Những cánh hoa đầu mùa rung rinh trên các triền đá. Ngọn núi nhung nhúc người nhưng vẫn lặng yên.
Đám nghĩa quân người thì nằm sấp trên đám cỏ xanh mùa xuân, người thì ngồi chồm hỗm sau các hốc đá hai bên khe núi, không ai nói với ai một lời. Chỉ có tiếng chim hót, tiếng hoẵng kêu thỉnh thoảng chọc thủng sự yên tĩnh của núi rừng.
Tận đáy khe vực, chàng Lai biệt danh Chú Vượn đang liên tục áp sát tai vào mặt đất lắng nghe rồi lại ngước nhìn về phía đỉnh núi, nơi Lê Lợi đang chờ đợi diễn biến gương mặt xương xẩu kỳ bí của chàng nhưng vẫn không đưa tay ra hiệu lệnh như đã quy ước.
Thời gian lặng lẽ trôi qua.
Ngay sau khi được trinh sát Lê Lý biệt danh Quỷ tàng hình cho hay tin quân Tàu do Mã Kỳ dẫn đầu đã rời cửa đông thành Tây Đô nhằm tấn công Lam Sơn đúng như dự đoán, Chủ Soái Lê Lợi đã tập hợp đám thủ hạ để giáng cho hắn một đòn bất ngờ tại Lạc Thuỷ.
Nhà cố vấn chiến lược Nguyễn Trãi đã chỉ đạo không được phó mặc bất cứ điều gì cho may rủi, cho nên sau những ngày liên tục rảo bước, các cánh quân đã đủ thời giờ chuẩn bị cho việc mai phục theo đúng địa hình, vừa tiện lợi cho việc tiến công mà lại vừa đảm bảo cho việc rút lui an toàn về hướng núi Chí Linh với đầy đủ quân trang lương thực.
Hai vị chỉ huy bộ binh là Lê Thạch biệt danh Bão Táp và Lưu Nhân Chu biệt danh Diêm Vương đang cùng vài trăm kỵ binh mai phục hai bên khe núi, vị chỉ huy thứ ba Lê Thụ biệt danh Tận Thoát đang cùng với quân của mình chốt ở tuyến đầu chờ cho Mã Kỳ và đại quân của hắn dấn sâu vào khe núi để xẻ làm đôi toán hậu quân của chúng.
Dưới sự chỉ huy của Hiểm biệt danh Chồn ngoài hang, là người sử dụng rất thành thục thanh đoản đao, một đám kỵ binh Việt đang án ngữ lối ra của khe núi sẵn sàng ùa ra như sấm chớp tấn công tiêu diệt địch. Đám kỵ binh gan dạ này cưỡi những chiến mã bản xứ tầm vóc nhỏ thó linh hoạt như thuỷ ngân146, trên lưng mang những ống đồng chứa đầy tên tẩm độc...
Đằng xa trên chỏm núi, Chủ Soái Lê Lợi mình khoác chiến bào, nét mặt bất động.
Đang căng thẳng ngóng chờ tín hiệu của chú Vượn Lai từ phía dưới, cặp mắt ngài lóe lên tay nắm chặt đốc kiếm, mồ hôi tuôn ra thấm đầy lòng bàn tay và ria mép. Yên lặng bao trùm khắp núi non. Ngày 16 tháng giêng năm Mậu Tuất này (1418) phải chăng là một ngày tốt đầy may mắn?
Sự chờ đợi vẫn chầm chậm kéo dài.
Thế rồi, bỗng sau khi áp tai lần nữa vào mặt đất dưới khe núi, Vượn Lai nhảy dựng lên, tay vẫy vẫy lá cờ hiệu màu vàng, về hướng đỉnh núi. Lập tức, Lê Lợi vung cao lưỡi kiếm.
Quân Tàu đang tiến đến gần. Trong khoảng thời gian chín một nồi cơm, toán quân Tàu đầu tiên sẽ tiến vào trong khe vực.
Từ hai bên bờ vực, đám bộ binh của Lê Thạch biệt danh Bão Táp và của Lưu Nhân Chu biệt danh Diêm Vương, gươm giáo hườm tay, đang lẩn mình giữa các khe đá. Trong khi đó các kỵ binh do Vượn Lai và Chồn Hiểm chỉ huy tức tốc bám sát theo và chỉ chờ hiệu lệnh là lao mình xuống dốc từ các khe núi vồ ập vào đám quân địch.
Ai nấy đều yên lặng không nhúc nhích, chờ hiệu lệnh Chủ Soái Lê Lợi.
Vài cánh chim hoảng sợ vỗ cánh bay đi... Và kia, đám quân Tàu đang từ từ tiến bước! Người ta nghe vang dội tiếng lạch cạch chen lẫn tiếng chân thình thịch, chúng đã tiến sâu vào khe núi!
Buổi sáng trong lành mùa xuân hôm nay đang chờ đón tử thần đến gần. Cánh tay giơ cao của con rồng Lam Sơn vẫn chưa vẫy xuống. Đã nghe rõ tiếng giáp trụ va nhau xen tiếng vó ngựa lẫn tiếng xe rền. Thế mà cánh tay của Chủ Soái vẫn chưa vẫy xuống!
Phải chờ đến khi đại bộ phận quân Ngô vào lọt hết trong khe. Đám Tàu ô vẫn rầm rộ tiến bước, chẳng nghi ngờ đến sự hiện diện của nghĩa quân. Lê Lợi hé miệng cười để lộ đôi hàm răng khát mồi, cặp mắt hùng hổ toé ra tia nhìn của một mãnh thú, tấm lưng hùm vươn căng lên. Trông ngài đúng là hiện thân của sự hung hãn.
Ngay khi toán bộ binh Tàu đầu tiên bắt đầu ló ra khỏi khe vực, Lê Lợi liền hạ thanh gươm xuống, đồng thời kéo theo đám kỵ binh bổ nhào xuống đám quân thù, tựa như diều hâu vồ mồi, trong tiếng reo hò sát khí.
Cuộc tập kích quá bất ngờ khiến đám tiền quân giặc Tàu trở thành miếng mồi ngon béo bở. Chúng bị gươm đao tung hoành đâm chém, phủ việt147 mặc sức đốn chặt, tên nỏ tung bay trúng đích, máu tuôn xối xả. Đầu lâu, tứ chi, văng ra tung toé, tiếng thét trận hòa lẫn tiếng rên la xé toạc bầu không khí. Một số giặc Tàu sau khi hoàn hồn đã cố gắng quờ quạng phản công nhưng vô ích. Chúng chỉ gây thêm thương tích cho mình! Trong khi ấy, đám kỵ binh Việt do chính Lê Lợi chỉ huy hai bên tả hữu có Vượn Lai và Chồn Hiểm bồi thêm cho hàng ngũ chúng những tổn thất khủng khiếp.
Trước diễn biến bất ngờ, Mã Kỳ vội quay ngựa chạy lẫn vào giữa đám quân và ra lệnh cho kỵ binh xông lên. Trống trận thét gào, cờ quạt giương lên cũng vô ích, bởi đám bộ binh đi trước vẫn không ngừng tháo lui, nên đám kỵ binh không sao xông tới được. Thế nên bị kẹp giữa hai hốc đá thẳng đứng không lối thoát, đám kỵ binh này đành bất lực đứng trơ nhìn cuộc tàn sát.
Đám sơn cước người Mường dùng đoản đao chẻ sọ lũ giặc Tàu. Giữa chiến địa, trong chiếc chiến bào màu sẫm, Lê Lợi tung hoành như cơn lốc trên chú ngựa ô, vung kiếm đâm chém tơi bời. Hình như ngài không còn thuộc về dương thế nữa! Cả thần lực và sinh khí ngài tập trung vào thanh trường kiếm, chiến đấu như trong cơn xuất thần. Giao tranh và hạ sát mười tên giặc xong, ngài lại quay sang tiếp chiến với mười tên khác.
Kinh hãi quá, Phương Chính (tướng Tàu), viên tướng chỉ huy kỵ binh không rời mắt khỏi con người đang như một vị sát tinh tắm trong máu giặc từ đầu đến chân!
Rồi như cơn sóng tràn bờ thình lình rút đi, theo hiệu lệnh của Lê Lợi, đám kỵ binh Việt bất ngờ rời chiến địa, và chỉ trong chớp nhoáng, bụng ngựa sắt phóng sát đất, họ đã mất hút vào trong rặng núi, nhưng lập tức đám bộ binh của Lê Thạch, biệt danh Bão Táp, và của Diêm Vương Lưu Nhân Chu lại bất ngờ, từ sau các phiến đá, ào ạt chảy ra, vừa cắt vừa chặt và đưa về âm phủ bất cứ tên giặc nào ngáng đường. Rồi đến phiên họ lại chớp nhoáng rút lui dưới sự hộ vệ của dàn cung tiễn từ trên đỉnh cao đang bắn tua tủa vào đám địch quân...
Giận bầm gan, tím ruột, Phương Chính ra lệnh cho kỵ binh phóng theo, băng qua dày xéo lên hàng đống xác chết, chúng vẫn không lần ra dấu vết của đám bộ binh Lê Lợi! Chỉ thấy một dãy sương mù giăng giăng các phiến đá ở lối ra của khe vực... Ngơ ngác, Phương Chính và các phó tướng của hắn liền dừng ngựa dò xét trận địa xem sao thì từ phía sau lại nổi lên tiếng trống trận. Không nghi ngờ gì nữa, đám "giặc cỏ" này đang tập hậu tấn công chúng. Chúng vội phóng đến tiếp cứu cho tướng quân Mã Kỳ thì ngay lúc đó, đám kỵ binh Việt từ trên dốc núi tràn xuống như dòng thác lũ đang gầm thét.
- Lũ giặc cỏ lại tấn công kìa! - Phương Chính vừa thét to vừa thúc đám kỵ binh Tàu xông tới giáp trận.
Kỵ sĩ và chiến mã va vào nhau choang choảng khiến gươm giáo cũng bị sứt mẻ cho nên quân Tàu ô vội nới giãn hàng ra. Những lưỡi kiếm lóe lên như ánh chớp, những mũi kích vung lên tứ phương, cung tên rơi lã chã. Đám kỵ binh Việt dốc toàn lực vào trận chiến, nhanh nhẹn tránh né thoát khỏi đinh ba, trượng sắt của quân địch, xông vào đánh tan tác lũ quân Ngô, chúng ngã xuống tả tơi như những chiếc lá vàng rơi lả tả trong cơn gió xoáy... Các chiến mã ngã nhào, kỵ binh Tàu trúng thương ngã xuống, đứa nào đứa nấy mắt lòi ra khỏi tròng, gan ruột phơi bày tung toé. Lê Lợi, ngọn giáo và thanh kiếm trong tay, Vượn Lai và Chồn Hiểm, thanh trường đao trong tay, cả ba người hăng say chém giết. Ai có thể đương đầu nổi họ?
Quá đỗi kinh hoàng, không thể nào chống cự nổi "đám quỷ dữ" này nữa, Phương Chính vội truyền lệnh đánh chiêng lui quân và cùng với đám kỵ binh tan tác, hắn bất thần quay ngựa tính nhập vào đoàn quân của Chủ tướng Mã Kỳ ở bên kia khe vực.
Thế là, hắn càng lún sâu vào bẫy và càng chịu thêm tổn thất to lớn hơn nữa vì bộ binh Việt do Lê Thụ, biệt danh Tận Thoát chỉ huy đã chẻ đôi hàng hậu quân của chúng!! Khi xuất quân, chúng thề quyết sẽ chặt đầu Lê Lợi, thế mà giờ đây, hai phần ba số quân đang phơi thây trên mặt đất, trong khi số còn lại lãnh nhiệm vụ bảo vệ cho tên Chủ tướng Mã Kỳ lẫn giữa đoàn quân đang cố sức phá vòng vây trong cơn tuyệt vọng.
