừng giả ngây thơ, Daniel. Cậu có định đi theo vợ cậu tới cuộc hẹn hò với gã bạn trai cũ ở Ritz và gây ra một cuộc huyên náo nho nhỏ hay không?”
“Anh đang giả định là cô ấy sẽ đến đó,” tôi phản bác.
“Vậy cậu thì không sao?”
Tôi cúi đầu, tự trách mình.
“Chồng mà không tin vợ thì là loại chồng gì đây?” tôi hỏi.
“Cậu có muốn tôi cho cậu một danh sách những cái tên, hay chỉ cần những con số thống kê thôi?”
“Tôi tin Bea. Cô ấy sẽ không lừa dối tôi. Cô ấy không phải người như thế. Nếu có điều gì muốn nói, cô ấy sẽ nói trực tiếp với tôi, không gian dối.”
“Vậy là cậu chẳng có gì phải lo lắng cả, đúng không?”
Trong giọng điệu của Fermín có gì đó khiến tôi nghĩ những nghi ngờ và cảm giác bất an của tôi đã làm anh ta thất vọng. Dù anh ta không bao giờ thừa nhận, tôi chắc anh ta thấy buồn khi nghĩ rằng tôi đã dành hết thì giờ cho những ý nghĩ vô bổ và hoài nghi sự chân thành của một người phụ nữ mà tôi không xứng đáng.
“Chắc anh nghĩ tôi là thằng ngu.”
Fermín lắc đầu.
“Không. Tôi nghĩ cậu là một người đàn ông may mắn, ít nhất trong chuyện tình yêu. Và cũng giống như hầu hết những kẻ may mắn, cậu không nhận ra là mình gặp may.”
Tiếng gõ cửa ở đầu cầu thang đã kết thúc câu chuyện của chúng tôi.
“Trừ phi hai người phát hiện dưới đó có mỏ dầu, không thì làm ơn quay lại ngay, còn có việc phải làm,” cha tôi gọi.
Fermín thở dài.
“Kể từ khi thoát ra khỏi hội đỏ ông ấy đã trở thành một tay bạo chúa,” anh ta nói.
Ngày tháng trễ nải trôi đi. Fermín cuối cùng đã đồng ý giao phó công việc chuẩn bị lễ cưới cho cha tôi và ông Gustavo, những người đứng ra đảm nhiệm vai trò thay cho các bậc phụ mẫu. Với tư cách phù rể, tôi là người tư vấn cho ban chủ trì, nhưng chức phận của tôi chỉ đơn thuần mang tính danh dự bởi Bea đã đứng ra làm người điều hành kiêm chỉ đạo nghệ thuật và điều phối hết thảy mọi hoạt động bằng một nắm đấm sắt.
“Fermín, tôi được lệnh của Bea là mang anh đến Casa Pantaleoni để anh thử đồ.”
“Bộ áo tù là cái mà tôi sẽ mặc...”
Tôi đã hứa với anh ta rằng đến khi lễ cưới diễn ra vấn đề danh tính của anh ta sẽ được thu xếp ổn thỏa và vị cha xứ bạn của anh ta sẽ có thể xướng lên: “Fermín, con có chấp nhận Bernarda là người vợ hợp pháp của con không?” mà không ai trong chúng tôi bị vào đồn cảnh sát cả. Nhưng khi ngày cưới cận kề thì Fermín vẫn bị nỗi lo lắng giày vò. Bernarda đã thoát khỏi tình trạng hồi hộp nhờ phương thức cầu nguyện và bánh bông lan trứng, mặc dù, khi tình trạng bầu bí của chị đã được một vị bác sĩ thận trọng, đáng tin xác nhận, chị dành phần lớn thì giờ đấu tranh với cơn buồn nôn và chóng mặt. Mọi thứ dường như cho thấy rằng con đầu lòng của Fermín sẽ là một đứa khó nuôi.
Đó là những ngày tháng trôi đi trong một sự êm đềm hiển nhiên và dối lừa, nhưng dưới lớp mặt nạ thì tôi đã chìm vào một dòng chảy tối tăm, u ám, nó chầm chậm kéo tôi vào những khoảng sâu của một cảm xúc mới và không tài nào chống chọi nổi: sự căm hờn.
Những lúc rảnh rỗi, không cho ai biết mình đi đâu, tôi lại lẻn ra ngoài và dạo bước đến thư viện Ateneo trên phố Canuda, nơi tôi lần theo từng bước chân cuộc đời của Mauricio Valls trong phòng đọc báo. Kẻ nhiều năm qua tôi vẫn cho là một nhân vật nhạt nhòa và vô vị thì ngày càng trở nên rõ nét đến đau đớn. Cuộc điều tra giúp tôi dựng lại sự nghiệp của Valls trong mười lăm năm qua, từng mảnh một. Nhiều thứ đã trôi vào dĩ vãng kể từ những ngày đầu tiên hắn làm cho chế độ. Cùng với thời gian và những mối quan hệ tốt, nếu ta tin vào những gì báo chí nói (mà thế chẳng khác nào tin rằng nước cam có được là do vắt những quả cam tươi ở Valencia, Fermín nói), Mauricio Valls đã chứng kiến mong ước của hắn thành hiện thực và trở thành một ngôi sao sáng chói trên bầu trời văn chương nghệ thuật của Tây Ban Nha.
Con đường thăng tiến của hắn quả là ngoạn mục. Từ năm 1944 trở đi hắn leo lên những chức vụ và được bổ nhiệm vào những vị trí mà tầm quan trọng ngày càng tăng trong hệ thống cơ quan văn hóa và học thuật của đất nước. Những bài báo, những bài phát biểu và những cuốn sách của hắn được tăng lên theo cấp số nhân. Bất cứ buổi lễ trao giải, tọa đàm hoặc sự kiện văn hóa có tự trọng nào cũng cần đến sự tham gia và hiện diện của ngài Mauricio. Trong năm 1947, cùng vài đối tác làm ăn, hắn thành lập Ariadna, một công ty xuất bản đặt văn phòng ở Madrid và Barcelona với nhiệm vụ hàng đầu là quảng bá cho hắn, nơi đã được báo chí miệt mài tán dương là “thương hiệu xuất bản uy tín nhất” của văn học Tây Ban Nha.
Đến năm 1948, cũng những tờ báo ấy bắt đầu nhắc đến Mauricio Valls như là “trí thức sáng láng nhất và được trọng vọng nhất của nước Tây Ban Nha Mới”. Giới trí thức tự phong của đất nước này và những kẻ mong mỏi được đứng vào hàng ngũ ấy dường như đang tham gia một chuyện tình lãng mạn nhiều đam mê với ngài Mauricio. Đám nhà báo phụ trách mục văn hóa không từ bỏ một cơ hội nào để ca tụng Valls, những mong được hắn ưu ái, và nếu may mắn thì sẽ được công ty Ariadna cho xuất bản một số bản thảo mà họ cất trong ngăn kéo, ngõ hầu trở thành một phần của cái quang cảnh chính thức và nếm chút vụn bánh ngọt từ bàn của hắn rơi xuống.
Valls đã học được luật chơi và kiểm soát bàn cờ giỏi hơn bất kỳ ai. Đầu thập niên năm mươi, danh tiếng và ảnh hưởng của hắn đã vươn xa ngoài phạm vi giới cầm quyền và bắt đầu len lỏi vào cái gọi là xã hội dân sự và những thành viên của nó. Các khẩu hiệu của Mauricio biến thành những chuẩn mực chân lý mới trong mắt ba hay bốn ngàn người Tây Ban Nha, những kẻ tự cho mình là số ít được lựa chọn và bọn họ xem việc nhai đi nhai lại những lời phúc âm của Mauricio như những cậu học trò cần cù trong khi khinh thị nhìn xuống đám đông dốt nát.
