VẠN XUÂN

Lượt đọc: 8104 | 4 Đánh giá: 10/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 2

Chưa bao giờ Nguyễn Trãi hạnh phúc như vậy.

Nền giáo dục chàng đã nhận được, lý tưởng nhân nghĩa mà trước đây lắm lúc chàng cảm thấy như xa rời thực tế, niềm tin của chàng vào một "chính nghĩa", giờ đây đã hoàn toàn được chứng tỏ là đúng.

Bình Ngô Sách, là "chiến lược thắng Ngô" của chàng. Chàng đã soạn thảo và suy đi ngẫm lại suốt bao nhiêu năm trường khi còn bị quản thúc không hoạt động gì được ở Đông Quan (Thăng Long), rồi được tranh luận gay gắt, được sửa đổi lại cho thích nghi với thực tế từ ngày chích huyết ăn thề ở Lũng Nhai trước đó chín năm, hiện nay đã có kết quả.

Việc chinh phục lòng người, nhất là chinh phục được lòng người dân, là "dòng nước nâng đỡ chiếc thuyền quyền bính nổi lên, mà cũng có thể làm đắm chiếc thuyền đó", việc liên kết những người có tài và những bài văn chàng viết cho các tướng lĩnh Trung Hoa để tranh thủ họ, hoặc để làm họ nản chí, là nguồn gốc đem lại những chiến thắng về quân sự, và những chiến thắng ấy bây giờ đang chuyển sang những cuộc chinh phục ngoại giao.

Chàng không còn bị ám ảnh về một cuộc đời thất bại nữa.

Đã mười năm nay, kể từ khi chàng tham gia cuộc kháng chiến ở miền Nam, một tình bạn thâm sâu đã liên kết nho sĩ này với Lê Lợi, tình bạn ấy phát sinh từ sự ngưỡng mộ và tin tưởng lẫn nhau, lại được củng cố bằng những thử thách và chờ đợi bằng thất bại cũng như thành công (biết bao lần hai người lâm vào tình thế thật là ngặt nghèo, thậm chí hầu như tuyệt vọng nữa), Đó là sự kết hợp giữa cây bút và thanh kiếm, giữa mưu sĩ và chiến sĩ, giữa nhà ngoại giao và vị tướng điều khiển ba quân, là những tay lão luyện bậc thầy, họ cùng với nhau quyết định tương lai, Lê Lợi là vua, còn Nguyễn Trãi là quân sư. Định mệnh mà các tinh tú đã tỏ lộ ra, giờ đây đang thành hiện thực, cái định mệnh mà ngày trước đã khiến cha chàng phải khiêm nhượng rút lui vào bóng tối.

Năm trước, hai người đã đồng ý với nhau lợi dụng cuộc khủng hoảng ở Trung Quốc do cái chết của Hoàng Đế Vĩnh Lạc gây ra để tái tấn công, thay đổi kế hoạch và mục tiêu: là giải phóng các tỉnh ở phía Nam Thanh Hóa.

Nếu núi Chí Linh là một địa điểm đóng quân chắc chắn trong cuộc chiến tranh quấy rối, thì nó không phải là một căn cứ vững chắc để phát triển phong trào, một phần vì nó quá gần với các thành Đông Quan, Tây Đô. Hai người đã quyết định tấn công vào Nghệ An, một tỉnh rất đông dân. Tại đây, quân Tàu đóng quân ít hơn ở Thanh Hóa, và viện binh từ phương Bắc khó lòng đến tiếp cứu họ được.

Kẻ thù vốn đông quân hơn, nên để làm điều ấy, nghệ thuật quân sự là làm sao lôi được quân thù vào vùng đất mình lựa chọn, trong trường hợp này là vùng nội địa của mình, chứ không phải để cho quân thù lôi được mình vào vùng đất của họ. Tại Khả Lưu, quân ta đã trương cờ gióng trống lên và đốt lửa để hư trương một quân đội rất lớn mạnh, nên đã lừa được quân Tàu, đã che giấu được đội quân tinh nhuệ do Trần Nguyên Hãn chỉ huy vượt qua sông Lam, và ngay khi qua được bờ bên kia, tướng này biệt danh là Hổ Trầm đã vào trong các ngọn núi phục kích tại đó. Tảng sáng hôm sau, quân đội Thiên Triều với kỵ binh dẫn đầu, cờ xí rợp trời tới tấn công, Lê Lợi giả bộ chạy trốn, dẫn họ tiến thẳng vào cái bẫy đang giăng ra, tại đó quân thù có thoát được thì cũng phải thiệt hại rất nặng.

Nhưng chưa phải là đã thắng lợi. Quân thù cũng chỉ tổn thất nhẹ và sau khi chúng rút về phía hạ lưu vào trong chiến lũy vừa được xây cấp tốc chỉ với mục đích trì hoãn, hòng đẩy nghĩa quân đến chỗ thất bại, Nghĩa quân trái lại, phải hành động chớp nhoáng giáng một đòn như sấm sét, đốt trại của chúng, rồi làm như rút quân lên phía thượng lưu, nhưng thực ra là vòng về phía sau, và giăng ra một mạng lưới mai phục rộng lớn tại Bồ ải. Đây là một chiến thắng lớn! Sử có ghi lại:

"Thuyền quân thù trôi theo dòng nước, xác quân thù chất đống trên sông, vũ khí chúng để lại chất đầy các khe núi".

Các đội quân Trung Hoa thua chạy toán loạn. Một tướng lĩnh của họ bị giết và xác của hắn bị bêu trước công chúng. Một tướng khác bị bắt làm tù binh nhốt trong cũi. Tổng binh Trung Hoa Trần Trí và tàn quân của hắn chạy trốn như một làn khói về thành Nghệ An.

Quân ta đã thu vũ khí và lương thực của quân đội Thiên Triều. Các đội quân của ta đã tiến tới với bầu nhiệt huyết sấm vang dậy đất, tung bụi ngất trời. Từng mũi tên một đã góp công vào chiến thắng.

Tháng Giêng năm Ất Tỵ (1425), quân ta đã được dân chúng tiếp đón nồng nhiệt tại Đa Lôi (thuộc huyện Thổ Du, tỉnh Nghệ An). Dân chúng tràn ngập đường mang đến cho họ những món quà, thịt trâu và rượu. Các cụ già nước mắt rưng rưng vừa đi vừa lẩm nhẩm: "Ai mà ngờ được ngày hôm nay mình được thấy lại vẻ oai phong của quê hương xưa". Dù bị thiếu lương thực suốt ba ngày, nhưng không một quân nhân nào vi phạm lệnh cấm không được đụng chạm gì đến của cải của đồng bào, trừ của cải của quân Minh. Vì thế, dân chúng tung hô Lê Lợi là người giải phóng dân tộc và gia nhập hàng ngũ của ông, cho đến những bà mẹ còn bồng con nhỏ trên tay cũng vậy.

Thật đúng với câu: "Anh hùng tạo thời thế".

Tri phủ châu Ngô Mã là Cải Bình đã phủ phục xuống giao thành lại cho ông cùng với tám nghìn người và mười thớt voi. Khắp nơi trong tỉnh, các viên chức ở các phủ, các huyện đều đua nhau thuận phục.

Quân ta đã chiến đấu như vũ bão tại Khả Lưu, và đã đánh bại quân thù ở Bồ ải dễ dàng như chẻ tre.

Tinh thần của binh sĩ vì thế lên như diều.

Đến tháng tư, họ bao vây thành Nghệ An, nơi Tổng binh Trần Trí cùng với Phương Chính và tàn quân của hắn đang cố thủ. Theo gương các vị đại tướng tiền bối là giảm binh ở những nơi phòng thủ kiên cố để tập trung tấn công vào những điểm yếu nhất, nên chắc hẳn họ đã bỏ mặc bọn Tàu đang cố thủ trong thành vốn nhát như chuột, nếu họ không nghe đồn về đạo quân đang từ phương Bắc xuống qua đường biển dưới quyền điều khiển của quan phó tổng binh Lý Ngân. Với bản năng tiên đoán chắc chắn của một vị tướng thiện nghệ, Lê Lợi biết trước rằng bọn Tàu bị bao vây sẽ cố tìm đường thoát ra để hợp với đạo quân cứu viện, nên ông đã dùng một chiến thuật táo bạo nhử cả hai đạo quân vào một ổ phục kích ở Đỗ Gia (huyện Hương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh) và đánh tan cả hai.

Thây của giặc chất thành đống ở hai bên bờ sông.

Những tên chết trôi bồng bềnh dọc theo dòng sông La Giang.

Khó nhọc lắm mới phá được vòng vây, lại bị quân của Lê Lợi đang hăng máu đuổi theo, Tổng binh và phó tổng binh tìm cách thoát thân, Trần Trí thì chạy về hướng Đông Quan, Lý Ngân chạy về hướng thành Nghệ An cùng với Phương Chính, ông này vì quá sợ đã tắt thở.

Tháng năm, quân ta lại chặn được một đoàn tàu tiếp tế lương thực gồm trên ba trăm chiếc thuyền và đuổi theo đoàn tàu hộ tống tới tận tường thành Tây Đô.

Đến tháng bảy, Lê Lợi vì muốn đề phòng bọn Tàu đánh tập hậu nên đã ra lệnh cho Trần Nguyên Hãn, được gọi là Hổ Trầm và Lê Ngân, còn gọi là Bất đắc Kỳ tử, đánh chiếm hai tỉnh miền Nam là Tân Bình và Thuận Hóa (ở phía nam tỉnh Thanh Hóa).

Mùa Thu năm Ất Tỵ (1425), tất cả miền Nam Đại Việt đã được giải phóng trừ hai thành Nghệ An và Tây Đô.

Còn phải chiếm lại các tỉnh phía Bắc nữa, đó là mối quan tâm lớn nhất của Lê Lợi và quân sư của ông là Nguyễn Trãi.

—★—

Chẳng mấy chốc, mặt trời mùa xuân đã ngả về phía những đỉnh núi xa xa.

Ra khỏi khu rừng thoai thoải trải xuống phía thung lũng, hai kỵ sĩ dáng vẻ quý phái đang ngắm nhìn trại quân đóng ở phía dưới cách họ bằng khoảng một làn tên.

Dưới mắt họ là cả một lực lượng hùng hậu, những chiếc lều với những cờ xí màu đỏ thẫm bay phất phới trước gió chiều, có tướng, có sĩ với hàng binh lính võ trang đầy đủ, có ngựa chiến, voi chiến. Tất cả đều lẫn lộn trong cả một đám đông ô hợp của một binh đội gồm đàn ông, đàn bà, trẻ con đang sinh hoạt nhộn nhịp bên những đàn gà vịt, heo, bên những đống dụng cụ đủ loại. Chỗ này đang nấu cơm chiều, chỗ kia đang múc nước... Trong đám đông đó có các phụ nữ theo chồng đánh giặc, cùng với tôi nam tớ nữ, kẻ chuyên nấu bếp, người chuyên đánh xe, đang sát cánh làm việc với những đám đông gồm vô số công nhân, có những tiều phu bận áo màu lam từ những khu rừng cao gần sông Mã, có những thợ mộc và thợ thủ công người Kinh mặc áo nâu sẫm, có những thợ chăn ngựa và thợ rèn người Mường, vân vân. Nhìn quang cảnh ấy người ta có thể bảo rằng các vị thần Thổ Địa đã đưa về tập trung ở đây, giữa núi Lam Sơn và sông Luông, cả một lực lượng hùng hậu của đất nước, gồm một đạo quân vĩ đại được tăng cường một cái chợ khổng lồ và một công trường thật quy mô.

Bất cứ nhìn về hướng nào, dù là đông tây hay nam bắc, người ta cũng nhận thấy doanh trại ấy thật rộng lớn, vượt ra khỏi vòng rào chắn trải dài đến tận các sườn núi. Nó bao gồm khoảng 200 chiếc lều rạp, xen lẫn các chòi rơm, thêm vào đó là những lò rèn đang rực lửa trong các hang động, và các chú lính gác đang lúc trực trên đỉnh canh. Tất cả tạo nên một cảnh tượng hùng tráng tựa như cả chục ngàn mãnh hổ đang sắp sửa vồ mồi.

Trong nắng lửa chiều tà, hàng binh đao lấp loáng.

Kia là những chàng xạ tiễn đầu viền dải băng đỏ thẫm, đang thao dượt cung tên trên lưng năm mươi thớt voi... Xa xa hơn, cưỡi trên mình chú ngựa Mường, một chàng trai trông thật khỏe khoắn, đang dẫn đầu toán kỵ binh sơn cước, tay chàng vung tít con dao cán ngà phía trên đầu. Đó là ai nếu không phải là chàng Hiểm lực lưỡng và gân guốc, với biệt danh Con Chồn Ngoài hang? Xa hơn tí nữa, không ai khác ngoài anh chàng Lưu Nhân Chú, biệt danh Diêm Vương, nổi bật lên trong chiến bào màu da tê giác rực rỡ, đang dẫn theo đoàn bộ binh của mình. Ai mà chẳng ngán anh chàng này? Và trên khu đất được rào kín, chính thị là con hổ Trần Nguyên Hãn, ông ta đang một mình giao đấu với cả 10 địch thủ một lượt mà đầu óc vẫn lạnh lùng, cử điệu thật chính xác không hề nao núng. Ai dám nghĩ mình qua mặt được ông ấy về nghệ thuật chinh chiến?

Khắp nơi, mọi người đều phô diễn những nhịp chuyển động náo nhiệt tựa như bầy kiến dưới đáy lò lửa nóng... Ở chỗ này người ta đang vận chuyển những tấm ván rừng dày cần cho việc chế tạo tàu chiến mới, nào là đẽo, nào là cắt, nào là đóng, nào là xảm... Ở chỗ nọ, người ta đang phơi những tấm da trâu chưa thuộc lên dãy sào tre, chúng sẽ được dùng làm chiến bào và thuẫn đỡ.

Dọc theo bờ sông Luống, những chiến thuyền mang đôi mắt cú vọ đang đứng cạnh nhau, những anh chàng thuyền đánh cá mà chạy kề bên chúng chắc là khó khăn lắm đó!

Từng chập từng chập lại vang lên tiếng kèn sơn cước hay vài điệu hò dân ca như muốn lấn át tiếng binh khí va chạm nhau chan chát và tiếng náo nhiệt phát ra từ xưởng đóng tàu trong bầu không khí buổi chiều tà.

