Buổi chiều đông đang buông xuống trên những ngọn núi mờ sương. Một cơn gió đẫm nước mưa thổi tới. Những người gánh hành lý và những người đi theo hộ tống bước nhanh vội vã tìm chỗ trú mưa. Nếu cứ nhịp độ này mà tiếp tục đi thì chỉ thời gian chưa bằng nấu chín nồi cơm là họ đã tới Côn Sơn.
Nguyễn Trãi, mệt nhoài vì những ngày dài đằng đẵng vừa rồi phải đi ngựa băng qua những ngọn núi phía bắc, giờ ông ngồi thu gọn mình trong chiếc cáng của ông. Trên đường đi, ông nghĩ:
- Sau hai mươi năm chiến đấu khắp đó đây, rồi thêm mười năm nữa ở triều đình, có ai nghĩ được rằng cái thân già của mình lại là nạn nhân của danh lợi trong khi tâm hồn của mình vốn không màng tới nó?
Tuy nhiên, Nguyễn Trãi vẫn còn bận tâm về những dân tộc thiểu số ở vùng núi xung quanh Lạng Sơn mà ông vừa mới đi thanh tra. Sau khi đích thân dẹp tan bọn Mường liên kết với nước Ai Lao ở phía Tây đất nước, lần này Đức vua có cần phải tung một cuộc chinh phạt đến với người Thổ ở phương Bắc không? Ông nghĩ tới những hy sinh của những tù trưởng Mường, như Lê Lai biệt danh Vượn và Hiểm biệt danh Con Chồn ngoài hang, mà thở dài. Rồi trở về với hiện tại: Những vùng phía Đông và phía Bắc mà ba năm trước đây, năm Kỷ Mùi (1439), Hoàng đế đã giao cho ông nhiệm vụ kiểm soát, vùng ấy chính là cái then cửa, là đồn lũy bảo vệ cho Kinh Thành. Nắm vững trong tay những vùng này, những con đường xâm lược cổ truyền, là bảo vệ sự thịnh vượng và ổn định cho Đại Việt. Công việc đó chẳng đáng cho ông phải lo lắng mất ăn mất ngủ sao?
Đoàn người ấy đã lũ lượt đến gần Côn Sơn. Trời bắt đầu rơi xuống một cơn mưa bụi. Để lại ở phía đông ngôi làng mà các nhà đều đóng cửa, Nguyễn Trãi đi vào rừng thông âm u nơi mà lúc ông vừa tiến vào một buổi chiều từ thế kỷ trước, đã gặp Atagana xuất hiện với bó đuốc cầm trong tay. Bây giờ thì chính chú Ba, chú Ba trung thành của ông, đang chạy ra nghênh đón ông, với cây đèn trên tay.
- Thưa Tôn sư, đáng lẽ ra ngài đã về đến đây từ hai ngày rồi mới phải! Chúng con cứ lo sợ có tai nạn gì xảy ra không?
Cẩm, vợ của chú Ba, và Nụ Nhài đã đón tiếp Nguyễn Trãi ở bậc cửa. Gương mặt của họ ánh lên vẻ hài lòng khiến cho vị nho sĩ dù mệt lả cũng phải mỉm cười. Ông vui vẻ phó mặc cho họ chăm chú săn sóc mình. Cuối bữa ăn, chú Ba đem điếu thuốc lào lại cho ông và nói:
- Thưa Tôn sư, hẳn là ngài mệt lắm cho nên hầu như chẳng ăn gì cả. Tại sao ngài lại phải cứ bôn ba di chuyển trong những vùng núi non độc địa ấy mãi? Tốt hơn ngài nên bắt chước những ông quan kia cứ ngồi trên ván mà điều hành cả cái tỉnh của họ, chẳng cần phải đụng tới một ngón tay, cho dù trời có long, đất có lở đi nữa. Trách nhiệm của ngài có lớn lao tới đâu, thì nhà vua cũng không thể đòi hỏi ngài phải nhiệt thành đến thế.
- Không phải ta mắc phải cái bả quyền quý mà Hoàng thượng cuối cùng đã ban cho người bầy tôi già như ta. Chỉ có nỗi lo lắng cho dân chúng mới thúc đẩy ta hành động mà thôi. Đó chẳng phải là một lý do đầy đủ sao, chú em?
Chú Ba đành phải gật đầu với vẻ nghi ngờ và đi lấy thuốc lào. Lúc chú trở lại thì ông thầy đã thiu thiu ngủ, đầu nghiêng một bên. Dù trong giấc ngủ, các ngón tay ông vẫn nắm lại giống như đang cầm một cây bút vò hình. Ông mang trên mình những nét mệt mỏi vô cùng. Suốt ba năm trôi qua, ông phải đi đi lại lại từ đông lên bắc để kinh lý thanh tra, tiếp đón những người nghe danh ông ở Côn Sơn tới thăm, thức khuya làm việc viết sách, nên ông đã già đi nhiều, má ông hóp lại, vai xệ xuống, cái búi tóc của ông đã trắng xóa.
Cẩm đi tới, thấy chồng mình đang mủi lòng nhìn ngắm ông thầy đang ngủ, nên cũng bỏ đi.
Chú Ba lấy điếu thuốc lào của mình ra rít mấy hơi, suy nghĩ xem có phương cách nào ép buộc ông thầy phải nghỉ ngơi. Ngoài trời, cơn mưa đang lộp độp rơi trên những tàu lá chuối. Nguyễn Trãi ngủ trong hơi thở đều đặn. Sau khi đã xây dựng một sự nghiệp như thế, đạt được một tiếng tăm như thế, có người nào tuổi đã già mà lại không nghĩ tới chuyện vui hưởng sự nghỉ ngơi xứng đáng với công lao của mình tại cố hương?
Vị chủ nhân đã quyết định như thế khi mà cả hai đã trở lại Côn Sơn năm Mậu Ngọ (1438). Một người đứng tuổi chín chắn như chú Ba đã thấy được việc về hưu này là tất yếu, và sẽ là dứt khoát, không thể không xảy ra. Chán nản mệt nhọc vì cuộc phấn đấu vô ích chống lại bọn triều thần bần tiện, ghê tởm vì những trò hèn hạ ti tiện của bọn quan lại, bị phản bội, bị mất tất cả, nhà nho đã về ở ẩn không còn mong gì hơn là được bình an. Chú Ba nhớ tới những lời của ông lúc đó: "Ta cầu mong Hoàng thượng sẽ được như vua Nghiêu và Thuấn, còn về phần ta, được hưởng những vui thú nơi thôn dã". Họ nhìn tận đáy mắt nhau và khám phá ra họ rất giống nhau ở chỗ cùng thoát khỏi ảo tưởng đến nỗi lúc này họ cảm thấy mình là anh em: nhà nho sĩ vĩ đại, vị quan rất uy tín, và chú, người nông dân dốt nát. Vả lại, chính như thế, chú Ba mới tự giải thích được sự kiện là Nguyễn Trãi, kể từ ngày đó, đã nhận chú là người tâm phúc có chân trong cái thế giới âm thầm của ông, đã cho rằng chú xứng đáng để nghe ông tâm sự: "Chú Ba ạ, tôi chỉ còn yêu thích chữ nghĩa, là cái ơn Trời cho, và yêu cái ngọn núi quê hương của tôi!".
Tiếng hút thuốc lào vang lên xen lẫn với tiếng mưa rơi. Từ phía trong căn nhà vọng ra chỗ chú những giọng nói quen thuộc. Ông thầy vẫn bình an tiếp tục giấc điệp.
Không còn ở triều đình nữa, Nguyễn Trãi trở lại làm một người dân trong làng như bất cứ một người dân nào của Đại Việt. Cái làng mà người ta bảo vệ trước tiên, nơi mà người ta trở về để chết. Hàng nghìn ngôi làng như thế này đã đem lại mùi vị và màu sắc cho hai tiếng "quê hương", "tổ quốc". Danh tiếng của ông ở đây đã đến đó trước ông. Người ta chạy tới gặp ông. Người ta đã chỉ ông cho đám thanh niên trẻ tuổi nhất và giải thích cho chúng biết nhà nho râu bạc có vẻ như một hiền nhân kia là ai, và chúng hân hạnh như thế nào được là dân cùng một làng với ông, và chính chú Ba, người bạn đơn sơ của ông, cũng cảm thấy được tham dự vào vinh dự của ông. Nửa là nhàn hạ, nửa là siêng năng đèn sách như thế, cuộc sống ở Côn Sơn được tổ chức than ôi khác hẳn với thời gian trước đó. Chẳng bao lâu trước khi họ về đây, không hiểu làm sao Nụ Nhài ở mãi tận ngôi chùa của nàng lại biết được, để rồi một buổi sáng đẹp trời kia, cô nàng trở về với ông chủ yêu quý của mình, với cái đầu trọc của một ni cô, còn tính tình thì hơi khác thường. Cho dù nàng cố gắng hết sức, với tư cách là bà chủ không ai chối cãi ở đây, để làm sống lại ngôi chùa xưa, để trồng mía và rau mùi trong khu vườn bỏ hoang, nhưng tất cả mọi nỗ lực của nàng đều tỏ ra không kết quả. Không gì cản trở được bước đi khắc nghiệt của thời gian, ngăn trở được những gì đã thuộc về quá khứ khỏi bị tiêu diệt và không bao giờ chấm dứt. Gần như là một thứ bất ổn về mặt thể trạng, khi thấy Nguyễn Trãi về đây sống, chú Ba đã có ý tưởng đó.
Mặc dù nhà nho sĩ có vẻ rất hài lòng được hoàn toàn tự chủ, ông thường ngao du khắp đó đây với túi thơ trên vai, một nỗi buồn thường xuyên làm cho ông như bị cô lập khỏi mọi người, tương tự như đám sương mù trên đỉnh núi. Những thói quen từ thời còn hạnh phúc trong tay, nay đều hoàn toàn thay đổi, ban ngày thì ngao du, còn ban đêm thì làm việc. Không cần phải lệnh buộc giữ im lặng, mọi người cũng đều có thể chăm chú lo công việc của mình trong bầu khí hoàn toàn yên tĩnh, còn thư phòng của ông thì mở rộng cửa và ông nhường hẳn cái lều ở bên bờ ao để cho những đứa cháu nội của ông tới chơi đùa. Có thể nói rằng, sâu xa hơn những niềm ước mơ bị hụt hẫng của ông, mối tình chôn chặt tận thâm tâm ông vẫn luôn thiêu đốt ông. Không bao giờ ông đả động hay nói xa gần gì tới người hầu thiếp của ông, nhưng nàng vẫn hiện diện trong từng tiếng thở dài, từng ánh mắt, từng cử chỉ, từng nét bút và trong bài thơ về con chim én lạc đàn. Chú Ba cố gắng nhớ lại những câu thơ đó. Những câu thơ đó, là dành cho nàng chứ gì nữa? Tuy vắng mặt, nàng Thị Lộ xinh đẹp vẫn tiếp tục ngự trị trong trái tim của nhà nho bằng mãnh lực của thương nhớ, và bằng mãnh lực còn cay độc hơn: của ghen tuông...
Mưa vẫn tiếp tục rơi, vị nho sĩ vẫn ngủ. Ba thở dài. Nếu định mệnh cũng đặt y vào giữa Đức Thiên Tử và người phụ nữ mà y thương yêu như trường hợp ông thì y sẽ làm gì đây? Một bên là bổn phận của một thần dân cung kính, một bên là hạnh phúc cá nhân của mình? Chỉ còn có nước là đoạn tuyệt, rời xa và đau khổ chứ làm gì khác hơn? Chú đổ nước vào ống điếu và nhồi thuốc lần nữa. Chú nhìn kỹ ông chủ đang ngủ mà Nụ Nhài vừa mới lấy một cái mền kép đắp cho ông với lòng trìu mến vô hạn. Từ muôn thuở, số phận đã ràng buộc chú vào con người siêu phàm này kể từ cái ngày xa xôi ấy, ngày mà chú đã kéo ông ra khỏi cái vụ lộn xộn tại chợ Bạch Mã. Cái ngày ấy, chú đã nhìn thấy ông tỏ ra bản lĩnh tuyệt vời khiến mọi người đều phải khâm phục, vì ông vững tin vào cái sức mạnh có thể lay chuyển cả trời đất. Và dù hôm nay, mặc dù vẫn giữ nguyên một lòng tôn kính ông, và vẫn dám đứng ra bảo vệ ông thì chú vẫn phải tự thú rằng chú phải than phiền tội nghiệp cho ông. Ba cảm thấy lòng đang bối rối, khó chịu, thậm chí sợ hãi về điều đó, y như chú đã xúc phạm đến ông vì đã giản lược ông vào những chiều kích của thân phận con người thường. Có phải chú quên rằng đã ba năm nay Đức vua đã kêu gọi Nguyễn Trãi hồi triều, cho ông lên chức Đại Tư vấn thay thế cho tay bất lương Thúc Huệ, và cuối cùng đã giao phó những công việc dân sự cũng như quân sự của hai miền Bắc và miền Đông cho ông, với quyền ưu tiên được ở Côn Sơn tùy ý ông?
"Ông chủ đã quá mệt mỏi!", Ba tự nhủ và hổ thẹn về những tư tưởng của chính mình.
Không, chú đâu có quên cái ngày hôm đó, một sứ giả phi ngựa thật nhanh từ kinh đô tới, tưởng chừng như thời gian quay vòng tròn với những màn cảnh cứ lặp đi lặp lại. Chú cũng không quên những biểu lộ khác nhau hiện lên trên nét mặt của ông chủ khi nhận được tin báo ông được triệu hồi về triều: sự ngạc nhiên vui mừng với chút mủi lòng của một quan Thái phó như ông đang gặt hái kết quả của những bài học mình dạy. Sự hài lòng sâu xa vì sẽ hữu ích cho nhà vua và đất nước, rồi đến sự phật ý bất ngờ khi ông nghi ngờ rằng nhờ Thị Lộ mà ông mới được bổ nhiệm chức đó, và mối nghi ngờ đó giống như một con sâu len lỏi vào lòng ông. Tất cả những tâm tình ấy, chú Ba biết rằng nơi con người nhà nho này, cái ý thức về bổn phận sẽ chiến thắng vượt qua hết. Ồ, chú không cần phải biết cổ thư hay kinh điển mới hiểu được ông chủ của chú, lòng kính yêu là đủ.
Tiếng trống làng từ xa đã điểm canh ba (11 giờ đêm đến 1 giờ sáng). Đang còn ê ẩm cả mình, Ba bỗng quay đầu, Cẩm vợ chàng vừa chạm vào cánh tay chàng, vừa chỉ vào ông chủ.
Cả hai tiến tới, đặt Nguyễn Trãi ngả lưng lên tấm phản, phủ tấm chăn lên đắp cho ông, vì khí trời ẩm và lạnh.
- Việc gì phải lao tâm tổn lực đến thế?
Ba chỉ nhún vai im lặng như đành cam chịu! Hiện tại, những trách nhiệm quan trọng của ông thầy cho phép ông thực hiện một vài giấc mơ của ông. Ông chờ đợi đã lâu và chắc chắn ông cảm thấy cần phải làm gấp. Nhưng Ba không nói điều đó.
—★—
Niên Hiệu Đại Bảo, năm Tân Dậu Thứ Hai (1441).
Mùa Xuân, tháng Ba.
Hoàng đế truất phế Hoàng hậu Dương Thị Bí, mẹ của Nghi Dân, và truất phế chức Thái tử của Nghi Dân.
Rồi:
Mùa Đông, tháng 11,
Hoàng tử Bang Cơ được lập làm Hoàng Thái tử, mẹ của Thái tử được phong làm Hoàng hậu Mẫu Nghi dưới danh hiệu Tuyên Từ.
Giữa hai mục ghi chú ấy của sử quan, người ta đọc thấy Tân Hoàng hậu, Tuyên Từ, trong đó đã có những âm mưu quanh quéo thuộc loại lão luyện.
Chỉ cần tám tháng là đủ để Tân Hoàng hậu khiến Nhà vua truất phế Hoàng hậu đương kim Dương Thị Bí, thanh thoát và quá nhu mì, truất ngôi Thái tử của con trai bà ta và đặt con trai của nàng thay thế, mới sinh ra được có mấy chục ngày. Không đầy chín tháng cưu mang, giấc mơ vinh quang của nàng đã được sinh hạ được làm mẹ của vị thiên tử tương lai. Thế là nàng đã trở thành vị Hoàng hậu Mẫu nghi. Thế mà vào năm Mậu Ngọ (1438), một người đàn bà khác không có lòng tin tưởng vào số mệnh của mình như nàng, thì đã sẽ thất vọng khi nghe tin Dương Thị Bí, với sắc đẹp dịu hiền khôn tả, đã được chọn làm hôn thê Hoàng hậu. Sau một thời gian thâm gan tím ruột, nàng đã vùng dậy đứng thẳng mình lên được. Dù Dương Thị Bí có bà con với Thái hậu, là những món hàng phế thải, là những thê thiếp úa tàn của cố Hoàng đế, những tưởng rằng họ sẽ làm chủ Tam Cung, thì nàng, tay Tuyên Từ này, cũng biết cách phong tỏa cái mụ Hoàng hậu kia! Không một khó khăn nào làm nàng nản chí, không một ngăn trở nào khiến nàng bỏ cuộc, và cũng không một phương tiện nào nàng không lợi dụng làm con đường dẫn đến ngai vàng. Và dù Dương Thị Bí có mang bầu và sinh hạ một hoàng nam đi nữa, có mang trong bụng một người con sẽ làm Hoàng đế đi nữa, cũng chẳng khó khăn là bao, trong việc tán tỉnh vị Hoàng đế trẻ lúc nào cũng sẵn sàng si mê một gương mặt mới trẻ đẹp! Đành rằng, như người ta nói, Hoàng đế đã mê mẩn nàng Thị Lộ đến độ phong cho cô nàng chức "Lễ Nghi học sĩ" sau khi đã cướp nàng khỏi tay ông già Nguyễn Trãi, quan Thái phó của ngài. Nhưng vì hơn Hoàng Đế tới 15 tuổi và không sinh con, nên Thị Lộ chỉ có thể làm bạn đồng hành với ngài thôi. Còn nàng, Tuyên Từ, ngoài cái sắc đẹp đang thì, nét duyên dáng làm mê mẩn người nhìn của nàng, nàng còn tin tưởng vào sức mạnh kỳ diệu do nghệ thuật vờ vĩnh của nàng, và cái nghệ thuật "vành trong tám nghề"196 mà nàng học được lý thuyết nơi một mụ tú bà đang phụ trách nấu nướng trong nhà. Dù nàng vẫn còn trinh tuyền, nhưng nàng rất rành sử dụng quyền lực của nàng đối với đàn ông. Thị Lộ chỉ mới khai tâm cho Hoàng đế, còn nàng, trong lĩnh vực này nàng sẽ tỏ là một tay cao thủ. Rồi đây, mê mẩn vì những âu yếm vuốt ve của nàng, Hoàng đế sẽ là sở hữu của nàng, sẵn sàng chiều theo mọi ý muốn của nàng.
