VẠN XUÂN

Lượt đọc: 8095 | 4 Đánh giá: 10/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 4

Sau cái đêm kinh hoàng được người học trò với gương mặt co rúm vì cuồng nộ và sợ hãi đến báo tin Tiểu Mai bị giết, Nguyễn Trãi hy vọng công việc bù đầu sẽ làm chàng nguôi ngoai đi, nhưng rồi vẫn không thể nào nguôi ngoai được, Trãi đành tản bộ bước ra ngoài đi đây đó.

Trãi không dám oán giận ai vì chàng cảm thấy mình có trách nhiệm trong vụ này: Nụ Nhài thì không tin tưởng Trãi còn Trãi thì lại chẳng tín nhiệm Tiểu Mai. Cái chết của nàng, một hành vi phản kháng đầy táo bạo và anh dũng là chính Trãi đã khơi lên vào sáng mùng chín tháng chín khi chàng xua đuổi Khiết đi với những lời cáo buộc nặng nề, và đã lỗi lầm xúc phạm họ một cách không cứu vãn, khi từ chối không nhận món quà của họ. Định mệnh đã ấn định ngày giờ xảy ra sự cố ấy, còn cô hầu bé nhỏ (Nụ Nhài) dù sao cũng chỉ là một công cụ, cũng chính là định mệnh đã an bài để cho nhân chứng duy nhất sống sót sau cuộc tàn sát trực tiếp đến loan tin cho Trãi hay. Giả như không có Khiết thì chắc hẳn Trãi sẽ nhận được những nguồn tin kỳ quái lắm rồi. Trong biến cố bi đát này có những dấu hiệu khiến Trãi cho rằng sớm muộn gì cái chết ấy cũng sẽ đè nặng lên cuộc sống chàng…

Trãi nhớ lại thời gian hạnh phúc chàng cùng Mộng Tuân và Lý Tự Tân vui vầy yến tiệc. Con thuyền hình rồng cũ kỹ khua mái lặng lẽ, ánh trăng luồn qua mái thuyền ve vuốt tấm thân nõn nà bốc lửa của người đẹp Hoa Hậu. Đêm dịu ngọt đó trôi qua cách đây thế mà đã 20 năm rồi... Than ôi, quá khứ đã qua rồi. Đại bàng không được phép vỗ cánh còn kên kên thì tha hồ tung bay! Thời gian hiện tại không dành cho nhớ nhung và cũng không còn dành cho việc suy tính trước giờ hành động nữa mà phải dồn cho hành động cấp bách. Không ngồi yên được nữa, Trãi liền bảo Nụ Nhài đưa chàng tấm áo kép rồi bước ra ngoài.

Phía trên hồ Vân Hồ, đàn cò đang tung cánh. Làn gió lay động mái lá của túp lều cũng uốn cong dãy tre mé bờ sông. Trãi đưa tay sửa chiếc khăn cột đầu theo dạng kỳ quái của chàng và khép hai vạt áo lại. Bước chân trong bầu khí tinh khiết của buổi sáng mùa đông lạnh lẽo này làm chàng cảm thấy dễ chịu. Để qua mắt tên mật thám lúc nào cũng bám sát theo mỗi lúc chàng ra khỏi nhà, Trãi ngang nhiên bước vào con đường dẫn tới Văn Miếu cạnh đấy, nhưng sau đó chàng liền băng qua khu vườn quanh nhà, rẽ sang lối gần đường Hàng Cỏ rồi bước tiếp tới những con đường đông người cách ngọn tháp Báo Thiên không xa. Những con đường này dẫn chàng đến hồ Lục Thủy, sau đó tình cờ ngoài ý muốn, Trãi lại chuyển sang đường Hàng Sứ rồi bước lên phía hướng chợ Phường Bạch Mã. Trãi định tìm kiếm cô bán hàng duyên dáng để mua một chén trà uống và rồi chàng thật không ngờ mọi người đều đã hay biết về những sự cố bi đát xảy ra đêm đó.

Trãi thầm nhủ: té ra là ai cũng biết cả rồi.

Ở đây, cũng như khắp nơi trong Đông Quan, tin tức về cuộc thảm sát toàn bộ đám ca nhi đều ở trên đầu môi chót lưỡi mọi người. Người ta tin rằng máu các nạn nhân phọt ra từ bàn tiệc như một cơn lũ không thể nào ngăn lại được, dòng máu đã chạy dọc bờ sông Tô Lịch, băng qua con đường cây Hòe nhầy nhụa, tủa ra hàng ngàn nhánh tuôn vào khắp mọi ngõ ngách trong thành, lan tận cửa ngõ các phường, các cửa tiệm, bọc vòng qua các rào chắn, né tránh lũ chó đánh hơi máu để tiếp tục lan khắp, hùng hồn cảnh cáo mọi người, đồng thời công bố lên: "Đây là tác phẩm của lũ Tàu đó!". So với những cuộc tàn sát dưới bầu trời Đại Việt này, thì đây chẳng phải là cuộc đầu tiên cũng chẳng phải là cuộc cuối cùng. Tuy nhiên tài năng, sắc đẹp và tuổi trẻ của các cô gái này từ đầu vẫn được lòng quân giặc, kèm theo sự ám sát một viên chức Tàu cao cấp đã khiến cho mọi người xúc động, một số người thì khâm phục, số khác thì kinh hãi. Dù sao thì ai ai cũng đang bàn tán xôn xao.

Phía trên những chùm cá khô, những bó miến sợi, những mớ rau giá, những chum, những chồng lá trầu, những tô cháo hay những chén chè, những kẻ bán hàng đua nhau trao đổi những cảm nghĩ của mình, thỉnh thoảng họ dừng lại, phun toẹt ra tia nước trầu đỏ loét:

- Không một cô nào thoát hết!

- Cả cái đám nhà bếp ồn ào đó giờ đây cũng đã về chốn suối vàng hết rồi!

- Trừ một tên! Người ta bảo là hắn nhảy xuống sông trốn thoát!

- Trừ phi lũ Tàu đã ném hắn xuống nước cùng với những người khác rồi.

- Đúng là một người phụ nữ sắt thép, gan hùm!

- Cô ấy vừa đâm thủng bụng thằng Tàu vừa ca hát đấy!

- Bà chẳng biết gì ráo! Cô ấy vừa ghim dao găm vào bụng hắn vừa nói: "Cái này đang chờ tất cả tụi bay đấy". Tôi mà thêu dệt tôi chết không nhắm mắt! - Một bà già lên tiếng. Lập tức có tiếng đáp lại:

- Thôi đi mẹ! Sự thật không hoàn toàn như vậy đâu!

Người vừa lên tiếng là một gã đàn ông còn trẻ, búi tóc màu đen, gương mặt vừa giảo hoạt vừa mơ mộng. Gã ôm theo chiếc đàn tỳ bà, bầu rượu và túi thơ là những món dành riêng cho các nghệ sĩ lang thang, là các "Lãng tử giang hồ". Gã tiếp tục nói trong khi mọi người đều ngưng bán hàng, ngồi chồm hỗm quanh gã để nghe.

- Lúc đó, tớ đang ngủ trong một chiếc tam bản ở bờ sông Tô Lịch. Tớ có thể nói với quý vị là tớ đã tận mắt nhìn, đã chính tai nghe... - gã dừng lại một chút. Bao nhiêu cổ ngóng lên, bao cặp mắt long lên nhìn gã chằm chằm... đoạn gã tiếp - Nàng Hoa Hậu ấy không phải là một nhân vật bình thường. Quý vị hiểu ý tớ chứ, tớ không nói về hành vi hiện đang làm tất cả quý vị đều cảm khái, tức là nhát dao chí tử mà cô ấy đã đâm vào thằng cha Từ Cảnh, cố vấn quân sự của tướng Lữ Nghị, một cách bình tĩnh hiếm thấy, điều tớ muốn nói là về chính bản chất con người của cô ấy kìa. Quý vị có hiểu không nào? Vừa nói gã vừa chằm chằm ngó từng khuôn mặt đang say sưa theo từng lời gã nói. Hẳn quý vị từng biết câu chuyện nàng tiên dệt cửi lấy chàng ngưu lang, và câu chuyện nữ thần Thượng Nguyên theo chàng Phong Trắc giáng trần rồi chứ? Phẩm chất các nữ thần này tinh tuyền như gương như ngọc. Xác thân họ thuộc về chốn Thiên Cung. Tên tuổi họ được khắc chạm vào tháp vàng. Mặc dù thỉnh thoảng một Thánh mẫu hoặc một tiên nữ nào đó bị đày xuống trần gian và trái tim họ bị dơ bẩn vì những uế tạp của hồng trần chúng ta vì những lý do vượt qua tầm hiểu biết nghèo nàn của con người... Thôi chúng ta hãy trở lại từ đầu. À lúc đó tớ đang nằm ngủ giữa những đám cói ven sông thì chợt những tiếng kêu man rợ vang lên khiến tớ thức giấc. Đằng kia, phía sau các bức mành màu hồng sáng rực, tớ thấy có những bóng đen giẫy giụa rùng rợn. Thế rồi tấm màn lại bỗng chốc vẹt ra một cách thô bạo và tớ thấy có một vật gì đó rơi tỏm xuống nước. Tớ vội cúi người và bỗng nhìn thấy một chiếc kiệu hoa nổi lên trên sóng nước... - Với vẻ khoái trá, gã đưa cặp mắt mơ màng sống lại khung cảnh tiên nữ hiện ra mặc cho đám thính giả xung quanh đang run lên vì sốt ruột. Đoạn gã tiếp - Bên trong chiếc kiệu ấy là nàng Hoa Hậu, theo sau nàng là một đám rước khoảng độ năm mươi tiên nương và Nữ Thần búi tóc bằng mây, áo quần bằng lụa mỏng. Một số đến từ phương Bắc, cưỡi rồng vàng không sừng, số khác tuôn đến từ phương Nam trên những con rồng tía có sừng màu đỏ. Số thì ngồi trên những kiệu ngọc, số khác đi trong những cỗ xe lưới gió. Dưới ánh trăng, đám tơ lụa, gấm vóc trâm thoa tỏa sáng, cờ quạt nhấp nhô chờn vờn bay lên trong khi một điệu nhạc thiên thai êm dịu vọng vào tai tớ...

Nhìn thấy tớ từ đằng xa, nàng Hoa Hậu liền bảo: "Ta là con gái nữ thần Linh Phi thuộc động Rùa, vì ta phạm lầm lỗi, nên Ngọc Hoàng đã đày ta xuống trần gian này khoảng 30 năm. Ta sắp trở về lại Tinh Điện để chu toàn phận vụ của ta ngày xưa. Ta đã trả xong oan trái và từ đây sẽ không còn trở lại trần gian nữa. Vĩnh biệt nhé". Thế rồi ngay trước mắt tớ, nàng Hoa Hậu và các tiên nữ theo nàng, từ từ, từ từ biến mất...

Đám thính giả say sưa mê mẩn nhìn "Lãng tử Giang Hồ" đốt điếu thuốc lào, chờ nghe gã kể tiếp câu chuyện nào đó nữa.

Trong lúc bước ra xa, Nguyễn Trãi chợt nhận thấy cách mình vài bước, cái gã nhà quê còn trẻ đang đi quả quyết, mà lần nọ đã từng theo chàng đến con lộ nơi Hoàng Phúc hẹn gặp.

Dưới đôi chân mày rậm tia nhìn thẳng và sắc như ngọn nước, gã ta chớp mắt. Chắc hẳn đây không phải là khuôn mặt của tên mật thám của quân Tàu. Tuy nhiên Trãi vẫn quay đi tiếp tục cất bước.

Xung quanh cô bán trà xinh đẹp, mọi người cũng đang ồn ào bàn tán. Vừa nhận ra Trãi, cô ta vội xách bình trà chạy tới vồn vã.

- Ồ! Vui biết bao được gặp ngài Ngự sử. Sau biến cố ngày hôm nọ, - vừa nói cô vừa đỏ mặt - cháu cứ sợ không bao giờ gặp lại được ngài. Hình như có điều gì xảy ra nơi các ca nhi ấy. Ngài có biết không? Từ sáng hôm ấy đến nay chẳng thấy ai nói điều gì khác ngoài chuyện ấy cả.

Giữa đám người lông nhông vẫn còn có có ông già với cặp mắt cú vọ, lão la lên át cả mọi tiếng ồn:

- Kìa! Một kẻ thuộc giới quần thoa, trâm cài, mà lại có tâm hồn dũng cảm biết bao! Đám mày râu còng mình khoanh tay trước lũ quân Ngô không lấy đó mà chết thẹn đi cho rồi! Bắt đầu là thằng chó Đề đốc Trình ấy, tổ cha tổ mẹ hắn! - Vừa chửi lão vừa nhổ văng nước bọt.

- Khẽ chứ ông nội - một giọng khác vọng lên.

Lão già vẫn cứ đôm đốp, đôm đốp tỉnh bơ rủa xả như cối xay lúa, cái mặt nhăn nheo vừa già cỗi vừa như đứa trẻ, cứ co rúm lại. Trút cơn giận lên đám giặc Tàu còn làm say sưa hứng khởi hơn uống cả một tách rượu. Chỉ trừ có lưỡi dao lạnh ngắt kề cổ, ngoài ra không gì bịt miệng lão ta lại được.

Nguyễn Trãi vừa nhấm nháp trà vừa suy nghĩ: Không hiểu có phải lão này đã khuyên chàng muốn sống còn thì hãy trốn lên núi mà ở không? Biến cố vừa qua đã lôi nhiều người ra khỏi cuộc sống thường nhật khốn khổ của mình. Họ trở thành anh em của người con gái mà mới hôm qua chỉ là một con điếm thối tha bán thân cho lũ Tàu, một con "đĩ ngựa" để cho hàng ngàn người dày xéo lên. Ấy thế mà chính nàng đã cả gan dám làm điều anh dũng đó. Vị nho sĩ đưa mắt quan sát những khuôn mặt xung quanh chàng. Quả là chàng đã quá khắt khe với Khiết. Nếu hành vi anh dũng ấy chưa đủ là câu trả lời thì ít ra nó cũng có tác dụng đặt ra những vấn nạn, và thức tỉnh dân chúng. Nhưng mà rồi sẽ được bao lâu?

Từ lúc ngồi riêng ra một mình, Trãi cảm thấy thiên hạ đang quan sát mình. Tuy nhiên sau đó các tia nhìn lại hướng về ông lão lúc nãy. Trong lúc bàn về tên Bố Chính Hoàng Phúc, ông lão vừa phát minh ra được một kiểu nói mới gán cho tên này: "Hắn quá lo âu đến nỗi quên béng con voi của hắn".

Nghe thế, mọi người đều cười ầm lên. Ai nấy đều mường tượng trong đầu những tiếng rống của chú voi Vijaya vì ông chủ sáng nay đã quên không đến thăm nó.

- Này! Nếu tên Hoàng Phúc cứ lơ là như thế nhỡ con voi ấy chết mất thì sao? Lấy ai làm cố vấn cho hắn đây?

Một mụ già chu miệng lên nói:

- Cái con đĩ mà Hoàng Phúc say đắm ấy chứ còn ai!

Mụ già thứ hai lại chêm vào:

- Con điếm ấy khéo ve khéo vuốt tên Hoàng Phúc đến nỗi hắn chẳng còn muốn cưỡi trên con đàn bà nào khác nữa!

- Chắc chắn con ấy cho hắn ăn máu dơ của nó rồi.

Ông lão liền chõ miệng chế giễu: "Thế thì không phải người ta vẫn thường nói đến "quyền năng của chiếc gối" đó sao?"

Nguyễn Trãi chợt khám phá ra khuôn mặt gã nông dân trẻ tuổi lộ ra sau một đám đông lố nhố. Mỗi mình gã là không cười đùa trước những câu nói thô bỉ trên. Gã nghiến chặt quai hàm như đang cố đè nén những cảm xúc dữ dằn bên trong và đăm đăm nhìn chàng nho sĩ. Khi vị này trả tiền đứng lên, bước đi, gã cũng vội bén gót theo sau.

Cả hai vừa đi được vài bước, thì như một tiếng sét ngang trời xanh, trước khi đám đông kịp giải tán và ngậm miệng lại, lũ lính gác Tàu đã xuất hiện. Chúng chĩa giáo vào tận hông và kề dao vào cổ ông lão nọ. Lão ta liền tru tréo lên thấu trời: Sau đám đàn bà, con gái, bây giờ tụi bay đụng đến cả người già cả nữa hả. Đồ không biết nhục! Đồ rùa đen ti tiện! Dải khăn vấn đầu của lão già rơi xuống đất, búi tóc trắng sổ ra, lão há hốc miệng rống lên. Bước nhanh tới khoảng ba bước. Nguyễn Trãi liền xen vào và nói bằng tiếng Tàu:

- Các anh làm gì mà phải sợ lão ta? Bộ lão ta hăm đọa Đại quốc Trung Hoa à?

Nhìn cảnh tượng lão già xõa tóc đang được người đàn ông có khuôn mặt đẹp và nghiêm nghị bảo vệ, đám đông lúc nãy run rẩy câm nín như tờ, giờ đã được hoàn hồn.

Đồng loạt, họ xích lại gần nhau, lố nha lố nhố như một mảng lưới sinh động gồm đủ nam phụ lão ấu nườm nượp đến từ tứ phía. Họ chuyền những ngọn giáo bằng tre - có trời mà biết từ đâu ra - những lưỡi liềm, những con dao từ hàng cuối lên đến những hàng người trên cùng. Như con rắn cuốn chặt con mồi trước khi siết chết, như con cọp nhún mình trước lúc lao tới, đám đông cũng trườn tới theo một nhịp điệu hầu như đã được điều chỉnh từ thuở đời đời vậy. Những đôi mắt tóe lên niềm căm phẫn, những nét mặt quả cảm, những bàn tay nắm chặt khí giới xem ra chẳng hề biết run sợ. Để phá vòng vây, đám lính Tàu liền hét lên những tiếng kêu man rợ. Trong cuộc xô xát tiếp sau đó, tụi lính này buộc phải tách nhau ra và để xổng mất ông lão vừa bị bắt đã dễ dàng tẩu thoát. Trong lúc đó, một bàn tay chắc nịch kéo Nguyễn Trãi lùi về phía sau ra khỏi đám đông.

Không ai khác ngoài gã nông dân trẻ nọ.

- Thưa Tôn sư, không ích gì đưa thân dây vào thêm nữa! Nhờ ngài, lão già ấy đã có thể thoát được rồi. Chúng ta không nên nán lại đây.

- Tại sao bạn cứ theo ta thế? Bạn muốn gì ở ta? - Vị nho sĩ vừa hỏi vừa đưa cặp mắt thiện cảm nhìn chàng nông dân.

—★—

Nhờ đám mật vụ, ngay từ sáng sớm, Bố Chính Hoàng Phúc đã được thông báo về những biến cố xảy ra trong đêm. Vô cùng giận dữ, hắn cứ đi lại quanh quẩn từ phòng này sang gian khác khắp nơi trong nội dinh.

Trong lúc tình hình an ninh đang mở rộng khắp miền Nam: Trần Quý Khoáng đã bị đẩy lùi và chẳng bao lâu cái tên Trương Phụ hợm hĩnh sẽ trở về khoác đầy vinh quang, thế mà số phận tồi tệ nào lại để cho câu chuyện tệ hại kia rơi xuống trên lưng hắn như thế? Một cuộc sát hại đã phạm đến thân thể một người Tàu mà lại là một nhân vật cao cấp vào hạng kế cận của vị thống tướng mới chết chứ! Không hiểu vì thói dâm ô bẩn thỉu nào hắn lại chui đầu vào cái nhà thổ ấy trong khi hắn có thể tha hồ với bọn điếm ấy vào hoàng thành mà vẫn an toàn tuyệt đối có sao đâu.

