Muốn tính số người trong thôn chúng tôi, trên mấy đầu ngón tay nói chung là phải kể đến nhà họ Hạ trước, bất kể cảm tình của anh đối với nhà này ra sao. Nhà họ Hạ có chừng ba trăm mẫu đất, điều này đủ nói rõ, dù phải thừa nhận rằng thôn chúng tôi không đến nỗi nhỏ lắm.
Trước năm Canh Tý, lão Hạ đã theo đạo. Con trai lão Hạ Liêm cũng theo đạo.
Học chuyện họ có chừng ba trăm mẫu đất, điều này đáng kể hơn là chuyện họ theo đạo hay không theo đạo. Có điểu, cha con họ quyết không chịu từ bỏ tôn giáo cũng như dứt khoát không cắt xẻ một hai mẫu ruộng. Ví thử chỉ theo đạo thôi mà không có ít nhiều sản nghiệp này, có lẽ ông mục sư Tây dương thi thoảng mới ghé thăm huyện quyết không đặc biệt ghi nhớ tên tuổi họ làm gì. Trên thực tế, họ có chừng ba trăm mẫu đất, hơn nữa còn theo đạo, thế mới có chuyện để bàn.
Họ biết tính toán ghê lắm. Giả dụ quyên góp tám hào một đồng cho việc công ích của thôn, túi tiền cha con họ Hạ hệt như áo trời, không một kẽ hở. "Chúng tôi theo đạo, không làm thế". Lợi ích của theo đạo, đang đợi anh ở đây đấy. Người trong thôn không dám công khai dè bỉu họ bủn xỉn, nhưng cũng chẳng ai ca ngợi tính rộng rãi của họ. Nếu họ không nhảy ra khơi mào đi bắt nạt người khác, mọi người cũng chẳng dám vô duyên vô cớ chọc ngoáy họ, hai bên đều kính nhi viễn chi. Nhưng, nhiều lúc, mọi người không tìm cha con họ Hạ thì không xong, điều này đáng nói, Chu Du đánh Hoàng Cái, hai bên đều tự nguyện. "Biết chúng tôi ghê gớm, đừng tỉm tới nhà chúng tôi nữa! Việc là việc chứ!". Tuy cha con họ không nói toạc ra như vậy, nhung đích thực ra vẻ thế. Bất luận mua một thứ gì bao giờ họ cũng mất ít tiền hơn người khác, được cái họ mua bán bằng tiền mặt sòng phẳng, tiền trao cháo múc, họ gọi đó là phong cách giáo hữu. Còn khi thỉnh thoảng bị người ta bắt chẹt, nghĩa là "không được trả lại" cũng được "hoàn trả" hết, phong cách giáo hữu ở khấu này càng lộ rõ sức mạnh. Không ai dám kiếm chuyện với họ, còn họ quả thực lại không phải là cái gai - nhìn từ phía xa đến tận nhà đâm, cha con họ thật sự có chút thế lực vô hình.
Nếu xét từ hình dáng bên ngoài, họ còn rất xa mới được tinh anh. Phần xuất sắc nhất trên người lão Hạ là đôi chân vòng kiềng. Suốt ngày khệnh khạng hết đi ra lại đi vào, đi vào rồi lại đi ra, cứ như đánh rơi mất một vật gì, tìm suốt hơn sáu mươi năm rồi vẫn chưa thấy. Đôi chân vòng kiềng ngoằn ngoèo khiến dáng lão trông rõ thấp, dù có ra sức ưỡn ngực lên cũng chẳng tăng thêm được vẻ tôn nghiêm gì. Đầu cũng nhỏ, lông mày còn dài hơn râu, vì thế mấy sợi râu kia dường như ấm ức lắm. Vành mắt đỏ, con ngươi không phải màu vàng cũng chẳng ra sắc đen, càng không nói đến xanh, cứ xam xám, lép lép, khi nhìn ai một mực chỉ nhằm đúng chóp mũi, cái cằm nhọn hoắc cũng vểnh lên theo. Hạ Liêm ra dáng hơn cha một chút và cũng cao hơn. Gương mặt đuồn đuỗn khi cười như không muốn cơ thịt trên mặt nhúc nhích. Đôi mắt cứ hướng về phía xa xăm, tựa như trong lòng luôn có điều khúc mắc gì đó. Anh ta ngẩn ngơ. Nếu ông bố giống một nhánh tỏi, thì anh con trai lại hệt một quả ớt xanh đờ đẫn.
Thuở nhỏ tôi và Hạ Liêm từng học với nhau. Tôi không biết chí nguyện của cha con họ là gì, họ chẳng tâm sự với ai bao giờ, miệng họ khác nào quả hạnh đào đặc ruột. Nhưng tôi hiểu rằng sản nghiệp của họ càng ngày càng nhiều. Tôi cũng thấm thía, phàm là việc họ muốn làm, thì dù phải mất ba năm hoặc năm đời cũng đâu có ngán, cuối cùng ắt đạt được mục đích. Trong ký ức của tôi, hình như họ chưa từng thất bại. Họ biết chờ đợi; một lần không được tiếp tục đợi; vẫn chưa được, lại chờ! Kiên nhẫn sẽ chiến thắng năm tháng, nhạy bén sẽ nắm bắt được cơ hội, xét theo mặt tích cực, họ quả có chỗ đáng khâm phục. Không ít người, vì thấy nhà họ Hạ thuận buồm xuôi gió, cũng theo đạo, họ cho rằng ông thần nhà họ Hạ thờ hẳn linh thiêng ghê lắm. Cách nghĩ này đúng hay sai là một vấn đề khác, thành công của cha con nhà họ Hạ đã rành rành ra đó.
Có lẽ không chỉ mỗi mình tôi đôi lúc nghĩ rằng: Cha con họ phải chăng sẽ có ngày thất bại? Riêng với tôi mà nói, điều này không phải xuất phát từ lòng đố kỵ, tôi hoàn toàn không mong có dịp ha hả cười vào mũi họ, đấy chỉ là suy đoán một cách hiếu kỳ mà thôi. Tôi vẫn thường cho rằng con người rốt cuộc không thể thắng hết thảy; ai cũng có thứ không tiêu hóa nổi. Đứng trên góc độ toàn thể nhân loại, tôi mong muốn, hy vọng, chúng ta có thể chinh phục tất cả nhưng, về phương diện cá nhân, tôi không trông chờ thế, mà cũng chẳng ấp ủ cái tín ngưỡng ấy. "Na-pô-lê-ông húc vào tường, thì cũng đáng thôi".
Về mặt tư tưởng, tôi tin cách nhìn này là đúng. Không sai, chi vì nhìn vào cha con nhà họ Hạ mà tôi nghĩ ra điều đó nhưng không hề có ý nguyền rủa họ.
Ai biết được rốt cuộc tự nó có giống như lời nguyền không! Tôi không thích cách họ đối nhân xử thế thật đấy, nhưng cũng chẳng muốn họ quả nhiên sẽ thất bại. Tôi không phải thấy con ruồi sa vào nhựa liền thương hại nó, không phải thế thất bại của họ thật quá khó ngờ, quá quái lạ; "chuyện'' này tách tình cảm và lý trí của tôi ra thành hai ngả.
Khoảng năm năm trước, tôi rời quê hương một thời gian, khi về đến nhà, tôi liền nghe được rất nhiều lời đồn liên quan - không hay ho lắm - đến anh bạn học cũ của tôi. Xâu chuỗi những lời ong tiếng ve ấy lại, thành một câu: Hạ Liêm kiếm một "bà" ở Liễu Đồn - một thôn nhỏ cách chỗ chúng tôi hơn sáu mươi dặm.
Giả thử chuyện này rơi vào người khác, thì chẳng có gì đáng bàn tán. Còn Hạ Liêm, không được. Thứ nhất, anh ta là giáo hữu; dự định kiếm "bà nhỏ" thì phải ra khỏi giáo hội. Theo người trong thôn chúng tôi, bất kể là Bạch Liên giáo hay gì gì giáo, chi cần ra khỏi giáo liền xúi quẩy ngay tức khắc. Hẳn nhiên, Hạ Liêm sắp xúi quẩy, thật đúng là niềm mong mỏi của một số người, bởi thế tai mọi người cứ gọi là dựng cả lên, trong bụng cũng hơi hơi thấp thỏm. Còn quan điểm từ phía giáo hội thấy việc này hợp lý hay không, cũng có mấy vị lên tiếng, nhưng ý kiến của họ không thu hút sự chú ý cho lắm. Quá nặng mùi Tây dương.
Thứ hai, Hạ Liêm, Hạ Liêm! Kiếm bà nhỏ cơ đấy! Gạt cái chuyện theo đạo với chà theo đạo sang một bên, chỉ nói về "con người" này, hắn ta sẽ rước bà nhỏ về, mặt trời đích thị có thể mọc lên từ đằng tây, không khéo ngay sáng mai đấy!