Tin chắc vào số phận huy hoàng của mình, nàng chờ đợi và nắm ngay cơ hội thuận lợi qua con người của tên thái giám Đinh Phúc, người phụ trách cung ứng lạc thú cho Đức vua, dám coi thường tất cả những luật lệ cấm197. Nàng đã nhờ hắn để lộn ngược cái thẻ ngọc chữ vàng mang tên nàng tại mật phòng trong hoàng cung. Khi Ngư thê Hoàng hậu sinh ra cái thằng "đẻ non", nàng đã thực hiện phần đầu trong chương trình của nàng: được gọi hết đêm nay đến đêm khác phục vụ Hoàng thượng. Và khi đứa trẻ đẻ non ấy được phong làm Thái tử vào đầu năm Canh Thân (1440), thì nàng đã cảm thấy cái thai may động, cái thai mà sau này sẽ làm Thiên tử. Vì không một giây phút nào nàng lại nghi ngờ rằng đó không phải là một đứa con trai. Nàng sẽ làm cho đứa trẻ này trở thành Thiên tử bằng cách dựa vào quyền lực đáng sợ của bọn hoạn quan.
Nàng đã hoàn toàn mua chuộc được bọn Đinh Phúc, Đinh Thăng. Nhờ họ, nàng biết rằng Hoàng hậu Dương Thị Bí vì không có khả năng làm tròn được vai trò mà các Thái Hậu và phe các quan võ mong đợi nên đã làm cho họ thất vọng. Nắm chắc điều đó, bằng một cách cực kỳ khéo léo, nàng dần dần làm cho bọn giám sát kia phải nhìn nhận nàng, là người ở cạnh Hoàng đế, sẽ sẵn sàng phục vụ cho lợi ích của các Thái hậu. Thế là những tên giám này thông báo điều đó cho những tên đồng sự của chúng làm thái giám ở cung các Thái hậu, và những tên thái giám này lại thông báo điều đó cho các bà này hay.
Mỗi lúc đến trình diện các Thái hậu, nàng đã khéo léo giả bộ đơn sơ khiêm nhượng và tỏ ra có uy thế rõ ràng để chứng tỏ nàng đúng là người phù hợp nhất để đóng vai trung gian. Nhờ bọn giám báo cho biết về cuộc đối thoại kỳ dị ở hai bên bức mành sáo lớn vẽ chim phượng hoàng - được kéo lên và hạ xuống trước mặt các vị Thái hậu, những món hàng phế thải ấy, nên nàng đã trả lời ngắn gọn và chính xác những câu hỏi mà một thị nữ đã nói cho nàng sau khi đã nghe được từ chính miệng các Thái hậu. Điều mà nàng đã đoán được khi giật lùi cáo thoái, chính là điều mà Đinh Phúc và Đinh Thăng đã rất hài lòng xác nhận với nàng: Các Thái hậu từ nay sẽ ban cho nàng cái vinh hạnh là được các ngài tin dùng. Cuộc viễn chinh xảy ra một cách rất đúng lúc, chống lại quân phiến loạn của tên Nghiêm ở miền Nam giúp nàng chứng tỏ sự hữu hiệu của nàng. Sau khi đã làm lễ hiến tế các tù binh tại đền thờ các vị tiên vương, Hoàng đế làm sao có thể từ chối được điều gì đối với các vị tướng đã thắng trận là những người liên kết với nàng? Chẳng bao lâu sau, Hoàng hậu Dương Thị Bí bị sa thải và con trai bà bị truất phế. Nàng đã run lên vì vui mừng nhưng vừa phấn khích lại vừa lo lắng. Cái ngăn trở lớn nhất đã vượt qua, bây giờ còn phải làm sao để cho đứa con trai mà nàng sắp sinh hạ vào mùa hè nóng như thiêu này được đặt làm Thái tử.
Tuy nhiên, trong năm Tân Dậu này (1441), đang lúc công việc của triều đình còn khá bề bộn, việc tấn phong có lẽ chưa thể thực hiện được. Mặc dù sự khuyến khích thúc bách của các Thái hậu đầy uy quyền, còn ai dám gây ảnh hưởng lên Hoàng đế? Phải chăng là Thị Lộ, tình nhân cao tuổi của Đức thánh thượng, hiện đang được con thứ phi Ngọc Dao phụ họa? Đức thánh thượng cao hứng đã phong con thứ phi này làm "giám quản Tam Cung". Chà! Cần phải để mắt đến con thứ phi đĩ thõa trơ trẽn này mới được! Chưa hết, đằng sau hai đứa này là phe cánh đối nghịch với ả, gồm một lũ ăn hại đòi cải cách, được tay già lẩm cẩm Nguyễn Trãi xúi giục, cả bọn này rất nhiệt tình bênh đỡ đám dân đen và biện hộ cho tên phản bội Hồ Quý Ly.
Không lẽ gần tới đích rồi mà Trời cao bỗng dưng lại thôi không còn phù trợ ả nữa sao? Có nên tin cậy vào lời đoan chắc của tay Chiêm tinh kỳ cựu ở triều đình rằng Hoàng tử Bang Cơ, con ả sẽ lên ngôi không? Cũng chỉ tại cái bản tính của Hoàng đế thì hay thay đổi như dòng nước. Làm thế nào ngăn cản không cho ngài phá vỡ kế hoạch đã được xếp đặt chu đáo như thế? Tháng 9 rồi tháng 10 lần lượt trôi qua.
Bây giờ là tháng 11. Tin tức vẫn thường xuyên qua lại như con thoi giữa cung vị các Hoàng thái hậu và các phòng vua ngự. Giữa lúc Tuyên Từ sắp sửa tuyệt vọng thì đột nhiên long trọng trước cả triều đình, chiếc ngọc tỷ nặng nề đã được đóng vào chỉ dụ tấn phong: thế là con trai ả được lên ngôi "Đông cung Thái tử".
Dù mưa móc198 rơi từ chín tầng trời xuống cũng không êm mát hơn đối với vầng trán đang vô cùng phấn khích của ả. Từ đây ả, Tuyên Từ này sẽ nối gót các Hoàng thái hậu, đồng minh của ả, nắm lấy vinh quang và quyền lực. Dưới chân ả, các chức sắc cao cấp nhất triều đình cũng như các bậc nho sĩ thông thái nhất cũng phải dập trán cúi lạy.
Tuy nhiên, một vết rạn đang bắt đầu hình thành ngay giữa lòng chiến thắng. Phương cách mà ả đã sử dụng để chiến thắng biết đâu đến phiên nó lại không đánh gục lại ả. Nghĩ thế, lòng ngập tràn nghi ngại, Tuyên Từ thường xuyên cậy dựa vào lũ mật thám cặp mắt "chuồn chuồn" láo liên, miệng lưỡi "cú mèo" tọc mạch để nghe, để nhìn, nhằm nắm biết được tất cả mọi sự. Sau khi đã chiến thắng, Con Rồng tương lai vẫn cần có thời gian để lớn lên. Trực giác bảo cho Tuyên Từ hay, mối nguy hiểm nếu có thì chỉ có thể xuất phát từ một người đàn bà khác đầy đủ mưu mẹo cố cướp lấy của ả những gì ả đã gây dựng nên bằng ngay chính những phương tiện ả đã sử dụng. Vì thế đến một cái lông mi nhay động trong hậu cung cũng không thoát khỏi mắt ả. Nhờ tên hoạn quan Đinh Phúc vừa mới được phong Thái giám, Tuyên Từ nắm rõ danh sách những cung nữ được Đức vua gọi đến nhiều đêm liên tiếp và dùng móng tay chuốt vàng, ả ghi dấu vào cuốn sổ "Danh Bạ tên quý" (ghi năm tháng ngày giờ các cung phi ở hậu cung ăn nằm với vua) do Đinh Phúc quỳ gối nâng ngang tầm mắt dâng lên.
Buổi sáng hôm nay dịu dàng tươi mát hơn mọi ngày. Làn xuân phong từ Hồ Tây thổi về mang theo mùi hương ngào ngạt. Chỉ nhìn vào cái tên họ này, Tuyên Từ bỗng dưng cảm thấy tê buốt, ruột gan như đốt như thiêu: Cung phi Ngọc Dao!
Ả giật thót người lên mạnh đến nỗi quyển "danh bạ" trong tay Đinh Phúc suýt rơi xuống đất.
Theo báo cáo chính xác tỉ mỉ của tên giám quan được đặc cách chỉ định theo dõi, con "đĩ" giang hồ Ngọc Dao này được thánh thượng để mắt sau một buổi triều yết và được phong chức "Giám quản Hậu cung" một cách đáng ngờ, hiện đang mang thai.
Trên khuôn mặt bỗng như thắt lại, nhợt nhạt, đôi mắt Hoàng hậu Tuyên Từ trông giống như hai họng giếng đen ngòm, hoảng hốt. Bờ môi đỏ hồng bé nhỏ của ả như tươm tươm máu đào:
- Thái giám, hãy cho gọi nhà chiêm tinh đến đây!
Vừa nói xong, ả lại khoát tay ra dấu đổi ý. Lão thầy bói lẩn thẩn này há đã chẳng từng tiên báo một trong các thứ phi sẽ sinh hạ một vị anh quân kế vị con ả sao? Giờ lại kêu lão đến để xác nhận lại điều đó à? Ôi đây chỉ toàn là chuyện tào lao nhảm nhí! Được cái bà "mai" cao tuổi Thị Lộ giúp đỡ, hiện giờ con cung phi Ngọc Dao có lẽ đang ngự trị hoàn toàn trong trái tim rất bạc nhược lẫn giác quan phóng dật199 của Hoàng đế. Hẳn cô nàng cũng ấp ủ trong chiếc bụng đậu thai của mình những mộng mơ mà Tuyên Từ đã từng ôm ấp. Tất cả nỗi lo sợ của ả nằm ở chỗ đó. Hiện đang là tháng 2 năm Nhảm Tuất (1442), theo ả tính toán thì ấu nhi của Ngọc Dao sẽ được sinh ra vào tháng 7.
Tay Thái giám táo bạo ngắt ngang dòng suy tưởng của nữ chủ:
- Nếu để đứa bé này chết ngay lúc chào đời thì có khó khăn gì đâu?
Cụp mắt nhìn xuống Đinh Phúc, vị Hoàng hậu chợt nhớ ra hắn và đồng bọn quả thật sành sỏi về đủ dạng độc được, từ thứ công phá chầm chậm đến thứ cực nhanh. Làm như chẳng thèm để ý tới lời gợi ý, Tuyên Từ sửa lại dáng vẻ uy nghi. Dại gì chạy theo một sự liều lĩnh đầy nguy hiểm! Biết đâu Ngọc Dao lại sinh ra một bé gái thì sao? Tia nhìn hung tợn bỗng dưng chuyển sang nét hiền dịu giả tạo, Tuyên Từ nói:
- Thái giám, hãy lập tức mời ngài Thúc Huệ cho ta.
Tay Thái giám thoáng mỉm cười chợt hiểu. Thì ra bà Hoàng này dự tính một cách tinh vi hiểm hóc, chuyển kế hoạch đẫm máu của mình vào bàn tay các võ quan qua trung gian tay cựu trùm cơ mật viện. Từ khi bị mất chức, nhường vị cho Nguyễn Trãi, nỗi tỵ hiềm của Thúc Huệ biến thành lòng căm thù khôn nguôi đối với bất cứ ai có liên hệ xa gần với vị nho sĩ, trong đó đương nhiên có cả Thị Lộ, cô tỳ thiếp trước kia của Nguyễn Trãi. Ra vẻ tỉnh bơ, Tuyên Từ biết cách trêu gan tên này để gieo mầm bất an trong chính phe cánh của hắn, đồng thời xúi các Hoàng thái hậu và các võ quan phải cực kỳ cảnh giác. Theo đánh giá của tay Thái giám, thì mưu lược kiểu đàn bà này có cái dở là quá ư rắc rối phức tạp và bấp bênh! Chi bằng âm thầm hiểm ác tiêm độc dược thủy ngân vào tủy xương để kết thúc số mệnh của bất cứ ai, mà dáng vẻ bên ngoài là một cái chết hết sức tự nhiên. Kín đáo và hiệu quả biết bao!
Trong lúc Hoàng hậu mong đợi Thúc Huệ đến thì Đức quân vương của bà lại đang cởi mở nỗi lòng với Thị Lộ về những âu lo về gia cảnh. Ngài thốt ra những lời lẽ táo bạo đến nỗi tóc tai cũng phải dựng đứng trong chiếc mũ phượng của nàng.
- Này, ái khanh xinh đẹp của Trẫm, Trẫm rất thích thú trò chuyện với một phụ nữ có đầu óc lại biết nghe và hiểu được Trẫm như khanh. Khanh tưởng rằng Trẫm sẽ được nghỉ yên trong chốn nội cung này à? Không đâu, Trẫm cứ phải đương đầu với một lũ quả là quỷ sứ, hết đứa này đến đứa khác tới kêu nài Trẫm phân phân xử xử.
Thị Lộ để lộ nụ cười ranh mãnh đầy nét dịu dàng thông cảm:
- Nhưng đâu phải tất cả bọn họ đều như thế. Hoàng thượng dư biết mà!
Vị Hoàng đế phàn nàn:
- Chẳng bà nào chịu nhường bà nào về nết hung dữ, nhất là bà Hoàng hậu!
- Kể cả người cung phi được Bệ hạ mệnh danh là "người liên kết mọi trái tim" sao? - Câu nói ám chỉ đến Ngọc Dao khiến vị Hoàng đế tìm lại được nụ cười của một cậu bé đầy nhục dục. Dù sao Đức vua cũng chỉ vừa mới tuổi hai mươi! Thị Lộ tiếp:
- Thánh thượng hãy xem, thánh thượng bất công biết bao! Cung phi ấy đâu thuộc đám con cái các quan tìm danh hám lợi trong việc tiến cung con gái của mình? Cô này chẳng đòi hỏi gì cho riêng bản thân cũng như cho thân bằng quyến thuộc của mình. Cô nàng chỉ biết yêu thánh thượng mà thôi.
- Ừ. Còn những cô khác, đáng lẽ ra Trẫm sẽ phải sa thải chúng nó hết mới phải!
Thị Lộ tỉ tê với giọng nói của người phụ nữ tự tin về mình. Nàng biết rõ mình đang ở đỉnh cao của sắc đẹp. Sáng hôm nay, trong tà áo lụa bạch màu cùi trái vải bó chặt đôi bờ vai mềm mại, vành môi lấp lánh màu châu sa, cặp mắt đen láy đưa tình đã khiến Thị Lộ như vẫn giữ được sự nồng nàn của "ngàn đêm ân ái".
- Thánh thượng có thể rời xa nàng một ngày được không?
- Được chứ, nếu như khanh, ừ nếu như có khanh ở cùng trẫm. - vị Hoàng đế phấn khích đáp lại.
- Ô! Ngoài thần thiếp, tớ nữ ngài đây, còn thiếu gì, thiếu gì kẻ khác nữa!
Vẻ hờn dỗi hiện lên tia mắt dịu dàng của vị Hoàng đế. Cô bạn duyên dáng của ngài nở nụ cười bao dung từ mẫu. Hoàng đế liền đáp trả lại bằng nụ cười buông lơi của một gã thanh niên, đồng thời cũng là một người tình, cái nụ cười dành riêng cho Thị Lộ bởi vì nàng là kẻ hiểu được ngài và là người duy nhất được ngài dành cho một phần chung thủy trong con tim chóng thay đổi của ngài.
—★—
Để mặc cho đám gia nhân lo tháo bỏ hành lý xuống, Ba đi thẳng vào nhà bếp.
Trên ngưỡng cửa, Cẩm, vợ chú, hai tay xoa xoa ngang thắt lưng, chiếc bụng tròn trĩnh nhô ra phía trước. Không chừng đây sẽ là một thằng bé lo hương khói cho vong linh chú mai sau. Phía sau lưng Cẩm, Nụ Nhài đang nhễ nhại mồ hôi bên cạnh bếp lò đất, sửa soạn các món ăn cho bữa tiệc ngon lành. Mặc dù trông có vẻ ngơ ngơ, Nụ Nhài vẫn luôn là một đầu bếp khéo léo, và nhờ đống người thường qua lại chốn này nên cô nàng cũng có việc để làm.
Ba lên tiếng:
- Tôn sư có trốn khỏi Kinh thành cũng chẳng yên, cả Kinh thành đang lũ lượt đến thăm viếng ngài kìa. Có thể nói rằng không lúc nào mà nhà ngớt khách và tách trà chẳng lúc nào vơi.
Ba ngồi chồm hỗm ăn tô miến cô vợ trao cho. Tất cả mọi người, từ các quan chức hay các khóa sinh đang mong sẽ làm quan, cho đến cả những kẻ đã rút lui khỏi chốn quan trường đều ao ước đến gặp vị Tôn sư. Ngài cũng phải chịu khó đón tiếp dòng người đến thăm viếng nhưng có những ngày ngài lẩn tránh biến vào vùng đồi núi. Côn Sơn không còn là chốn ẩn náu nữa. Thời gian dù có tuần hoàn, nhưng vẫn tiến về phía trước và đè nghiến trọn hoang phế của dĩ vãng. Chẳng còn gì giống như ngày nào hạnh phúc bên Thị Lộ nữa! Nàng ra đi để lại những cánh cửa nhà mở toang, để cho ai có thể ra vào tùy tiện. Ba buồn bã.
Cẩm, vợ chú, vừa cầm lấy chiếc tô hết nhẵn vừa hỏi:
- Các quý quan nào đang dạo chơi trong vườn với Tôn sư vậy?
- Đó là hai vị đại thần của triều đình và cũng là hai người bạn thân thiết của Tôn sư. Ngày trước họ từng là anh em đồng khoa trong kỳ thi đình đó. Lúc bấy giờ chúng tôi cùng chung sống với nhau dưới trướng vua Lê Lợi.