Hoàng Phúc căm giận về cái chết của những kẻ đã bị giết, trong số đó y hắn căm nhất là con bé Hoa Hậu vì vốn chỉ là một con điếm, nhưng từ nay nó sẽ trở nên là một anh thư kháng chiến lừng danh. Hoàng Phúc đã như thoáng thấy con báo Trương Phụ thế nào cũng sẽ giảng cho hắn một bài học. Hắn cảm thấy như muốn trào gan sổ ruột, đáng lẽ ra hắn ta đang được sống an nhàn mới phải. Trong lúc tên tướng già cả đần độn kia vẫn phải lo rong ruổi chinh chiến ở mạn Nam, thì hắn lại được tháng ngày hưởng lạc bên cạnh chú voi Vijaya và Hương Thầm!

Nghe tiếng Hoàng Phúc đi qua đi lại phía bên kia bức vách, Hương Thầm liền vội xuất hiện trên ngưỡng cửa. Nàng để buông lơi mái tóc và trên người chỉ mặc mỗi chiếc áo ngắn bằng vải mỏng sặc sỡ các màu vàng, màu xanh lơ và xanh lục với chiếc quần màu vàng nghệ có thêu những đóa hoa rải rác. Hơn bao giờ hết, trong cách ăn mặc kỳ cục như thế, Hương Thầm lại trông giống như một chú bé đẹp mê hồn.

Nàng lên tiếng hỏi:

- Điều gì khiến Đức ông của thiếp day dứt than vắn thở dài vậy? Có thể cho tiện thiếp của Ngài biết lý do chăng? - Hương Thầm nói với vẻ ngây thơ dịu ngọt và lôi cuốn không thể cưỡng nổi.

- Ái thê yêu dấu - Hoàng Phúc đáp - hãy lại gần đây và chúng ta hãy ngồi xuống cạnh nhau. Trời cao đã phái nàng đến để làm dịu lòng ta đó.

Kể từ nhiều mùa trăng rồi, Hoàng Phúc không thể giấu Hương Thầm điều gì cả, vì thế hắn đã tường thuật mọi việc cho nàng rõ. Hương Thầm đã học nói tiếng Tàu rất nhanh. Nàng lắng nghe hắn nói, đôi chân mày thanh mai nhíu lại. Sau một hồi suy nghĩ, nàng bắt đầu lên tiếng:

- Hiện giờ thì Tướng công đang bầm gan tím ruột nhưng ngay khi tâm hồn lắng dịu xuống, chắc chắn Tướng công sẽ tìm ra được kế sách để chiếu rọi lên sự việc dưới một ánh sáng mới. Ngay lúc này, tại sao Quân vương của thiếp lại không cho các gia đình thân nhân kẻ chết được phép an táng các xác chết đi để nghi lễ được tôn trọng? Như thế sẽ làm nguôi dịu lòng người đồng thời tăng thêm lợi ích cho ngài bởi vì điều này minh chứng lòng bao dung của ngài trong khi mà dân chúng cứ ngỡ rằng sẽ có những cuộc trừng phạt khốc hại.

Hoàng Phúc lặng lẽ quan sát Hương Thầm. Trong nhiều dịp trước, cô bé tinh khôn này từng biết cách dùng những lời khuyên giải tuyệt vời trấn an hắn. Sự tinh tế trong lập luận kèm theo sự hiểu biết về nhân tình thế thái nơi cô bé còn quá trẻ và chưa mấy kinh nghiệm này khiến Hoàng Phúc sửng sốt. Về vấn đề Nguyễn Trãi, cô bé rất mau chóng hiểu rằng chỉ vì có cuộc đánh cá mà đích thân Hoàng Phúc đã thách thức với Trương Phụ, cũng như chỉ vì sự khăng khăng từ chối của vị nho sĩ mà cái đề nghị hợp tác cùng nhau mới mang lấy một tầm quan trọng nào đó! Với sự lịch lãm khôn ngoan như một khanh sĩ già, Hương Thầm gợi cho Hoàng Phúc những phương cách làm giảm thiểu tối đa tầm quan trọng của sự việc ấy! Một đằng, hắn chỉ cần xác nhận với vị thống soái là tính chất gàn bướng cũng như phong cách và lối phục sức kỳ quái của vị nho sĩ không cho phép hắn sử dụng ông ta, và mặt khác dẹp bỏ được cái lý do khiến Trãi tự lấy làm cao ngạo cũng như khiến chàng được quần chúng đề cao, tức là việc chàng ta từ chối không chịu hợp tác. Để đạt được điều này, trước hết phải ngưng quấy rầy Trãi và cứ bỏ mặc y cho số phận khốn khổ của y. Như thế không phải là hay sao? Sự chín chắn của Hương Thầm luôn luôn làm Hoàng Phúc thán phục. Óc phán đoán đúng đắn của nàng làm nổi bật khuyết điểm nơi đám quan lại cộng sự. Đám này chỉ là một lũ nịnh hót, ngoại trừ tay Đề đốc Trình. Hương Thầm lên tiếng:

- Thế Đức ông không nghĩ rằng đó là một cao kiến hay sao?

Cặp mi dài của nàng vờ hỏi thế thôi, chứ nàng thừa biết mình đã chạm đúng chỗ và nàng nén lại nụ cười đắc thắng khi nghe Hoàng Phúc trả lời:

- Ái thê vừa xinh đẹp như Tây Thi vừa khôn ngoan như Nàng Quắc đời Đường! Ta sẽ lưu ý đến đề nghị đúng đắn của nàng.

Ngay lúc đó có người vào báo tin Lữ Nghị tướng công và Đề đốc thành Đông Quan yêu cầu được tiếp kiến. Vào lúc phải từ giã Hương Thầm để đi hội kiến tại điện Thiên An, Hoàng Phúc kéo sát nàng lại bên mình. Vừa ôm nàng vào lòng, lập tức Hoàng Phúc cảm thấy Hương Thầm mềm lả người, tựa như thân thể nàng không còn xương cốt nữa mà chỉ toàn là da thịt mịn màng êm dịu khiến hắn bị kích thích không khác gì con chuột đang đói. Thế là Hoàng Phúc bắt đầu hồn xiêu phách lạc đến nỗi cố gắng lắm hắn mới buông nổi Hương Thầm ra được và rời khỏi nàng, lòng hắn cảm thấy vẫn còn thèm thuồng tiếc rẻ.

Đứng trước thi hài của tay cố vấn quân sự, được bí mật mang về kinh thành và đặt vào trong cỗ quan tài, tên tướng Lữ Nghị chu tất một màn than vãn khóc lóc theo đúng nghi thức. Tên Từ Cảnh này là kẻ từng kết hôn với người em thứ ba của Lữ Nghị cho nên hắn vừa là bà con vừa là người cộng tác kề cận của Lữ Nghị. Vì thế, mắt mũi rối bời và lòng đầy phẫn uất, Lữ Nghị đến diện kiến Bố Chính Hoàng Phúc, theo bén gót hắn là tên Đề đốc Trình.

Thảm họa ấy to tát đến thế nào tên Đề đốc đã quá rõ. Nếu quả là có một cuộc âm mưu tạo phản và bằng chứng đã quá rõ ràng rồi, thì làm thế nào Thượng cấp lại không khiển trách hắn về sự thiếu hiệu năng. Một câu chuyện xảy ra như thế có thể khiến tên Đề đốc bị mất đi chỗ đứng mà hắn đã tậu được sau biết bao năm nhiệt tình cúc cung phụng sự bè lũ xâm lược này. Vừa đập đầu xuống đất, hắn vừa tự nhủ đây là dịp ngàn năm một thuở để phô diễn tài năng khéo léo của hắn, tài năng của "Tay Trình" này!

Trong lúc tay Đề đốc Trình đang lo động não để tìm ra một giải pháp khéo léo thì tên tướng Lữ Nghị đòi buộc phải làm cho ra nhẽ. Ngay lập tức phải mở cuộc điều tra, bắt bớ giam cầm, moi tên xét tuổi nhiều người bởi vì dù sao đó cũng rõ là một âm mưu. Phải xét xử công khai, phải hành quyết hàng loạt, phải thẳng tay trừng trị. Bố Chính Hoàng Phúc thở dài, gương mặt mang đầy nét trang trọng. Hàm ria mép hắn rũ xuống.

Hắn tự nhủ "Dù có là Thống soái Trương Phụ thì chắc cũng không có cách ứng xử nào khác thế! " Tụi võ quan này tay nào cũng giống hệt nhau. Với loại người này tốt hơn hết là phải kiên nhẫn như sợi tơ luồn trôn kim mới được. Hoàng Phúc nói:

- Chắc hẳn đây là trường hợp nghiêm trọng liên quan đến vụ sát hại cá nhân một trong những người tôi trung và còn là chức sắc cao cấp của chúng ta. Trong sự cố thê lương não lòng này, nạn nhân lẫn kẻ sát nhân đều đã qua đời. Và thuộc hạ của ngài đã không dùng gươm để thanh toán dứt khoát vấn đề rồi đó sao? Theo tôi được biết thì không một ca nhi nào cũng như không một tay rửa chén rửa bát nào thoát chết...!

Tên tướng Lữ Nghị liền ngắt lời:

- Thì họ biết làm cách nào khác để trả thù cho bằng hữu của họ? Sai lầm là ở chỗ không để sống sót một đứa nào để bắt nó khai ra và nhờ đó sẽ nắm được căn rễ cuộc tạo phản này. Dù sao cũng nên tha thứ cho đám thuộc hạ, hành vi quá đáng lúc ấy chẳng qua chỉ là những kẻ đang say...

Nụ cười mềm mỏng lướt qua trên khuôn mặt Hoàng Phúc. Hắn nói với Lữ Nghị:

- Trong nhiều trường hợp trước đây ngài thực sự là người tinh tế và biết cân nhắc. Vậy trong trường hợp này, mong ngài cần phải hành động thận trọng để tránh những lời đàm tiếu...

Lần nữa, Lữ Nghị lại ngắt lời Hoàng Phúc, đôi chân mày nhíu lại, nét mặt hầm hầm:

- Lúc nào cũng dùng mẹo này, mưu nọ để rồi cuối cùng chúng ta chỉ làm nản lòng chiến sĩ. Chúng ta vô cùng mang ơn Thánh thượng đã cho chúng ta được có quyền cao chức trọng như chúng ta hiện nay, thế mà thay vì đáp lại lòng mong đợi của Hoàng đế, chúng ta lại bỏ mặc công lý qua một bên. Chẳng hiểu ngài đang áp dụng thứ thủ thuật chính trị nào đây mà tôi vẫn chưa nhận ra được sự cần thiết của nó.

Hoàng Phúc đấu dịu:

- Tiểu đệ hãy bình tĩnh nào! Nóng tiết lên như thế để làm gì! Hãy đến ngồi cạnh ta và chúng ta hãy cùng nhau suy nghĩ chín chắn, đừng để lòng vì quá đau đớn mà quyết định tầm bậy. Nè, quan Đề đốc, ông có đề nghị gì không?

Tên Trình vội đập đầu lia lịa xuống đất và thưa:

- Thưa quý Đức ngài đáng kính, nếu kẻ tôi hèn này được phép trình lên những lời hèn mọn cùng các ngài thì kẻ hèn xin thưa rằng một cuộc xét xử xảy ra sẽ làm xao động khác nào như rung chuông gióng trống loan báo khắp nơi - vừa nói hắn vừa liếc nhìn tên Bố Chính, vốn hoàn toàn đồng ý với hắn - Nếu làm cho vụ này lan đến tận các làng mạc của chúng ta, tiện chức e rằng điều này sẽ gây kích động khiến một số băng đảng phiến loạn. Thực ra đại đa số chỉ là quân thổ phỉ, nghĩ lầm rằng quyền lực Trung Quốc chưa thực sự được thiết lập như người ta tưởng và vì thế chúng sẽ tạo ra những xáo trộn mới trong khi việc bình định đang sắp sửa hoàn tất ở mạn Nam. Làm ầm lên xung quanh câu chuyện này có ích gì cho chúng ta đâu? Giả như cứ la toáng lên rằng có cuộc tạo phản và cuộc tạo phản ấy bị lật tẩy ngay giữa ban ngày thì cũng chỉ tăng thêm cho con ca nhi làm điếm thập thanh ấy cái tiếng anh thư và tăng thêm tầm quan trọng cho cuộc nổi dậy của gã con cháu cuối cùng của nhà Trần mà thực ra chúng nào đáng được như thế. Tiện chức dám nói lên điều này với tất cả tấm lòng chân thành. Những biến cố xảy ra đêm ấy đã lan truyền trong dân chúng Đông Quan. Hiện giờ đám dân này đang tán dương lòng can đảm của con nhỏ ca nhi và thương xót cho số phận thê lương của đồng bọn. Vậy - Tên Trình nói lên với lòng nhiệt tâm đầy giảo hoạt - cần phải bôi đen câu chuyện này đi, cần phải biến hành vi nổi loạn này thành ra một sự tranh chấp liên quan đến tiền bạc tầm thường, phải đổ bùn vào nước sạch và tiện thể vấy dơ lên một số người. Chẳng nhẽ tên nho sĩ Nguyễn Trãi không có liên quan gì đến con nhỏ Tiểu Mai ấy sao?

Hoàng Phúc liền la lên:

- Này ông Đề đốc, ta hoàn toàn đồng ý với những ý kiến ông nêu. Tiểu đệ, đó cũng là ý kiến của đệ phải không?

Trên khuôn mặt chành bành của tên tướng Lữ Nghị, sự nhượng bộ đau đớn từ từ thay thế cho cơn giận dữ. Dù muốn phản đối thế nào đi nữa, hắn cũng phải khép mình tuân theo lý lẽ của đại cuộc. Hắn buồn bã gật đầu.

Thế là sau khi được thảo luận và duyệt xét, kế hoạch của tên Đề đốc Trình đã được chấp thuận: Chúng sẽ phao lên rằng: Đó chỉ là một câu chuyện tầm thường liên quan đến việc ghen tuông và tiền bạc đã xúi con Hoa Hậu đâm ngài Từ Cảnh một nhát chí tử và rồi khi nghe lũ bạn con ấy la hét om sòm, đám tướng tá Tàu vì quá say không còn nhìn ra cái gì hết và đã gây ra những chuyện giết chóc sau đó. Chỉ cần trưng bằng cớ của cái tên duy nhất tẩu thoát được khỏi cuộc tàn sát ấy đưa ra, đó là sự hục hặc bất đồng giữa con ca nhi và ngài cố vấn về vấn đề thanh toán bữa tiệc. Trước một sự ăn khớp như thế, làm sao dân chúng còn có thể ngờ vực được nữa? Và chỉ cần mười ngày sau là con kỹ nữ nổi loạn anh dũng đó sẽ lại trở thành con điếm như trước và những bàn thờ ven dòng sông Tô Lịch sẽ không ai lui tới nữa rồi thì người ta cũng sẽ quên luôn cả sự cố ấy nữa là khác.

Hoàng Phúc lên tiếng ngỏ lời với tên Đề đốc lúc này đang lén nở một nụ cười kín đáo: "Về vấn đề tế lễ, ta đã quyết định trả những xác chết về cho gia đình họ".

Về câu chuyện này, viên Bố Chính có một suy nghĩ riêng tư.

Thế rồi, trong khi tên Trình chuẩn bị lựa chọn kỹ lưỡng các tay chó săn trung tín của y, tướng Lữ Nghị lo thu xếp tang ma và đưa thi hài về quê cha đất tổ bên Tàu thì Hoàng Phúc truyền lệnh đưa hắn đi nhanh về chiếc lều chú voi Vijaya.

Đây là lần đầu tiên Hoàng Phúc lơ là chú voi: dù Hoàng Phúc đã tỏ dấu xin lỗi chú ta bằng cách truyền mang đến cho chú khẩu phần phụ thêm về rượu Arak và mía, nhưng từ sáng sớm, tiếng la rống của chú liên tục làm điếc tai điếc óc cả thành phố. Ngay khi Hoàng Phúc cắt nghĩa cho chú voi ta những lý do khẩn thiết tức thì con Vijaya sẽ lắng dịu. Chỉ một mình con voi mới biết được bao nhiêu là nghi vấn đang dồn dập tấn công ông ta: nếu tinh thần hy sinh đã lan tới ngay cả tấm váy của một "con điếm" thì chẳng bao giờ bình định được cái đất nước này. Chẳng bao giờ vị Nguyên soái lừng danh Trương Phụ dẹp yên được cho đến cùng. Sau cái tên Quý Khoáng, thì sẽ là tên nào nữa đây? Vì vậy tên Bố Chính vội vã chạy đến cùng con voi là bạn tri kỷ của y và lúc y đi tới gần, thì con vật liền im lặng.

—★—

Một vài tuần trôi qua, và cùng với chúng, cái Tết đã mở đầu năm Canh Ngọ (1414) trong sự buồn tẻ.

Viên Đề đốc họ Trình vừa mới bắt đầu thu hoạch kết quả của cái chiến dịch tuyên truyền vu khống, thì cái tin về sự thất bại của Quý Khoáng tại miền Nam Thanh Hóa hầu như đã nhận chìm câu chuyện về cuộc tàn sát các cô ca nhi xuống tận đáy ký ức mọi người. Tiểu Mai đã hành động vì lòng yêu nước hay vì tư lợi, từ nay điều ấy không có gì là quan trọng, không còn ai lưu tâm đến nữa.

Sau một cuộc chiến đấu can trường bao nhiêu thì cũng vô hiệu bấy nhiêu, vị Hoàng thân, hậu duệ cuối cùng của nhà Trần đã bị đánh bại. Ông ta cùng các tướng Đặng Dung, Trần Mộng Dũ và Nguyễn Cảnh Dị chạy trốn sang đất Lào, thì đã bị người Lào bắt nộp cho quân địch. Đất nước đã bị chinh phục, hết đường cứu vãn. Tại các tỉnh phía Nam như Thuận Hóa, Tân Bình, Nguyên Soái Trương Phụ kiểm kê dân số, thiết lập guồng máy cai trị của Trung Hoa, xây đắp một hệ thống đồn ải dọc theo biên giới Chiêm Thành. Tiếp tục nối lại với cái chính sách chủ nghĩa đế quốc xa xưa, Trung Quốc một lần nữa lại áp đặt quyền bá chủ lên nước Đại Việt.

Sau khi đã khuất phục được cái đất nước ngoan cường ấy, công việc hiện tại là phải khai hóa nó.

Chính sách đồng hóa mà đế quốc phương Bắc chủ trương, có phần nào ngưng trệ vì các cuộc kháng chiến của những người con cháu cuối cùng của nhà Trần, nay lại tiếp tục với một nhịp độ nhanh hơn.

Nhân dân bị cưỡng bách phải quên đi quá khứ của dân tộc mình với các phong tục của cha ông. Họ phải học tập cách ăn mặc, nói năng, sống và chết theo kiểu người Trung Quốc. Phải thờ cúng các thần Sông, thần Núi, thần Gió, thần Mây và phải xây những ngôi đền cho các vị thần ấy. Trong guồng máy cai trị, người bản xứ chỉ được nắm giữ những chức vụ thuộc cấp thứ yếu. Vào cái năm 1414 ấy, tại các nhà trường được mở ra trên toàn lãnh thổ Giao Chỉ, người ta chỉ nghe tiếng các trẻ em ê a đọc Tứ thư và Ngũ kinh bằng chữ Hán. Hàng năm, mỗi quận được quyền có hai nho sinh, mỗi huyện thì chỉ được một. Các quan chức người Việt đành phải nhận những phần vụ của kẻ tôi đòi. Các tăng lữ thuộc đạo giáo đủ loại, bắt đầu tỏa ra khắp nẻo đường đất nước để truyền bá tôn giáo của chính quyền. Thuế điền thổ tăng lên gấp ba, mỗi mẫu ruộng phải nộp thuế ba thăng lúa, mỗi mẫu đâu một lạng tơ, mỗi cân tơ một tấm the. Và điều chưa hề có đó là ở tận ngõ ngách các lũy tre làng, là nơi mà trước đây "Phép vua phải thua lệ làng", bây giờ Trương Phụ bắt đầu thiết lập một hệ thống kiểm soát nghiêm ngặt dựa trên kiểu mẫu làng mạc Trung Hoa, lấy gia đình làm đơn vị nền tảng chứ không phải làng xã. Đồng thời một hệ thống trạm dừng cho ngựa và thuyền cũng như những đồn chiến lược được dân quân địa phương canh giữ rải đều như một mạng lưới khắp xứ.