Thấy thế, Phương Chính giận điên lên, hắn cùng toán kỵ binh của mình nhào đến trợ lực. Với lòng quyết tử đứa thì giáo, đứa thì rìu, đứa thì côn, chúng hung hãn xông tới, tay khua tròn tấm thuẫn rộng lớn để che thân. Cuối cùng thì chúng cũng mở ra được một lối nhỏ cho Mã Kỳ lẩn vào một cách an toàn, theo sau là đám tàn quân gồm những tên còn sức, ba chân bốn cẳng chạy dài. Theo như chúng còn ghi nhớ thì quân Tàu chưa bao giờ bị nếm mùi đại bại như thế ở cái xứ Giao Chỉ này!
Sau khi cắm đầu phi ngựa bạt mạng qua nhiều dặm trường, Mã Kỳ dừng lại nhảy xuống yên, tay đưa lên tận thái dương khấn vái tạ ơn Thiên Địa đã cứu sống hắn, đồng thời thâu thập tàn quân, gồm toàn những tên kiệt sức, hoảng loạn trên lưng những con ngựa mệt đừ. Tổn thất về người, vật, vũ khí và quân lương, quân dụng thật vô số kể! Chỉ nghĩ đến chuyện phải trình báo cho Đại Thống soái Lý Bân về tổn thất này cũng đủ làm Mã Kỳ sợ vỡ mật! Trong khi hắn còn quá kinh hoàng nên chẳng biết xử trí làm sao thì phó tướng Phương Chính vội thưa:
- Thưa Chủ tướng, xin ngài chớ nên phiền muộn đến thế! Kẻ thuộc hạ bất tài này xin hiến ngài ý kiến như sau: Ngay lập tức, ngài hãy sai các tên giao liên về Tây Đô điều động lớp tân binh như đã định để bổ sung cho đạo quân, sau đó, chúng ta bất thần quay trở lại Lam Sơn trừng trị cho đám giặc cỏ này một mẻ đích đáng.
Mã Kỳ liền nói:
- Nhưng đám giặc cỏ ấy núp tận các hang sâu trong núi thì làm sao chúng ta vây bắt chúng được?
Phương Chính thưa:
- Xin Chủ tướng hãy tín nhiệm nơi tiện chức! - vừa nói, hắn vừa vỗ vỗ vào trán - tiện chức xin hiến một kế tuyệt diệu để buộc tên phản tặc Lê Lợi phải thò đầu ra khỏi hang ổ của hắn. Tiện chức dám đoán chắc như thế! Ngài sẽ tóm được hắn, hắn và tất cả đồng đảng, dễ như thò tay vào hũ bắt con rùa vậy. Ngài sẽ lấy lại được uy danh hổ tướng của ngài... Xin ngài hãy lắng tai nghe.
Trong khi Phương Chính vạch mưu kế cho Mã Kỳ thì cách đó vài dặm, Lê Lợi gióng chiêng tập hợp nghĩa quân lại. Ngài truyền lệnh thu nhặt chiến bào, khí giới cung tên của giặc đồng thời di tản từng nghĩa quân bị thương vào các hang sâu trong núi và giao cho y sư Dương chăm sóc. Không vội ăn mừng chiến thắng chưa phải lúc, ngài tức tốc truyền lệnh cho đoàn quân rút về hướng núi Chí Linh, nơi đó Nguyễn Trãi và phần còn lại của bộ tham mưu đang chờ.
***
Thế là trên lưng con ngựa Mường có tài leo núi chẳng thua gì một chú sơn dương, Lê Lợi cùng đoàn thuộc hạ rong ruổi tiến về hướng núi rừng Chí Linh theo lộ trình đã chọn. Sau trận thắng đầu tiên này, với trực giác của người từng sành sỏi trận mạc, ngài biết phải cẩn trọng. Mặc dù con đường dẫn đến đích băng qua vùng cao nguyên miệt Tây Thanh Hoá lúc thì phải chen giữa những vũng sâu chật hẹp ngoằn ngoèo, khi thì phải men theo các vách dốc cheo leo khiến cho cuộc hành quân rất vất vả nhưng Lê Lợi vẫn không ngừng hối thúc quân sĩ tiến nhanh vì chỉ khi vào hẳn trong khu rừng già sâu hiểm của cụm núi Phù Dinh thì họ mới thực sự được an toàn. Cứ thế liên tục ngày đêm Lê Lợi và đoàn quân dồn dập tiến bước...
Tại Lạc Thuỷ, nhờ đám thám báo nhanh nhẹn, tướng giặc Mã Kỳ chỉ cần vài ngày là đã củng cố xong đạo quân rồi tiến về Lam Sơn. Phương Chính thưa: "Ngay khi các quan chức địa phương ra đón tiếp ngài ở ngoài tường thành thì lập tức ngài chỉ cần phái hai tiểu đội đến đánh úp lãnh địa của tên đầu mục đạo tặc này, đồng thời xâm chiếm tài sản và tiêu diệt toàn bộ bà con thân thích của hắn"...
Thế là ngay khi vừa đến Lam Sơn, Mã Kỳ tức tốc ra lệnh. Trong lúc tên chủ tướng đang trao đổi những lời thăm hỏi theo nghi thức với các chức sắc do tên tri huyện Đỗ Phủ và tên cố vấn Lương Nhữ Hốt cầm đầu thì bọn thủ hạ của hắn như một cơn cuồng phong bất thình lình ập vào lãnh địa của Lê Lợi gieo bao chết chóc và tàn phá thê thảm.
Chúng đẩy các đầy tớ gái xuống cái giếng sau nhà, dùng gươm chém những người giữ ngựa và thanh toán tất cả bọn người hầu. Chúng cắt cổ tất cả các cụ già, băm nát tất cả chẳng trừ ai trong gia đình bất kể nam hay nữ. Tất cả mọi người ở đó dù đang làm việc, ngủ nghỉ hay ăn uống cũng đều bất ngờ bị bọn chúng "hoá kiếp", thân mình ngả một nơi, đầu văng một nẻo, cổ họng bị cứa đến tận mang tai! Không kể cả những thằng nhóc con lem luốc bị chúng gặp thấy trong bếp hay ngoài bờ ao, các bà vú nuôi đang cho trẻ bú và các cụ già lụm khụm lùa chưa xong chén cơm vào miệng, tất cả hơn 60 người đều bị bọn chúng giết sạch! Thây người già trẻ lẫn lộn nằm lăn lóc đầy ở ngoài sân, nơi các chuồng ngựa, các kho lẫm148 và các phòng trong lẫn vách ngoài. Tóm lại, tất cả lãnh địa nhà họ Lê chìm ngập trong vũng máu!
Khi lưỡi dao đã bị cùn đi vì trò chẻ người làm đôi thì lũ giặc chỉ còn cách xẻo tai của thân bằng quyến thuộc Lê Lợi và của cả đám lê dân còn sống, các phụ nữ và trẻ con chạy trốn bị bắt lại thì chúng đem xuống thuyền mang đi. Kế đó, chúng vơ vét tất cả các loại chai hũ chén đĩa, bình xông hương bằng vàng và bạc rồi hạ thịt hàng loạt các trâu bò và ngựa để khao nhau ăn uống no nê...
Ngày hôm sau, Mã Kỳ chuyển sang phần hai kế hoạch do Phương Chính vạch ra.
Ngay từ canh năm, khi ngày vừa ló dạng, tên tri huyện Đỗ Phủ và tên Ái, trưởng vùng, được vời đến dinh Mã Kỳ. Vì Đỗ Phủ từng đố kỵ với Lê Lợi nên chẳng mấy chốc hắn đã cung cấp tất cả thông tin cần thiết cho Mã Kỳ. Làm thế, hắn mong biểu lộ được lòng nhiệt thành, đồng thời gây tai hoạ cho kẻ làm hắn vô cùng cay cú. Đỗ Phủ vội vã chỉ cho Mã Kỳ mồ mả dòng họ Lê ở Phật Hoàng và tình nguyện đi theo toán lính được Mã Kỳ sai phái đến đó.
Chẳng bao lâu giờ Ngọ (5-7 giờ sáng) đã đến, hai tên Đỗ Phủ và Ái dẫn đường cho khoảng 20 tên giặc Tàu "trang bị tận răng" quyết tâm không để cho hỏng việc. Chúng vây kín ngọn đồi Phật Hoàng, giáo mác cầm tay, tỏa ra xung quanh khu mộ trong tư thế sẵn sàng giao chiến nếu Lê Lợi và thuộc hạ của ngài xuất hiện.
Chỉ trong khoảnh khắc, thủ hạ của Mã Kỳ: hai tên tù bị khắc dấu màu vàng lên mặt (dấu khắc vào một số tội phạm ở Tàu) đã đào ngôi mộ lên, bật nắp quan tài ra rồi dùng cuốc hất tung quan tài lên. Bọn chúng chẳng kể gì mùi xú uế bốc lên từ những tấm ván mục rữa và cũng chẳng ngán gì vô số tai hoạ mà các âm hồn tiên tổ bị lăng nhục như thế sẽ trút lên đầu chúng. Lôi những cái sọ và mớ xương tàn ra khỏi nơi yên nghỉ linh thiêng, chúng bỏ vào bị bằng da to tướng mang theo. Sau khi đã dồn đống sọ dừa và hài cốt vào bị, một trong hai tên tội đồ quẩy cái bị lên vai và toán giặc lên đường quay về lại Lam Sơn.
Ngay khi chúng vừa khuất dạng, đám nông dân vùng lân cận ùn ùn tuôn đến. Nhìn thấy lỗ huyệt toang hoác và những tấm ván hòm tung toé, tóc tai họ dựng đứng lên dưới tấm khăn trùm đầu.
- Ối trời ơi! - Vừa úp mặt xuống đất họ vừa rên siết, trong khi các âm hồn lởn vởn trên đầu họ đòi được báo thù...
Thế rồi khi đã có được hài cốt phụ mẫu Lê Lợi trong tay, Mã Kỳ bắt đầu tiếp tục thực hiện phần ba mưu kế do Phương Chính vạch ra.
- Bẩm chủ tướng - Phương Chính thưa - tiện chức xin hiến một ý kiến hèn mọn: Tàn phá nhà cửa, tiêu diệt thân quyến, xâm phạm mồ mả tổ tiên Lê Lợi quả là đòn trừng phạt đích đáng đối với tên giặc cỏ đó, tuy nhiên chúng ta cần phải báo cho Lê Lợi biết sự kiện ấy dù hắn đang ẩn nấp ở xó xỉnh nào, vì đây chính là điều kiện duy nhất để tóm cổ được hắn. Vậy mong ngài hãy mau mau cho đem phơi hài cốt cha mẹ tên Lê Lợi ở phía sau một chiếc ghe chạy ngược dòng Lạc Thuỷ để mọi người đều nhận biết và nhìn xem, làm thế thì chẳng bao lâu, con cọp sẽ phải rời hang sâu của nó. Và đến lúc đó thì hạ chức đây, dù tài hèn phận mọn, cũng sẽ truy nã hắn và thưa chủ tướng, chắc chắn sẽ tóm được hắn.
Lập tức Mã Kỳ ra lệnh phơi bày hài cốt phụ mẫu Lê Lợi trên phía đầu lái một chiếc ghe đi ngược về phía thượng nguồn sông Lạc Thuỷ. Xa xa hắn gài các tên lính ngụy trang thành ngư dân theo dõi tình hình.
Trong khi chờ đợi kết quả, tên hoạn quan Mã Kỳ hoan hỉ xoa tay run run biểu lộ niềm căm ghét...