Trong khi ấy, từ khắp mọi nẻo đường miền núi lẫn miền xuôi, từng đoàn nông dân lũ lượt kéo về hướng doanh trại để tôn vinh Lê Lợi, vị chúa của họ và dâng lên lương thực tiếp tế cho đoàn quân, người sơn cước y phục màu xanh chàm đang còng lưng dưới chiếc gùi, người miền Kinh y phục màu nâu sẫm đang uốn lưng dưới chiếc đòn gánh.

Và dưới bàn tay vuốt nhẹ của làn gió hoàng hôn, giữa hàng cờ xí rợp trời, lá đại kỳ "nhân nghĩa" giương cao đang tung bay phất phới.

Làm sao ai có thể nhận ra đây chính là đoàn quân chân đất bụng meo ngày nào nhỉ?

Đôi quai hàm hung hãn của Lê Lợi trông dịu hẳn đi trong nụ cười chiến thắng. Thân hình của người như thư giãn ra. Ngài vuốt nhẹ vào chiếc cổ con chiến mã đang đứng run rẩy. Lực lượng quân sự của ngài càng ngày càng gia tăng, bước chân ngài đi đến đâu là mang về chiến thắng đến đó. Tại các tỉnh phía Nam, dù quân thù có chui rúc trong các làng mạc miền núi hay đồng bằng hoặc ngay cả trên sông nước ngài cũng tiêu diệt hết. Tất cả mọi viên chức từ Phủ Huyên đến các ty chức quèn và cả đám dân đen đều nhất mực nhìn nhận quyền uy của ngài.

- Quân Sư Ức Trai này, ông còn nhớ thuở binh đoàn chúng ta chưa có được tới 500 người không? Lúc đó chúng ta chẳng có đủ cấp chỉ huy cũng chẳng đủ khí giới, không biết chúng ta sẽ ra sao nếu không nhờ các bộ lạc sơn cước giúp đỡ? Nếu không nhờ Lê Lai biệt danh Chú Vượn dám khoác chiến bào của ta đánh lừa quân địch để tự nhận cái chết cho mình? Ta đã đem cả ngàn chiếc đầu giặc Ngô ra chặt tại đèo Kình Lộng160 vào năm Tân Sửu (1421) để rửa hận cho cái chết này. Ta biết, vào dịp ấy, vì lòng nhân đạo, chắc chắn ông bị tổn thương lắm đó!

Nguyễn Trãi thở ra một nụ cười, nụ cười vốn bao giờ cũng thâm thúy khôn dò. Quả thật chàng nhớ lại mình đã mãnh liệt chống đối lại cuộc trả thù man rợ ấy, nhưng vào lúc bấy giờ, vì bị tên Lê Sát với biệt danh Sấu Thần nịnh bợ, nên Lê Lợi chưa có được tầm nhìn đúng đắn về các sự việc. Ngài không hiểu rằng một tướng lĩnh tài ba thực sự sẽ ghê tởm các cuộc tàn sát dã man như thế.

- Tâu chúa thượng, cũng như ngài, tôi tin rằng sử dụng bạo lực cách chính đáng là điều cần thiết, nhưng một khi chúng ta có thể chiến thắng mà không cần phải đụng đến gươm giáo thì tại sao chúng ta lại không dùng đến đường lối ngoại giao đối thoại thu phục? Nói tóm lại là dùng phương cách tác động đến trái tim của quân địch để chúng quy hàng mà chẳng cần phải chiến đấu, làm thế sẽ tiết giảm được biết bao sinh mạng khỏi phải chết oan uổng không?

Lê Lợi lắc đầu:

- Ngài Quân Sư Ức Trai ơi, tôi hiểu, tôi hiểu. Song ông hẳn còn nhớ sự láo xược và tàn ác của đám giặc thù chứ? Ngày hôm nay khi nghe tiếng tăm chúng ta, đọc thư ngỏ chúng ta gửi, (Quân Trung từ mệnh tập: thư gửi tướng lĩnh quân địch mà Nguyễn Trãi nhân danh Lê Lợi soạn ra) chúng đã ngán quá chui rúc vào các thành trì để ẩn trốn, nhưng tôi nghĩ rằng chắc ông không thể nào quên được khoảng thời gian ở vùng núi Chí Linh chứ? Khi ấy phần thì chúng ta bị bao vây, phần thì bị thám quân địch theo dõi, phần thì bị mấy thằng Ai Lao phản bội, những thằng mới hôm qua vẫn còn là đồng minh chúng ta. Ông không quên chứ? Chúng ta đã phải giết voi để nuôi quân, cả hàng chục ngày phải ăn rau cỏ để sống? Mắt chúng ta mờ đi vì đói, phụ nữ chúng ta không còn sữa cho con bú, chúng ta phải run lên vì sốt vì rét, còn quân thù thì quấy nhiễu dân cư, tàn sát gia đình, cướp phá đất đai, xâm phạm mồ mả, phơi bày hài cốt tổ tiên chúng ta! Đối với lũ quân Ngô khốn nạn ấy, cần gì phải thương phải xót! ôi mười năm khủng khiếp mới có được ngày hôm nay! Ngày trước quân ta thiếu thốn mọi bề, ngày nay nhờ tịch thu chiến lợi phẩm của quân thù, chúng ta đã tích trữ được lương thực. Ngày trước quân ta phải trốn chui trốn lủi, ngày nay quân ta xuất đầu lộ diện tấn công quân thù để đánh cướp quân lương. Chúng ta dùng chính giáo mác khiên mộc của chúng để làm khí giới, dùng chính vàng bạc bọn chúng để trả lương cho quân ta. Thật đúng là "Gậy ông đập lưng ông".

Càng nói Lê Lợi càng bừng sôi lửa giận. Đoàn quân hiện đang có trước mắt ngài là đoàn quân đã được ngài dẫn đi từ chiến thắng này đến chiến thắng khác. Chính nó sẽ là phương tiện giúp ngài trả thù báo oán. Bạo lực sẽ phải trả bằng bạo lực! Lòng khát khao chinh phục khiến ngài run bắn lên, ngồi trên mình con tuấn mã, búi tóc ngài đựng đứng lên theo đỉnh gió núi đang thổi ào ào. Suýt chút nữa ngài đã hét lên tiếng thét vọng khắp các lũng đồi giống như dạo ngài đang xung trận...

Bên cạnh ngài, hình ảnh Nguyễn Trãi trông thật hoàn toàn trái ngược. Tia nhìn mang sắc lửa hoàng hôn tạo cho khuôn mặt chàng dáng vẻ trầm mặc của mặt nước hồ vào tiết trung thu. Tự toàn thân chàng, tuy mặt nào đó có chiều lãng tử, như toát ra một thứ quyền lực cao thâm của một triết nhân đã từ lâu biết dùng lý trí chế ngự xúc cảm. Chính chàng cũng đang chiêm ngắm doanh trại...

- Tâu Chúa thượng, tôi còn nhớ vào thời kỳ ở Chí Linh, ngài đã phải thâu đêm trằn trọc trong đơn độc, trời cao quả thật đã thử thách ngài hết sức gay go, nhưng giờ đây vinh quang đã tới lấp đi những tháng ngày khốn khổ đó. Tôi còn nhớ rõ chúng ta đã cố quên đi cái bụng đói để nghiền đi ngẫm lại chiến lược. Chẳng bao giờ chúng ta để cho suy giảm cái ý chí dùng chính nghĩa khuất phục sự man rợ. Trong khi tấc lòng mình sẽ đau khủng khiếp, chúng ta vẫn biết nghĩ đến đám dân lành đang là mồi ngon cho biết bao nỗi thống khổ. Tâu Chúa thượng! Hôm này đây, lòng tràn đầy hy vọng, dân chúng đang mong chờ ngài đuổi hết quân xâm lược, và một khi đem được chiến thắng trở về, ngài sẽ không quên những hy sinh họ đã đóng góp. Tại Nghệ An, ngài đã quy phục được nhân tâm khi ban hành lệnh cấm quân lính xâm phạm vào của cải nhân dân. Chính ngài đã biểu lộ được lòng nhân thứ của vị thống lĩnh khi bằng mọi cách ngài tránh cho nhân dân những nỗi thống khổ do chiến tranh gây ra... Còn về đám quân Tàu, thì theo thiển ý của thần, chúng ta cần phải tiêu diệt mọi dục vọng xâm lược của chúng, đồng thời chúng ta cần xây dựng nền tảng cho việc bang giao với anh bạn láng giềng hùng mạnh phương Bắc này. Các việc này còn quan trọng hơn là chỉ lo tàn sát sinh mạng chúng nó. Nhờ khéo phối hợp giữa thuật quân sự và thuật tâm chiến mà thiểu số đã chiến thắng đa số, sự yếu đuối đã khuất phục được sức mạnh bạo tàn.

Ánh mắt Lê Lợi tóe lên vẻ bí hiểm. Những cuộc tranh luận thế này rất bổ ích cho con người chinh chiến thường xuyên phải đương đầu với những vấn đề cụ thể. Càng tiếp xúc với Nguyễn Trãi, tầm nhìn của ngài ngày càng được mở rộng, và hiện tại đang mở rộng ra trước những viễn cảnh tương lai tươi sáng. Ngài còn nhớ rất rõ, cách đây nhiều năm, khi còn ẩn trú ở truông Khả Lam, trực giác về Nguyễn Trãi đã không đánh lừa ngài và rồi trong suốt cuộc chiến đấu gian khổ, con người ngoại hạng này với biệt tài về ngoại giao và có tầm nhìn chiến lược cao đã thực sự vô cùng quý báu cho ngài. Ngài ngầm nghĩ: Cần phải tận dụng con người này tối đa, rồi ngày mai lại sẽ tính sau. Dù vậy đứng trước vị nho sĩ này, ngài vẫn thường xuyên cảm thấy một sự bực tức ngấm ngầm nào đó xâm chiếm mình, sự bực tức khi đối diện với một lương tâm sống động khó lòng thoát khỏi sự chi phối của nó chính vì nó trong lúc mời gọi con người hướng thượng nhưng vẫn không hủy diệt những gì là nhân tính. Lê Lợi chợt hiểu ra tại sao tên sủng thần Lê Sát có biệt danh Sấu Thần rất đố kỵ với con người này, con người chẳng hề biết hạ mình, nịnh bợ ai hết.

Ngài đưa mắt thăm dò Nguyễn Trãi trong lúc chàng vẫn đắm mình trong suy tưởng.

Lững lờ giữa cụm mây màu tím sẫm, vừng ô từ từ khuất dần sau rặng núi. Phía dưới, toán quân gác đêm đang bắt đầu làm phận sự. Thế rồi chẳng bao lâu, hiệu chuông tắt lửa vang lên báo hiệu giờ đóng cửa doanh trại, Lê Lợi bảo: "Chúng ta trở về thôi".

Đồng nhịp vó ngựa phi, hai kỵ sĩ đổ dốc trở về. Đến gần doanh trại, họ nhận ra cô gái Thị Lộ đang dắt bé Nguyên Long ra đón. Cậu bé trạc độ ba tuổi. Với động tác nhanh nhẹn, con Rồng Lam Sơn bế cậu bé đặt lên yên ngựa đằng trước ngài và hỏi: "Trai cưng của ta có khỏe không nào?".

Cậu bé chẳng để ý đến việc đáp lời bởi vì cậu ta đang chêm chệ trên lưng ngựa đầy kiêu hãnh, một tay thì giật giật dây cương, tay kia thì khua khua đâm chém đám quân thù tưởng tượng bằng thanh kiếm vô hình. Nhìn vào cậu bé, Lê Lợi tưởng chừng mình đang thấy lại những dáng vẻ yêu kiều của Ngọc Trân, vị hôn thê đã dũng cảm bỏ mình hai năm về trước. Trên thi hài của nàng, ngài đã long trọng tuyên thệ dành ngôi hoàng tử kế vị cho Nguyên Long, giọt máu yêu dấu của hai người. Thế mà cậu bé nào hay biết gì về thân phận cao cả của mình, kìa cậu ta đang đóng vai chú lính anh hùng với chủ ý làm cho Thị Lộ phải khâm phục.

Về phần Thị Lộ, trong chiếc áo dài đơn giản màu củ nâu, lúc này trông nàng còn rực rỡ hơn cả giả sử như nàng được phủ đầy người nhung lụa, đầu đính cài kim cương. Hoàng hôn tím viền lên mái tóc nhung huyền còn đậm đà hơn màu son của nàng, đôi mi dài đang hướng về vị nho sĩ trông mới đượm nồng làm sao! Gương mặt run run tựa nhành hoa yểu điệu đang tố cáo sự chờ đợi và bối rối của nàng. Nhưng chiều hôm ấy, chắc gì Nguyễn Trãi đã lưu ý đến sự hiện diện của nàng?

Bỗng dưng Nguyên Long dừng chơi. Tựa như tia nhìn của một người lớn, cậu bé đưa mắt theo dõi ánh nhìn của Thị Lộ rồi cậu nhìn sang Nguyễn Trãi cái nhìn đầy ngờ vực, sau đó cậu lại quay nhìn về Thị Lộ lần nữa như muốn chiếm hữu, quy phục nàng.

Sự kiện này không thoát khỏi cái nhìn tinh tế của chàng nho sĩ. Dù chẳng thể tự giải thích cho mình, chàng bỗng cảm thấy một cơn khó chịu xâm chiếm, tựa như một điềm gở nhanh như chớp, sắc như lưỡi gươm, tiên báo sợi dây oan khốc đã trói buộc số phận ba người lại với nhau.

Chàng xao xuyến nhủ thầm: "Một cậu bé và một cô bé thật lạ lùng". Lúc ấy chàng mới lưu tâm nhìn nàng, và nhan sắc óng ả của nàng mới lọt vào mắt chàng.

Về phần Nguyên Long cũng như mọi đứa trẻ tinh nghịch khác, cậu bỏ mặc hai người, quay về phía cha cậu đùa giỡn.

- Bố ơi! Một con rắn kìa! - Vừa nói cậu vừa chỉ ngón tay về phía trước.

- Ở đâu vậy con? - Cha cậu hỏi, tay vội tra vào thanh kiếm.

Nguyên Long chỉ vào đỉnh núi nơi mặt trời vừa bỏ lại đằng sau dải mây màu huyết dụ, mà đáp.

- Đằng kia kìa!

- Con trai cưng ơi, cụm mây ấy báo hiệu sự nổi dậy đó! Chính nó tiên báo sự chiến thắng của chúng ta phải không ngài Quân sư?

Và vừa bật cười giòn giã, Lê Lợi cùng con trai bước vào doanh trại.