Trên đường lên đến đỉnh cao, Valls đã quy tụ quanh mình một bè lũ những nhân vật cùng chí hướng vốn được ăn lộc từ bàn tay hắn và dần dần được cất nhắc làm lãnh đạo của những tổ chức và giữ các vị trí quyền lực. Nếu có ai cả gan chất vấn lời nói hay giá trị của Valls, thì cá nhân đó sẽ bị báo chí chà đạp không chút tiếc thương. Sau khi bị nhạo báng bằng những lời lẽ cay độc, kẻ khốn khổ tội nghiệp kia rốt cuộc sẽ trở thành một gã khốn cùng, một tên ăn mày mà mọi cánh cửa đều đóng lại và lựa chọn duy nhất của anh ta chỉ có thể là sống mai danh ẩn tích hoặc lưu vong.
Tôi mất không biết bao nhiêu là thời gian để đọc từng lời được viết ra cũng như ý ẩn giữa các dòng chữ, so sánh những phiên bản khác nhau của câu chuyện, liệt kê những ngày tháng và lập một danh sách những thành công cùng các chuyện thâm cung bí sử. Trong những tình huống khác, giả như mục đích tìm hiểu của tôi chỉ đơn thuần mang tính chất nhân học, tôi sẽ ngả mũ trước ngài Mauricio và những mưu chước bậc thầy của hắn. Không ai có thể chối bỏ rằng hắn đã học được cách đọc trái tim và tâm hồn của đồng bào mình và giật dây điều khiển những ham muốn, hy vọng và mơ ước của họ. Hắn hiểu thấu trò chơi từ trong ra ngoài, và không ai có thể chơi giỏi hơn hắn.
Nếu còn lại gì đó trong tôi sau những ngày bất tận đắm mình trong phiên bản chính thức của cuộc đời Valls, thì ấy là niềm tin rằng những viên gạch nền móng của một nước Tây Ban Nha mới đang được đặt xuống và rằng sự thăng tiến chóng mặt của ngài Mauricio lên đỉnh cao quyền lực minh chứng cho một xu hướng đang lên, mà rất có thể, sẽ tồn tại lâu hơn cả nền độc tài và bén rễ sâu và vững chắc trên toàn đất nước trong mấy thập kỷ tới.
Năm 1952 Valls vươn lên đỉnh cao sự nghiệp khi hắn được chỉ định làm bộ trưởng Bộ Văn hóa với nhiệm kỳ ba năm, một vị trí mà hắn đã tranh thủ để củng cố quyền lực và đặt tay sai của mình vào những vị trí ít ỏi còn sót lại mà trước đó hắn chưa kiểm soát được. Hình ảnh của hắn ở chốn công cộng đạt đến một sự đơn điệu dát vàng: lời lẽ của hắn được trích dẫn như suối nguồn thông tuệ. Sự hiện diện của hắn trong các ban giám khảo và ban bệ đủ loại là thường xuyên, trong khi đống bằng khen, vòng nguyệt quế và huân chương của hắn thì tiếp tục đầy lên như nấm mọc sau mưa.
Rồi, đột nhiên, một điều kỳ lạ xảy ra.
Lúc đầu tôi đã không nhận thấy. Danh mục tràng giang đại hải những lời ca tụng và tin tức tiếp tục mọc lên không ngưng nghỉ, nhưng sau năm 1956, tôi bắt được một chi tiết bị chôn vùi giữa đống bài báo, đối lập hoàn toàn với mọi thứ được xuất bản trước đó. Giọng điệu và nội dung của những bài báo thì không đổi, nhưng bằng cách đọc từng bài và so sánh chúng, tôi nhận ra một điều.
Ngài Mauricio Valls không bao giờ xuất hiện nơi công cộng nữa.
Tên của hắn, uy tín của hắn, danh tiếng của hắn và quyền lực của hắn vẫn tiếp tục trở nên mạnh mẽ hơn. Nhưng có một điều mất đi: con người hắn. Sau năm 1956, không hề có ảnh, không hề có ai đả động hay viện dẫn đến sự tham dự của hắn ở những buổi lễ chính thức.
Bài báo cuối cùng xác nhận sự hiện diện của Mauricio Valls là vào mồng hai tháng Mười một năm 1956, khi hắn nhận giải thưởng cho thành tựu nổi bật nhất của năm trong lĩnh vực xuất bản. Buổi lễ trang trọng, được tổ chức ở Círculo de Bellas Artes tại Madrid, có sự tham dự của những quan chức cấp cao nhất và các tinh hoa của xã hội. Bài tường thuật được viết theo một lối dễ đoán, đặc trưng cho thể loại này, nói cách khác là một mẩu tin ngắn sặc mùi nịnh nọt. Điều thú vị nhất trong bài là bức ảnh kèm theo, bức ảnh đăng báo cuối cùng của Valls, chụp không lâu trước sinh nhật thứ sáu mươi của hắn. Ăn mặc lịch duyệt trong một bộ vét được cắt may tinh tế, hắn đang mỉm cười khiêm tốn khi đón nhận màn vỗ tay tán thưởng từ đám khán giả. Xuất hiện cạnh Valls là những gương mặt thường thấy trong các sự kiện như vậy và, đằng sau hắn, hơi khuất khỏi máy ảnh, với vẻ mặt nghiêm túc và khó hiểu, là hai nhân vật đeo cặp kính đen, mặc đồ đen dường như không phải là một phần của buổi lễ. Bọn họ trông nghiêm nghị và tách rời khỏi toàn bộ trò khôi hài này. Bọn họ trông đầy cảnh giác.
Không ai chụp ảnh ngài Mauricio hay thấy hắn ta ở chốn công cộng sau đêm hôm đó ở Círculo de Bellas Artes nữa. Dù có cố gắng thế nào, tôi vẫn không tìm thấy một sự hiện diện nào nữa của hắn ta. Mệt mỏi vì theo đuổi những con đường dường như chẳng dẫn đến đâu cả, tôi quay lại điểm khởi đầu và chắp nối câu chuyện của hắn lại, cho tới khi tôi biết rõ như thể đó là chuyện đời tôi. Tôi đánh hơi dấu vết của hắn với hy vọng tìm ra một manh mối, một dấu hiệu có thể cho biết hắn ở đâu. Rốt cuộc thì cái kẻ mỉm cười trong những bức ảnh và phô bày sự phù phiếm qua vô vàn những trang báo cùng với một đám xu nịnh, đói khát chờ được ban ân đang ở đâu?
Sự căm hờn của tôi cứ tăng dần lên trong những buổi chiều đơn độc ở thư viện Ateneo cổ kính, nơi cách đây không lâu tôi dành hết sự quan tâm cho những mục đích cao quý hơn, như làn da mịn màng của tình yêu đầu đời bất thành của tôi, Clara mù lòa, hay những bí ẩn về Julián Carax và cuốn tiểu thuyết Bóng hình của gió của ông. Càng không biết tìm dấu vết của Valls ở đâu, tôi càng không chịu thừa nhận rằng hắn có quyền biến mất và xóa tên hắn khỏi lịch sử. Lịch sử của tôi. Tôi cần biết chuyện gì đã xảy ra với hắn. Tôi cần nhìn vào mặt hắn, dù chỉ là để nhắc hắn nhớ đến một người, người duy nhất trong toàn thế gian này biết hắn thực chất là ai và hắn đã làm gì.
