Từ sáng sớm nay đã có một bác gái ngoài 50, rất gầy, mặt đen sạm, khắc khổ mang một cậu con trai tới. Cậu con trai ngoài 20, người cao ráo, gầy, khuôn mặt đen, trông buồn buồn. Cả hai lặng lẽ chấp tác quanh chùa rồi lại ngồi thẫn thờ ở bàn nước. Thầy bảo cậu thanh niên tên Khải, đang học đại học nhưng từ nhỏ đã hay lên các cơn co giật và làm các việc không giải thích được. Gia đình đã đưa đi nhiều bệnh viện nhưng không tìm ra bệnh nên hôm nay họ đưa vào chùa nhờ thầy xem có bị vong theo không. Để gọi vong cần một người có khả năng cho mượn xác để vong nhập vào. Hôm nay, người cho mượn xác là cô Minh, một sĩ quan quân đội nghỉ hưu.
Chiều tối, trong nhà Tứ Ân đã trải chiếu trước ban thờ Phật A Di Đà, Bồ Tát Địa Tạng và Tôn giả A Nan. Trên chiếu, cô Minh ngồi xếp bằng chính giữa, đối diện ban thờ, hai mắt nhắm lại; Khải quỳ bên phải cô Minh, mẹ Khải quỳ bên trái. Sư chú Đạo Tam ngồi đối mặt với cô Minh, làm chủ lễ.
Sư chú Đạo Tam thắp ba cây hương lên ban thờ, rồi hỏi vọng ra khoảng không, giọng từ tốn:
“Vong linh nào đi theo tín chủ Nguyễn Văn Khải thì xin mời vào. Hôm nay đủ nhân duyên, có người cho mượn xác, xin mời vong linh vào, có khúc mắc gì thì hôm nay nhà chùa sẽ giải quyết hộ cho nhé.”
Sư chú mời vài lần thì người cô Minh bắt đầu lắc nhè nhẹ.
“Vong linh vào thật sâu vào” - chú Đạo Tam nói - “vào sâu vào rồi nói chuyện.”
Sau khi vong linh đã “vào sâu”, chú Đạo Tam hỏi:
“Thế vong linh hôm nay lên đây có việc gì?”
Cô Minh không nói, chỉ lắc lư người. Chú Đạo Tam lại hỏi:
“Hay là muốn nói chuyện với thầy thì để ta mời thầy vào?”
Cô Minh gật. Sư chú Đạo Tam thỉnh thầy vào. Thầy vào thì chú đứng lên nhường thầy ngồi ghế chủ sám, chú thị giả bên cạnh.
“Hôm nay vong linh lên có điều gì cần ta giúp thì cứ nói ra. Vong linh tên là gì?”
Người đó nói tên, quê quán, năm sinh, năm mất. Người này là quan huyện ở Nghệ An từ thế kỷ 18.
“Thế hôm nay lên có chuyện gì cần ta giúp? Cậu ấy đã làm gì vong linh?”
“Nó là em con.”
“Là em sao lại đi theo hành hạ nó? Anh em phải thương nhau chứ.”
“Nó giết con và các bạn con.”
“Nó giết con à? Làm thế nào mà anh em lại giết nhau?”
“Nó nghe lời vợ nó, giết con.”
Cô Minh túm lấy ngực, mặt nhăn nhó.
“Bị nó đâm ở đấy à?”
“Không. Nó mời con đến ăn giỗ mẹ, rồi đầu độc, cả con và hai bạn con.”
“Mô Phật, thế hai bạn vong linh hôm nay có đến không?”
“Có, đang đứng cả ở đây.”
“Thôi, hôm nay đã về được đây rồi thì hãy xả hết; tha cho nó đi con ạ. Dù sao cũng từng có nghĩa anh em với nhau; giờ nó đã đầu thai chuyển kiếp, nó có nhớ kiếp trước nó làm gì đâu. Tha cho nó rồi về đây quy y, theo hầu Phật hầu tổ con nhá. Tha cho nó đi; hành hạ nó từ bé là đủ rồi.”
Thầy quay sang mẹ Khải:
“Cháu nó bị từ bé phải không cô?”
“Dạ từ lúc bé ạ” - người mẹ nói - “từ nhỏ đã tự nhiên ngất lăn ra. Đi bệnh viện không chữa được.”
“Nó chịu nghiệp báo từ bé là đủ rồi, tha cho nó đi con. Tha thứ là giải thoát. Hôm nay về đây rồi, đủ duyên rồi thì xả hết đi.”
“Nó giết cả nhà con, làm tan nát cả nhà con. Làm cho họ nhà con tuyệt diệt.”
“Ừ, nhưng thôi, nó cũng chịu nghiệp báo rồi. Nể mặt ta tha cho nó nhé. Tha cho nó cũng là giải thoát cho mình. Giờ mà tiếp tục trả thù thì mình tiếp tục gây nghiệp, bao giờ mới giải thoát được?”
Vong linh quay mặt đi, nói:
“Giận!”