—★—

Vào tháng Tám năm Bính Ngọ này (1426), theo sự thúc giục của tướng Trần Nguyên Hãn, Lê Lợi đã phát động cuộc nổi dậy tấn công vùng châu thổ sông Hồng và thủ đô.

Trần Nguyên Hãn nói:

- Tấn công vào các đô thị, quân ta sẽ có nguy cơ bị kiệt sức, chi bằng tốt hơn ta nên dồn sức lực để tấn công vào đám viện binh từ Trung Quốc đến. Một khi viện binh bị tiêu diệt, lập tức các đô thị sẽ đầu hàng. Như thế là "Nhất tiễn hạ song điểu.

- Ngài cố vấn tài ba, ngài nghĩ sao? - Lê Lợi hỏi.

Nguyễn Trãi tán thành đề xuất của người anh em họ:

- Tâu Chúa thượng, theo thiển ý của tôi, nghệ thuật quân sự thể hiện nơi cách dụng thời gian và hoàn cảnh. Một khi ta biết thuận thời và biết nắm bắt hoàn cảnh thuận lợi thì một lực lượng nhỏ bé sẽ trở thành hùng mạnh hơn lên. Thời cơ hiện nay rất thuận lợi. Ngay lúc này đây, nhờ tên thám báo gài vào cấm thành, chúng ta được biết viện binh mà tân hoàng đế nhà Minh hứa gửi sang cho tổng binh Trần Trí từ tháng tư năm nay đã chậm đến, thế tại sao chúng ta lại không cấp tốc tiến công về những tỉnh phía Bắc tạo điều kiện để đánh bại quân tiếp viện, và dựng lên những trận đánh có tầm chiến lược cao, như thế sẽ khiến cho chiến tranh có chiều kích lan rộng khắp cả nước?

Lê Lợi hỏi:

- Theo ước tính của chúng ta, đám quân hoàng đế nhà Minh cần phải gửi đến cứu viện cho Trần Trí chắc chắn sẽ rất hùng hậu, gồm khoảng độ 50 ngàn người. Liệu quân ta có chuẩn bị đủ để nghênh chiến chưa?

Trần Nguyên Hãn trả lời:

- Tâu Chúa thượng, theo lời hai vị chỉ huy Mộng Tuân và Lý Tự Tân với trách nhiệm tuyển quân thì chúng ta đã chuẩn bị đủ. Mỗi ngày còn có hàng trăm người đến xin đăng ký nhập ngũ.

Sau một hồi suy nghĩ, vầng trán con rồng Lam Sơn vụt sáng lên, ngài đề ra quyết lệnh: Ba đạo quân tiến chiếm miền Bắc sẽ phải nhắm vào những mục tiêu chính xác như sau:

- Đạo quân thứ nhất: gồm ba ngàn người và một thớt voi trận do tướng Phạm Văn Xảo biệt danh Kiếm Ngọt chỉ huy, có Mộng Tuân biệt danh Trời Con trợ tá, sẽ trực chỉ về hướng hợp lưu ba con sông nhằm mục đích canh giữ con đường xâm lăng cổ truyền từ Vân Nam, đồng thời gây sức ép mạnh mẽ lên phần phía Tây thủ đô.

- Đạo quân thứ hai gồm bốn ngàn người và hai thớt voi trận do tướng bộ binh Lưu Nhân Chú biệt danh Diêm Vương và Lê Thụ biệt danh Tận Thoát chỉ huy sẽ chia thành hai nhóm: Một nhóm có nhiệm vụ chặn đứng tất cả đường di chuyển của địch quân từ Nghệ An về thủ đô, còn nhóm kia có nhiệm vụ chặn đứng đám xâm lăng quân Minh từ Quảng Tây xuống.

- Sau hết, đạo quân thứ ba là đạo quân chủ lực gồm hai ngàn chiến binh tinh nhuệ do tướng Trần Nguyên Hãn biệt danh Hổ Trầm chỉ huy với sự trợ tá của các chính ủy Đinh Liệt biệt danh Xác Gấm và Lê Ngân biệt danh Bất Đắc Kỳ Tử. Đạo quân này sẽ tiến chiếm phần phía Nam thủ đô và kết hợp với đạo quân thứ nhất kiềm chặt Đông Quan chờ cơ hội hành động...

Thế là cùng đoàn cờ bay phấp phới, ba đạo quân lên đường tiến về châu thổ sông Hồng trong nhịp bước khải hoàn. Trên đường tiến quân, họ tuân thủ nghiêm ngặt lệnh cấm quân lính xâm phạm tài sản của nhân dân.

Tất cả những người trước kia từng bí mật giúp đỡ cuộc nổi dậy nay tiến ra chúc mừng đoàn quân: Chủ làng có, thầy đồ có, chăn trâu có, chủ quán có, bán hàng rong có, ôi thôi là vô số hạng người khác nữa đếm không hết được! Chủ quán Vân Sơn chiêu đãi binh lính một chầu rượu, vị sư cụ Pháp Vân trước đây đã từng cho phép hai đệ tử Từ Chi và Phi Hùng theo chân Lê Lợi ở Chí Linh nay cũng ra tiễn đưa đoàn quân một dặm đường, trong khi đó cô lái đò Chiêm đang ra đứng ngắm đoàn quân của bóng đêm mà trước kia, đêm qua đêm, chính mình đã đưa đò cho họ sang bên kia sông (ý nói sông Đáy) và cô cũng đâu ngờ rằng chính nhờ hành vi cao đẹp ấy một ngày kia cô xứng đáng được phong làm vị Hộ Thần cho ngôi làng Đông Mai của mình.

Trên bước đường tiến quân, khắp nơi mọi đám dân từ lâu bị áp bức nay cũng đứng lên ủng hộ và tiếp tế lương thực cho họ. Trước ngọn lửa hoan lạc pha lẫn hận thù này, đám quân Minh run sợ chui rạp sâu vào trong thành quách chờ viện binh đến cứu, còn các quan chức địa phương, những đồng minh của chúng mới ngày hôm qua đây thôi, thì chúng bỏ mặc cho dân chúng trừng phạt. Những kẻ hợp tác nồng nhiệt với quân thù ấy, những kẻ đã tàn xử với dân chúng còn tệ hơn cả quân thù nữa, giờ đây mặt mày đang xám ngoét vì kinh hồn, miệng mồm câm thít vì khiếp vía. Dễ gì dân chúng xót thương bọn ấy? Bao nhiêu năm qua, chúng đã gây biết bao tủi nhục lầm than, sách nhiêu, tra tấn, cướp bóc cho nhân dân! Mồ hôi và máu nhân dân đã đổ ra bởi chúng, cho chúng và vì chúng! Giờ đây chúng phải trả giá "một lần cho tất cả". Mới hôm qua đây thôi, những nông dân khốn khổ này còn phải khom lưng, hạ mình hứng chịu bao trận roi mây của chúng, giờ đây họ đang khạc đờm nhổ bọt vào mặt chúng và thét lên: "Đồ chó ghẻ phản bội hôi thối!" Nỗi nhục nhằn hôm qua như sống lại sôi sục trào lên. Và trong cơn say sưa với quyền bính đến bất ngờ này, đám nông dân gần như hóa điên lên. Họ như bị quấn chặt vào những móc sắt của lòng căm phẫn hận thù. Trong mọi trường hợp, cái chết của bọn phản quốc ấy hầu hết đều đích đáng nhưng không khỏi mang tính cách tàn khốc vô cùng.

Tại Vân Sơn, các quan chức bị rút móng, bị chọc thủng mắt, bị lột da làm giày. Chúng bị giết ngay trên phố chợ trời đây là nơi từng chứng kiến biết bao binh sĩ của Lê Lợi bị bêu đầu. Sau đó dân làng tịch thu tài sản ruộng đất của chúng.

Tại Giàn Khăn, một quan chức địa phương hy vọng dùng phương cách giả chết để tránh. Nhưng ngay khi phát hiện ra mưu kế này, dân làng đã dùng dây leo cột chặt nắp quan tài rồi ném xuống nước y hệt quăng một cái bè xuống ao hồ công cộng vậy. Thế là dưới đám bèo đám sen, chiếc quan tài với ông chủ nó đã chìm nghỉm mất tăm.

Tại Thương Hồng, trong cơn nổi điên, một số phụ nữ đã dùng máu kinh nguyệt bôi trét vào mặt các tên phản bội. Đây là hình thức lăng nhục cực kỳ ghê tởm. Tiếp đó, người ta chặt tay chặt chân, cắt tai cắt mũi chúng rồi cột chúng vào những cái bè. Sau khi đã nhét vào những cái mồm dơ bẩn xấu xa ấy đầy nhựa thông, người ta thả bọn phản bội ấy xuống dòng sông Đáy đang chảy xiết. Những thửa đất công mà chúng chiếm đoạt từ nhiều năm trước nay được các nông dân chia nhau.

Trên đường tiến về phương Bắc, từ làng này sang xã khác, Trần Nguyên Hãn, Phạm Văn Xảo và các phó tướng của họ, xác nhận được những biến động đang xảy ra qua nét mặt tràn đầy hy vọng của họ và thẩm định được tầm vóc của những biến động ấy qua những trao đổi như sau:

- Nhờ ơn Lê Lợi, giờ đây tôi có được năm mẫu ruộng để cày, con cái tôi không còn chết đói nữa

Người thì hét:

- Quân lính chúng ta đang đến kìa! Đất nước chúng ta sẽ được giải phóng, ruộng vườn ta sẽ thuộc về ta!

Còn các vị cao niên nhất ngậm ngùi nói:

- Ngày hôm nay chúng ta tìm lại được phẩm giá của mình, tre trúc sẽ lại đâm chồi nẩy mộc, trâu bò sẽ được sống và chúng ta sẽ thấy lại mảnh đất cha ông chúng ta trong cảnh thái bình. - Họ còn nói thêm: - Sau khi lấy lại các mảnh đất thật màu mỡ của quân Minh và của những tên phản bội, chúng ta sẽ cày cấy chúng theo nguyên tắc từ xa xưa tức là "Người cày có ruộng". Minh chủ Lê Lợi của chúng ta từng khai khẩn mảnh đất của riêng ngài, chắc chắn ngài cũng chấp nhận nguyên tắc này.

Rồi từ làng này sang xã nọ, Trần Nguyên Hãn, Phạm Văn Xảo và các phó tướng của họ, không ngừng nhắc nhở họ rằng:

- Các bạn hãy ráng bảo vệ những vùng đất vừa lấy lại được từ tay quân thù và các tên phản bội, bởi vì nay mai quân thù có thể trở lại đây. Các bạn hãy tổ chức thành các nhóm dân quân, thâu nhập lại tất cả mọi loại đồ vật dùng để chặt, để cắt hoặc để đâm. Nếu bọn Tàu có đến đây, chúng ta sẽ không cho phép chúng nó tìm ra được một hột gạo để nuôi thân. Nếu cần các bạn hãy thiêu hủy cả mùa màng đi. Hãy tấn công vào đoàn xe tiếp lương thực của bọn chúng. Hễ bụng chúng càng rỗng, người chúng càng yếu và càng dễ bị đánh gục thì chúng càng chống cự tồi đi. Các bạn không được phép quên khẩu lệnh "Chúng ta hãy giết giặc Tàu".

Rồi họ nói thêm:

- Hỡi các dân làng, chúng ta đang chiến đấu dưới ngọn cờ nhân nghĩa. Hãy nhớ rằng, một phần đất đai đã lấy lại được sẽ phải được phân phối cho các nông dân đã dấn thân bảo vệ tổ quốc vĩ đại của chúng ta. Một mai khi chiến cuộc tàn, Minh chủ Lê Lợi của chúng ta đích thân lo việc cấp phát đất đai cho họ và gia đình họ.

Cả hàng trăm người trong số đó nhiều người còn rất trẻ đã từ giã làng mạc để gia nhập đoàn quân. Áo quần của họ thường chỉ là những miếng giẻ rách. Một số chỉ trang bị đơn giản một ngọn tre hay một cây thiết lĩnh. Đây là những dụng cụ dùng để đập lúa. Số khác chỉ đem theo mình cái câu liêm, tức cái móc sắt cán dài gắn theo cái lưỡi liềm thường được sử dụng trong các cuộc cứu hỏa. Mỗi ngày đều có thêm người gia nhập vào quân ngũ.

Thế là với ngần ấy số người gia nhập thêm, đạo quân đã đạt được con số trên 15 ngàn và hiện đang tiến vào châu thổ sông Hồng. Sau khi thực hành các nghi thức lễ bái, họ đã phân nhánh ra theo các hiệu lệnh như sau:

- Đạo quân thứ nhất nhắm mục tiêu chiếm lĩnh hợp lưu ba con sông và vô hiệu hóa viện binh từ Vân Nam đến.

- Đạo quân thứ hai có nhiệm vụ ngăn chặn quân Thiên Triều từ Quảng Tây đến cũng như toán quân địch di chuyển từ Nghệ An tiến về Đông Quan.

- Còn đạo quân thứ ba sẽ tập trung sức mạnh vào phía Nam thủ đô.

Tất cả các đạo quân đều phải nghiêm chỉnh thi hành huấn lệnh sau: ngoại trừ của cải, tài sản của quân Minh và bè lũ phản bội, quân lính tuyệt đối không xâm phạm tài sản nhân dân đồng thời phải bảo vệ mùa màng sắp được gặt hái.

—★—

Trời đã về đêm. Danh tướng Phạm Văn Xảo biệt danh Kiếm Ngọc đang rong ruổi tiến dọc theo bờ sông Thái Bình tiến về ngã ba sông (hợp lưu với Sông Thương và Lục Nam) trên lưng chủ ngựa Mường, món quà do thủ lĩnh Hiểm, người sơn cước, biệt danh Chồn Ngoài Hang đã tặng chàng. Trên đầu chàng vầng trăng đang dõi theo bước chân ngựa đi. Phía trước mặt chàng, đoàn phu khuân vác thỉnh thoảng khua chàng bó đuốc chạm vào các bụi rậm để gạt tàn. Tia sáng tóe ra rọi chiếu khắp cánh đồng. Xoay mình trên yên ngựa, chàng nhận ra những hàng quân tiên phong của mình đang di chuyển dưới ánh lửa lập loè. Các chiến binh bước đi êm ru dịu dàng và lặng lẽ như những chú mèo. Chàng chia sẻ niềm hưng phấn trước khi xông vào trận mạc với các chiến binh anh dũng này. Trước kia thân phụ chàng đã từng là một chiến binh. Vào năm Đinh Hợi 1407, ông ấy đã gây dựng lên một đội quân nông dân nhằm mục đích phò trợ Vua Trần Ngỗi và rồi đã anh dũng phơi thây ngoài trận mạc. (Theo niềm tin bình dân thì người trai đức hạnh thường chết ở trận mạc còn kẻ hung ác thì chết ở nhà mình).