—★—
Nhận sứ mệnh rình rập hành vi cử chỉ bọn lính Ngô, chẳng mấy chốc Quỷ tàng hình Lê Lý đã bắt được tin về cuộc trả đũa đẫm máu mà địch quân nhắm chĩa vào Chủ soái Lê Lợi. Lòng chàng đau như cắt. Nhìn thấy những bộ hài cốt bị phơi bày trước mắt mọi người trên chiếc thuyền giặc đang trôi dạt vật vờ, chàng lập tức nghiệm ra kế hoạch nham hiểm của quân Minh tung ra nhằm "đánh bẫy" chủ soái Lê Lợi. Chàng chỉ còn một ý nghĩ duy nhất trong đầu là tìm mọi cách đến được núi Chí Linh báo cho Lê Lợi. Chàng vội vã lên đường như chắp cánh.
Với biệt danh Quỷ tàng hình, chàng có khả năng biến hiện theo ý muốn nên dễ dàng qua mắt những toán quân Tàu tuần tiễu. Sau một thời gian ngắn leo dốc vượt đèo, chàng đã đến được núi Chí Linh tìm doanh trại Lê Lợi. Trong lúc đi dọc theo con đường mòn dẫn đến biên giới Ai Lao, chàng tự nhủ:
- Nếu mình không tìm được chỗ của Đại bản doanh thì quân canh gác cũng sẽ phát hiện ra mình.
Quả thế, chàng nghĩ không sai!
Một lính gác người Mường dẫn lối đưa chàng đến dinh trại lúc mặt trời vừa bắt đầu đi ngủ. Người ta nghe thấy tiếng chày giã gạo đều đều vào buổi chiều hôm. Giữa lòng hang, Lê Lợi đang nằm thư giãn trong chiếc võng riêng của ngài. Lê Lý vội đến trình diện ngay tức khắc.
- Thưa Chủ soái! - Lê Lý la lên - kẻ hạ thần mong được thà chết còn hơn báo cho ngài những tin tức thê lương này!
Rồi chàng cặn kẽ trình bày các biến cố.
Ngay khi nghe những lời đầu tiên, Lê Lợi đã run bắn lên, nhưng ngài vẫn không ngắt lời, chờ đến khi Lê Lý thuật lại xong xuôi câu chuyện, ngài mới cầm chặt thanh đao trên tấm chiếu chạy ùa ra phía ngoài, biến mất trong rặng núi.
Lập tức, một đám đông tụ lại. Ai nấy đều thấy Chủ Soái Lê Lợi vừa phóng như bay ra khỏi lều, gương mặt thất thần. Một số liền vây quanh Lê Lý hỏi tin, một số khác tức tốc đi kiếm các cộng sự viên thân tín của Lê Lợi. Trong nháy mắt, toàn bộ tổng tham mưu đều nhận được tin báo.
Người em họ của Lê Lợi là Lê Thạch biệt danh Bão Táp đau đớn tuôn tràn dòng máu lệ. Tất cả những ai có thân quyến ở vùng Lam Sơn cũng khóc theo chàng. Mọi người đều lao nhao hỏi tin Lê Lý, nhưng than ôi, chàng đi vội quá nên không biết được ở vùng ấy kẻ nào đã chết, kẻ nào vẫn còn sống. Khắp nơi vang lên những lời oán than và những tiếng kêu thù hận. Cùng chia sẻ niềm đau với Chủ soái, tất cả đều cảm thấy như dao cắt ruột gan mình. Điều linh thiêng nhất nơi Chủ soái Lê Lợi đã bị xúc phạm, liệu họ có thể kiềm chế ngài được không? Ai cũng lo sợ điều tồi tệ nhất sẽ xảy ra.
Đằng sau lưng họ mặt trời dần dần xế bóng, chẳng bao lâu vầng ô khuất sau chân trời, Chủ soái vẫn không thấy quay lại.
Đầy lo âu, Nguyễn Trãi chạy quanh những khu lân cận để thăm dò. Ngăn cản các anh em đòi lao mình theo chân Chủ Soái, chàng nói: "Hãy để vua chúng ta yên tĩnh một mình với nỗi đau của ngài". Nhưng thời gian đã trôi quá lâu, sắp đến giờ thú dữ đi kiếm mồi, thế mà Chủ soái vẫn biệt tích tăm hơi chốn rừng sâu!
Bỗng Mộng Tuân biệt danh Trời Con chỉ vào chóp núi la lên:
- Anh em ơi! Nhìn kìa!
Mọi người ngước lên và nhận thấy, ở phía trên cao, chẳng khác gì một trận phong ba đang chụp xuống cánh rừng: lá rơi lả tả từ các tầng cây. Phải chăng ngọn gió báo tin cọp dữ sắp sửa xuất hiện? Trong chốc lát người ta nghe thấy những tiếng gầm khủng khiếp. Một cây cổ thụ đổ xuống, rồi lại một cây, lại một cây nữa! Một tiếng kêu to vang lên:
- Đức Vua kia kìa! Vừa nói Lê Lý vừa phóng như bay, trèo lên các hốc đá.
Tất cả mọi người thở phào nhẹ nhõm.
Sau khi ngọn lửa ban chiều được đốt lên khá lâu, người ta lại thấy con rồng Lam Sơn xuất hiện, trên tay vẫn lăm lăm thanh dao. Sự đau đớn không nói được nên lời đã chuyển biến thành cơn cuồng nộ kinh hồn, đôi mắt sòng sọc của ngài phóng ra những tia nhìn chết chóc, khuôn mặt co rúm, toàn thân toát ra sự hung dữ khôn lường! Trông thấy ngài, tất cả mọi người đều sợ hãi tránh qua một bên.
Từ trong hang đá bước ra, Lê Lợi khoác trên mình chiến bào, tay lăm lăm ngọn giáo và thanh kiếm. Mọi người nhìn theo cử chỉ của Ngài nhưng không ai dám can thiệp một lời. Ai nấy đều như những cái bóng lặng lẽ, mỗi khuôn mặt đều như những chiếc mặt nạ móc vào những móng vuốt của màn đêm.
Khi Lê Lợi dắt con chiến mã ra, chuẩn bị nhảy lên thì Lê Thạch biệt danh Bão Táp, Lai biệt danh Chú Vượn và Trần Nguyên Hãn biệt danh Hổ Trầm cùng nhau toan xông lên giữ Ngài lại.
Nhưng giọng nói Lê Lợi vang lên như sấm rền khiến cả bọn họ như chôn chân tại chỗ.
- Thế nào? - Ngài hét - Lũ Tàu ô đã biến anh linh tổ tiên cha mẹ ta thành những bóng ma lang thang, còn ta thay vì đi báo thù thì lại khoanh tay ngồi đây. À, các ngươi nghĩ rằng trước mặt các ngươi là một đứa con bất hiếu sao?
Lời của vị Chủ soái vang rền tận đáy lương tâm họ. Bất cứ ai, trừ khi trở thành loài thú vật, đều phải nghĩ đến việc trả thù trước một sự làm nhục như thế.
Vô cùng bối rối, bỗng nhiên họ đều quay nhìn về phía Nguyễn Trãi. Chỉ một mình nho sĩ mới có đủ uy phong để thuyết phục Chủ soái đừng chui đầu vào cái bẫy Mã Kỳ đang giương ra, còn Nguyễn Trãi chẳng mấy chú tâm đến những lời khẩn khoản âm thầm của các chiến hữu, cũng chẳng thèm để ý đến những nụ cười châm biếm của Sấu Thần Lê Sát, bởi vì chàng đã dự tính phải đích thân can thiệp vào việc này.
Thế nên giữa lúc Lê Lợi hùng hổ lướt ngựa tiến tới thì với một cử chỉ khiến cho những tay gan dạ nhất cũng phải lui bước, Nguyễn Trãi uy nghi nắm lấy dây cương ghì lại. Những người tham dự thất kinh khi thấy Lê Lợi vung kiếm lên nhưng vị nho sĩ vẫn điềm tĩnh không chịu buông ra.
Trong cái khoảnh khắc tưởng chừng như vĩnh cửu ấy, hai người nhìn chòng chọc vào nhau. Qua ánh lửa bập bùng, người ta nhìn thấy đôi mắt Nguyễn Trãi đang biểu lộ sự tập trung đầy căng thẳng.
Trước sức mạnh phi thường từ nội tâm chàng, một sức mạnh thấu suốt tâm thần đang hỗn loạn của ngài làm cho nó tê liệt đi, Lê Lợi bỗng cảm thấy lòng chùng xuống. Sự dày dạn về nghệ thuật chiến tranh nhắc ngài hiểu rằng nếu không biết kiềm chế cơn nóng giận thì chắc chắn sẽ phải thất bại ê chề. Trước ánh mắt sáng suốt và sắc bén như lưỡi dao của Nguyễn Trãi, Ngài có giương gân cốt ra cũng vô ích mà thôi. Bỗng dưng Lê Lợi cảm nhận được sự thấp kém của mình. Trong trận đấu bằng gươm mà chẳng cần đến gươm này, ngài phải nhìn nhận rằng, sự thật, mình là kẻ chiến bại. Sau một lúc chần chừ, Lê Lợi làm bộ như còn cự nự rồi ra dáng kẻ cả đầy lòng nhân hậu, ngài từ từ hạ gươm xuống, tra vào vỏ.
Mọi người đang có mặt đều thở phào nhẹ nhõm.
Nguyễn Trãi lên tiếng:
- Xin Chủ soái đừng quên rằng chúng thần sẽ cận kề ngài trong chiến thắng cũng như trong chiến bại, trong niềm vui cũng như trong nỗi buồn, và hạ giọng vừa đủ để hai người nghe thôi - Nguyễn Trãi tiếp - mong ngài sẽ lắng nghe đôi lời thẳng thắn thần muốn ngỏ riêng.
Không đáp lại, Lê Lợi liền rời lưng ngựa cùng chàng nho sĩ bước vào trong một cái hang nhỏ.
Màn đêm xuống dần.
Cơm đã thừa thời gian chín tới trong các chiếc nồi đồng, những chiếc điếu cũng đã lần lượt chuyển qua tay các nghĩa quân và toán lính gác đã trèo lên tháp canh trực đêm mà Lê Lợi và Nguyễn Trãi vẫn còn cùng nhau bàn luận.
Họ đã nói những gì với nhau vào cái buổi chiều hôm lịch sử đó?
Ngồi quanh đám lửa bập bùng, các toán phụ nữ dệt vải hoặc trẻ em làm bẫy gài còn cánh đàn ông thì nghiêng mắt nhìn về cái hang nhỏ nơi hai vị đang đàm luận, cảm thấy bứt rứt, Lê Sát đứng dậy đi vòng bách bộ. Nguyễn Trãi là một nho sĩ ăn nói lanh lợi khéo thu phục nhân tâm còn Lê Lợi là mẫu người hoạt động nhanh nhảu, tinh tế trên các trận địa chiến hơn là trong các cuộc khẩu chiến thì chẳng hiểu hai người đàm luận điều gì mà lâu thế nhỉ?
Tiếng trống canh ba (23 giờ - 1 giờ sáng) vọng lên, Nguyễn Trãi xuất hiện và lên tiếng:
- Chủ soái chúng ta đã đổi ý và quyết định hoãn lại sự ra đi. Sáng mai, vào lúc hừng đông, ngài sẽ định đoạt các sự việc tùy theo tình hình đòi hỏi.
Tức thì mọi người rút lui tìm chỗ nghỉ ngơi.
Trong cái đêm lịch sử ấy, họ đã đàm luận với nhau điều gì chẳng ai có thể biết được và hai người cũng không bao giờ nhắc lại nữa, mãi cho đến cái ngày Lê Lợi cho vời Nguyễn Trãi đến một cách vội vã và để mãi mãi chia tay vĩnh biệt.
