Nhưng có một chuyện phải kết thúc đã.
Sơn đã ra tòa. Tôi đã bay từ San Jose xuống trước hai ngày vì không biết ngày nào tòa sẽ gọi tôi lên làm chứng. Thu lại đón tôi ở sân bay. Chúng tôi về nhà được một lúc thì Sơn đi làm về. Trông anh gầy hơn nhưng khỏe hơn năm ngoái và khỏe hơn lúc chúng tôi sống với nhau. Trên mặt anh có một vẻ bình thản mới.
“Anh Sơn thay đổi nhiều lắm” - Thu đã nói với tôi trên đường từ sân bay về - “Giờ ảnh trầm hơn nhiều. Hôm nào cũng đi làm khuya mới về, cuối tuần lại đi làm với bọn em.”
Hôm sau, chúng tôi đến tòa từ sớm nhưng luật sư dặn chúng tôi không vào để bồi thẩm đoàn khỏi quen mặt và có thành kiến trước về người làm chứng. Vậy là tôi ngồi ở ngoài quán cà phê viết cả ngày. Bên ngoài, xe cộ vắng vẻ, cây cối trụi lá. Qua cửa sổ nhìn ra, tôi bỗng nhớ khi còn nhỏ, tôi thường ngồi thò hai chân qua cửa sổ nhìn người qua lại trong lúc cửa nhà khóa trái, bố mẹ đi làm chưa về. Với đứa bé gái là tôi lúc đó - thế giới nhìn qua cửa sổ của em bé ấy thật rực rỡ và kỳ diệu. Lúc ấy, tôi đã nghĩ đến thế giới và vũ trụ bằng toàn những điều cao cả và hạnh phúc. Mùa thu năm 2000, một mình sang Mỹ, tôi đã xao xuyến thế nào khi nghe câu “Welcome to America!” lúc đứng trong hàng người ở sân bay Los Angeles chờ nhập cảnh.
Thế mà giờ đây, hỡi ôi, tôi đang ở bên ngoài một tòa án Mỹ chờ đối đầu với cỗ máy tư pháp có thể công bằng nhất mà cũng có thể xảo quyệt nhất của cái đất nước mạnh nhất thế giới - một đất nước luôn có thể lạm dụng trí tuệ của nó cho việc bẻ gãy, khuất phục con người. Hỡi ôi, tôi đang ra tòa làm chứng cho chồng cũ của tôi. Cuộc đời khó có thể nói trước điều gì nhưng dường như cũng không cho ai ăn gian cả. Tính bất định của nó buộc người ta phải buông tay khỏi những mong muốn xếp đặt, toan tính lấy bất cứ điều gì từ nó. Cái cây ngoài cửa sổ là một khối xanh không liên quan đến tôi ngồi đây, dù tôi thích hay ghét hay gọi nó là gì. Cái ghế trước mặt tôi im lìm không nói, không có bất cứ dính líu gì với tôi dù tôi thích hay ghét hay gọi nó là gì. Thu ngồi trước mặt tôi là một khối thân tâm liên tục biến đổi và bản chất không thể dính líu gì vào tôi. Mọi thứ trên đời đều thế. Kể cả cha mẹ chồng con, trong bản chất là các hiện hữu độc lập. Thế mà tôi đã luôn vơ vào, cứ luôn cố dính vào chúng bằng cách ảo tưởng ra các ý nghĩa rồi bám lấy các ảo tưởng đó, và rồi khổ sở.
“Chị Việt chẳng nói năng gì cả nhỉ?” - Thu nói.
Tôi có gì để thêm vào cái này ngoài cười?
Gần 3 giờ chiều, quán cà phê đóng cửa. Tôi vào nằm trên ghế sau ô tô trong bãi đậu xe. Rồi trời đổ mưa sầm sập; nước mưa đập rào rào vào kính xe. Tôi ngồi dậy nhìn ra ngoài thì thấy cô gái nguyên đơn cùng mấy người bạn chạy từ tòa vào bãi đậu xe. Tôi không muốn họ nhìn thấy nên vội hụp người xuống rồi cứ lom khom trên ghế sau như thế. Lom khom một lúc, tôi bật cười, ngồi thẳng dậy.
Ngày hôm sau, 8 giờ sáng, chúng tôi ra khỏi nhà. Suốt buổi sáng, họ chất vấn phía cảnh sát. Đến 2 giờ chiều, Thu ra quán cà phê gọi tôi, Trường, Nam, và Quảng nhưng chúng tôi chưa được vào phòng xử mà phải chờ trong phòng nhân chứng kín mít, khóa trái cửa. Ba người đàn ông quá căng thẳng nên liên tục nói chuyện.