Nhà họ Hạ đã ba đời độc truyền. Hạ Liêm được ba cô con gái, một cậu con trai. Cậu bé này lên mười thì đã qua đời. Chị Hạ sức khỏe lay lắt, chưa chắc sinh được con nữa. Ba đời độc truyền, đến đây xem chừng đứt phựt rồi! Sự thực này mọi người biết cả, nhưng họ đâu vì thế mà để Hạ Liêm thoải mái đi kiếm bà nhỏ, nhân duyên của anh ta đứng ở mặt sau của vận "hên ".
"Đứt rễ cũng không thể động đến tiền Tây dương", ai nom thấy quả ớt ấy đều nghĩ vậy, hẳn nhiên đây là một trong những nguyên nhân khiến mọi người kinh ngạc đến thế. Kiếm bà nhỏ, anh ta ư? Anh ta đây!
Còn nữa, ví thử anh ta rước thêm bà nhỏ, để sinh con trai, chắc mọi người cũng không biết đến vậy. Anh ta vơ một bà tận Liễu Đồn cơ đấy. "Chả trách anh ta cứ hay nhìn xa xăm xa xăm, Kẻ Liễu cơ đấy". Mọi người khúc khích rì rào, hình như cười một cách tiện tặn hơi sức, chỉ lên cổ họng, rồi giao hết ý tứ còn lại cho đôi mắt thố lộ ra.
Trừ Hạ Liêm tự mình hiểu chính mình ra, người khác chẳng qua chỉ đoán mò; miệng anh ta còn kín hơn miệng hến. Nhưng xét cho cùng, tôi vẫn coi như là người quen của anh ta, bạn học từ thuở nhỏ. Tôi không dám nói là mình hiểu anh ta, có điều nếu suy đoán, chắc tôi đoán được tám chín không xa số mười hơn chứ. Tôn giáo của anh ta, có lẽ ngoài việc mong muốn có một ông mục sư Tây dương thi thoảng ghé vào nhà ngồi chơi chốc lát và ông mục sư thích trong giáo hội có mấy gia đình giáo hữu cơ bản ra, thì chẳng còn tác dụng gì khác. Anh ta coi Hòa quyền hay giáo hữu cũng không khác nhau bao nhiêu. Chúa có một vị hay mười vị, hoàn toàn chẳng can hệ gì với anh ta. Mục sư giảng đạo thì anh ta nghe, nghe hết điều bác ái anh ta đâu có bớt kiếm lợi đi. Nhưng anh ta muốn làm giáo hữu. Anh ta không bạn bè, nên cần có một nơi để đi - giáo hội chính là một nơi tốt biết bao nhiêu. "Các anh không đếm xỉa tôi ư, tôi cóc thèm qua lại với các anh đấy; tôi có nơi để đi, tôi là giáo hữu!". Điều này rành rành ghi trên gương mặt đuồn đuỗn của anh ta.
Anh ta không thể ngang nhiên lấy vợ bé, anh ta không muốn ra khỏi giáo hội. Nhung không có con trai lại là chuyện không thể đừng được. Anh ta định âm thầm giải quyết vấn đề này. Lăng nhăng với một cô trước, đến khi có con trai rồi thì tính sau. Lão Hạ dĩ nhiên không phản đối, ông nội mong cháu đích tôn còn gay gắt hơn bố mong con trai nhiều chứ. Còn giáo hội thì sao, ông mục sư Tây dương không thường xuyên tới; mà mục sư của thôn lại không gây rách chuyện đến thế. Dù sao không rước người về nhà bằng xe mui trần giữa thanh thiên bạch nhật thì không coi là cố ý phạm giáo quy, mọi người làm ngơ cho, sự việc lại chẳng không êm ru sao?
Còn về vấn đề muốn tiết kiệm tiền, thì chẳng cần đâu. Đi lăng nhăng chắc gì đã đỡ tiền hơn cưới vợ nhỏ. Để có con trai, lần này xem chừng anh ta quyết tâm lắm, không thể không nghiến răng lại. "Giáo hữu" tuy không phải là hàm quan lại, song khắc có tác dụng, mà con trai thì dứt khoát không thể thiếu được. Nhắm chặt mắt, vung ra ít tiền! Hấp, thế là xong.
Đây là suy đoán của tôi, không tránh khỏi hơi khắc nghiệt, tôi biết; nhưng chưa hẳn đã cay độc hơn người khác. Còn về mức độ chính xác, tôi tin rằng mình là xuất sắc nhất.
Chỉ ở nhà mấy bữa, tôi lại đi hai tháng. Cuối năm tôi vể quê đón tết, chuyện nhà họ Hạ đã phát triển kha khá. Hạ Liêm đã tự động rời khỏi giáo hội, chị chàng thôn Kẻ Liễu đó đã được đón về nhà. Tôi không ngờ chuyện lại tiến triển nhanh đến thế. Nhưng khỏi cần hỏi han, tôi liền có thể đoán ngay được: Nêu miệng người trong thôn đều cắm vào một chỗ, chưa đầy ba ngày đã có thể cắn sạt một mảng to của Trường thành. Chị chàng ở Kẻ Liễu kia nhất định bị mọi người cắn lôi ra, giống như chó săn đào hang săn thỏ vậy. Họ cắn, giáo hội không muốn tiếp tục giả ngô giả ngọng, thế là... cái đó, tôi đoán trúng phóc rồi.
Nhưng, có điều tôi vẫn chưa được biết: Tôi gặp lão Hạ, dưới vành mắt đỏ của lão có mấy nếp cười, điều này hiếm thấy lắm. Mấy sợi râu tủi thân tủi phận ấy cứ khe khẽ rung rung, tựa như muốn nói điều gì với tôi. Tôi hiểu rồi: Tất cả mồm mọi người trong thôn giờ đang chĩa cả vào nhà họ Hạ, lão Hạ cũng khó mà bịt nổi; lão muốn biện hộ mấy câu cho bản thân. Tôi vừa từ nơi khác về, giống như kẻ thứ ba, lão muốn kể lể đôi điều ấm ức với tôi. Được thôi, cóc mở miệng, chuyện hiếm thấy, tôi không nên bỏ lỡ cơ hội này.
Lão một mực ca ngợi chị chàng kia, lão khôn khéo gọi chị ta là "Gái Kẻ Liễu". Ông lão này cao tay gớm, tôi nhủ thầm. Lão không biện hộ cho "chuyện" này mà giúp chị ta mở đường đi trong thôn. Chuyện trong thôn xưa nay vẫn thế này: Có vài người nhìn sang bên trái, dù mặt mọi người vốn hướng cả sang phải thật, sẽ dần dần kéo họ quay về bên trái. Chị ta đã đến rồi, thì phải tìm cách giúp chị ta tính toán chứ; ông lão này đầm móng cho chị ta. "Gái Kẻ Liễu " quả có chút thi vị thật chăng!
- Tốt quá rồi, "Gái Kẻ Liễu" - Vành mắt đỏ của lão chớp lấy chớp để - Hơn chị cả nhiều, thật được việc! Biết giặt biết giũ, nhã nhặn lễ phép, bố chồng là bố chồng, mẹ chồng là mẹ chồng! Tốn thêm một miệng ăn, nhưng chúng tôi có thêm một người làm không công! Chị cả bệnh tật yếu như sên, trói gà không chặt; "Gái Kẻ Liễu" ư, việc gì cũng xốc vác! Nên tôi đã nói với thằng Liêm - Lão vếch cằm lên nhằm trúng mắt tôi, tôi biết lão che giấu cho con trai - Tôi nói, thằng Liêm này, đón nó về, chúng ta "cần" một cánh tay như thế! - Nói xong lão chớp chớp mắt với tôi, vành mắt đỏ nhúc nhích liên hồi, nom dáng giống hệt như bố của Tôn Ngộ Không. Lão chờ ý kiến tôi.
- Thế thì tốt quá! - Tôi chỉ buông một câu vô thưởng vô phạt.
- Quả đúng là ý Chúa! - Lão gật đầu ca ngợi - Cậu phải đến gặp chị ta; gặp chị ta rồi, cậu khắc hiểu.
- Vâng, thưa chú, mai cháu đến chúc tết chú - Quả thật tôi muốn đến xem thử người phụ nữ Liễu Đồn hiền thục ấy.
Hôm sau tôi đến nhà họ Hạ chúc tết, tôi gặp "Gái Kẻ Liễu".
