Tuyệt Kỹ Giao Dịch Bằng Đồ Thị Nến Nhật

Lượt đọc: 1238 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 14
nến với chỉ báo dao động

Nắm bắt thời cơ.

N ếu các kỹ thuật nhận diện mẫu hình thường mang tính chủ quan (bao gồm cả kỹ thuật nến) thì các chỉ báo dao động là các kỹ thuật xuất phát từ toán học, mang tới một cái nhìn khách quan hơn để phân tích thị trường. Chúng được sử dụng rộng rãi và là nền tảng của nhiều hệ thống giao dịch được lập trình.

Chỉ báo dao động bao gồm các công cụ kỹ thuật như RSI (Relative Strength Index - Chỉ số sức mạnh tương đối), Stochastics và MACD. Ba công dụng chính của chỉ báo dao động là:

Chúng ta nên sử dụng tín hiệu của chỉ báo dao động để mở một vị thế theo hướng của xu hướng đang chi phối thị trường. Tức là với một thị trường tăng giá, một chỉ báo dao động cho tín hiệu tăng giá nên được sử dụng để canh mở vị thế mua và để canh mua lại vị thế bán khống. Ý tưởng tương tự áp dụng cho một chỉ báo dao động cho tín hiệu giảm. Đừng bán khống chỉ vì tín hiệu của chỉ báo dao động cho thấy giảm giá trừ khi xu hướng thị trường đang thịnh hành là xu hướng xuống. Còn nếu thị trường không phải xu hướng giảm, tín hiệu của chỉ báo dao động giảm giá chỉ nên được sử dụng để thanh lý vị thế mua.

CHỈ SỐ SỨC MẠNH TƯƠNG ĐỐI (RSI – RELATIVE STRENGTH INDEX)

Chỉ số sức mạnh tương đối (RSI) là một trong những chỉ báo dao động phổ biến nhất. RSI khác với khái niệm Sức mạnh tương đối - Relative strength. Sức mạnh tương đối so sánh sức mạnh tương đối của cổ phiếu, hoặc một nhóm nhỏ các cổ phiếu, với sức mạnh của ngành hoặc của chỉ số thị trường chung như Dow Jones hay S&P 500.

Tính toán chỉ số RSI

Chỉ số RSI so sánh sức mạnh tương đối của các đợt tăng giá với đợt giảm giá trong một khung thời gian nhất định. Chín và mười bốn ngày là hai khung thời gian được sử dụng nhiều nhất. RSI được tính toán bằng cách so sánh phần giá lên của những phiên tăng với phần giá mất vào những phiên giảm trong một khoảng thời gian cho trước. Việc tính toán phụ thuộc vào giá đóng cửa. Công thức là:

Do đó, tính toán RSI14 ngày bao gồm cộng tổng phần tăng trong những ngày tăng suốt 14 ngày (dựa trên việc so giá đóng cửa với nhau) và chia cho 14. Tính tương tự cho những ngày giảm. Các số liệu này cung cấp giá trị của sức mạnh tương đối - RS. RS này sau đó được đưa vào công thức tính RSI. Công thức RSI này chuyển đổi dữ liệu của RS để nó trở thành một chỉ số có phạm vi từ 0 đến 100.

Sử dụng RSI

Hai ứng dụng chính của RSI là chỉ báo quá mua/quá bán và là công cụ để theo dõi phân kỳ.

Là một chỉ báo quá mua/quá bán, chi số RSI cho biết thị trường ở trạng thái quá mua nếu nó lên phần trên của dải dao động (nghĩa là trên 70%). Tại thời điểm đó, thị trường dễ kéo ngược hoặc chuyển sang giai đoạn tích lũy. Ngược lại, ở phần dưới của dải RSI (thường dưới 30%), nó phản ánh tình trạng quá bán. Trong môi trường như vậy, có khả năng xuất hiện nhịp giá do mua lại vị thế bán khống.