Cũng thế, chàng chẳng mong chờ một số phận khác hơn. Giác quan chàng cực kỳ tỉnh táo trong lúc chàng phi ngựa: Đây là một phản xạ được hình thành nhờ những năm hoạt động bí mật. Dưới ánh đuốc thì mỗi bóng người tựa như một địch quân, một cánh rừng giống hệt một đoàn quân. Chàng phóng tầm nhìn về Mộng Tuân biệt danh Trời Con đang thiu thiu ngủ chập chờn trên lưng ngựa, rồi lại tiếp tục theo đuổi dòng suy nghĩ của mình. Quân Tàu chẳng thể tìm ra được lấy một người để cậy dựa ở các tỉnh miền Bắc vừa được giải phóng này. Dân chúng Đại Việt hoàn toàn chống đối chúng. Chúng cảm thấy điều đó nên càng rút chặt vào thành quách của mình. Nếu như viện binh không đến, chúng sẽ phải đâm đầu vào những thảm họa khủng khiếp nhất. Tâm hồn Phạm Văn Xảo tràn đầy hoan lạc khi chàng dự đoán điều này. Ôi! Chàng thèm được đấm đá thẳng tay vào cái bọn viện binh từ Vân Nam xuống biết bao để chặn đứng chúng lại!

Kể từ lúc còn chiến đấu như một chú bé trong băng nhóm của Lê Lợi đến nay, hình như chàng chỉ sống để chờ đợi trận chiến này. Chàng như thấy lại hình ảnh Chủ soái tê Lợi lúc bấy giờ đang cầm đầu đám chăn trâu. Ngay từ thuở ấy, uy tín của Lê Lợi đã rền vang đến nỗi các đối thủ cũng cảm thấy kiêu hãnh nếu được gia nhập băng nhóm ngài chứ không hy vọng gì chiến thắng được ngài. Thực tế, ngoại trừ Trần Nguyên Hãn ra thì Lê Lợi thực sự là người chế ngự được đối thủ mình nhờ vào cái đặc ân làm cho ngài như có thần tính đoán ra được nhược điểm tinh tế nhất của đối thủ, sau đó chỉ cần ngài ra tay một cái lập tức các sinh mạng bị kết liễu ngay! Ngài đã nhận được sự suy phục tận trung của binh sĩ mình. Trường hợp tận trung báo Chúa của Lê Lai biệt danh Con Vượn cho thấy rõ điều này. Ngài sinh ra để làm chủ kẻ khác. Chưa ai từng gây được ảnh hưởng trên ngài trừ Nguyễn Trãi... Phạm Văn Xảo thở dài... Chàng khâm phục nho sĩ ấy nhưng không cảm thấy mến yêu. Chàng thầm nghĩ: "Quyền lực của quân sư Ức Trai thật đáng sợ!". Nó không được đo lường bằng tài cung kiếm. Nó hoàn toàn phát xuất từ khả năng thâm hiểu, phân tích dự đoán, và tập trung tuyệt vời vào các mục tiêu cần đạt được. Thêm vào đó, vị quân sư còn lại có những quan điểm hết sức độc đáo, một lý tưởng về tự do hết sức tân kỳ. Tất cả đặc điểm ấy khiến con người Nguyễn Trãi trở thành một lãng tử không dính bén vào bất cứ cái gì, lại còn có phần nào cao ngạo nữa! Quả thật đây chẳng phải là một con người đơn giản dưới gầm trời!

Dòng tư tưởng của Mộng Tuân đang ruổi ngựa bên cạnh Phạm Văn Xảo, theo một dòng tư duy ít nghiêm chỉnh hơn lại trùng hợp với suy tư của Phạm Văn Xảo. Rạp mình trên lưng ngựa, Mộng Tuân mơ màng nhìn ánh đuốc mà nhớ da diết những buổi lễ hội ngày xưa. Không hiểu tại sao mà luôn luôn những cô gái mà chàng thèm muốn chẳng hạn như Tiểu Mai, Thị Trân ngày trước hoặc Thị Lộ ngày nay, đều vẫn chẳng ngó ngàng gì đến chàng! Họ chỉ thầm yêu trộm nhớ Nguyễn Trãi, dù chàng nho sĩ ấy chẳng mấy chú ý đến họ. Bao tháng năm gian khổ nằm gai nếm mật ở vùng bưng biền cũng vẫn không thể giết chết nổi bản chất "con ông cháu cha" nơi Mộng Tuân. Thực xứng với biệt danh "Trời Con" người ta gán cho chàng trai này. Những thử thách gian nan chàng đã chia sẻ cùng Nguyễn Trãi trong cuộc chiến đã đem hai người xích lại gần nhau hơn, hơn là những ngày cùng nhau thi tài trên đường khoa cử thuở trước. Tuy nhiên, đứng trước chàng nho sĩ lúc nào cũng biết ý thức về bổn phận và sống hết sức nghiêm túc khắc kỷ này, Mộng Tuân vốn là một con người đầy thị dục khát khao được thỏa mãn vẫn còn tiếp tục cảm thấy khó chịu, nhất là thái độ thờ ơ của Nguyễn Trãi đối với cô gái Thị Lộ làm chàng hậm hực hơn hết. Trong suốt những năm tháng gian khổ này, Mộng Tuân nhận thấy Thị Lộ đã biến chuyển từ một cô bé ốm yếu trở thành một thiên thần mỹ lệ. Chính là nhờ lòng mộ mến nồng nàn đối với Nguyễn Trãi mà ngày qua ngày nàng đã trở nên càng ngày càng diễm lệ hơn, thông thái hơn để rồi cuối cùng nàng trở nên tuyệt hảo như một bậc anh thư trong huyền thoại, và trở thành cái biểu tượng nồng nàn, sáng chói cho cuộc chiến đấu chung vì chính nghĩa của họ. Lãnh nhiệm vụ tiếp lương, lắm phen nàng đã dấn thân vào những nơi gian nguy lớn lao, nhất là từ ngày vị hôn thê của Lê Lợi hy sinh, thì chính nàng đã bao lần hoàn thành nhiệm vụ tiếp lương ngay trước mũi đám Tàu. Ôi! Nguyễn Trãi có biết điều ấy không nhỉ? Hay đối với ông ta, đó cũng chỉ là một trong vô số hành vi anh hùng đã giúp họ giải phóng vùng châu thổ sông Hồng? Mộng Tuân tự nhủ thầm: "Con người nho sĩ này thực là hết chịu nổi!". Chàng hổ thẹn vì đã không hiểu được con người ấy, và cảm thấy rằng con người ấy quá cao vời nên không ai có thế hiểu được y. Người anh em đồng khoa ấy có phải là một triết nhân đang dấn thân vào hoạt động hay là mẫu người hành động đã đạt tới được minh triết?

Và như thế, những chàng chiến binh rong ruổi tiến vào trận đánh quyết định. Đêm nay, trước giờ lâm trận, mỗi người tự ngẫm nghĩ về số mệnh của mình. Tất cả đều tự cho phép mình những phút giây tạm nghỉ sau cùng này để nhìn về quá khứ bè bạn và tình yêu như hướng về một chỗ dựa.

Còn phần ngài thống tướng Trần Nguyên Hãn, biệt danh Hổ Trầm, đang dẫn đầu hai ngàn lính tiến về châu thổ sông Hồng, ông đang mơ màng gì vậy? Nẻo đường kỷ niệm nào đang tháp tùng vó ngựa miền sơn cước của ông đây?

Không tí lơi lỏng nhiệm vụ chỉ huy của mình, ông bỗng rùng mình hồi tưởng lại khoảng thời gian về trước, khi mà ông thực sự lo sợ chẳng làm nên được trò trống gì và không biết sẽ có lãnh tụ nào xuất hiện để cứu nước Đại Việt không. Thế rồi Lê Lợi đã xuất hiện ở bầu trời phương Nam. Nếu Thượng Đế đã không an bài, quy tụ tất cả mọi ngọn lửa nhỏ bé lập loè rải rác đó đây để gây nên một luồng lửa lớn và quy phục tất cả nhân tài về cho Lê Lợi thì rất có thể ngài chỉ là thủ lĩnh của một băng nhóm nổi loạn vô danh thôi. Với tâm hồn khiêm tốn, Trần Nguyên Hãn chỉ dám suy nghĩ về Nguyễn Trãi, người anh em họ của mình. Từ ngày chung sống ở ruộng Khả Lam đến nay, Lê Lợi có bao giờ rời xa anh ấy lấy một ngày? Đôi mắt ông mơ màng nhìn về vùng Châu Thổ mênh mông sẫm tối. Vầng trăng mờ nhạt đang le lói trên ruộng đồng tháng 8. Không có "Chiến Lược Bình Ngô" của Nguyễn Trãi, liệu Lê Lợi có tiến hành được một cuộc chiến thế này không? Trước đây Trần Nguyên Hãn đã từng đánh giá thấp chiến lược này. Ông cho rằng đó chỉ là những tư tưởng của một chàng nho sĩ bức xúc hành động, đó chỉ là những xây đắp của một anh chàng mơ mộng, ai đời lại nghĩ đến việc kết hợp việc thu phục nhân tâm với hoạt động quân sự và ngoại giao. Ôi! Đây chỉ là một lý thuyết cao cả thật đấy nhưng không thực tế! Quả vậy, trước đây Hãn đã không chấp nhận được điều mà Lê Lợi, con người nông dân ấy lại thấu hiểu ngay. Sức mạnh thần kỳ nằm ở nơi nhân dân. Chỉ cần đem lại cho họ cuộc chiến tranh giải phóng là hàng trăm ngàn nam nhân, phụ nữ này sẽ trở thành một đòn bẩy diệu kỳ làm lệch ngay cán cân lực lượng! Nguyễn Trãi lặp lại không mệt mỏi: "Các nông dân vùng Châu Thổ, cũng như các cư dân vùng đồi núi này chính là những chiến sĩ không mang sắc phục trong một cuộc chiến toàn diện, cuộc chiến của chính họ và vì sự sống còn của họ". Lê Lợi chỉ đạt tới chiến thắng với sự cộng tác giữa ngài và Nguyễn Trãi. Trần Nguyên Hãn quên mất những năm tháng Nguyễn Trãi đã trải qua ở ngôi làng Nhị Khê. Ông ngạc nhiên tự hỏi: "Làm sao cậu bé con trai vị Đại Thần này có thể thấu hiểu nhân dân đến thế nhỉ?

Đáp lại những suy tư của ông, từ phía xa xa vọng lại tiếng trống làng báo hiệu canh ba (từ 23 -1 giờ). Hiện giờ, biết bao nhiêu dân làng thức giấc, trái tim phập phồng niềm hy vọng, nhìn bóng dáng đoàn quân đang âm thầm lặng lẽ hối hả bước ra chiến trường. Câu tự vấn trên kia khiến ông giật mình. Làm sao không nhận thấy tầm ảnh hưởng lớn lao của Nguyễn Trãi trong sự kiện này? Chính vì luôn luôn biết lo lắng cho nhân dân mà vị nho sĩ kia đã đem lại cho chiến tranh một tầm vóc nhân văn. Trần Nguyên Hãn đã từng thấy bao lần vì muốn bảo đảm cho cái sứ mạng cao cả của mình, Nguyễn Trãi đã dám chống đối Lê Lợi. Con Rồng đã phó mặc cho Nguyễn Trãi chiến đấu đơn độc trong cuộc chiến tranh chính trị - ngoại giao với quân thù. Ôi thật là hăng say, thật là đầy nhiệt khí, thật là hiệu quả khi vị quân sư dùng ngòi bút để thuyết phục bọn tướng Tàu về sự vô ích của một cuộc chiến đã thấy vô vọng từ đầu, đồng thời kêu mời họ hạ khí giới!! Những thị thành được thu hồi, những người hợp tác với địch trước đây nay trở về chính nghĩa. Biết bao sinh mạng đã được bảo toàn để đến ngày nay lại được sử dụng tung vào cuộc tiên công cuối cùng! Lê Sát cùng cái bè đảng thường hay châm biếm của hắn đã buộc phải câm miệng. Sự thán phục và cuộc chung lưng chiến đấu đã làm cho Hãn và vị nho sĩ ương ngạnh ấy xích lại gần nhau mật thiết còn hơn là vì hai người vốn là chung dòng máu. Trong niềm quý mến ấy, ông khắc khoải lo âu về mối liên kết giữa hai nhân vật Nguyễn Trãi và Lê Lợi được tạo nên một cách có phần nào miễn cưỡng do sự thúc bách và sức ép của tình thế hiện nay, bởi vì hai người này bản chất thật tương phản với nhau. Nguyễn Trãi đã khắc phục được sự dị ứng thuở ban đầu, còn Lê Lợi thì đã chấp nhận được ở nơi vị nho sĩ cái "con người chuyên môn lên lớp thiên tài". Và chỉ thế đến bao giờ còn cần thiết, nhưng rồi về sau thì sao? về sau này, Trần Nguyên Hãn nghĩ ngợi, ngay chính mình đây, liệu mình có sẽ giữ được sự sủng ái của con rồng Lam Sơn không? Ông vội vã xua đuổi ngay ý nghĩ hắc ám này và tập trung suy tính những kế hoạch cho trận chiến sắp tới...