Cẩm còn quá trẻ nên chẳng hiểu chiến tranh là gì, cô nàng đưa mắt nhìn chồng thán phục trước khi rời bước. Nụ Nhài có nghe thấy gì không nhỉ? Hiện cô ta đang làu bàu điều gì đó trong miệng, tay thì vẫn thái thức ăn trên cái thớt.
- Thức khuya, dậy sớm, ở đâu cũng cứ thế, chẳng bao giờ yên nghỉ. Chỉ trời cao có mắt mới biết được điều gì sẽ xảy đến!
Ba và Cẩm đưa mắt nhìn nhau tỏ vẻ biểu đồng tình. Đó là cách thức Nụ Nhài thường lẩm bẩm với các bóng hình. Tuy vậy cũng phải nhìn nhận là Tôn sư đã làm việc quá nhiều. Không hiểu ngài tìm đâu ra thời gian, sức lực để sáng tác những bài thơ mà lúc nãy Ba trông thấy các vị khác tỏ vẻ say sưa thưởng thức?
Chuyện trò thân mặt, Nguyễn Trãi, Mộng Tuân và Lý Tự Tân vừa tiến bước tới túp chòi rồi ngồi xuống đối diện mặt hồ.
Tuổi già cường tráng làm tăng nét độc đoán nơi khuôn mặt Mộng Tuân. Ông lên tiếng hỏi Nguyễn Trãi:
- Thưa đại huynh, chúng tôi được biết vào cuối tháng này, huynh sẽ chủ tọa kỳ thi Đình, nhưng xem ra huynh có vẻ tư lự. Quả là lạ lùng vì sau bốn mươi hai năm nhận chức đình nguyên, giờ đây huynh lại được đóng vai chính chủ khảo đình thí. Đệ không hiểu tại sao huynh lại có vẻ không được hài lòng?
"Đúng là bản tính cố hữu của anh chàng trời con Mộng Tuân!", Lý Tự Tân vừa thầm nghĩ vừa nói vuốt thêm:
- Đây đích thực là cơ hội ngàn năm một thuở đó!
Cả hai, nửa như trách móc nửa như mỉm cười, nhìn Nguyễn Trãi. Trãi lên giọng:
- Thưa quý huynh, tôi bằng lòng an phận ở chốn này là chẳng quan tâm gì tăm với tiếng nữa. Đối với tôi, trở về lại Kinh thành chẳng phải là điều hạnh phúc.
Mộng Tuân giương cặp mắt sắc bén nhìn Nguyễn Trãi. Phải chăng Trãi ngại phải gặp lại Thị Lộ ở đó? Liệu Nguyễn Trãi có còn đau đớn về sự bội bạc này không?
Lý Tự Tân thì mãi say sưa với niềm vinh dự được đóng vai giám khảo:
- Đại huynh à, cả ba chúng ta đã từng là thí sinh và đã từng đoạt bảng vàng, ngày hôm nay lại được ngồi vào ghế giám khảo. Thế mà lý gì đại huynh lại có vẻ như chẳng màng đến niềm vinh dự này? Theo quyết định của Hoàng thượng năm nay, các tân tiến sĩ có được vinh dự tối cao là tên họ sẽ được khắc vào bia đá ở Quốc Tử giám.
Mộng Tuân bỗng đề nghị:
- Thôi chúng ta đừng ngồi ở cạnh bờ hồ này như ba lão già. Nào ta hãy đi qua đi lại một chút cho khỏe. Đại huynh à, tất cả vấn đề đều do ở chỗ huynh theo đuổi: tức là hai lối "Đạo". Thiên đạo vô vi và nhân đạo hữu vi. Huynh vừa xử vừa xuất, vừa sống riêng tư vừa tham gia thế sự! Vì huynh chỉ sống giữa cảnh đồi núi ở đây và giữa miền sơn cước phương Bắc nên huynh chẳng hay biết gì về việc triều chính của chúng ta.
Nhìn gương mặt phản ánh một sự lơ là vừa đúng lễ của Nguyễn Trãi, Mộng Tuân càng hăng tiết thêm: "Sau một ngày đi ngựa, một ngày đi thuyền đến Côn Sơn này là để tìm huynh đưa huynh về lại Kinh đô. Đại huynh ơi! Thôi đừng mơ màng đâu đâu nữa. Hãy chịu khó nghe những lời rất ư quan trọng đệ sắp nói đây". Luôn một mạch, Mộng Tuân tiếp:
- Sau khi từ thân phận thấp hèn trong hậu cung đạt đến được vinh quang bất ngờ, Tân hoàng hậu Tuyên Từ đã cậy dựa vào các Hoàng thái hậu khiến cho Hoàng thượng cũng phải kiêng dè. Hiện nay ảnh hưởng của bà ta chỉ có huynh là có thể ngăn chặn, ít ra là theo tiếng đồn đại của thiên hạ từ xa.
Đang cất bước trên lối đi, Nguyễn Trãi bỗng cảm thấy choáng váng khi nghe lời tiết lộ này. Trãi lần lượt đưa mắt nhìn hai người bạn. Lý Tự Tân tiếp:
- Đại huynh ơi! Chớ nên ngạc nhiên về điều ấy. Huynh đã từng dạy dỗ Hoàng đế thì làm sao ngài có thể quên được những lời giáo huấn của vị tôn sư lỗi lạc như huynh.
Mộng Tuân tiếp lời:
- Do đó những kẻ đố kỵ huynh hiện đang lo sợ huynh trở lại triều và lại tiếp tục chỉ vẽ cho nàng tỳ thiếp trước kia của huynh hiện là người duy nhất được đức vua tin nghe.
Nguyễn Trãi đi từ một sự ngạc nhiên chân tình sang một thái độ ngán ngẩm qua một nụ cười, trả lời:
- Hơi đâu mà người ta phải sợ một lão già lẩn thẩn đang sống cuộc đời quê mùa không còn màng gì đến nhân tình thế sự nữa? Quý huynh ơi! Tôi đã chạy trốn khỏi những lề lối tập tục nơi hoàng cung vẫn thường trói tay cột chân quý huynh. Tôi giải sầu với túi thơ, bầu rượu, rượu ngon, cơm đủ, quần áo có, như thế chưa đủ để thành bất tử ở cõi đời này sao?
- Ôi huynh có muốn giũ sạch bụi hồng trần cũng chẳng được đâu. Một người như huynh đã từng hoàn thành một sự nghiệp sánh ngang với Tiêu Hà200 thì làm sao có thể chôn vùi tăm tiếng mình được? Hoàng đế vẫn kính nể quý trọng huynh mà.
Vị nho sĩ yên lặng gật đầu. Ân sủng vua ban càng nhiều thì càng phải sợ các miệng lưỡi rèm pha, đồng thời càng không được tin chắc về sự an toàn của mình. Hai người bạn cũ chắc hẳn ghé thăm Côn Sơn cũng chỉ để nhắc Trãi điều đó. Lòng cảm kích, Nguyễn Trãi lặng thinh.
Thế là mãi theo đuổi ý nghĩ của riêng mình, cả ba đã đi đến tận ngôi miếu thờ thần Rắn. Nguyễn Trãi cắt nghĩa cho hai bạn biết ngôi miếu Rắn này đã được ông ngoại Trãi dựng nên từ thế kỷ trước để giải trừ khỏi một nghịch vận. Khác với ngôi nhà cũ kỹ, cái bàn thờ nhỏ bé này được gìn giữ chu đáo. Cạnh ngôi miếu là hàng tre xanh đang rung rinh trước ngọn gió đồi mùa xuân, xa hơn tí là chiếc hồ nơi bầy trâu đang ngâm mình tắm mát.
Lý Tự Tân thốt lên:
- Thực là một khung cảnh xứng với bút vẽ của Vương Duy201.
- Nào chúng ta hãy nghỉ một tí. Sau đó tôi sẽ dẫn quý huynh đến thăm con suối trên kia.
- Đại huynh ơi! - Mộng Tuân vừa nói vừa cười dù thực sự lòng không được vui. - Chúng tôi hiện đang rảnh rỗi giống Bình Nguyên Quân, chúng tôi tính tới đây uống rượu chơi suốt cả mười hôm đó!
Nhìn mái tóc hoa râm, vầng trán hằn đầy vết nhăn của hai người bạn, bỗng dưng lòng Mộng Tuân cảm thấy lòng tràn ngập một niềm tiếc nhớ: nào là cảnh trường thi, nào là cụ thí sinh già Tân Tư Biên, nào là buổi tối ở nhà Tiểu Mai, cuộc du thuyền với những trang mỹ nữ mà sau đó đã bị bọn Tàu tàn sát, rồi đến lễ xướng danh thi Đình, cuộc rước vẻ vang mà lão Từ Chi đột xuất đổ xô vào, cái anh chàng bất trị ấy, lại còn mụ vợ cầm dao rượt theo. Ôi! Thời trai trẻ cùng chung sống bên nhau này đã xa, xa lắm rồi!
Một mùi hương thoảng qua khiến Mộng Tuân chợt nhớ đến Thị Lộ. Cô gái xinh đẹp ấy cũng đã từng qua mấy mùa sống tại nơi này. Vẫn mãi mãi là kẻ tình si, nên dù đã bao năm rồi, Mộng Tuân vẫn thích thú gợi lại buổi xế trưa đẹp trời năm xưa ấy khi chàng ngắm Thị Lộ ngồi chải tóc bên bờ suối. Nàng vừa tắm xong, những giọt nước bé nhỏ vẫn còn lấp lánh trên bờ ngực, chiếc lược lướt nhẹ trong suối tóc mây, chầm chậm buông lơi chải lên chải xuống không ngừng. Chàng rón rén bước đến gần, trong lúc núi đồi Thanh Hóa phủ bóng như cố ý bao che. Phải chi khi ấy chàng bạo gan một chút thì biết đâu nàng đã ưng chịu. Cuộc gặp gỡ vàng ngọc có thể đã xảy ra và như thế cả hai hẳn đã hưởng nếm được một điều gì đó rất mãnh liệt, rất êm ái, rất dịu dàng... Chẳng hiểu Nguyễn Trãi có biết yêu nàng như Mộng Tuân này, kẻ đa tình cuồng si nữ sắc, mà được yêu thì phải biết! Hay như mối tình mà có lẽ nhà vua hiện đang dành cho nàng không? Tương phản luân phiên, thăng rồi trầm, đầy rồi khuyết, ái mộ rồi thất sủng, đó là quy luật của tất cả mọi sự ở trần gian này. "Kẻ nào hiểu được điều đó thì miệng sẽ nở được nụ cười". Mộng Tuân chợt nhớ lại câu này trong số những bài thơ của Nguyễn Trãi. Không hiểu hiện giờ nho sĩ Nguyễn Trãi có đang mỉm cười về nỗi đam mê muộn màng ấy không? Ông ấy xem ra có vẻ khó mà hiểu nổi.
Nhưng bỗng dưng Mộng Tuân tự nhủ: Không hiểu do đâu mình lại có cảm giác kỳ lạ và huyền bí là đối diện với một Nguyễn Trãi thì mình là kẻ được chở che, bảo tồn, và hơn nữa, được buông tha.
—★—
- Này thái giám, ta đã biết rồi! Nó sinh con trai! Thôi cút đi!
Trước cơn lốc băng giá này, tay thái giám chỉ còn biết cúi khuôn mặt sầu thảm sát đất rồi vội đi thụt lùi thoát khỏi cái bộ mặt làm hắn kinh khiếp. Tuy nhiên hắn vẫn sẵn sàng chờ được gọi vào trở lại.
Hắn quá rõ bà ấy mà. Hiện bà hoàng cần khử đi mọi độc tố của cơn cuồng nộ đang giày vò tim gan làm cho trí óc bà bị bấn loạn, để rồi sau đó có thể tìm lại được ý chí minh mẫn, tàn ác vô cảm biết hướng thẳng đến chỉ một mục tiêu duy nhất là bảo tồn ngai báu cho Thái tử. Một khi đã lấy lại được bình tĩnh, bờ miệng nhỏ nhắn hiểm độc của bà mới thốt ra những lời truyền lệnh là phải lo việc trả thù.
Màng lưới cạm bẫy dành cho Cung phi Ngọc Dao vừa hạ sinh một hoàng nam đã dệt xong. Như một con nhện khéo léo, tay thái giám đã kết nên từng sợi, từng nút trong tấm mạng lưới ấy.
Ngay khi vừa nghe tin Ngọc Dao mang thai, một chàng thanh niên đẹp trai chừng mười tám tuổi đã được tuyển vào số các giám quan trẻ tuổi trong cấm thành. Do sự sơ ý cố tình, người ta đã không hoạn tên thanh niên này mặc dù đã cấp phát dư dật cho gia đình cũng như miễn trừ thuế khóa cho làng của hắn (đặc án dành cho các hoạn quan). Hắn lại được bố trí phần vụ phục dịch Ngọc Dao và ngay khi vừa xuất hiện, hắn đã được liệt vào thành viên đám quan hoạn tín cẩn thường xuyên canh gác căn phòng người cung nữ đã lâm bồn.
Chiếc đồng hồ nước vẫn nhỏ đều giọt. Viên thái giám nóng lòng chờ đợi. Chẳng bao lâu, hắn được vời đến dãy phòng của Hoàng đế. Tấm màn vén lên và hắn bước vào chầu.
- Hãy lại đây!
Trong nháy mắt, tên thái giám hiểu ngay hắn đã không nhầm. Tất cả nét co rúm giận dữ đã biến khỏi gương mặt vị Hoàng hậu. Lấy lại vẻ quyền uy, bà ta lạnh lùng truyền bảo:
- Hãy lột mặt nạ tên hoạn mà vẫn còn nguyên ấy ra! Hãy phơi bày công khai lòng tà vạy202 bất chính của hắn! Hãy phao lên là thằng bé trai đẻ non ấy ngoài người cha công khai, thực ra có người cha khác. Hãy làm rùm beng chọc cho Thánh thượng sôi cơn thịnh nộ! Ta giao cho cái đầu lắm mưu lắm chước của ngươi lựa chọn phương cách. Hãy nhớ rằng cơn mưa móc203 của ta ban cho ngươi tùy thuộc vào sự cẩn mật của ngươi. Nào lập tức thi hành đi!
Tiếng trống cầm canh vang lên. Vừa vội vã đi về hướng dãy phòng trong hoàng cung, tên thái giám vừa rà soát lại các quỷ kế, thuộc đủ mọi loại, cần mang ra sử dụng. Hắn thức suốt cả đêm nghiền đi ngẫm lại kế hoạch thật chắc chắn để làm sao biến một kẻ vô tội thành người có tội. Có nhằm nhò gì mạng sống của tên hoạn kia và hàng ngàn tên khác thuộc cái loại ấy, dù sao thì tên hoạn ấy cũng chỉ là một dụng cụ, một phương tiện và chẳng bao lâu nữa sẽ chỉ còn là một thây ma bị quẳng xuống sông cùng với thây con cung phi Ngọc Dao và thằng bé sơ sinh của mụ ta. Và còn bao nhiêu người sẽ chết theo họ nữa?
Bảy ngày, thời gian giải cữ cho Ngọc Dao (7 ngày cho việc sinh bé trai, 14 ngày cho bé gái) đủ để cho viên thái giám thắt chặt nút gài chiếc bẫy của hắn. Hắn từng là tay xuất sắc trong việc thêu dệt những mưu mô, là tay ma giáo trong nghệ thuật vu khống, là tay sành sỏi trong việc sử dụng các xảo kế. Đằng sau nét mặt trang trọng, chắc hẳn Hoàng hậu Tuyên Từ đang run lên vì niềm hoan lạc. Bà ta như bừng sống dậy sau những cơn hốt hoảng đè nặng trên người.
Trong vòng bảy ngày, các mối ngờ vực chụp xuống đầu tên giám quan đẹp trai tựa bầy nhặng xanh bu đầy miếng thịt ôi. Hắn bị quẳng vào ngục, bị đòn đánh máu tuôn thịt đổ. Hắn hoài công vô ích kêu gào là mình vô tội, mình nhập cung sau ngày vương phi hoài thai, nào là tình trạng hoạn của hắn không thể sinh con. Tất cả đều vô hiệu. Trước đó, người ta đã man trá sửa lại ngày hắn nhập cấm thành. Vì sau khi để cho con chó liếm vào cái "chi thể" được bôi lên một lớp nước thịt hầm của tên gọi là hoạn quan ấy - đây quả là một phát minh kỳ thú! Người ta thấy cái "chi thể" được coi là hoạn đó phồng và cương lên, thế là mọi lời buộc tội kể như là dứt khoát! Giả dụ một vị quan chính trực nào đó đánh hơi phía bên dưới có ẩn chứa một quỷ thuật nào đó thì một khi đã biết rằng bị cáo đã bị kết tội ngay từ cấp quyền lực cao nhất, liệu ông ta có dám lên tiếng bào chữa cho hắn không?
Trong khi tên hoạn quan "dỏm" ngơ ngác nằm dưới ngục sâu chờ bị cắt ra từng miếng, và tư phòng Cung phi Ngọc Dao bị bao vây, thì nơi dãy phòng Hoàng đế vang dội đầy tiếng la hét om sòm của vị thánh thượng đang trong cơn thịnh nộ.
Quá hoảng sợ, đám hoạn quan co rúm núp sau các bức trướng. Tiếng đồ sứ vỡ, đồ đồng nện xuống nghe ầm ầm kinh khiếp. Cơn giận Hoàng đế càn quét trên "Tử Cấm thành" tựa sấm sét từ trời cao giáng xuống, tựa cơn lũ vương triều phá vỡ bờ đê.
Nỗi kinh hoàng cực độ ngự khắp chốn cửu trùng. Chẳng ai dám bước vào, lại càng không dám đến gần Thánh thượng... Ngay lúc đó, Thị Lộ vội vã xông tới, một cách có quyền uy, xô dạt đám hoạn quan lơ láo qua một bên, rồi chẳng cần nhờ đến ai dẫn vào, nàng tự mình tới yết kiến Đức hoàng đế. Một chiếc bình Gia Lâm quý giá bị vỡ dưới đôi chân duyên dáng bước ra.
- Tâu Thánh thượng…
Hoàng đế đưa đôi mắt đỏ rực nhìn nàng khác nào ngọn lửa.
- Chà! Khanh dám nói rằng cô ấy yêu ta? Cô ấy chẳng hề đòi hỏi gì hết! Ôi chao cái... con quỷ ô uế đó!