Là công cụ theo dõi phân kỳ, tính toán RSI rất hữu ích khi giá tạo đỉnh cao mới trong nhịp tăng nhưng RSI lại không thể tạo ra mức cao mới. Điều này được gọi là phân kỳ âm và là tín hiệu tiêu cực tiềm tàng. Phân kỳ dương xảy ra khi giá tạo đáy mới, nhưng RSI thì không. Phân kỳ có ý nghĩa hơn khi RSI nằm trong vùng quá mua hoặc quá bán.

Trong Hình 14.1, nửa sau Tháng 11 có kháng cự gần 58 đô la. Khi Albertson’s vượt qua ngưỡng này với nến trắng thân dài ngày 01 tháng 12, ta có thể dùng nguyên tắc Đổi cực để chuyển kháng cự trước đó thành hỗ trợ mới. Giá lưỡng lự ở tuần ngày 14 tháng 12, nhưng chuỗi bóng nến dưới thân dài cho thấy cổ phiếu có nền giá tốt ở gần 62 đô la. Nhịp tăng tiếp tục vào ngày 21 tháng 12, chững lại với mẫu hình Mây đen bao phủ. Khi cổ phiếu tạo mẫu hình Mây đen bao phủ ở đỉnh giá mới, RSI đang quá mua và hình thành tín hiệu phân kỳ âm. Cụ thể, giá cổ phiếu ở 2 cao hơn 1, nhưng RSI ở 2 lại thấp hơn 1. Mẫu hình Mây đen bao phủ nói trên trở thành kháng cự khi được xác nhận bởi một mẫu hình Mây đen bao phủ khác vào ngày 10 và ngày 11 tháng 01. Mẫu hình Xuyên thấu giữa Tháng 01 ở P hình thành trong tình trạng quá bán (đo bởi RSI).

Image

Hình 14.1: Albertson’s, Đồ thị ngày (RSI)

Sự hội tụ của phân kỳ âm và mẫu hình Mây đen bao phủ củng cố tín hiệu tiêu cực tiềm năng của Mây đen bao phủ. Đường xu hướng cũng có thể được dùng trên RSI. Nó được thể hiện bằng đường đứt nét trên chỉ báo dao động. Hãy chú ý là khi đường hỗ trợ dốc lên bị xuyên thủng, lại có thêm một tín hiệu tiêu cực nữa.

Khái niệm chủ đạo với đồ thị nến là bức tranh kỹ thuật tổng thể quan trọng hơn một cây nến đơn lẻ. Ta phải luôn quan sát nến hoặc mẫu hình nến trong bối cảnh thị trường.

Trong Hình 14.2, có hai mẫu hình Nhấn chìm tăng ở 1 và 2 (mặc dù giá mở cửa của nến trắng trong mẫu hình giống với giá đóng cửa của nến đen, ta vẫn chấp nhận đây là mẫu hình Nhấn chìm tăng vì giá mở cửa và đóng cửa của sàn Forex là như nhau). Mẫu hình Nhấn chìm tăng ở 2 quan trọng hơn ở 1 vì mẫu hình 2 được xác nhận với phân kỳ dương. Ở mẫu hình 1, RSI tiếp tục đà giảm khi cổ phiếu tạo đáy mới. Nó khiến cho động lượng tiêu cực giữ nguyên.

Image

Hình 14.2: Bảng Anh, Đồ thị ngày (RSI)

ĐƯỜNG TRUNG BÌNH ĐỘNG DAO Đ ỘNG (MOVING AVERGAGE OSCILLATOR)

Tính toán đường trung bình động dao động

Chỉ báo này có được bằng cách trừ đường trung bình động ngắn hạn cho đường dài hạn. Nó có giá trị cộng hoặc trừ. Do đó, giá trị trên 0 có nghĩa là đường trung bình động ngắn hạn cao hơn đường dài hạn. Chỉ số dưới có nghĩa là trung bình động ngắn hạn nhỏ hơn trung bình động dài hạn.