Tuy nhiên cuộc trao đổi tối hôm ấy đã tạo nên tức khắc một sự kiện cực kỳ quan trọng: Số là trước đây họ chỉ là những bằng hữu nối kết nhau bằng một lời thề trong sự tương kính nhau, giữa hai người vẫn còn một khoảng cách nào đó, song kể từ hôm nay, một giao ước mới đã được ký kết. Hai con người siêu quần bạt chúng ấy trở thành đôi tri kỷ bất khả phân ly, họ hướng về nhau không vì tính tình xứng hợp cho bằng vì họ xác tín rằng cuộc chiến sẽ được quyết định do sự hợp tác giữa hai người. Lê Lợi nhìn nhận Nguyễn Trãi là nhà chiến lược và ngoại giao bậc thầy, sẽ giúp ngài đạt đến chiến thắng chung cục, còn phần Nguyễn Trãi thì nhận ra nơi Lê Lợi vị anh quân thống lĩnh, là người sẽ hoàn tất sứ mệnh cao cả và quyết liệt dẫn dắt trăm họ đến chỗ giải phóng quê hương và thiết lập nên một triều đại mới.
Thế là, Đấng Tối Cao Chủ Tể đã rủ lòng thương đoái đến nhân dân toàn quốc, đã sử dụng hai con người ấy để mệnh trời được thực hiện.
—★—
Lặng nhìn đám mưa xuân phủ đầy trên sườn núi, Lê Lợi thầm nghĩ "Đâu ai ngờ được rằng chỉ trong vòng có một ngày mà ta phải chịu mất mát, biết bao nhiêu người thân trong tình huyết nhục!"
Từ 10 hôm nay, hai bằng hữu tâm phúc đã được phái đi tìm cách thu hồi lại hài cốt cha mẹ ngài. Ban đầu, ngài như cất được cơn phiền muộn đè nặng lên mình. Nhưng chỉ khoan hoài được một thời gian ngắn ngủi. Những người quá cố chẳng bao lâu lại đến ám ảnh bên ngài. Những âm hồn phiêu bạt luôn luôn than vãn: "Làm sao xác thân chúng tôi chịu đựng nổi cảnh bị phơi bày ra như thế. - Không nghi lễ, không quan khách, không mồ mả!" Do đó, Lê Lợi truyền lệnh tổ chức ngay một đại lễ cầu siêu149.
Nhờ vậy, các vong hồn dường như đã được bình an. Chỉ mỗi vong hồn Ngọc Trân, hiền thê của ngài, vẫn liên tục quấy nhiễu. Dù đi đâu hoặc làm gì, ngài cũng vẫn như đang nhìn thấy lại gương mặt quả cảm của nàng, vẫn còn nghe văng vẳng bên tai lời tạm biệt ngày hai người chia tay nhau. "Trong thời buổi loạn ly này, đất nước cần đến sự hy sinh của những bàn tay anh dũng, phu quân hãy gắng lập nên chiến công, đừng bận tâm gì về những người ở lại. Và riêng phần thiếp, xin chàng cũng đừng lo nghĩ đến, cho dù khi chàng đi rồi, thiếp sẽ phải một mình vò võ giữa đêm khuya." Ngọc Trân khép chặt đôi hàm răng ngăn dòng lệ, còn Lê Lợi thì nắm chặt bàn tay nàng như ngày đầu mới lấy nhau. Ôi! Tâm hồn Ngọc Trân thật là quả cảm! Do lỗi lầm tiền kiếp nào khiến nặng phải lãnh nhận một kết cục bi đát đến thế! Bao nhiêu kỷ niệm hiện về bóp nghẹt cổ họng Lê Lợi. Những giọt lệ tuôn tràn xối xả trên đôi gò má! Nỗi đớn đau và khát vọng báo thù dày xéo ruột gan ngài.
Ngoài trời, cơn mưa phùn vẫn tiếp tục buông rơi. Mưa bụi lất phất thấm vào những xác thân nhuốm đậm sầu thương, thấm cứng áo quần và phủ lên đồ vật một lớp mốc meo màu xanh.
Xa xa vọng lại những tiếng truyền canh.
Chủ soái Lê Lợi đang say sưa nghiên cứu tấm bản đồ do anh Ba biệt danh Khéo Tay vẽ ra theo chỉ đạo của quân sư Ức Trai. Đối tượng trước mắt cần tiến đánh là đám quân Tàu chốt ở giữa đồn Nga Lạc thuộc huyện Nga Sơn. Ngài sẽ tiến đánh cả hai mặt thuỷ bộ.
Bất ngờ, Nguyễn Chích biệt danh Vân Xa đặc trách thông tin liên lạc vừa đi sau lưng ngài loan báo:
- Thưa Chủ Soái! Quân ta vừa chặn một tốp người cách đây hai dặm. Những người này đã rời bỏ làng mạc đến đây xin phục vụ ngài.
Lê Lợi bảo: "Truyền cho họ vào".
Sau khi đám bộ hành tề tựu đông đủ trước cửa hang, Lê Lợi tiến ra.
Dưới làn mưa phùn xam xám, ngài trông thấy khoảng 50 người đàn ông, đàn bà lẫn trẻ con quấn quanh mình những manh chiếu nát. Họ loạng choạng vì mệt đừ và run rẩy vì lên cơn sốt. Cầm đầu bọn họ là một cụ già cặp mắt tinh anh, chòm râu thưa thớt.
Lê Lợi lên tiếng: "Kính chào lão trượng!".
- Kính chúc Đức Vua ngàn muôn phúc lộc! - cụ già vái lạy ba lần. Đa số họ là dân làng thuộc vùng tả ngạn sông Mã. - Tin vui thắng trận của Đức Vua tại Lạc Thuỷ khiến cả đến những người cư ngụ trong các xó xỉnh heo hút cũng chứa chan niềm hy vọng và chỉ trong vài ngày, bọn Lý hào hợp tác với giặc đã như co vòi lại. Tuy nhiên, kính thưa Chủ Soái - cụ già nói tiếp - bọn này đã nhanh chóng ngóc đầu lên lại, chúng giương nanh vuốt giúp đỡ quân Tàu truy nã những kẻ bị tình nghi có dính líu đến nghĩa quân. Khắp nơi, bọn chúng đều lùng sục rất gắt gao. Hễ thấy một người đàn ông vắng mặt là lập tức quân Ngô viện cớ anh ta theo giặc và thiêu đốt nhà cửa, chặn bắt bố mẹ già của anh ta rồi đổ dầu lên đầu họ châm lửa, sau đó dẫn họ đi biệt tăm. Ở chỗ chúng thần, những kẻ trốn thoát phải lánh ẩn vào tận rừng sâu. Để ngăn cản dân cư gia nhập nghĩa quân, chúng xua họ ra khỏi làng, tập trung họ vào những điểm khác nhau. Vô phương canh tác nên chúng thần bị cạn kiệt lương thực, chúng thần đã phải sống bằng rau dại cỏ hoang. Thế là, gom hết tàn lực, chúng thần đồng tâm nhất trí tìm đến đầu quân xin chiến đấu dưới trướng của ngài. Chúng thần đã phải băng rừng len lỏi như loài sóc qua biết bao ngõ ngách, tâm trí lúc nào cũng cảnh giác đề phòng, cuối cùng mới đến được chốn này. Dù chỉ là những người nông dân ngu dốt khốn khổ chúng thần quyết một lòng học tập chiến đấu để bảo vệ mảnh đất thân yêu và bảo vệ cả cái hàm răng đen đủi của chúng thần nữa. Xin hãy thu dụng chúng thần và sai phái vào bất cứ việc gì!
Dòng nước tuôn tràn trên khuôn mặt Chủ Soái Lê Lợi ắt hẳn chẳng phải vì mưa ướt đẫm mà thôi. Ngài nói:
- Rất hân hạnh đón tiếp chư vị đến đây với chúng tôi như những người anh em. - Nói xong, ngài truyền lệnh phân bố những người mới tới vào những hang động kế cận, phân phát cơm cháo cho họ. Sau đó, ngài lên tiếng hỏi - Trong chư vị có ai người gốc ở Lam Sơn không?
Bất ngờ, một phụ nữ tách ra khỏi đám đông, tiến tới tâu:
- Dạ thưa có thần thiếp, nữ tỳ của ngài đây.
Tiếng nói vừa thốt lên khiến Lê Lợi giật nảy người, người phụ nữ ấy giấu mình trong chiếc áo choàng và chiếc nón lá nên ngài chẳng nhận ra được rõ hình dáng. Ngài liền lên tiếng hỏi:
- Thế nghĩa là cô được trực tiếp thấy rõ tội ác Mã Kỳ đã gây ra cho lãnh địa họ Lê phải không? Hãy thẳng thắn trình bày cho ta rõ, không được vòng vo.
- Vâng thưa Chủ Soái - người phụ nữ đáp lại với giọng thương tâm - thần thiếp xin kể lại cho ngài nghe đến cả những chi tiết chưa từng ai biết đến.
Lê Lợi giật thót người, trái tim đập thình thịch, ngài tiến đến đưa tay cố ý vén cái nón lá lên để nhìn cho kỹ gương mặt người phụ nữ nhưng chính nàng đã tự giở nón ra trước.
- Kìa! Ngọc Trân! - Lê Lợi thét to. Ngài không dám tin vào cặp mắt của mình - Nàng thật đấy sao?
Rồi bỗng dưng ngài sợ hãi lùi lại. Người phụ nữ đang giáp mặt với ngài đây đích thực là vị hiền thê Ngọc Trân của ngài hay chỉ là loài yêu ma giả dạng?
Nụ cười tươi sáng lóe lên từ khuôn mặt người thiếu phụ cho dù bao cay đắng nhọc nhằn vừa trải qua vẫn còn đang rõ nét in hằn.
- Phu quân dấu yêu của thiếp ơi! Há chàng đã quên lời ước thề "Trăm năm bạc đầu, chôn cùng một mồ" rồi sao?
Lê Lợi vội đáp:
- Hiền thê ơi, ta cứ ngỡ nàng đã mệnh một rồi và đã dùng rượu tế cầu siêu cho nàng rồi! Ôi! Biết lấy gì tạ ơn trời đã gìn giữ nàng cho ta đây?
Hai người nắm lấy tay nhau, nhìn vào mắt nhau, miệng nở nụ cười hạnh phúc. Với dáng vẻ uy nghi của Chúa Sơn Lâm trong tấm chiến bào, trông ngài vẫn như xưa. Còn nàng thì như một nụ hoa tươi mát, cốt cách phi phàm vẫn y hệt người tình dấu yêu của ngài thuở trước. Quá vui vì tái hợp, hai người vội bước vào trong hang, nhưng ngay sau đó Ngọc Trân đi ngược trở ra nắm tay dắt vào một cô bé nãy giờ đang dầm mình trong mưa. Nàng nói:
- Thưa Chủ Soái, đây là cô bé Thị Lộ, cô ấy đã theo thiếp như một hiền muội suốt quãng đường đầy chông gai cạm bẫy vừa qua. Cô bé khao khát được tiêu diệt lũ quân Ngô và rất tiếc nuối vì đã sinh ra là phận nữ nhi.
Lê Lợi bảo:
- Nào hãy lại gần đây, cô bé người làng nào?
- Dạ thưa, tớ hèn của Chủ Soái người làng Hải Triều, (nay thuộc tỉnh Thái Bình) huyện Ngụ Thiên.