Vừa nói Hoàng đế vừa xô mạnh Thị Lộ ra khiến nàng ngã lăn dài xuống đất. Lập tức nàng nhanh nhẹn trỗi dậy để kịp tạt một tách nước vào bức màn vừa bị ngọn đèn đổ xuống bén lửa, đoạn cất giọng oang oang, Thị Lộ lớn tiếng cùng Nhà vua giống như dạo nàng là cô vú canh giữ Hoàng đế:
- Thôi đủ rồi!
Tiếng quát tháo này lập tức cắt ngang cơn giận của Nhà vua, tuy nhiên cùng ngay lúc đó Thí Lộ nhận ra là đã quá bạo phổi nên liền đập trán xuống đất, ý thức mình đáng tội chết. Sự yên lặng kéo dài. Cuối cùng, vừa bước qua bước lại trong căn phòng bừa bộn, Hoàng đế vừa hất hàm nói:
- Ngươi làm gì mà nằm bẹp đó? Đứng dậy đi! - Nói đoạn Hoàng đế buông mình xuống long sàng.
Rút từ ống tay áo chiếc khăn lụa, Thị Lộ chùi lên vầng trán vị Hoàng đế, miệng thầm thì những lời nhỏ nhẹ ủi an khác nào một bà mẹ. Hoàng đế để yên không hề phản kháng. Đoạn, gục người xuống trên gối đệm, gò má trông nhợt nhạt, Hoàng đế thở từng hơi ngắt quãng:
- Nó đã phản bội Trẫm!
- Không phải thế đâu! Không phải thế đâu!
- Còn không phải nữa à! - Hoàng đế chồm dậy nửa thân người - Nó đã dám... Trẫm, Thiên Tử! Thế mà khanh vẫn còn dám nói với ta là... nó... à... Cái con phản trắc! Trẫm sẽ xử tội nó, nó sẽ phải chết!
- Đó đích thực là điều người ta mong muốn đấy!
- Không có hình phạt nào cho xứng với tội ác của nó! Trẫm sẽ giao nó cho các hoạn quan hành xử. Họ sẽ chặt con ấy ra từng miếng, và cả tên đồng lõa với con ấy nữa!
- Chính đó là điều người ta mong ước bệ hạ sẽ làm, người ta đã gài cho bệ hạ phải làm điều đó...
- Ai? Hãy nói mau đừng sợ. Người ta là ai?
Đảo mắt nhìn bốn phía, Thị Lộ thầm thì:
- Hẳn bệ hạ dư biết điều ấy mà. Người ta lo, người ta sợ cho thái tử nên người ta đã xúi giục từng hoạn quan ở đây.
- Bà ấy à? Hoàng hậu Mẫu nghi ấy à?
- Chính ngày hôm kia Thánh thượng đã thương tình tiết lộ cho thần thiếp. Người ta mong ước Thánh thượng sẽ thịnh nộ lên và sẽ truyền một sự trừng phạt đích đáng để làm gương. Người ta đã bắt ép, đã ra lệnh cho Thánh thượng đấy!
Cặp mắt Hoàng đế tóe ra tia lửa kinh khiếp tựa đôi mắt Đức Lê Lợi, phụ thân ngài:
- Bà ấy à? Bà ta dám sai khiến Trẫm làm điều bà ta muốn à? Bà ta dám quyết định và truyền lệnh thay Trẫm à? Nhân danh Trẫm à?
Đoạn Hoàng đế lên giọng gằn từng tiếng khiến các giám quan đến gần đều có thể nghe:
- Đồ phạm thượng! Bà ta sẽ bị truất phế! Bà ta sẽ phải biến mất đi! Nhưng như vậy Ngọc Dao vô tội sao?
- Chẳng qua người ta cảm thấy cô bé trung thành ấy có thể nguy hiểm, vì thế nên buộc phải tìm cách trừ khử đi thế thôi. Dám mong Thánh thượng cẩn thận xem xét sự việc, phân tích hư thực trước khi kết tội mà không cho khiếu oan. Cầu mong Thánh thượng sẽ hành động một cách khôn ngoan, đừng để bị ai lợi dụng.
- Vậy nàng khuyên ta phải làm gì đây, hỡi cô bạn xinh đẹp của Trẫm.
- Thánh thượng hãy sai một người tín cẩn đến tận ngôi làng của tên giám "giả" ấy để nắm cho rõ đích xác ngày tháng tên này được nhận vào cung điện, điều này chẳng phải là việc quá khó đâu. Rồi từ đó, Thánh thượng có thể hoàn toàn phán xét một cách vô tư không thiên lệch. Còn ngay lúc này, cầu mong Thánh thượng hoãn lại việc thi hành bản án và hoán giảm hình phạt cho người phụ nữ đáng thương kia bằng cách chỉ định cho cô ta một chỗ ẩn cư, chẳng hạn lánh vào một ngôi chùa nào đó.
- Vậy té ra khanh khuyên ta tỏ ra yếu nhược đối với một kẻ có tội là bạn thân thiết của khanh đấy à?
- Tâu Thánh thượng, không phải thế! Thần thiếp chỉ khuyên Thánh thượng đối xử công bằng với nàng thứ phi từng được Thánh thượng sủng ái, đồng thời xin hãy cứng rắn đối với bà ấy...
Khuôn mặt Đức vua biểu lộ nét thư giãn an hòa trở lại.
Ngài tiếp:
- Này! Ái khanh của Trẫm thành thực tin cô ấy vô tội và đã bị khép oan à?
- Tâu Thánh thượng, vâng ạ! Hoàng tử Tư Thành204 đích thị là con của Thánh thượng. Chắc hẳn người ta đã không chọc giận Thánh thượng nếu đó chỉ đơn giản là một đứa con gái!
Hoàng đế nở nụ cười thoải mái và xích lại gần Thị Lộ. Ngài thầm thì rất khẽ:
- Ái khanh ơi! Trước khi Trẫm sắp sửa đi kinh lý các tỉnh mạn Đông và mạn Bắc, ái khanh hãy một mình kín đáo mau lẹ tìm cho người mẹ và hài nhi một chốn cư ngụ an toàn chờ đến lúc Trẫm trở về.
- Thánh thượng cứ an tâm tin cậy vào tớ nữ ngài...
Sau đó nhìn thấy nhà vua bị choáng mệt bất ngờ, đôi tay ngài đan vào nhau đưa lên trán, Thị Lộ liền vội rút lui ra ngoài nhường chỗ cho đám hoạn quan vào thu xếp dọn dẹp.
***
- Phía đằng kia có một đám người đông đúc, dẫn đầu là các thân hào đang chờ đoàn kiệu đến. Theo cháu mấy giờ đoàn kiệu sẽ tới đó?
- Thưa cụ, có lẽ khoảng giờ Thân (15-17 giờ).
Vừa nói, Ba vừa chăm chỉ dọn dẹp lối đi dưới hàng thông.
- Càng tốt, vào lúc đó trời vẫn còn sáng. Này con, đây sẽ là lần thứ hai mà lão già da dẻ sần sùi đang trò chuyện với mày đây được trông thấy một Vị vua đi ngang qua. Lần thứ nhất là một vị vua già, lúc đó ta lại đang còn trẻ, lần thứ hai này đây thì lại là một vị vua trẻ trong khi ta hiện đã già rồi. Cụ già vừa rời bước vừa lẩm bẩm: "Dù sao thì cũng được vinh hạnh biết bao cho cái gia đình quý phái này cũng như cho cả làng chúng ta".
- Hiển nhiên rồi, thưa cụ.
Vừa nói, Ba vừa quơ quơ thêm những nhát chổi cuối cùng.
Cẩm nặng nề lê chiếc bụng bầu ra đón chàng. Ba có nhiệm vụ lo việc tiếp rước nhưng họ lại được báo tin trễ quá. Ở Kinh đô, người ta chỉ đưa nguồn tin gọn lỏn về ý định Đức Vua như sau: "Trên đường đi thanh tra các tỉnh miền Bắc trở về, Thánh thượng, Thiên tử, sẽ dừng lại Côn Sơn để thăm hỏi vị Huấn sư của ngài. Nhân dân địa phương ở đó phải lo thu xếp chu đáo." Dù chỉ là một đêm thôi, nhưng việc cung ứng thức ăn và chỗ ngủ cho đoàn tùy tùng của Đức vua Hoàng đế không phải là chuyện đơn giản.
- Bếp núc chuẩn bị xong chưa? - Ba lên tiếng hỏi. Cẩm ra dấu đã thu xếp xong. Chiếc bụng bầu khiến đôi gò má và bộ ngực cô nàng căng lên. - Nhà không nói gì với bà ta chứ? Và có chắc có ả không nghi ngờ điều gì chứ?
- Chắc chắn bà ta chẳng nghi ngờ gì cả. Sao phu quân lại tỏ ra âu lo thế?
- Nhà nên nhớ là cái đầu gàn gàn tội nghiệp nhìn chỗ nào cũng thấy rắn của bà ta, thì chưa biết bà ta sẽ tưởng tượng ra những gì về Thị Lộ. Vì thế không được cho bà ta biết Thị Lộ tháp tùng đoàn kiệu. Hãy nhắc nhở trước cho mọi phụ nữ ở đây và hãy cố đừng để bà ta rời khỏi các bếp lò nhé!
- Ông yên trí để em lo. Sau khi tiệc tùng xong, chỉ cần vài tách rượu là đủ cho bà ta ngáy thẳng. Em đã cho người mang vào chùa những tấm chiếu và những tấm chăn lụa đẹp nhất của chúng ta rồi.
- Thế là tuyệt rồi! À! Tôn sư đã về chưa? - Dạ em không thấy.
Ba ngước mắt nhìn về phía ngọn đồi. Ngay từ trước hừng đông, chú đã nghe tiếng vị nho sĩ rời khỏi căn nhà, bụng rỗng chưa dùng bữa sáng, thế mà mãi đến giờ vẫn chưa thấy ngài trở về. Nếu tôn sư còn nán lại chưa xuống thì Ba buộc phải leo lên tìm ngài ở tận chỗ con suối. Thần kinh căng thẳng, Ba buột miệng thở dài. Không hiểu tôn sư làm gì trên đó vào một ngày như thế này? Lẽ ra ngài đã phải chuẩn bị sẵn sàng để tiếp đón Đức vua chứ? Hay ngài đã gặp tai nạn gì chăng?
Trong khi đó, Nguyễn Trãi đếm bước ông mặt trời xuyên qua các hàng tre. Bên bờ dốc đá, dòng suối vẫn reo ca. Chính tại nơi Trãi đang đứng đây, Trãi như thấy lại hình ảnh ông ngoại Hoàng thân Trần Nguyên Đán lần đầu tiên đang chiêm ngắm phong cảnh miền đồng bằng, cách đây năm mươi bảy năm về trước. Khoảng thời gian một đời người! Khoảng thời gian cuộc đời Trãi... Kìa là những ngọn núi xanh thẫm. Kìa là mái ngói ba tầng của ngôi chùa nơi Hoàng đế sẽ ngự qua đêm. Kìa là chiếc sân với hàng cây hoa đại chú Ba vẫn thường đi qua. Kìa là một ngôi làng đang chưng rợp cờ quạt và sau cùng là những cánh đồng trải dài vô tận đến cuối chân trời nổi bật lên dưới ráng chiều thu. Thật là bi tráng! Nét bi tráng của bất cứ vật gì đã đạt đến mức viên mãn nhất, đến tột đỉnh. Chưa bao giờ Trãi trông thấy, cảm mến mảnh đất tổ tiên bằng giờ phút trang nghiêm này. Trãi chẳng hiểu tại sao. Từ quá khứ vang vọng về giọng nói ngọt ngào của vị Hoàng thân: "Trãi ơi, sau này dù cháu có đạt được quyền cao chức trọng, hay bị tai ương vùi dập đi niềm kiêu hãnh, thì hãy luôn nhớ hướng tâm hồn về ngọn núi cổ xưa, ngọn núi quê cha đất tổ của cháu!".
Suốt bao tháng năm dài, Trãi vẫn luôn trung thành giữ lời giao ước hẹn hò với Côn Sơn như một lời nguyền từ muôn thuở. Đây là trạm dừng hạnh phúc cho bước chân rong ruổi của Trãi. Chính tại đây Trãi có được niềm vui làm người. Chính tại đây vào lúc hoàng hôn một buổi chiều nọ, vị "lữ khách khả kính" đã tiên báo cho Trãi, đứa con của núi đồi, cuộc gặp gỡ với vùng bình nguyên có suối nước êm đềm, vĩnh viễn khắc sâu định mệnh Trãi một dấu ấn không phai. Chính từ nơi đây, đất Côn Sơn với núi đồi, suối nước êm đềm đã được Trãi thiết tha ca ngợi, đã vươn cao tỏa rộng ngang tầm chiều kích bao la của Đại Việt. Chính nơi đây, Trãi đã chấp nhận rằng cuộc hôn phối giữa ngọn núi quê ông và đồng bằng sẽ được kết xe bằng huyết nhục. Chiều hôm nay, chân bước xuống con đường mòn, Trãi như lại nghe vang dội bên tai tiếng trống đồng của tấn bi kịch mà ngày trước từng đem lại bao niềm phấn kích nhưng hiện giờ lại đang bóp nghẹn trái tim ông…
Vị "lữ khách khả kính" quả thực đã nói không sai. Nào là chờ đợi, tìm kiếm cho được một vị anh quân minh chủ, sau đó đạt đến vinh quang cuối chặng đường dài gian khổ, để rồi cuối cùng chỉ còn lại một hư danh hão huyền! Từ nay tên tuổi Nguyễn Trãi sẽ lôi cuốn bao người từ xa đến để nghe, để khúm núm trước ông như thể trước một con người hội tụ cả đức độ, trí tuệ, lẫn tài năng. Ôi thật hão huyền thay! Cuộc đời hư ảo của ông trôi nổi khác chi bèo bọt! Ông luôn bị lỡ cơ hội không thực hiện được tham vọng kiên trì dựng xây sự nghiệp của đời mình, khác nào như bếp lửa đang hừng hực chợt tắt. Cả một cuộc đấu tranh quyết liệt vĩ đại, cả một cơn đất trời gió bụi giờ đây chỉ còn lại một đống tro tàn…
Hàng tre như kéo dài vô tận với những chót ngọn uốn mình dưới ngọn gió chiều… Người ta đã ví Trãi với Tiêu Hà (người giúp Lưu Bang đời nhà Hán), đã kháo nhau rằng ông sẽ lưu danh sử sách bên cạnh Tiên đế Lê Thái Tổ... Than ôi! Trở về già là phải học cách sống với những người đã khuất, với cha mẹ, bè bạn khuất núi, với niềm tiếc nuối ân hận của mình. Vị Hoàng thân ông ngoại đã dồn hết tâm sức dạy dỗ ông, phụ thân ông đã hết sức nghiêm chỉnh giáo hóa ông, còn ông, ông đã làm gì được cho các con trai mình? Tháng năm chiến chinh lâu dài gian khổ buộc ông phải xa nhà, và ông đã chẳng lo lắng gì ngoài chiến đấu để giành thắng lợi. Khi trở về, thay vì những cậu con trai, thì Trãi lại gặp những cậu thanh niên giương mắt nhìn ông như một người xa lạ. Thay cho người vợ hiền, ông lại chỉ gặp được nấm mồ, một bóng ma sầu muộn khôn nguôi. Thay vì gặp lại người tớ nữ khả ái thì ông lại chỉ gặp được sự trách móc hóa thân, kéo lê khắp gian nhà trong bộ tang phục... Dòng nước chảy xiết qua các phiến đá, mất hút vào nội cỏ. Vị minh quân mà ông từng tìm gặp được và từng dày công uốn nắn thì tiếc thay, ngài rất minh mẫn trong thời chiến song lại trở thành u mê sau khi tái lập được hòa bình. Ngài cứ mãi đắm chìm trong cấm thành, bị rối rắm vì bè lũ xảo quyệt trong triều tìm mưu tính kế, khiến lòng ngài trở nên đầy ngờ vực hết người này đến người nọ, để rồi đến lúc sắp tạ thế ngài bị giày vò hối tiếc vì đã không thực hiện đúng những điều đã từng giao ước giữa hai người. Đến khi được kế cạnh vị quân vương trẻ tuổi, lần nữa Trãi những mong có thể làm được đôi điều hữu ích. Với tất cả nhiệt tình, Trãi đã cố gắng dạy vị quân vương này nghệ thuật trị nước. Nhưng rồi những bài học của ông cũng chỉ như nước đổ lá khoai! Không một điều gì được thực hiện đúng theo ý nguyện của ông…
Phía xa kia, các thửa ruộng như đang rung rinh kéo dài mãi tận một khoảng chân trời quạnh vắng… Một vị hoàng đế đã qua đi và một vị hoàng đế khác đang trị vì. Triều đại mới đã thay thế triều đại cũ trong một xứ sở tuy hoàn toàn được giải thoát khỏi ách quân Minh nhưng hiện tại đang bị cùng kiệt xác xơ biến dạng biến hình sau hai mươi năm đen tối vì quân thù chiếm đóng. Một xứ sở đã chạm đến tận đáy nỗi bất hạnh. Những mong cuộc chiến thắng sẽ đem lại niềm hy vọng nào đó nhưng giờ đây thì Trãi đang bất lực đứng nhìn sự bóc lột tranh giành vẫn tiếp tục. Ruộng đất trong tay các ông hoàng được chuyển sang cho đám chủ điền và đối với tầng lớp nông dân vô sản thì đây chẳng qua chỉ là vấn đề thay ngôi đổi chủ. Khoác lên người bộ áo Khổng giáo, các quan lại lợi dụng danh nghĩa lo toan việc triều chính đang ra tay siết cổ nhân dân. Cuộc nổi dậy của dân sơn cước, nạn cướp bóc cộng thêm tình trạng mất an ninh liên tục càng củng cố thêm cho đám võ quan cái quyền lực đang bén rễ tận thâm cung cấm thành và được điều động dưới bàn tay một kẻ quần thoa, nàng quý phi, hiện đã ở vào ngôi hoàng hậu mẫu nghi. Nhà vua đang trị vì trên một nước Đại Việt bị phân chia trong tay của nhiều nhóm quyền lực. Hoàng đế còn quá trẻ, tính khí lại thất thường, lúc dựa nhóm này khi dựa phe kia, để rồi cuối cùng làm cho mọi người đều căm tức. Ngài chỉ đóng vai "Thiên Tử" chứ thực ra chẳng cai trị gì hết. Trước giờ chết, Lê Lợi đã ủy thác cho Trãi giáo dục vị quân vương trẻ tuổi này. Nhưng một lần nữa, Trãi đã không hoàn tất được sứ mệnh.