8
Một buổi chiều, mệt mỏi vì theo đuổi những bóng ma, tôi hủy buổi đọc báo ở thư viện để dạo bộ cùng Bea và Julián giữa thành phố Barcelona sạch sẽ, đầy nắng mà tôi gần như đã lãng quên. Chúng tôi quốc bộ từ nhà đến công viên Ciudadela. Tôi ngồi trên ghế ngắm Julián chơi trên thảm cỏ với mẹ. Khi nhìn hai người họ, tôi nhớ lại những lời Fermín nói. Một người đàn ông may mắn, là tôi, Daniel Sempere. Một người đàn ông may mắn, người đã cho phép sự tức giận mù quáng dâng lên trong lòng cho đến lúc anh ta cảm thấy buồn nôn khi nghĩ đến chính mình.
Tôi ngắm nhìn Julián chơi hết mình một trong những trò yêu thích của nó: bò bốn chân cho đến khi cả người đều dính bẩn. Bea để mắt sát sao đến nó. Thỉnh thoảng nó dừng lại và quay về phía tôi. Đột nhiên, một cơn gió hất vạt váy của Bea lên và Julián bật cười. Tôi vỗ tay và Bea trao tôi ánh nhìn phản đối. Tôi tìm ánh mắt con trai tôi: chẳng bao lâu nữa, tôi nghĩ, nó sẽ nhìn tôi như thể tôi là người thông thái nhất trên đời, người mang đến mọi câu trả lời. Tôi quyết định không bao giờ nhắc đến cái tên Mauricio Valls hay theo đuổi bóng hình của hắn nữa.
Bea bước đến và ngồi cạnh tôi. Julián bò đến tận chỗ nàng. Khi nó tới chân tôi tôi bế nó lên và nó bắt đầu chùi tay lên áo khoác của tôi.
“Vừa lấy ở hàng giặt khô về đấy,” Bea nói.
Tôi nhún vai, cam chịu. Bea nghiêng người cầm tay tôi. “Chân đẹp nhỉ,” tôi nói.
“Em chẳng thấy có gì thú vị cả. Con trai của anh sẽ học cái thói đó cho mà xem. Ơn trời quanh đây không có ai hết.”
“Có một ông cụ đang nấp sau tờ báo ở đằng kia. Anh nghĩ ông ta đã ngã quỵ vì chứng mạch nhanh.”
Julián quyết định rằng cụm từ “mạch nhanh” là thứ buồn cười nhất nó nghe được trong đời và phần lớn hành trình về nhà chúng tôi cứ hát mãi điệp khúc “mạch-nhanh” trong khi Bea đi trước chúng tôi vài bước, hoàn toàn nổi đóa.
Đêm hôm đó, hai mươi tháng Giêng, Bea đặt Julián lên giường rồi chìm vào giấc ngủ trên cái xô pha bên cạnh tôi, trong khi tôi đọc lại, lần thứ ba, một trong những tiểu thuyết cũ của David Martín. Đó là một bản Fermín đã tìm thấy trong những tháng ngày anh ta lưu vong, sau khi trốn khỏi nhà tù, và giữ lại suốt những năm ấy. Tôi thích nhấm nháp từng lối diễn tả và mổ xẻ chi tiết cấu trúc của từng câu. Tôi nghĩ nếu mình có thể giải mã nhạc tính trong câu văn của ông thì tôi có thể khám phá ra điều gì đó ở cái con người mà tôi chưa bao giờ biết, người mà ai nấy cũng cam đoan với tôi rằng không phải cha tôi. Nhưng đêm hôm ấy tôi không thể làm được. Trước khi đọc xong một đoạn văn, ý nghĩ của tôi lại bay khỏi trang sách và điều duy nhất tôi còn thấy trước mặt mình là bức thư của Pablo Cascos Buendía, người sẽ gặp vợ tôi vào ngày mai, ở Ritz, lúc hai giờ chiều.
Cuối cùng tôi gập sách lại và nhìn Bea đang ngủ bên tôi, cảm thấy rằng số lượng bí mật nàng giữ kín nhiều hơn trong câu chuyện của David Martín về cái thành phố hắc ám bị nguyền rủa cả ngàn lần. Lúc quá nửa đêm, Bea mở mắt và thấy tôi đang dò xét nàng. Nàng mỉm cười với tôi, nhưng một thoáng lo lắng vụt qua nét mặt nàng.
“Anh đang nghĩ gì vậy?” nàng hỏi.
“Anh đang nghĩ mình mới may mắn làm sao,” tôi nói.
Bea nhìn chằm lấy tôi, hoài nghi.
“Anh nói cứ như là anh không tin như thế vậy.” Tôi đứng lên và chìa tay ra cho nàng.
“Đi ngủ thôi,” tôi mời gọi.
Nàng nắm tay tôi và theo tôi đi dọc hành lang vào phòng ngủ. Tồi nằm lên giường và nhìn nàng trong im lặng.
“Anh đang hành xử kỳ lạ lắm, Daniel ạ. Có chuyện gì thế? Em đã nói gì sai ư?”
Tôi lắc đầu và trao nàng một nụ cười ngây thơ như một lời nói dối vô hại. Bea từ từ cởi đồ. Khi đã cởi bỏ quần áo nàng không bao giờ quay tròn, hay nấp trong phòng tắm hay sau cánh cửa như những cuốn cẩm nang chính thống dành cho vợ chồng thường khuyên. Tôi bình tĩnh quan sát, đọc những đường nét trên cơ thể nàng. Đôi mắt Bea nhìn chằm vào mắt tôi. Nàng chui vào chiếc váy ngủ mà tôi ghét cay ghét đắng và lên giường, quay lưng về phía tôi.
“Chúc anh ngủ ngon,” nàng nói, giọng căng thẳng và có phần, với một người đã hiểu rõ nàng, là khó chịu.
“Chúc em ngủ ngon,” tôi thì thầm.
Lắng nghe hơi thở của nàng tôi biết nàng mất hơn nửa tiếng mới chìm vào giấc ngủ, nhưng đến cuối nàng đã quá mệt mỏi để bận tâm đến lối cư xử lạ kỳ của tôi. Khi nằm xuống bên cạnh nàng, tôi tự hỏi mình có nên đánh thức nàng để cầu xin nàng tha thứ hay chỉ đơn giản là hôn nàng. Tôi chẳng làm gì cả. Tôi vẫn nằm đó, bất động, ngắm nhìn đường cong trên lưng nàng và nghe thấy quỷ thần bên trong đang thầm thì rằng chỉ mấy tiếng nữa thôi Bea sẽ đi gặp vị hôn thê cũ và đôi môi kia và thịt da kia sẽ thuộc về một kẻ khác, như bức thư sướt mướt của hắn dường như ám chỉ.
Khi tôi thức dậy, Bea đã đi rồi. Tôi không ngủ được mãi cho đến khi trời chuyển sáng và khi chuông nhà thờ điểm chín giờ tôi thình lình tỉnh giấc và mặc luôn bộ quần áo đầu tiên tôi chộp được. Bên ngoài kia, một ngày thứ Hai lạnh lẽo đang chờ tôi, rắc những bông tuyết bay lơ lửng giữa không trung và đậu lên khách qua đường như những con nhện trong suốt treo mình trên sợi tơ vô hình. Khi tôi bước vào hiệu sách, cha tôi đang đứng trên chiếc ghế ông vẫn trèo lên mỗi sáng để thay đổi ngày trên lịch. Hai mốt tháng Giêng.
“Ngủ quá giấc là điều không chấp nhận được khi con đã trên mười hai tuổi,” ông nói. “Hôm nay đến lượt con phải mở hiệu.”
“Con xin lỗi. Một đêm tồi tệ. Chuyện này sẽ không xảy ra nữa.”