“ Man! Em run quá, xong đi cho rồi. Đây là lần thứ hai trong đời em căng thẳng thế này, lần trước là lúc vợ em lên bàn đẻ và bác sĩ bảo không thấy tim thai, phải mổ, mà họ đâu có cho mình vào, trời ơi, em gần phát điên luôn đó... cứ đi tới đi lui như gà mắc đẻ.”
“Nếu mấy ổng ra bảo mình, đưa tôi mười ngàn rồi khỏi phải ra tòa tiếc gì cả, thì tôi đưa luôn.”
Chúng tôi tiếp tục chờ... Cuối cùng, một phụ nữ vào phòng gọi tên tôi. Tôi đứng dậy theo bà ta vào phòng xử án.
Thẩm phán là một phụ nữ đã già, tóc bạc trắng, khuôn mặt cứng rắn. Khi tôi bước vào phòng, Bernie mời tôi lên bục nhân chứng. Nhân viên tòa yêu cầu tôi giơ tay phải, thề chỉ nói sự thật. Thẩm phán mời tôi ngồi xuống. Sau đó Bernie bắt đầu hỏi tôi:
“Tên cô là gì, và xin đánh vần.”
“Tôi đánh vần tên tôi.”
“Cô sống ở đâu?”
“Tôi sống ở San Jose, California.”
“Cô làm nghề gì?”
“Tôi là research assistant professor tại Đại học San Jose.”
“Cô có biết Sơn Nguyễn không?”
“Có.”
“Cô biết anh ấy như thế nào?”
“Sơn Nguyễn là chồng cũ của tôi.”
“Hai người kết hôn bao giờ?”
“Chúng tôi đăng ký kết hôn năm...”
“Hai người ly hôn khi nào?”
“Năm 2010.”
Hai người sống ở đâu trong lúc kết hôn?”
“Nhiều nơi. Oregon, Chicago, New Jersey, New Hampshire...”
Bạn muốn biết thế nào là địa ngục ư? Bạn hãy vào một phòng xử án ở Mỹ - và có thể là phòng xử án nhiều nơi trên thế giới. Khi bạn ngồi trên bục nhân chứng - dù bạn là nhân chứng chứ không phải bị can - bạn sẽ có cảm giác bạn không còn là một con người mà là một con ruồi bị ghim cánh đặt dưới một cái búa máy khổng lồ. Ở đây không có chỗ cho bất cứ sai sót nào; mỗi lời bạn nói ra phải chính xác hoàn toàn, không thiếu, không thừa. Một từ thừa sẽ là đầu mối cho một cuộc hỏi cung mới. Một từ thiếu sẽ là đầu mối cho những nghi vấn mới. Một sự ngập ngừng là chìa khóa mở một loạt câu hỏi xoáy. Một ánh mắt không tự tin là tia lửa châm vào khối thuốc nổ. Không chỉ 11 thành viên bồi thẩm đoàn mà cả thẩm phán, luật sư của đối phương, luật sư của bạn, cảnh sát phiên tòa, thư ký phiên tòa, và những người trong phòng xử án đều dán mắt vào bạn. Thừa hay thiếu, ngập ngừng hay im lặng không đúng chỗ - bạn có thể khiến cho số phận một ai đó thay đổi từ một năm thành năm năm, từ chung thân thành tử hình hay trắng án. Cả phòng xử là một bàn cờ của đầu óc và chữ nghĩa. Ma trận chữ nghĩa. Ma trận lời. Lời, lời, và lời. Số phận con người treo trên lời. Không có chỗ cho cảm xúc và những khoảng xám. Trắng hay đen? Chỉ có lý lập trên lời. Cảm giác về sự bất lực có thể làm bạn bủn rủn chân tay, nôn thốc nôn tháo.
Tôi ngồi đó, vừa bình tĩnh lạ lùng vừa ghê rợn với cái chúng ta đang làm với nhau trong những phiên tòa, trong toàn bộ hệ thống pháp lý, tòa án, nhà tù, quân đội, cảnh sát; và rộng ra là toàn bộ những đối đãi chúng ta đang làm với nhau nhân danh nhiều tên gọi có tính trá hình mà ta không biết: “kinh doanh”, “giáo dục”, “y tế”, “công lý”, “an ninh”, “hợp tác phát triển”, “phồn vinh”, “thịnh vượng”, thậm chí cả “đạo đức”, “bổn phận”, “trách nhiệm”, và nhất là “tình yêu”. Loài người có trí tuệ siêu việt nhất trong các sinh vật hữu hình trên trái đất này nhưng chúng ta chủ yếu đang sử dụng khả năng trí tuệ ấy vào việc tranh đấu hơn thua với nhau.