Trãi ngồi xuống bên bờ suối, mệt mỏi tự nhủ: "Sao ta mãi suy tính về chính sự trong nước cứ như là sự việc ấy thuộc riêng của ta vậy?" Dòng nước trong suốt mài nhẵn các phiến đá và viền quanh chúng những gợn sóng bạc. Trãi biết rõ câu hỏi trên không có lời đáp. Vì chính ông đây cũng chỉ là một người bị phân chia không thể hưởng trọn niềm vui ẩn dật mà cũng chẳng có thể hưởng trọn vinh dự của một thứ uy quyền phù phiếm. Dù vậy, từ nơi thâm tâm, Trãi vẫn luôn canh cánh nỗi ưu tư cho non sông đất nước. Trãi đã hiến dâng trọn đời mình cho đất nước. Người phụ nữ ông đã yêu thương, hay đúng hơn lẽ ra ông đã có thể yêu đương nơi trướng Chí Linh khi thân ông vẫn còn cường tráng... thế nhưng ông đã từ chối tình yêu hay bất cứ thứ tình cảm nào khiến ông sao nhãng phận sự của mình. Muộn quá rồi! Tất cả đã đến trong muộn màng: tình yêu cũng như nỗi phiền muộn. Cuộc đời ông như một cuộn chỉ tự động buông giây, thoát ra khỏi bản thân của ông, mà ông không hề hay biết, khác nào một giấc mộng lướt qua nhanh. Phải chăng đó là định mệnh cao cả mà các vì tinh tú đã hứa hẹn? Người ta kết hợp tên tuổi ông và tên tuổi Lê Lợi. Có lẽ họ sẽ ghi nhớ một số bài thơ của ông và rồi chỉ có thế thôi. Trãi đã chiến đấu chống lũ giặc Minh, nhân danh lý tưởng nhân nghĩa và đã càng đấu tranh hơn nữa để tái thiết đất nước. Nhưng tuổi già đã dạy cho không có gì trường tồn mãi mãi cả. Ông đã hoàn tất định mệnh của mình chứ không thể hiện được chính bản thân mình. Làn nước phà hơi lạnh vào khuôn mặt Trãi. Cuộc đời của ông nào có ích chi? Giờ đây Trãi chỉ còn là một lão già lẩn thẩn bị nỗi buồn vì không đạt được mối tham vọng phù du, lôi ra khỏi giường vào giấc canh ba (11 - 1 giờ sáng). Người duy nhất mà Trãi hy vọng sẽ tựa nương vào lúc xế bóng nay đã bỏ ông rồi. Bóng tối đang phủ dần con suối khiến lòng Nguyễn Trãi xót xa. Ngay lúc này đây, nàng đang trên đường tiến về Côn Sơn, vùng đất Trãi đã tặng trao cho mà nàng không muốn nhận... Nàng đang tháp tùng theo người tình hiện là một vị Vương, đến gặp lại chàng. Có phải chính Nhà vua đã chiều theo ý nàng trong cuộc viếng thăm tùy hứng này không? Chốc nữa đây, Trãi sẽ phải giữ nét mặt điềm nhiên tiếp đón họ. Trãi nhúng tay vào dòng nước mát để làm nguội cơn nóng đang sục sôi trong huyết quản. Chà! Vậy là lòng Trãi vẫn chưa nguội được! Như dòng nhựa nóng tuôn chảy trong cái thân cây già nua khô cằn, bỗng dưng Trãi run lên, lòng ngập tràn căm giận pha lẫn yêu thương như thể Thị Lộ vừa mới phản bội ông cách đây chỉ mới vài ngày thế mà nàng đã bỏ rơi ông dễ dàng như bỏ rơi đôi dép! Ôi! những bậc nữ lưu từng từ chối lạc thú vương triều để giữ trọn nghĩa phu thê dù phải hủy một phần thân thể, giờ đây còn đâu nữa? Trãi đưa tay khuấy mạnh phá tan cái bóng hình đang phản chiếu trong mặt nước, bóng hình của một ông già tuổi đã sáu mươi búi cái đầu tóc quái dị trông thật khôi hài...
- Tôn sư... Tôn sư, ngài ở đó à? - Ba nhẹ nhõm dừng lại lấy hơi. - Đã đến giờ rồi! Người ta cho hay đoàn kiệu chỉ còn cách đây ba dặm.
Nguyễn Trãi vẫn ngồi lầm lì bất động bên bờ suối.
- Thưa Tôn sư, có chuyện gì vậy?
Ba chẳng hiểu tại sao được Đức vua đến thăm mà tôn sư lại xem ra có vẻ bực dọc. Mỗi khi tôn sư tỏ vẻ trầm mặc khó hiểu như thế, Ba thường cảm thấy hoang mang như núi đang sụp lở và thế giới tràn ngập một nỗi kinh hoàng khôn tả. Đã tròn tuổi bốn mươi, sắp sửa làm ông bố rồi, thế mà chú ta vẫn cảm thấy mình giống như chú bé con e sợ đã làm điều gì phật lòng ông chủ.
Nguyễn Trãi chợt đứng thẳng lên trước mặt Ba:
- Chú tới đây làm gì?
- Thưa tôn sư, tiểu đệ tới kiếm ngài, đoàn kiệu sắp sửa đến, ngài cần phải chuẩn bị.
- Ý ta muốn nói lý do nào khiến chú rời bỏ làng mạc để theo phục vụ ta?
- Thưa tôn sư... Tiểu đệ không hiểu...
- Tiểu đệ ơi, tại sao chú lại gắn bó với ta như thế? Chú đã hy sinh cuộc sống, tuổi xuân và ngay cả bản thân mình. Chú đã theo ta từng bước một. Nhưng phần ta đã cho chú được gì? Chú còn chờ đợi gì nơi ta?
- Đệ... đệ là tôi tớ và là bằng hữu của ngài, không phải thế sao? Thưa tôn sư?
Một thoáng rung động xuyên qua nụ cười của Ba. Phải chăng tôn sư tính sa thải chú? Không thể nào thế được. Tình yêu cho chú biết hiện vị nho sĩ đang đau khổ và nỗi đau của ngài cũng là nỗi đau của chú. Biết tìm thuốc chữa ở đâu? Biết thốt lên những lời gì đây? Dù sao chú cũng chỉ là một gã nông dân dốt nát nên chẳng biết phải xử ra làm sao. Dòng nước đang sục sôi nơi con suối phản ánh nỗi kinh hoàng trong lòng Ba. Chú đã từng biết rõ rằng vị tôn sư không bao giờ hài lòng về những gì ngài đã thực hiện được sánh với những gì cần phải thực hiện. Nhưng xưa nay, chưa bao giờ ngài có những lời như thế! Tâm trí rối bời, chú thốt lên:
- Thưa tôn sư, thưa tôn sư, không bao giờ đệ hối tiếc vì đã bước theo tôn sư. Và nếu như phải bắt đầu sự việc trở lại, thì đệ vẫn sẵn sàng bước theo tôn sư. Đối với đệ tôn sư giống như... - Chú ta nhìn bốn phía tìm kiếm hình ảnh để làm ví dụ cho điều mà lòng chú đang cảm thấy, đôi mắt chú bỗng dừng lại trên dòng nước trong veo giữa những nền sỏi, lắp bắp: - là, là con suối trong vắt này! - Phải, phải, chú phấn khích không ngần ngại lặp lại lần nữa - Tôn sư là dòng suối! Đệ đã học được nơi ngài tất cả mọi sự. Không có tôn sư chắc chắn đệ đã rơi vào tuyệt vọng và không chừng còn kéo theo bao nhiêu kẻ khác nữa. Đối với đám nông dân hèn hạ như bọn đệ thì tôn sư quả là một tấm gương sáng. Biết bao lần đệ đã nghe đám dân nhỏ bé này tiếc nuối vì Hoàng thượng đã không biết nghe theo lời tôn sư cho trọn vẹn. Họ bảo: "Nếu là tiên sinh Ức Trai thì hẳn ngài sẽ không cho phép, không dung tha điều ấy đâu!" Xin tôn sư tha thứ cho sự táo bạo của người bạn đồng hành từ thuở xa xưa của ngài, xin hãy luôn nhớ ngài đã từng đi kiếm minh chủ, còn đệ thì ngay từ lúc đầu, đã xem ngài như một vị tôn sư. Ôi, quả là một sự may mắn do trời tiền định!
Vị nho sĩ tin chắc Ba đã nói lên những điều này với trái tim đơn sơ trìu mến. Ba đã nói lên nhân danh chú, nhân danh những kẻ giống như chú, những người nông dân mà Trãi từng chia sẻ cuộc sống đạm bạc, những người nông dân muôn đời khốn khổ nhưng lúc nào cũng tin rằng chỉ cần một người thôi là có thể làm nên được tất cả. Trãi ao ước nói cho Ba hiểu được rằng một vị nho sĩ, dù nhân đức đến đâu đi nữa thì ngoại trừ một số trường hợp đặc biệt vẫn không có đủ phương tiện để uốn nắn một nền chính trị, để chiến thắng đám quan lại thấp hèn, ham hố. Lúc đó, nếu muốn trung thành với truyền thống nho sĩ, vị này sẽ phải sống cuộc đời mang theo nơi mình tấn bi kịch vì cảm thấy mình bất lực không đáp ứng được những hy vọng đợi chờ của quần chúng. Quyền uy trước kia Nguyễn Trãi đã sử dụng trong cuộc, khi còn giữ vai trò cố vấn tín cẩn, thì sau khi lập lại hòa bình, vị tiên đế và sau đó là đương kim hoàng đế trẻ tuổi con ngài đã thu tóm gọn trong tay. Tấn kịch của nhân dân, sự thất bại trong cuộc đời chính trị của Nguyễn Trãi lại liên hệ chặt chẽ với tấn kịch riêng tư của ông, vì chính cái hạnh phúc của đời ông cũng bị Nhà vua tùy tiện cướp đi mất. Nỗi chua chát ngập tràn trong lòng Nguyễn Trãi khiến cho ánh nắng buổi chiều thu trong sáng ấy như sẫm lại Trãi chợt hiểu rõ hơn lý do ngày xưa đã khiến vị Hoàng thân, ông ngoại, thà chết hơn là sống mà không còn khả năng phục vụ quê hương…
Ba nhìn thấy chòm râu vị tôn sư rung rung, bờ môi ngài như mấp máy. Nơi đây chỉ toàn là sự yên lặng của cỏ cây, núi rừng, suối nước và dòng suy tư trong đầu vị tôn sư mà Ba chẳng dám cắt ngang. Dần dần, trong đầu óc Ba lóe lên một ý nghĩ, chú ta chỉ là một súc vật thô lỗ, chỉ biết nói toàn những điều sai quấy còn tôn sư thì thỉnh thoảng xem ra thật khó hiểu làm sao! Không hiểu ngài có nhớ là Đức vua đang sắp tới thăm không? Sao mà ngài có vẻ ở đâu đó chứ không phải đang ở tại Côn Sơn này!
Vào lúc mọi sự sắp sửa hoàn tất, vị nho sĩ cảm nhận ra hình bóng chú Trãi ngày xưa, từng làm sứ giả cho các cậu bên cạnh giường ông ngoại đang hấp hối, được liên kết với hình ảnh của ông già từ nay cam chịu số phận bất khả kháng. Cả hai hình ảnh này soi sáng lẫn cho nhau. Ngay lúc bước chân vào đoạn đường cuối này, Nguyễn Trãi tự đặt cho mình cái câu hỏi cũng chính là câu hỏi tối hậu mà cách đây năm mươi hai năm về trước đã được vị Hoàng thân trả lời trong hơi thở hoi hóp: "Cháu ơi, chính dựa trên nỗi khổ đau đám dân đen cảm nhận, dựa trên dòng nước mắt của họ mà người ta đo lường được trọng lượng cái chết của một con người..."
- Trọng lượng cái chết ngày mai của tôi sẽ như thế nào? - Nguyễn Trãi cất cao giọng hỏi ông Trời.
Ba giật nảy người. Trong một ngày vinh dự cho nhà mình cũng như cho cả Côn Sơn, tại sao tôn sư lại để cho những ý nghĩ u ám xâm chiếm như thế? Hay ngài đã linh tính được điều gì mà dù là tôi tớ, bạn bè, tiểu đệ của ông, Ba vẫn không cảm thấy được chăng? Chú liền lên tiếng:
- Thưa tôn sư. Tại sao, tại sao?
Nói rồi, Ba bật khóc sướt mướt tựa như hình ảnh ngày xưa Trãi đã thấy Kiều Oanh mẹ y than khóc khi nhà táng vị Hoàng thân đi qua. Vị nho sĩ âu yếm đặt tay lên vai Ba, đôi mắt dừng lại trên dòng suối, rồi trên bờ dốc đá thường được dùng làm bàn viết, trên những hàng thông được ông xem như bè bạn. Tựa chiếc nan quạt đang từ từ khép lại, ánh sáng buổi xế chiều đần dần thu hẹp về hướng đỉnh đồi xiết bao trìu mến. Chẳng bao giờ Trãi dứt lời lời ca ngợi cảnh núi đồi này. Tình yêu cố cựu dành cho mảnh đất quê cha luôn sục sôi trong quả tim ông cả ngày lẫn đêm khác nào triều sóng biển Đông. Trãi đưa mắt no thỏa triền miên ngắm nhìn mảnh đất quê hương lần nữa.
- Nào, tiểu đệ, bây giờ chúng ta hãy trở về!
Trãi đi xuống lối mòn. Ba lẽo đẽo theo sau. Ông chỉ có vừa đủ thời gian bận vào người lễ phục trước khi Hoàng đế tới.
Tiếng vượn kêu lẻ loi nghe như tiếng ai đang nức nở khiến Trãi ngoái đầu lại nhìn. Và chẳng bao lâu màn đêm buông xuống...
—★—
Dọc con đường từ Côn Sờn đưa Đức vua về lại Kinh đô, dân chúng từ các làng mạc không ngớt tuôn đến trước chiếc kiệu sơn son thiếp vàng với vị Thiên tử ở đằng sau các rèm che phủ kín.
Đám cận vệ trán có xăm chữ, vừa vung cao ngọn giáo vừa hô to: "Tránh đường! Tránh đường! Thiên tử giá lâm!".
Đoàn kiệu rước nhà vua sẽ phải dừng lại nửa đường để qua đêm tại làng Đại Lại (xã Giãn Đình, tỉnh Kinh Bắc, hiện là tỉnh Hà Bắc). Đoàn kiệu đến đây vào lúc mặt trời lặn. Dân chúng tụ tập đông đúc, toán lính gác liền hô vang:
- Hãy phủ phục xuống!
Một lúc sau, chiếc kiệu rồng dừng lại trên đôi vai toán lính cáng, đoạn bức rèm vàng được vén lên để lộ khuôn mặt không ai được phép nhìn thẳng vào: Một khuôn mặt trẻ trung với đôi gò má nhợt nhạt và cặp mắt sáng quắc. Tiếp sau đó, tất cả đoàn rước tiến về khu Lệ Chi Viên. Ở đây, người ta đã dựng nên một dinh thự tạm thời để đón tiếp Đức thánh thượng trú ngụ qua đêm.
Những hàng lệ chi205 ngút ngàn bao quanh chiếc hành cung xinh xắn được dựng lên trên một dàn cột tre trông giống hình một chiếc vương thuyền bềnh bồng trên biển cây cối. Mặc dù mùa lệ chi đã qua rồi nên không còn một chùm trái màu đỏ thắm nào treo lủng lẳng trên cây, tuy nhiên mùi thiên hương vẫn tỏa bay ngào ngạt khắp quanh vùng.
Ngay sau khi được cáng vào căn phòng dành riêng cho ngài, Hoàng đế liền cách ly đám quan hoạn đang lăng xăng chạy tới cởi y phục cho ngài, đoạn truyền gọi Thị Lộ đến bên cạnh.
- Hỡi bạn hiền xinh đẹp, hãy lại gần Trẫm! Khanh là bông hoa quý nhất Trẫm có thể nương dựa vào. Không hiểu sao bỗng dưng Trẫm cảm thấy mệt quá. Hãy vui lòng vén tấm mành lên cho ánh nắng chiều tà lọt vào! Khung cảnh nơi đây giúp Trẫm thay đổi được bầu khí lạnh lẽo tăm tối ở chốn cung điện. Ở đây Trẫm không phải nghe tiếng rên xiết của bao thế hệ Hoàng đế bị giam hãm. Ở đây chỉ có những hàng cây an bình ngự trị. Từ trước đến nay, Trẫm chưa bao giờ đến đây, thế nhưng...
- Tâu Thánh thượng, thế nhưng sao ạ?
Thị Lộ buột miệng hỏi. Từ lúc gặp Nguyễn Trãi ở Côn Sơn, nàng cảm thấy ngột ngạt trong người. Hoàng đế tiếp lời:
- Hãy lại sát bên Trẫm đừng để cho ai nghe hết... Thế nhưng cái lâu đài mãi đến ngày hôm qua vẫn chưa được dựng lên này, giờ đây bỗng trở thành thân thiết với Trẫm. Quả là lạ lùng đấy chứ? Chẳng phải Trẫm là nạn nhân của một tà thuật nào đó sao?
Thị Lộ hiểu rõ những nổi loạn và niềm khát vọng tự do của Hoàng đế:
- Tâu Thánh thượng. Không ạ! Vườn Lệ Chi này chỉ là sự hiện thân lòng khát vọng của Thánh thượng thèm được sống tự do. Các bổn phận một Đức vua phải gánh vác thì nặng nề, các nghi thức lại quá gò bó quy định từng hành vi trong cuộc sống của ngài và chính ngài cũng không thể vi phạm được. Nhưng không lẽ Thánh thượng lại muốn từ bỏ ngai vàng sao?
- Làm sao Trẫm có thể làm điều đó khi biết rằng ngai vàng có thể bị rơi vào tay ả ta? Ả chỉ biết dùng mưu mô cấu kết với đám hoạn quan để dẫn dụ, để bó buộc Trẫm làm điều ả ta muốn! Đúng là một con mụ vô liêm sỉ dám làm mọi điều ác, rồi đây ả sẽ bị thất sủng hoàn toàn. Còn khanh, bạn hiền của Trẫm ơi, khanh hiểu rõ các ý muốn của Trẫm. Ngay sau khi về lại kinh đô, Trẫm sẽ công bố cho tất cả mọi người biết. Đương kim thái tử sẽ bị truất ngôi, Trẫm sẽ đặt hoàng tử Tư Thành lên thay thế. Ả kia sẽ bị truất phế không còn được làm mẹ của vị thiên tử tương lai, không còn là... Hoàng hậu nữa. Mọi người phải biết rằng Trẫm là chúa tể!