Phong cách ăn nói của nàng thuộc con nhà quan chức chứ chẳng phải hàng dân dã. Con rồng Lam Sơn đưa cặp mắt sắc bén quan sát cô bé một lúc lâu. Dù mới chỉ độ mười một mười hai xuân xanh, người ta cũng đoán được cô bé lớn lên sẽ là một trang tuyệt sắc. Đôi mắt phượng hoàng đen láy, đôi mày ngài uốn tựa vành trăng thu, dáng vóc yểu điệu như cánh diều phất phơ trước ngọn đông phong (gió mùa xuân). Tóm lại có thể nói theo cổ thư: "Đây là sắc đẹp mười phân vẹn mười". Dấu mình trong chiếc áo dài màu rễ cây và chiếc váy đã cũ sờn bọc lấy tấm thân mịn màng sũng ướt nước mưa, cô bé vội thu gọn mình như giấu kín bộ ngực ấu thơ không mảnh yếm cài che.
- Hiền muội đến đây!
Ngọc Trân phải mời đi mời lại, Thị Lộ mới chịu ngồi xuống chiếc chiếu bên cạnh hai người, nhưng chỉ một lát sau cô bé xin phép được lui ra ngoài. Được Lê Lợi đồng ý, Ngọc Trân bèn cho cô bé lui ra. Lê Lợi nhìn theo cô bé và nói: "Cô bé này trông thật diễm lệ, vừa kín đáo lại vừa xinh đẹp".
Nói đoạn, ngài quay nhìn Ngọc Trân tiếp lời:
- Hiền thê ơi! Bây giờ ta nóng lòng muốn cởi mở hàn huyên cùng nàng.
Nói xong Lê Lợi dẫn nàng đi vào một cái hang sâu được ngăn cách bởi một phiến tre. Phía đằng sau, dưới cái võng treo là một cái bệ dài dùng làm giường, cạnh đó là một cái kệ chất đầy binh thư còn những cây đèn và nhung y thì được treo lên một phiến đá ẩm ướt. Lê Lợi nói:
- Thế là cuối cùng ta lại được chiêm ngắm nàng!
Ngọc Trân ngước nhìn ngài, gương mặt tựa ngàn nụ hoa đang hé nở. Gian khổ vô bờ của những ngày qua làm cho thân thể mệt nhoài của nàng tăng thêm phần hấp dẫn. Sau biết bao ngày kiêng cữ khắc khổ, giờ đây Lê Lợi thèm muốn cuồng nhiệt được ôm ấp, hôn hít và vực nàng xuống chiếu để thoả mãn ngọn lửa đang hừng hực dâng lên trong đôi mắt ngài, thế nhưng ngài vẫn kiềm chế lại, Ngài chỉ nắm tay nàng bảo:
- Bạn tình yêu quý ơi! Hãy mau kể cho ta nghe tất cả mọi chuyện đi!
Đưa cặp mắt trong sáng đăm đắm nhìn Lê Lợi, Ngọc Trân từ từ kể tất cả những điều mắt thấy tai nghe vào cái ngày tang tóc đã xảy đến cho gia trang. Nàng không giấu giếm một điều gì, kể cả tiếng gào thét của các nạn nhân, tiếng hò la man rợ của tụi lính Tàu và tiếng rên la của người hấp hối. Nhờ trời cao thương đến, nàng không có mặt trong khu nhà lúc bọn giặc tấn công vào vì nàng đang bận chăm sóc các nong tằm ở căn nhà kế cận. Từ căn nhà đó, nàng đã nhận ra tiếng vó ngựa, tiếng vũ khí loảng choảng và tiếng rên la xé ruột đầu tiên. Nhanh như chớp, nàng chợt hiểu ngay sự tình và la lên: Lan! Trời! Con bé Lan của hai người, đứa con nàng đã mang nặng đẻ đau! Nàng vội chạy ngay đến cái sân nơi con bé vừa mới chơi đùa lúc nãy, nhưng chẳng còn lại dấu vết nào của con bé cũng như của cô đầy tớ tên Môn. Bọn Tàu, phải, bọn Tàu đang ào tuôn đến từ tứ phía. Trong chốc lát, bọn chúng sẽ đến chỗ này. Hồn vía lên mây, xương cốt như đóng băng, nàng không biết phải trốn vào đâu. Chỉ trời cao mới biết được làm sao nàng lại chui tọt được vào trong lẫm lúa! Nàng giấu mình đằng sau các bao thóc dựa vào bức phên ngăn. Từ chỗ ẩn náu này, xuyên qua khe hở của các tấm phên, nàng đã chứng kiến tất cả sự việc xảy ra ngay ở trong sân. Than ôi! Làm sao những con người bất hạnh kia có thể chống cự lại lũ cọp sổ lồng này? Hồn xiêu phách tán, nàng bất lực ngắm nhìn cuộc tàn sát dã man đang diễn ra trước mắt! Thân quyến nàng đang bị dồn vào đường cùng như miếng mồi ngon của lũ cọp! Bà dì Năm đui mù già nua, tay giương ra quờ quạng tìm kiếm sự trợ giúp một cách hoài công! Nàng thấy rõ cái đầu bà ta lăn lóc trên đám rạ trong sân. Nhị Khanh, hiền thê bé nhỏ của người anh em Lê Thạch thì quỳ gối xuống tế như tế sao, cầu xin bọn chúng buông tha cho đứa con bé tí của nàng, thế mà một thằng trong đám giặc đã đạp bẹp đứa bé như đạp một trái dưa hấu! Cô gái đứng dậy khạc nhổ vào mặt thằng lính. Liền sau đó, thủ cấp nàng cũng văng ra lăn lóc cạnh thủ cấp dì Năm. Máu ơi là máu! Sân nhuộm đầy máu! Nàng cũng thấy lũ quân chó má dẫn theo bé Lan đang khóc nức nở, nàng Phạm Thị Nghiêm, vợ hai của Lê Lợi mặt mũi xám như tàu lá và một số đàn ông phía bên trái khuôn mặt bê bết máu. Rồi nàng nhìn thấy những chiếc xe đầy ắp của cải nhà họ Lê đem đi, đồng thời còn nghe được những tiếng hí điên hoảng của đám ngựa bị bọn chúng làm thịt. Sau này, ví dụ có chiến đấu đến trăm năm và ví như đôi tay nhỏ bé có tiêu diệt cả chục ngàn tên giặc Tàu thì nàng cũng không làm sao xoá sạch được cái cảm giác hoàn toàn bất lực lúc ấy!
Nàng kết luận: "Dù có tàn sát bọn chúng bao nhiêu đi nữa sẽ không bao giờ chúng ta trả thù đủ cho những thân nhân đã mất của chúng ta".
Lê Lợi vội vòng tay ôm nàng vào lòng, đôi mắt cả hai hòa chan dòng suối lệ...
—★—
Vào một đêm xuân trời quang nhưng gió lạnh, anh chàng Thận co ro khúm rúm trong chiếc tơi kết bằng lá cây ngồi phía sau chiếc thuyền tam bản câu cá, trông chàng ta giống như một con chim to lớn xác xơ. Đôi tay nắm chặt cán chiếc vó bắt cá, mặc dù lính Ngô đã nghiêm cấm không cho bất cứ ai rời khỏi làng vào lúc chiều tà, nhưng làm sao tụi nó có đủ lính để theo dõi từng người dân đất Việt.
Thận yêu thích biết bao những buổi chiều tối trên dòng sông Chu (phía Tây Thanh Hóa), chàng yêu tiếng sóng vỗ vào mạn thuyền bì bõm, tiếng quốc gọi trăng. Những lúc như thế, chàng tạm quên đi sự kiện nàng Hai, vợ chàng, đã bị hãm hiếp và bị cắt cổ trong cánh đồng lúa, chàng tạm quên đi những trận đòn do đám tay sai của tên lý trưởng, quên đi sưu cao thuế nặng ngày mỗi gia tăng. Tóm lại chàng tạm quên đi cuộc đời tối đen u ám của mình. Sợ làm xao động đàn cá nên chàng ngâm thật khẽ bài ru của mẹ ngày xưa:
Đoàn quân lòng gan dạ
Nghiền nát lũ chó Tàu
Máu hồng tuôn xối xả
Xác giặc đếm vào đâu?
Bỗng nhiên, ngọn sào trong tay chàng chìm xuống nước. Chàng lập tức kéo dây lên. Chẳng có một chú cá nào hết! Nhưng trong đáy tấm lưới có vướng vật gì nặng như lưỡi một tên nói khoác, cứng như một cây gậy. Chà! Một con chạch đen thui chăng? Chàng đưa tay chộp lấy, té ra đây là một thanh sắt! Thất vọng, chàng ném xuống nước trở lại, miệng lẩm bẩm: "Vậy mà cũng câu với kiếc!". Nhưng dễ gì tay câu đêm "chuyên nghiệp" này chịu để cho lũ cá trốn thoát. Chàng lại tiếp tục buông lưới xuống nước. đêm vẫn còn dài! Mùi thơm dịu mát từ mặt nước tỏa lên, hai bến bờ sông hàng tre yên giấc thở rì rào. Chàng ngâm lại khúc vũ ca "huyền thoại về nàng công chúa", khúc hát duy nhất mà chàng thuộc:
Đoàn quân lòng gan dạ
Nghiền nát lũ chó Tàu.
Một lần nữa, cần sào căng thẳng lên, tấm lưới ở đầu ngọn sào chìm xuống, phen này chàng đã đánh mùi thấy đĩa cá rán chan nước mắm nêm thêm tiêu hành tỏi ớt! Vừa kéo lưới lên, chàng văng ra một câu chửi thề: "Đ.. thế nào lại là cái thanh sắt này!" Đã toan ném nó xuống nước, lần này chàng chợt đổi ý, thầm nghĩ rõ ràng thanh sắt này được biếu cho mình sao mình lại từ chối nó? Nghĩ xong, chàng liền dùng vạt áo lau khô rồi để thanh sắt qua một bên. Buổi tối hôm đó chàng ta chỉ câu được có bấy nhiêu đó thôi! Thế rồi, chàng đưa chiếc tam bản vào giấu ở bụi lau, lấm la lấm lét như tên trộm bắt gà, chàng vượt qua lũy tre làng chạy tuốt về nhà. Sau khi đặt thanh sắt cạnh bàn thờ tổ tiên, chàng duỗi dài người lên tấm phản cạnh mấy đứa em trai rồi ngủ thiếp đi.
Vào khoảng gần canh tư (1-2 giờ sáng), tiếng mõ vang lên làm Thận giật mình thức giấc. Chàng ngồi dậy lắng nghe, hàng loạt tiếng trống làng rền vang: 3 hồi 9 tiếng liên tiếp nhau kêu gọi dân làng đi nộp thuế.
Tiếp theo là sự yên lặng... và yên lặng.
Qua những khe ngói, vầng trăng rọi sáng túp lều thô sơ gồm cái chái làm bếp, bình lọ chất ngổn ngang, xích móc, dây cước dùng để câu cá và rổ thúng được móc vào các cây cột. Tấm mành treo trước cửa sổ đung đưa trước làn gió đêm như một bộ ngực đang thở. Bên cạnh chàng, hai thằng em, thằng Hội và thằng em thứ ba, quần áo rách tả tơi thấm đẫm mồ hôi, đang làu bàu trong miệng cái gì đó. Tất cả đều thật yên tĩnh.
Định thần xong, Thận đang tính nằm xuống tiếp tục ngủ thì bỗng dưng, qua tấm lưới mắt cáo đan bằng tre, chàng thấy cạnh bàn thờ tổ tiên có một vật gì đó sáng lấp lánh. Chàng rón rén đứng dậy, trên bàn thờ là lá cờ nhỏ ghi tên người vừa quá cố, không xa có cắm một vài cây nhang. Ôi trời ơi! Chàng buột miệng, một thanh kiếm lấp lánh ở ngay chính chỗ chàng đặt cái thanh sắt vào tối hôm qua. Đặc biệt, nó dài và có màu trắng bạc như lưng loài cá bạc. Tia sáng mặt trăng hội tụ lên nó.