Người ta bị cấm ngặt tục ăn trầu, xăm mình và nhuộm răng, vi phạm là bị tử hình, đồng thời khai trừ những tín ngưỡng cổ xưa và những tập quán địa phương. Bất cứ cái gì từng thiết lập nên nước Đại Việt trước đây, kể cả nghi thức và văn hóa, những bài dân ca và những áng văn của nó, đều không được phép tồn tại.

Dưới thời địch nắm quyền, đấng anh hùng nuốt đắng.

Cầu xin đất mềm phù trợ ông Hoàng.

Nhưng vác vũ khí đi kiếm dòng thiên hà quả là hoài công quá...

Sau khi áp đặt lên nước Đại Việt nền văn hóa, phong tục và tập tục của mình, vấn đề còn lại đối với Trung Quốc là đem đám mọi rợ đang phạm một tội lỗi duy nhất là sống ngoài vòng trật tự để chúng đi vào nhịp sống hòa điệu nhờ ơn đức Thánh thượng.

Điều mà "phe đảng theo Khổng Tử" dưới triều nhà vua Hồ Quý Ly bại trận từng mong muốn đến mức sẵn sàng làm kẻ phản bội, hiện đang được thực thi vượt quá niềm kỳ vọng của họ. Họ mong rằng lòng hiếu thảo của con cái sẽ trở thành nền tảng các mối tương giao xã hội, một xã hội có tôn ti trật tự, làm con thì phải một mực hiếu lễ, uy quyền của người cha là tuyệt đối có thể sánh với uy quyền của nhà vua đối với quần thần của mình. Lòng hiếu thảo, sự kính nể bậc tôn trưởng chính là căn rễ, trên đó guồng máy cai trị và trật tự phải dựa vào!

Vì thế, Thống soái Trương Phụ truyền cho dân chúng, từ thủ đô cho đến làng xã nhỏ nhất trong xứ An Nam (miền nam được bình định) phải luôn luôn đặt ngay trước mắt mình hai chữ Nhân – Nghĩa, có nghĩa là lòng nhân ái và sự công chính.

Sau khi dùng gươm ổn định xong, tất cả nền chính trí của người Tàu là phải kết hợp nhuần nhuyễn hai chữ này để thiết lập ra cái "chính" tức là nghệ thuật cai trị cho tốt đẹp.

Dân Giao Chỉ (Quân Minh gọi dân Đại Việt bằng danh từ này) được tưới đẫm bởi hai chữ ấy. Không được làm điều gì nói điều gì mà không điểm tô bằng hai tiếng Nhân - Nghĩa. Hai tiếng này như những cánh bướm bay từ miệng người này qua miệng người khác, chúng giống như những tấm màn chắn gió trước cửa, chúng đóng vai trò những bức bình phong, để ở đằng sau chiêu bài ấy, nhà cầm quyền nhà Minh tha hồ làm bất cứ điều gì họ muốn.

Chính là nhân danh chữ Nghĩa này mà người ta đã tước đoạt tất cả của nông dân để ban cho đám quan viên cộng sự với Tàu hoặc biến đất đai ấy thành những đồn điền. Chính là nhân danh chữ Nghĩa này mà những kẻ làm muối bị buộc phải giao sản phẩm của họ cho phòng thu muối để phòng này trưng thuế, và bán đi cho lũ con buôn có môn bài. Sau đó đám này lại đem đầu cơ tích trữ. Cũng chính là nhân danh chữ Nhân mà hết cha, anh, người ta lại lôi thêm đến chồng và con trai để sung vào quân đội rồi từng nhóm đàn ông và đàn bà tuổi từ 16 đến 60 phải quỵ ngã dưới những phu phen tạp dịch nặng nề rồi lại bị buộc phải vào sâu trong vùng lam sơn chướng khí khai thác vàng, bạc, đồng hoặc đi mò ngọc trai ở dưới đáy sâu đại dương!

Hai từ Nhân Nghĩa cứ được lặp đi lặp lại mãi cho đến nỗi dân chúng Đông Quan vốn có khả năng hài hước ngay cả trong những tình huống tuyệt vọng nhất, phải thấy hai chữ này được tuyên dương ngay ở những chỗ mà chúng hoàn toàn vắng bóng, chẳng hạn trước tiên tên chó săn khát máu Trương Phụ được gán danh hiệu "vị tướng Nhân ái", sau đó tên cú vọ ranh mãnh Hoàng Phúc lại được tặng cho biệt danh "Bố Chính - công minh", còn tên vô lại họ Trình thì được gán cho biệt danh "Đề đốc văn minh hóa", cả ba phải được xem như là biểu tượng của hai chữ Nhân Nghĩa!

Mỗi khi tên Đề đốc này xuất hiện tại các ngõ ngách Đông Quan là lập tức hàng đống thằng nhóc chuyên giễu cợt bước theo hắn hô lên ran cả cổ họng biệt danh mới của hắn. Tên "Đề đốc văn minh hóa" này chẳng làm gì được đám nhóc ấy vì đám giễu cợt này không là con cái của nhà ai cả! Chúng ngủ dưới hiên các đền Chùa, trong các bè tam bản, chúng van vỉ xin ăn: "Cháu đói quá! Cháu chỉ xin một chén cơm thôi" và chúng đi ăn cắp. Tiếng cười hô hố của bọn chúng tạm xóa đi chốc lát những khổ đau trên các nét mặt người trong thời kỳ bị Tàu xâm chiếm.

Ba chàng nông dân trẻ tuổi nhe hàm răng đen nhánh hạt huyền ra cười vừa thuật lại cho Nguyễn Trãi nghe những lời chế giễu của lũ trẻ.

- Đức Khổng (Khổng Tử) bị bôi bác quá! Rồi chúng ta phải chán ngấy ngài đến ngàn năm!

Nguyễn Trãi lên tiếng:

- Ngày nay hai chữ Nhân Nghĩa đã trở nên rỗng tuếch.

Tuy vậy chúng vẫn còn mang nặng ý nghĩa đã bị bỏ quên, và chính chúng ta, ta, chú và toàn dân mình phải hành động để tìm lại ý nghĩa đích thực cho những chữ ấy. Chú có hiểu không?

- Thưa tôn sư, hiểu ạ.

Ba đã hiểu ra những lời của nho sĩ. Vào thời buổi mà mọi niềm hy vọng được kể như hão huyền, thì những lời này có sức nâng đỡ niềm tin của Ba vào một thế giới tốt đẹp hơn tức là thế giới không còn người Tàu nữa, không còn bọn bóc lột tại các địa phương, tức là bọn cường hào và mọi hạng ông chủ. Những lúc như thế này, cặp mắt đen láy của Ba long lanh sáng như đôi mắt trẻ thơ, toàn gương mặt như được vẽ bằng những nét bút cương nghị đang rực lên niềm biết ơn. Ngồi dựa trên gót chân, Ba vừa cười vừa đong đưa qua lại tấm thân sạm nắng lực lưỡng như tấm gỗ lim.

- Bộ chú tính bán đôi hàm răng hay sao mà lúc nào cũng cứ nhe ra như thế? - Nụ Nhài chế giễu Ba.

Ngay trước khi Ba nói ra lý do đưa chú ta đến Thủ Đô, Nguyễn Trãi đã bị lôi cuốn bởi sự chất phác, thật thà, tính tình vui vẻ nhưng không sàm sỡ của chú. Mọi sự bắt đầu từ cái buổi sáng hôm sau ngày Tiểu Mai bị giết cách đây một năm, khi chàng nông dân trẻ tuổi đã phải gần như cưỡng bách để kéo Trãi ra khỏi đám đông khu chợ Bạch Mã. Những tiết lộ của Ba sau đó càng làm thắt chặt thêm tình thân giữa họ với nhau.

Xuất thân từ làng Kiệu Ngọc cách Côn Sơn một ngày đường, Ba cũng là người gốc gác ở tỉnh Hải Dương. Mẹ chú ta không ai khác hơn là Kiều Oanh, người thiếu phụ ngày xưa từng suýt chết chìm và được Hoàng thân Trần Nguyên Đán vớt lên cứu sống! Từng bị lũ giặc Minh ức hiếp nên trước khi qua đời, Kiều Oanh đã nhắn nhủ đứa con trai lời thề nguyện ngày xưa: "Trong 8 đứa con trai của mẹ, con là đứa không vợ không con. Lũ giặc Ngô ngăn cấm việc nghề rèn, con không thể nào hành nghề được. Vì thế không có gì cầm chân con lại ngôi làng này. Thằng em út con sẽ lo chăm sóc bài vị chúng ta. Còn con hãy ra đi tìm nho sĩ Nguyễn Trãi và gắn bó phục vụ ông ấy để mẹ chu toàn được lời đã hứa, nhờ đó nắm xương tàn của mẹ được yên mả yên mồ. Nhớ đừng bỏ rơi đứa cháu trai của vị Hoàng thân để tưởng niệm công ơn ngài trước đây đã không bỏ rơi mẹ nhé". Thế là sau khi chôn cất mẹ xong theo đúng nghi thức, để tỏ lòng hiếu thảo, Ba đã tìm đến Đông Quan bằng con đường tắt ngang qua Côn Sơn. Thiếu phụ Thị Thanh nói với Ba: "Phu quân ta sống ở đó và đang bị quản thúc". Thủ đô thì rộng quá biết tin cậy vào ai đây? Để sinh nhai, chàng thợ rèn này đã phải đi làm thuê trên bến cảng. Từ sáng đến tối, chàng nai lưng ra chất lên những con tàu Quảng Đông nặng trĩu hàng đống của cải của dân Đại Việt: chẳng hạn hồ tiêu, gỗ lim, gỗ đàn hương. Nhờ được một người bạn tên là Xuân - dáng vẻ không giống kẻ lông bông như anh ta tự nhận – chỉ vẽ cho, Ba đã tìm được nơi nho sĩ đang trú ngụ. Trong một thời gian khá lâu, Ba chỉ biết theo dõi vị này từ xa xa. Nếu không có cơ hội ở chợ Bạch Mã ấy, không biết làm sao Ba dám đến gần ông ta?

- Vậy mà chú đã dám và còn dám bạo nữa đấy chứ! - Nguyễn Trãi vừa cười vừa trả lời chú ta, rồi với vẻ trang nghiêm, chàng nói tiếp - Lòng tín trung của mẹ chú đối với vị Hoàng thân ông ngoại ta thật rất đáng ca ngợi. Tuy nhiên ta có làm gì đâu mà cần đến người giúp việc?.

Nhưng Ba chẳng bao giờ đòi đến thù lao. Sự lam lũ trên bến cảng cũng đủ bảo đảm cho chàng nuôi miệng hàng ngày và sắm một tấm áo mới hàng năm vào dịp Tết. Chú ta chỉ đơn giản phục vụ ông thầy khi ông thầy xét thấy cần đến chú vào công việc gì cũng được. Đề nghị này quả thực là không vô ích. Ngay từ những ngày kế tiếp, Ba, kẻ lang thang tạm thời, và đồng thời là tay thợ rèn chuyên nghiệp đã lộ ra cho Nguyễn Trãi thấy năng khiếu tuyệt vời nhất của chú ta. Thực thế, với mười ngón tay, mười ngón chân, Ba làm được tất cả mọi sự: nào chiếu, nào quạt, nào dù, nào ống sáo, nào rèm, nào đồ gốm và hàng ngàn vật dụng linh tinh khác với nét đẹp thô sơ mộc mạc. Ngoài ra, chú ta còn là tay chài lưới giỏi giang nữa chứ. Để cho hai bàn tay rảnh mà tung lưới, chú dùng chân khéo léo đưa mái chèo đi. Thêm vào đó, Ba còn có hoa tay vẽ khéo, năng khiếu này thường trợ lực cho vốn ngôn từ thô sơ nghèo nàn của chú. Chỉ cần vài nét vẽ, chú đã trình bày cho tư tưởng của mình được rõ hơn, rồi tươi cười nhe hàm răng vững chắc, đều đặn và đen bóng ra.

Một ngày nọ, Nụ Nhài la lên: "Chắc là chú đã nhuộm răng hàng năm như một phụ nữ phải không? Vậy thì không bao lâu nữa phải kiếm thêm cho chú một cái yếm nữa!". Nghe thế nhưng Ba vẫn không giận. Chú ta thừa hưởng sự làm dáng từ bố chú tức ông Phụng ngày xưa từng rất hãnh diện về sự làm đỏm của mình. Ông ta đã chết trong lúc phục vụ nhà vua Hồ Quý Ly tám năm về trước.

Ba sớm nhận ra được dưới khuôn mặt như bức tượng mới tô sơn, cô hầu trẻ này mang mối tị hiềm về việc vị nho sĩ không ngừng biểu lộ sự quan tâm đối với chú. Dù cô ả luôn nhiệt tình thi hành mọi ý muốn của ông chủ, ả vẫn làm bộ như không nghe thấy gì mỗi khi ông bảo cô ả phục vụ Ba, hoặc rồi khi thì đũa gãy, khi thì cơm nguội, trà ôi, hoặc giả trong những lần trong bình không còn một giọt rượu mà cô ả cau có không muốn đi mua. Nhưng dù cho phải chịu những nỗi bạc đãi tồi tệ hơn, Ba vẫn cứ luôn luôn đều đặn mỗi ngày đến viếng thăm vị nho sĩ.

Lần đầu tiên nhìn thấy vị nho sĩ bước đi từ đằng xa, chiếc khăn quấn trên đầu trông quái dị, mảnh áo phất phơ hướng đông hướng tây, trên vai mang túi thơ nghiên bút, chàng thợ rèn tự hỏi không biết đó có thực là vị Đình Nguyên, vị quan chức cao cấp trọng vọng mà mẹ mình đã từng khoe không. Anh chàng lãng du ấy mà lại là người thân cận trong cấm thành và được gần gũi với vị Thiên Tử sao? Là một nho sĩ, sao trông ông ấy chẳng giống ông giáo làng trang nghiêm và đạo mạo trong chiếc áo dài đen bốn vạt nhỉ? Mãi về sau, việc ăn mặc kỳ quái này đối với Ba đã được bù đắp bằng khuôn mặt phương phi vừa khắc khổ vừa tinh tế, mặc dù hàng ria mép và chòm râu cằm của Nguyễn Trãi một đằng thì giống như sợi dây mịn căng trên cửa miệng, còn đằng kia là lông sợi dài mọc tiếp giáp với khóe môi và lê thê dưới chiếc cằm đã đem lại cho khuôn mặt vị tôn sư một dáng vẻ man dại không kém phần độc đáo. Tuy nhiên, chính tia nhìn tuyệt vời tỏa ra từ ánh sáng nội tâm của Ngài đã chinh phục được người nông dân trẻ tuổi. Ba có cảm tưởng đang được kề cận một bực hiền giả và cuộc đời của chú đã tìm ra được lẽ sống. Không ngày nào chú không cảm ơn Trời đã cho một người dân cày ngu dốt như chú được tiếp thu những bài học của một bậc thầy như thế. Lời nói của vị nho sĩ có sức mạnh không thể cưỡng nổi, một thứ quyền lực khiến mỗi lần được kề cạnh ngài, Ba đều cảm thấy như đang ở trong một thế giới đầy ánh sáng, còn ra ngoài những lúc ấy thì chú giống như ở trong tăm tối vậy.

Tuy nhiên nếu bình thường, Tôn sư rất chăm chú và linh hoạt trong lúc giảng dạy, thì khi lao đầu vào công việc, ngài lại có vẻ xa vời tựa áng mây trôi đến tận những chốn xa xăm nào đó. Những lúc ấy, Ba thường ra ngồi dưới mái hiên yên lặng đợi chờ.

Một ngày nọ tình cờ, Ba bắt gặp Tôn sư đang miên man suy nghĩ. Trong khi hắn ta sắp sửa rút lui, Ba nghe tiếng vị Tôn sư lẩm bẩm: "Nhưng tìm vị ấy ở đâu? Làm thế nào nhận ra vị ấy?"

Ba liền sửng sốt hỏi:

- Thưa Tôn sư, vị nào ạ?

Rồi run sợ vì đã quá táo bạo, Ba chuẩn bị biến đi thì chú thấy Tôn sư đăm đăm nhìn mình khiến chú quá đỗi ngạc nhiên. Rồi Tôn sư lên tiếng trả lời:

- Hẳn nhiên là Đấng minh quân

Quá hớt hải, Ba mong được Tôn sư cắt nghĩa rõ hơn. Nhưng không thể chờ lâu hơn nữa, chú liền vội lên tiếng:

- Thưa Tôn sư, một lần nữa xin tha thứ cho sự ngu dốt của con. Đồng ý là phải tìm ra một minh chủ. Nhưng có phải người ta thường đánh giá một ông Hoàng là anh minh khi dưới triều đại ông ấy không xảy ra lụt lội, mất mùa, đói kém, dịch tễ, chiến tranh và bóc lột không?

Câu hỏi của Ba tuy xem ra chân chất nhưng chứng tỏ cho thấy chú là một nông dân có óc phán đoán vững chắc. Đôi môi Nguyễn Trãi vừa nở nụ cười vừa đáp:

- Đó là một cách nhìn thực tế để xem một ông Hoàng có được kể là anh minh hay không. Các vị vua thời xưa như Thuấn, Võ, Thang, Văn, dù đã đạt đến bậc thánh hiền nhưng ngày đêm vẫn lo sợ không chu toàn được trọng trách của mình nên lúc nào họ cũng một lòng kính sợ Trời và lo lắng cho dân không hề dám lơ là điều gì hết. Bởi vì một ông Hoàng được nung nấu một lòng thương yêu nhân dân, sẽ không tưởng thưởng ai theo ý thích riêng mình và cũng không trừng phạt ai vì hằn thù cá nhân. Ông Hoàng ấy luôn giữ mức trung dung trong mọi sự, biết ban phát ơn phúc mặc dù ông nắm trong tay quyền làm điều ác. Chính trong việc này biểu lộ ra sự anh minh của ông ta và đó quả thực là một đức tính hiếm có. Một con người như thế rất hiếm thấy ở trong nước mình cho nên tụi ngoại bang mới thống trị được đất nước này. Nhưng dù sao, một con người như thế vẫn đang hiện hữu ở một nơi nào đó. Các vì tinh tú không thể sai lầm, nhưng biết dựa vào dấu hiệu nào để nhận ra vị ấy đây? Vị ấy sẽ cất lời hiệu triệu từ chốn nào đây?

- Thưa Tôn sư, có phải ngài muốn nói đến một vị thủ lĩnh sẽ đứng lên chống lại quân Tàu, chống tên tướng mệnh danh là nhân đạo và chống luôn tên "Đề đốc văn minh hóa", đúng không?

- Phải, đúng thế.

- Và ngài tính sẽ phục vụ một con người như vị ấy à?

Nguyễn Trãi trả lời:

- Ta sẽ chọn xem có phò trợ vị ấy hay không là do nơi cái chính nghĩa mà vị ấy phục vụ.