Trong khi đó, chàng Đinh Liệt tận tâm đang len lén nhìn ngay khuôn mặt vị chủ tướng và thầm đoán về những điều mà người đang suy nghĩ. Chàng thanh niên hào hoa 32 tuổi xuân này có làn da mịn màng màu sặc sỡ được mệnh danh là Thân Gấm, cũng chẳng kém phần tinh tế. Chàng lấy làm ngại ngùng cho Trần Nguyên Hãn bởi vì danh tiếng ông ta đã khiến cho chính Lê Lợi cũng bắt đầu có chút tị hiềm. Riêng về phía dân chúng thì vì phải sống dưới ách thống trị Tàu nên đã dễ quên đi sự suy thoái của các vị Vua đời Trần cuối cùng. Họ chỉ nhìn thấy nơi Trần Nguyên Hãn hình ảnh một thống soái tài ba đầy chiến công, một Hoàng thân hậu duệ của một triều đại đã từng ba lần đánh thắng quân Mông Cổ! Lòng đầy nhiệt thành, họ đã tùng phủ phục dưới chân Hãn. Làm sao Đinh Liệt quên được ánh mắt sắc như thép của Lê Lợi ném về phía Trần Nguyên Hãn! Một mai, khi đạt được chiến thắng rồi, liệu con Rồng Lam Sơn có để yên cho con Hổ Trầm này không? Nhiều phe nhóm đang được hình thành: nào là phe nhóm Lê Sát biệt danh Sấu Thần, rất nham hiểm và đố kỵ với quân sư tài ba Ức Trai và Trần Nguyên Hãn, nào là phe nhóm các bè bạn thời thơ ấu của Lê Lợi, nào là phe nhóm dân sơn cước cửa Hiểm, biệt danh Chồn Ngoài Hang. Ông tướng kỵ binh thượng du này không cho phép đám người Kinh quên rằng những người dân sơn cước đã cùng với họ từng chung một giàn, như bí như bầu. Hiện nay trong cuộc chiến, sự phân chia thành phe nhóm ấy được đẩy lùi xuống hàng thứ yếu. Nhưng một khi hòa bình tái lập, Đinh Liệt tin chắc sẽ xảy ra một cuộc tranh chấp không khoan nhượng để giành ảnh hưởng giữa các phe nhóm...

Trong khi đó, từ phía sau chàng, cái bụng háu ăn của Lê Ngân với biệt danh Bất Đắc Kỳ Tử phát ra những tiếng óc óc nghe thật phát tởm! Đinh Liệt ném về chàng ta một tia nhìn giận dữ. Chàng thầm nghĩ: "Ai có thể làm nguôi đi cái "bộ lòng" của thằng cha này nhỉ? Hắn xem việc giết chóc là một nghệ thuật điêu luyện cần phải trau dồi liên tục, vũ khí hắn khoái nhất là một con dao đã cưa bớt cán dài để đánh giáp lá cà161 cho man rợ hơn. Hắn không ngừng tinh luyện ngón nghề của mình. Khi hắn cầm con dao bằng hai tay xông tới, vung cao lên quay vù trên không rồi đâm, rồi thọc, rồi chém xuống, trông mới khiếp đảm làm sao! Như thế, hắn tạo ra một khoảng không xung quanh mình và thịt đổ xương rơi khủng khiếp. Tìm đâu cho ra được một chiến binh hăm hở tàn sát quân thù để giữ gìn mảnh đất quê cha đất tổ như hắn? Tại đèo Kình Lộng năm Tân Sửu (1421), trong số 1.000 thủ cấp quân Ngô của Trần Trí, thì hắn ta xơi tái cũng cả trăm. Anh chàng mập ú với đôi gò má nhô ra, cặp mắt tàn bạo, giết người như ăn uống, giết hả hê, giết điệu nghệ, giết tỉnh queo, tóm lại là giết người hết sức kỹ thuật. Hiện chàng giết người bẩm sinh này đang yên tĩnh tiêu hóa thức ăn theo nhịp tiếng óc óc thoát ra từ cái bụng của hắn.

Trong cùng thời gian này, sau khi tiến đến mạn Đông vùng châu thổ, đạo quân 6.000 chiến binh do Lưu Nhân Chú biệt danh Diêm Vương và Lê Thụ biệt danh Tận Thoát chỉ huy đã phân thành hai nhánh theo quân lệnh và tách rời nhau tiến tới về hai hướng. Lưu Nhân Chú, biệt danh Diêm Vương, lãnh nhiệm vụ chặn đứng đường xâm lăng từ Quảng Tây đến, đã đồng ý với Thống tướng Trần Nguyên Hãn trên nguyên tắc là tất cả sức mạnh hiện tại của họ tùy thuộc nơi sự hiểu biết toàn vẹn về địa thế, về sự linh động cực kỳ và về khả năng can thiệp vào hầu như toàn bộ bình nguyên vùng châu thổ. Sau nhiều mệt mỏi vì sự chống cự kéo dài, vì những cuộc tập kích, mai phục, giờ đây trong tất cả sự kiện, Nhân Chú chỉ còn ao ước một điều này thôi: Đó là cuộc tổng tiến công đè bẹp và tiêu diệt cho đến tận cùng toàn bộ lũ quân Tàu. Với nắm đấm bằng sắt, vị tướng chỉ huy bộ binh này sẽ dốc quyết trừng trị bọn quân Tàu theo đúng bản chất tội ác của chúng y hệt các Diêm Vương 10 tầng địa ngục, biến cuộc chiến thành một việc trả đòn riêng tư của mỗi một người. Lính của ông được luôn nhồi nhét vào đầu sứ điệp này: "Mỗi đầu lính Ngô bị chém là để dâng tế vong hồn thân nhân của các gia đình đã bị chúng sát hại". Thêm vào tiếng hô "Chúng ta hãy tàn sát giặc Tàu", ông ta còn dùng cử chỉ đưa lưỡi dao xoáy mạnh như thể đang rạch bụng quân thù với niềm vui thích dã man, dị thường. Chỉ một phương cách làm dịu đi lòng say máu báo thù của ông nội Diêm Vương này, đó là giết, và giết.

Ngược hẳn với Nhân Chú, trên đường dẫn quân dọc sông Hồng với mục đích ngăn chặn những toán quân Thiên Triều của Lý Ngân và Phương Chính từ Nghệ An kéo về hướng Thủ Đô, Lê Thụ với biệt danh Tận Thoát, đang đón chờ giờ xung trận với tâm hồn đầy thanh thản. Cũng như bất cứ chàng trai trung nghĩa nào khi Tổ quốc lâm nguy đang mời gọi, Lê Thụ ý thức được bổn phận của mình là phải đi chiến đấu cho đến trận thắng cuối cùng. Sau đó, chàng sẽ lui mình vào vùng rừng núi, tiếp thu lời phật dạy, tự giải thoát khỏi mọi dây ràng buộc với thế gian và như thế sẽ cứu rỗi được chính mình. Đây là con đường đẹp nhất, phù hợp với bản chất luận hướng về tuyệt đối của chàng. Trong đêm khuya thanh vắng này, chàng đang tự nghe tiếng của chính mình đang tụng niệm ba lần lời tâm nguyện. Gương mặt rõ nét một sự đói khát tâm linh, dáng điệu khắc khổ, thêm vào một lối sống nghiêm ngặt của chàng khiến mọi người đều kính phục. Người ta bảo rằng: Đây là một con người cứng cỏi nhưng công chính, một con người khổ hạnh đến mức cô gái đẹp tuyệt trần nhất cũng chẳng làm rung động được một sợi ria mép. Thế mà đã có một lần và chỉ lần đó thôi người ta thấy gương mặt thạch băng ấy bị rung động. Sự kiện này xảy ra cách đây ba năm khi vị hôn thê của Minh chủ Lê Lợi tức nàng Ngọc Trân hy sinh thân mình. Người phụ nữ xinh đẹp và anh dũng này đã hy sinh làm mồi cho sóng nước để làm nguôi cơn giận của Trời Già. Hành vi cao đẹp ấy đã khiến cho nhà khổ hạnh Lê Thụ phải tuôn ra hai giọt lệ to lớn mà chẳng thèm tìm cách che giấu. Một con người siêu thoát như thế mà đã phải khóc và nhất là khóc vì một phụ nữ? Ai mà không khỏi xúc động..?

…trừ Lức ra, cô nữ sát thủ lừng danh. Cô ta vốn hiểu rõ tâm can nhà khổ hạnh và theo chàng khắp nơi. Nàng dẫn đầu một phân đội thật đáng gờm. Khuôn mặt nhợt nhạt vô cảm của nàng sừng sững như cú đấm giữa trời đêm. Lúc đang lầm lũi bước tới... làm sao kể hết chiến công của nữ sát thủ này. Bọn lính thù đang canh gác bị cô cắt cổ từng đứa một, không tiếng động mà cũng chả tiếng kêu! Chính cô nàng đã rạch nát thân thể từ trên xuống dưới những thằng lính Ngô cầm đèn dọi đi trước và cả những tên lính xộc xệch lê bước ở cuối đoàn quân. Nàng hành động lặng lẽ và nhẹ nhàng hơn chú rắn, chớp nhoáng hơn cá diều hâu, hèn chi mà chẳng con mồi nào thoát khỏi tay nàng. Nàng cắt tiết, uống máu, nhai gan giặc thù với lòng vô cảm. Nào ai đã từng thấy tay nàng run, mắt nàng hãi bao giờ? Gò má nàng nhợt nhạt như người chết, đôi mắt sâu hoắm tựa vực thẳm, chiếc miệng lúc nhúc hàm răng đen thui giống hệt nấm mồ. Sánh với nàng, Lưu Nhân Chú biệt danh Diêm Vương và Lê Ngân biệt danh Bất Đắc Kỳ Tử vẫn là những sinh vật quái dị còn vướng chút ít lòng nhân đạo. Nàng làm cho chính Lê Lợi cũng phải rùng mình.

Và thế là bốn toán quân lần lượt tiến vào vị trí riêng của mình. Đối với các chủ tướng của họ, sự kiện quân số ít hơn quân Thiên Triều chẳng mấy quan trọng. Tất cả đều rực sôi lửa chiến đấu. Giống như những đạo quân nước Việt trước đây, từng chiến đấu đối mặt với đội quân Trung Hoa khổng lồ chuyên dùng lấy thịt đè người theo một binh pháp cổ điển, họ không được cho phép quân địch trương ra toàn vẹn sức mạnh hoặc cho chúng tấn công họ bằng những chiến thuật sở trường của chúng, ngược lại họ phải khéo léo chiến đấu với lũ quân thù đông đúc bằng sức lực nhỏ nhoi của mình, phải biết khéo léo dùng sự yếu kém của mình để đương đầu với bọn địch quân hùng mạnh. Họ thề quyết tiêu diệt quân xâm lược và gặt hái những chiến công vang dội trong một khoảng thời gian thật ngắn.

—★—

Họ nhất định sẽ giữ lời.

Vào ngày mùng ba tháng 9, sau một loạt các trận khiêu khích, Trần Nguyên Hãn đã dụ được những toán quân Minh của Trần Trí ra khỏi Đông Quan và tiêu diệt chúng rồi tiến chiếm Ninh Kiều làm bàn đạp đe dọa mạn Tây Nam thủ đô.

Ngày 20, trên dòng sông Tô Lịch, Mộng Tuân biệt danh Trời Con đã loại khỏi vòng chiến một đạo quân Tàu và đánh đuổi những tên sống sót đến tận chân tường Đông Quan.

Cùng ngày ấy, vị tướng hung hăng Phạm Văn Xảo biệt danh Kiếm Ngọc, đã chặn đứng đoàn quân viện binh từ Vân Nam đến và tiêu diệt hơn 1.000 tên trong một trận tập kích.

Trước chiến thắng vũ bão của quân nổi dậy, Tổng binh Tàu Trần Trí hoảng hốt gấp rút củng cố việc bảo vệ thủ đô. Hắn ra lệnh xây thêm công sự, đào thêm hào chắn, đồng thời gọi về những toán quân đóng ở mạn Nam. Những đoàn quân này đẩy lui được đạo quân nhỏ bé do Lê Thụ biệt danh Tận Thoát chỉ huy và kéo nhau vào thành Đông Quan như bị một dòng nước lũ cuốn hút.

Ngày thứ 31, sau 6 tháng chậm trễ, đoàn quân cứu viện khổng lồ do Thượng tướng Vương Thông chỉ huy gồm 16.000 bộ và kỵ binh, 4.000 xạ binh cộng thêm ba ngàn người chia theo từng nhóm đã tràn xuống từ Quảng Tây, chọc thủng xuyên qua tốp quân Việt quá ít ỏi của Lưu Nhân Chú biệt danh Diêm Vương. Ông này mặt xám đen lại vì tức giận. Sau đó, chúng vượt qua đèo Phá Lũy (Cửa Nam Quan) và Lạng Sơn, rồi như một cơn triều dâng, ào ào tiến vào thủ đô.

Ngay sau khi vào trong thành, Vương Thông lập tức thảo ra chiến lược tổng phản công. Chiến lược này thật đơn giản như sau: Hắn chỉ để lại một lực lượng tối thiểu để phòng thủ Đông Quan và trải ra số lớn đạo quân khoảng gần 100 ngàn lính với mục đích quét sạch đám quân đang vây thủ đô. Sau đó hắn sẽ tiến vào Thanh Hóa và Nghệ An tiêu diệt đại quân của Lê Lợi. Để đến được đó, hắn phải mượn con đường rừng núi (con đường giao thông có tầm chiến lược quan trọng đã được sử dụng ngay từ thời nhà Lý và nhà Trần) nối liền thủ đô với Thanh Hóa ngang qua Chúc Sơn và Tốt Động. Nhưng trước đó hắn phải đánh chiếm được Ninh Kiều, cửa ngõ then chốt và cũng là mục tiêu đầu tiên. Tin tưởng vào tài thao lược của mình đồng thời ỷ vào sự trội vượt trong tương quan lực lượng, Vương Thông muốn khởi sự hết sức mau lẹ.

Năm ngày sau, vào mùng 5 tháng 10 năm Bính Ngọ (1426), sau khi duyệt qua từng binh đoàn, từng đơn vị, Vương Thông phát lệnh tổng phản công.

Cảnh tượng đoàn quân dũng mãnh hàng ngũ chỉnh tề rầm rộ kéo đi trông thật là hùng tráng! Doanh trại chúng kéo dài trên ngàn vạn dặm, nào cờ, nào quạt phủ rợp ruộng đồng, gươm gươm giáo giáo chọc thẳng lên trời cao, lấp loáng trùng trùng điệp điệp.

Trong khi ấy tại Ninh Kiều, sau khi được thám quân báo cho tin, các tướng Việt Trần Nguyên Hãn biệt danh Hổ Trầm và Phạm Văn Xảo biệt danh Kiếm Ngọc đã nhận ra ngay ý đồ của Vương Thông. Họ chờ đợi thời cơ thuận tiện để chống trả lại cuộc tiến công của giặc Tàu. Nếu như Lê Lợi và Nguyễn Trãi đã quyết định để cho di chuyển từ từ quân chủ lực về hướng Bắc, thì điều đó có nghĩa là quân họ chỉ còn biết cậy dựa vào sức mạnh của chính mình. Số phận cuộc chiến lúc này đây tùy thuộc vào họ, và chỉ tùy thuộc vào họ mà thôi.