Chàng sửng sốt ngắm nhìn thanh kiếm. Rồi bán tín bán nghi, chàng tự nhủ thầm, không biết đây có phải là thanh sắt mình câu được vào đêm hôm qua không? Trên cái chuôi bằng ngọc có thấy khắc một hàng chữ. Thế rồi, dù chẳng hề biết đọc, chàng cũng vẫn muốn nắm thanh kiếm lên xem thử, nhưng bỗng nhiên, chàng buột ra tiếng thét vì quá đỗi kinh ngạc: Cái vật mà đôi tay nhà nông chai sạn của chàng đang nắm đây lại chính là thanh sắt nhỏ bé chàng đã câu được ở dưới sông chiều tối hôm qua!
Vô cùng sợ hãi, chàng vội buông thanh sắt xuống và kinh hoàng nhảy về phía tấm phản gỗ. Có phải vì sơ ý, chàng đã xúc phạm đến các vị thần địa ngục nào đó chăng?
Vào lúc hừng sáng, khi Thận thức dậy lòng dạ rối bời, thì Hội em chàng chỉ thanh sắt hỏi:
- Anh hai kiếm ở đâu ra miếng sắt đó vậy?
Thận làm thinh không trả lời. Cơm nước xong, cả ba anh em ra đồng cày ruộng. Suốt ngày hôm đó, Thận không nói một tiếng, cũng chẳng buồn giục thúc trâu cày. Đêm kế tiếp, gác đầu lên chiếc gối gỗ, chàng miên man suy nghĩ. Sáng hôm sau, chàng nói với thằng em kế:
- Em và thằng ba dẫn trâu ra đồng đi! Anh sẽ ra ngay.
Hai người em vừa đi ra khỏi nhà, Thận liền vội vã đến tìm ông thầy lang kiêm nghề bói toán ở trong làng. Chàng dự định đưa mấy đồng chinh nhờ ông cắt nghĩa giùm câu chuyện thanh sắt hay lưỡi kiếm ấy, đồng thời nhờ ông ta chỉ cho những nghi thức cần làm để chàng được hòa giải với các thần linh.
Lão thầy thuốc đang dùng cơm sáng. Thận ngồi chồm hỗm, tựa vào cột nhà, chờ lão hớp một ngụm trà súc miệng và xỉa răng xong chàng mới cung kính giãi bày sự việc.
Có rất nhiều bệnh nhân đến thỉnh cầu vị thầy thuốc cũng đồng thời là nhà chiêm tinh này, bởi cơn bệnh của họ hơn phân nửa là do các cô hồn quấy nhiễu. Dù hình dáng bề ngoài có vẻ bệnh hoạn với cái bụng ỏng và cái đít tong, chẳng mấy phù hợp với chức danh, nhưng trên khuôn mặt vị lương y hội đủ năm yếu tố cho thấy lão là một người tinh tế và khôn ngoan.
Sau một hồi suy nghĩ, vị lương y nói:
- Chẳng cần xem mu rùa hay đếm các ngọn cỏ thi150, các điềm báo tự nó đã nói lên điều cần biết. - Lão ta mời Thận đến gần. - Phải nhìn nhận ngay không chút nghi ngờ, chú em chính là dụng cụ trời dùng (mà trời thì không hề mảy may lầm lẫn). Dù trong mơ hay là thị kiến thì cái sứ điệp vẫn đã rõ rành rành rồi còn gì!
Thận đọc được trên làn môi hơn là do tai nghe được những lời của lão. Ông ta tiếp:
- Thanh kiếm sắt chú em câu lên được tới hai lần đó chính là quà tặng của Đức Long Quân Thuỷ vương. Ngày xưa ngài đã gửi con rùa vàng cho An Dương Vương và bây giờ chú em có nhiệm vụ đem thanh sắt này nhờ rèn nên một thanh kiếm trao cho Lê Lợi để giúp ngài chiến thắng. Đó là ý muốn của trời chú em không được chậm trễ...
Nghe nói thế, Thận trợn mắt há miệng, trông chàng thật là ngốc nghếch. Từ hồi lên chín, chàng đã bắt đầu công việc đồng áng, tính đến nay đã 26 tuổi rồi, chàng vẫn chỉ là một nông dân nghèo khó, dốt nát. Lẽ nào ông trời lại đưa chàng dây dưa dính líu vào cái sự nghiệp quan trọng nhường ấy? Chàng lắp ba lắp bắp:
- Hiện giờ, quân Ngô đang cấm chỉ tất cả các lò rèn, làm sao kiếm cho ra một người thợ rèn có khả năng? Vả lại, nếu có được một tay thợ rèn nào đó trong vùng thì làm sao tôi dám đi khỏi làng. Bởi vì làm thế, bọn Tàu sẽ tàn xử các em tôi và thiêu huỷ nhà cửa của tôi?
Vị lương y gục gặc cái đầu, lão miên man suy nghĩ. Thận yên lặng không dám khuấy động dòng tư tưởng của lão. Đây là lần đầu tiên chàng tìm đến sự cứu giúp của vị lương y kiêm bói toán này. So sánh với túp lều tranh tồi tàn của chàng thì căn nhà của vị lương y thật là xa hoa sang trọng, chứa toàn đồ hay vật lạ: Tủ đựng thuốc sơn màu đen bóng. Trên cái kệ gần bàn thờ tổ tiên là những chiếc bình pha lê màu xanh da trời, những chai lọ đựng ngải cứu và cao dán, và đủ thứ y cụ khác nhau: nào nồi xông, nồi nấu, vỉ nướng, cân bàn, những cái kim bằng vàng và bạc. Dược thảo tràn đầy các thùng chứa hoặc được phơi khô trong các nia. Ở trên mặt đất là một dụng cụ kích thích sự tò mò của Thận, hình dạng giống như một cái thuyền nhỏ, bên trong có một cối xoay tròn gợi cho chàng nhớ đến cái chày giã thóc ở nhà.
Tiếng nói của vị lương y kéo chàng về với thực tại.
- Vào năm Bính Tuất 1406 (năm giặc Minh xâm lăng đất nước), có một người đàn ông rất thạo nghề rèn, đặc biệt là rèn vũ khí. Nhiều lần, ông ta đã được mời đến triều đình nhà Trần. Khi quân Tàu ra lệnh đóng cửa các lò rèn, ông đã chôn đe búa của mình rồi rời khỏi ngôi làng "Tre Xanh" đi sâu vào trong núi ẩn náu. Từ đó không ai còn thấy dấu tích ông ta nữa. Ta tin rằng nếu Trời cao giao phó cho chú em sứ mệnh này thì chú em hãy bình tâm trở về dẫn hai người em đi theo, lên đường vô núi vào lúc ban đêm mà đi tìm gặp ông già thợ rèn đó. Sau đó đi sâu vào vùng rừng núi Chí Linh dâng kiếm cho Lê Lợi. Chẳng có gì đáng tiếc xảy đến cho các chú đâu!
Nói xong, ông ta dùng ngón tay thuôn thả hất trả cho Thận những đồng tiền chàng đặt lên mặt chiếu... Trái với mọi điều Thận nghĩ, chàng không gặp khó khăn gì trong việc thuyết phục hai đứa em trai đi theo mình. Hai người em nói:
- Có cái gì giữ chân anh em chúng mình ở lại đây ngoại trừ sự khốn khổ và lao nhọc canh tác đất đai cho kẻ khác?
Thế là ba anh em kín đáo chuẩn bị ra đi...
Màn đêm buông xuống, một người mang bài vị tổ tiên, một người mang theo chút ít lương thực, còn người thứ ba thì mang thanh sắt bọc tròn trong lá chuối. Cả ba chuồn khỏi túp lều tranh, nhảy qua hàng rào tre biến về phía đồi núi. Họ liên tục trèo non vượt suối. Vầng trăng ló ra khỏi áng mây soi dõi bước đường họ đi. Nhờ thành thạo công việc đồng áng cực nhọc nên cả ba cứ sải bước đi hoài cho đến khi đôi chân mệt nhoài lao đao mới dừng. Nhưng rồi khi họ đang ngồi nghỉ dưới một lùm cây thì bỗng có tiếng gió thổi mạnh vào các tán cây. Hình như đây là ngọn gió từ phương Bắc thổi đến, đem lại những tiếng động huyên náo. Ba anh em dò xét xung quanh để xem sự thể nhưng lạ quá, họ chẳng thấy gì hết. Hình như có nhiều nhóm người lố nhố đâu đây! Họ nghe có tiếng nói xen lẫn tiếng la nhưng họ chẳng hiểu một tiếng nào cả và cũng chẳng thấy ai xuất hiện. Lúc đó, những vật kỳ lạ phát ra những tiếng rít bay vào không trung rồi nặng nề rơi xuống quanh họ. Quá sợ hãi, hồn vía lên mây, ba chàng nông dân trẻ tuổi thấy hai hàm răng va mạnh vào nhau lộp cộp. Cả ba đều tự bảo: "ma mọi ma mọi!" (ma quỷ thường xuất hiện vào ban đêm ở chỗ xa xăm u tối). Không hiểu tại sao, ba anh em mình vâng theo ý trời mà phải chịu đựng nỗi sợ hãi đến mức này! Tuy nhiên, họ vẫn không tính đến việc tháo lui. Thế rồi, một làn gió xào xạc nổi lên trong đám cỏ, sau đó tất cả trở nên yên tĩnh. Dù sao cũng mặc, ba anh em lại đứng dậy tiếp tục lên đường.
Con đường mòn dốc thẳng đứng nên họ phải bấu vào các thân cây mà đi. Vượt qua nhiều đỉnh cao, họ đến một cánh rừng già... Có lẽ suốt ba ngày ba đêm cũng chưa đi giáp nổi khu rừng này, vậy thì làm sao biết ông già thợ rèn cô độc ở đâu?
Vừa mới chui vào một vòm cây, lập tức họ nghe tiếng gầm khủng khiếp. Một con cọp bất ngờ phóng ra. Họ giật thót người nhảy lùi lại. Đôi mắt cọp lóe lên trong đêm tối như hai đốm lửa hồng. Rất nhiều âm hồn đang cưỡi trên lưng, họ không ngừng kêu réo om sòm vào tai nó đòi nó đưa họ, ai nấy về đúng nơi quê nhà của mình. Ba anh em tin chắc phen này kể như tận số rồi. Tim gan họ lạnh buốt, xương cốt như muốn đóng băng, hồn bay phách lạc. Con thú dữ bắt đầu vờn qua vờn lại trước mặt họ, râu mép dựng lên. Mỗi giọt nước dãi của nó khi rơi xuống đất liền biến thành một con sâu róm khổng lồ. Ai cũng biết rằng những con sâu này có khả năng gây ra những vết thương chí mạng! Con thú đưa mắt trừng trừng nhìn ba con người đang run lẩy bẩy rồi ngồi xuống trên cái mông lực lưỡng. Trong khi chờ đợi điều gì sẽ xảy ra, các âm hồn trên lưng nó đều im lặng.
Sau ba lần phủ phục trước mặt con cọp, Thận thu hết can đảm lên tiếng: "Thưa ông cọp, ngài đang đi tìm mồi nhưng xin nhắc để ngài rõ, chúng tôi đang vâng lệnh trời đi kiếm một ẩn sĩ trước đây là một thợ rèn nổi tiếng. Tôi van ngài đừng cố giữ chúng tôi ở đây nữa, vì sợ rằng ngài sẽ lãng phí thời gian và sức lực một cách vô ích thôi!"