Ba đưa tay vỗ vào đầu nhiều lần, đoạn đứng lên bước tới vài bước rồi bất thình lình quay lại và nói:

- Thưa Tôn sư, có lẽ có vị thủ lĩnh ấy. Nhưng ngài, chỉ mình ngài mới biết được vị ấy có anh minh hay không.

Nguyễn Trãi tiếp lời:

- Đừng rối rắm lên và hãy nói rõ ý kiến của anh đi!

Nghe thế, Ba cố gắng hết sức bình tĩnh thuật lại những tiếng đồn hiện đang lan ra trong đám chèo ghe ở bến cảng về một vị điền chủ nào đó đang chiến đấu chống lại quân Tàu ở mạn Nam. Họ kháo với nhau rằng vị ấy là một con người phi thường mà dân chúng vùng Thanh Hóa gọi là đức vua của họ.

- Thế Chú có biết quê quán, tên tuổi vị ấy không?

Ba bối rối đáp lại.

- Anh Xuân, bạn con có kể đủ thứ điều đầy ắp đầu óc con nhưng con chỉ nhớ được mỗi tên của vị ấy mà thôi.

- Thế tên gì? Vị ấy tên gì? - Nguyễn Trãi hỏi dồn.

- Dạ Lê Lợi! Lê Lợi người làng Lam Sơn!

—★—

Tại khu vực Giang Khẩu, tửu quán Con Rùa nổi danh nhờ món cháo, nhưng một số đông khách chỉ cần đến đây để thưởng thức mùi thơm bốc hơi. Tuy vậy hàng quán trông sơ sài, không có màn chắn gió, vỏn vẹn chỉ có hai tấm phản, dăm ba ghế đẩu trên mặt đất nện mà thôi.

Trước khi bước vào quán, Xuân đảo mắt nhìn vào bên trong. Tại một góc quán, mấy lão thương gia cỡ lớn ở Đông Quan vừa uống rượu vừa chơi tổ tôm. Trong góc đối diện, Xuân nhận ra Ba và người bạn đồng hành. Xuân liền tiến tới phía hai người.

- Thưa Tôn sư, đây là anh Xuân người mà Tôn sư muốn gặp.

Nguyễn Trãi giật nảy người: trước mặt chàng không phải lạ một gã lãng tử nào đó mà chính là Thám hoa Lê Cảnh Tuân, tác giả "Lá thư thập vạn từ" nổi tiếng kêu gọi kháng chiến chống quân Minh, nghe người ta nói vị này đã bị lưu đày sang Trung Quốc rồi mà! Cho dù lao khổ đã làm đôi tay nghiên bút bị sần sùi, làn da bị rám nắng, bờ lưng hơi còng xuống nhưng Lê Cảnh Tuân vẫn có dáng vẻ không phải là người tầm thường, về điều này, chàng Ba quả là không thiếu tinh tế.

Nheo ánh mắt, Xuân muốn cho Trãi hiểu chàng không muốn bị nhận diện, Nguyễn Trãi đành bằng lòng với những lời thăm hỏi xã giao.

- Té ra đây là ông Xuân đầy uyên bác đấy à - Trãi nói với Xuân giọng điệu hơi tinh nghịch. Đã lâu lắm rồi tôi mong chúng ta có cơ hội gặp nhau mà mãi đến nay chẳng bao giờ có dịp. Xin mời ngồi cạn chén!

- Xin Ngài Đình Nguyên chớ nhạo báng kẻ khốn nạn này. Một vài năm kinh nghiệm và sự may mắn thỉnh thoảng có dịp mở mang kiến thức của tớ mọn này đã khiến cho chàng thanh niên kia đánh giá sai lầm về tôi.

Ba liền lên tiếng:

- Chà chà! Anh cả, bộ huynh đang cho đệ là kẻ nói dối đấy hả? Huynh đừng hòng bước ra khỏi đây trước khi khai thật hết mọi sự cho chúng tôi đấy nhá!

Cả ba bật cười giòn giã. Bỗng Nguyễn Trãi vỗ tay làm hiệu.

"Chàng nho sĩ kia làm sao lại có chuyện gì với hai gã lông bông này nhỉ?" Lão chủ quán vừa bưng những tô cháo thơm phức tới, vừa tự nhủ trong bụng, nhưng bao lâu lão còn đứng đó thì cả ba người chỉ cắm cúi lặng lẽ ăn uống không nói gì cả. Khi nước trà được dọn lên lần thứ ba, Nguyễn Trãi ghé vào Xuân thầm thì vừa đủ hai người nghe:

- Ngày nay quân thù rất hùng mạnh. Các bậc anh hùng như ngài ẩn mình khác nào những chiếc lá trong sương mù. Tuy nhiên, "Vinh quang có thể ấp ủ dưới hoạn nạn" (Trích Bài phú núi Chí Linh của Nguyễn Trãi). Thánh Gióng đã chọn sinh ra trong túp lều tranh cuối làng chứ đâu phải trong cung điện của kinh thành. Khi ngài trở nên người khổng lồ thì chính ngôi làng nuôi dưỡng ngài, chính toàn đất nước cho ngài ngựa chiến và thanh sắt làm khí giới. Thế tôn huynh có biết gì về vị điền chủ có tên là Lê Lợi hiện đang phất cờ khởi nghĩa ở Thanh Hóa không?

Xuân trầm giọng trả lời:

- Chúng ta là anh em đồng khoa, thuở chúng ta song song cưỡi ngựa dạo xem vườn Thượng Uyển, chúng ta đâu đoán trước được rằng một ngày kia số phận trái nghịch biến ngài, vị Đình nguyên, thành một tù nhân ngay trong chính thủ đô của mình và biến đệ thành một kẻ đào tẩu, một kẻ lang thang sông nước khốn khổ? Tin tức ngày ngày đều qua lại trên sông, vì thế, danh thơm của Lê Lợi đã lan đến tận nơi này. Lúc đầu đây chỉ là tên tuổi của người con thứ hai trong một gia đình đại điền chủ gồm cả hơn một ngàn người. Vị này đã dùng của cải mình để làm việc thiện, và được tất cả mọi người ở miền Thanh Hóa ấy kính trọng và yêu mến. Bây giờ thì hình như con người tên là Lê Lợi ấy là một người chắc hẳn phi thường. Ông ta đã từ chối địa vị cao sang mà quân Tàu hứa ban cho, sau đó rút lui vào trong núi Chí Linh và quy tụ tất cả những ai từ chối sự thống trị của giặc Tàu. Người ta còn bảo rằng Lê Lợi sinh vào năm thứ chín của thời Xương Phù nhà Trần (1385): Ông ta có vầng trán cao, miệng rộng, ít nói nhưng mỗi lần nói ra giọng vang lên sang sảng như tiếng chuông. Tiếc rằng Đệ chẳng thể nói cho huynh nhiều hơn nữa.

Trãi liền nói:

- Tiến sĩ Xuân ơi, xin cảm ơn ngài - Nguyễn Trãi nở nụ cười đồng lõa - Hiện giờ chúng ta đã tìm gặp được nhau, vậy xin hãy hứa sẽ liên hệ với người bạn đồng khoa này trong bất cứ dịp nào nhé, chú Ba đây sẽ làm trung gian cho chúng ta.

- Đệ xin trân trọng sự gợi ý đầy quảng đại của huynh. Trong hoàn cảnh đệ đang gặp phải, ít là đệ cũng hiểu được bài học của Trang Tử123 theo đó người ta vẫn có thể nghèo mà không khổ. Những lúc rỗi rảnh thì đệ làm thơ, đánh đàn - vừa nói Xuân vừa nheo cặp mắt cười. Trãi lên tiếng:

- Ta đang còn muốn nghe ngài nói thêm. Nhưng thôi liệu có trễ quá rồi chăng?

Đám thương gia đã biến đi từ lúc nào, lão chủ quán thì ngáp ngủ bên cạnh chiếc lò đất. Lúc nãy Ba vừa bỏ đi một chút bây giờ đã trở lại tay cầm một bông hoa đại, vừa nói:

- Lúc nãy có một đứa nhỏ đến nhờ con giao cho Tôn sư - vừa nói Ba vừa trao bông hoa cho Nguyễn Trãi - Người gửi cho Tôn sư bông hoa này sẽ đợi Tôn sư vào giờ Tỵ (9-11 giờ) ngày mai tại đền Trấn Vũ (Thần Chiến Tranh, Thánh hộ mạng của Đại Việt). Cậu bé bảo là nói thế Tôn sư ắt đã hiểu gì rồi!

Dáng vẻ trầm tư, Nguyễn Trãi đưa bông hoa thiêng liêng thường trồng ở các đền chùa, lên mũi hít, rồi nói:

- Có phải chú nói là đền Trấn Vũ không? - Gương mặt Trãi sáng hẳn lên. Chàng lẩm bẩm: Các biến cố đang dồn dập tới! Sau đó Trãi kêu to:

- Này chủ quán!

Nghe tiếng tiền đồng lẻng rẻng, lão chủ quán mở một con mắt chìa tay ra nhận lấy, rồi khép cánh cửa quán sau lưng ba vị khách.

—★—

Vừa thức giấc, Nguyễn Trãi chợt nhớ chàng có cuộc hẹn ngay sáng nay tại đền Trấn Vũ. Bông hoa đại đang héo dần trên giá sách nhắc chàng nhớ điều ấy.

Tối qua, một cái tên kèm theo một khuôn mặt mơ hồ hiện ra trong trí Trãi. Phải chăng vì uống rượu quá nhiều cũng như vì sự ngạc nhiên khám phá ra Lê Cảnh Tuân dưới lớp áo một tên phu bốc xếp đã khiến Trãi rối trí. Con người đạo hạnh ấy giờ đây chắc hẳn già lắm rồi. Lần gặp nhau cuối cùng vào đầu năm Ất Mùi (1415) mới đó mà đã trôi qua 8 năm rồi, 8 năm đầy gian khổ. Mọi cuộc sống, dù dài mấy đi nữa thì cũng phải có hồi kết thúc chứ. Không thể là cụ ta được! Có lẽ một đệ tử nào đó của cụ chăng? Mà cụ có đệ tử không nhỉ?

Lục lạo tìm sâu trong ký ức mù mịt, Nguyễn Trãi nhìn nhận là lúc nào Trãi cũng trông thấy cụ ấy già, à mà có bao giờ cụ ấy trẻ đâu? Nhưng dù cao tuổi cụ vẫn nhanh nhảu không thể nào ngờ nổi, cụ rất ham uống rượu, tán gẫu và khoái bàn lui bàn tới về Đạo! Căn cứ vào đó, Trãi cảm thấy lo âu pha lẫn phấn khích vì mỗi lần vị hiền giá này xuất hiện là luôn luôn trùng hợp với một biến cố quan trọng nào đó xảy đến cho đất nước hoặc cho riêng gia đình chàng. Trãi trực chỉ về hướng bắc thành phố, dùng ghe tam bản qua dòng sông Tô Lịch và đúng giờ đã định, chàng bước qua cánh cổng tam quan của ngôi đền.

Từ hồi còn bé, ông ngoại Trãi từng dẫn chàng đến khấn vị thần Trấn Vũ, đấng bảo hộ cho đất Đại Việt này. Đó là một kỷ niệm rất xa xưa từ thuở trước khi Hoàng thân lui về Côn Sơn ở ẩn và những nét chữ trên câu đối được khắc hai bên lối vào ngôi đền lúc bấy giờ đối với Trãi chỉ là những dấu hiệu huyền bí, những tuồng chữ ấy như sau:

"Trên trời cũng như dưới đất, vị Đại Thánh điều khiển các loài linh quy, mãng xà.

Ngôi đền này dựng lên dâng kính Thượng Đẳng Thần Trấn Vũ xin ngài bảo hộ thành Thăng Long.

Cây cối màu xanh tươi tốt biến dương quyền uy của Đại Thánh.

Tiếng chuông rền vang truyền ra oai vũ của ngài".

Trãi bước qua cái sân thứ nhất phủ rợp bóng xoài rồi đến sân thứ hai. Ở cuối sân, ngôi đền hiện lên giữa hàng cây đa xem ra không còn rộng lớn như ngày xưa. Giữa chính điện, các tín đồ đang đốt hương, dâng lên vàng mã trước hai cái bàn thờ, họ chẳng chú ý đến sự hiện diện của Trãi. Trãi đưa cặp mắt dò xét nhìn đám cận vệ danh dự của Vị Thần gồm bốn bức tượng tượng trưng cho ba mươi sáu vị Vua và Hoàng thân. Trên trần nhà, Long Ly, Quy Phượng tứ linh đang nhăn nhó như chế nhạo Trãi.

Mỗi khi nghe có tiếng động trên nền gạch, Trãi đều nhìn kỹ vào bóng tối lờ mờ bị căng thẳng giữa hai tình cảm song song: vừa chờ đợi một sự bất ngờ vừa chờ đợi một sự xác nhận!

Một bà lão khập khễnh trên đôi chân trần giống như trên những đốt xương khô xuất hiện, rồi đến một bà góa phụ, đầu cạo trọc, tiếp theo là một chú tiểu mang áo nâu gương mặt tươi như hoa tò mò xem xét Trãi.

Có một bức màn lụa lớn, ngăn không cho các tín đồ nhìn vào bức tượng Thần. Phía đằng sau đó, ngay trong thánh Điện, có lẽ người ta đang chờ đợi chàng.

Trãi đưa ra một đồng tiền, lập tức vị quản Chùa già nua hóm hém liền trao cho chàng một khúc nến và chỉ cho chàng lối đi phía trái dẫn chàng tiến vào. Nơi này chìm ngập trong bóng tối. Tượng Thần phải đặt ở hướng Bắc. Há ngài chẳng phải là viên giám thị gầm Trời phía Bắc sao? Trong lúc lần mò đi tới, Nguyễn Trãi va vào cái bàn thờ. Ánh sáng yếu ớt chỉ cho phép Trãi nhìn thấy lờ mờ vị thần mỗi khi chàng xê dịch ngọn nến.

Vị Thần đang ngồi, tóc xõa viền quanh khuôn mặt chiến binh dữ dội của Ngài. Tay trái Ngài bắt quyết, tay phải cầm thanh gươm ghim vào lưng một con rùa, xung quanh một con rắn quấn tròn.

Đắm mình trong sự nôn nóng dò xét, Nguyễn Trãi hầu như quên mất lý do khiến chàng đến đây. Bỗng một giọng nói phát ra làm chàng giật mình.

- Người có nhận biết vị ấy không?

- Thì cũng giống như con nhận biết Đạo sư mà chẳng trông thấy Ngài - Trãi vừa đáp lại vừa giơ cao ngọn nến trên khuôn mặt của Vô Kỷ. Cụ già chỉ vào vị thần nói tiếp:

- Lưỡi gươm thiêng thị uy trấn áp con rùa phương Bắc. Đó chẳng phải là điều cần thiết hơn hết cho đất nước chúng ta sao? Bây giờ chúng ta hãy đi ra ngoài.

Dưới ánh sáng rõ ràng, vị đạo sĩ xem ra chẳng thay đổi gì cả khác nào như từ lúc gặp nhau lần cuối đến bây giờ chỉ mới có một ngày! Vị Đạo sĩ ném về Trãi tia nhìn sắc cạnh.

- Tiến sĩ Trãi, đừng ngạc nhiên gì hết! Khi nào rảnh rỗi, ta sẽ dạy cho ngươi những kỹ thuật giúp ngươi sống phù hợp với Đạo nhờ đó bảo tồn được thân xác và sẽ được trường sinh bất tử. Nhưng đó chẳng phải mục đích cuộc gặp gỡ hôm nay, nào trước tiên chúng ta hãy cạn một chén cái đã!

Rõ ràng Đạo sĩ này bao giờ cũng thế vẫn túy lúy say sưa. Sau khi họ đã uống xong chén trà nơi phòng các tu sĩ trong đền, Vô Kỷ liền lôi Trãi đến tận cuối túp lều của một người bán trà ở bờ hồ Tây và kêu rượu uống. Nguyễn Trãi từ chối, Vô Kỷ liền bảo:

- Hãy uống đi! Ngươi cần uống tí rượu để sưởi ấm lòng vì những tin tức về gia đình ngươi được ta mang đến từ phương Nam tiếc rằng không mấy tốt đẹp đâu! Người xưa có nói rằng trong thế gian này, con người chỉ là những lữ khách lần lượt nối đuôi nhau mà thôi.

Mặc dù tái mặt, Nguyễn Trãi vẫn giữ vẻ kín đáo khăng khăng trong suốt thời gian nghe Vô Kỷ kể chuyện. Nếu Đạo sĩ này tưởng rằng cụ ta sắp báo cho chàng biết vụ ông cậu Trần Mộng Dũ của Trãi bị bắt và đưa đi đày ở Trung Hoa thì kể như tin tức này đến đây trễ cả năm trời rồi! Dù vậy càng nghe vị Đạo sĩ kể rất chi tiết về những chiến công cuội cùng của Trần Quý Khoáng và các tướng tá của ngài về cuộc chiến ở rạch Thái Đà, khi mà Đặng Dung suýt ngon lành bắt được Trương Phụ trong chiếc thuyền của tên tướng Tàu này (tên này được thoát chết là nhờ Đặng Dung vì không biết mặt hắn, nên đã không tức tốc xông thẳng vào hắn), rồi về sự kiện vì thiếu lương thực mà vị vua cuối cùng đời Trần và các chiến hữu Ngài là Đặng Dung, Nguyễn Suý, Trần Mộng Dũ và Nguyễn Cảnh Dị đã phải chạy trốn sang Ai Lao để rồi bị đám người Lào phản bội đem giao nộp.

Nguyễn Trãi cảm thấy một nỗi âu lo thầm kín dần dà xâm chiếm tâm hồn chàng.

- Trong xiềng xích, Nguyễn Cảnh Dị vẫn dám lăng mạ lũ quân Minh. - Theo thói quen khó thương của cụ, Đạo sĩ Vô Kỷ dừng lại, gãi nách một hồi lâu, khạc nhổ xuống đất rồi tu một hơi rượu xong mới kể tiếp - Lúc đó quá đỗi tức giận, Trương Phụ truyền đem giết Cảnh Dị và moi gan ra ăn.

Nghe thế, Nguyễn Trãi vẫn ráng giữ ánh mắt của chàng. Vô Kỷ tiếp lời:

- Quyết tâm đô hộ nước ta, quân Ngô đã dự tính sẽ mang các bậc anh hùng dân tộc đi cho khuất mắt, cho nên chúng có ý định mang tên giặc nổi loạn Trần Quý Khoáng và các thuộc hạ của ngài về cầm tù tại Bắc Kinh thủ đô mới của chúng.

- Và các bậc anh hùng ấy đã bị đem đi đày rồi phải không nào?

Nguyễn Trãi vừa nói vừa hớp một tớp rượu.

Vô Kỷ vội tiếp lời nói lớn:

- Họ đã bị chất lên thuyền đem thẳng về Trung Quốc, nhưng họ đã chẳng hề tới nơi. Chúng ta đừng bao giờ quên những con người dám chấp nhận sự hy sinh cao cả như thế! Như ta đã từng nói với ngươi: "Đời sống thì thoáng qua mau, chỉ có danh dự là trường tồn!" Đối với bậc anh hùng thì thà chết hơn là đầu hàng nhục nhã. Giữa lòng sóng nước, linh hồn Trần Quý Khoáng đã về miền chín suối. Hình như có sợi dây tiền định nối kết người chiến sĩ và thủ lĩnh của họ. Các tướng lĩnh của ngài là Đặng Dung, Trần Mộng Dũ và Nguyễn Súy noi gương thủ lĩnh cũng trầm mình xuống dòng nước! Do lòng trung nghĩa ấy, họ đáng được các thế hệ tương lai thờ kính!