Công tố viên - một người đàn ông da trắng ngoài 50 - rất dày dạn kinh nghiệm. Ông ta hỏi tôi những câu hỏi nghe rất thủ tục và rời rạc nhưng đều có khả năng tự liên kết trong óc suy luận của bồi thẩm đoàn nhằm kết luận rằng những “bằng chứng” mà tôi cung cấp đều chỉ là suy đoán hoặc sự nhớ lại không đáng tin của tôi. Tôi biết ông ấy không có ác ý với tôi, ông ấy chỉ đang làm phận sự của mình. Ông ấy xoáy vào chi tiết Sơn cởi trần, mặc loại quần lót dùng một lần. Ông ấy muốn chứng minh rằng Sơn mặc thế tức là anh đã chủ động lên kế hoạch phục kích cô gái với mục đích xấu. Tôi trình bày rằng Sơn đã có thói quen này trong nhiều năm, từ lúc còn sống với tôi, vì có khoảng thời gian dài, tuần nào Sơn cũng đi công tác bốn ngày, phải sống ở khách sạn nên anh chuyển sang dùng loại quần du lịch mặc một lần để khỏi phải giặt đồ; sau đó thì Sơn thành thói quen.
“Cô nói anh ta phải đi công tác, trong thời gian bao lâu?” “Hằng tuần, từ sáng thứ Hai đến tối thứ Năm.”
“Lúc đó hai người sống ở đâu?”
“Chicago.”
Không lâu sau, họ gọi Sơn lên thẩm vấn. Họ thẩm vấn rất lâu. Đây là lần đầu tiên trong những năm biết nhau tôi thấy Sơn có biểu hiện sợ. Không phải vì anh sai. Mà vì chỉ cần anh cuống, nói nhầm thì anh sẽ trở thành sai và ở tòa thì không ai châm chước việc tiếng Anh không phải ngôn ngữ mẹ đẻ của Sơn.
“Bình tĩnh, bình tĩnh” - tôi nói với Sơn trong đầu.
Lúc này, tôi không thể làm gì thêm, ngoài một việc. Tôi nhắm mắt lại, nguyện rằng nếu những gì Sơn đang phải trải qua có bất cứ nguyên nhân nào là do tôi - tức sự hiện hữu của tôi trên đời khiến Sơn phải có những hành động, lời nói, ý nghĩ đưa đến ngày hôm nay, nghĩa là nếu như đây là quả của một nhân nào đó mà tôi là một phần chủ nợ thì tôi xin xóa hết tất cả các nợ đó cho Sơn. Tôi nguyện rằng nếu tôi thực sự đã luôn có quý nhân phù trợ để lúc nào cũng may mắn thì tôi xin chia may mắn cho Sơn, nếu có thể giúp anh. Tôi nguyện rằng tất cả phước đức, phúc lành mà tôi từng có khi làm bất cứ việc thiện nào nhỏ nhất trong đời này, tôi cũng sẽ chia cho Sơn. Tôi cầu mong tất cả những tâm lành trên thế gian, tất cả những tâm từng tôn trọng công lý hãy trợ giúp để thẩm phán và 11 người trong bồi thẩm đoàn sẽ có sự minh mẫn và công tâm để làm sự thật sáng tỏ.
Phiên tòa tiếp tục đến hết buổi chiều nhưng tôi không được chứng kiến đến phút cuối vì phải ra sân bay cho kịp chuyến bay về San Jose để chuẩn bị đi Los Angeles phỏng vấn xin việc. Sơn gọi điện cho tôi trong lúc tôi ngồi chờ ở sân bay. Anh nói phải hai hôm nữa mới biết phán quyết vì chiều nay bồi thẩm đoàn chưa thống nhất được kết luận cuối cùng. Sơn cảm ơn tôi đã xuống làm chứng cho anh và chúc tôi may mắn khi phỏng vấn ở Los Angeles.