Chị ta bao nhiêu xuân xanh; tôi không dám khẳng định, chừng ba mươi, có thể ba mươi lăm, hay bốn chục gì đó. Chắc nhất là nói chị ta dưới bốn mươi lăm bảo đảm là không sai. Tôi cười thầm, một "bà nhỏ" hay đấy! Dáng cao cao, mặt dài dài, bôi đến một cân phấn trắng, nhưng trông thì không thật là trắng; tóc mai và lông mày đều nhuộm đen một cách tề chỉnh, y hệt bức tường mới xây, chỗ trắng chỗ còn lôm loam, nhưng chỗ đen thì thật là đen, thật là ngay ngắn. Đôi mắt nhoi ra ngoài, cố tình chớp chầm chậm, như sợ đụng phải con ngươi vậy. Dám tóc lốm đốm vàng hoe trên đầu cũng nhuộm đen, nhưng nhuộm không được thành công lắm, cài một đóa thạch lựu đỏ, diện một bộ áo đoạn quần bông Tây dương màu lam mới tinh, dưới nách giắt một chiếc khăn sa Tây dương màu hồng phấn. Giày mới đỏ sậm, cùng lắm cũng chưa dài tới một thước.
Tôi quả chẳng có gì để nói, trong bụng cứ nhồn nhột buồn cười, lại cố nhịn đến khổ.
Nhưng "Gái Kẻ Liễu" lại có lời. Như thể chị ta đã từng học cùng tôi, hỏi tôi điều này, điều nọ, có dáng có điệu đến khéo. Từ chính mồm mép của chị ta, tôi nhận thấy, chị ta biết hết sức tỏ tường từng chuyện của nhà tôi và cả thôn. Mắt chị ta nhìn tôi chầm chậm chớp mấy chớp, tựa hồ ngay cả mỗi ngày tôi ăn mấy cái bánh bột chị ta biết cả. Miệng chị ta cứ ngọt xơn xớt, vừa lo liệu trà nước của khách, vừa nói; một mặt nói, một mặt giám sát người nhà qua đuôi mắt; cần dặn dò điều gì thì phán trước đã, rồi trò chuyện sau, dạy bảo đến là róng riết. Vành mắt lão Hạ hơi ươn ướt, bà Hạ - một bà lão nhỏ nhắn miệng méo eo lệch - đảo mắt nhìn theo "Gái Kẻ Liễu"; một tiếng cha hai tiếng mẹ, có lẽ gọi cho các cụ đến mụ mị cả đầu óc. Hạ Liêm không có nhà. Tôi muốn đi thăm chị cả Hạ, vì nghe nói chị vẫn đang ốm. Hai cụ họ Hạ chẳng tỏ vẻ gì nhưng mắt thì cứ ngó "Gái Kẻ Liễu", như xin ý kiến chị ta; hẳn họ đã thừa nhận; mấy chuyện giao tiếp mọi người, nề nếp phép tắc giỏi giang họ không rành rẽ bằng "Gái Kẻ Liễu", thành thử phải hỏi chị ta. Chị ta vội ra mở cửa, mời tôi vào phòng phía tây. Theo tôi đến trước cửa sổ phòng, liền cất tiếng:
- Có khách đến này.
Rồi cười với tôi.
- Mời vào phòng ngồi, tôi đi xem nước nôi ra sao.
Tôi vào phòng phía tây một mình.
Chị cả Hạ là người thật thà nhất trong nhà. Chị đang quấn chăn ngồi trên giường lò. Thấy tôi, chị như thể vui mừng vô hạn. Nhưng nụ cười chưa kịp nở, nước mắt đã trào ra:
- Chú hai Ngưu! Chú hai Ngưu - Chị gọi tôi hai tiếng. Trong thôn tôi khi gọi nhau thường kèm theo cả nhũ danh, cháu gọi ông nội cũng phải thêm tên cúng cơm. Chị như chất chứa tâm sự nặng trĩu trong lòng, nhưng lại không muốn nói ra. Gạt gạt nước mắt, ngước nhìn ra cửa sổ, rồi trỏ trỏ ra ngoài, tôi hiểu ý chị.
Tôi hỏi tình hình đau ốm của chị, chị thở dài:
- Sống chẳng bao lâu nữa đâu; chết rồi cũng không thể yên tâm - Người đàn bà kia quả là mối tâm bệnh của chị Hạ, tôi nhận ra điều đó. Dù tôi thừa nhận chị Hạ không tránh khỏi đố kỵ ghen ghét, nhưng tôi cũng không thể nói nỗi lòng phiền muộn của chị hoàn toàn chỉ vì bản thân, chị là người rất đỗi thật thà. Dường như tôi và chị đều cảm nhận thấy một mối nguy hiểm, con đàn bà kia!
Từ phòng phía tây bước ra, tôi đụng ngay "chị ta", đang đứng dưới mái hiên. Chị ta xấn đến vẻ thân thiết, mời tôi ngồi chơi một lát, tôi cười khẩy, chẳng ừ chẳng hử. Tôi biết chỉ một cái cười đó cũng đủ khiến tôi với chị ta thành kẻ thù rồi. Đôi mắt sắc như dao kia đã nhìn thấu ý tứ của nụ cười ấy, huống hồ tôi lại vừa từ phòng phía tây bước ra. Bước qua cổng, tôi thở phù một hơi, nhẹ nhõm cả người, trước mặt chị ta, tôi cảm thấy chối tỉ. Có lần tôi bị một cơn ác mộng, thấy một con hổ cái già, mặt trát bự phấn chì. Chị chàng "Gái Kẻ Liễu" này lại gợi tôi nhớ lại cảm giác khiếp hãi do cơn ác mộng gây ra. Tôi ghét người đàn bà này, tuy tôi không chút thành kiến về đạo đức, về địa vị đối với chị ta. Chỉ là ghét chị ta mà thôi, cái đôi mắt trố lồi ấy!
Tết trôi qua, tôi lại rời quê, đến hội đèn năm sau mới về.
Vừa đặt chân vào đầu thôn, tôi đã nghe thấy tiếng xì xào, ngập trong mớ âm thanh ấy ba tiếng "Gái Kẻ Liễu", về đến nhà, mọi người cấp tốc báo cáo cho tôi, cũng là chuyện liên quan đến chị ta.
Sau khi định thần, tôi nhớ rằng đã nghe họ bàn tán: Râu của lão Hạ chỉ còn loe toe vài sợi, bị "Gái Kẻ Liễu" vặt trụi quá nửa rồi. Bà cụ Hạ thường quỳ lạy cô con dâu này. Chị cả Hạ đã dọn ra ở riêng. Răng của Hạ Liêm cũng bị những cái vả thổi bay đi hết mất... Tôi hoài nghi hay tôi đang nằm mơ! Không! Không phải mơ, vì sau khi tôi đã được nghỉ ngơi chốc lát, họ tiếp tục kể lể: "Gái Kẻ Liễu" nắm gáy cả nhà họ Hạ rồi. Họ tranh nhau người này kế người kia bổ sung, tràng giang đại hài, tôi tin đó là sự thực, nhưng chẳng còn nhớ họ đã nói những gì.
Xưa nay tôi vốn không tin câu chuyện trong "Tình thế nhân duyên!"[*] cho lắm, sự này còn ly kỳ hơn nhiều. Tôi phải đi xem tận mắt? Mắt thấy tai nghe rành rành, bằng không tôi không thể tin vào những lời kia được!
[*]Chu thich: Chuyện dân gian nói về Thế thái nhân tinh do Phùng Mộng Long ghi lại.
Hôm sau, ở thôn có hát kịch, tầm chín giờ thì mở màn. Tôi cũng theo chân người nhà đi xem trò; kỳ thực mắt tôi chỉ đảo tìm "chị ta". Đến gần sân khấu, màn đã kéo toang. Người chen chúc khá đông, ngoài người trong thôn còn có rất đông người thôn khác kéo tới. Vì chuyện địa thế và hộ khẩu, nên đoàn kịch dừng chân ở thôn chúng tôi trước tiên. Hồi trống thứ hai vang lên, tôi chợt thấy "chị ta". Chị ta vẫn mặc bộ quần áo diện dịp tết, mặt không bôi phấn - không còn giống bức tường mới xây nữa, nhưng nom hệt cái bánh hình cái quạt to có cán. Sân khấu nhà quê dựng cao chót vót, chị ta túm vào mép sân khấu, vù một cái đã nhảy tót lên trên rồi. Lên sân khấu, chị ta sẩm sầm lao về chỗ giới thiệu. "Ngừng đánh!". Chị ta thét một tiếng. Trống chiêng ngưng bặt. Tôi ngỡ chị ta tính diễn màn gì. "Tống thần diễn lễ", hoặc "Thám thần gia", để chị ta diễn bảo đảm thích hợp, tôi nghĩ thế. Ồ, không phải, tôi đoán sai bét, chị ta quay người, hai bước đã đến mép sân khấu, khoát tay về phía khán giả. Đôi mắt lồi của chị ta hệt một cặp đèn lồng. Kế cũng lạ, khán giả dưới sân khấu lập tức im phăng phắc. Tôi lạnh cả sống lưng. Chỉ trong một năm tôi xa quê, chị ta đã thống trị tuốt cả thôn. Chị ta dùng phương pháp gì, tôi vẫn chưa đi tìm hiểu, nhưng mọi người đều không dám trêu ngươi chị ta là đích xác rồi.