Tôi mất vài tiếng đồng hồ để cố làm cho đầu óc và tay chân mình bận rộn bằng những công việc lặt vặt trong hiệu sách nhưng tất cả những gì tôi có thể làm là nghĩ đến bức thư khốn kiếp kia, tôi luôn đọc nhẩm nó trong đầu. Đến giữa buổi sáng Fermín lén lút đến bên cạnh và đưa mời tôi một chiếc kẹo Sugus.
“Ngày hôm nay, phải không?”
“Im đi, Fermín,” tôi đáp trả anh ta, cộc cằn đến mức cha tôi phải nhíu mày.
Tôi rút lui vào phòng sau và nghe họ thầm thì. Tôi ngồi chỗ bàn của cha và chăm chăm nhìn đồng hồ. Một giờ hai mươi phút chiều. Tôi cố để cho thời gian trôi qua nhưng kim đồng hồ dường như không muốn động đậy. Khi tôi quay ra cửa hàng, Fermín và cha tôi nhìn tôi lo lắng.
“Daniel này, có lẽ con nên nghỉ ngơi một ngày,” cha tôi nói, “Fermín và bố sẽ thu xếp được công việc.”
“Cảm ơn bố. Con nghĩ mình sẽ nghỉ. Con bị mất ngủ và lúc này con thấy không được khỏe.”
Tôi không đủ can đảm nhìn Fermín khi tôi đi vào phòng sau. Tôi bước lên năm lượt cầu thang mà chân nặng như chì. Khi mở cửa căn hộ tôi nghe thấy tiếng nước chảy trong phòng tắm. Tôi lê thân đến phòng ngủ và dừng ở ngưỡng cửa. Bea đang ngồi bên mép giường. Nàng không thấy tôi hay nghe tiếng tôi bước vào. Tôi nhìn nàng đi đôi tất lụa và mặc đồ, mắt dán chặt vào gương. Nàng mất mấy phút mới nhận thấy sự hiện diện của tôi.
“Em không biết là anh ở đó,” nàng nói, nửa ngạc nhiên nửa bực bội.
“Em định đi chơi à?”
Nàng gật đầu trong khi bôi son màu đỏ tươi.
“Em định đi đâu?”
“Em có vài việc vặt cần làm.”
“Trông em đẹp quá.”
“Em không thích đi ra ngoài mà luộm thuộm,” nàng đáp.
Tôi nhìn theo lúc nàng đang kẻ mi mắt. “Một người đàn ông may mắn,” cái giọng nói mỉa mai cất lên.
“Việc vặt gì thế?” tôi hỏi.
Bea quay lại nhìn tôi.
“Sao cơ?”
“Anh đang hỏi em định làm việc vặt gì thế?”
“Mấy việc này nọ.”
“Còn Julián?”
“Mẹ em đến đón rồi. Bà sẽ dẫn con đi chơi.”
“Anh hiểu rồi.”
Bea lại gần tôi. Gạt nỗi tức giận sang một bên, nàng nhìn tôi lo lắng.
“Daniel, anh có chuyện gì thế?”
“Đêm qua anh không chợp mắt được.”
“Sao anh không ngủ một lát đi? Sẽ tốt cho anh đấy.”
“Ý hay đấy,” tôi đồng ý.
Mỉm cười yếu ớt, Bea dẫn tôi lại giường. Nàng giúp tôi nằm xuống, đắp chăn cho tôi và trao tôi một nụ hôn lên trán.
“Em sẽ muộn mất,” nàng nói.
Tôi nhìn nàng đi.
“Bea...”
Nàng đứng khựng lại rồi quay về phía tôi.
“Em có yêu anh không?” tôi hỏi.
“Dĩ nhiên em yêu anh. Đừng ngốc nghếch thế.”
Tôi nghe thấy tiếng cửa đóng lại và tiếng bước chân như mèo của Bea trên đôi giày cao gót bước xuống cầu thang. Tôi nhấc điện thoại và đợi đầu dây đằng kia trả lời.
“Khách sạn Ritz, làm ơn.”
Người ta mất vài giây để kết nối.
“Khách sạn Ritz đây, tôi có thể giúp gì ạ?”
“Anh làm ơn kiểm tra giùm xem người này có đang ở khách sạn không?”
“Tôi xin tên người khách được không?”
“Cascos. Pablo Cascos Buendía. Tôi nghĩ anh ta lấy phòng từ hôm qua...”
“Xin đợi một lát...”
Một phút chờ đợi dài dằng dặc, những giọng nói khe khẽ vọng qua điện thoại.
“Thưa ông...”
“Vâng?”
“Tôi không thấy ai đặt phòng với tên như vậy cả, thưa ông...”
Tôi cảm thấy nhẹ nhõm vô cùng.
“Người ta có thể đặt phòng bằng tên công ty không?”
“Tôi sẽ kiểm tra xem.”
Lần này sự chờ đợi ngắn hơn.
“Vâng, ông nói đúng. Ông Cascos Buendía. Đây rồi, phòng Continental Suite. Được đặt cho công ty xuất bản Ariadna”
“Anh bảo sao cơ?”
“Thưa ông, tôi nói rằng, ông Cascos Buendía đặt phòng bằng tên của công ty xuất bản Ariadna. Ông muốn tôi nối máy đến phòng ông ấy không?”
Điện thoại tuột khỏi tay tôi. Ariadna là công ty xuất bản mà Mauricio Valls đã thành lập cách đây mấy năm.
Cascos làm việc cho Valls.
Tôi dập điện thoại và bước ra đường, đi theo vợ mình, trong tim đầy rẫy nghi ngờ.
9
Không có dấu vết của Bea giữa đám đông đi qua Puerta del Ángel rồi đổ về quảng trường Cataluna. Tôi cho đấy là đường vợ tôi chọn để đến khách sạn Ritz, nhưng với Bea thì cũng chẳng biết thế nào được. Nàng thích thử nhiều đường khác nhau. Sau một hồi tôi bỏ cuộc và đoán hẳn nàng đã bắt taxi - phương án đó phù hợp với kiểu trang phục nàng đã chọn cho hôm nay.
Tôi mất mười lăm phút mới đến khách sạn. Dù trời chưa đến mười độ C tôi đã toát mồ hôi và ngạt thở. Người gác cửa nhìn tôi nghi ngờ, nhưng ông ta mở cửa và cho tôi vào với cái gật đầu rất khẽ. Cách bố trí ở sảnh làm tôi rối trí: trông nó như bối cảnh của một câu chuyện gián điệp hay một thiên truyện tình lãng mạn suy đồi. Kinh nghiệm hạn hẹp của tôi về những khách sạn xa xỉ không đủ để giúp tôi nhận ra đâu là đâu. Tôi nhìn ra một chiếc bàn mà đứng sau là một người lễ tân tận tụy đang quan sát tôi với vẻ tò mò xen lẫn cảnh giác. Tôi bước đến chỗ anh ta với một nụ cười mà không gây được ấn tượng tốt.
“Xin hỏi nhà hàng ở đâu?”
Nhân viên lễ tân dò xét tôi với vẻ nghi ngờ đầy lịch sự.
“Anh có đặt chỗ ở đây không thưa anh?”
“Tôi có cuộc hẹn với một khách của khách sạn.”
Người lễ tân mỉm cười lạnh lùng đoạn gật đầu.
“Nhà hàng ở cuối hành lang kia, thưa anh.”
“Đa tạ.”
Tôi cất bước đến đó mà tim đập hỗn loạn. Tôi không biết sẽ nói gì hay làm gì khi đối mặt với Bea và gã kia. Tay trưởng nhóm phục vụ bắt gặp liền chặn tôi lại. Vẻ mặt của ông ta, đằng sau nụ cười khô cứng, đã tố giác rằng trang phục của tôi không được chấp nhận.
“Anh có đặt chỗ không, thưa anh?” ông ta hỏi.