Vô Kỷ lại yên lặng tiếp tục uống...

Cặp mắt Nguyễn Trãi vốn bình thường sáng rực và sâu hoắm, giờ đây tóe lên tia nhìn lạnh như băng, quai hàm chàng nhô lên khiến cho diện mạo khoác lên một vẻ dữ dằn và quả quyết. Mối dây huyết nhục cuối cùng giữa Trãi với mẹ và ông ngoại chàng vừa bị cắt đứt. Nhưng vì đã chịu quá nhiều đau khổ nên mắt chàng giờ như khô lệ. Chắc hẳn về điểm này, chàng đã già đi rồi chăng? Trãi như thấy lại vòng đai các cậu chàng tuôn về Côn Sơn quây quần bên cạnh giường nằm của vị Hoàng thân ông ngoại chàng và gương mặt giận dữ của cậu Trần Mộng Dũ rầy la chàng: "Mày cứ thản nhiên để cho ông ngoại mày chết sao? Như thế là hiếu là thảo đấy hả?" Trãi vẫn còn nhớ những lời của người cậu khi hai cậu cháu chia tay nhau tại ngôi làng mé sông của Hải Dương cách đây tám năm trời: "Để xứng đáng là một chiến binh thì phải chết ở trận tiền, da ngựa bọc thây", và sau đó cậu đã lên đường vào Nam gia nhập đạo quân nhà Hồ. Sự kết liễu cuộc sống đầy gương mẫu của người cậu và các chiến hữu ông ấy khiến Trãi thán phục nhưng cũng khiến lòng chàng nỗi căm giận ngấm ngầm ấm ức. Như có một đợt sóng mạnh phá vỡ bờ đê tràn ngập lòng chàng, và khác nào dội lên sắt nóng sẽ làm cho sắt thêm cứng bén, làn sóng ấy làm cho Trãi càng thêm rắn rỏi và bén sắc. Đây không phải là thời gian để hiến tế nữa! Bí thư thứ nhất bộ lễ Ngọc, hàn lâm học sĩ Trung Ngô, Lưu Thúc Kiêm, Tiểu Mai, Trần Mộng Dũ và biết bao nhiêu kẻ khác đã mở đường rồi. Bây giờ đến lúc phải hành động và chiến thắng!

Đôi tay không hề run, Nguyễn Trãi vừa rót thêm cho Vô Kỷ một chén rượu nữa vừa nói:

- Thưa Tôn giả, cụ có nói với con là cụ đến từ Thanh Hóa. Người ta kháo nhau là ở đó đã xảy ra rải rác các vụ nổi loạn mới. Cụ có biết gì về việc ấy không?

Gương mặt Vô Kỷ nhăn lại biểu lộ nụ cười hóm hỉnh:

- Sao ngươi không hỏi là ta biết gì về Lê Lợi đi cho rồi!

Khi mà bộ nhớ khổng lồ của vị đạo sĩ bắt đầu hoạt động, thì cụ thao thao bất tuyệt. Ngay đối với một vị thiên quan giữ sổ bộ Nhà Trời, cụ cũng trổ tài cho mà biết. Xét theo chỗ cư ngụ của cụ Thân sinh, Lê Lợi nguyên quán tại làng Nam Sơn, nhưng thực sự, ngài sinh ra tại quê mẹ tức Hương Chủ Sơn124. Nguyễn Trãi vẫn còn chưa biết Thanh Hóa - Đây là một vùng rất đẹp, được cô lập bằng những bờ biển và những ngọn núi rậm rạp có thung lũng sâu bao bọc cả một giải bình nguyên bao la màu mỡ. Lê Lợi uống rượu như một con trâu khát nước. Núi đồi Lam Sơn có nhiều ngọn và mạn nam được tắm mình trong dòng sông Lương. Cụ Tổ dòng họ Lê tên là Lê Hối, cư ngụ ở huyện Lương Giang. Cụ thường thích dạo chơi vùng núi Lam Sơn. Ngày nọ, cụ nhìn thấy một đàn chim tụ tập dưới chân núi y hệt một nhóm người. Cụ liền nghĩ chỗ ấy là một vùng thuận lợi nên đã tới lập cư ở đó. Trong vòng ba năm sau, cụ trở thành điền chủ - Nói tới đây Vô Kỷ nốc cạn chén rượu. Rồi ngừng lại một lúc. - Sau đó, con trai cụ Lê Hối là Lê Đinh lấy Nguyễn Thị Quách làm vợ. Ông này có được hai con trai là Lê Tùng và Lê Khoáng. Chính ông Lê Khoáng này đã kết hôn với Trịnh Thị Thương người làng Chủ Sơn. Bà này sinh hạ được ba người con trai: Lê Học, Lê Trừ và người sau cùng là Lê Lợi. Ông này được sinh ra tại Hương Chủ Sơn, ngày mùng sáu tháng tám năm thứ chín đời Xương Phù nhà Trần (1385)125. Lê Học, người con cả rủi thay bị chết yểu nên cụ tổ bèn chuyển giao gia tài cho người con thứ ba. Vô Kỷ ngừng lại hỏi:

- Ta đã trả lời đủ cho câu hỏi của ngươi rồi chứ? - Vừa nói Vô Kỷ vừa đảo mắt nhìn tứ phía.

Nguyễn Trãi ra dấu cho người bán trà mang thêm rượu kèm theo đồ nhắm. Rồi chàng lên tiếng:

- Thưa Tôn giả, đó là về gốc gác. Nhưng còn bản thân ông ấy ra sao?

Vô Kỷ đưa tay luồn dưới cái mũ đạo sĩ, vừa gãi đầu vừa nói:

- Mỗi cá nhân đều có nhiều khía cạnh. Ai mà dám tự thị là biết được tất cả mọi khía cạnh ấy. Và người nào tự chọn cho mình một mục đích cao thì sẽ trải qua biết bao nẻo đường đôi khi rất ngoằn ngoèo trước khi đạt được mục đích. Hiện giờ Lê Lợi đã rút vào trong vùng núi Lam Sơn để đương đầu với quân Minh, và trong lòng dân chúng bắt đầu nổi lên hình ảnh mà các thế hệ tương lai sẽ mãi ghi nhớ đó là hình ảnh một con người biết liên kết những kẻ dũng cảm, biết mời gọi các bậc hiền tài, biết đón tiếp những kẻ đào tẩu, biết nghiên cứu địa lý địa hình và nghệ thuật chiến tranh nhằm dẹp yên cơn đại loạn. Đối với dân chúng, Lê Lợi là hiện thân và cũng là niềm hy vọng của cuộc nổi dậy. - Vô Kỷ dừng lại ừng ực hớp thêm một hớp rượu nữa - Tuy nhiên con đường của một người được giao cho một trọng trách không phải luôn luôn suôn sẻ đâu, nhất là, khi quân thù lại hùng mạnh, khi mà người ta buộc phải thỏa hiệp khiêm tốn dùng lời lẽ để tránh hiểm nguy và để chờ cơ hội. Lũ Tàu thường quen dùng sự vu khống làm vũ khí lợi hại nên rất ngại phổ biến cái tin đồn là Lê Lợi đã từng phục vụ Trần Quý Khoáng trong công cuộc khôi phục lại nhà Trần. Chúng phao lên rằng Lê Lợi chẳng qua chỉ là một tên phú hộ ở một vùng heo hút đất An Nam, đầy tham vọng nên đã chịu quy phục để bảo tồn được trang ấp và trở thành một tay cường hào địa phương mà thôi. Chúng còn kể rằng Bố Chính Hoàng Phúc đã triệu Lê Lợi đến tại Lam Sơn cách đây vài năm và phong cho Lê Lợi làm quan cai trị địa phương. Chúng lại còn trưng ra vụ kiện tụng liên quan đến việc tranh chấp giữa Lê Lợi và tên tri huyện Đỗ Phú về vấn đề đất đai để giản lược các cuộc nổi dậy mà ngươi vừa nói tới thành một cuộc cãi cọ tranh giành giữa các thủ lĩnh địa phương mà thôi. Như thế chắc chắn là khôn khéo đấy nhưng làm sao mà bịp nổi dân chúng. Ngươi vừa ý chưa?

Nguyễn Trãi yên lặng khẽ gật đầu. Chàng cần phải suy nghĩ đã. Chân dung vị anh hùng quảng đại do Lê Cảnh Tuân mô tả đã được Vô Kỷ tô vẽ thêm chắc hẳn là phức tạp hơn, khéo léo hơn và có lẽ là có phần hơi quá mức. Vị ấy nổi dậy có phải là do những động cơ cá nhân lợi lộc như lũ Tàu đã kháo láo không? Vị ấy đã chịu khuất tất ra hợp tác hay như theo lời Lê Cảnh Tuân, vị ấy đã từ chối không chịu hạ mình phục vụ bọn Tàu? Nếu không như thế thì làm sao cắt nghĩa được uy tín của ngài nơi dân chúng, và niềm hy vong của họ lại được hiện thân nơi ngài? Khi đã biết được ngày, tháng, năm sinh của Lê Lợi, bằng phương pháp "Hà Lạc" (phương pháp bói toán được các nho sĩ yêu chuộng), Trãi thừa sức rút ra những lời tiên đoán. Dù rất khá về môn chiêm tinh, hiểu biết rõ về mình, Trãi cũng vẫn thấy rõ là cần phải đến tận nơi để chính mình nhận xét cho kỹ lưỡng.

Trong lúc phác họa ra chuyến đi về mạn Thanh Hóa, một ý kiến bỗng lóe lên trong đầu Nguyễn Trãi. Chàng đăm đăm nhìn lão Vô Kỷ đang khua tay múa chân cười ngặt nghẽo.

- Thưa Tôn giá, cụ cho hẹn con đến nơi ngôi đền và sau đó dẫn con đây là để trả lời cho các câu hỏi của con phải không? Thế thì trước hết làm thế nào từ Thanh Hóa cụ đến được Đông Quan mà không gặp trở ngại?

- Ôi lý do đơn giản thôi! Bởi vì ta là một đạo sĩ! Chung chung thì tụi Tàu rất ghét đám tăng ni Phật giáo, chúng ghét cả đám Hồi giáo, ấn giáo lẫn các tu sĩ phương Tây. Nhưng chúng không ghét các đạo sĩ. Kẻ nào hiểu được lý do của hiện tượng này là đã hiểu được cốt lõi của Trung Quốc.

Nói xong, Vô Kỷ toét miệng cười vang. Nguyễn Trãi cũng bật cười theo. Lúc này mũ Vộ Kỷ bị trệch sang một bên. Trông thấy đám chài lưới ở Hồ Tây đang vác vó đầy cá vùng vẫy lấp lánh tiến đến gần, Vô Kỷ liền giơ tay chỉnh mũ lại cho ngay ngắn, rồi nói tiếp:

- Hiện nay tên phái viên của Hoàng đế Trung Hoa vừa mới sang, lũ quan lại địa phương ùn ùn kéo nhau về Kinh Đô nên gọng kìm có nới ra ít nhiều. Vậy ngươi hãy chờ ít lâu sẽ có một sứ giả từ phương Nam đến gặp ngươi. - Nói đoạn, Vô Kỷ hạ giọng - Người ấy sẽ ngụy trang thành một gã bán dầu và sẽ đề nghị ngươi mua một lọ dầu. Thôi chúng ta nên giã biệt nhau ở đây, mỗi người sẽ đi một lối. Đừng lo lắng gì cho ta, đền thờ chỉ cách đây hai bước. Chắc chắn chẳng bao lâu, chúng ta sẽ gặp lại nhau...

—★—

Ngay giữa đêm khuya, Hoàng Phúc chợt thức giấc, lòng buồn rã rượi kèm theo cảm giác lạnh lẽo lầy nhầy ở bụng dưới.

Từ ba hôm rồi, Hương Thầm vì kẹt kinh kỳ nên không cùng ngủ chung với hắn, nơi chiếc giường buông màn lả lướt trên những chiếc gối sừng. Vắng nàng, bình hương bằng đồng chẳng xông mùi lên chăn gối, và chiếc hộp đựng dụng cụ kích dục cũng được đóng kín lại.

Kiêng cữ việc giao hoan là điều tai hại cho sức khỏe. Thiếu hành vi tình dục tức là thiếu âm chất của đàn bà để làm tăng sinh dục cho hắn, vì thế chẳng ngạc nhiên khi thấy tinh thần Hoàng Phúc chao đảo, thần kinh căng thẳng. Đành rằng trong tất cả đám đàn bà con gái hậu cung, Hoàng Phúc mặc sức chọn lựa thỏa thuê, thế mà hắn chỉ khoái mỗi Hương Thầm. Nếu ngẫu nhiên mà hắn chung đụng với cô khác thì Hương Thầm cũng dứt khoát phải cùng tham dự vào các cuộc truy hoan này và trong kiểu giao hợp "Điệu vũ hai chim phụng mái", chẳng hạn tư thế giao hợp luân phiên, thì điều làm cho Hoàng Phúc khoái lạc không phải là ở chỗ được "xâm nhập vào" "cửa ngọc cô này sang cô khác" mà ở chỗ được thể nghiệm giá trị siêu đẳng khôn tày nơi "cửa ngọc" của con bé man di này!

Con hầu Sương Núi đang ngủ trong căn buồng nhỏ nghe tiếng Hoàng Phúc trăn trở liền thức dậy và sau khi Hoàng Phúc cởi bỏ bộ đồ vấy bẩn ra, cô bé liền bưng tới một chậu nước và tấm khăn lau, rồi lấy trong tủ ra một chiếc quần sạch.

Giờ đây, tâm trí Hoàng Phúc bắt đầu tỉnh táo lại chút ít thì cơn ác mộng cứ từng khúc từng đoạn trở lại với hắn. Đầy vẻ âu lo, Hoàng Phúc xem việc xuất tinh ngoài ý muốn này chỉ làm tiêu hao sinh lực của hắn. Theo hắn nhớ lại, sự kiện nằm mơ thấy giao hoan với Hương Thầm chỉ làm tăng thêm bấn loạn cho hắn mà thôi. Trong những trường hợp như thế, tất cả sách cẩm nang tình dục từ bao thế kỷ trước đều nhắn nhủ: những ai bị ám thị như thế nên biết cảnh giác nếu hắn gặp người đàn bà ấy trong thực tế bởi vì đó có thể là một con dơi hút máu hay một con hồ ly tinh không chừng. Hoàng Phúc cảm thấy hồn vía run rẩy. Hắn nhớ lại trong quá khứ đã có bao trường hợp khủng khiếp mà những người đàn bà thường nuôi dưỡng âm chất của họ bằng dương chất của chồng và tình nhân, đến nỗi khiến những người đàn ông này phải chết. Ngay khi Tây Vương Mẫu, vị nữ hoàng vườn địa đàng Tây vực, chung đụng với một gã đàn ông xong thì gã này sẽ lâm bệnh còn gương mặt bà ta sẽ vẫn trẻ trung, bóng mịn đến nỗi bà ta chẳng cần đến phấn son để trang điểm.

Giữa lúc đó, dường như để xóa bao nỗi hoang mang của Hoàng Phúc, tất cả niềm hoan lạc Hương Thầm từng đem lại mà xác thân hắn không thể nào quên được bỗng ùn ùn trào lên từ đáy ruột gan hắn. Thật giống trường hợp những gã khốn khổ nọ trong câu chuyện "Tâm viên, ý mã", những gã này đã trở thành đồ chơi của những dục vọng ngoài tầm kiểm soát của mình. Dù vậy, các hoàng đế đã không từng có những cung phi được sủng ái đó sao? Hoàng Phúc vừa lăn qua lăn lại trên giường nằm vừa tự nhủ: phải chi Hương Thầm hiện diện bên cạnh hắn trong cái đêm xuân mát mẻ này thì chắc hẳn dòng máu trong huyết mạch hắn sẽ dịu xuống và tâm trí hắn sẽ lắng dần. Không một người đàn bà nào có được thịt da mũm mĩm, xương cốt thanh tú và sức sống mãnh liệt ẩn dưới lớp vỏ bề ngoài mảnh mai như Hương Thầm. Lớp lông phủ cái gò bồng đảo của nàng mịn hơn tơ lụa và mọc rất đúng hướng. Bờ môi nơi cửa ngọc nàng đầy đặn cương phồng như bờ môi cửa ngọc thiếu nữ vừa mới dậy thì. Mỗi khi nàng giơ đôi chân lên, là mùi vị thơm liền toát ra. Hương Thầm đâu hề mang một dấu hiệu nào cho thấy rằng nàng thuộc loại đàn bà mang họa đến cho đàn ông. Mắc mớ gì hắn phải lo sợ trong khi hắn cảm thấy toàn xác thân đang tràn trề dương khí ngay trong lúc này?

Sau khi tỉnh táo được chút ít, tên Bố Chính liền để cho dòng tư tưởng trôi dạt đến những việc làm chuẩn bị cho cuộc đón tiếp vị sứ giả thiên triều và đoàn tùy tùng. Mải suy nghĩ, hắn đã rơi vào giấc ngủ dịu êm lúc nào không biết. Trong căn phòng nhỏ bên cạnh, đến lượt nàng Sương Núi cũng nằm xuống nghỉ ngơi đôi chút.

Tiếng trống vừa điểm canh năm (3-5 giờ sáng) thì tên Bố Chính đánh thức Sương Núi dậy. Dù vẫn còn ngái ngủ, Sương Núi cũng phải đi đun nước, hâm rượu, truyền đám nhà bếp dọn thịt và bánh nướng. Sau đó, nàng ta phụ giúp ông chủ khoác bộ lễ phục lên người vì hôm nay là ngày thăng đường hội kiến.

Trước hết, Hoàng Phúc khoác lên người chiếc quần rộng bằng lụa màu đỏ sẫm, rồi đến một chiếc áo dài ngắn ống tay và rộng màu quả vải rồi khoác tiếp bên ngoài một áo chẽn màu đá xanh, thắt một chiếc đai chạm hoa văn. Và sau cùng khoác thêm một chiếc áo choàng gấm oai nghi óng ánh sắc vàng tựa hồ như tấm hoàng bào. Quanh thân mình Hoàng Phúc là những chuỗi ngọc va vào nhau tạo nên những âm điệu nhịp nhàng.

Sương Núi đi tìm đem lại chiếc mũ đội đầu bằng the và chiếc quạt lông rồi ngay sau khi cầm đèn lồng tiễn ông chủ ra đến ngưỡng cửa dãy nội phòng, cô bé liền quay lại căn phòng nhỏ của mình rồi ngã lăn ra ngủ lập tức.

Chiếc kiệu của tên Bố Chính và đoàn tùy tùng tiến ra khỏi Cấm thành qua ngõ Kim Môn, rồi tiến ngang qua Hoàng thành trực chỉ về hướng điện Thiên An.

Hàng đám thợ thủ công, thợ mộc, thợ gốm, thợ làm vườn, thợ làm pháo bông đang bắt tay vào việc dưới sự giám sát của tốp lính Tàu. Người ta đang dựng các khải hoàn môn, vét bùn nước cống rãnh, lau chùi các mái ngói tráng men, đánh bóng các tấm vảy tô vàng dát bạc trên đó, tỉa các nhánh cây, khóm lá và dựng lên các bệ đài. Qua ke màn từ trong chiếc kiệu, Hoàng Phúc quan sát hoạt động huyên náo như tổ ong này, lòng tràn đầy niềm kiêu hãnh vì hắn đã dự tính sẽ tiếp đón sứ giả Thiên Triều không phải với tư cách một quan chức cao cấp trong một xứ thuộc địa đón tiếp sứ giả của Vua mình, mà là với tư cách của chính Hoàng đế phương nam tiếp nhận sứ thần của Hoàng đế phương Bắc.