- Thưa bà con - Tròng mắt chị ta nhoi ra lồ lộ nom phát khiếp, đám trẻ con đứng sát sân khấu dễ đến ba bốn đứa, hãi quá khóc thét lên - Thưa bà con! Ả tôi đây xin bắt chước bộ dạng con rùa già họ Hạ phục vụ bà con trước! - Chị ta vòng chân, đôi mắt nhắm chóp mũi làm chuẩn, hất nửa mặt lên, khệnh khạng hai vòng. Khán giả dưới đài có người cười lên.
Đi xong, chị ta lại đứng thẳng bên mép sân khấu, mắt đảo đúng một vòng, cất lời chửi con rùa già nhà họ Hạ. Chị ta chửi gì tôi không sao nhớ nổi, mấy từ lõm bõm ghi lại trong đầu tôi tuyệt nhiên không đủ dùng. Chị ta chửi đúng bốn mươi lăm phút, lời nọ tiếp lời kia, tuôn chảy dào dạt mà rất hùng hồn. Giả dụ cổ họng chị ta không khàn đi hơi yếu, chưa biết chừng sẽ chửi suốt hai ba tiếng đồng hồ.
Chị ta rời sân khấu, kịch bắt đầu; các khán giả hớn hở xem kịch, như thế màn vừa nãy cũng nằm trong chương trình vậy. Đầu óc tôi quay vòng vòng, chuyện gì thế nhỉ? Vốn đã không muốn xem kịch, nên tôi rời khán đài, thong thả đi vào thôn.
Đi được một quãng, tôi đón đầu ông lão Tùng vênh râu bước tới.
- Cụ đi nghe kịch ạ, cụ Tùng? Tân hỉ, tân hỉ, phát tài phát lộc! - Tôi chào.
- Phát tài phát lộc! - Ồng lão ngắm nghía tôi một hồi - Cậu đi xem kịch à? Kịch đầu năm đấy!
- Xem hay không không cần gấp lắm ạ! - Tôi đáp lời.
Người già thường là vậy, cái gì cũng quê nhà vẫn hơn; kỳ thực nếu ông cụ có đứng dưới sân khấu chăng nữa, cũng chưa chắc say sưa đến độ quên cả ăn cơm.
- Ừ, xem thì đâu cần vội! - Ông lão gật đầu, chép miệng.
- Cụ Tùng này, cụ cháu ta tìm chỗ nào trò chuyện, chẳng hơn xem kịch sao? Dạ, thuốc lá mua trong thành đấy ạ! - Tôi móc bao "Mỹ Lệ" ra, mời ông lão một điếu, ông lão Tùng là thánh nhân trong thôn, hộp thuốc này của tôi đáng đồng tiền rồi, nếu tôi muốn hỏi han tin tức có giá trị trong thôn; chuyện nhà họ Hạ trong lòng tôi quả có phẩn nặng đồng cân. Làm sao mà cả thôn không có ai dám đụng đến chị ta cơ chứ? Điều này cứ như tảng đá đè nặng trong tôi.
Châm điếu thuốc, ông lão Tùng hút liền hai hơi, rồi đảo mắt nghĩ ngợi.
- Đi thôi, về nhà tôi! Nhà tôi tuềnh toàng, bí phát ngốt, chúng ta ngồi một lát cũng tàm tạm!
Theo ông lão về đến nhà. Còn mỗi bà cụ ở nhà, những người khác đã đi xem kịch cả. Chúc tết họ xong, tôi dắt bà cụ ra ngoài:
- Bà ơi, bà cứ đi xem kịch đi, hai cụ cháu ở lại trông nhà được! - Bà đưa trà - đúng là tuềnh toàng thật - ra cho chúng tôi xong, hấp tấp bỏ đi nghe kịch.
Đợi cụ Tùng thẩm tra tôi - kiếm được bao nhiêu, quốc gia đại sự thế nào... Tôi bắt đầu điểu tra ông lão.
- Cụ Tùng này, chuyện người đàn bà họ Hạ kia là thế nào?
Gân trên mặt ông lão nổi cả lên, như thể có ai bịt miệng ông lão và bóp chặt lại vậy.
- Cứt chó thối! Nhắc đến ả ta hả? - Ông lão nhổ toẹt một bãi xuống đất.
- Nhưng không ai dám chọc đến chị ta! - Tôi dùng phép khích tướng.
- Giày mới không đạp cứt chó thối!
Tôi nhận thấy một số người trong thôn không thèm đếm xỉa đến chị ta, cũng có thể là không muốn giúp sức cha con nhà họ Hạ. Một nguyên nhân khác của việc tránh dẫm cứt chó thối chính do tính tình tráo trở của chị ta, thành thử tôi lái câu "Chỉ vì chẳng ai dám ra mặt cho chị ta một bài học" định nói ra, thành lời:
- Chắc vẫn có người tưởng chị ta thơm lắm.
- Còn phải nói! Một đấu gạo, một thước vải, ai chẳng theo à; cả đời hai cha con họ Hạ đến cục phân cũng chẳng để rớt ngoài đường!
Quả đúng thế thật, một số kẻ đã quy hàng chị ta. Ả thì sẵn sàng dùng một đấu gạo hai thước vải mua chuộc lòng người, mà cha con họ Hạ thì bỏ một cục phân cũng tiếc.
- Còn giáo hội?
- Mây ông cha đạo làm lơ tất, tất cả đám sặc mùi Tâay dương ấy bận tâm gì đến họ!
Địa vị của cha con họ đã mất sạch cả, có lẽ còn ẩn chứa gì trong đó, tôi nghĩ bụng. Có người thà chịu theo đuôi chị ta chứ không thông cảm với cha con họ; chị ta là đòn trừng phạt đối với nhà họ; thần tiên Tây dương đã phù hộ cha con họ phát tài, thì giờ đây, thần tiên Trung Quốc mượn tay chị ta phá phách họ cho đến sạt nghiệp! Không khéo có người còn tin chị ta biết hô phong hoán vũ nữa cơ đấy!
- Hiện nay nhà họ Hạ thế nào rồi? - Tôi hỏi.
- Thế nào hả? - Ông lão Tùng uống một hơi cạn sạch cả một bát trà đặc to, dùng mu bàn tay lau lau chòm râu - Thế nào hử? Tôi tính toán sẵn hộ cho họ rồi, không đầy ba bốn năm sạch sành sanh! Không phải lão đây ngậm máu phun người, mong cho người ta suy sụp, dậu đố bìm leo đâu! Cậu xem, chị cả Hạ ra ở riêng rồi, chuyện này xảy ra từ nửa năm trước. Hồi ấy, con mụ Kẻ Liễu này từ sáng đến tối khiêu khích, xúi bẩy. Nào là: A, không bệnh giả vờ ốm, chết đi cho rảnh nợ v.v... và v.v... Ai chịu cho nổi! Ba con ranh con kia, đứa nào chẳng là món hàng ế! Lão Hạ chạnh lòng, cho chị cả ba mươi mẫu đất, bảo chị ta dẫn ba đứa con gái đến ở tại ba gian phòng nhỏ ở mé tây ấy. Từ hôm đó, Hạ Liêm chưa bước sang mé tây lấy một lần. Đứa con gái lớn đầu tháng chín lấy chồng, bọn họ đến cả, ăn uống đủ mặt ba ngày, nhưng không cho chị cả lấy một cắc. Hạ Liêm và ông bố thấy quá bở - ăn không của con dâu những ba ngày.
- Đằng ngoại nhà chị cả chắc cũng giúp đỡ chút ít chứ?
- Dĩ nhiên; có điều, họ len lén đến, không dám để con mụ Kẻ Liễu đó trông thấy. Lúc nào ả cũng chực sẵn một cái thang ở góc tường phía tây, mỗi ngày không biết nhòm ngó sang bên chị cả bao nhiêu lần, người không quan hệ đi thăm chị cả Hạ, trên bờ tường, đồ nọ đổ kia văng xuống ầm ầm, người có quan hệ hả, tốt quá rồi, con mụ đó cầm dao chẹn sẵn ở cổng! - Ông lão Tùng lại nhố một bãi nước bọt.
- Không ai dám làm gì chị ta ư?
Ông lão Tùng lắc lắc đầu.
- Chị cả Hạ là con cóc bẹp dí dưới chân bàn, chịu chết thôi!
- Chị ấy qua đời, ả đàn bà kia thành chị Hạ hẳn?
- Còn cần đợi chị ấy qua đời sao? Giờ đây có ai dám không gọi ả là "chị cả" chứ? "Chị hai" cũng không được!
- Còn cụ, cụ Tùng? - Đáng lý, tôi không nên ngắt lời ông lão!