Tôi gạt ông ta sang một bên và bước vào phòng ăn. Hầu hết các bàn đều trống. Có một đôi vợ chồng già bộ dạng như xác ướp với cung cách thế kỷ mười chín ngưng công cuộc húp xúp trang nghiêm lại để ném cho tôi cái nhìn kinh tởm. Còn tại một vài bàn khác thì là các doanh nhân tẻ nhạt được một hay hai cô em hấp dẫn tới phi lý hộ tống, và bữa tiệc của họ hẳn sẽ được tính vào công tác phí. Không thấy bóng dáng của Cascos hay Bea đâu.
Tay trưởng nhóm phục vụ đang tiến đến, có hai trợ lý bên cạnh. Tôi quay lại nhìn ông ta và mỉm cười lịch sự.
“Ông Cascos Buendía có đặt chỗ lúc hai giờ không?” tôi hỏi.
“Ông Cascos yêu cầu mang bữa ăn lên phòng ông ấy,” ông ta cho tôi biết.
Tôi xem đồng hồ. Đã hai giờ hai mươi phút. Tôi đi về phía hành lang có thang máy. Một người bảo vệ để mắt đến tôi nhưng trước khi anh ta bắt kịp thì tôi đã chui vào thang máy. Tôi nhấn nút mà quên rằng mình không hề biết phòng Continental Suite ở đâu.
“Bắt đầu từ tầng cao nhất,” tôi tự nhủ.
Tôi ra khỏi thang máy ở tầng bảy và bắt đầu thơ thẩn đi dọc những hành lang rộng lớn, tất thảy đều vắng ngắt. Sau một hồi tôi bắt gặp cánh cửa dẫn ra cầu thang thoát hiểm và bước xuống tầng dưới. Tôi đi qua từng cửa một, tìm phòng Continental Suite nhưng không thành. Đồng hồ của tôi lúc này đã điểm hai giờ ba mươi. Ở tầng năm tôi bắt gặp một cô hầu phòng đang kéo chiếc xe đầy nhóc những cây chổi lông gà, bánh xà phòng và khăn tắm và tiến đến hỏi cô ta phòng suite ở đâu. Cô ta quăng cho tôi một cái nhìn ái ngại, nhưng tôi hẳn làm cô ta kinh sợ đủ để khiến cô ta giơ tay chỉ lên trên.
“Tầng tám.”
Tôi tránh thang máy vì ngại nhân viên khách sạn đang tìm mình. Ba lượt cầu thang và một hành lang dài dẫn tôi tới những cánh cửa của phòng Continental Suite, người vã mồ hôi. Tôi đứng đó trong giây lát, lấy lại nhịp thở, cố tưởng tượng chuyện gì đang xảy ra sau cánh cửa gỗ dày cộp này và tự hỏi mình có nên theo lẽ thường tình mà bỏ đi hay không. Tôi nghĩ tôi có thể thấy ai đó đang đứng ở đầu kia hành lang nhìn tôi và sợ rằng đó là người bảo vệ, nhưng khi nhìn kỹ hơn thì bóng người đó biến mất vào góc hành lang. Đó hẳn là một vị khách của khách sạn, tôi hình dung vậy. Cuối cùng tôi nhấn chuông.
10
Tôi nghe thấy tiếng bước chân. Hình ảnh Bea chỉnh trang lại áo cánh thoáng lướt qua trong đầu tôi. Núm cửa xoay. Tôi siết nắm tay. Một gã với mái tóc vuốt ngược, mang áo choàng tắm màu trắng và đôi dép lê năm sao, mở cửa. Nhiều năm đã trôi qua, nhưng người ta không bao giờ quên được khuôn mặt kẻ ta một lòng khinh ghét.
“Sempere?” hắn ngờ vực hỏi.
Cú đấm hạ xuống ngay giữa nhân trung của hắn. Tôi cảm thấy thịt và xương sụn của hắn vụn ra dưới nắm tay tôi. Cascos đưa tay che mặt và lảo đảo, máu phun qua kẽ tay. Tôi đẩy mạnh hắn vào tường và bước vào phòng. Tôi nghe thấy Cascos đổ nhào xuống sàn sau lưng tôi. Giường đã dọn xong và đĩa đồ ăn còn bốc hơi được bày trên bàn quay ra cái sân thượng nhìn xuống toàn cảnh Gran Vía. Chỉ có một suất ăn. Tôi quay lại đối mặt với Cascos, hắn đang cố đứng dậy bằng cách bám vào một cái ghế.
“Cô ấy đâu?”
Khuôn mặt Cascos biến dạng vì đau đớn, máu rỉ xuống ngực hắn. Tôi có thể thấy tôi đã khiến môi hắn nứt toác ra và gần như làm vỡ mũi hắn. Tôi chợt có một cảm giác bỏng rát trên đốt tay và khi nhìn vào tay tôi nhận ra mình đã bị trầy da lúc đấm vào mặt hắn. Tôi không cảm thấy ăn năn hay gì cả.
“Cô ấy không đến. Thỏa mãn chưa?” Cascos phun ra.
“Từ khi nào mà mày dành thời gian để viết thư cho vợ tao hả?”
Tôi nghĩ hắn bật cười và không để hắn kịp thốt ra lời nào tôi đã lao vào cho hắn cú đấm thứ hai bằng nỗi căm giận chất chứa bấy lâu. Cú đấm làm răng hắn lung lay và khiến tay tôi tê dại. Cascos rên rỉ thống thiết và ngã xuống chiếc ghế mà hắn đang dựa vào. Khi thấy tôi cúi người xuống hắn đưa tay che mặt. Tôi ghì tay vào cổ hắn và siết các ngón tay vào da thịt hắn như thể tôi đang vặn cổ hắn ra.
“Mày có liên quan gì tới Valls?”
Cascos nhìn chằm tôi với vẻ kinh hãi, tin rằng tôi sẽ giết hắn tại chỗ lúc đó. Hắn lẩm bẩm điều gì đó. Nước dãi và máu trên miệng hắn rỉ xuống tay tôi.
“Mauricio Valls. Mày có liên quan gì đến hắn?”
Khuôn mặt tôi ghé sát khuôn mặt hắn đến mức tôi có thể thấy hình ảnh của mình trong đồng tử hắn. Mao mạch trong mắt hắn bắt đầu vỡ ra và một mạng lưới những lằn đen lan về phía tròng mắt. Nhận ra mình đang làm hắn nghẹt thở, tôi bất thình lình buông ra. Cascos phát ra một tiếng khọt khẹt khi hắn cố đớp lấy không khí và sờ vào cổ. Tôi ngồi lên giường đối diện với hắn. Tay tôi run rẩy và đầy máu. Tôi vào phòng tắm và rửa tay. Tôi khoát nước lạnh lên mặt lên tóc và khi thấy hình ảnh trong gương tôi gần như không nhận ra mình nữa. Suýt nữa thì tôi đã giết người.
11
Khi tôi quay lại phòng, Cascos vẫn gục xuống trên ghế, thở hổn hển. Tôi rót một cốc nước và đưa cho hắn. Thấy tôi tiến lại gần hắn né sang một bên, tưởng có một cú đấm khác lại sắp tung ra.
“Đây,” tôi nói.
Hắn mở mắt ra và khi thấy cốc nước hắn có vẻ ngờ ngợ trong phút chốc.
“Đây,” tôi nhắc lại. “Chỉ là nước thôi.”
Hắn đưa bàn tay run rẩy đón lấy cốc nước rồi đưa lên miệng. Tôi nhận ra mình đã làm hắn gãy mấy chiếc răng. Cascos rên rỉ và mắt ngấn nước vì đau đớn khi nước lạnh chạm vào phần tủy lộ ra dưới men răng. Chúng tôi giữ im lặng khoảng hơn một phút.