Hoàng đế dán ánh mắt nhìn rực lửa lên người Thị Lộ. Nàng run rẩy chống chế:
- Nhưng còn các vị Hoàng thái hậu vẫn đang nâng đỡ bà ta?
- Trẫm luôn chu toàn bổn phận hiếu tử đối với các Hoàng thái hậu, tuy nhiên một mình Trẫm là kẻ đang nắm quyền cai trị!.
- Nhưng còn Lê Vấn, chỉ huy bộ tham mưu? Còn Thúc Huệ cựu chỉ huy cơ mật viện cũng rất đáng gờm? Và đằng sau lưng họ là những võ quan khác nữa?
- Từ khi quan phụ chính rớt đài, bọn chúng đâu còn dám ngước chân mày lên nữa! Vả lại Trẫm sẽ hành động thật chớp nhoáng. Trẫm đã truyền lệnh thì chúng sẽ phải phủ phục chấp hành, bằng không sẽ phải chết.
Nét mặt nhợt nhạt màu tro của Hoàng đế biểu lộ một uy quyền mới lạ khiến lòng Thị Lộ ngập tràn hoan hỉ. Có lẽ nào cuộc gặp gỡ với Nguyễn Trãi ở Côn Sơn đã giúp ích cho Nhà vua nhanh chóng đến thế? Tuy nhiên, nàng cũng cảm thấy âu lo vì hoàng đế đang lên cơn sốt. Nàng thắc mắc không lẽ Thánh thượng đã mắc phải chứng sốt ác tính nào đó sau cuộc thị sát các vùng đồi núi phía Bắc?
Đang lúc đó, Hoàng đế hình như vẫn đang mơ màng tận đâu đâu nên những lời ngài thốt ra cũng khó bắt kịp. Mồ hôi bắt đầu lấm tấm trên thái dương và vầng trán ngài:
- Giống như Hoàng đế Hồ Quý Ly ngày trước, Trẫm sẽ mở một cuộc bái yết trọng thể và mời tất cả quan chức lớn nhỏ trong vương triều đến... Và bắt chước Hồ Quý Ly, Trẫm cũng sẽ ra lệnh "Trăm hoa đua nở" để mọi người đều có quyền phát biểu. Trẫm sẽ lắng nghe những kế hoạch được nêu ra rồi truyền lệnh ghi chép lại tất cả. Tiếp đó Trẫm sẽ chọn lấy những cải cách cần thiết để khai nguyên cho một triều đại mới được mang tên "Triều Đại Đại chuyển biến". Bản thân Trẫm thì Trẫm sẽ đoạn tuyệt với những thói quen cũ, Trẫm sẽ tận lực thờ trời và lo lắng cho dân!
Hoàng đế nắm chặt bàn tay uy nghi lại như để diễn đạt thêm về ý nghĩa của những lời vừa thốt ra.
Thị Lộ hốt hoảng la lên:
- Tâu Thánh thượng! Ngài đang bị sốt quá rồi!
Vị Hoàng đế trẻ tỏ vẻ nôn nóng.
- Điều đó có nghĩa gì sánh với tương lai của vương triều! Triều đại thịnh suy là tùy thuộc tài năng những người phục vụ nó. À này, điều quan tâm ưu tiên Trẫm sẽ làm là tiến cử hiền tài! Trẫm sẽ thiết lập những kỳ thi mới! Chính Trẫm sẽ khuyến khích sử dụng tiếng Quốc Ngữ. Trẫm sẽ dùng loại chữ này để soạn thảo sắc chỉ, công văn... Trẫm sẽ truyền liệt kê danh sách lũ quan lại vô dụng, Trẫm sẽ hủy bỏ những phần vụ thừa thãi đè nặng trên thần dân của Trẫm…
Đôi nắm tay quắt lại úp vào lồng ngực, Hoàng đế bỗng dưng cảm thấy ngộp thở.
Thị Lộ la lên:
- Tâu Thánh thượng! Xin đoái thương nằm nghỉ đi!
Hoàng đế gạt tấm khăn làm dịu mát vầng trán qua một bên đoạn tiếp lời:
- Đó sẽ là một sự khởi đầu thực sự... Trẫm sẽ tôn trọng lời thề ước với phụ thân đáng kính... Trẫm sẽ không phong bất cứ ai giữ chức thống lĩnh quân đội vĩnh viễn ngỏ hầu. Trẫm có thể tự mình quyết định trong hành động. Trẫm sẽ xa lánh lũ hoạn quan là những đứa chuyên bày mưu vẽ kế. Trẫm sẽ bồi hoàn các đất đai bị chiếm hữu. Dân chúng sẽ thôi rên xiết. Vị huấn sư của Trẫm đã truyền dạy những gì nhỉ? Xin hãy giúp Trẫm. À phải rồi: "Ước gì trong tất cả thôn xóm làng mạc sẽ không còn tiếng ai ca thán".
Hoàng đế há hốc miệng, lấy tiếp hơi sau nhiều cơn giật đau đớn...
- Tiên sinh Ức Trai đã giáo huấn Trẫm hết sức đầy đủ về việc này. Ngài sẽ ở bên cạnh Trẫm, sẽ nắm đủ quyền hành để hợp tác với Trẫm lo cho công việc vĩ đại này. Đó là điều phải lẽ! Trẫm sẽ đền bồi lại điều bất công Trẫm đã gây cho ngài. Và như thế niên hiệu "Đại Bảo" được Trẫm chọn vào năm Canh Thân (1440) sẽ tìm lại được trọn vẹn ý nghĩa của nó... Hãy ghi nhớ lời trẫm!
Hoàng đế chợt đưa tay bấu vào cổ họng, một nỗi kinh hoàng khôn tả hiện đầy trong ánh mắt ngài. Làn da nhợt nhạt đổi sang màu đỏ tía. Ngài đang bị nghẹt thở.
- Trời! Thánh thượng ơi! Thánh thượng ơi! - Thị Lộ vội vực Hoàng đế để tựa vào gối dựa, rồi cởi vạt áo quạt cho ngài.
Lúc này, vị Hoàng đế trẻ bắt đầu thở hổn hển. Đôi bờ môi trở nên nhợt nhạt và sống mũi ngả sang màu tím. Nhìn các dấu hiệu lộ ra trên khuôn mặt Hoàng đế, Thị Lộ cảm thấy lo sợ khủng khiếp, liền lập tức van nài:
- Xin Thánh thượng cho phép thần thiếp đi gọi các ngự y.
Hoàng đế lại mở mắt ra.
- Hãy ở lại đây! - Giọng ngài nghèn nghẹn thốt lên. Rồi với cung giọng bộc lộ niềm tiếc nuối vô hạn, Hoàng đế tiếp lời: - Ồ! Mặt trời...
Mặt trời vừa lặn khuất.
Thị Lộ bước tới kéo tấm mành xuống trên bóng tối đang buông xuống trên các tàn cây. Nàng đốt lên ngọn đèn đoạn quay lại quỳ gối cạnh long sàng, âu lo run rẩy. Xung quanh nàng, sự yên lặng kỳ lạ bao trùm. Chẳng hiểu các giám quan, nhất là tên Thái giám Đinh Phúc bình thường vẫn ẩn mình sau các bức rèm rình rập cơ hội phục vụ, hiện giờ biến đâu mất cả? Tên Thái giám này thường xúi giục Hoàng đế làm bậy. Người ta còn bảo là hắn tận tâm phục vụ cho… Kinh hoàng quá đỗi, Thị Lộ vội xua đi hình ảnh gớm ghiếc đó. Ngày xưa lúc còn ở Thanh Hóa, nàng đã từng thấy những người bị mắc bệnh sốt rét rừng, nhưng Thánh thượng hiện đang mắc phải một cơn bệnh khác đầy bí hiểm cần phải chữa trị lập tức.
- Thánh thượng ơi! Xin cho phép thần thiếp đi gọi...
Đôi mắt Hoàng đế hiện đã lạc thần quay nhìn nàng chầm chậm.
- Trẫm chỉ cần… mỗi mình khanh.
Cảm thấy nghẹt thở. Hoàng đế cố ngồi lên nhưng rồi lại phải buông mình xuống như một cậu bé yếu nhược!
- Thánh thượng ơi! - Thị Lộ hốt hoảng van nài.
Vị Hoàng đế bấu tay vào chiếc cổ thanh bai trai trẻ. Một lần nữa, ngài lại cảm thấy ngột thở. Ngài muốn nói nhưng quai hàm bắt đầu cứng lại khiến ngài nói không thốt ra lời. Ngài dùng hết sức lực cố giải thoát mình khỏi cơn nghẹt cổ.
- Những tàn cây này... mùi của chúng... làm Trẫm nghẹt thở.
Nỗi kinh hoàng vô hạn chụp lên đôi mắt Hoàng đế. Nước da tái xanh ngả sang màu tím nhạt. Cơn co rút khủng khiếp làm biến dạng hoàn toàn khuôn mặt trai trẻ của ngài. Hoàng đế giật mạnh lên một cái rồi ngã xuống, cặp mắt trợn trừng lên, hơi thở ngừng lại.
Thị Lộ cúi xuống trên Hoàng đế, cố dùng giọng nói tắc nghẽn gọi ngài, nàng lắp bắp những lời như thuở nàng còn ru ngài những ngày thơ bé, đoạn dùng đôi tay nhẹ nhàng khéo léo bắt đầu, chà xát lên khuôn mặt Hoàng đế như để xóa đi nếp miệng méo xếch khủng khiếp đã làm biến dạng khuôn mặt ngài, đầu búp ngón tay nàng lướt qua lướt lại như dòng nước liên tục chảy. Không hiểu Thị Lộ có nhận ra nàng vừa xoa vừa khóc không? Nàng có nhận ra mình đang thực sự khóc trong khi cố gắng hết sức hồi sinh cho khuôn mặt Hoàng đế cái dung mạo lúc ban đầu, cái dung mạo mà lòng nàng ao ước?
Bỗng dưng Thị Lộ nhìn thấy một tia máu chảy ra từ hai lỗ mũi và khóe môi vị Hoàng đế. Nàng cuồng dại rống lên một hồi dài khủng khiếp rồi khóc vùi nức nở giữa đám hoạn quan vừa mới chạy vào. Lũ này tỏ vẻ khó chịu trước cảnh tượng phô bày hỗn loạn, chướng mắt quá mức không đúng lễ nghi dù cho đó là giây phút mà trên chiếc long xa, Hoàng đế Lê Thái Tông tuổi vừa hai mươi, đột ngột ra đi về nơi chín suối.
Đang lúc ấy Thái giám Đinh Phúc xuất hiện. Hắn ra dấu cho dẫn Thị Lộ, bấy giờ gần như đã ngất xỉu, trở về chỗ các cô bạn nàng.
Sau đó, tin Thái giám truyền lệnh: Tin tức phải được giữ bí mật cho đến khi đoàn kiệu về đến Thăng Long chờ ngài Thượng thư Bộ Lễ xem xét. Vị ấy sẽ quyết định phải nói và phải làm gì liên quan đến vấn đề của vị Thiên Tử, là Đấng vượt lên trên sự sống chết của mọi người.
Hành động khác đi là phạm tội bất kính.
—★—
Đám nông dân hoảng sợ chạy dạt khỏi lối băng qua nhanh của vó ngựa phi. Nhân vật nào mà ảm đạm phóng chạy như bay vậy? Ông ta đang vội vã tiến về đâu vậy?
Ngay khi còn ở mạn Bắc, nhận được tin Đức vua qua đời và Thị Lộ bị bắt, Nguyễn Trãi liền tập hợp đoàn tùy tùng và thay vì đi kiệu, ông đã lên ngựa phi như bay về hướng Thăng Long.
Dù đã quá độ tuổi cho phép phi nước kiệu, song chú tuấn mã xem ra vẫn phi chưa đủ nhanh theo ý Trãi muốn. Trong đầu ông chỉ có mỗi một ý nghĩ là phải làm sao cứu cho được người thiếu phụ, phải làm sao phi cho nhanh đến Kinh thành để xem sự thể ra sao. Bao nhiêu tin đồn thất thiệt lan khắp mọi nẻo đường. Dù Trãi không muốn tin rằng những tin đồn khủng khiếp ấy là xác thực, nhưng một nỗi âu lo khủng khiếp như kiềm chặt ông lại.
Có nên tin vào các điềm chỉ không? Trãi không ngớt mường tượng lại cảnh ngôi miếu thờ Thần Rắn của Hoàng thân bị đám lính tùy tòng đức vua say rượu phá phách. Hình ảnh ấy được kết hợp với hình ảnh Thị Lộ bị tống ngục. Vì vậy nỗi kinh hoàng đã xé nát ruột gan khi Trãi nhìn thấy chiếc bàn thờ nhỏ bị tàn phá, lại càng được chứng tỏ là hợp lý và càng gia tăng. Mỗi một biến cố quan trọng xảy đến trong đời chàng, luôn luôn có dính dáng tới việc thờ phụng ngôi miếu thờ thần Rắn qua lời giao ước long trọng "Cháu và con cháu về sau chớ có bao giờ bỏ phế việc dâng lễ vật tại miếu nhé". Vị Hoàng thân ông ngoại chàng, ông cậu Mộng Dũ rồi đến cả phụ thân chàng trước khi qua đời ở Trung Hoa vẫn không ngừng nhắc lại những lời này... Trãi linh cảm rằng hành động phá hoại ngôi đền sẽ đẩy chàng nhanh chóng đi đến cùng con đường định mệnh. Nhưng làm sao Trãi có thể cương lại lời phán "Nhị không tứ họa" đã được ghi trong tử vi của ông?
Hiện Thị Lộ đang bị đe dọa, cần được Trãi giúp đỡ, thế là vị nho sĩ già vội chạy đến cứu giúp. Bao dặm đường lần lượt nối tiếp theo nhau. Trãi vô cùng sốt ruột. Chỗ nào cũng đều phải chờ, phải đợi, chờ qua sông, chờ ngựa nghỉ mệt, chờ hừng đông, chờ cọp về hang... Trãi phải chờ phải đợi trong lúc biết đâu Thị Lộ đã không còn nữa để đợi chờ... Đức vua đã qua đời, Thị Lộ không còn chỗ nương tựa nào ngoài Trãi mà Trãi thì chỉ còn biết cậy dựa vào cái vinh quang quá khứ bên cạnh Lê Lợi. Thế mà trước kia Trãi đã dám thách thức với cả điều này. Ngày trước nơi dinh trại Bồ Đề, một mình đối nghịch với tất cả mọi người, Trãi còn dám kêu gọi hãy dung thứ cho đám quân thù tàn ác, và đã đạt được kết quả mong muốn, thế thì không lẽ ngày hôm nay chàng lại không cứu giúp được gì cho người thiếu phụ dấu yêu sao? Trãi sẽ đưa Thị Lộ ra khỏi móng vuốt lũ người hăm he kết tội nàng, sẽ thuyết phục cho họ thấy rõ nàng là người vô tội. Cay nghiệt thay, số mệnh nỡ xui khiến người tỳ thiếp của Trãi bị buộc vào tội sát hại người đã từng được Thị Lộ yêu quý đến độ bỏ rơi Trãi. Đức vua đã chết! Làm sao hoàn toàn tin được vào điều này?...
Nguyễn Trãi vẫn như thấy lại Thánh thượng đang thoăn thoắt bước về phía kiệu rồng chuẩn bị rời Côn Sơn. Dáng vẻ đường bệ tăng thêm nét rạng rỡ trên đôi gò má, khuôn mặt mịn màng an nhiên tỏa lộ ra sức khỏe tiềm tàng. Đức vua mới tròn tuổi hai mươi, đang yêu, đang được yêu, đang được người mình sủng ái theo hầu cận. Hoàng đế rời Côn Sơn, trong đầu chất chứa bao dự phóng đầy phấn khởi... Ngài nồng nhiệt cảm ơn Nguyễn Trãi về cuộc tiếp đón mà chẳng hề hay biết gì về sự phá phách đám lính đã gây ra trong đêm... Vậy mà, không lẽ chính ngày mùng 4 tháng 8 năm Nhâm Tuất (1441) này Hoàng đế đã băng hà? Sự cố này xảy ra chưa đầy mười hôm. Ngay sau khi Đức vua ra đi, Nguyễn Trãi đã rời Côn Sơn đi thị sát các tỉnh mạn Bắc, phần thì để chạy trốn những kỷ niệm còn phảng phất bóng hình Thị Lộ, phần thì để tạm quên nỗi bực bội khôn tả do việc tụi lính phá phách ngôi miếu. Ba tháp tùng ông một đoạn đường. "Tôn sư cứ an lòng đừng phiền muộn gì hết. Khi ngài trở về, ngôi miếu các vị tiền nhân của ngài sẽ được dựng lại xong. Hãy tin vào Ba biệt danh khéo tay này". Quả thật con người tuyệt vời đầy can đảm này đã ngây thơ thành thật tin rằng chú ta có thể sửa chữa được điều không thể nào sửa nổi! Trãi cho gửi đến Côn Sơn sứ điệp báo tin với Ba rằng ông sẽ về lại Kinh đô, ngoài ra không nói gì thêm. Dọc đường, Trãi thầm van vái: "Cầu trời cho chú ta đừng phải nghe biết thêm điều gì nữa!"
Lời van nài ấy, chính Nguyễn Trãi cũng muốn dâng lên cho bản thân mình. Bởi vì càng tiến gần đến Thăng Long, Trãi càng minh xác thêm sự kiện Hoàng đế quả thực đã qua đời. Lòng ông cảm thấy khó kiềm được nỗi âu lo.
Đến tại ngôi làng ven sông miệt Hải Dương, cùng đám thân thuộc. Trãi xuống chiếc tàu thường xuyên qua lại giữa vùng hạ lưu châu Thổ và Kinh đô. Ở đây Trãi lại còn phải chờ hành khách lên cho đầy tàu. Trong đám hành khách lên tàu gồm đủ mọi hạng người: nào là đám thương nhân giàu có trải chiếu ngồi sau mạn thuyền, nào là đám nông dân bận đồ củ nâu đem theo đủ thứ hành lý gồm những thùng nước mắm, những thúng rau cải, lồng đựng gia cầm, ngoài ra còn thêm cô gái bán bánh trung thu, vài cậu thư sinh trên đường về lại Kinh đô, một vị đạo sĩ già và hai bà lão nhai trầu bỏm bẻm. Cuối cùng con tàu rời bến chạy vào giữa lòng sông đang trong mùa con nước lớn. Khoảng tám giờ sau, con tàu này sẽ cập bến Đông Bộ Đầu.