Quân lính họ phải chiến đấu một chọi mười. Không xét về số lượng thì khí giới của họ cũng không kém gì quân địch, nhất là những tốp lính cưỡi trên mình voi mới thực là đáng phải kiêng nể. Thêm vào đó, họ được lợi thế giao chiến ở một vùng đất đã được giải phóng. Nơi đây cư dân đều một lòng với họ, sẵn sàng tham gia vào cuộc chiến dưới nhiều hình thức khác nhau. Như vậy biết bao yếu tố vượt khỏi tầm tay của Vương Thông nhưng lại thuận lợi cho họ.

Họ nghiền đi ngẫm lại cực kỳ chu đáo kế hoạch tác chiến.

Trong khi ấy, đám quân Thiên Triều đồn binh tại mạn Tây và Tây Bắc thủ đô. Từ đó, chúng kiểm soát được mọi phía và dễ dàng tiến thoái. Trong ba nhánh quân Tàu thì nhánh quân ở Thanh Oai do các tướng hoạn quan Sơn Thọ và Mã Kỳ bất tài chỉ huy sẽ là mục tiêu đầu tiên cần nhắm đến.

—★—

Cuộc chiến đã đến cận ngày khởi phát khiến các nông gia phải hối hả. Sau khi mùa màng thu hoạch xong, người ta chất đống chân rạ giữa các cánh đồng.

Chính ngay giữa những đồng ruộng sình lầy này, các vị tướng đất Việt Phạm Văn Xảo biệt danh Kiếm Ngọc và Trần Nguyên Hãn biệt danh Hổ Trầm đã bố trí dàn binh mai phục. Đây là một vị trí rất thoáng nhưng đồng thời lại rất thích hợp cho cuộc tập kích bất ngờ vào những toán kỵ binh và bộ binh đang di chuyển.

Bộ binh của Con Hổ Trầm Trần Nguyên Hãn ẩn mình sau các túp nhà dân dã. Quân của ông Trời Con Mộng Tuân giấu mình trong các đống rạ ngoài đồng. Hai bên đường, đám kỵ binh đang mai phục dưới sự chỉ huy của chàng Xác Gấm Đinh Liệt và Lê Ngân biệt danh Bất Đắc Kỳ Tử, họ đang yên lặng tỏm tẻm nhai trầu. Thế là đám quân Việt đã trở nên "mất dạng". Sau khi đã tàng hình thành cây, thành bụi, thành rễ! Những khuôn mặt hình tam giác với đôi tròng mắt xếch đang căng thẳng chờ đợi, chẳng khác nào bản mặt các chú mèo đang rình bắt chuột. Cả hàng trăm lần, các đôi tay lăm lăm nắm chặt vào khí giới như dao, giáo mác, hoặc kiếm.

Chẳng bao lâu là đến giờ Ngọ (giữa trưa), bỗng người ta nghe tiếng vó ngựa dập dồn và rồi giữa tiếng gào thét kinh hồn, đám kỵ binh quân Việt đã ùa vào tấn công đám quân Minh chốt tại cầu Thanh Oai và thanh toán sạch những hàng đầu của chúng.

Ngay sau khi hoàn hồn trở lại, hết sức cay cú vì bị giáng một đòn bất ngờ như thế, đám quân Tàu đồng loạt trả miếng, chúng ào ào cuộn cuộn xông tới. Bỗng dưng bị mất chỗ đứng, quân Việt xem ra nao núng, nhưng rồi bất thình lình quay lưng lại lẹ như cơn thủy triều đang rút, họ phóng về hướng Bắc, bỏ những kẻ chết và bị thương lại tại chỗ. Tướng Mã Kỳ liền tính trèo lên yên ngựa rượt theo, Sơn Thọ vội la lên:

- Coi chừng! Chúng cài bẫy đó!

Mã Kỳ đáp lại:

- Đừng nhảm nhí! Ta sẽ bắt quân rợ này trả món nợ ở Lạc Thủy cho xem!

Nói xong hắn phất cờ đỏ ra lệnh tiến binh xông tới. Thế là cờ trương theo gió, gươm giáo sẵn sàng, những toán quân Thiên Triều lăn xả rượt theo. Nhưng khốn thay cho bọn chúng! Vừa ngay khi bọn chúng lọt vào ổ phục kích thì từ trong những đống rạ, từ dưới các ruộng nước hoặc những tàn cây, quân Việt, bộ binh phía Tây, kỵ binh phía Đông nhào ra kìm chặt bọn chúng lại.

Bị chụp bất ngờ như thế làm sao bọn chúng có thể giữ vững hàng ngũ được?

Cùng ngay lúc đó, từ những vùng lân cận, đám nông dân nhào đến trợ lực, họ quay tít những chiếc đòn gánh ghê rợn hoặc dùng câu liêm móc chúng xuống ngựa té nhào. Khí giới vung lên loang loáng, máu phun ra từng tia đỏ thẫm. Vô số tiếng kêu tuyệt vọng vang lên. Cứ một người lính Việt ngã xuống là mười tên giặc Ngô đền mạng.

Bị tứ bề tấn công, lũ giặc Tàu không thể nào sử dụng giáo mác đoản thương chống lại một cách hiệu quả khí giới cận chiến của "lũ Nam man". Quân Tàu phải che thân sau những tấm khiên rộng lớn và cố gắng phá vỡ vòng vây.

Các sĩ quan Tàu gan dạ vừa che chở cho hai chủ tướng là Mã Kỳ và Sơn Thọ, vừa cố gắng hộ vệ cho hai tướng này chạy trốn. Sau ngàn vạn gian nan khốn khổ, cuối cùng bọn tướng lĩnh Thiên Triền phải chạy trốn như những chú thỏ rừng nhát gan. Quân Việt lao mình rượt theo...

Trong lúc lũ giặc mải mê chạy trốn về hướng cánh quân ở Sà Đôi, thì tướng Việt Xác Gấm Đinh Liệt đã rượt bắt kịp được chúng. Chàng nhắm vào Mã Kỳ phóng lao đến, nhưng ngọn lao chệch hướng và chỉ đâm trúng một tên chỉ huy cận vệ của hắn. Hoảng hồn, Mã Kỳ thúc mạnh vào hông con chiến mã, nó tung vó phi nhanh bụng sát kề mặt đất. Ngày hôm ấy, thật tiếc cho Xác Gấm biết bao vì đã giết hụt tên giặc thù nham hiểm đó!

Thấy Mã Kỳ đang khiếp hãi dẫn đạo quân tơi tả của chúng chạy dài trong lúc kỵ và bộ binh Việt cùng hai thớt voi trận bám sát gót rượt theo, hai tướng Tàu Phương Chính và Lý Ngân hoàn toàn bất ngờ và cảm thấy bị trực tiếp đe dọa nên vội vàng cuốn gói lập tức rời khỏi vị trí, ba giò bốn cẳng chạy về hướng thủ đô. Cùng thời gian này, các tướng Việt Kiếm Ngọc Phạm Văn Xảo, Hổ Trầm Trần Nguyên Hãn tiêu diệt được vài ngàn quân giặc, bắt hơn 500 tên làm tù binh rồi lui quân về căn cứ Ninh Kiều.

—★—

Nghe tin này, thống tướng Minh Vương Thông tức giận bầm gan tím mật. Chỉ vừa mới dàn binh ra thế mà hai cánh quân tấn công đã bị bẻ gãy, hàng ngàn lính bị giết. Hắn trút cơn cuồng nộ lên đầu đám tướng lĩnh hèn nhát, bất tài của hắn.

Tổng binh Trần Trí liền trấn an:

- Xin thống tướng chớ vội điên đầu như thế! Đối với đạo quân một trăm ngàn người thì chết 2 hoặc 3 ngàn có nhằm nhò gì! Mưu mô của lũ rợ này không nhằm mục đích nào khác ngoài việc gieo hỗn loạn và gây mất trật tự. Để đè bẹp chúng lần này, chúng ta sẽ thực hiện một kế hoạch hành động khác một cách thận trọng hơn.

Đến đây tay cộng sự Trần Hiệp liền nhảy vào cuộc. Sau khi bí mật tàn sát Đề đốc Trình cùng gia quyến, tên này đã được thăng chức cố vấn quân sự nhờ "ô dù" của Bố Chính Hoàng Phúc. Hắn hiến kế:

- Xin tướng công cho phép ty chức đưa ra một gợi ý. Kế hoạch trước đây chứng tỏ rằng sự phân tán lực lượng thành ba cánh quân đã gây tổn thất cho chúng ta, thế thì tại sao chúng ta không tập trung đoàn quân lại tại Cổ Sở do chính ngài thống lĩnh hầu ngăn chặn các cuộc tấn công chớp nhoáng của quân địch, rồi đồng thời với sự ồ ạt tiến công phối hợp của kỵ binh, bộ binh và hải quân thì chắc chắn quân ta sẽ chiếm lại được Ninh Kiều và sau đó tiến thẳng về Thanh Hóa?

Ý kiến này phù hợp với suy nghĩ của Thống tướng Vương Thông, vì thế ngay chiều hôm ấy, hắn ra lệnh tập trung các cánh quân lại.

Vào canh tư sáng hôm sau, qua một đêm phân bố các nhiệm vụ, hắn đích thân cầm đầu đạo quân khổng lồ của hắn từ Cổ Sở cấp tốc tiến chiếm Ninh Kiều.

Nhưng đến nơi, hắn hoàn toàn sửng sốt khi nhận thấy không còn có căn cứ, đồn binh và tường lũy ở đây nữa! Chỉ còn lại lũ nhái nhảy tung tăng trong đầm là những sinh vật duy nhất! Ngoài ra toàn là sương mù trên các bụi tre và các cánh đồng ngập nước sau mùa mưa kéo dài.

Hắn chỉ gặp một sự trống không.

Dưới chiếc mũ hình đôi cánh phượng hoàng, gương mặt Vương Thông biểu lộ sự bối rối cùng cực. Thật quái lạ! Trong khi đoàn hùng binh của hắn chuẩn bị biểu dương một cuộc công phạt thần diệu thì bỗng chốc như bị tê liệt vì phải đồn binh ở chỗ không nơi ẩn núp, không lều trại, không tường lũy! Cuộc thoái binh bất ngờ của quân Việt ở Ninh Kiều mang ý nghĩa gì? Chúng đang ở đâu? Chúng tính làm gì?

Hắn vội phái quân thám báo đi khắp bốn phương và triệu tập bộ tham mưu lại. Cố vấn Quân sư Trần Hiệp mở màn:

- Xin cho tiện chức được đưa ra ý kiến. Đám quân nổi dậy không thể đương đầu nổi đạo quân vô số kể của ngài về sức mạnh và vũ khí nên chúng chỉ còn một cách lựa chọn đó là dùng mưu mô. Trong bọn chúng có những tay chiến lược tài tình biết rõ tường tận từng xó xỉnh trong vùng và đã có lắm kinh nghiệm bậc thầy trong nghệ thuật mai phục dựa vào sự trợ lực của quần chúng. Mong ngài cẩn thận đừng vội lao mình vào một cuộc tiến cuộc rộng lớn. Tướng Phương Chính lên tiếng phụ thêm:

- Con đường xuyên qua núi băng ngang các cánh đầm lầy, dọc theo những ngọn núi không quá cao nhưng rất rậm rạp cũng như dọc theo tất cả những chỗ thuận tiện cho việc tấn công bất ngờ. Xin ngài kiên nhẫn chờ đợi các trinh thám báo tin cho kỹ...

Đôi chân mày rập nhíu vào nhau, thống tưởng Vương Thông yên lặng lắng nghe trước khi tỏ bày ý kiến của người thống lĩnh. Đây là một gã chiến binh dạn dày kinh nghiệm, có nhiều chiến công hiển hách, đặc biệt các cuộc xuất chinh chống lại rợ hung nô đã đem lại cho hắn những tước vị và những chức vụ quan trọng.

- Các lời khuyên của Chư vị rằng phải nên cẩn trọng quả thực rất đúng. - Cuối cùng hắn lên tiếng - Nhưng làm thế nào chúng ta lại để cho đạo quân chúng ta chôn chân phơi bày trống trải ở đây và để cho quân thù nắm thế chủ động tấn công trước, làm thế là chúng ta đi ngược lại với những quy luật sơ đẳng nhất trong nghệ thuật chiến tranh! Chúng ta biết rằng chủ lực quân của tên giặc Lê Lợi hiện đang tiến về phía Bắc. Nếu chúng ta cứ dậm chân tại chỗ chờ cho lũ "Rợ" lấy lại sức mạnh, lúc đó chúng ta sẽ đánh mất đi cái lợi thế của yếu tố bất ngờ và chúng ta biến hành vi chủ động tiến công thành một tình huống bị động. Dựa theo nguyên tắc "quân thù bị tấn công đột xuất là đã bị thua một nửa rồi" (Tôn Tử), sau đây là kế hoạch nên theo.

Hắn liền trải tấm bản đồ do thống tướng Trương Phụ lập ra vào đầu thế kỷ rồi nói:

- Gián điệp chúng ta vừa cho hay các toán quân giặc hiện đang tụ họp ở Cao Sở cách đây 16 dặm trên một vùng đất gập ghềnh. Từ chỗ Ninh Kiều này đến đó có hai con đường: đường thứ nhất là đường núi đi ngang qua làng Tốt Động, đường thứ hai là đường tắt đi ngang qua làng Chúc Sơn. Để đánh úp quân địch, chúng ta sẽ phân đạo quân chúng ta thành hai cánh. Ta sẽ chỉ huy cánh quân chính theo con đường núi băng qua Tốt Động để tấn công mặt trước, còn cánh quân thứ hai sẽ dùng con đường tắt qua Chúc Sơn lẻn vào đánh bọc hậu. Ngay khi đến Cao Sở, cánh quân này sẽ nổ các khẩu đại pháo để khi nghe ám hiệu bốn phát đạn, hai cánh quân chúng ta sẽ siết chặt hai đầu. Vậy đêm nay chư vị hãy cho quân lính nghỉ ngơi. Ngay hừng đông chư vị hãy sẵn sàng nhổ trại, bởi vì, ngày mai - hắn ta kết luận - chúng ta sẽ giao chiến một trận sống mái với địch.

—★—

Vào buổi chiều ngày mùng 6 tháng 10 ấy, trong khi truyền lệnh cho các toán quân rút khỏi Ninh Kiều một cách hết sức bí mật và tụ tập tại Cao Sở, thống tướng Việt Trần Nguyên Hãn, biệt danh Hổ Trầm không nhắm mục đích nào khác ngoài việc dẫn quân thù vào mảnh đất do mình chọn trước và bố trí quân lính mai phục ở đó. Ông làm thế là vì sự chênh lệch về số lượng giữa quân thù và nghĩa quân ta.