“Có cần tao gọi bác sĩ không?” cuối cùng tôi hỏi.
Hắn nhìn lên và lắc đầu.
“Biến đi trước khi tôi gọi cảnh sát.”
“Cho tao hay mày liên quan gì đến Mauricio Valls rồi tao sẽ đi.”
Tôi lạnh lùng nhìn hắn.
“Ông ấy... ông ấy là một thành viên của nhà xuất bản nơi tôi làm việc.”
“Có phải lão ta bảo mày viết bức thư đó không?”
Cascos dè dặt. Tôi đứng dậy bước đến hắn. Tôi túm tóc hắn giật mạnh.
“Đừng đánh tôi nữa,” hắn van xin.
“Có phải Valls bảo mày viết bức thư đó không?”
Cascos tránh ánh mắt tôi.
“Không phải ông ấy,” hắn gượng nói.
“Vậy thì ai?”
“Một trong số thư ký của ông ấy, Armero.”
“Ai?”
“Paco Armero. Anh ta là nhân viên của công ty. Anh ta bảo tôi nối lại quan hệ với Beatriz. Anh ta bảo nếu làm theo sẽ có gì đó cho tôi. Một phần thưởng.”
“Sao mày phải nối lại quan hệ với Bea?”
“Tôi không biết.”
Tôi làm như thể định đánh hắn tiếp.
“Tôi không biết,” Cascos thút thít. “Đó là sự thật.”
“Thế nên mày bảo muốn gặp cô ấy ở đây?”
“Tôi vẫn yêu Beatriz.”
“Mày cũng biết cách bày tỏ đấy. Valls ở đâu?”
“Tôi không biết.”
“Sao mày lại không biết ông chủ của mày ở đâu được?”
“Vì tôi không biết ông ấy. Được chưa? Tôi chưa bao giờ gặp ông ấy. Tôi chưa bao giờ nói chuyện với ông ấy.”
“Giải thích đi.”
“Tôi bắt đầu làm việc cho Ariadna cách đây một năm rưỡi, tại văn phòng ở Madrid. Trong suốt thời gian qua tôi chưa bao giờ gặp ông ấy. Không ai gặp cả.”
Hắn chầm chậm đứng lên và bước đến điện thoại. Tôi không ngăn hắn. Hắn nhấc máy, mắt hắn trào lên sự căm giận.
“Tôi sẽ gọi cảnh sát...”
“Không cần thiết đâu,” một giọng nói vang lên trong hành lang.
Tôi quay lại và nhìn thấy Fermín, đang mặc một bộ cánh tôi đồ là của cha tôi, tay cầm tấm thẻ trông giông giống thẻ cảnh sát.
“Thanh tra Fermín Romero de Torres. Cảnh sát. Có người đã báo cáo một vụ lộn xộn. Ai trong hai người có thể kể lại chuyện gì đã xảy ra ở đây?”
Tôi không biết ai là người bối rối hơn, Cascos hay là tôi. Fermín tranh thủ tình huống này nhẹ nhàng kéo ống nghe ra khỏi tay Cascos.
“Cho phép tôi,” anh ta nói vừa đẩy hắn ra. “Tôi sẽ gọi về trụ sở.”
Anh ta vờ như quay số rồi mỉm cười với chúng tôi.
“Cho tôi nối máy với trụ sở. Vâng, xin cảm ơn.”
Anh ta đợi vài giây.
“Vâng, Mari Pili, là tôi đây, Romero de Torres. Cho tôi gặp Palacios. Vâng, tôi sẽ đợi.”
Trong khi Fermín vờ như đợi và lấy tay che ống nghe, anh ta ra hiệu cho Cascos.
“Anh va đầu vào cửa phòng tắm hay là đã có chuyện gì xảy ra ở đây mà hai người vẫn chưa khai ra?”
“Kẻ man rợ này đã tấn công và định giết tôi. Tôi muốn tố giác ngay lập tức. Tôi muốn thấy hắn đằng sau song sắt trước khi ngày hôm nay kết thúc.”
Fermín nhìn tôi vẻ trách móc và gật đầu.
“Đúng vậy. Chúng ta có một nhà tù thích hợp để giam loại này, với lũ chuột và các thứ.”
Anh ta vờ như nghe gì đó trên điện thoại rồi ra hiệu cho Cascos yên lặng.
“Vâng, Palacios. Ở khách sạn Ritz. Đúng. Số 424. Một người bị thương. Chủ yếu trên mặt. Còn tùy. Một vụ lộn xộn thực sự. Tốt. Tôi sẽ bắt khẩn cấp kẻ tình nghi.”
Anh ta buông điện thoại xuống.
“Tất cả đã được dàn xếp.”
Fermín bước đến tôi và, tóm lấy tay tôi một cách quyền uy, ra hiệu cho tôi yên lặng.
“Đừng nói gì hết. Bất cứ điều gì anh nói sẽ được dùng để chống lại anh và đồng phạm khi xét xử.”
Trong lúc đang đau lại bối rối trước sự kỳ quặc trong các thao tác của Fermín, Cascos nhìn chằm chằm cảnh tượng này trong sự nghi hoặc.
“Anh không định còng tay hắn sao?”
“Đây là nơi sang trọng, chúng tôi sẽ còng anh ta khi ở trên xe cảnh sát. Như vậy mới đúng thủ tục, thưa anh.”
Cascos, vẫn đang chảy máu và có lẽ đã nhận ra điểm hồ nghi, bèn chặn đường chúng tôi, dù có chút ngập ngừng.
“Anh có chắc anh là cảnh sát không?”
“Cảnh sát tinh nhuệ. Tôi sẽ gọi phục vụ phòng mang thịt bò sống lên ngay lập tức để anh chườm vào vết thương. Chúng có tác dụng kỳ diệu đối với những vết thâm dưới mắt và những vết sưng, đấy kinh nghiệm của chuyên gia. Các đồng nghiệp khả kính của tôi sẽ đến sau để lấy lời khai và chuẩn bị thủ tục khởi tố để tên nhãi nhép này chịu một án phạt xác đáng là lao động khổ sai ở một nhà tù Ma Rốc an ninh nghiêm ngặt,” anh ta đọc làu làu, gạt cánh tay Cascos ra và đẩy tôi nhanh nhất có thể về hướng lối ra.
12
Chúng tôi vẫy taxi ở bên ngoài cửa khách sạn và băng qua đường Gran Vía trong yên lặng một lúc.
“Lạy chúa Jesus, cả Mẹ Mary và Thánh Joseph!” cuối cùng Fermín cũng bật ra. “Cậu điên à? Tôi nhìn cậu mà còn không biết cậu là ai nữa... Cậu định làm gì thế? Giết thằng đần kia à?”
“Hắn làm việc cho Mauricio Valls,” đó là câu trả lời duy nhất của tôi.
Fermín trợn tròn mắt.
“Daniel này, sự ám ảnh của cậu bắt đầu vượt quá tầm tay rồi đấy. Tôi ước gì không kể cho cậu câu chuyện kia... Cậu có sao không? Xem tay cậu nào...”
Tôi cho anh ta xem nắm tay tôi.
“Vì Chúa.”
“Làm sao anh biết...?”
“Bởi vì tôi hiểu cậu như thể tôi đã sinh ra cậu, dù cho có những ngày tôi gần như hối tiếc vì hiểu cậu rõ như thế,” anh ta giận dữ nói.
“Tôi không biết cái gì tác động lên tôi nữa...”
“Ồ, tôi biết chính xác cái gì đã tác động đến cậu. Và tôi không thích như thế. Tôi không thích một chút nào. Đó không phải là Daniel mà tôi biết. Và đó không phải là Daniel mà tôi muốn làm bạn.”