- Tôi hả? - Ông lão hăng hái hẳn, nhưng sự thực lại khiến lão bực bội - Tôi không thèm đếm xía đến ả! - Hình như bộc lộ cáu giận quá mức rồi, nên ông lão bổ sung - Thách cô ả dây dưa với tôi, thách ả ta, thử xem xem cho kẹo ả ta cũng vía dám! Nếu tôi đổi chỗ cho lão Hạ, xem cô ta có dám rứt râu tôi không! Lão Hạ tự mua lấy dây buộc mình. Ả ta cho kiến xơi, cha con họ tưởng thế nào cũng chấm mút ít lợi lộc, nghe theo cô ả, thế là đi đứt rồi. Đã nghe theo ả ta, thì ả chính là ông trời rồi còn gì! Cậu nghe đây, còn thế này nữa chứ: Có phải ả ta và hai cha con họ bắt chẹt chị cả Hạ không? Chưa đầy một tháng sau lại đến lượt hai vợ chồng lão Hạ, ả ta đuổi thẳng cổ họ. Vợ chồng lão được chia năm mươi mẫu đất, ra ở trong hai gian chuồng trâu ngoài vườn ấy. Lão Hạ như bị bò đá, lưng địu túi ngựa thồ đòi vào thành kiện tụng. Lão chưa kịp ra khỏi thôn, ả đuổi kịp đến nơi, lôi xềnh xệch về, đòn phủ đầu đã là mấy cái vả, tiếp đó rứt đứt già nửa chòm râu, sau cùng đá tặng cho mấy đá vào đít. Gần nửa tháng lão Hạ không gượng dậy nổi. Giờ ả ta ở gian chính, gia sản quơ hết vào tay, thế đấy!
- Chị ta còn mưu hại Hạ Liêm không? - Tôi xen vào một câu.
- Việc đó chẳng ai dám nói chắc! Sớm muộn gì thì nhà họ Hạ chẳng còn lấy một thước đất cắm dùi, không do cô ta chiếm thì cũng vì ả ta mà mất sạch. Chuyện khác không biết, chứ tôi thì tôi khẳng định con quỷ này muốn chơi đến sát ván! Chưa từng thấy chuyện thế này bao giờ, mà tôi sắp bảy mươi rồi đấy!
Hai chúng tôi im lặng khá lâu không nói một lời. Rồi sau vẫn lại là tôi lên tiếng trước:
- Cụ Tùng này, hai ông bà họ Hạ không biết liên kết với chị cả cùng đấu với con quỷ đó sao?
- Nếu được thế thì đã phúc, anh hai ngốc ạ! - Mắt ông lão lóe lên tia cười bất đắc dĩ - Lão già ấy khốn kiếp lắm. Ả ta một mặt bắt nạt lão, một mặt dạy lão đi chèn ép chị cả. Lão không dám làm mếch lòng ả, nhưng lại giỏi hoạnh họe chị cả. Dạo cuối năm chị ấy ốm lên ốm xuồng, chẳng dễ đè đầu cưỡi cổ sao? Nếu lão không phải hạng người ấy sao dẫn đến nông nỗi này? Con mụ kia coi như đã nắm trúng thóp cha con nhà đó! Hạ Liêm cũng là một thằng khốn nạn, anh ta cho rằng bố chịu thiệt nghĩa là lợi ích của chính bản thân hắn. Bằng không làm sao lâm vào ngõ cụt được!
- Chỉ khổ mỗi chị cả Hạ thật thà chất phác! - Tôi thấp giọng nói.
- Đúng, chỉ khổ chị ấy! Người tốt rơi vào hang sói!
- Cháu phải đi thăm chị cả Hạ! - Tôi như nói với chính mình.
- Tốt hơn chớ có dây vào. Tôi khuyên cậu đấy! - Ông lão nói, vẻ rất "ta đây".
- Mụ đó dám xen vào nửa lời, cháu đuổi mụ cút ngay! - Tôi cười cười.
Ồng lão Tùng nghĩ ngợi một lát:
- Cậu đuổi ả ta đi phỏng có ích gì?
Tôi chẳng biết nói sao. Triết lý của ông lão Tùng đáng chịu một phần trách nhiệm về việc "Gái Kẻ Liễu" dám hoành hành ngang ngược đến vậy. Mặt khác về phương diện cá nhân, đây là kiến giải tốt nhất của thôn tôi. Chẳng ai đi dẫm cứt chó thối, nhưng cứt chó càng ngày càng thối; hẳn nhiên vẫn có người nói chị ta thơm!
Từ biệt ông lão Tùng, tôi muốn đi thăm chị cả; tôi không thể sợ cái con quỷ "Gái Kẻ Liễu", bất chấp mụ ta nanh nọc thế nào - trong thôn có lẽ có người tin ả ta biết tà pháp yêu thuật! Nhưng, nghĩ rộng hơn một chút: Giả sử tôi đấu với ả, dù thu được toàn thắng, có gì tốt cho chị cả Hạ không chứ? Tôi đâu phải là người túc trực ở thôn! Tôi mà ra khỏi làng xa quê nhà, ả lại không vì thế mà càng ra sức lấn lướt, bắt nạt chị cả Hạ ư? Trừ phi tôi có biện pháp triệt để. Không đi đâu mới được.
Ít lâu, tôi lại rời quê, và quên luôn chuyện đó.
Dễ đến ba năm tôi không về nhà, mãi mùa hè năm ngoái mới có cơ hội về nghỉ ngơi một hai tháng.
Ngày tôi về, đúng lúc cơn mưa rào vừa tạnh. Ngô, cao lương, hoa màu trên ruộng, cây cối trong thôn ngoài xã xanh mướt một màu. Đến bóng cây, chân tường cũng xanh ngăn ngắt. Ba năm chen chúc nơi đô hội, thoạt đặt chân đến những nơi yên ả xanh mượt mà thế này, cứ như thể vào cõi mộng vậy; không khí quá trong lành, khiến tôi buồn ngủ díp câ mắt. Tôi cố gượng tươi tỉnh, ngại chưa muốn đi ngủ vội, ngồi tán chuyện với người nhà. Dây cà ra dây muống, tự nhiên dẫn đến "chị ta". Cơn buồn ngủ lập tức biến mất, nhưng đồng thời tôi cảm nhận được làng quê thực không hẳn là một bài thơ xanh biêng biếc. Trong báo cáo của mọi người, thú vị nhất là "chị ta" giờ đang truyền giáo! Thoạt nghe tôi nghĩ ngay đến lý do: chị ta muốn khôi phục phần nào cái trước kia của nhà họ Hạ, nhưng khác một điểm là chị ta ngồi vào đó. Có điều, bất kể lý do gì, việc này quá tức cười. "Gái Kẻ Liễu" truyền giáo ư? Ai chả truyền giáo được, đâu đợi cái thá chị ta!
Nghe họ kể, chuyện là thế này: Một nhóm giáo đồ kéo đến thôn, có cả người Trung Quốc lẫn người ngoại quốc. Đám người này tin tưởng cầu nguyện có thể trị được bệnh, còn hễ nhận tội liền được xá miễn. Đám này không liên quan đến giáo hội địa phương; hơn nữa các giáo hữu địa phương cũng không tham gia hoạt động của họ. Nhưng họ hăng hái ra phết: Tay trộm cắp vặt Trương Nhị Lăng, bợm rượu Lưu Tứ, thằng cha trộm chị dâu Phùng Nhị Đầu, còn cả "Gái Kẻ Liễu", đã nhận tội hết lượt. Theo cách đánh giá của hai người Tây dương tới thôn, đây chính là thành công lớn nhất, đã đem ảnh của bọn Trương Nhị Lăng - à quên, thêm bà quả phụ họ Tống hay chửi đồng cũng nhận tội, thuần túy vì tự dưng được không một tấm ảnh - người Tây dương mang theo một cái máy ảnh mà lại - gửi ra nước ngoài, kỳ tích chưa!
Sau khi đám người này đi rồi, "Gái Kẻ Liễu" dẫn đầu bọn Lưu Tứ tiếp tục truyền kinh Phúc âm, hàng ngày giảng đạo vào lúc mặt trời xuống núi trên sân nhà họ Hạ.
Tôi phải đi nghe thử xem sao!
Kẻ quỳ, người ngồi, người đứng, trong sân nhà họ Hạ có chừng hai ba chục người. Tôi liếc mắt trông thấy ngay anh chàng Triệu Ngũ nhà tôi.
- Cậu đến đây làm gì? - Tôi hỏi.
Triệu Ngũ mặt đỏ, lắp ba lắp bắp:
- Không đến không xong! Đến một lần rồi, lần sau không đến, chị ta tốc cả tổ tông ba đời nhà mình lên!
Tôi cũng chẳng cần tiếp tục vặn vẹo thêm. Mụ ta đã là "bá vương" của thôn này.