“Thôi con ạ, đừng giận nó nữa. Xả hết cái tâm giận đó ra là hết.”
Thầy quay sang Khải:
“Quỳ xuống sám hối vong linh đi con.”
Khải dập đầu xuống lễ. Người mẹ cũng dập đầu quỳ - trông bà còn khốn khổ hơn Khải.
Vong linh vẫn nói:
“Giận.”
Rồi đưa tay chạm vào bên sườn, nói:
“Đau.”
“Nó đâm vào đấy à?”
“Không.”
“Thế làm sao, nói ra ta giúp cho.”
Vong linh uất ức, cố cất lời mà mãi không nói được.
“Cố gắng nói hết ra thì ta mới giúp được.”
“Có cái gai.” - sau cùng vong linh nói.
“Nó đâm gai sắt vào à?”
“Không... Thầy có biết nó làm gì con không? Nó yểm bùa vào đây.”
“Nó yểm bùa à? Rồi, để ta gỡ ra nhé.”
Thầy bảo chú Đạo Tam lấy ba que hương đang đốt viết những câu chú bên ngoài phía mạng sườn của cô Minh, rồi hai tay làm động tác giống như cởi và nhổ gai.
“Hết chưa?”
Vong linh gật. Vong kể đã theo Khải qua nhiều kiếp để trả cái thù chết oan. Trong kiếp này, họ đã theo hành hạ Khải từ nhỏ, lúc thì bóp cổ, lúc thì xô ngã, rồi tác ý để cho Khải điên loạn. Họ muốn Khải chết để đền mạng. Thầy nói:
“Thôi, ân oán xả hết, hôm nay đủ duyên theo ta về đây tu hành nhé. Còn muốn gì nữa không?”
“Cho con ở đây giữ sổ sách nhé?”
“Ừ, được rồi. Thế giờ hết rồi thì ra nhé. Còn cần gì nữa không?”
“Bảo nó dâng cho con ba chén trà.”
Khải lấy ba chén nước trà dâng lên cho vong linh và hai người bạn ở đó. Vong uống xong thì chắp tay xá thầy rồi đi. Khải và mẹ quỳ lễ Phật và lễ thầy. Tôi không biết Khải và mẹ có tin những gì đã xảy ra không. Nhưng nghĩ kỹ, mỗi ngày báo chí đều nhan nhản chuyện chặt đầu người yêu, cướp tiệm vàng giết người, cầm dao đâm mẹ vì bị mắng, ngáo đá giết cả nhà hàng xóm, tạt a xít vì ghen tuông, nạo thai, ngoại tình... chưa kể những chuyện chết oan vì tai nạn giao thông, lũ lụt, sập hầm lò, động đất... Những chuyện khổ đau diễn ra hằng ngày; nếu cứ theo nhân quả mà báo ân báo oán thì đúng là không dứt.
Buổi trưa, tôi hỏi thầy:
“Bạch thầy, các vong đã quy y xong có bao giờ quay lại quấy rầy người kia không? Con nghĩ như người dương, hôm nay hứa, mai lại nuốt lời.”
“Không, họ ở trong cảnh giới tăm tối đó lâu rồi, họ muốn thoát ra lắm nên khi đủ duyên, gặp Phật pháp, họ được khai thị để giải thoát thì họ quyết tâm lắm. Cảnh giới của họ là cảnh giới tâm thức, không bị chướng ngại cái xác phàm như mình nên chỉ cần chuyển tâm là giải thoát lập tức. Với lại, thầy giải quyết nhiều, thầy thấy chỉ cần để họ kể được ra cái oan ức trong lòng là họ nhẹ đi, là họ có thể xả. Xả là chuyển tâm ngay.”
“Các chùa khác có các việc tâm linh thế này không ạ?”
“Có chùa có, chùa không. Nếu cô đọc Đại Việt sử ký toàn thư cô sẽ thấy những việc đang xảy ra ở chùa mình hôm nay cũng đã từng xảy ra ở chùa mình nghìn năm trước. Sử có ghi lại. Có nhiều việc chỉ là nhân duyên lặp lại. Thực ra ngay trong giới tu hành, nói đến các việc tâm linh thế này, cũng có người tin người không cô ạ. Nó tùy duyên, tùy nguyện từng người. Có người có duyên có nguyện độ dương, có người có duyên có nguyện độ âm.”
“Vậy một người từng tu hành đắc đạo ở kiếp trước rồi tái sinh trở lại theo nguyện thì có phải chứng đắc lại không?”
“Cũng tùy họ ở quả vị nào. Thường nếu họ đã chứng đắc rồi thì khi tái sinh trở lại theo nguyện, họ dần dần sẽ nhớ ra chứ họ không cần chứng lại.”
“Có bao giờ người ta không nhớ ra nguyện của mình không ạ? Hoặc làm sai nguyện?”
“Khi thọ thân xác phàm này thì người ta bị chướng ngại nên ban đầu thường bị sao lãng. Nhưng nếu có nguyện mà không theo nguyện thì cuộc đời sẽ trắc trở; mình làm gì cũng như đụng đầu vào tường. Thuận theo nguyện thì an lạc. Dù khó khăn vẫn an lạc.”