Bàn tay tôi đau nhức, nhưng biết rằng đã làm Fermín thất vọng tôi còn thấy đau đớn hơn nhiều.
“Fermín, xin đừng bực tôi.”
“Ồ, xin lỗi nhé! Có lẽ cậu chỉ muốn tôi trao cho cậu một tấm huân chương thôi...”
Trong một lúc chúng tôi không nói gì, mỗi người đều nhìn ra phía cửa sổ bên chỗ mình ngồi.
“Cảm ơn Chúa vì anh đã đến,” cuối cùng tôi nói.
“Thế cậu nghĩ tôi bỏ mặc cậu một mình à?”
“Anh sẽ không kể cho Bea chứ?”
“Chắc chắn rồi, và tôi sẽ viết một bức thư cho ban biên tập của La Vanguarđia để kể lại những cuộc phiêu lưu này rồi ai ai cũng sẽ ca tụng lòng dũng cảm của cậu.”
“Tôi không biết mình đang nghĩ gì nữa...”
Anh ta nhìn tôi nghiêm nghị, nhưng cuối cùng nét mặt anh ta dãn ra, rồi anh ta vỗ vào tay tôi. Tôi nuốt cơn đau.
“Đừng nhắc đến chuyện này nữa. Nếu là tôi thì tôi cũng làm vậy thôi.”
Tôi nhìn Barcelona đang vùn vụt lướt qua ngoài cửa sổ.
“Cái hồi nãy là thẻ gì thế?”
“Cái gì?”
“Thẻ cảnh sát mà anh đã giơ đấy... Là cái gì thế?”
“Thẻ câu lạc bộ bóng đá Barcelona của cha xứ. Hết hạn rồi.”
“Anh nói đúng, Fermín. Tôi đúng là thằng ngốc khi nghi ngờ Bea.”
“Tôi bao giờ chả đúng. Tôi sinh ra như thế mà.”
Tôi phải cúi đầu khuất phục trước bằng chứng đó và khép miệng lại. Tôi đã nói đủ thứ ngu ngốc cho một ngày rồi. Fermín trở nên cực kỳ yên ắng và dường như đang nghĩ đến chuyện gì đó. Tôi buồn phiền nghĩ rằng mình đã làm cho anh ta thất vọng đến nỗi không biết phải nói gì với tôi.
“Anh đang nghĩ gì thế, Fermín?”
Anh ta quay lại, vẻ lo lắng.
“Tôi đang nghĩ về kẻ đó.”
“Cascos ư?”
“Không. Valls, về điều thằng ngu kia nói lúc nãy. Về ý nghĩa của chuyện này.”
“Ý anh là sao?”
Khuôn mặt Fermín trở nên ưu phiền.
“Ý tôi là điều khiến tôi lo lắng lúc trước ấy là cậu muốn tìm Valls.”
“Và giờ anh không lo nữa sao?”
“Có một điều khiến tôi lo lắng hơn, Daniel.”
“Điều gì?”
“Rằng có lẽ chính hắn cũng đang tìm cậu.”
Chúng tôi nhìn nhau.
“Anh có biết tại sao không?” tôi hỏi.
Fermín, con người luôn có câu trả lời cho mọi chuyện, từ từ lắc đầu rồi quay mặt đi.
Chúng tôi giữ im lặng trong suốt phần còn lại của hành trình. Khi về đến nhà tôi đi thẳng lên căn hộ, tắm nước nóng thật lâu rồi uống bốn viên thuốc giảm đau. Sau đó tôi hạ rèm, ôm chiếc gối mang mùi Bea mà chìm vào giấc ngủ như một tên ngốc, mà tôi đúng là vậy, rồi tự hỏi nàng đâu rồi - người phụ nữ mà vì nàng tôi chẳng màng đến việc tự biến mình thành một thằng ngốc siêu hạng.
13
“Trông tôi như con nhím vậy,” Bernarda tuyên bố khi nhìn vào hình ảnh được nhân lên cả trăm lần của mình tại phòng gương nhà Modas Santa Eulalia.
Quỳ gối dưới chân chị, hai cô thợ may liên tục đánh dấu lên chiếc váy cô dâu với hàng tá đinh ghim, và được Bea giám sát chặt chẽ, nàng đi vòng quanh Bernarda kiểm tra từng nếp gấp và từng đường kim như thể cuộc đời của nàng lệ thuộc vào đó. Bernarda, đang đứng dang hai tay trong căn phòng thử đồ hình lục giác, gần như không dám thở, nhưng đôi mắt chị chăm chú nhìn từng góc trên cơ thể mình, tìm kiếm dấu hiệu eo bị phồng lên.
“Cô chắc là không lộ chứ, Bea?”
“Không một chút nào. Phẳng như chiếc bánh kếp ấy. Lộ chỗ nào mới được chứ, dĩ nhiên.”
“Ồ, tôi không biết, tôi không biết đâu...”
Sự thử thách của Bernarda và những nỗ lực của thợ may để chỉnh sửa kéo dài thêm nửa giờ nữa. Khi dường như trên thế giới không còn chiếc ghim nào nữa để đính lên Bernarda tội nghiệp, ngôi sao của hãng may và là người sáng tạo chiếc váy mới kéo rèm lên và xuất hiện. Sau một cuộc khảo sát nhanh chóng và sửa vài lỗi trên lớp lót, anh ta mới bày tỏ sự tán thành và bật ngón tay cho người phụ việc, lệnh cho họ rút lui.
“Đến cả Balenciaga cũng không làm cho chị đẹp được như vậy,” anh ta vui vẻ kết luận.
Bea mỉm cười và gật đầu.
Người thợ may, một quý ông mảnh khảnh với phong cách màu mè và cử chỉ như diễn kịch luôn được biết đến với cái tên Evaristo, hôn lên má Bernarda.
“Cô đúng là người mẫu tuyệt nhất trên đời. Người kiên nhẫn nhất và chịu đựng lâu nhất. Một công việc vất vả, nhưng xứng đáng.”
“Vậy anh nghĩ xem, thưa anh, tôi có thở nổi khi mặc chiếc váy này không?”
“Cô em thân mến, cô sẽ kết hôn với một chàng trai Iberia lực lưỡng ở nhà thờ Đức Mẹ. Những ngày để thở đã qua rồi, tin tôi đi. Dù sao, một chiếc váy cưới cũng giống như một chiếc thùng thợ lặn: không lý tưởng cho việc thở, nhưng cuộc vui bắt đầu khi cô cởi nó ra.”
Bernarda làm dấu thánh trước lời nói bóng gió của anh thợ may.
“Điều tôi sẽ đề nghị cô làm lúc này là cẩn thận cởi chiếc váy ra. Đường kim còn lỏng lẻo và với những chiếc ghim đó, tôi không muốn khi bước đến bục lễ trông cô như một cái chao đâu,” Evaristo nói.
“Tôi sẽ giúp chị ấy,” Bea nói.
Buông một ánh nhìn đầy ý nhị cho Bea, Evaristo dò xét nàng từ đầu đến chân.
“Vậy bao giờ thì tôi có thể mặc và cởi váy cho cô, tình yêu của tôi?” anh ta hỏi, rồi biến mất sau rèm.
“Gã vô lại kia nhìn cô mới đểu làm sao chứ!” Bernarda nói. “Tôi cứ tưởng là anh ta không thích phụ nữ, nếu cô hiểu ý tôi.”
“Em nghĩ Evaristo thích đủ các loại, Bernarda ạ.”
“Có thể vậy sao?” chị hỏi.
“Thôi nào, cởi chiếc váy này mà không làm rơi cái ghim nào.”