Trên ngọn cây liễu vẫn còn giữ lại chút nắng vàng hoe, ve kêu rả rích trong cơn gió vừa chợt đến, tôi đang ngơ ngẩn ngắm hàng liễu khẽ khàng đung đưa, đột nhiên mọi người đứng cả dậy, "mụ ta" đến rồi! Nom béo hơn ba năm trước, trên người không đeo trang sức hay trang điểm gì nhưng rất lanh lợi. Đôi chân như cột đình của chị ta bước thoăn thoắt mà đầy sức mạnh, đôi mắt lồi nhìn thẳng, như thế toàn thế giới thuộc về mụ ta vậy. Mụ đứng thẳng, tròng mắt không nhúc nhích, toàn thân thẳng đơ, chỉ có đôi môi mấp máy: "Cầu nguyện!". Mọi người cúi đầu. Mụ ta không hề nhắm mắt, duỗi cổ lẩm nhẩm niệm câu gì đấy dường như đang trực tiếp chuyện trò với Chúa.
Đúng lúc này, Hạ Liêm rón rén bước tới, đứng sau lưng mụ ta, cung kính cúi đầu, khép mắt. Tôi không ngờ, anh ta lại còn ục ịch hơn cả trước nữa, biết đâu chúng tôi thì cho rằng như thế là khổ, với anh ta thì lại là béo bở thì sao? Trư Bát Giới đùa lão Điêu cả đôi cùng có chén - Chúng ta có nhiều câu tục ngữ đến là sáng suốt.
Buổi cầu nguyện của chị ta đại loại là: "Mong lão già Hạ ngã vỡ đầu chết tươi. Cầu lũ đàn bà con gái nhà họ Hạ tắc hơi chết ngạt...".
Điều kỳ quặc là không một ai lấy đó làm nực cười, hay đáng ghét. Không chừng chị ta có tà phép yêu thuật thật? Tôi thực sự váng vất cả đầu!
Tôi rất muốn trò chuyện dăm ba câu với Hạ Liêm. Nhưng "Gái Kẻ Liễu" lừ tôi - bằng đuôi mắt. Hạ Liêm là con mèo, con chó hoặc thứ đồ chơi gì đó của mụ. Anh ta cũng đã trông thấy tôi, chỉ một cái lừ, đã vội cắm đầu xuống. Anh chàng vác mụ ra làm bình phong, lút cút phía sau lưng "Gái Kẻ Liễu", anh ta cảm thấy an toàn, tuy răng của anh ta đã bị "vợ bé" cho bay cả hàm. Tôi không hiểu môi quan hệ đích thực giữa họ cho lắm, tôi chỉ chợt nhớ. Hồi trước trong thôn có một người đàn bà bốc quẻ, ra dáng đại tiên cáo trắng lắm. Bà ta có một "đồng nhi", mới chỉ hơn bốn mươi thôi. Gã đồng nhi này và Hạ Liêm xếp làm một cặp bài trùng vừa khít, tôi nghĩ không ra phép so sánh nào hay hơn. Gã đồng nhi này cum cúp theo vị đại diện của đại tiên cáo trắng, hệt như con dê trụi lông bám đằng sau con khỉ làm trò. Đồng nhi cứ tối tối lên giường ngủ chung với đại diện của đại tiên cáo trắng, thành thử gã ta cũng có chút ít khí tiên. Giờ đây Hạ Liêm cơ hồ cũng có vài phần khí tiên, anh ta cầu nguyện đến là thành kính.
Tôi quay lưng bỏ đi, đôi mắt của "Gái Kẻ Liễu" lằng nhằng theo sát tôi.
Lão Hạ vẫn loay hoay ngoài ruộng, tôi tuy gặp lão mấy lần, nhưng không sao nói chuyện được với lão, lão né tránh tôi. Lão đã tiều tụy lắm, vành mắt đỏ như muốn át cả mặt trời mùa hè. Nhưng lão vẫn tích cực, không tiếc công sức, có vẻ muốn đòi lại từ đất những gì bị "Gái Kẻ Liễu" cướp trắng tay, lão cầm cuôc, nghiến răng, bổ xuống ruộng.
Chị cả Hạ, nghe đồn, đã bệnh sắp mất. Cô con thứ của chị cũng chuẩn bị xuất giá, lấy một anh lính, có lẽ là một tiểu đội trưởng, nhưng cả thôn đều nói anh là một sĩ quan.
Dân thôn tôi, đối với người trong giáo hội thì kính nhi viễn chi, với người trên "huyện" thì áp dụng cả mẹo mực lẫn tôn kính và sợ sệt; họ hãi nhát, hãi thực sự, là lũ lính. Có lẽ "Gái Kẻ Liễu" cũng hơi hơi ngán chúng, tuy không nói ra miệng. Giờ bản thân mụ ta đang truyền giáo; là bậc thân sĩ trong làng, tuy không được "huyện" thừa nhận; tự mụ ta khoác lác: Trên huyện có người của mụ đây. Mụ đã có hết thảy thế lực phải có ở chốn hương thôn (do mụ tự sáng tạo ra, mụ quả là một thiên tài). Chỉ phải cái là không có lính.
Về việc cô thứ nhà họ Hạ sắp lấy một "sĩ quan", mụ ta cho rằng đó là chị cả Hạ quyết tâm khiêu chiến với mụ ta. Nếu không lập tức trừ diệt cả đám, ắt sẽ gây họa lớn. Ví thử không giở bản lĩnh dẹp yên đi, tất ít lâu sau sẽ có người lần ra được "thóp" của mụ. Triệu Ngũ và tôi nghiên cứu phân tích kỹ chuyện này. Theo Triệu Ngũ, bất kể "Gái Kẻ Liễu" chèn ép chị cả Hạ thế nào, trong thôn sẽ không có ai sờ gáy mụ ta đâu. Phần đông thì muốn nhìn thấy nhà họ Hạ bẽ mặt, một số người khác thì là thuộc hạ của "Gái Kẻ Liễu". Có điều đến nay "Gái Kẻ Liễu" vẫn chưa ra tay, vì phải suy tính đôi chút về "anh lính". Mây hôm nay, mụ ta đặc biệt thành khẩn, năng cầu nguyện lắm lắm, Triệu Ngũ biết. Mây đã giăng kín, chỉ chờ một tiếng sấm, chắc thế.
Chẳng bao lâu, sấm đã nố rồi. Cô thứ được coi là giỏi giang nhất trong ba cô con gái của chị cả Hạ. Dĩ nhiên, theo "Gái Kẻ Liễu" thì cô lợi hại ghê gớm nhất. Một hôm, cô ba mua chỉ ngoài cổng, cô thứ đứng trong cổng chỉ đạo -Vì cô sắp xuất giá, cũng không tiện ra mặt. Vừa lúc ấy "Gái Kẻ Liễu" cũng ra mua chỉ, cô ba chưa mua xong đã lập tức quày quả đi vào, mặt biến sắc. Cô thứ đứng trong cổng nói một câu buông thõng:
- Mua cô ấy!
"Gái Kẻ Liễu " như một tia chớp, nhào đến trước cổng.
- Tao rủa tổ tông mười ba đời họ Hạ chúng mày!
Cô thứ chạy tuột vào trong, "Gái Kẻ Liễu" đuổi sát đằng sau. Tôi đang ngồi dưới một gốc liễu cách đó không xa, vội lao đến, sợ chị ta cào nát mặt cô thứ. Nhưng người đàn bà này biết phải làm gì trước, mụ ta ào vào chỗ chị cả Hạ. Chỉ cần hai đấm là chị cả Hạ mất mạng. Chị mà chết, "Gái Kẻ Liễu" liền danh chính ngôn thuận là "chị cả" rồi, sau đó thong thả "chăm sóc" cô thứ cô ba vẫn kịp chán. Có bán họ đi cũng chẳng ai xen vào được, lão Hạ là người đầu tiên mặc kệ họ, Hạ Liêm nếu không vì mót có con trai thì đâu rước "Gái Kẻ Liễu" về, người khác càng khỏi cần nhắc tới. Mụ ta đã vào đến cửa phòng thì tôi đuổi kịp. Trước tình hình đó, có lẽ ai cũng sẽ giở vài ngón mẹo vặt ra, tôi túm chặt chị ta, giả vờ khuyên giải, còn đôi mắt của tôi đã làm trọn trách nhiệm của chúng. Cô thứ hiểu ánh mắt của tôi, cô xáp đến, cô ba cũng can đảm hẳn. Có lẽ điều các cô thường mơ tới từ lâu chính là hành động này, hôm nay có tôi ủng hộ tinh thần, cuối cùng đã thực hiện được.
Miệng tôi ngon ngọt dỗ dành, còn tay thì cuồn cuộn sức mạnh, chàng trai nào không đủ sức thì không giữ nổi mụ ta. Đúng lúc ấy, "Gái Kẻ Liễu" thay đổi chiến lược - ả đàn bà này ghê gớm lắm!