Vì thế hắn ta lại tự mình áp dụng những mánh khóe của các nhà vua Đại Việt trước kia và ra lệnh vào ngày tiếp rước, tất cả mọi tráng đinh khỏe mạnh đều phải mang binh phục và người ta phải lùng kiếm thu gom lại trên bờ sông Hồng tất cả gia súc sẵn có để làm cho viên sứ giả Bắc Kinh tin rằng đó là nguồn dự trữ lương thực trong nước. Đồng thời, nhằm để các quan khách thấy được sự tiếp đón nồng hậu và quyền lực của hắn, Hoàng Phúc đã ra lệnh xây dựng và trang trí dọc theo bờ sông những tòa nhà nhỏ làm chỗ cho các vị khách có thể rời thuyền xuống đó nghỉ ngơi thoải mái. Và ngay sát thủ đô, hắn còn ra lệnh sắp xếp một số lớn tàu bè của xứ Giao Chỉ như đang chuẩn bị giao chiến vậy.

Nhưng chưa an tâm, Hoàng Phúc vẫn phải đích thân xem xét coi những lệnh truyền này được thực thi ra sao. Hắn đưa tay lên vỗ, đám phu kiệu dồn chân bước nhanh hơn. Trước buổi thăng đường này, hắn đã triệu tên Đề đốc Trình để hỏi về kết quả công việc. Dù khinh bỉ tên này, nhưng Hoàng Phúc vẫn có thể tin cậy vào nhiệt tình của hắn.

Lúc này tên Đề đốc đang chờ đợi Hoàng Phúc và sau những cái sụp lạy thường lệ, hắn lập tức báo cáo mọi sự việc cho tên Bố Chính ngay: Thúc chỗ này, ép chỗ kia để lệnh cấp trên được chu toàn tốt đẹp nào có khó khăn tí gì đâu. Mọi sự sẽ được sẵn sàng đúng lúc. Đức ông khỏi phải lo ngại gì hết.

- Thế còn những thớt voi đã lo xong chưa?

Viên quan chức nhỏ thó này trước đó cũng đã nêu ra câu hỏi trên cho viên chăm sóc chuồng ngựa của vị thượng quan. Đám rước sẽ gồm ba chục thớt voi, tất thảy đều mang băng bịt trán bằng vàng, vải phủ mình cũng dệt bằng vàng, chân thì đeo lục lạc và trên lưng là chiếc bành sang trọng bậc nhất.

- Thế còn các quan lại bản xứ từ các quận thì sao?

Để tham dự vào nghi lễ và tiệc tùng, đám quan lại này phải mang thẻ bài, hài đỏ, dây nịt quý giá có móc bằng sừng tê giác, mũ đội đầu bằng the dành cho dịp lễ có nhiều nếp gấp nhỏ.

Tên Bố Chính thở ra nhẹ nhõm. Thế là đám quan bản xứ này đã từ bỏ tập tục đi chân đất và thắt búi tóc hình búa trên đỉnh đầu!

- Nhưng trong thành và các vùng lân cận, liệu trong ngoài đã được ổn định chưa?

- Đức ông chắc hắn đã tin chắc vào sự tận tâm cũng như những nỗ lực của tên nô bộc hèn hạ của mình. Những kẻ tình nghi đều đã bị bắt giữ, hoặc sắp sửa bị bắt giữ. Trong mọi trường hợp bọn tình nghi này được lũ mật thám của ngài canh chừng chặt chẽ. Đặc biệt phải dè chừng một số gián điệp ở mạn Nam lợi dụng cơ hội này để trà trộn vào thủ đô tranh thủ cảm tình nhân dân, kể cả việc lân la tới các nho sĩ thuộc loại như Nguyễn Trãi.

Nhắc lại điều này, vài ngày trước khi sứ giả thiên triều sẽ đến, khiến Hoàng Phúc giận điên lên. Hắn hét to:

- Làm thế nào quân súc vật khốn nạn này lại còn dám ngóc đầu lên! Bản tường trình của ngươi về tụi nó nói những gì và chúng có liên hệ gì đến cái gã Nguyễn Trãi đã hết thời hiện chỉ biết vui đùa với đám lông bông ở bến cảng?

Hoàng Phúc tin là tên Đề đốc Trình không làm lơ bất cứ điều gì liên quan đến những hành vi của Nguyễn Trãi và hắn vẫn thường làm bản tường trình chi tiết về việc ấy. Bản chất xảo quyệt của hắn đã chế ngự được sự căm thù, nên hắn đã cố giữ không nói hết tất cả mọi điều hắn biết mà chỉ tiết lộ và nhấn mạnh đến những gì có thể hại được Nguyễn Trãi với thâm ý làm sao cho ông ta có thể bị tử hình hoặc ít ra cũng bị đày sang Trung Hoa.

- Gã lông bông bầu bạn với Nguyễn Trãi tại tửu quán Con Rùa đã chính thức bị nhận diện. Đó là nho sĩ Lê Cảnh Tuân, tác giả bức thư nổi tiếng "Thập Vạn Từ" từng bị kết án lưu đày hiện đang đào tẩu, tên này là một kẻ nguy hiểm chủ trương dấy loạn dưới tất cả mọi hình thức. Việc chặn bắt hắn đã được ấn định nhưng sở dĩ chưa thi hành là bởi vì muốn "nhổ cỏ nhổ cho tận rễ" mà thôi! Và thật đáng ngờ vực biết bao là cuộc hẹn hò kỳ lạ của Nguyễn Trãi nơi đền Trấn Vũ, thần hộ vệ của Đại Việt - quả là một sự trùng hợp đáng lưu ý - với một lão đạo sĩ có tên là Vô Kỷ, ngoài ra lại là một tay đệ tử của Lưu Linh.

- Đúng là thà bỏ mình chứ không bỏ rượu!

Hoàng Phúc nở nụ cười bao dung.

- Xin Đức ông hiểu rõ được tình hình! Lão tu sĩ ấy đến từ Thanh Hóa. Không nghi ngờ gì, lão đã truyền cho tên nho sĩ Trãi một sứ điệp. Vấn đề còn lại là phải khám phá ra nội dung bản sứ điệp ấy, và chẳng bao lâu sẽ biết được thôi.

Hoàng Phúc hỏi tiếp:

- Còn thằng lông bông kia là ai? Nó là tên nào trá hình vậy?

- Xin Đức ông an lâm, gã đó chỉ là một tay thợ rèn thất nghiệp, ồ cái loại ấy mà! Gã ta sinh quán ở Hải Dương, chẳng có gì đáng nói về gã này hết.

Thực sự ngược lại, có nhiều điều đáng nói là đằng khác nếu như Đề đốc Trình tiết lộ ra mối dây huyết nhục nối kết Hương Thầm, ái thiếp đồng thời là món đồ trang sức không sánh bằng cho giấc ngủ và lại là cố vấn tin cậy của tên Bố Chính bề trên hắn, với anh chàng lông bông có tên là Ba đó. Bí mật này là lá chủ ách bài trong cuộc chơi của Trình đối với cả tên Bố Chính lẫn người sủng thiếp, điều mà hắn ta dày công giữ lấy cho riêng mình. Vì thế, Trình đã ra lệnh cắt cổ chính kẻ đã cho hắn biết được điều ấy. Ngoài ra chẳng hiểu bề trên hắn có nhận được báo cáo thêm điều đặc biệt nào liên quan đến Nguyễn Trãi không nhỉ? Liệu ông ấy có biết rằng đã hai lần chàng nho sĩ này gặp gỡ ở những nơi công cộng mà chàng ta cho rằng chẳng ai nghi ngờ, một gã bán dầu người làng Lập Thạch là kẻ sẽ trả lời nhân danh tên Lương mỗi khi được hỏi đến…

Tên Bố Chính bỗng cắt đứt dòng suy nghĩ của Trình bằng một giọng lơ là:

- Có gì lạ thường đối với một con người bị rơi xuống quá thấp như thế đâu?

Phải chi bề trên của Trình chịu khó thẩm tra các sự kiện dưới ánh sáng khôn ngoan thánh trí của ngài, quả thực sẽ là không có gì đáng lưu ý trong việc ấy nếu gã bán dầu nọ không đến từ mạn Nam. Nắm được mối tương quan giữa các sự cố mà bề ngoài xem ra vô nghĩa đó thường là nguồn gốc của nhiều mẻ lưới bố ráp béo bở.

Tên Bố Chính lấy làm hoan hỉ vì đã nghe theo lời khuyên của "Cục cưng" hắn. Giờ đây tên nho sĩ không còn được đề cao do việc anh dũng chối từ của hắn nữa, danh thơm của tiếng tăm tên ấy đã phai nhạt rồi và hiện chỉ còn tồn tại nơi một số dân tỉnh lẻ vốn từ ngày xưa đã từng biết tên ấy mà thôi. Tại Trung Quốc, thường thì người ta chẳng cần phải giết một người mà chỉ cần trù dập người ấy là đủ rồi. Hoàng Phúc lên tiếng:

- Này ông Đề đốc, Bản chức an tâm về lòng nhiệt thành và lòng tận tụy gương mẫu của ông trong việc kiểm soát các công việc. Về tên nho sĩ Nguyễn Trãi thì kể từ đây chẳng còn quan trọng gì hết. Chỉ cần tăng cường giám sát hắn. Thôi đủ rồi!

Nghe thế, Trình bước thụt lùi lui ra. Đức ông, sau khi thỏa mãn với y việc chuẩn bị cho cuộc tiếp đón sứ giả thiên triều, đã bước đi đến chủ tọa buổi thăng đường ban mai.

Nhưng cũng chỉ là những công việc thông thường.

Tên Bố Chính thanh thản phe phẩy chiếc quạt thả dòng tư tưởng của hắn lởn vởn quanh Hương Thầm. Ánh sáng tươi mát buổi sớm mai đã xua tan lũ quỷ sứ ban đêm. Con thị nữ Tiểu Lan vừa rồi trong lúc đi qua lại trong dãy nội phòng đã đưa cặp mắt đồng lõa nhìn Hoàng Phúc. Tối nay, "Cục cưng" của Hoàng Phúc sẽ lại tiếp tục ngủ chung với hắn trên chiếc giường thấm mùi hương xông. Các bức màn sẽ buông xuống tận đất, căn phòng thật yên tĩnh và kín đáo. Ống tay áo bằng lụa cửa Hương Thầm mơn trớn cánh tay hắn, rồi vừa giỡn hớt, họ sẽ cùng nhau giở từng tấm trong cuốn sưu tập các hình ảnh dâm ố ra xem. Rồi Hương Thầm sẽ cởi tấm áo choàng the và chiếc quần thêu ra. Vưu vật bàng sẽ lồ lộ trông ngọt ngào, hồng thắm và căng phồng lên. Lúc đó Hoàng Phúc sẽ truyền cho Sương Núi và Tiểu Lan đến rồi diễn lại, theo cách của hắn, bức họa có tựa đề "bức tranh vẽ cuộc giao hoan vào một đêm xuân". Ngồi trên giường, đôi chân chéo vào nhau, Hoàng Phúc sẽ bảo "Cục cưng" hắn ngồi vào lòng, mắt hướng về phía hắn rồi hắn sẽ từ từ xâm nhập nàng dưới sự trợ giúp của hai đứa tớ nữ. Đứa thứ nhất sẽ giúp tạo những chuyển động bằng cách đẩy vào cặp mông Hương Thầm, đứa thứ hai thì ngồi lại trên giường phía sau vừa áp lưng lên người hắn. Chắc chắn kiểu làm tình này sẽ mang lại niềm khoái lạc cao độ nhất!

Nghĩ đến đó, Hoàng Phục cảm thấy người run lên và "chiếc gậy ngọc" của hắn liền dựng đứng lên trong khi đám quan lại đủ mọi cấp bậc đang hèn hạ phù phục dưới chân hắn.

—★—

Như người ta thường nói:

Mỗi mình ông trời có mắt

Mỗi mình ông trời thấy được mọi sự!

Dù cho tên "Đô đốc văn minh hóa" Trình có được thông báo đầy đủ tin tức mấy đi nữa thì vẫn còn nhiều điều mà hắn không hề hay biết đang diễn ra trong thành phố.

Ỷ vào sự xảo quyệt như loài rắn cộng thêm đám gián điệp cặp mắt chuồn chuồn, tên Trình cứ tưởng rằng mình ngang tầm với tên Thái úy Loan trước kia thì hắn sẽ lấy làm cực kỳ nhục nhã khi biết được rằng gã bán dầu làng Lập Thạch thực ra chính là Võ quan Trần Nguyên Hãn, cháu nội Hoàng thân Trần Nguyên Đán, và là anh em họ của Nguyễn Trãi đã đến thỉnh cầu vị nho sĩ này với tư cách sứ giả của Lê Lợi là người hiện đang chiêu hiền và tiếp đón những kẻ đào tẩu. Và tên Trình sẽ còn đau đớn sâu sắc nếu biết được rằng cách đây ba đêm, lão đạo sĩ Vô Kỷ lừng danh, Ba, tức người anh của Hương Thầm, Trần Nguyên Hãn gã bán dầu giả dạng và Lê Cảnh Tuân kẻ lông bông đóng kịch, đã tụ họp nhau tại đền Trấn Vũ để tổ chức đưa Nguyễn Trãi, kẻ mà Trình rất ư hiềm khích, đào tẩu ra khỏi Đông Quan. Và chắc chắn hắn sẽ giận dữ vò đầu bứt tóc nếu ai đó tiết lộ cho hắn cách thức Nguyễn Trãi đã đánh lừa tên lính gác chàng vào đêm hôm ấy khi chàng dùng chiếc mũ đội đầu của mình trùm lên đầu Nụ Nhài, để y thị ngồi thay vào chỗ chàng trên tấm phản, nhờ đó dưới ánh đèn lờ mờ, người ta đã lầm tưởng Nguyễn Trãi đang say sưa đọc sách trong khi thực sự chàng đã cao bay xa chạy rồi!

Và như thế, trong một căn phòng nhỏ của đền Trấn Vũ mà viên thủ từ cũng là người cùng phe, năm người đàn ông đã vạch ra kế hoạch chạy trốn vào Thanh Hóa như sau:

Cuộc tẩu thoát sẽ diễn ra vào tuần tới, nhằm ngày mùng năm tháng tư năm Mùi này (1415). Vào ngày trọng đại ấy, tên Bố Chính sẽ dẫn đầu đám rước đi ra khỏi bờ tường thành phố "Theo nghi thức chào đón ngoài cổng thành" để tiếp nhận viên sứ giả Thiên Triều khi vị này rời khỏi thuyền xuống bộ. Còn cơ hội nào thuận tiện hơn thế nữa không?

Tất cả Đông Quan từ cư dân đến những kẻ lông bông và những người bán dạo đều chen lấn nhau dọc theo suốt con đường từ Cửa đông Kinh thành đến cảng Đông Bộ Đầu băng ngang qua đường cây Hòe với những cổng chào dựng lên cách nhau từng quãng một. Tất cả quân sĩ Trung Quốc đóng ở Thủ đô với các cấp tướng lĩnh cùng đội cấm vệ với các cấp chỉ huy đều tập trung tại đó. Vì thế, về phía bên kia dòng sông Tô Lịch, trong một góc hoang vắng của Hồ Tây rộng lớn, ai mà thèm chú ý đến bốn vị đạo sĩ và một gã mới nhập tu?

Trước đó, khó khăn đầu tiên là việc tập hợp được tất cả lại tại đền Trấn Vũ rất sớm trước hừng đông, nhất là Nguyễn Trãi.

Vì thế cần phải sử dụng đến chiến thuật sau:

Nhằm mục đích đánh lừa, trước hết là tên mật thám ngày đêm rình rập trước cửa và sau đó là đám Sai nha tên Đề đốc, nên vài ngày trước đó, Nụ Nhài làm bộ thiểu não, loan tin vị nho sĩ bị ốm và ngay trước mắt mọi người, ả ta đi đến vị lương y ở chợ đòi mua thuốc trị sốt. Về phần mình, vị nho sĩ không được ló đầu ló mặt ra ngoài, và vào lúc thuận tiện, chàng sẽ chuồn ngay ra kẽ hở phía sau nhà như trước đó chàng đã có lần làm như vậy. Chiến thuật này có lợi thế là, ngoài việc cho phép tẩu thoát, nó còn gây chậm trễ cho việc phát hiện. Hai ngày sau, Nụ Nhài làm bộ đi đến khu Đại Yên (Trang trại do các Vua đời Lý, và sau đó là đời Trần đã thiết lập kế cận thủ đô. Nơi đây cư dân sống bằng nghề trồng cây dược liệu) để tìm cây thuốc tươi và sau đó chẳng ai thấy cô nàng trở lại vì cô ta đã nhẹ nhàng chuồn về Côn Sơn rồi. Tóm lại, Nguyễn Trãi mà thoát được lần này thì chỉ mới được một phần mười hy vọng.

Tiếp đó, họ phải đi thêm khoảng một dặm, rồi kín đáo băng qua khu vườn bưởi. Đoạn hai chiếc tam bản ẩn giấu trong bụi sậy ven bờ do hai thiếu nữ dân làng chài, chân cẳng và trái tim đều vững chãi, sẽ chờ đón họ. Nếu họ lên được thuyền và ẩn mình trong khoang dưới những tấm chiếu phủ lên thì kể như họ thành công được bốn phần mười.

Dòng sông Tô Lịch chảy dọc theo hai lớp tường thành mạn bắc Hoàng thành vì chỉ có một lối ra duy nhất là cửa Diệu Đức. Nếu vượt qua được cửa này mà không gặp trở ngại, kể như đạt được năm phần mười hy vọng.

Tiếp đó, con sông uốn mình chạy ngoằn ngoèo dọc bờ thành hướng Tây, cuối khúc này là Cửa phụ có tên là Bảo Khánh mạn nam luôn luôn được canh gác. Thông thường, các thuyền đánh cá không làm cho lính canh ngờ vực. Các thuyền đánh cá này ít bị khám xét nhất là khi trên thuyền chỉ có phụ nữ. Các cô gái thuyền phải biết chế ngự nỗi căm ghét đối với lũ Tàu và tỏ ra dễ thương với chúng. Vì vậy nếu có gã lính Tàu nào đòi qua sông thì phải tuân theo ngay để khỏi làm bọn chúng ngờ vực. Nếu lỡ chúng bảo họ cập vào bờ để kiểm soát hàng hóa trên thuyền thì lúc đó những kẻ đào tẩu chỉ còn có cách nhảy xuống nước và cầu Trời đến cứu mà thôi. Nhưng nếu lũ lính gác không chú ý đến họ thì kể như đã thoát được sáu phần mười.

Xa hơn về hướng Nam, dòng sông Tô Lịch sẽ gặp dòng sông Nhuệ. Tại trạm gác nơi này, lũ Tàu sẽ chặn lại tất cả mọi tàu thuyền. Thông thường, chúng không lục soát tàu thuyền mà chỉ buộc tất cả mọi người trên thuyền đến trình diện ở đồn kiểm soát. Nếu các cô lái làm sao cho chúng tin lời mình thì lúc đó có cơ may đạt được bảy phần mười hy vọng.

Rồi ngay trước khi đến được tỉnh Ninh Bình ở mạn Tây Nam trên sông Đáy, các cô lái thuyền này sẽ được một cặp vợ chồng già thay thế, ông chồng tóc bạc trắng còn bà lão nhai trầu bỏm bẻm. Hàng trái cây sẽ thay thế cho những chiếc vó đánh cá thum thủm, hai trong bốn cái khoang còn trống, hai người có thể ẩn mình. Trong trường hợp bị khám xét, bà lão sẽ đề nghị: "Quý ông muốn khám xét khoang nào? Các ông cứ đứng đó đi, tôi sẽ giở mui thuyền để cho quý ông thấy mớ trái cây chúng tôi chuyên chở. Nếu sục sạo không thứ tạ quý ông sẽ làm giập mớ trái cây hết". Nếu tụi lính đánh thuê bỏ đi, kèm theo một ít trái cây được biếu cho chúng, thì kể như đã được hy vọng đến tám phần mười.