Nhờ các tù binh quân Minh cho hay, Trần Nguyên Hãn biết được kế hoạch tấn công mới của Vương Thông cũng như mật hiệu quy ước là bốn tiếng đạn pháo - mà cánh quân thứ hai sau khi đến Cao Sở sẽ bắn lên báo hiệu cho cánh quân chính nhảy vào cuộc giao tranh. Như thế trong tình huống cực kỳ khó khăn này, vấn đề thiết yếu đối với quân ta là phải nắm được thế khởi công, từng bước bẻ gãy và đánh tan cuộc phản công của quân Tàu.

Chính ngay đêm hôm ấy, một đêm lạnh lẽo không trăng, trong các ao hồ đầm lầy, quân Việt đã giương ra các ổ phục kích ngay trước mũi đám quân Tàu đang dồn binh ngoài trời mạn đông Ninh Kiều:

Toán phục kích thứ nhất chốt ở Tốt Động, toán thứ hai chốt ở làng Chúc Sơn cách độ 12 dặm, toán thứ ba chốt ở chân hai ngọn núi Ninh và Chúc trên con đường, từ Chúc Động đến Ninh Kiều, đồng thời để lại ở Cao Sở chỉ một nhóm nhỏ với nhiệm vụ vào thời gian quy định sẽ phóng ra "mật hiệu" mà Vương Thông đang ngóng chờ để dẫn hắn vào chiếc bẫy được giăng tại Tốt Động.

Thống tướng Trần Nguyên Hãn căn dặn các tướng tá dưới quyền những lời cuối cùng trước giờ lâm trận: "Tướng lĩnh phải cư xử với binh lính như là cha với con và ngày mai sẽ diễn ra trận sống mái với quân thù!"

—★—

Ngày hôm sau, vào khoảng canh năm (từ 3-5 giờ) sau khi đội vào chiếc mũ hình cánh phượng hoàng và khoác vào mình chiếc chiến bào chạm vẩy rồng duyệt qua các hàng binh, Thống thướng Tàu Vương Thông ra lệnh nhổ trại tiến quân về hướng Cao Sở.

Sau ba hồi trống trận vang lên, cả biển người ồ ạt tiến tới tựa những ngọn thủy triều, hung hãn xô bờ.

Dưới các hàng cờ xích tước đỏ thắm, bạch hổ trắng ngần, thanh long xanh thẫm, hắc ưng đen sậm, trùng trùng điệp điệp hàng ngũ chỉnh tề nối đuôi nhau: từng lớp kỵ mã, bộ binh tay vung thương múa kích chọc trời, tay cầm thuẫn đỡ che thân, rồi tiến đến từng dàn phân đội xạ liễn phi lao, từng dàn phân đội pháo binh trang bị đủ thứ đại bác các loại, tiếp nữa là đoàn quân xa đi theo hộ tống đèo thêm những tốp quân nhạc với nhiệm vụ gióng trống khua chiêng thục trận. Nhìn cảnh tượng này đối thủ nào lại không cảm thấy mềm gan vỡ mật?

Thế là các đội quân Tàu trật tự oai phong xông ra chiến trận ào ạt như những cơn sóng thủy triều bao la ngập tràn sắt thép, dưới hàng cờ quạt che phủ rợp trời, bước chân dồn của cả trăm ngàn người xen lẫn tiếng vũ khí khua vang làm rung chuyển mặt đất, làm mờ nhạt gầm trời của ban mai vừa ló dạng. Chúng chắc mẩm đã nắm được trong tay cái ngày chiến thắng hôm nay.

Đúng như dự tính, cánh quân thứ hai do hai tướng lĩnh ưu tú Lý Lương và Lý Tiến chỉ huy sẽ đi theo con đường tắt qua làng Chúc Sơn trong khi dưới sự chỉ huy của thống tướng Vương Thông, đạo quân chính gồm 75 ngàn người sẽ đi vào con đường xuyên núi. Cả hai cánh đều nhắm hướng Cao Sở thẳng tiến.

Vương Thông có ý định làm cho đám quân nổi dậy phải hoảng sợ nhằm thu hút sự chú ý của họ, nhưng nhìn tứ bề, trong những cánh đồng đang ngập nước dưới cơn mưa rào, tất cả đều lặng ngắt như tờ. Vì các hàng quân quá dày, các tốp lính sau vấp phải tốp lính trước nên đạo quân Tàu tiến bước thật khó khăn dưới làn mưa mãnh liệt và dai dẳng, trên một khúc đường chật hẹp hoang vắng không một bóng người. Trên suốt 14 dặm đường, đoàn quân đang trườn mình tiến về hướng những cánh đồng lầy lội của làng Tốt Động.

Ngay khi tiền quân Thiên Triều vừa tiến vào Tốt Động thì một loạt tiếng nổ dội vang: đó là tiếng đạn đại pháo tín hiệu ở phía Cao Sở.

Cố vấn Trần Hiệp vui vẻ nói với Vương Thông: "Thưa ngài đó chính là mật lệnh quy ước". Ngay lập tức yên chí rằng cánh quân thứ hai đã tiến vào được Cao Sở, Vương Thông liền truyền lệnh triển khai đội hình chiến trận thực hiện một cuộc tổng tấn công trực diện nhằm nối kết với cánh quân kia.

Đối diện với đạo tiền quân đang triển khai sẵn sàng giáp trận, hùng hổ như một bức tường sừng sững với những hàng thương kích nhọn hoắt, chỉ là những đám ruộng lầy có quạnh, vài thôn xóm đìu hiu, những đầm lau lách sũng nước nằm dọc sông Yên Duyệt và những cánh đầm lầy ở mạn Tây.

Những tiếng chiêng và trống trận nổ vang phá vỡ sự yên tĩnh bao la. Hàng cờ đỏ giặc Tàu phất lên truyền lệnh.

Ngay khi kỵ binh và bộ binh Ngô vừa băng qua những cánh đồng hiu quạnh ở Tốt Động thì bỗng nhiên hàng loạt mũi tên tua tủa, hàng loạt trái đạn pháo bắt đầu trút xuống như mưa trên đầu bọn chúng. Một số đông giặc Tàu bị tên đạn xuyên thủng té nhào. Nhưng không thể nào chặn đứng được lũ Tàu đang như cơn nước thủy triều dâng cao. Trong lúc quân Tàu tay cầm thuẫn che thân ùn ùn xông qua bùn lầy tiến tới thì này đây: Từ sau những hàng tre, những mô đất, những bụi rậm và những khúc cây, nghĩa quân nằm mai phục sẵn trong các đống rơm rạ lau lách từ đêm hôm trước, xông ra hùng hổ như hùm lang hết đợt này đến đợt khác nhảy bổ vào chúng, mồm thét vang: "Chúng ta hãy giết giặc Tàu!".

Đây chính là những toán bộ binh Việt của Diêm Vương Lưu Nhân Chú và Trời Con Mộng Tuân, những toán kỵ binh của thống tướng Hổ Trầm Trần Nguyên Hãn cùng những toán quân địa phương góp sức hỗ trợ. Họ hung hãn xông bổ vào quân giặc tựa như những chiếc răng lược cào mạnh trên mái tóc.

Lập tức tướng Lý Ngân nhận ra ngay được sự hiểm nghèo: Hắn thúc giục các toán quân Tàu hoảng loạn tập trung lại và bằng mọi giá không để cho quân Việt bít lối con đường xuyên núi, nghĩa là cắt đứt chúng với phần còn lại của đạo quân Thống tướng Vương Thông và dồn chúng về hướng các đầm lầy.

Vội vàng tung ra bốn phía, các tên giao liên liều chết ra lệnh cho các toán quân tan tác tụ họp lại bằng mọi giá, thiết lập nên một hàng rào phòng ngự. Nhưng tựa những đợt sóng dâng lên, toán chiến binh Việt đồng loạt vọt ngang ra: ở chỗ này Lê Ngân biệt danh Bất Đắc Kỳ Tử huơ con dao khủng khiếp chặn đà tiến của chúng, ở chỗ kia, Trời Con Mộng Tuân văn võ song toàn đang vồ xuống hàng ngũ giặc, còn ở chỗ nọ, Diêm Vương Lưu Nhân Chú đang say máu chặn đứng mọi sự di chuyển không để cho tụi lính Ngô đông đúc tụ lại được với nhau! Bị vây chặt tứ bề đồng thời lại bị cắt ra từng mảnh, lại còn phải mang trên người quân trang quân dụng nặng nề mà chân cẳng thì bị trợt dính trong bùn, nên quân Tàu chỉ còn là một đạo binh đang di chuyển như kẻ tê liệt.

Nổi xung lên vì việc chuyển quân quá chậm, tướng Lý Ngân chỉ huy đội tiên phong vẫn cố tin rằng chưa có gì bị mất mát. Thế nhưng ngay khi hàng phòng vệ vừa được thiết lập nên bằng những hàng rào thuẫn và kích thì không biết từ đâu, nhiều toán quân Việt cưỡi voi xông đến trong tiếng gồng, tiếng trống kèm theo những tiếng thét rùng rợn "Chúng ta hãy giết lũ giặc Tàu!".

Sự xuất hiện bất ngờ của những cỗ máy trận khủng khiếp này gieo kinh hoàng cho quân Tàu. Nhiều tên quẳng giáo và thuẫn chạy trốn để rồi sa lầy giữa những vùng đất trũng nước. Còn các chiến mã vội quay trở lại lê lết tàn lực cố gắng phóng qua khỏi vũng bùn kéo theo các kỵ binh vẫn còn mang khí giới. Trước cặp mắt bất lực của Lý Ngân, những điểm trọng yếu của tuyến phòng thủ đã bị phá vỡ!

Đây đúng là trường hợp: "Vướng vào sình lầy, ngựa người rơi xuống hì hục giữa bùn đen".

Nếu có được đôi cánh đại bàng, thì chỉ cần một cái nhìn, người ta cũng có thể trông thấy toàn bộ tai họa mà đạo quân Tàu hiển hách đang hứng chịu.

Tại Tết Động, đạo tiên phong bị tiêu diệt tả tơi của tướng Lý Ngân đang tan tác hoảng loạn chạy băng qua các đám ruộng.

Dọc theo con đường từ Chúc Động đến Tốt Động, hàng ngàn tên lính thuộc đạo binh chính của Thống tướng Vương Thông khi nhìn thấy một số quân thuộc đạo tiên phong còn sống sót mạnh ai nấy chạy cũng liền vội hốt hoảng tìm cách thoát thân. Thật khó tưởng tượng nổi cả một khối quân binh đông đảo chưa đánh đấm gì hết mà đã thình lình bị tan rã vì hoảng sợ! Kìa là hiệu cờ của Thống tướng Vương Thông đang dẫn theo lũ quân trốn chạy. Hắn được các tùy tướng của hắn và tên cố vấn Trần Hiệp chạy theo hộ tống, hắn bị đảo điên sau khi trúng một mũi tên vào ngực ngay giữa trận địa chưa biết rõ chết sống. Huơ tít thanh gươm, Trần Hiệp cố gắng quy tụ những thằng chạy trốn nhưng quân Việt đã dùng kích hất hắn xuống đất và Diêm Vương Lưu Nhân Chú lập tức kết liễu đời hắn. Thế là tên hợp tác quý báu của giặc Tàu đã bị chết tươi!

Trong khi nhiều đồng bọn được hóa kiếp như thế và những tên còn sống sót đang tìm cách tuôn về hướng Ninh Kiều trong một cuộc chạy trốn "mạnh ai nấy thoát" kinh hoàng thì cánh quân thứ hai của Lý Lương và Lý Tiến đang làm gì?

Trên đường tiến quân, bỗng dưng hai gã tướng này nghe có tiếng đại pháo nổ lên ở phía Cao Sở. Quá ngạc nhiên, chúng tức lốc sai các trinh sát đi dò xem. Tất cả vẫn yên tĩnh! Nhưng rồi chỉ một lúc sau, chúng nhận được hung tin cho biết Thống tướng của chúng đã bị rơi vào ổ phục kích ở Tốt Động. Chúng hiểu ra ngay mưu kế của địch quân và lập tức truyền lệnh rút lui về Chúc Động nơi đại quân còn án ngữ.

Chúng đâu ngờ Việt quân đang chờ đợi chúng ở đó!

Tựa những dòng suối phun ra từ các đồi núi, tựa như lũ quỷ dữ đột xuất từ các lùm cây, toán kỵ binh của anh chàng hào hoa Xác Gấm Đinh Liệt với sự hỗ trợ của 500 binh của Tận Thoát Lê Thụ, đã nhào xuống trên đám quân Ngô và phân tán chúng ra.

Các tốp kỵ binh và bộ binh Tàu lúc đó làm sao còn giữ được lệnh phải hợp lực tương trợ lẫn nhau? Phần bị tiêu diệt từng mảng, phần bị đẩy vào thế phòng thủ, bọn chúng phải đương đầu tứ phía. Một vài tốp vừa mới hy vọng mở ra được một lối thoát khỏi vòng nguy khốn thì lại xuất hiện ngay những toán quân nổi dậy xông ngang tới, hoặc chúng bị đám nữ chiến binh gương mặt lạnh lùng vô cảm từ phía sau dùng móc sắt móc vào chúng và thật khốn cho những tên nào bị ngã xuống, lũ "quỷ cái" này lập tức thẳng tay cắt ngang cổ chúng ngay. "Lũ quỷ cái" này chính là Nữ Sát Thủ Lức và tốp nữ quân nhỏ bé của cô đang yên lặng mỉm cười như trong một trò chơi chu toàn sứ vụ "gieo tang tóc" của mình.

Quân đội Thiên Triều, từ tướng lĩnh đến sĩ tốt hồn xiêu phách lạc, vội chạy theo hướng cầu Ninh tiến đến con đường cứu mệnh Ninh Kiều với một ý nghĩ duy nhất là tìm đường thoát thân. Nhưng để cuối cùng nhìn thấy cầu Ninh đó bị quân Việt đánh sập.

Cầu Ninh đã bị phá hủy, dòng sông chắn ngang lối khiến chúng rơi vào thế "tiến thoái lưỡng nan"!