- Chú hai Ngưu, bọn đàn bà chúng tôi không đánh nhau đâu - Mụ ta cười, đầu hơi cúi xuống, phô cái vẻ quyến rũ - Tôi dọa mấy đứa chơi thôi mà. Mấy đứa con nít này, có mẹ ở nhà nên nghịch ngợm thế đấy, phiền chú quá! - Nói dứt lời, mụ ta liếc tôi một cái, ngoảy lưng về thẳng.
Kẻ côn đồ không chịu thiệt trước mặt, mụ ta sắp xơi vài cái tát của họ, chẳng phải mất sạch uy phong sao - mụ ta cảm thấy tay tôi hơi cứng.
Một thoáng sau, Hạ Liêm lặc lè tới. Mặt anh ta nom thật khó coi. Anh ta thấy "Gái Kẻ Liễu" đến dạy dỗ con gái đây, tôi nhủ thầm. Tôi chẳng buồn để ý đến anh ta. Anh ta trừng mắt lườm cô thứ, nhưng không thốt được một câu nào, hoặc giả vì có tôi đứng đó, anh ta không biết phải làm thế nào cho phải. Cô thứ nhìn anh ta, môi mấp máy, nói câu gì đó. Chựng lại một lát rồi cô tiến về phía trước, nhắm đúng bộ mặt anh ta, phù, một bãi nước bọt. Anh ta nổi đóa lên, nhưng vẫn chưa ra tay vì đã bị tôi túm chặt. Anh ta co kéo với tôi, rồi đứng đực ra. Liếc nhìn tôi, đầu cúi xuống: "Ôi" - anh ta thở dài thườn thượt - Ai bảo chúng mày không phải là thằng cu chứ! - Con người này đã bị "Gái Kẻ Liễu" hoàn toàn giật dây, mà vẫn còn muốn biện hộ cho mình. Anh ta đã thoát không nổi bàn tay mụ ta, nên càng căm hận họ - ai bảo chúng chỉ là mấy con vịt giời!
Cô thứ nhổ đẩy "hoa" vào mặt bố, trút hết giận rồi, chợt òa ra khóc.
Hạ Liêm bước đến cửa, sựng người lại. Anh ta không thể hoàn thành nhiệm vụ phất cờ chiến thắng trở về. Lại thở dài sườn sượt, rồi từ từ quay ra.
Tôi khuyên nhủ cô thứ. Cô vừa nín, ả đàn bà bên nhà phía đông cất tiếng chửi réo rắt:
- Ông đúng là con rùa rút đầu, đồ thỏ đế, đến con gái mình cũng không dạy được...
Tôi thót ruột, lỡ sau khi tôi bỏ đi, mụ lại lao sang thì sao? Tôi không thể đi, tôi bảo cô ba gọi Triệu Ngũ đến. cắt đặt cho Triệu Ngũ ở lại đó đâu vào đấy; tôi mới dám về nhà. Dĩ nhiên Triệu Ngũ không dám dây dưa với mụ ta, nhưng tôi không bảo cậu ta làm lính cảm tử, cậu chỉ là lính gác tạm thời.
Về đến nhà, tôi càng nghĩ càng thấy áy náy: Vậy là tôi và mụ ta đã tuyên chiến, mụ ta không dễ dàng kết thúc mọi chuyện thế. Giả dụ mụ ta kết bè kéo cánh tới khiêu chiến thì sao? Đánh nhau tập thể đâu phải hiếm hoi gì. Xong chuyện làm sao được, ít nhiều mụ ta đã thua vố đầu. Tôi không muốn đánh đấm tập thể, hừ, vị tất mụ không hiểu điều này. Chỉ trong vòng mấy năm mụ đã tóm tất cả vào tay, trừ vài nhà - tôi chính là một trong số đó - không chịu theo đuôi mụ ta, tuy cũng không cố tình đắc tội với mụ ta; ả đàn bà này nếu có cơ hội, chắc thừa sức làm một "Na-pồ-lê-ông cái", hẳn mụ ta chưa hết chuyện với tôi đâu. Giả dụ biết viết sách, ắt mụ ta sẽ viết ra một bộ tiểu thuyết đề tài nông thôn cực hay, mụ ta hiểu rất rõ như đi guốc trong bụng người dân quê.
Quả nhiên không ngoài dự liệu, đầu giờ chiều hôm đó - mụ cưỡi con lừa đen, giương cái ô đi mưa - mặt trời cứ như đổ lửa ấy - từ đẩu đông thôn sang đầu tây, từ mé nam qua mé bắc, chửi bới con rùa già Hạ, gã Hạ Liêm - đồ thỏ đế và hai con giặc con kia. Ả chửi cho tôi nghe đấy. Mụ biết chắc tôi không muốn lôi ả xuống lừa, dần cho một trận, vậy thì, cả thôn vẫn là của ả, đố có ai dám ra ngăn cản mụ.
Triệu Ngũ là người đầu tiên rét lên rồi, cậu ta nài nỉ tôi đổi người khác bảo vệ cô thứ. Cậu ta không có ý kích động tôi, cậu ta phát hốt thật sự; nhưng lửa giận của tôi đã bốc lên:
- Triệu Ngũ, cậu xem rồi có tẩn cho mụ ta một trận cho biết thân không?
Triệu Ngũ chớp mắt đến nửa ngày trời:
- Được thôi; nhưng đàn ông không đấu với phụ nữ, đúng không ạ?
Thì đúng thế một người đàn ông sao đi đánh đàn bà! Tôi phải nghĩ ra ý kiến cao minh khác.
Bệnh của chị cả Hạ ngày càng trầm trọng. Hướng suy nghĩ của tôi lại ngả về phía chị. Trước hết phải để cô thứ xuất giá đã, xảy ra việc tang thì không hay rồi, chọn một và chỉ một thôi. Anh "sĩ quan" đó là người Trương Điếm, cách chỗ chúng tôi mười hai mười ba dặm đường. Tôi phái Tiểu Ngũ đi giục anh ta mau mau rước vợ về - hẳn nhiên là phải được sự đồng ý của chị Hạ trước. Triệu Ngũ vui lòng nhận nhiệm vụ ngay, vì nó an toàn hơn bảo vệ cho cô thứ nhiều.
Tôi tính thế này, nếu cô thứ được người ta rước đi một cách ấm chèo mát mái, "Gái Kẻ Liễu" coi như lại thua một vố nữa - ai chẳng biết từ lâu mụ ta đã kìm nén và gây sự với chị cả Hạ? Được, con rể của chị cả ngày càng nhiều, thì càng khó xử lý, huống hố lần này là một "sĩ quan" cơ đấy! Tôi cũng đã quyết định, phải xem bằng được cô thứ lên kiệu hoa. Mụ đàn bà kia gây rối, tôi cho biết tay. Hay hơn nữa là mụ mắc phải tội danh phá phách đám cưới, chúng tôi càng dễ lên huyện nói năng.
Theo dân thôn tôi, vận khí con người, bất kể là ai, đều có giới hạn của nó; chẳng ai có thể may mắn cả đời, đến Quan lão gia[*] còn mất đầu đấy thôi. Vụ đụng độ giữa tôi và "Gái Kẻ Liễu" đã lan truyền khắp thôn, tuy tôi không nói, nhưng cô ba có miệng có chân. Hình như mọi người đều cho rằng, đây là một điềm báo trước - "Gái Kẻ Liễu" sắp tàn cuộc chơi rồi. Họ không dám chọc giận mụ, thành thử mong có một người dám chọc mụ, xem đấu đá là chuyện thú vị nhất.
[*]Chu thich: Quan Công.
Xem chừng "Gái Kẻ Liễu" cũng nghe phong thanh chuyện này, nên càng đánh Hạ Liêm thật lực, coi như một kiểu thị uy bóng gió. Đầu Hạ Liêm u thêm cả đống ổi, bị ả đập vào cối đá.
Anh chàng tiểu đội trưởng ở Trương Điếm kia vốn là người có tên có họ, do hục hặc với người nhà nên trốn đi lính; giờ anh ta đang đóng quân gần huyện. Triệu Ngũ về báo cáo, hớn hở thay cho cô thứ - "Một anh chàng cao to, bảo đảm cái ăn cái uống không phải lo, cô thứ còn chút may mắn đấy!" - Họ cũng đồng ý kết hôn sớm.
"Gái Kẻ Liễu " trèo lên thang dây mười lần thì đến tám lần trông thấy tôi; tôi thay chị cả Hạ sắp đặt mọi chuyện, mụ đã xuống thang không xong, người khác lại chẳng dám giúp đỡ, hẳn nhiên tôi phải dốc sức rồi - một phần cũng nhằm chọc tức "Gái Kẻ Liễu". Mỗi bận nhìn thấy tôi, mụ liền mở miệng chửi Hạ Liêm, không những không động đến tôi, chị cả Hạ cũng vô can. Tôi nhủ thầm, chỉ cần bà không trực tiếp xung phong, tôi cũng không thèm đi bắn tỉa, giữa chúng ta là cuộc chiến tâm lý!