Và nếu cuối cùng, dù đi chân hay đi ngựa, họ đến được Thanh Hóa thì kể như kế hoạch thành công được chín phần mười.

Phần còn lại là do Trời định liệu.

—★—

Những tia sáng đầu tiên của hừng đông vừa ló dạng thì một tên quân phi báo phóng thục mạng trên một chú ngựa vàng nhạt chạy đến loan báo cho đám lính gác kinh thành là chín chiếc tàu của tên sứ giả Thiên triều hiện cách bến cảng chừng hai mươi dặm (khoảng cách tối đa để đón tiếp hoặc tháp tùng các nhân vật cao cấp).

Tin này vừa loan tới trong cấm thành, lập tức những hồi chiêng trống nổi lên giục giã. Không lâu sau đó, đám đông tụ họp trên chợ phía cửa Đông nhìn thấy các tấm cửa nặng nề nơi cửa Đông mở ra.

Chưa bao giờ dân chúng cảm thấy thán phục khi thấy một đám rước lộng lẫy đến như thế. Dẫn đầu là nhiều toán kỵ binh, mỗi toán gồm 50 tên trang bị kích nhọn, đi theo sau các sĩ quan mặc áo choàng thêu và yên ngựa gấm. Tất cả đám kỵ binh này cưỡi trên những tuấn mã cũng được trang bị yên cương cho phù hợp với áo choàng màu sắc sặc sỡ của người kỵ sĩ. Tiếng lục lạc bằng đồng khua vang theo từng bước đi của đoàn ngựa, lông chim trĩ, chim bói cá cắm trên khăn quấn đầu rung rinh trong làn gió ban mai, và những lá cờ nhỏ phần phật trên lưng các chàng kỵ sĩ. Nào là kiếm báu, gươm sắc, nào là họa kích, phủ việt126, sáng rực lên như những vầng nguyệt. Những lá cờ thêu tượng trưng các chòm sao Bắc, Đông, Tây, Nam xen lẫn những ngọn cờ màu lửa, màu ngọc bích, màu hổ phách và hạt huyền đang tung bay phất phới, trên đó phô lượn hình con xích tước, thanh long, bạch hổ và Hắc binh.

Từ từ tiến tới giữa hàng võ quan, mặc lễ phục oai nghi được trang hoàng với các họa tiết tùy theo cấp bậc như kỳ lân, sư tử, báo hay cọp, là tên tướng Lữ Nghị cưỡi trên mình con chiến mã uy phong. Trên mảnh áo lót chằng chịt bông hoa, hắn mang thêm một tấm chiến bào nhẹ kết vòng bằng kim loại và lông cánh ngỗng rừng. Treo vào thắt lưng của hắn là những miếng bảo thạch va vào nhau nghe nhịp nhàng, trên đầu hắn, chiếc mũ nạm vàng với những chiếc cánh cứng đứng thẳng lấp loáng dưới tia sáng mặt trời đang lên. Theo sau Lữ Nghị là các lên tướng lĩnh ăn mặc sặc sỡ cưỡi trên lưng những con tuấn mã linh lợi...

Ngay trong lúc ấy, được viên thủ từ dẫn lối, ba tu sĩ bận áo đạo sĩ màu sẫm viền sa-tanh trắng, đầu đội dải khăn đen sẫm bước ra khỏi đền Trấn Vũ và chẳng bao lâu một gã đàn ông trẻ mang chiếc áo ngắn bằng vải thô đến cùng nhập bọn. Mớ tóc cuốn thành lọn rẽ xuống hai bên đầu tạo cho chàng ta dáng vẻ một tên tiểu đồng hay một đệ tử lão giáo. Ai mà nhận ra được đây là gã lãng tử Ba. Tất cả bọn họ hình như đang âu lo chờ đợi. Viên thủ từ vừa giao cho mỗi tu sĩ một cây gậy dài có gắn một cái chuông nhỏ, vừa nói:

- Thời gian cấp bách lắm, có lẽ số mệnh trái nghịch cản ngăn không cho người anh em ấy theo kịp chúng ta. Vậy mong quý vị đừng đánh liều tính mạng quý báu của mình nữa...

Trước con mắt ngỡ ngàng của toàn thể dân thành Đông Quan đang tụ tập, đám rước này khác gì một cơn thủy triều lóng lánh bất tận. Sau đám thủ lĩnh địa phương gồm các quan quận huyện bận áo lụa và đội mũ thêu hoa, giờ đây đến lượt đám quan dân sự thuộc Ba Ty (Văn phòng Trung ương, Hành chính, Tư pháp127 và quân sự) lớp lớp nối đuôi nhau, bận trên mình những chiếc áo dài gấm thêu hình chim chóc trên ngực và lưng, những bầy hạc, bầy khỉ, công và thiên nga, đầu đội mũ cánh chuồn.

Sau bọn họ là cái gì? Sau bọn họ là ai? Là cả một khối màu trắng như rau diếp dại phủ đầy vàng! Tảng núi này là chiếc kiệu chói đỏ trên có lọng che đính ngọc trai, bên dưới là viên Bố Chính đang ngồi chễm chệ! Kẻ nào trước giờ chỉ nghe nói về hắn đều trố mắt ra nhìn! Được tay quản tượng trong bộ y phục người Chiêm Thành dẫn đi, con voi Vijaya linh lợi đang chầm chậm lịch dịch tiến tới.

Tiếp bước con Vijaya, ba mươi chú voi tiếp rước viên sứ giả và đoàn tùy tùng về cung điện, cũng đang bệ vệ tiến bước, xung quanh là đám kỵ binh cầm thương hộ vệ. Trên trán bầy voi có buộc dải bằng vàng, ngà cũng bọc vàng, mắt cá thì đeo lục lạc, mình chúng phủ đầy gấm và trên lưng là chiếc bành màu đỏ thẫm...

Ba vị tu sĩ và tên tùy tùng sắp sửa đến gần thửa vườn bưởi được ấn định trước. Bỗng tiếng vó ngựa làm họ ngoái đầu lại. Ba la lên: Xem kìa!

Ngay lúc đó một chú tiểu chạy hụt hơi theo kịp sau họ. Họ liền kéo chú ta vào dưới tàn cây. Chú tiểu lập tức lên tiếng:

- Đám lính xông ập vào đền thờ tựa lũ ruồi và hiện đang lục soát mọi ngõ ngách. Viên thủ từ của chúng ta đang ráng cầm chân họ, mong quý ngài hãy trốn lẹ đi!

Vừa nghe thế, tựa như gió thổi, cả bọn xông lẹ về hướng bờ sông. Đến nơi họ ngạc nhiên vì chẳng thấy thuyền bè đâu hết. Sao chỉ thấy lau sậy thế này, chẳng thấy dấu vết chiếc tam bản nào cả. Họ đang còn dự tính lao đi tìm kiếm thì bỗng một viên sỏi rơi tõm xuống nước ngay dưới chân họ. Ai ném vậy? Từ đâu thế? Đám sậy bỗng dạt ra, chiếc bánh lái của chiếc tam bản thứ nhất xuất hiện, rồi tiếp là cái thứ hai. Tươi cười dưới chiếc nón lá, My và Soan, hai cô thuyền chài liền hối thúc họ lên thuyền.

Nói thì dài, tuy nhiên, ai cũng biết mình phải làm gì, nên công việc này chỉ kéo dài khoảng thời gian nhai một miếng trầu. Từng cặp hai người một, họ nhảy lên thuyền rồi giở chiếc mui các khoang đựng cá lên và ẩn mình vào các góc còn trống. Thế là lướt nhanh trên dòng sông Tô Lịch, lặng lẽ kéo theo đằng sau những chiếc lưới đánh cá...

Trong khi đám rước hàng ngũ chỉnh tề đứng chờ trên bến cảng Đông Bộ Đầu thì các chiếc thuyền chở vị sứ giả thiên triều từ từ tiến đến gần cảng.

Thừa lệnh viên Bố Chính, dọc trên bờ sông, hàng đàn gia súc xa tít ngoài tầm mắt được tập trung lại, vô số thuyền bè có treo cờ quạt lúc nhúc đậu dọc triền sông. Từng hàng cờ trắng tung bay phất phới trên những ngọn đồi (đồi nhân tạo) ở khu vực gần thành phố.

Chín chiếc tàu mới to lớn từ từ cập bến trong khi Hoàng Phúc và đoàn tùy tùng cùng đám cận vệ bước bộ xuống đất tiến đến theo nghi thức "Tiếp đón ngoài cổng thành". Tất cả viên chức hiện diện đồng loạt bắt chước họ bái gối ba lần và phủ phục chín lần trước kiệu "Long đình" đựng các văn kiện vương triều (Đây là một chiếc bàn, có lọng che, trên đó đặt các đồ vật, thư từ văn kiện vương triều, mọi thứ từ Hoàng đế phán ra hoặc đem đệ trình cho Ngài).

Ngay khi Hoàng Phúc và vị sứ giả thiên triều cúi đầu sâu xuống vái chào nhau thì hắn ta bỗng giật nảy người lên. Chiếc đầu báo, dáng vẻ ngạo mạn và đôi bờ vai đồ sộ kia chỉ có thể là của tên thống soái Trương Phụ mà thôi. Hoàng Phúc nhủ thầm "Tên này vừa mới trở về Trung Quốc được hai tháng, mà sao nay lại quay về Giao Chỉ nhỉ?"

Dù lo ngại thế nào đi nữa, Hoàng Phúc vẫn phải cúc cung đối với vị Thượng khách này. Rất cung kính, hắn ân cần hỏi thăm thánh thể Hoàng đế, rồi đến nỗi vất vả mệt nhọc trong chuyến đi, tình trạng biển khơi, khí hậu nóng lạnh... Hoàn tất các nghi thức xã giao xong, Hoàng Phúc ra dấu truyền cho các thớt voi của vị sứ giả thiên triều và đoàn tùy tùng bước tới.

Tiếp đó, bước theo sau chiếc kiệu Long Đình, do bốn tên lính Tàu khiêng, đám rước quay về lại Kinh Thành. Trong khi nhịp theo bước chân đong đưa của chú voi Vijaya, tên Bố Chính cảm thấy lòng tràn đầy bất mãn. Không biết Hoàng đế thiên triều có bị lừa phỉnh bởi miệng lưỡi các tay vu khống tài tình cố ý trầm trọng hóa những vụ lộn xộn ở mạn Nam Giao Chỉ này không? Sự hiện diện của gã Trương Phụ mà Hoàng Phúc tưởng đã tống khứ được rồi làm hắn xốn xang chẳng khác gì đinh đâm vào mắt, Hoàng Phúc đoán trước sẽ chẳng có gì tốt đẹp cho mình đâu. Trong ý muốn biết rõ điều sẽ xảy ra, Hoàng Phúc nóng lòng trở về đến lại Cấm thành để nghe đọc các chiếu chỉ của thiên triều...

- Này, cô bé, ta đang kiếm một người vị hôn thê đấy.

Một gã lính gác ở cửa phụ mạn Nam la lên.

- Em có biết nhịp chân giỏi ở trên giường không?

Trong chiếc tam bản đi đầu, My vừa lướt thuyền qua vừa ném cho gã lính một nụ cười duyên dáng, tay nàng vẫn không dừng nhịp chèo và giả vờ làm cho chiếc ghe tròng trành ra vẻ như nó trống rỗng vậy. Tại chỗ nằm trong khoang, Vô Kỷ và Trần Nguyên Hãn lăn lóc từ mạn phải sang mạn trái chiếc thuyền. Xa hơn một tí, My giả vờ kéo lưới. Và trong lúc liếc nhìn ra đằng sau về chiếc tam bản thứ hai, My liền vuột miệng kêu lên.

Một tên lính gác vừa reo cười vừa bước tới bờ sông toan níu lại chiếc tam bản của Soan.

Trong chớp nhoáng, My hiểu ra tình hình. Đang lúc cố gắng kéo mẻ lưới quá nặng, - thật rõ là khéo chọn đúng lúc để làm một mẻ lưới kỳ diệu nữa chứ! - Soan đã để cho chiếc thuyền trôi dạt về mé bờ nhằm ngay chỗ dòng sông co hẹp lại.

- Chèo đi! - My vừa la lên vừa chèo nhanh về hướng Soan, tuy nhiên cô nàng vẫn giữ được khoảng cách tốt ngay giữa dòng sông. - Chèo đi!

Dù Soan cố hết sức dùng đôi chân để chèo cũng vô ích vì lũ cá mắc lưới mạnh quá đã kéo chiếc tam bản không cách gì cưỡng nổi về hướng tay gã Tàu đang giơ ra. Nếu bỏ mẻ lưới này thì làm sao không gây ngờ vực cho tên ấy?

My liền ra lệnh, tiếng nàng như chẻ nước trong khi gương mặt vẫn bình tĩnh tươi cười: "Buông hết ra và chèo đi!"

Nhưng chẳng xong rồi! Thằng lính gác đã nhảy lên thuyền và kéo lên bờ một con cá to tổ bố và ghẹo:

- Ta đã xin nghỉ phép để cưới vợ. Trên giường, em biết giữ nhịp chân khá chứ?

Soan chẳng hiểu được một tiếng mô tê gì bởi vì gã lính nói tiếng Tàu nhưng chỉ cần nhìn sự thèm khát trong ánh mắt hắn là nàng đã hiểu.

Giữa các tấm ván hở, hai người đang núp trong khoang nhìn thấy đôi bắp chân và chiếc lưng cục mịch của thằng lính Tàu đang toan tính vật ngã Soan xuống.

Đứng từ bờ bên kia, một thằng lính gác la lên:

- Ngoại trừ đôi bàn chân thô (bàn chân không bó vải) và hàm răng đen, cô bé trông xinh đấy.

My liền la lên:

- Hãy buông cô ta ra!

Vì không dám gây nguy hiểm cho "món hàng" quý báu trên thuyền nên My cũng chẳng biết xử trí ra sao.

Ba thì thầm qua tấm phên ngăn:

- Tôn sư, em giải quyết nó nhé, em có đồ nghề cần dùng đây.

Trong bóng tối khoang thuyền, bàn tay Ba nắm chặt con dao. Nguyễn Trãi thầm thì: "Khoan đã"...

Đám rước vị sứ giả thiên triều tiến vào trong căn phòng thăng trướng rộng lớn, ngày trước là nơi ngự giá, dẫn đầu là lá cờ hiệu thiên triều, đội trống kèn và đội nhạc công.

Vị sứ thần bắt đầu bước qua các bực cấp tiến lên, ở giữa được dựng lên một cái bệ vàng trên đó đặt chiếu chỉ của thiên triều đựng trong túi gấm màu vàng. Một lần nữa, cử tọa vái chào các đồ vật này bằng ba lần quỳ gối và chín lần phủ phục, đoạn ngước lên trong tư thế quỳ gối để nghe tuyên đọc.

Một hạt mồ hôi chảy dài trên trán tên Bố Chính Hoàng Phúc. Mỗi sự vật, mỗi con người lúc này đều bỗng dưng đậm nét lên và đều có vẻ như gây hấn. Hắn bực dọc nhìn thấy bộ dạng thỏa mãn ton hót của thằng Đề đốc Trình, dáng vẻ giảo hoạt của đám quan lại cộng sự, ánh vàng son chói chang nơi dãy cột, màu sắc những bệ đá trông sao mà gay gắt, những tấm áo gấm trông thật nặng nề, rồi đến ánh sáng chói lọi của những ngọn đèn bằng đồng và nhất là cái mặt dã thú tinh quái kênh kiệu của tên thống soái Trương Phụ! Âm thanh rộn ràng của viện trưởng Hàn Lâm càng đọc to lên các thánh chỉ của thiên triều thì hạt mồ hôi từ từ biến thành dòng suối nhỏ lăn dài dọc thái dương tuôn xuống gò má Hoàng Phúc, đồng thời gan ruột hắn héo úa tựa lá bí bầu.

Thế là vào tháng tư năm thứ 13 triều đại đương kim Hoàng đế Minh Thành tổ, do sắc chỉ thiên triều, thống soái Trương Phụ trở thành vị thống nhiếp quyền, quân quản trên toàn cõi Giao Chỉ này. Và số mệnh trái nghịch đã biến Hoàng Phúc trở thành nhân vật thứ hai, và có thể còn là thứ ba trong một xứ sở mà trước đây hắn tự tin rằng đã ngự trị!

Tuyên đọc xong, chiếu chỉ thiên triều lại được đặt vào chiếu túi gấm. Viện trưởng viện Hàn Lâm giao lại cho viên quan được chỉ định, viên quan này quỳ gối đón nhận xong, nâng lên ngang trán rồi lại trao cho một vị quan thuộc cấp khác để ông này mang đi cất kỹ vào một nơi chốn thâm nghiêm...

Ba thì thầm: "Đệ ra tay nhé".

Nguyễn Trãi khẽ đáp: "Khoan! Ta bảo khoan mà!" Ngay lúc đó bỗng nhiên Soan nhìn thấy thằng giặc Tàu bịt mũi rồi giật lùi lại la lên:

- Cái gì ở trong kia? - Vừa la hắn vừa chỉ vào cái thùng ở cạnh cô gái.

- Mắm tôm. - Soan vừa nói vừa hành động, nàng mở nắp thùng lên thọc ngón tay vào thùng rồi chìa ra trước mũi tên Tàu và nói - Anh còn nghi ngờ nữa không?

Sự thèm thuồng vẫn chưa biến khỏi tia nhìn của gã lính gác, hắn la lên cho tên lính đang đứng trên bờ.

- Mày trở về cửa Nam trước đi, tao sẽ ra dấu khi nào đến phiên mày! - Nói xong hắn toan kéo Soan xuống chiếc mui kết bằng lá cạnh các giỏ đựng hàng.

Soan liền cảm thấy ngờ vực. Theo bản năng, cô bé lùi lại phía sau, lấy thùng mắm chắn giữa hai người. Bất cứ người phụ nữ nào từng trải hơn cô bé trong trường hợp tương tự cũng sẽ giả vờ ưng chịu, để tiếp đó các bạn nàng sẽ nhào ra giết chết hắn. Nhưng vì mới mười lăm tuổi đầu, nên Soan chưa hề chung đụng đàn ông. Cặp mắt điên dại của cô bé chỉ còn biết quay tìm kiếm sự trợ giúp từ phía cô bạn My hiện đang kêu gào khản tiếng, rồi chuyển tia nhìn sang các kiện hàng nơi hai kẻ đào tẩu đang ẩn núp rồi lại tiếp tục nhìn vào cái thùng mắm tôm đang mở toang trước mặt. Bỗng nhiên một ý nghĩ chợt lóe lên trong đầu cô bé. Và không để cho tên giặc Tàu kịp ngăn cản, Soan liền thọc mạnh hai tay vào thùng mắm tôm loãng, trây lên khắp người. Mùi hôi bốc lên không thể nào chịu nổi, nhất là lại đối với một tên Tàu. Đám giòi màu hồng bò lúc nhúc trong tóc trên má, trong cổ nàng, từng vạt lem luốc hôi thối phủ đầy lên thân thể nàng từ đầu tới chân. Thấy thế, tên lính Tàu liền hét lên như điên:

- Tao sẽ còn làm gì được với con đĩ tanh hôi như mày! Vừa hét hắn vừa vung thanh gươm.

Nguyễn Trãi khẽ bảo Ba:

- Bây giờ chúng ta hãy ra tay đi!