Ông cọp nóng tiết đập mạnh đuôi xuống đất, há to cái mồm lởm chởm hai hàm răng nhọn rồi thu hết sức lực nhảy tới... Ba anh em nhắm mắt lại chờ giây phút khủng khiếp đang đến. Nhưng ông cọp bỗng biến mất hút vào rừng, trông hệt như chú gà trống hổn hển sau cuộc giao đấu dữ dội rã rời. Ba anh em ngồi bệt xuống gốc cây chờ cho hồn vía được phục hồi bình thường trở lại.
Sau đó, anh chàng Hội bắt đầu gào lên: "Ông nội y sư kiêm thầy bói của Đại huynh khua môi múa mõ để đưa chúng ta vào cái tròng rắc rối thế này đây! Chút xíu nữa là anh em chúng ta mất toi mạng rồi! Nếu mà còn sống sót trở về em sẽ cho ông ta biết tay!".
Thận mắng em: "Nói với năng! Nếu trời không che chở thì chắc chắn ông cọp đã xơi tái chúng ta rồi! Chú mày hãy nhớ cho kỹ!"
Mấy người em cũng hoàn toàn nhất trí. Đêm cũng khá dài. Vào khoảng canh tư (1 - 3 giờ sáng), con đường vẫn len lỏi xuyên qua khu rừng... Vừa khi bắt đầu hết hy vọng tìm được đến đích thì bỗng nhiên họ nghe thấy có tiếng gà gáy. Vậy là ắt có người ở gần đâu đây! Ngay trên mô đất nhỏ họ nhận ra một túp lều tranh ẩn mình dưới hai cây cổ thụ phủ bóng trên ngưỡng cửa, bên trong một ngọn đèn leo lét. Thận tiến tới đưa tay đập vào cánh cửa.
Một cụ già rất cao tuổi xuất hiện... vài chòm tóc bạc tủa ra dưới khăn trùm bằng vải xếp, trên tay cụ cầm một con két. Cụ hỏi: "Quý vị đến tìm gì ở chốn hoang vu giữa đêm hôm khuya khoắt này?" Con chim liền lặp lại: "Giữa đêm hôm khuya khoắt này."
Sau khi nghe Thận trình bày sự việc, cụ già mời họ vào và đòi xem thanh sắt. Chẳng cần lời lẽ, chỉ xem cách thức ông già cầm thanh sắt giơ lên đặt xuống quan sát là đủ biết trước mắt họ chính ông cụ là người thợ rèn làng "Tre Xanh" ngày trước. Cụ lên tiếng:
- Đây là thanh sắt đặc biệt. Các chú đã câu được dưới lòng sông Chu phải không?
Những ngón tay xương xẩu của cụ già vuốt ve nhè nhẹ trên thanh sắt, mân mê một hồi khác nào đã bắt đầu việc rèn giũa! Và cụ nói: "Hoàn toàn kỳ lạ! Trong lòng sông à? Thật là kỳ lạ!" Con chim liền lặp lại: "Thật là kỳ lạ! Thật là kỳ lạ!". Nói đoạn, cụ già và con két đưa cặp mắt ngờ vực nhìn thanh sắt rồi nhìn ba vị khách đã mạo hiểm đến vùng hoang vu này chỉ với mục đích xin cụ rèn cho một thanh kiếm. Họ chỉ là ba người nông dân trẻ tuổi đã mệt lử, đang thích thú nhìn những trò ngộ nghĩnh của con chim vẹt... Cuối cùng, cụ mời họ ngồi trên một tấm phản và dọn cho họ một ít rau xào, rồi cụ lên tiếng:
- Lão chỉ là một cụ già cô quạnh sống tận đáy khu rừng này. Chim, nai, sóc là bạn của lão. Đói thì ăn cỏ cây nơi núi rừng, khát thì uống bên dòng suối. Vào năm Bính Tuất (1406), khi tụi Tàu xâm chiếm đất nước chúng ta, lão đã rời bỏ ngôi làng ra đi. Lão chẳng hay biết những gì đang xảy ra trong cõi hồng trần, hiện giờ đang là triều đại gì và ai ở trên ngôi báu.
Hội và thằng em thứ ba đã ngủ say trong khi Thận kể cho cụ già nghe những gì xảy ra ở vùng dưới, ngay cả cái chết tức tưởi của Thị Hai ở trong thửa ruộng, và niềm hy vọng mà mọi người đặt trọn vào Lê Lợi, người mà dân chúng đều tôn xưng là Vua Lê Lợi hay con rồng Lam Sơn. Từ hai năm nay, Lê Lợi đã giương cao ngọn cờ khởi nghĩa và đã mang về chiến thắng đầu tiên tại Lạc Thuỷ. Cầu trời cho ngài thắng được nhiều trận tiếp theo: "Thanh kiếm báu này chính là để dành cho ngài".
Cụ già vẫn yên lặng lắng nghe chàng nói, chỉ thỉnh thoảng thốt ra đôi tiếng thở dài hoặc cất bước đi qua đi lại. Nghe kể chuyện xong, cụ già chỉ vào một tấm mền kết bằng dây đậu tằm và nói:
- Đêm ở miệt núi rừng lạnh lắm. Hãy dẹp mọi lo âu qua một bên và hãy ngủ đi cháu!..
Khi Thận mở mắt ra thì nắng sớm đã tràn ngập túp lều tranh. Các chú em chàng vẫn còn đang ngáy khò khò. Cụ già đã biến mất và ngọn lửa trong bếp lò tắt ngúm, xung quanh chỉ nghe tiếng chim hót. Chàng cau mày, lòng tràn ngập nỗi ngờ vực. Thế là, chàng lắc lắc người em thứ tên Hội rồi ào chạy ra ngoài. Xung quanh khu vực này chỉ toàn gai góc và dây leo chằng chịt. Đằng sau cái túp lều tranh chẳng còn dấu vết gì của vườn rau. Khu vực này đích thực chưa hề có người ở! Bỗng có tiếng Hội vang lên:
- Anh Hai ơi! Anh Hai ơi!
Thận vội vàng chạy ngược lại về phía túp lều tranh miệng lẩm bẩm không biết thằng Hội làm gì mà rống lên như thế... Nhưng thật ngạc nhiên biết bao! Trên phiến đá của bếp lò, ai đó đã đặt lên một thanh kiếm. Lưỡi kiếm tỏa ra màu sáng bạc của loài cá bạc và chuôi thì bằng ngọc. Nó hoàn toàn giống hệt thanh kiếm Thận đã thấy - hoặc tin rằng đã thấy - nơi bàn thờ tổ tiên ở nhà chàng. Chà! Làm thế nào chỉ trong có một đêm, cụ già kỳ quái hom hem như thế lại có thể rèn xong được nó? Chàng đưa mắt nhìn khắp túp lều tồi tàn và phát hiện ra chỉ toàn là những dấu tích hoang phế! Trong bếp lò, nhện giăng tứ phía, ngưỡng cửa meo mốc phủ đầy, còn trên tấm phên mọt gặm, chiếc chiếu cụ già đưa cho chàng đắp cho đỡ rét đêm hôm qua đã biến mất tiêu! Mặt mày Thận biến sắc và toàn thân run rẩy.
Thấy vậy Hội la lên: "Chúng ta chuồn đi thôi". Thằng em thứ ba đã nhảy vọt ra khỏi lều từ trước cũng hét lên: "Anh Thận, anh Hội ơi". "Khoan đã nào!" - Thận lên tiếng, nắm thanh kiếm xem xét. - "Chà! Thanh kiếm thật tuyệt diệu biết bao, thật xứng đáng để dâng cho một đấng quân vương. Đúng là "danh bất hư truyền". Tạ ơn lão tiền bối khả kính". Vừa nói Thận vừa vái lạy tứ phía. Kế đó, chàng xé một miếng vạt áo gói thanh kiếm lại, bỏ nó vào trong một cái bọc kết bằng lá cây rồi đeo lên lưng. Xong xuôi chàng nói: "Chúng ta hãy lên đường". Vừa bước chân xuống núi, họ cảm thấy bụng đói cồn cào, đói đến hoa cả mắt...
Khoảng giờ Ngọ (giữa trưa), tình cờ, họ gặp được một bà lão từ chợ về, trên vai có gánh một ít bánh giò bán chưa hết (một loại bánh làm bằng bột gạo có nhân nhồi thịt heo, gói trong lá chuối rồi nấu chín). Thận lên tiếng: "Ngoại ơi! Bán cho cháu vài cái!". Thận chìa ra vài đồng tiền còn bà cụ thì đặt đôi gánh xuống ngồi chồm hỗm bên hai thúng bánh. "À nhân tiện cháu xin hỏi bà có biết ở đây có người thợ rèn nào gốc ở làng "Tre Xanh" không?"
Bà lão ngạc nhiên trả lời: "Ủa! Các chú từ đâu đến mà chẳng biết rằng hiện giờ ở nước ta đâu có ai được làm nghề thợ rèn nữa! Theo già biết thì trên ngọn núi đằng kia trước đây có một ẩn sĩ khi xưa từng làm nghề rèn, nhưng ông ấy đã về nơi chín suối khá lâu rồi! Chính già đã từng dự lễ chôn cất ông ấy!".
Nói xong bà lão phun nước bã trầu đỏ loét xuống đất, nhét tiền vào ruột tượng, rồi đứng dậy tiếp tục quẩy gánh đi.
Thận cảm thấy nổi da gà khi chàng hồi tưởng lại cuộc trò chuyện với một người thuộc cõi âm. Cùng lúc đó, Hội cầm những chiếc bánh giò vừa mới mua quẳng ra xa lẩm bẩm chửi rủa: "Tôi đã nói mà! Chính lão thầy lang khốn nạn đã đưa anh em ta vào cái tổ ong vò vẽ này, cái xó xỉnh này đâu phải là nơi dành cho người sống! Không chừng bà già vừa nãy cũng là con ma và mớ bánh giò của bà ta không chừng cũng là bùa ngải mê hoặc chúng ta đó! Thôi, chúng ta chuồn lẹ lên! Vẫn còn kịp mà! Ném mẹ nó cái thanh sắt quỷ quái này xuống con suối đầu tiên nào chúng ta gặp rồi trở về nhà chúng ta đi thôi!".
Thằng em thứ ba tiếp lời: "Qua một đêm gặp toàn điềm gở thế này, em nghĩ rằng, nếu cứ tiếp tục, chắc chắn chúng ta sẽ bị mất toi mạng, theo ý em thì nay chúng ta chỉ còn có việc bịa ra một câu chuyện nào đó để kể khi chúng ta trở về lại làng. Anh Hai nghĩ sao?"
Thận liền mắng át: "Các chú câm miệng đi! Các chú chỉ là những kẻ cầy cấy. Các chú có hiểu thế nào là sứ mạng trời cao uỷ thác không? Ma quỷ hay không chẳng phải là vấn đề, cái quan trọng là thanh kiếm hiện có thật. Bộ các chú tính bỏ dở công việc chúng ta đã hoàn làm tất được 7 phần 10 rồi sao? Hãy đi nhặt lại mấy cái bánh giò, giá mỗi cái tới hai đồng tiền đó, ăn cho no đi rồi hãy đi theo ta đến núi Chí Linh".
Hai người em cảm thấy xấu hổ, vội làm theo lệnh người anh. Thế là cả ba cùng tiếp tục tiến về miệt cao mạn Tây Thanh Hoá.
Ngày đêm qua mau tựa thoi đưa, thấm thoát đã được mười hôm.
Ba anh em Thận, Hội, Ba băng đèo vượt núi xuyên qua vùng núi non Phù Dinh tới núi Chí Linh tìm kiếm doanh trại Lê Lợi. Những nông dân này chỉ quen với phong cảnh bình nguyên nên núi cao vực thẳm, những chiếc cầu chênh vênh, những ngõ ngách hiểm hóc, thật là cả một trời hoang vu rùng rợn.