Sử dụng đường trung bình động dao động

Khi sử dụng chỉ báo dao động này, chúng ta đang so sánh động lượng ngắn hạn với động lượng dài hạn. Điều này là do đường trung bình động ngắn hạn phản ứng nhạy với giá hơn. Nếu đường trung bình động ngắn hạn tương đối xa phía trên (hoặc phía dưới) so với đường trung bình động dài hạn, thị trường được cho là quá mua (hoặc quá bán). Cũng như các chỉ báo dao động khác, đường trung bình động dao động cũng được sử dụng làm phương tiện phát hiện phân kỳ. Khi giá tăng, nhà phân tích kỹ thuật muốn thấy đường trung bình động ngắn hạn cao hơn so đường dài hạn. Điều này có nghĩa là tăng giá trị dương cho đường chênh lệch trung bình động. Nếu giá tăng và chênh lệch giữa các đường trung bình động thu hẹp, thị trường đang chỉ ra rằng đà tăng ngắn hạn sắp “hết hơi”. Trong tuần đầu tiên của Tháng 5 tại Hình 14.3, Eurodollar đã hình thành mẫu hình Nhấn chìm tăng tại B. Sau một đợt tăng nhỏ từ mẫu hình này, thị trường đã rút lui và tìm thấy sự hỗ trợ, như dự đoán là ở điểm thấp nhất của mẫu hình Nhấn chìm tăng. Không chỉ vùng hỗ trợ được bảo vệ bằng nến Búa ngày 19 tháng 5, mà còn có sự phân kỳ dương khi Eurodollar tạo ra đáy mới trong khi đường trung bình động dao động tạo ra đáy mới cao hơn với nến Búa. Khi thị trường đã đẩy lên trên 0.9200 từ nến Búa, điều này đã xác nhận mẫu hình hai đáy được tạo ra với hai đáy tại mẫu hình Nhấn chìm tăng và nến Búa. Như sẽ được thảo luận trong Chương 16, chúng ta có thể sử dụng một sự bứt phá từ phạm vi giao dịch 0.350 (tức là từ 0.8850 đến 0.900) để cung cấp cho chúng tôi mục tiêu hướng tới 0.95050 (có được bằng cách thêm phạm vi giao dịch 0.350 vào điểm bứt phá ở 0.9200).

Image

Hình 14.3: Eurodollar/US— Đồ thị ngày (Đường trung bình động dao động)

Ở Hình 14.4, Catalina đã tăng dần theo một đường kháng cự hướng lên. Trong tuần lễ ngày 13 tháng 07, mặc dù cổ phiếu đang lơ lửng gần đỉnh hiện tại của nó, một loạt các thân nến nhỏ cho thấy đà tăng đã bị phe bán kìm hãm. Sự do dự ở gần 56 đô la không phải là điều bất ngờ khi một mức kháng cự đã được xác định vào cuối Tháng 04. Bây giờ chúng ta hãy chuyển sự chú ý đến đường trung bình động dao động. Vào thời điểm các thân nến nhỏ nói trên ở giữa Tháng 07 cũng đang có một sự hội tụ tiêu cực. Do đó, chúng ta có một ví dụ kinh điển về sự hội tụ ở mức 56 đô la. Cụ thể: (1) cổ phiếu đã ở vùng kháng cự dựa theo đường kháng cự hướng lên và đỉnh giá Tháng 04 trước đó, (2) một loạt các nến thân nhỏ cho thấy thị trường tách khỏi xu hướng tăng của nó, và (3) phân kỳ âm. Nếu chúng ta cần thêm bằng chứng cho thị trường đang gặp khó khăn, nó đã xuất hiện với một Cửa sổ giảm (ở mũi tên) trở thành kháng cự.

« Lùi
Tiến »