Ngồi cạnh lão đạo sĩ già dưới mái lá che, bề ngoài Nguyễn Trãi làm vẻ thờ ơ trước ánh nhìn tò mò của đám hành khách về sự hiện diện của đám tùy tùng, tuy nhiên Trãi không bỏ sót một lời nào của đám thương nhân bắt đầu nhóm lại chơi tổ tôm:
- Chà! Công việc làm ăn ra sao rồi?
- Lúc này không mấy phát đạt.
- Thời gian tang chế bó buộc lúc nào cũng bất lợi cho việc buôn bán. Mọi sự đều dừng lại hết. Chẳng thà đừng làm gì cả và cứ sống qua ngày!
- Lễ rước đèn kể như hủy bỏ.
Thế là đi tong một dịp bở cho chúng ta.
- Tổ hợp Đông Lạc206 cũng lỗ lã không kém!. Năm rồi tổ hợp ấy bán một số gấm cho Cung đình được tới cả ngàn lượng đó!
- Người ta kháo nhau là cái chết của Đức Vua không được tự nhiên bình thường. Tớ tự hỏi tại sao họ loan tin chậm trễ như thế?
- Ôi việc triều đình quốc sự bọn mình biết gì mà bình với phẩm! - Lời cảnh giác ấy bỗng làm cho đám người đang chơi tổ tôm đồng loạt ném về phía Nguyễn Trãi tia nhìn đầy ngờ vực khiến ông xanh mặt.
- Ôi! Quên mẹ chuyện này đi! Hình như ngày mai Thái tử sẽ đăng quang. Kinh thành tha hồ mà náo nhiệt.
Một tay chơi vừa may mắn rút được một lá bài tưởng là không thể nào có còn sót lại liền la toáng lên:
- Ha hả! Thiên tử cũng thua con Tứ Văn! - Câu đùa bỡn theo một thành ngữ phổ biến ấy khiến người tham dự phì cười.
Ngoài nhóm chơi tổ tôm ra, trên tàu chẳng thấy ai cười, cả mỉm cười cũng không!
Xuyên qua tấm khăn đang rung rung vì nỗi âu lo. Nguyễn Trãi đưa mắt nhìn bạn đồng hành vẫn giữ khuôn mặt vô cảm. Cũng như chàng, tất cả bọn họ đang lắng nghe đám thương gia trò chuyện với nhau. Mới năm rồi, Hoàng đế tiêu xài phung phí cả hàng ngàn lạng bạc, thế mà giờ đây lại chết đi một cách đầy bí ẩn đang độ tuổi thanh xuân và một vị Hoàng đế, vừa mới hai tuổi đầu, sắp sửa lên thay. Tuy nhiên điều này có thay đổi quái gì đối với số phận của họ? Ngoại trừ đám thương gia nổi lên từ sau cuộc chiến, còn tuyệt đại đa số bọn họ vẫn chân mang đôi dép lủng, vẫn bận trên người bộ đồ mưa gió đã làm cho bạc phếch và dính quánh bùn lầy. Họ có bớt khốn khó hơn chăng? Nghe nói người ta đã bắt giam những kẻ bị tình nghi phạm tội, trong đó có một thiếu phụ trẻ đẹp, đồng thời lại là một nữ sĩ tài hoa, nhưng điều này can hệ gì đến họ? Ai sẽ lo cho họ được bát cơm đầy, sẽ biếu cho họ một tà áo mới vào dịp Tết, một chiếc quan tài khi họ bước vào tuổi xế chiều? Ngồi chồm hỗm xung quanh mớ rổ thúng, những nông dân rách rưới này đang chờ đợi chuyến tàu cập bến để rồi lại tiếp tục còng lưng dưới chiếc đòn gánh, cô bán bánh thì đang lo siết chặt vài đồng tiền ở dải thắt lưng, rồi đến đám học trò lo đỗ đạt làm quan, lão đạo sĩ già trở về tụng kinh nơi tu viện... Tất cả bọn người này đâu khác gì các thế hệ nông dân, tiểu thương, học sinh, đạo sĩ trước và sau họ... Các triều đại giàu sang phú quý thảy đều là phù du. Chỉ có những con người cần mẫn, bền gan này của đất Đại Việt mới trường tồn. Tư tưởng này làm dịu được phần nào cơn phiền muộn đang chất ngất nơi tâm hồn Trãi. Trường tồn là đám dân suốt ngày còng mình trên đồng ruộng, họ chính là dòng sông nâng đỡ con thuyền quyền bính... Trường tồn là dòng sông Hồng chảy vào biển cả... Trường tồn là những mái chèo vỗ nước, nhịp nhàng lên xuống ru cái thân xác mệt lử của ông sau chuyến rong ruổi trên mình ngựa suốt những ngày qua... ánh nắng ban trưa cùng với cơn mệt làm đôi mắt Trãi nhấp nháy, bờ mi khép lại.
Tiếng ho khục khặc khiến Trãi lại mở mắt nhìn. Chàng giật nảy người. Sao vị đạo sĩ này làm ông chú ý đến thế? Vô Kỷ! Có lẽ nào như thế! Cụ đã qua đời từ nhiều mùa trăng nơi tu viện ở Thanh Hóa kia mà? Làm thế nào cụ lại có mặt ở đây được. Trãi ấp úng:
- Thưa tôn hiền giả.
- Hãy nhớ lại những lời ta nói khi nhà ngươi rời khỏi doanh trại Bồ Đề. Mau quay bước trở lại, ẩn mình vào giữa vùng rừng núi và đừng lo chuyện gì khác ngoài việc bảo toàn mạng sống riêng mình. Đức vua Lê Thái Tông đã bị đầu độc. Bọn người gây tội ác này sẽ không bỏ lỡ cơ hội để đổ tội chúng lên đầu ngươi. Tỳ thiếp Thị Lộ của ngươi đã bị bắt và bị tra tấn nên đã thú nhận tất cả mọi điều người ta ép buộc nàng phải nhận. Nếu ngươi vượt qua cổng Kinh thành thì kể như đời ngươi chấm dứt!
Nguyễn Trãi kêu lên:
- Nhưng mà... nhưng mà cháu có tội gì đâu?
Những lời chống chế của ông làm ông tỉnh giấc dậy. "Thì ra đó chỉ là một giấc mơ!". Trãi nhẹ nhõm nhủ thầm, đoạn quay nhìn sang vị khách ngồi bên cạnh. Trong khoảnh khắc, gương mặt bi thảm của Vô Kỷ tựa như chiếc mặt nạ phủ lên gương mặt vị đạo sĩ cao niên và sau đó lại biến mất... Sự việc xảy ra hết sức nhanh nhẹn. Nguyễn Trãi cảm thấy lòng đớn đau bối rối dù chẳng xác định được tại sao. Phải chăng thần trí siêu vời của Vô Kỷ hiển lộ ra trong giấc mơ này để cố gắng cứu chàng? Nhưng hình dung cảnh Thị Lộ bị tra tấn, thịt da mềm mại của nàng đẫm máu khiến lòng Trãi se thắt lại. Tấm thân ấy từng được chàng biết bao trìu mến, nhớ nhung dai dẳng, từng tái đi hiện lại. Trong bao đêm tịch liêu, tấm thân Trãi đã rành rọt trên từng đầu ngón tay, từng thỏa mãn bao khát vọng thầm kín của Trãi, tấm thân từng gây bao đớn đau mãnh liệt cho ông, tấm thân ngọc ngà êm dịu ấy không thể để cho chết được! Trãi như nhìn thấy lại vết sẹo nhỏ xíu nơi mắt cá thanh tao của chân nàng, làn da thấm đẫm mồ hôi thơm như mùi hoa sen được sương mai nuôi dưỡng, vóc người thanh bai uyển chuyền của nàng... Tóm lại mọi dáng vẻ của thân thể Thị Lộ gợi lên nơi Trãi một chùm hình ảnh, cảm giác mùi hương dìm chàng ngập trong niềm cảm xúc êm dịu nồng nàn. Không thể chấp nhận để mặc nàng chịu chết. Chẳng lẽ lại trốn đi, bỏ rơi nàng một cách hèn nhát thế sao? Thà sẽ cùng chết với nàng, cùng nối kết với nàng trong hôn lễ bằng máu. Nếu đời sống giống hệt một giấc mộng và cái chết được sánh như giấc đại tỉnh mộng (theo triết học Lão Tử) thì bấy giờ Thị Lộ và chàng sẽ cùng với nhau tỉnh giấc.
Mặt trời vẫn chưa đi ngủ khi con tàu cập bến Đông Bộ Đầu. Trong khi Nguyễn Trãi mau lẹ rời khỏi tàu với hy vọng đến được Hoàng cung trước giờ đóng cửa, thì một ánh nhìn dán chặt từ phía sau lưng buộc chàng ngoái đầu quay lại. Chẳng nói một lời, lão đạo sĩ nở với Trãi một nụ cười thương xót hệt như một lời mời gọi. Lão đạo sư này muốn gì đây? Lão đạo sư chợt lên tiếng:
- Thưa tiên sinh Ức Trai, ngài là Thái phó của Đức vua. Xin cho phép tôi tháp tùng ngài, vừa nói lão vừa bước tới cạnh Trãi chung với đám đông lúc nhúc ở bến tàu.
- Thưa tôn sư, làm sao ngài biết được tại hạ trong khi tại hạ không hề biết ngài?
- Tiên sinh ẩn thân vào rừng núi theo cung cách của Vụ Quang và Quyên Tử (hai triết gia Trung Quốc ưa thích thiên nhiên hơn danh lợi) nhưng ta vẫn nhận ra được là do ở danh tiếng và khuôn mặt ngài.
Nói thế rồi, lão đạo sĩ yên lặng. Cả hai tiếp tục lặng lẽ cất bước trên đường Cây Hòe, băng qua khu chợ Đông, hướng về phía đường Hàng Cỏ là đường dẫn đến cổng Nam dành riêng cho các quan chức đi vào Kinh thành. Nhìn thấy cổng thành, Lão đạo sĩ dừng lại.
- Ta không thể mạo hiểm xa hơn. - Đoạn ngắm nhìn cấm thành, lão buột ra tiếng thở dài - Thật đáng tiếc biết bao! Một dinh thự như thế mà lại trở thành hang ổ loài thủy quái!
- Những lời này có nghĩa gì vậy?
Lão đạo sĩ buồn bã đăm đăm nhìn Nguyễn Trãi trước khi nói tiếp:
- Người học trò vương giả của ngài quá đam mê lạc thú. Vị ấy phải gánh chịu cơn vận hạn. Tuy đã biết khiêm tốn thú nhận khuyết điểm, được tiên sinh lèo lái, lẽ ra vị ấy đã có thể khơi dậy một cuộc đổi mới lớn lao. Nhưng tiếc thay! Hiện nay quyền hành nằm trong tay lũ người độc ác khôn lường khôn sánh. Ta rất lo sợ rằng thi hài Đức vua sẽ được chôn dưới hàng đống xác người.
Dù Nguyễn Trãi biến sắc mặt sạm lại, nhưng vẫn giữ được vẻ trầm tĩnh quả quyết.
- Hãy làm những điều phù hợp với hoàn cảnh, đó chính là con đường kinh sách đã vạch ra (trích trong Trung dung). Mọi nho sĩ ngay thẳng, giàu nghị lực đều không lẩn tránh điều đó thưa Tôn giả. Giờ đây tại hạ xin cáo biệt.
Sau khi vái chào nhau lần cuối, hai người chia tay nhau.
Lão đạo sĩ sững sờ đưa mắt nhìn vị nho sĩ và đoàn tùy tùng đang tiến về hướng đám lính gác cổng thành Nam. Mùi cỏ ngây ngấy vừa mới cắt được chất thành từng đống đều đặn xông lên tận cổ họng. Một chú quạ bay vút qua các tàn cây miệng buông ra tiếng oạc oạc ai oán. Đứng lặng yên, lão đạo sĩ quan sát sự việc sắp sửa diễn ra ở phía đằng trước kia.
Những ngọn giáo thô bạo đan chéo nhau tách rời Nguyễn Trãi khỏi đám thuộc hạ tùy tòng. Bọn người này tức giận cố gắng nhảy vào can thiệp nhưng đồng loạt cả hai mươi tên lính xông vào giữ vị nho sĩ chẳng kể gì đến tuổi tác cũng như cấp bậc của ngài.
Tên chỉ huy đám lính canh truyền lệnh giải Nguyễn Trãi đi. Lão đạo sĩ đứng nhìn Nguyễn Trãi bị lôi đi, miệng vừa lẩm bẩm:
- Biết rõ điều mình không chống lại được nhưng vẫn chấp nhận nó như định mệnh của mình, nhân đức tối cao là chỗ đó!
—★—
Hôm sau ngày Nguyễn Trãi bị bắt, ngọn bút của nhà chép sử Thăng Long ghi lại những dòng sau:
Năm Đại Bảo thứ hai, vào mùa thu, ngày 12 tháng tám năm Nhâm Tuất (1442), Thái tử Bang Cơ lên ngôi lấy niên hiệu là Lê Nhân Tông. Vì tuổi ngài còn nhỏ nên Mẫu hậu Tuyên Từ nắm quyền Nhiếp chính.
Nguyễn Trãi và Thị Lộ, thiếp của ông, bị truy tố về tội thi quân, đã bị tống giam và bị đem xét xử.
Thế rồi hai ngày sau, cũng ngòi viết ấy kinh hãi run lên viết tiếp bản án khủng khiếp về vụ án được mệnh danh "Vụ án Lệ Chi viên".
Nguyễn Trãi bị kết án tru di tam tộc. Bị xác nhận là đã xúi giục tỳ thiếp Thị Lộ của mình đầu độc Đức vua, và như thế là đã phạm vào tội nặng nhất trong "thập đại ác".
Nguyễn Trãi sẽ bị chém đầu cùng với tất cả thành viên gia tộc của y (nhánh cha, mẹ và vợ) vào ngày 16 tháng tám này trên quảng trường chợ Đông.
—★—
Ba vừa dụi mắt vừa bước ra dưới hàng hiên.
Suốt đêm qua chú đã uống rượu đến quá mức nhằm cố quên đi sự thật gớm ghê là vào buổi sáng ngày mai, tôn sư yêu quý của chú sẽ bị đem hành hình cùng với toàn bộ thân tộc ngài tại quảng trường Chợ Đông, ở sát cạnh.
Ngày vừa lên, buổi sáng mùa thu khí trời dịu mát. Trời đã tạnh mưa. Trên các tàn cây, những giọt nước rỉ rả nhỏ xuống từ các lá cây đã được tưới mát. Mùi đất ẩm dễ chịu xông lên. Không khí trong lành như hơi thở trẻ thơ. Ba chỉ kịp nhìn qua đứa con trai mới sinh trước khi hối hả chạy về Kinh đô, lòng như khùng điên linh cảm thấy điều tệ hại nhất sắp sửa xảy ra... Và thế là vào chính buổi sáng đẹp trời như hôm nay, tôn sư của chú sẽ phải chết một cái chết nhơ nhuốc, ngài, anh em ngài, các con trai, cháu trai ngài và cả Thị Lộ nữa. Tại sao thế? Tại sao máu phải đổ tràn lan ra như thế? Sao lại xảy ra sự tàn khốc như thế? Sao ông trời lại cho phép một sự bất công như thế xảy ra?
Ba ngồi xuống, đúng hơn là sụp xuống trên bậc thềm của tòa nhà. Chú không ngán những lệnh cấm, bởi vì chốc nữa đây người ta sẽ giết mất tôn sư của chú rồi. Nỗi đớn đau đâm thấu ruột gan chú. Tôn sư chú vô tội! Đây là lần không biết thứ mấy mươi trong chiếc đầu khốn khổ như sắp vỡ tung của chú vang lên câu biện hộ phủ nhận mọi lời tố cáo phi lý rằng tôn sư chú đã nhúng tay vào một âm mưu tạo phản. Thực ra tôn sư chú quá ngay thẳng, một con người không hề biết khoan nhượng, phát ngôn thì lại quá thẳng thắn nên đã gây ra biết bao kẻ thù. Lẽ nào một người như tôn sư lại có âm mưu, nhất là âm mưu giết chết Nhà vua, trong khi chính tôn sư luôn cố góp công xây dựng triều đại, giáo huấn Thiên tử thuở còn thơ, đồng thời cũng đã được Nhà vua sủng ái. Tại Côn Sơn, chính mắt Ba trông thấy Thiên tử biểu lộ lòng tôn kính sâu xa đối với vị thái phó của ngài, và giữa hai vị rõ ràng thực sự hòa hợp với nhau. Còn về phần Thị Lộ, thì lúc bấy giờ nàng đang ngự trị trong trái tim Đức vua, được ban cho tước lộc trên đám hậu cung thì làm sao nàng lại có thể lầm đường lạc lối đến độ đầu độc Đức vua được? Chưa nói đến việc chính nàng cũng luyến ái Nhà vua, làm như thế khác nào tự cưa đứt cành cây trên đó nàng đang ngồi?
Mộng Tuân và Lý Tự Tân đã trả lời cho Ba:
- Chúng tôi đã biết tất cả điều đó. Cội rễ tấn thảm kịch này thuộc lĩnh vực chính trị. Bằng cách tiêu diệt Nguyễn Trãi và thân tộc ngài, Mẫu hậu Tuyên Từ tưởng rằng mình tiêu trừ được phe đảng Hoàng tử Tư Thành.
- Nhưng tôn sư đâu có liên quan gì với Hoàng tử Tư Thành, ngài chưa chắc đã biết đến vị Hoàng tử ấy:
Mộng Tuân kiên nhẫn giải thích:
- Thị Lộ thì biết và có liên can, chỉ điều đó đủ giải thích tất cả. Bị phe cánh võ quan căm ghét Nguyễn Trãi xúi giục, Mẫu hậu Tuyên Từ đã quy tội Nguyễn Trãi có liên đới với tỳ thiếp của ngài. Chính tỳ thiếp này phạm một tội duy nhất là đã giúp cho vị hoàng tử và người mẹ tức là Thứ phi Ngọc Dao được Hoàng đế sủng ái, thoát khỏi cơn cuồng nộ ghê rợn của Thái hậu Tuyên Từ.