Nhưng ngay lúc đó, tên giặc Tàu sợ chặt đầu Soan sẽ làm bẩn gươm, nên hắn liền khạc nhổ, rồi trở về bờ mặc cho nước dâng lên tới nách.

Trong khi đó, từ đầu này tới đầu kia, căn phòng tiệc được thắp sáng bởi ngàn ngọn đuốc và lồng đèn, rượu chảy như sông và thức ăn như núi được chuyển đi. Nào là phụng rán nào là rồng chưng cách thủy. Nâng cao ly cốc đồng loạt với lời chúc tụng vui vẻ, phần lớn thực khách đã ngà ngà say. Thỉnh thoảng có kẻ la: "Nổi nhạc lên!". Lập tức tiếng nhạc tuyệt diệu, đến từ những nhạc công mà không ai có thể nhìn thấy trong một căn gác bên cạnh, liền vọng lên, tưởng chừng như xuất phát trực tiếp từ một tiên cung. Trong chiếc ghế danh dự, viên sứ giả thiên triều, đại học sĩ của "Nội Đinh" lúc nghiêng qua đông lúc nghiêng sang tây. Bầu không khí vui vẻ cực kỳ đang ngự trị.

Thực ra trong mọi trường hợp khác, tên Bố Chính Hoàng Phúc hẳn sẽ rất khoan khoái. Thế nhưng ai mà đoán nổi ý định của Trời già. Từ đầu buổi tiệc, đối diện với tia nhìn như loài beo của Tổng binh Trương Phụ, Hoàng Phúc chỉ uống để giữ thể diện nhưng rồi không loại rượu nào có thể làm tan đi tảng đá chua chát đang đè nặng trong lòng hắn. Dù không dám thú nhận ra, nhưng ở tại xứ Giao Chỉ này, Hoàng Phúc đã tin rằng mình được đội mũ gắn bảo thạch, mặc áo thêu rồng, mang vào chân loại hài "Vô Ưu" chỉ dành riêng cho Đức Thánh thượng. Hắn đã từng tưởng tượng mình chiếm được tấm thẻ "bạch ngọc", huy hiệu tượng trưng cho uy quyền tối thượng! Thật đúng là tỉnh giấc Nam Kha! Trong cái xứ Giao Chỉ đầy quyến rũ ma lực và huyền ảo này, khi có bên mình Hương Thầm và chú voi Vijaya, Hoàng Phúc đã quên mất ý đồ bành trướng về ngoại giao và quân sự của Đế quốc Trung Hoa! Những chiến công lừng lẫy dưới triều đại Vĩnh Lạc đã mang lại cho Trung Hoa chẳng những biên giới thời đế quốc triều đại nhà Nguyên, mà còn mở rộng về mạn Nam đến tận nước Đại Việt cổ xưa! Những cuộc xuất chinh đường biển, do Hoạn quan Trịnh Hòa vừa là Nguyên soái vừa là Chính sứ, tại các vương quốc Tây Dương! Việc tấn phong thống tướng Trương Phụ làm Tổng binh xứ Giao Chỉ cũng như sự hiện diện của sứ giả thiên triều, tất cả đều hiện rõ để nhắc Hoàng Phúc nhớ điều ấy! Xứ Giao Chỉ này không chỉ là một thuộc quận của Trung Hoa mà còn là một điểm chiến lược thực sự, một vị trí then chốt tiếp giáp với Chiêm Thành, Thái Lan và Chân Lạp, là căn cứ để sang năm cuộc viễn chinh thứ tư của Trịnh Hòa sẽ dựa vào làm bàn đạp. Trong viễn cảnh đó, vị Hoàng đế, Thiên Tử đã phải cần đến bàn tay sắt của Trương Phụ. Cần phải thu tóm thêm vàng, bạc, đồng, thiếc, gỗ quý, ngọc trai của xứ Giao Chỉ. Cuộc đàm luận với viên sứ giả Thiên triều trước buổi tiệc đã cho Hoàng Phúc thấy rõ điều ấy. Tuy nhiên nếu cứ đòi hỏi Giao Chỉ ngày một nhiều hơn thì chẳng phải là "Lay động đất trời Thổ tinh sao"? (ý nghĩa là chuốc vào mình những phiền muộn, đùa giỡn với tử thần).

Tên Bố Chính Hoàng Phúc vừa nghĩ thế vừa đưa lên miệng nốc liên tiếp nhiều ly rượu. Đằng sau cung cách nhã nhặn và nụ cười quyến rũ của y, ai mà đoán ra được những ý nghĩ ảm đạm trong đầu hắn ta?...

…Trong khi ấy, cách thủ đô hơn một trăm dặm, tại đâu đó ở tỉnh Ninh Bình, những kẻ bôn tẩu đang gắng sưởi ấm sau tấm phên kết bằng lá trong một nơi ẩn náu bên vệ đường. Đêm xuân vào đầu tháng tư này vẫn còn lành lạnh, và từ lúc họ rời những chiếc tam bản của đôi vợ chồng già làm nghề trồng rau, thì như để an bài mọi sự, cơn mưa bắt đầu lã chã rơi.

Xung quanh ngọn lửa yếu tỏa khói xông lên cay mắt, khuôn mặt họ trông giống những chiếc mặt nạ bám chặt vào bóng đêm.

Dù là bậc đạo hạnh, Vô Kỷ cũng nhăn nhó nét mặt như một tên quỷ sứ ma mãnh với những xảo thuật chất đầy tay nải. Phải nói rằng sau khi chuyển bầu rượu của cụ qua mọi bàn tay, cụ đã ừng ực dốc cạn đến giọt cuối cùng! Bộ điệu nặng nề và ngang ngạnh của Ba gợi lên hình ảnh một con tê giác khi đang hung hăng xông tới, nhất là lúc Ba đang thề nguyện rằng việc anh Xuân tức là Lê Cảnh Tuân bị bắt khiến cho mình có thêm lý do để quyết chiến! Nhìn gương mặt rộng lớn và trầm mặc của ông thần Thiện Trần Nguyên Hãn với dáng điệu khiêm nhu như thế, sẽ không ai ngờ được rằng lúc lâm trận chàng ta sẽ hùng hổ như thế nào và cũng chẳng ngờ rằng chàng thuộc về dòng hoàng tộc xưa kia của nhà Trần! Chính chàng cũng là một kẻ chủ trương, một khi đã vào đến Thanh Hóa, là phải tìm theo Lê Lợi và khởi binh. Chàng nói về điều ấy với lòng tràn đầy nhiệt tình. Sứ vụ bí mật của chàng ở Đông Quan không gì khác ngoài việc lôi kéo Nguyễn Trãi vào hàng ngũ cho được.

Vị nho sĩ lắng nghe cuộc trò chuyện. Gương mặt của chàng, của một nhà hiền triết cũng như một khách lãng tử hơi lập dị, chỉ biểu lộ ra sự chú tâm cao độ. Cuối cùng Trãi lên tiếng:

- Từ lúc quân Minh xem đất nước chúng ta chỉ là một quận Giao Chỉ, một mảnh đất thuộc về Thiên Triều, và xem dân tộc chúng ta như một đám dân man rợ, không lễ giáo không văn hóa, thì đã có nhiều cuộc nổi dậy bùng nổ ra nhưng tất cả đều chỉ luống cuống. Trần Giản Định và sau đó là Trần Quý Khoáng đã nổi lên chống lại một trăm ngàn ngọn giáo, nhưng đã không thành công. Chắc hẳn mảnh đất của chúng ta luôn sản sinh ra các bậc anh hùng và nếu xem xét kỹ các cuộc khởi nghĩa trước đây, ta có thể nói rằng chúng ta, về đầu óc thì không nói, nhưng về con tim thì không thiếu. Đối diện đám quân thù hăng say quyết đưa ta đến suy vong, dân chúng đã chiến đấu nhưng không có một tầm nhìn xa rộng. Suốt mười năm qua, tựa những chiếc xuồng trôi dạt, chúng ta nhìn thấy khắp nơi toàn là sự man rợ, bao người đã bị đẩy vào cái chết không thương tiếc, dân tộc chúng ta bị đồng hóa, nền văn hóa cổ truyền của chúng ta bị tiêu diệt!

Mấy người kia gật đầu kính cẩn chờ nghe Trãi nói tiếp. Vị nho sĩ lại lên tiếng:

- Suốt mười năm ròng, người huynh đệ của quý vị đây đã lùng sục quá khứ, bình luận hiện tại, tìm hiểu những lý do gây nên thất bại, đánh giá những tác nhân tạo ra chiến thắng, cả đến trong giấc mơ cũng bị các kế hoạch nổi dậy ám ảnh. - Vừa nói Trãi vừa lôi từ ống tay áo ra một túi xách nhỏ bằng da rắn, đoạn lấy ra một tập sách nhỏ. - Để tìm ra con đường đúng đắn để cứu với nhân dân, đệ đã trích ra được một số lời dạy ghi vào trong quyển sách nhỏ này theo nguyên tắc Tôn Tử: "Biết mình biết người"

Trãi nói với họ bằng một giọng quyền uy chắc nịch đồng thời thật đơn giản giống như chàng đang nói rằng: "Ta là nỗi đớn đau và nhục nhã của quý vị! Ta là đám dân đau khổ nhưng không có họ thì không thể có sự cứu vớt. Bởi vì sự thịnh suy, sống còn của tổ quốc tùy thuộc vào sức mạnh của nhân dân là dòng nước nâng đỡ con thuyền quyền bính mà cũng có thể làm cho con thuyền ấy chao đảo."

Bởi vì nhà Trần đã không biết lo nghĩ đến nỗi khốn khổ của dân chúng, đã lơ là trước nỗi bất mãn của họ, nên đã bị suy vong và những cuộc nổi dậy của các Hoàng thân họ Trần cuối cùng, ngay từ đầu đã đi vào con đường thất bại!

Bởi vì nền chính trị của nhà Hồ quá nặng nề nên chỉ cần nửa năm va chạm là đủ cho sự nghiệp bị đổ nhào và đất nước lại rơi vào tay quân thù!

Thế rồi, từ Lạng Giang đến Thái Nguyên, từ Đỗ Song đến Trường Yên, từ Thanh Hóa đến Nghệ An, các cuộc nổi dậy tiếp nhau. Nơi miền núi đã bùng ra "phong trào áo đỏ" rộng lớn của sắc dân chư hầu thiểu số. Dưới sự khích động của các nhân sĩ địa phương, đám nông dân và nô bộc đã vùng lên chống bè lũ quân Minh xâm lược man rợ để đòi lại quyền sống. Nhưng vô ích thay! Tập hợp những người ái quốc lại cũng vẫn chưa đủ đâu!

Ba liền la lên:

- Thưa tôn sư, nếu vậy thì phải làm gì đây? - Nguyễn Trãi đưa tay phác một cử chỉ hàm ý, chú hãy thong thả, rồi sẽ hiểu.

- Phải tập hợp toàn thể đất nước lại. Chỉ có bằng cách thu phục nhân tâm và nối kết các tâm hồn với nhau, người ta mới có thể đạt được những thành công to lớn, những sự nghiệp lẫy lừng. Chiến đấu để cứu dân tức là cứu nước và ngược lại cứu nước tức là cứu dân. Không thể nào tách lìa hai mục đích trên được. Con đường cần phải theo là sử dụng bạo lực chính đáng, dùng đại nghĩa thắng hung tàn, tập hợp sức mạnh của đất nước dưới lá cờ Nhân Nghĩa!

- Nhưng thưa tôn sư - Ba sẵn đà buột miệng nói - làm sao có thể thắng lũ giặc Minh man rợ bạo tàn này nếu như không man rợ bạo tàn hơn chúng? Thằng Trình đầu sỏ rồi đến băng nhóm của bè lũ phản bội thật là đáng chết! Phải giết bọn chúng không thương tiếc! Nếu mỗi người dân trong nước đều tự hứa phải tru triệt cho được một tên Tàu thì cũng chẳng bao lâu chúng ta sẽ chiến thắng bọn chúng!

Nguyễn Trãi vừa lắc đầu vừa mỉm cười. Chàng tiếp lời:

- Theo học thuyết quân sự, "kẻ nào có lòng nhân thì có thể dùng sự yếu nhược của mình để khuất phục sức mạnh, kẻ nào yêu công lý thì có thể dùng thiểu số áp đảo đa số". Vì thế cần phải tập hợp dân chúng lại, ghi vào tâm khảm họ lòng dốc quyết đánh đuổi lũ giặc Tàu, bằng cách chứng tỏ cho họ biết còn có một con đường nhân đạo có thể thay cho chính sách bạo tàn man rợ, còn có những thủ lĩnh biết ưu tư đến việc cải thiện số phận nhân dân. Vì thế, tôi xin lặp lại, chính nhờ lá cờ nhân nghĩa mà chúng ta mới có thể quy tụ các lực lượng mỗi lúc mỗi nhiều. Ngày hôm nay chúng ta còn yếu kém, trong khi quân thù thì hùng mạnh. Vì thế chưa cần phải tấn công vào các thành lũy. Cho bằng, sử dụng chiến thuật "Tâm chiến", kết hợp các chiến dịch với việc thuyết phục ngõ hầu làm tan rã sức mạnh quân địch, khiến chúng phải đầu hàng mà chẳng cần giao chiến.

Mãi đến lúc này Trần Nguyên Hãn mới lên tiếng:

- Đại huynh, xin cho phép tên võ quan khờ khạo này đưa ra một lời phản bác. Một chiến thuật như thế sẽ đòi hỏi nhiều thời gian và trong lúc ấy quân thù sẽ củng cố được vị thế của chúng. Đám nông dân, nô bộc và những kẻ khốn khổ đã đáp ứng lời hiệu triệu của Lê Lợi do lòng căm thù quân Minh và các tên phản bội. Nhiệm vụ tức thời của chúng ta là dựa vào họ để quấy rầy liên tục quân thù và giao tranh với chúng mới phải chứ?

Nguyễn Trãi ngó nhìn Ba đang châm thêm lửa. Chàng lên tiếng:

- Thưa Đại huynh, sự căm thù đích thực là một động cơ mãnh liệt, tuy nhiên dân chúng nào có yêu thích chiến tranh. Bị dồn ép, họ có thể vùng lên, ào ạt như ngọn lửa, nhưng rồi sẽ lụi tàn rất nhanh và sẽ bị sa lầy vào sự khốn khổ. Nếu không có niềm hy vọng một cuộc sống tốt hơn, công bằng hơn thì cuộc chiến đấu sẽ bị rơi vào ngõ cụt. Hiện nay quân thù đang cực kỳ hùng mạnh. Cuộc chiến mà chúng ta đương đầu sẽ là một sự nghiệp lâu dài và có tầm cỡ lớn lao. Chúng ta sẽ gặp nhiều thử thách, kể cả những bước nản lòng. Vì thế chúng ta phải triển khai sức mạnh bằng cách tụ tập nhân dân như dưới chung một mái gia đình.

Ba hướng nhìn về phía vị nho sĩ, gương mặt chú ta rạng rỡ thốt lên.

- Chắc chắn nhân dân sẽ đông đúc đứng lên nếu hứa cho họ là sau đó sẽ không còn những tên bóc lột cũng như chẳng còn lũ giặc Tàu, rồi thuế khóa sẽ được phân phối hợp lý hơn, đất đai sẽ trao cho người cày và quyền hành các quan lại cũng như chức sắc trong làng sẽ được giới hạn lại!

- Chắc chắn dân chúng sẽ bước theo mà! Thưa Tôn sư, đó có phải là Nhân Đạo vẹn toàn không? -Ba nối lời và hướng về Nguyễn Trãi một khuôn mặt rạng rỡ. Nguyễn Trãi đáp:

- Chính đó là Nhân Đạo vẹn toàn. Chúng ta hãy làm sao cho lòng nhân ấy hướng dẫn cuộc đấu tranh của chúng ta đến chiến thắng và cả sau đó nữa.

Trần Nguyên Hãn quan sát họ, gương mặt vẫn còn đầy nghi vấn. Chắc chắn nỗi ngờ vực vừa đến làm chàng giảm đi niềm vui đã thâu phục được Nguyễn Trãi. Sức mạnh căn bản lại được gán cho quần chúng nhân dân, trong khi sức mạnh thực sự là ở trong tay sĩ quan và binh lính, rồi lại còn phải lo thu phục trái tim tầng lớp nông dân trong khi lẽ ra phải làm sao bảo đảm được trái tim trung thực của đông đảo chiến binh, lòng tận tụy của họ đến chỗ sẵn sàng chết vì thủ lĩnh, như thể những quan điểm của Nguyễn Trãi trái mùa hay sao? Những quan điểm ấy giúp ích gì cho dự định to tát của Lê Lợi?

Hãn lên tiếng:

- Đại huynh à, tài năng của đệ chắc chắn không bằng một phần mười của Đại huynh, tuy nhiên chúng ta có thể thắng lũ giặc Tàu chỉ bằng với những tâm tình tốt đẹp sao?

Nguyễn Trãi che giấu tia nhìn của mình dưới một nụ cười tế nhị:

- Chắc chắn thế! Tuy nhiên chúng ta cũng không thể thắng bọn chúng nếu chúng ta không có chính nghĩa, nếu chúng ta không có sự đồng tình của đa số, của toàn thể nhân dân. Lời phản bác của huynh hoàn toàn thích đáng. Trong tập sách nhan đề: "Đại sách Bình Ngô", đệ đã nghiên cứu một chiến thuật nối kết sự tấn công của quân kháng chiến với sự nổi dậy của nhân dân và với hành động thu phục nhân tâm. Xin cho phép đệ trình bày với huynh sách lược này và nhờ huynh chỉ giáo cho. Và thưa đây là...

Từ xa, Vô Kỷ chứng kiến cuộc bàn luận. Sau khi nốc cạn bình rượu, cụ cảm thấy cần phải đi ra ngoài dưới cơn mưa bụi đang tiếp tục buông rơi để làm dịu mát "hồn vía" trong người hiện đang ngây ngất khá cao độ.

Ở nơi xa, tại Đông Quan, quây quần xung quanh tên sứ giả Thiên Triều mang trong mình giấc mộng bành trướng lớn của nhà Minh, lũ giặc Tàu cùng lũ tùy tùng, những tên cộng sự và những đứa phản bội đang yến tiệc linh đình. Trong khi đó tại các bờ thành và cổng Chính, những tên lính Tàu thuộc đạo quân hùng hậu của chúng, giáo cầm tay, gươm giắt nịt đang canh gác cũng như mọi nơi khác trên toàn lãnh thổ Giao Chỉ.

Còn nơi đây, dưới tấm phên che bằng lá cây, xung quanh ngọn lửa leo lét, ba con người bị tầm nã, đói khát, tuy rét run dưới tấm áo giả làm đạo sĩ, nhưng lòng tràn đầy nỗi căm giận quân xâm lược, âu lo cho số phận tổ quốc, nóng lòng cứu vớt quê hương mình với đạo quân chỉ có duy nhất là tầng lớp nông dân không đất đai, đám người không nhà cửa, đám dân khốn cùng và kể cả những kẻ chết mà lòng chưa nguôi nỗi căm thù.

Nhìn ba bóng người đang thức giấc cạnh đống lửa chập chờn giữa màn đêm tăm tối, Vô Kỷ nở một nụ cười, một nụ cười đầy bí ẩn.

[←123]

Triết gia Trung Hoa thế kỷ thứ IV trước Công nguyên

[←124]

Chủ Sơn: tên Hương, sau đổi là thôn Thuỷ Chí, là Lôi Dương nay là xã Xuân Thắng, huyện Thọ Xuân, Thanh Hoá.

[←125]

Tức là ngày 10 tháng 9 năm 1385

[←126]

loại dao hình chiếc hái hai lưỡi

[←127]

Bố chính và án sát

« Lùi
Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của yveline féray