Chính vào khoảng giờ Mùi ngày hôm ấy, nếu có ai đứng từ trên cao mục kích diễn tiến cuộc chiến thì sẽ thấy hai cánh quân Tàu tan tác, một cánh từ Tốt Động và cánh kia từ Cao Sở đang tháo chạy và cả hai đều rơi vào ổ phục kích ở Chúc Động. Người quan sát ấy sẽ hiểu được rằng, với khả năng thiên tài trận mạc, thống tướng Việt Hổ Trầm Trần Nguyên Hãn đã bày trận quyết chiến thứ hai tại nơi đây. Điều này có nghĩa là để cho các đạo quân của tướng Kiếm Ngọc Phạm Văn Xảo và của Diêm Vương Lưu Nhân Chu từ các ngọn đồi xông vào hàng ngàn quân Tàu, đang vừa đánh vừa thét, hòa với tiếng trống bọc da trâu rập rình.

Khắp nơi dội vang tiếng thét trận khủng khiếp: "Hãy giết lũ giặc!". Tên rơi như mưa trên lũ giặc và hầu hết đều trúng đích. Bom đạn, hỏa pháo nổ rền như sấm, những đàn ong, đàn ong man rợ của Doanh bay vù vù trên đám quân Ngô tha hổ chích cho bọn chúng một trận thỏa thích.

Điều này càng tăng thêm nỗi kinh hoàng trong hàng ngũ quân giặc.

Dù cho những tên giao liên có thúc ngựa chạy vòng quanh hãm dọa binh sĩ "Thằng nào bỏ trốn sẽ bị giết ngay!" thì cũng vô ích thôi, bởi vì ngay khi tụi Tàu vừa mới nhóm lại được thế trận thì một đợt tấn công mới của quân Việt lại làm chúng rã đám, thế là ba chân bốn cẳng chúng chạy bạt mạng vào những khu rừng lân cận, ở đó Nữ Sát Thủ Lức và các bạn đồng nghiệp đang mai phục. "Lũ quỷ cái" này lập tức tiêu diệt chúng, mổ phanh ngực và moi gan chúng ra. Các thây của chúng mồm ngậm đầy hòn dái nằm xếp dưới các gốc cây. Khắp nơi đều vang dội tiếng gầm vang:

"Chúng ta hãy giết lũ giặc Tàu!".

Về phía quân Ngô, bị cuốn hút vào một cuộc xô xát tàn khốc, một số đang cố gắng kháng cự với hy vọng giúp cho Thống soái Vương Thông hiện đang bị thương được an toàn rút lui, và đưa thân vào muôn vàn nguy hiểm. Các kỵ binh hai bên, yên cương bàn đạp giáp lá cà, nhào tới đấu gươm với nhau. Nhưng dù có 10 đầu 10 tay, chẳng tên giặc Tàu nào có thể kháng cự nổi những chiến binh lừng danh dày dạn như Hổ Trầm Trần Nguyên Hãn, Xác Gấm Đinh Liệt hoặc ngay cả Trời Con Mộng Tuân giáp bào nhuộm đầy máu. Những chiến mã bị chặt khuỷu chân ngã lăn xuống đất hí lên thảm thiết. Giữa làn khói lửa, mưa tên, hai bên lăn xả vào quần nhau, nhận chìm nhau xuống những vũng bùn quần quật như cá trê, đâm chém nhau chí tử, máu nhuộm loang loáng khắp nơi. Dưới tấm vải liệm bằng sình lầy, vô số chiến binh tử trận người Tàu lại mang lấy màu xám đen đất Đại Việt.

"Chúng ta hãy giết giặc Tàu!", tiếng reo hò lại vang lên không ngớt.

Bị rơi vào tình trạng tuyệt vọng, một số bộ binh và kỵ binh Ngô cố liều phá vỡ vòng vây. Nhưng ngay giữa chiến địa, con dao lớp loáng màu sáng bạc như vảy cá vẫy vùng nơi sóng nước của Bất Đắc Kỳ Tử Lê Ngân quay vù vù vừa đâm, vừa chặt, vừa chém túi bụi, còn Xác Gấm Đinh Liệt trong mùa gặt xác quân Tàu này, chàng ta luôn hiện diện khắp nơi, xông xáo hơn bao giờ hết. Ngay khi nhận ra tên hoạn quan Mã Kỳ đáng ghét, chàng liền hét lên "Hãy chém thằng Mã Kỳ" rồi xông đến tấn công hắn.

Lập tức Mã Kỳ rút thanh đoản đao "cưng" của hắn ra cầm tay rồi giả vờ chạy trốn. Xác Gấm vội rượt theo ngay. Lúc đó Tận Thoát Lê Thụ đang chạy theo sau, trực giác thấy điều khốc liệt sắp xảy ra liền la to bảo chàng ta quay lại. Nhưng than ôi trễ mất rồi! Xác Gấm đã lãnh trọn vào giữa tim nhát dao của tên tướng hoạn quan và té nhào xuống đất. Mặc dù y sĩ Dương tận tình chăm sóc cứu chữa, nhưng vô ích thôi, chàng thanh niên hào hoa, ước mơ thầm kín của các nàng chiến binh thuộc đội quân Nữ Sát Thủ Lức mà Dương muốn vớt vát lại cho họ đã không còn nữa. Thôi hết rồi! Những vết xăm sặc sỡ đã nhạt màu! Thôi hết rồi! Linh hồn người anh hùng huyền thoại đang tìm đường về nơi âm cảnh!

Nhìn cảnh tượng này, các chiến hữu của chàng đớn đau điên dại nhảy bổ vào đám quân Tàu chẻ nhỏ băm nát tất cả những đứa nào ngã lăn dưới giáo mác hay gươm kiếm của họ, rồi rượt theo gây thê lương tang tóc cho những tên khác đang tìm đường chạy trốn.

Hàng chục ngàn tên lính trốn thoát phi ngựa chạy thục mạng về đến Cầu Ninh và Ninh Kiều tưởng đâu là đã thoát chết không ngờ lại bị đám Việt quân xô chúng xuống dòng sông chìm nghỉm.

Tên bắn xối xả, giáo thọc tứ tung vào đám giặc Tàu đang bám nhau từng cụm cố gắng tìm cách ngoi lên. Thằng nào lóc ngóc bò lên bờ được thì lại bị những trận đòn gậy tơi tả đẩy xô xuống nước. Tên trút như mưa khác nào như lao phóng rào rào vào những "đàn cá" đang giãy giụa trong vó! Bao nhiêu cái đầu, cái tay trồi lên, ngụp xuống, lại trồi lên để rồi chìm nghỉm vào trong con nước đỏ lòm.

Số tử vong không sao kể xiết.

Dòng sông quyện đầy máu. Thây chất ngập đầy làm tắc nghẽn sông Ninh.

Chẳng rõ còn bao nhiêu trong số trăm ngàn lính của đạo binh Tàu vinh hiển, sau ngàn gian truân khốn khổ, thằng thì theo chân Thống tướng Vương Thông đang mang thương tích, thằng thì nối gót Tướng Phương Chính chạy trốn về được Đông Quan? Như bị đòn trời giáng, ẩn núp kín bưng sau thành quách thủ đô, quân Tàu sửng sốt sau cơn đại bại kiểm tra lại tổn thất khốc hệt của chúng: 50 ngàn người chết trong đó hai tướng Lý Lương, Lý Tiến và cố vấn Trần Hiệp bị kiếm đâm chết giữa trận, 10 ngàn bị bắt làm tù binh, và số chiến lợi phẩm khổng lồ gồm ngựa, vũ khí, vàng bạc đều rơi vào tay quân Việt!

Thảm họa này càng khó được chấp nhận hơn khi bọn chúng nắm trong tay đầy đủ những điều kiện bảo đảm chắc chắn sự thành công: đạo quân của chúng hơn quân Việt tới 10 lần xét về quân số cũng như về vũ khí, chúng nắm trong tay sức mạnh hùng hậu tiến quân trong một không gian hội tụ tất cả cơ may thành công với lợi thế của sự bất ngờ. Vậy mà, cái gì đã xảy đến cho chúng? Vì quá tự tin, thợ săn đã trở nên con mồi phóng vào cái bẫy giương sẩn. Đối diện đám quân nổi dậy này, đoàn hùng binh Tàu phải tháo chạy trong nỗi kinh hoàng, hay nói đúng hơn, đã hoàn toàn đại bại. "Hắc Vận" như một quả tạ giáng xuống lên đầu, linh thần các tướng lĩnh Tàu bị suy sụp ê chề.

Về phần Vương Thông, thương tích ở cạnh sườn do mũi tên gây ra không làm cho hắn đau đớn bằng sự thất trận. Bám chặt vào một định kiến, hắn đã quên mất đi nghệ thuật ứng biến! Vì khinh thường chiến thuật của địch và không cảnh giác nên hắn đã liều mình trở thành "nạn nhân đáng thương của những phỏng đoán vội vã của mình" (Tôn Tử) và vì thế hắn đã thua cuộc. Hiện giờ, quân nổi loạn đã bắt đầu nắm được thế chủ động trong khắp miền đất nước. Làm sao dám thông báo cho Hoàng đế, Thiên Tử? Và ngài sẽ ban truyền những Thánh dụ gì đây? Vương Thông cứ miên man suy nghĩ mãi.

—★—

Câu hỏi ấy cũng chính là câu hỏi mà Lê Lợi và Nguyễn Trãi, đang cùng với đại quân vội vã tiến về phía Bắc để gặp các tường lĩnh vừa chiến thắng, đang đặt ra.

Trận Tốt Động vẫn chưa là điểm kết thúc cho cuộc chiến. Dù bị dồn vào thế phòng ngự, nhưng quân đội Trung Hoa, vốn mang trong mình sức mạnh tiềm tàng vô địch của một Đế quốc "Trung Tâm" nên vẫn còn là một đạo quân hùng hậu. Cho nên phải sẵn sàng chờ đón một sự phản ứng mãnh liệt của vị hoàng đế nhà Minh, biệt danh lẫy lừng vì ông ta đã phải khánh thành Triều Đại mình với một cuộc thảm bại như thế.

Dù sao đi nữa, kể từ chiến thắng Tốt Động, trên đường tiến về vùng Châu Thổ, Con Rồng Lam Sơn có thể nhận ra uy danh của mình đã vang rền tứ phương thiên hạ. Nếu cuộc chiến thắng đạt được trong "mưa, bùn" này chưa đem lại an bình cho xứ sở, thì nó cũng đã góp phần làm thay đổi bộ mặt cuộc chiến tranh.

Cùng sát cánh với những chiến binh chuyên nghiệp tinh luyện, toàn thể nhân dân đứng lên tăng cường sức mạnh cho họ, cung cấp lương thảo và chỗ dựa cần thiết trong chiến trận, đồng thời tạo cho các cuộc phục kích những điều kiện cần thiết để thành công. Những nông dân mệt lử và khốn khổ này trước đây chỉ biết đến lũy tre làng và công việc đồng áng, thế mà họ đã chiến đấu trên đồng ruộng bùn lầy vùng Tốt Động như những con cọp, những con sói. Vũ khí của họ chỉ là những dụng cụ để lao động: cái liềm, cái cuốc, cái đòn gánh. Động lực tăng sức mạnh cho họ chỉ là tất cả nỗi nhục nhã, bất công và sự căm thù chất chứa trong ruột gan. Và họ chỉ nuôi một niềm khát vọng là được nắm trong tay chính vận mệnh của mình. Trong số họ, nhiều người đã hy sinh.

Cho đến nhiều năm sau và kể cả suốt chiều dài lịch sử về sau, trận Tốt Động vẫn mãi còn khắc ghi vào ký ức mọi người như một khuôn mẫu của cuộc chiến tranh nhân dân, cuộc chiến tranh trong đó nhân dân đóng vai trò quyết định, làm chủ lịch sử của chính mình. Quả thực Nguyễn Trãi có một tầm nhìn hết sức đúng đắn. Để hy vọng chiến thắng, đạo hùng binh quân Minh gồm cả trăm ngàn người, cần phải quy tụ lại được hàng ngàn, hàng triệu năng lực xung quanh một ý chí, một vị thủ lĩnh, một vị Minh quân đến nỗi khiến cho quân thù trên đường tiến công sẽ nhận ra ý chí của họ mạnh hơn ý chí của chúng, và chúng sẽ bắt đầu nghi ngờ sức mạnh của chính mình cũng như những lý do của cuộc chiến để rốt cuộc chúng sẽ tự nhận ra rằng chúng là kẻ xâm lược. Cho đến giờ này, nước Tàu vẫn xem Đại Việt, "quận Giao Chỉ xưa kia", như là một phần đất của nó cho nên nó đã phải đương đầu trước tiên là với "những kẻ soán ngôi" nhà Hồ, tiếp đến là những vua cuối đời Trần và sau cùng là cuộc nổi dậy của Lê Lợi. Nhưng khi Con Rồng Lam Sơn bắt đầu tụ họp các sắc dân thiểu số lại thì kể như một phần đất Đại Việt đã thoát khỏi tay quân Tàu, đến khi cuộc nổi dậy thành công ở Nghệ An, rồi đến Thanh Hóa thì lại thêm một phần đất Đại Việt nữa thoát khỏi tay chúng. Sau trận chiến Tốt Động, quân Tàu đã rút lui vào thủ đô và một vài thành trì lớn. Giờ đây thực sự chúng mang tâm trạng là kẻ xâm chiếm ngoại lai. Quân Tàu nghĩ rằng chúng đã thiết lập được nơi vùng đất "hỗn tạp" này một trật tự, trật tự của chúng, trật tự của nền văn minh tỏa ra từ ân đức uy phong của bậc Vương giả. Chúng cho rằng nhân dân thuần phục chúng qua hình ảnh những kẻ đại diện cho họ, tức là những quan lại đã cộng sự với chúng. Trận Tốt Động đã làm tan bay tả tơi niềm xác tín kênh kiệu ấy! Kèm với hình ảnh Tướng Thái Phúc ra đầu hàng Nguyễn Trãi và Lê Lợi, trước sự phí phạm người và của như thế, các tướng Tàu đã tự hỏi về tính cách "chính đáng" khiến chúng hiện diện trên đất Đại Việt. Chung cuộc, chiến tranh nhân dân là thế đó: một phần tiêm độc dược của sự hoài nghi vào hàng ngũ địch quân, phần ngược lại là củng cố ý tưởng đấu tranh cho chính nghĩa để đem về chiến thắng trong hàng ngũ quân mình. Như thế liệu quân Minh còn có thể kéo dài cuộc chiến, liệu chúng còn có thể hy vọng chiến thắng được không?

[←160]

Thuộc sách Ba Lâm, trấn giữ con đường từ Lào và Hòa Bình đến Thanh Hóa. Sau này là Cẩm Thủy, Thanh Hoá

[←161]

Chiến đấu cận chiến

="id_bookmark427" class="block_21"> 

« Lùi
Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của yveline féray