Trong khi Bea giải thoát cho Bernarda khỏi vòng giam hãm, chị người hầu lầm bầm lên tiếng.
Từ khi chị phát hiện ra giá của chiếc váy, mà ông chủ của chị, ông Gustavo, một mực muốn lấy tiền túi ra trả, Bernarda lâm vào một tình trạng tồi tệ.
“Ông Gustavo không nên chi một đống tiền như vậy. Ông ấy cứ bắt phải may ở đây, mà tôi dám chắc nó là cửa hàng đắt đỏ nhất ở Barcelona, và rồi lại đòi thuê cái gã Evaristo này cho bằng được, mà hình như anh ta là cháu của ông ấy hay gì đó. Và hiển nhiên Evaristo bảo rằng vải mà không phải của hiệu Gratacós thì là đồ bỏ đi tất. Mà chúng thì đắt thế chứ!”
“Chị đừng có phụ lòng tốt người khác như vậy... Với cả, ông Gustavo sướng điên lên khi chị làm đám cưới theo đúng phong tục. Ông ấy thích như thế. Chị là đứa con gái mà ông ấy không bao giờ có được.”
“Tôi là người hầu của ông ấy, và tôi sẽ rất hạnh phúc được mặc chiếc váy cưới của mẹ tôi, chỉ cần sửa một chút, còn Fermín thì chẳng quan tâm đâu. Mỗi lần tôi cho anh ấy xem chiếc váy mới tất cả những gì anh ấy muốn là cởi nó ra khỏi người tôi thôi... Và nhìn xem chuyện đó đã dẫn đến đâu, mong Chúa thứ lỗi,” Bernarda nói, tay vỗ vỗ lên bụng.
“Bernarda này, em cũng có bầu trước khi cưới và em dám chắc Chúa còn nhiều chuyện phiền phức hơn cần lo lắng.”
“Fermín của tôi cũng bảo vậy, cơ mà tôi không biết...”
“Chị cứ nghe theo Fermín đi và đừng lo lắng gì cả.”
Trên người chỉ còn mỗi chiếc váy lót, và đã quá mệt mỏi sau hai tiếng đứng trên giày cao gót với hai tay dang ra, Bernarda ngồi thụp xuống ghế bành và thở dài.
“Tội nghiệp, anh ấy sút nhiều cân quá, anh ấy giờ ốm như cái cào. Tôi lo cho anh ấy lắm.”
“Chị sẽ thấy tình trạng anh ấy khá khẩm hơn từ bây giờ trở đi. Đàn ông là thế. Họ giống như cây phong lữ. Khi họ trông như thể sẵn sàng bị ném vào sọt rác thì họ sống lại.”
“Tôi không biết, cô Bea ạ. Tôi thấy Fermín dường như phiền não lắm. Anh ấy bảo tôi là muốn đám cưới, nhưng tôi lại thấy nghi ngờ.”
“Thôi nào, anh ấy phát điên vì chị mà, Bernarda.”
Bernarda nhún vai.
“Này, tôi không ngốc nghếch như vẻ bề ngoài đâu nhé. Từ hồi mười ba tuổi đến nay, tôi chỉ biết lau chùi nhà cửa và có thể không hiểu nhiều điều, nhưng tôi biết rằng Fermín của tôi đã chu du thế giới và có nhiều cuộc phiêu lưu. Anh ấy không bao giờ kể cho tôi về quãng đời trước khi chúng tôi gặp nhau, nhưng tôi biết anh ấy có những phụ nữ khác và anh ấy cũng mèo mỡ vài lần rồi.”
“Rồi cuối cùng anh ấy chọn chị. Vậy đấy.”
“Tôi biết. Nhưng cô biết tôi sợ điều gì không, Bea? Sợ tôi không xứng với anh ấy. Khi thấy anh ấy nhìn tôi say đắm và nói muốn chúng tôi già đi cùng nhau và đủ những lời ngọt ngào khác, tôi luôn nghĩ đến một ngày anh ấy thức dậy nhìn tôi và nói: ‘Thế quái nào mà tôi lại vớ phải con mụ đần độn này?’ “
“Chị nghĩ sai rồi, Bernarda, Fermín sẽ không bao giờ nghĩ như vậy. Anh ấy tôn thờ chị.”
“Ồ, đó cũng không phải là điều tốt. Tôi đã thấy rất nhiều quý ông, hạng người tôn thờ vợ mình như thể họ là Đức Mẹ đồng trinh, thế mà sau đó lại chạy theo cô gái trẻ trung xinh đẹp đầu tiên họ bắt gặp, như lũ chó gặp chó cái mùa động đực. Cô sẽ chẳng tin nổi số lần tôi đã chứng kiến những chuyện như thế với cặp mắt bé nhỏ mà Chúa ban tặng này đâu.”
“Nhưng Fermín không như thế đâu, chị Bernarda. Fermín là người tốt. Một trong số ít những người tốt. Đàn ông giống như thứ hạt dẻ người ta bán ngoài đường: tất cả đều nóng hổi và thơm phức khi mới mua, nhưng khi bóc lớp vỏ ngoài đi, ta nhận ra rằng hầu hết bên trong đều thối.”
“Cô nói vậy không phải vì cậu Daniel đấy chứ?”
Bea mất một lúc mới đáp lại.
“Không. Dĩ nhiên là không.”
Bernarda nhìn nàng.
“Ở nhà cô mọi chuyện ổn cả chứ, Bea?”
Bea vân vê một nếp gấp trên vai cái váy lót của Bemarda.
“Vâng, Bemarda. Vấn đề là em nghĩ cả hai chúng ta đều đã tìm và lấy về cho mình những ông chồng có một hai bí mật phải giữ kín.”
Bernarda gật gù.
“Đôi khi bọn họ như trẻ con ấy.”
“Đàn ông mà. Chị mong gì chứ?”
“Nhưng vấn đề là, tôi thích họ,” Bernarda nói. “Và tôi biết đó là tội lỗi.”
Bea bật cười.
“Chị thích họ thế nào? Như Evaristo ư?”
“Không, lạy Chúa lòng lành, không. Nếu cứ chăm chú soi gương như vậy anh ta sẽ làm cho gương mờ mất! Một người đàn ông mà mất nhiều thời gian chưng diện hơn tôi khiến tôi rợn người. Tôi thích họ thô ráp một chút, e là vậy. Tôi biết Fermín của tôi không hẳn là kiểu người mà cô gọi là đẹp trai. Nhưng với tôi anh ấy đúng là thế - đẹp trai và tốt bụng. Và rất nam tính. Rốt cuộc, tôi nghĩ rằng điều đó mới quan trọng, rằng anh ấy thật sự là người tốt và anh ấy có thực. Rằng anh ấy là người mà ta có thể níu lấy trong đêm đông lạnh giá và người biết làm ta cảm thấy ấm áp trong lòng.”
Bea mỉm cười đồng tình.
“Amen. Dù có một con chim non đã bảo em rằng người mà chị thích là Cary Grant.”
Bernarda đỏ mặt.
“Cô thì không ư? Đó không phải người để kết hôn, dĩ nhiên. Tôi nghĩ rằng anh ta là cái kiểu rơi vào lưới tình lần đầu tiên khi anh ta soi gương. Nhưng chuyện này chỉ có chị em mình biết thôi nhé, mong Chúa tha thứ, tôi sẽ không từ chối một cái ôm siết của anh ta...”
“Fermín sẽ nói sao nếu anh ấy nghe được chị nói như vậy, Bernarda?”
“Điều anh ấy luôn nói. ‘Dù gì, cuối cùng chúng ta cũng sẽ bị lũ sâu bọ ăn thịt...’”