Chuyến bay về San Jose của tôi tối hôm đó không những bị chậm đến ba tiếng, mà còn phải đổi cổng và đổi máy bay ba lần. Tôi đã lên máy bay thì được yêu cầu rời máy bay, rồi được yêu cầu sang cổng khác. Lên máy bay mới rồi, tôi lại được yêu cầu ra khỏi máy bay lần nữa vì máy bay có trục trặc kỹ thuật. Tôi tiếp tục chờ. Cuối cùng Delta thông báo chuyến bay phải đổi sang cổng mới lần nữa. Có lẽ một phần may mắn của tôi thực sự đã chuyển sang cho Sơn.
Ba ngày sau, khi tôi đang ở Los Angeles, Sơn gọi điện.
“Tòa tuyên bố trắng án” - Sơn nói - “Tất cả các cáo buộc đều ‘vô tội’.”
“Chúc mừng anh.”
“Cảm ơn em. Đi phỏng vấn thế nào?”
“Cũng tốt cả.”
“Chúc em phỏng vấn tốt nhé. Hẹn gặp lại sau.”
Và đấy là lần cuối cùng tôi nói chuyện trực tiếp với Sơn.
Tất cả duyên nợ của chúng tôi ở đoạn trước đã xong. Khi viết cuốn sách này, tôi email cho Sơn hỏi anh về việc tôi đưa anh vào sách. Sơn nói rằng đây là sách của tôi, cho nên quyền quyết định thuộc về tôi. Tuy biết vậy, nhưng tôi vẫn thấy có gì đó không yên trong lòng. Nhìn thật kỹ, tôi nhận ra cái “không yên” này không phải chuyện cuốn sách mà từ những năm tháng hôn nhân và ly hôn. Chúng tôi đã không bao giờ có một sự khép lại đúng nghĩa. Tôi gửi email cho Sơn, xin lỗi anh về bất cứ việc lớn nhỏ nào mà tôi từng làm trong lúc sống với anh cũng như trong bất cứ thời điểm nào khác mà làm tổn thương đến anh.
“Dù vô tình hay cố ý, em cũng xin lỗi những việc đó. Em nói điều này không phải vì nhớ ra việc cụ thể nào mà vì thực ra lời này là lời cần phải nói lúc ly dị nhưng lúc đó em đã không nói trực tiếp được với anh.”
Sơn viết thư lại rằng “Em không có gì phải xin lỗi. Anh cũng có lỗi trong thời gian sống với em.”
“Chúc em một cuộc sống vui vẻ và mọi sự tốt đẹp.”
Vậy là, phải 6 năm sau khi chính thức li dị, chúng tôi - hoặc tôi - mới có kết thúc chính thức.
Về sau này, tôi hỏi một nhà sư có khả năng nhìn kiếp trước về nhân duyên của tôi với Sơn; tại sao tôi lấy anh, rồi cứ muốn ra đi dù tôi không nói được lý do gì to lớn khiến chúng tôi không sống được với nhau. Nhà sư nói rằng không chỉ kiếp này mà tôi cũng đã nhiều kiếp lập gia đình rồi rời bỏ đời sống gia đình.
“Vậy trong các kiếp mà con lập gia đình, con có hạnh phúc không?”
“Có chứ, hạnh phúc lắm chứ. Nhiều người chỉ ước có được một phần triệu hạnh phúc và phúc lành của con, nhưng đó vẫn là hạnh phúc thế gian và tâm thức con đã biết đến thứ hạnh phúc khác nên con vẫn bỏ đi.”
“Thầy nói con có nhiều phước, sao con thấy cuộc sống của con vất vả vậy?”
“Chỉ là các bài học mà con phải học thôi. Rồi một ngày nào đó, con sẽ hiểu tất cả khổ con từng có đều có hương vị giải thoát và con sẽ cảm ơn tất cả những gì con trải qua.”
“Trời ơi, tại sao con phải học nhiều như vậy?”
“Nhiều người phụ nữ sung sướng lắm. Họ có chồng con lo cho mọi thứ, họ sống hạnh phúc đơn giản.”
“Chỉ là họ không nói cho con biết thôi. Nếu con biết những người phụ nữ và đàn ông trông có vẻ rất hạnh phúc đã đến kể gì với ta thì con sẽ hiểu, nếu còn trong luân hồi, thì hạnh phúc thực sự không có.”
Còn tôi sau này ngờ ngợ rằng tôi và Sơn bản chất là bạn đạo. Tôi cũng ngờ rằng những chuyện không may đã xảy ra với cả hai chúng tôi đều chỉ là thử thách và duyên để gọi mỗi chúng tôi trở về. Có điều, mỗi người sẽ phải về theo con đường riêng.