Những chuyện rắc rối như thế trong chốn hậu cung thì mặc kệ chúng! Chẳng có lý do nào biện minh cho việc giết hại những người vô tội! Nhưng làm sao đối đầu nổi với bọn liên minh với bà Nhiếp chính? Khốn cho con lợn vô lương tâm này! Ước chi máu những kẻ vô tội này rơi xuống trên đầu mụ, trên đầu con cái, cháu chắt mụ. Là một nông dân nghèo khổ thấp cổ bé miệng như Ba thì có thể làm được gì? Các vị đại thần trong triều cũng như đám cận thần ngày trước của Lê Lợi như Mộng Tuân và Lý Tự Tân cũng chẳng cứu vãn nổi. Lễ phẩm họ dâng cho tay thái giám của Thái hậu cũng chẳng giúp họ được nào bái kiến. Không lời thỉnh cầu nào của họ được chuẩn y. Và khốn thay, kể cả lời thỉnh cầu cuối cùng là xin cho thân xác vị tôn sư sau khi bị hành hình được giao lại cho họ, để họ có thể chôn cất ngài theo đúng nghi thức, cũng chẳng được chấp thuận. Người ta nói bóng nói gió nếu họ cứ nài nặc van xin như thế thì có thể gây nguy hiểm cho tính mạng của họ và của gia đình họ. Ba như cảm thấy trong việc hăm hở tiêu diệt Tôn sư của chú còn ẩn chứa một lý do nào khác nữa. Chú liền bộc bạch ra với Mộng Tuân và Lý Tự Tân nhưng hai vị chẳng hề tỏ ra giật mình sửng sốt gì cả. Chẳng hiểu họ có cùng ý nghĩ như chú không?
- Biết đâu chính Thái hậu đã cho đầu độc Hoàng đế, vì ngài thường hay thay đổi ý kiến, nhằm cho con trai mụ được nối ngôi vua và đương nhiên mụ sẽ nắm quyền Nhiếp chính thì sao? Giả dụ để bịt miệng thiên hạ, mụ đã trút tội ác của chính mụ ta lên đầu những người vô tội thì sao?
Dòng lệ lạnh ngắt tuôn tràn đẫm ướt gờ má Ba: Giờ đây vị tôn sư chỉ còn cách chấp nhận số phận nghiệt ngã của ngài, phải chịu chết và nhìn thấy những người thân của ngài bị chết, phải mang thân phận tội nhân ở cõi này và làm con ma lang thang trong cõi khác. Thật thảm thương thay! Chắc chắn phải nói rằng, định mệnh con người đã được ghi khắc trong các vì tinh tú từ muôn thuở, đã để cho chữ "tài" và chữ "tai" cùng chung nhịp với nhau. Phải chăng vị tôn sư của chú đã linh cảm thấy chung cuộc đến gần trong lần cuối cùng trên ngọn đồi vùng Côn Sơn khi ngài nói: "Cái chết của ta ngày mai đây sẽ có sức nặng như thế nào?"
Nghe tiếng bước chân trong hành lang, Ba ngừng khóc ngẩng đầu lên: Mộng Tuân, vị khách của y và Lý Tự Tân đang tiến về phía chú. Gương mặt họ trông còn tái hơn bộ lễ phục quỳ sắc của họ (các thành viên giới quý tộc và văn sĩ trong thời gian quốc tang thường mang chiếc áo dài rách tua màu sừng trâu). Ngay những giờ phút đen tối nhất trong cuộc chiến chống quân Minh, Ba vẫn chưa bao giờ trông thấy gương mặt họ tái nhợt đến thế.
- Tiểu đệ ơi, giờ phút đã đến rồi! Người ta cho chúng tôi hay đoàn dẫn độ những người tử tội hình đang trên đường ra pháp trường. - Giọng nói Mộng Tuân run run.
Ba cũng bắt đầu run theo. Bỗng dưng chú thèm được chạy trốn khỏi chốn này. Chú không muốn thấy, không muốn nghe gì hết. Hai hàm răng chú đập vào nhau cầm cập.
Hai vị lão đại thần đau khổ đứng chờ. Cũng như Ba, họ có bổn phận tháp tùng Nguyễn Trãi, người bạn, người đồng chí và cũng là người anh em, tới tận ngưỡng cửa miền Chín suối trong phút vĩnh biệt cuối cùng.
Ba nâng vạt áo lên lau mắt, đoạn bước theo họ.
Cánh cổng thành Đông vừa mở ra thì mọi cư dân ở Kinh thành, ở vùng ngoại ô và vùng châu thổ đều dán chặt mắt nhìn vào đám dẫn độ tội nhân. Đã bao giờ người ta chứng kiến một sự phũ trương lực lượng đối với một cuộc hành hình tương tự thế này chưa? Mộng Tuân, Lý Tự Tân và Ba trao mắt nhìn nhau. Đây đích thực là trò bày vẽ ra nhằm làm cho dân chúng càng thêm xác tín vụ này liên quan đến những tên phiến loạn nguy hiểm.
Sau khi dàn trải ra hàng đống xung quanh khu vực chợ, đám lính dùng cán dao hoặc cán giáo xua đám đông dạt ra để các phán quan cưỡi trên mình voi có trang bị loa, xếp thành hai hàng tiến tới. Họ bọc kín pháp trường đã dựng sẵn bốn mươi cây cọc dài, mỗi bên hai mươi cây. Nhìn dàn cọc, Ba cảm thấy rợn người trong khi đám đông buông to tiếng thở dài kết thúc sự đợi chờ vì đám tử tội đang bước đến gần. Hàng ngàn nét mặt trông khẩn trương đang tò mò hệt như loài thú đánh hơi được mùi máu, họ tàn bạo trừng trừng cặp mắt như muốn nuốt chửng đám phạm nhân gần như đã chết hay có thể nói đang giẫy chết này. Ấy thế mà vị tôn sư từng chiến đấu không mệt mỏi, từng lên tiếng đòi hỏi nhân nghĩa cho lũ dân này! Bỗng dưng Ba cảm thấy dãy cọc trồng kế cạnh đang chờ treo lủng lẳng những thủ cấp bê bết máu của đám tội nhân bị hành hình cũng không ghê tởm bằng tâm hồn các đồng bào của chú, đám dân mà Tôn sư chú từng xiết bao yêu mến! Thằng con trai chú vừa chào đời trong một thế giới nào đây? Không phải là một thế giới chẳng sá kể gì mạng sống một bậc vĩ nhân, một đại văn hào, một thế giới đã đối xử với một đấng anh hùng, một cứu tinh của tổ quốc như đối xử với một tội nhân sao?
Đám phạm nhân bị đem đi hành hình cổ đeo gông, tay bị cột chặt đang nặng nề lê bước, phía trước họ là quân lính hoàng cung, xung quanh là bọn đao phủ, khí giới tuốt trán sáng loáng. Đám phạm nhân bao gồm toàn bộ gia đình Nguyễn Trãi, các em trai ngài là Bảo, Lý, Phi Hùng, các anh em họ ngài, các người con trai là Khuê, Ứng, Phù và các cháu trai ngài, tất cả mọi người miêu duệ nam giới, tựu trung gồm bốn mươi người thuộc đủ lứa tuổi trong đó có sáu đứa trẻ đang giương cặp mắt kinh hoàng.
Khắp nơi dội vang những tiếng kêu tiếng la lạc lõng, tắc nghẽn của đám phụ nữ động lòng thương xót.
Mộng Tuân, Lý Tự Tân và Ba đưa mắt đăm đăm nhìn đám phạm nhân đang chèn chân lên nhau bước tới. Nguyễn Trãi đi ở giữa cạnh Phi Hùng em ngài, chiếc đầu thanh bai ngẩng cao giữa chiếc cùm gông. Búi tóc vẫn cột theo kiểu dị thường như mọi ngày cộng thêm vẻ trào lộng hiện ra trong nụ cười xa vắng tạo cho Trãi dáng vẻ một văn nhân đang cao hứng cầm ngọn bút nơi tay mà dù thần chết bất ngờ chụp xuống vẫn không làm cho gián đoạn. Lúc này đây, Lý Tự Tân như đang thấy lại vị đình nguyên trẻ tuổi ngày xưa đang tiến ra trước ban giám khảo cuộc thi Đình. Ông muốn nói nhưng cổ họng như bị nghẹn không nói được. Còn Mộng Tuân thì vừa chỉ đám đông vừa thầm thì:
- Chẳng hiểu họ có hay biết rằng người ta đang giết chết vị thi hào lỗi lạc nhất của chúng ta ngay trước mặt họ không?
Về phần Thị Lộ, người đi ở cuối đoàn tử tội, thì quả thực khó nhận ra. Mái tóc mây xõa dài trên chiếc áo dài đẫm máu, nàng có khác nào cánh hoa tả tơi. Trông nàng đúng là đang bị kéo tới chứ không phải đang bước tới. Hai vị đại thần cao niên cắn môi để khỏi quay mặt đi trong khi Ba cố đè nén tiếng nức nở.
Đến giữa khoảng đất, sau khi được bọn lính tháo gông ra khỏi cổ, đám phạm nhân ngoan ngoãn quỳ gối xuống. Bọn lính buộc mớ tóc dài của các phạm nhân vào cọc rồi dùng dây tre bện mà chúng cài sẵn trên chỏm tóc, cột chặt lũ nhóc con với những cái đầu còn nhẵn thín.
Những chiếc chiêng treo ở đầu gậy của đám phu khuân vác ngân vang nghe ảm đạm trong tia nắng ban mai. Đám phạm nhân đang cố gắng an ủi lũ trẻ bắt đầu rên khóc.
Từ bốn phía người ta hỏi nhau:
- Họ nói gì vậy?
- Họ nói: "Con ơi thà chết với bố còn hơn sống với loại người ấy".
Tiếng chiêng và tiếng trống vang lên. Đám đông yên lặng như tờ. Qua chiếc loa phóng thanh bằng đồng, viên Phán quan đọc to bản án ghi bằng nét chữ lớn trên tấm thẻ gỗ:
Xét rằng tội phạm tên là Nguyễn Trãi, người tỉnh Hải Dương, đã được xét quả là phạm tội phản loạn.
Xét rằng hắn là kẻ xúi giục một cuộc âm mưu phản loạn nhằm mục đích giết Thiên tử, với sự đồng lõa của ả tỳ thiếp Thị Lộ.
Xét rằng hắn đã phạm vào tội nặng nhất trong "Đại thập ác" vì thế tên Nguyễn Trãi đã bị kết án hình phạt tru di tam tộc. Để trừng trị đích đáng sau khi hành hình hắn xong, các di cảo và tác phẩm của hắn sẽ bị thu gom và thiêu đốt đi.
Khâm thử!
Vừa nghe xong, Mộng Tuân, Lý Tự Tân và Ba đều giật nảy mình: Qua là đối với bọn này, giết người và tiêu diệt hậu duệ người đó vẫn chưa lấy làm đủ. Như công cụ của một định mệnh tàn khốc, hành hình thể xác Nguyễn Trãi chưa đủ, lũ quỷ này còn muốn xâm phạm đến cả tâm hồn ngài nữa. Quá thất vọng. Ba đăm đăm nhìn vị Tôn sư đang bị buộc vào cây cọc. Thế rồi luồng mắt hai người đã chạm nhau và bỗng hiểu ý nhau. Tác phẩm! Tác phẩm vẫn còn nằm tại Côn Sơn. Cần phải cứu cho được cả ngàn trang giấy chép đầy bao hàng chữ! Ba đưa tay ra một dấu hiệu. Không biết tôn sư có thấy được không?
Tên đao phủ vừa buông ra câu nói cộc cằn thô lỗ vừa bẻ gập chiếc đầu Nguyễn Trãi xuống rồi dùng bả trấu vạch lên gáy ngài một vệt đỏ để làm dấu.
Tiếng viên phán quan hét to qua loa phóng thanh truyền lệnh cho từng đao phủ kiêu hãnh đứng vững chắc phía sau từng phạm nhân.
-Trảm quyết!
Tiếng lệnh vang dội khắp bốn góc pháp trường đang yên lặng như tờ.
Cơn khắc khoải điên loạn khiến cho thần kinh Mộng Tuân, Lý Tự Tân và Ba cảm thấy nhức nhối. Cả ba đăm đắm tập trung nhìn vào duy nhất hai phạm nhân Nguyễn Trãi và Thị Lộ.
Chẳng hiểu do tình cờ hay tiền định, vị nho sĩ và người thiếu phụ đối mặt với nhau. Tiếng gồng đầu tiên vang lên. Nguyễn Trãi giương cặp mắt sâu thẳm không chớp mi dán chặt vào cặp mắt đăm đăm xao xuyến của Thị Lộ. Rồi tiếp theo tiếng gồng thứ hai vang lên. Trong lúc hai đao phủ giương mắt tập trung nhìn vào vệt đỏ trên gáy hai người, đoạn giơ thanh đao lên, thì hình như Mộng Tuân trông thấy nụ cười cao nhã rạng rỡ trên khuôn mặt hai phạm nhân này mặc cho bóng tối tử thần đang sắp chụp xuống. Vào lúc tiếng gồng thứ ba vang lên, không hiểu hai phạm nhân này có nghe tiếng đao rít gió phập xuống trên cổ họ không? Nơi tròng mắt xuất thần của họ hiển lộ ra ánh chớp của niềm vui trong sáng được thần chết biến thành vĩnh cửu. Hai chiếc đầu rơi xuống. Đầu Nguyễn Trãi vẫn còn dính vào một miếng da nên tay đao phủ phải bồi thêm cho đứt trước khi thân xác hai người đều đổ xuống hòa chung hai dòng suối máu.
Nỗi đớn đau trào ra môi miệng, hơi thở như bị đứt quãng khiến cả ba người Mộng Tuân, Lý Tự Tân và Ba hầu như không thở được nữa. Xung quanh họ đám đông lúc nãy trông còn thản nhiên giờ bỗng rung động giật nảy người: Máu! Máu!
Máu của dòng họ Nguyễn tựa như máu của tất cả động mạch bị chặt đứt đang chảy tuôn ào ào như suối khiến mảnh đất Đại Việt uống chẳng kịp, dòng máu ấy vọt ra khác nào những con thác sủi bọt dưới chân đám đao phủ và những thớt voi, chảy lênh láng tràn trề ồ ạt phân thành ngàn khe suối nhỏ, lan xa tận vòng đai đám lính gác, len vào tận hàng người đầu tiên đang chăm chú nhìn dòng máu trông giống hệt cơn thủy triều tựa như chuỗi hồng ngọc nhấp nhánh lấp loáng dưới ánh sáng mặt trời. Tất cả mọi chỗ trên khoảng đất khu chợ Đông đều nhuộm đỏ.
Chắc chắn oan hồn các tử tội đang dùng dòng suối máu kinh khiếp này để biểu lộ cơn cuồng nộ của mình đối với những người đang sống. Bỗng dưng đám đông sợ hãi lùi lại, tay chân luống cuống! Sợ quá đâm ra ám ảnh, ảo giác, đám đông co rúm người lại như đang nhìn thấy hồn ma bốn mươi tử tội vừa bị chém đầu đang bay lơ lửng trong bầu không khí tắm ánh nắng mai, rồi tụ họp nhau xông tới nhào xuống trên họ. Dòng máu tuôn xối xả đang kêu gào đòi công lý.
Ngay lúc đó, mặt trời bỗng dưng bị mây che khuất. Một con trâu rống lên một hồi dài trong gió. Đám phụ nữ van vái khấn xin, số người khác đưa tay nắm lấy bùa hộ mệnh đeo trong người.
Ba chẳng cảm thấy tiếng gió lốc âm hồn các kẻ bị hành hình tạo ra, cũng chẳng để ý đến một lão đạo sĩ đang dạt các hàng lính canh qua một bên để tiến tới. Từng bước một, chú bắt đầu rút lui ra khỏi đám đông. Chú tạm gác nỗi muộn phiền lại và nhanh hết sức chú phải chạy nhanh đến bên Đông Bộ Đầu, tìm một chiếc thuyền về lại Côn Sơn trước khi quân lính triều đình đến lục soát thư phòng của vị Tôn sư. Chú chỉ mãi nghĩ đến hang động Thanh Hư ngày xưa vị Hoàng thân đã bố trí, ở đó có vô số đường hầm dẫn đến chỗ cất giấu dưới hang.
Trong cùng lúc đó, lão đạo sĩ vén tà áo lên, dạt hàng lính qua một bên và tiến đến chỗ hành hình trước cặp mắt sững sờ của đám đông mà chẳng ai dám cản. Chính lão đã tháp tùng Nguyễn Trãi đến tận cổng thành Nam cách đây chỉ mới vài ngày. Lão giương cặp mắt sắc bén đảo nhìn hết đám đông, qua các tay pháp quan chễm chệ trên mình voi, rồi đến đám cọc dài đang đong đưa những chiếc đầu bết máu tiếp đến là đống máu đang bắt đầu đông đặc lại chẳng khác gì một tấm khăn rộng nặng nề trải ra xung quanh các thân xác không đầu, đoạn vừa đưa tay lên trời lão vừa kêu to, giọng nói chứa chan dòng lệ:
- Trời hỡi! Trời hỡi! ngài hủy diệt tất cả vạn vật trong thế giới này nhưng ngài không là độc ác, ân phúc ngài trải dài đến muôn ngàn thế hệ nhưng ngài cũng chẳng phải là tốt lành. Đạo Trời là thế đó!.
[←196]
Mánh khóe tiếp khách làng chơi, mà Tú Bà dạy cho nàng Kiều trong "Truyện Kiều"
[←197]
Các tên giám không bao giờ được phép nói chuyện một mình với các cung phi, cũng không được nhìn thấy họ
[←198]
(Từ cũ, Văn chương) mưa và sương; dùng để ví ân huệ trên ban xuống
[←199]
Buông thả tâm tham ái chạy theo ngũ dục, ngũ trần
[←200]
Người từng giúp Lưu Bang dựng lên nhà Hán, về sau trở thành Tể tướng
[←201]
Họa sĩ kiêm thi sĩ nổi tiếng đời Đường (699-758)
[←202]
(Từ cũ) Không ngay thẳng, xấu xa
[←203]
(Từ cũ, Văn chương) mưa và sương; dùng để ví ân huệ trên ban xuống
[←204]
Con trai Ngọc Dao sau sẽ là Hoàng đế Lê Thánh Tông (1460-1497)
[←205]
Quả lệ chi: Quả vải, từng là cống phẩm dành cho vua chúa
[←206]
Tổ hợp này gồm nhóm thợ dệt lụa, gấm, nhiễu, hiện tại là "hàng lụa" ở Hà Nội