Một buổi tối Hạ Liêm đến tìm tôi; trên đầu anh ta mọc liền mấy quả ổi to, hệt hòn đá núi phủ đầy rêu xanh. Ngồi chán, chúng tôi không ai lên tiếng. Lòng tôi cảm thấy hỗn loạn vô cùng, không biết nên nghĩ gì; anh ta xem dáng cũng không dễ chịu mấy. Để phá vỡ không khí căng thẳng, tôi buột miệng hỏi, chẳng nghĩ ngợi trước:
- Sao anh có thể chịu đựng nổi cái bà đó chứ?
- Tôi không còn cách nào nữa! - Anh ta hất mặt đáp, muốn nhíu lông mày lại, nhưng không thành công, vì vùng mắt đó sưng tướng cả lên rồi.
- Tôi không tin một nam tử hán...
Anh ta không đợi tôi nói hết đã ngắt lời:
- Cô ta cũng có chỗ tốt.
- Tài sản đã bị mụ ta vơ hết rồi, chỗ tốt? - Tôi cười một cách ác ý.
Anh ta im thít, hai mắt nhìn vào góc xa nhất của căn phòng, không muốn lên tiếng nữa; nhưng rất không thích nghe lời tôi, mỗi người một chủ ý - anh ta nguyện chịu đánh đòn để có tài sản, về một khía cạnh nào đó thì "Gái Kẻ Liễu" chính là bảo bối của anh ta.
- Anh đến có việc gì thế? - Tôi không muốn phí lời thêm với anh ta.
- Tôi...
- Cứ nói đi!
- Tôi... Anh cố ý đấu đến cùng với bà ấy à?
- Chị cả là vợ anh chính thức, cô thứ là con gái đẻ của anh!
Anh ta không vòng vo nữa, nói một câu đơn giản:
- Tôi sợ gây lên tới tận huyện!
Tôi nhận ra: "Gái Kẻ Liễu" quyết không ăn thì đạp đổ, anh ta quản không nổi; thành thử đến khuyên can tôi. Anh ta sợ phải kéo nhau lên huyện - Tiền! Lên huyện rồi, không tiền chớ có mộng tưởng ra được. Anh ta không thể bỏ "Gái Kẻ Liễu". Không có ả, lão Hạ tất phản công con trai. Hạ Liêm khá bợm, nhưng muốn toàn thắng vẻ vang không theo "Gái Kẻ Liễu" không xong. Lỡ đấu đến tận huyện thật, mà "Gái Kẻ Liễu" bị gô cổ, thì anh ta đến sống dở chết dở; không lôi được mụ ra, anh ta sẽ mất chỗ dựa; mà lôi mụ ra, phải mất tiền; bởi thế anh ta đến khuyên tôi thu quân.
- Tôi không yêu cầu anh giúp chị cả Hạ - vợ của chính anh; anh cũng mặc tôi đối xử với "Gái Kẻ Liễu" ra sao. Chúng ta nói chuyện đến đây thôi nhé.
Hôm sau, "Gái Kẻ Liễu" cưỡi lừa, giương ô, vào huyện thành chửi. Chửi từ cửa đông sang cửa tây, nạn nhân vẫn là con rùa già họ Hạ và Hạ Liêm. Mụ ta làm một phép thử. Thử xem trong thành có người bắt hay cản trở mụ ta hay không. Xưa nay mụ ta vẫn có ý sợ trên huyện. Chẳng ai ngáng chân mụ. Mụ ta khua trống thắng trận trở về; tối đó, mụ triệu tập đại hội những người theo đạo của mụ, bới móc, nguyền rủa nhà họ Hạ và báo cáo quá trình thử nghiệm vừa diễn ra.
Chiến sự là khó tránh khỏi, tôi biết chắc. Đành chuẩn bị đánh thôi, còn cách nào khác đâu? Không có cơn đại hổng thủy thì sao quét sạch vật dơ bẩn của thế giới này, lấy cái lớn so sánh với cái nhỏ, việc này trong thôn chúng tôi cũng vậy.
Mấy hôm nay, người trong thôn nhìn tôi với ánh mắt đặc biệt, tuy tôi chưa tính chiến đấu ra sao - có điều mụ ta mà tới, tôi quyết không lùi lại. Tin nhảm nhí đồn rằng tôi đã liên kết với anh "sĩ quan" kia, cũng có người xì xào tôi đã sắp đặt đâu vào đấy ở trên huyện, điều này khiến tôi bứt rứt không yên. Thực tình, tôi hoàn toàn chỉ "đùa chơi", chứ có định cấu kết với ai đâu. Triệu Ngũ còn không giúp tôi, nói gì đến người khác!
Người trong thôn tôi hình như chưa bao giờ sáng suốt. Họ tin tưởng vận may chỉ có ngưỡng, quả nhiên là thế, dù tôi không tin cũng chẳng địch nổi họ - Họ chỉ cần một tí việc ngẫu nhiên đã chứng minh được ý trời. Đúng trước khi cô thứ nhà họ Hạ lên kiệu hoa, "Gái Kẻ Liễu" bị người trên huyện gô cổ bắt đi. Người trong thôn biết rõ rành rành, nhưng vẫn ngầm chỉ vào tôi. Tôi thực sự chẳng hiểu gì cả.
Qua mấy hôm, tin tức mới truyền về đến thôn: Trong thôn có một cô gái họ Vương, làm hộ lý trên huyện. Vừa hay phu nhân tri sự huyện sinh em bé, cho vời cô này đến. Cô kể tuột mọi chuyện về "Gái Kẻ Liễu" cho phu nhân tri sự huyện nghe, để pha trò kiếm chuyện làm quà thôi. Phu nhân tri sự thì lại ghét nhất hạng làm vợ bé, vì biết tri sự có ý muốn và đã tỏ ra là muốn rước "bà nhỏ". Phu nhân tri sự hạ lệnh lão gia "giải quyết" mụ đàn bà kia, thế là "Gái Kẻ Liễu" bị bắt đi.
Người trong thôn không thật tín chuyện này cho lắm, họ muốn giữ vững cách nói "Gái Kẻ Liễu" đã gặp vận hên năm năm rồi, sở dĩ mụ ta xúi quẩy là vì tôi. Ông lão Tùng nửa hài lòng, nửa cảm khái thốt lên.
- Tôi nói thế nào nhi? Chả đến ba bốn năm, nhà họ Hạ không còn một tấc đất cắm dùi! Ứng nghiệm chưa? Thế là trên huyện khi không được thêm hai ba trăm mẫu đất!
Hạ Liêm quyết định kéo chị ta ra bằng được, thà vung hết tiền trên huyện chứ không thể để người khác vớ được - kế cả bố đẻ anh ta.
Lão Hạ cũng chẳng rảnh rỗi gì, không còn "Gái Kẻ Liễu", lão cóc ngán gì sất.
Cuộc đấu giữa cha con nhà họ Hạ thu hút sự quan tâm chú ý của một số người - Bọn Trương Nhị Lăng, Lưu Tứ, Phùng Nhị Đầu và bà quả phụ Tông đều quyết định ủng hộ Hạ Liêm. "Gái Kẻ Liễu" là thủ lĩnh kiêm ân nhân của bọn họ. Cả Triệu Ngũ cũng phao tin thay cho mụ - Đã đến nha môn huyện rồi, "Gái Kẻ Liễu" vẫn ngang miệng chửi, cứng đầu đến cùng! Khi không thấy mụ ta đi thì bắt bốn anh nha dịch dìu đỡ. Những bốn anh nhé, nha dịch hẳn hoi!
Cô thứ họ Hạ được rước đi một cách bình an. Chưa hết mùa hè, chị cả Hạ đã qua đời, chị ngậm cười về nơi chín suối. Cô ba được cô lớn đem đi. Cha con nhà họ Hạ chia ngoéo mảnh đất của chị cả Hạ thành hai phần đông tây. Bà quả phụ Tông xoen xoét.
- Nêu "Gái Kẻ Liễu" ở nhà, cái lược gỗ hoàng dương của chị cả Hạ dứt khoát sẽ về tay tôi. Hai thằng cha ôn dịch nhà họ Hạ đúng là một cặp rùa rụt cổ chết dẫm!
"Gái Kẻ Liễu" bao giờ thì được thả ra, không ai biết. Nhưng chẳng ai quên chị ta, đến cả bọn trẻ cũng bày trò: Tao làm "Gái Kẻ Liễu", mày làm lão Hạ nhé? - Chúng dàn xếp với nhau thế này: Tao làm "Gái Kẻ Liễu" cơ! Tao làm "Gái Kẻ Liễu" mới phải, mắt tao biết lồi ra đây này. Ai cũng tranh luận như vậy đây.
Ngay cả tôi cũng cảm thấy hơi có lỗi với mụ ta, tuy tôi biết như thế thật đáng đời!
(Đã đăng trên số mười quyển thứ 13 "Tạp chí Đông Phương" ngày 16-5-1934)