Lẽo đẽo sau lưng người anh, Hội lúc nào cũng làu bàu: "Cũng tại vì cái thanh sắt chết tiệt anh Hai xui xẻo với. lên mà chúng ta phải đi tìm một ông Vua Lê Lợi chẳng thấy tăm hơi đâu cả!". Ông ta ở đâu? Cỏ cây, đá sỏi chốn rừng xanh câm nín chẳng trả lời. Vắt đỉa đeo dính vào cặp giò, đôi dép cói rách bươm, cẳng chân rướm máu. Đến mỗi khúc rẽ, Hội đều lóng cóng trông mong được thấy thấp thoáng từ xa người ngựa lều bạt, cờ quạt, để được chấm dứt chuyến đi làm rã rời xương cốt này. Tiếp đó, chỉ còn mỗi việc đơn giản là việc đến trình diện trước cửa trại, trình bày lịch sự lý do cuộc thăm viếng của họ, rồi một lính gác sẽ vội vàng dẫn họ đến tận Chủ Soái Lê Lợi. Để tỏ lòng biết ơn, ngài sẽ chiêu đãi họ một bữa tiệc. Vừa lê gót chân khấp khểnh trên con đường sỏi đá, Hội vừa thầm nghĩ: đối với những kẻ đã không ngần ngại vì Đức Vua, liều mình nhảy vào miệng cọp thì bữa tiệc đó là điều tối thiểu ông ta phải làm chứ!
Rồi đang đi, Hội miên man nghĩ tiếp đến những đĩa thức ăn nào chiên nào luộc…. Ái! Ái! ối! Thật là rõ khốn! Một số người ở đâu từ trên các phiến đá nhảy xuống đè lên mình ba anh em khiến họ té nhào lăn đùng xuống đất. Trong chớp nhoáng, chẳng để cho họ kịp phân bua, sáu gã lính gác vạm vỡ người sơn cước liền cột xâu họ mỗi người vào một cây tre như những con heo rồi cứ thế khiêng vào tận doanh trại. Thận tức điên, thét lên: "Ta vâng theo ý trời, ta muốn gặp vua Lê Lợi, hãy thả ta ra, đồ man rợ."
Nghe ồn ào, đám nghĩa quân vội ùa ra. Đứa nào to mồm thế nhỉ? Chàng Thận cứ tiếp tục la lên như bị cắt cổ:
- Vì tuân theo thiên ý, ta đã phải đương đầu với lũ ác nhân, đã suýt rơi vào miệng cọp trong đường tơ kẽ tóc, đã qua đêm với một bóng ma, đã chịu bao nỗi sợ hãi, đói khát, Lam Sơn chướng khí để mong gặp Đức Vua Lê Lợi. Thế mà các ngươi trả ơn cho ta như vậy hả? Thả ta ra đi lũ súc sinh! - Thận nghẹn họng vì tức giận.
Chàng Hội lên giọng mỉa mai châm biếm:
- Anh Hai ơi có phải anh đang cảm ơn trời vì ông ta cho anh em mình võng họ nghênh ngang không?
Thận chỉ khạc nhổ tỏ vẻ khinh bỉ. Giữa lúc đó bỗng có tiếng nói to: "Hãy thả lọng ra". Một người đàn ông gầy guộc tiến đến ra lệnh bằng tiếng Mường. Sau đó, ông dùng tiếng Kinh mà nói với Thận, lúc ấy đang lồm ngổm ngồi dậy.
- Chú mày là ai? Từ làng nào đến đây?
Thận đáp:
- Tôi tên là Thận, từ làng Bình An đến đây cùng các em trai tôi. Chúng tôi đã rời bỏ gia đình ruộng nương để mong gặp Đức Vua Lê Lợi. Trời cao đã uỷ thác cho chúng tôi mang một sứ điệp cực kỳ quan trọng dâng lên Đức Vua.
Nghe nói thế, đám đông tò mò cười rộ lên: "Ê! Các bạn ơi! Đến đây lẹ lên! Có anh chàng tự xưng là sứ giả nhà trời phái đến cho Chủ Soái Lê Lợi chúng ta. Lẹ lên!" Những tiếng cười chế nhạo rộ giòn. Chỉ duy có người đàn ông gầy guộc, chắc là viên đội trưởng, vẫn điềm nhiên. Ông tiếp tục hỏi Thận: "Chú mày có sứ vụ gì cực kỳ quan trọng?"
Thay vì trả lời, Thận tháo dây cột cài bọc kiếm đang khoác trên vai rồi cầm hai tay đưa ra. "Đưa đây cho ta!". Thận đáp: "Rất tiếc là không thể được". Người đội trưởng liền ra dấu cho các cận vệ người sơn cước xông tới. Nhưng lập tức, Thận nhanh nhẹn nhảy lùi về phía sau cầm nguyên bọc kiếm quay tít trên đầu vừa quay chàng vừa hét: "Lùi ra, khốn cho kẻ nào dám mò tay vào kiếm!" Ánh nắng và nét mặt của Thận làm cho bọn lính canh như bị chôn chân vào đất và chúng thôi cười. Thận hét tiếp: "Chỉ có mình Đức Vua Lê Lợi mới có quyền đụng đến thanh kiếm!"
Thận cũng chẳng hiểu do đâu chàng lại dám to gan đến thế. Đám lính trông thấy cũng phải kiêng dè! Bởi vì thật ra đối với tay đội trưởng người sơn cước này thì không cần nhíu mày, chỉ một đường đao là đủ cho Thận bay đầu. Thận chỉ đơn giản làm theo điều chàng xác tín. Chính thanh kiếm buộc chàng phải làm như thế.
Ngay lúc đó, tin về việc xảy ra đã lan nhanh khắp toàn doanh trại. Ngọc Trân vội bước vào lều tâu với Lê Lợi: "Thưa phu quân, lính vừa bắt được một người tự xưng là sứ giả nhà trời đòi được gặp ngài". Lúc bấy giờ, Lê Lợi đang cùng Nguyễn Trãi nghiên cứu một kế hoạch tác chiến. Ngài dừng lại nói với Nguyễn Trãi: "Quân sư Ức Trai cùng đi theo tôi".
Vừa ra khỏi lều, họ đã nghe vang tiếng nói dõng dạc:
- Có cần phải lặp lại với các người, ta đến đây là do ý trời không? Hãy mau dẫn ta đến gặp Đức Vua đi!
Xung quanh chàng ta, một đám đông vây quanh gồm đủ cấp từ chỉ huy đến các sĩ tốt. Lê Lợi rẽ bước tiến tới nói:
- Người đòi gặp Đức vua Lê Lợi hả? Ông ấy đây này, người muốn gì cứ nói đi!
Chàng nông dân đưa cặp mắt nhìn về con người vừa mới tới, vị thần có giọng nói oang oang, thân thể cường tráng, rồi quay nhìn đám đông vây quanh như chờ đợi một sự xác nhận. Chàng còn đang lúng túng chưa muốn rời bọc gươm nắm chặt trong tay thì bỗng nghe có tiếng bảo:
- Ngươi còn chần chờ gì nữa mà không đến chào Vua Lê Lợi của ngươi đi!
Thận chăm chú nhìn vào người vừa lên tiếng: Người này có đôi mắt phượng hoàng với tia nhìn xuyên thấu tim gan, gương mặt hài hòa nhưng nghiêm nghị, hẳn ông ta không nói dối. Thận vội quỳ xuống sụp lạy ba lần trước mặt Lê Lợi rồi khúm núm dâng lên bọc kiếm, vừa thưa:
- Tâu Đức Vua, xin ngài tha thứ cho người tôi tớ ngổ ngáo này. Đây là món vũ khí mà Long quân gửi đến giúp ngài chiến thắng quân thù!
Không một ai hiện diện ở đó có thể quên được giây phút này. Bấy giờ vào cuối giờ Thân (từ 15 giờ đến 17 giờ) bước sang giờ Dậu (từ 17 giờ đến 19 giờ), mặt trời tỏa xuống những tia nắng cuối cùng, núi đồi xung quanh phủ một màu xanh thẫm. Các phụ nữ, trong đó có Ngọc Trân và Thị Lộ đang đứng nhìn từ xa. Một sự yên lặng trang trọng ngự trị khắp nơi: sự yên lặng của ngọn núi hùng vĩ, sự yên lặng toát ra từ đôi mắt bao người đang dán chặt vào con rồng Lam Sơn. Không bao lâu nữa, đỉnh núi sẽ cắt ngang che khuất tia nắng cuối cùng. Ngay trong chính giờ khắc ấy, từ bàn tay Lê Lợi, cái vỏ bọc kiếm bằng lá cây dường như đang bốc cháy! Và một ánh chớp dài lóe sáng một màu vàng chói tạo thành hình một vòng cung bao la. Một chùm tinh tú đang từ trời cao xẹt xuống. Tất cả mọi người đều kinh hãi quỳ gối. Đám phụ nữ đưa tay bịt miệng để khỏi thét lên! Giữa màn đêm buông xuống, trong giờ khắc vĩnh cửu này, ngọn núi Chí Linh biến thành một bàn thờ lung linh muôn ngàn ánh sáng, như trong một ngôi đền. Khi tia nắng cuối cùng đã khuất hẳn sau chòm núi, lưỡi kiếm trong tay con rồng Lam Sơn trở thành màu xanh, xanh như mặt nước hồ tiết Trung Thu.
Lê Lợi đưa tay đỡ Thận đứng dậy và hỏi:
- Ngươi tìm đâu ra thanh kiếm tuyệt vời này?
Thận đáp:
- Tâu Đức Vua, câu chuyện này dài dòng lắm, thần không dám lạm dụng sự kiên nhẫn của Ngài.
Lê Lợi truyền:
- Hãy đốt đèn lên và hãy dọn ngay tại đây bữa ăn tối. Nào mời quân sư Ức Trai ngồi xuống - Vừa nói, Lê Lợi vừa hướng về con người lúc nãy đã đem lại cho Thận sự xác tín - Lê Lợi tiếp lời - và xin mời tất cả chư huynh và ngươi cùng ngồi xuống đây. Hãy truyền mang rượu ra! Chúng ta lắng nghe câu chuyện đây...
Lập tức, Thận liền bắt đầu thuật lại từ đầu. Rượu vào làm cho chàng thêm lợi khẩu. Hai đứa em há hốc mồm nhìn người anh cả mình. Phải chăng chính thanh kiếm hay ông lão thợ rèn làng Tre Xanh mở mồm mở miệng cho anh cả? Dưới ánh lửa bập bùng, ly cốc chuyền tay, lưng khoác thanh kiếm, Lê Lợi chăm chú lắng nghe không sót một lời. Ngài trầm tư suy nghĩ một hồi lâu sau khi Thận dứt lời. Rồi Thận lên tiếng nói thêm:
- Thưa Đức Vua, kẻ hèn này chỉ là một nông dân quê mùa dốt nát, kính xin ngài thương tình cho hạ thần biết ý nghĩa dòng chữ khắc trên chuôi kiếm.
Người ta mang ngọn đuốc bằng nhựa thông đến gần. Quả thực, trên chuôi kiếm bằng ngọc, chạm rõ một dòng chữ. Nguyễn Trãi đọc:
- Thế thiên hành đạo!
- Thế thiên hành đạo! - Lê Lợi lặp lại. Giọng ngài thốt ra chẳng khác gì tiếng bão gầm vang khắp cả miền rừng núi...
[←146]
(Từ cũ) Hoạt bát, linh lợi
[←147]
Loại dao hình chiếc hái hai lưỡi
[←148]
Chỗ đựng lúa
[←149]
Nghi lễ nhằm giúp các âm hồn lang thang phiêu bạt thoát sự luân hồi
[←150]
một phương pháp bói toán