“Bạch thầy, nếu cái gì cũng đã có duyên có nghiệp từ trước, nếu cái gì cũng đã có sắp xếp thì kiếp này mình tu cũng chỉ đến thế thôi ạ?”
“Sao lại cũng chỉ đến thế thôi. Tuy có duyên, có nghiệp nhưng mình tu thì cải nghiệp chứ.”
Thầy nói nếu hiểu sâu lý nhân quả thì sống rất dễ. Gieo nhân nào ắt gặt quả đó, không thể có sai biệt; như trồng đậu thì được đậu, trồng cà được cà, không thể nào trồng đậu lại được cà. Thấy sâu lý nhân quả thì thấy mọi việc trên đời đều nhẹ nhàng. Gặp nghịch duyên không nản, gặp thuận duyên không mừng. Cứ theo nguyện cứu người, độ sinh mà làm.
“Có cái đúng thì không phải sợ cô ạ. Mình đúng thì không phải sợ. Phật chỉ có lòng từ bi mà chiến thắng ma vương. Chứ ma vương cũng có thần thông, có phước, có tu tập mà cô. Ma vương cũng có đủ mọi thứ pháp lực, chỉ thua Phật ở sự từ bi mà thôi.”
Thật sự, tôi vẫn cứ bán tín bán nghi chuyện âm dương này. Nhưng điều thầy nói quả là chân lý: Có cái đúng thì không phải sợ. Tôi phải viết hoa điều này:
CÓ CÁI ĐÚNG THÌ KHÔNG PHẢI SỢ.
Lại nghĩ: Trong chúng ta, có bao nhiêu người biết nguyện của mình? Ngay cả giữa những bạn bè, đồng nghiệp đã thành công xuất sắc của tôi, có bao nhiêu người thực sự biết nguyện của mình là gì? Mình sống để làm gì? Cuộc đời mình là để làm gì? Chúng ta thường chỉ nói tới đam mê, hoài bão, hoặc năng khiếu chứ ít khi nói tới nguyện. Mà kể cả với đam mê, hoài bão, đa phần chúng ta không có đam mê, hoài bão nào mà không ít nhiều bị ảnh hưởng bởi những thứ giáo điều về lợi danh của Nho giáo. Chúng ta muốn có danh với đời. Chúng ta muốn làm vẻ vang cho bản thân, gia đình, dòng họ, thậm chí quê hương. Cái chúng ta muốn thường có công thức dạng “tôi muốn thành người Việt Nam đầu tiên đoạt giải Nobel”, “là Steve Jobs của Việt Nam”, “là người trẻ nhất Việt Nam đã làm X, Y, Z”, ... Nghĩa là đam mê nào cũng được hình thành trong thế thu nhận thêm vào cho mình, so sánh mình với người khác, chạy theo sự đánh giá của xã hội chứ không phải một thứ khởi lên tự thân, không cạnh tranh, không cần hơn ai, không ngại kém ai. Một thứ ước mơ không có gốc là tham và tranh. Mà cũng chẳng phải ước mơ. Một thứ tự biết hiển nhiên.
Có lẽ vì thế mà trong thiên hạ, có những người dù thông minh tài giỏi đến thế nào cũng không bao giờ làm những việc rung chuyển đời sống bởi vì tấm lòng họ chỉ đủ che cho họ và một số người xung quanh. Còn có những người có thể làm những việc phi thường, rung chuyển lòng người dù họ tay không, bởi vì tâm họ khác, nguyện của họ khác.
“Nguyện lớn thì sóng lớn” - thầy nói với tôi - “Nguyện lớn thì tâm phải rất lớn.”
Thầy bảo người tu hành có trăm vạn nhân duyên đến với đạo, có những người phải trải qua rất nhiều đày đọa, thử thách trước khi và sau khi đến với đạo. Thời Phật Thích Ca, A-la-hán Vô Não đã giết 999 người trước khi gặp Phật; từ đó mà có chuyện “buông đao thành Phật”. Ngài Chu-lợi-bàn-đà-già (Culapanthaka) trước khi đắc A-la-hán quả cũng bị nghiệp học đâu quên đấy, nên Phật dạy tu bằng cách chỉ nhẩm một câu ngắn là “quét sạch bụi bẩn” trong lúc quét chùa (17) . Nhị tổ Huệ Khả phải chặt cánh tay mà cầu đạo với tổ Bồ Đề Đạt Ma. Tam tổ Tăng Xán mắc bệnh ghẻ lở quá đau đớn mà đến cầu đạo với Nhị tổ. Lục tổ Huệ Năng thì nhà nghèo, không biết chữ. Tổ Lâm Tế khi đến học pháp với tổ Hoàng Bá thì liên tục bị tổ đánh. Tất cả các kiếp nạn cũng là duyên để họ tăng trưởng lòng từ bi và năng lực cứu giúp chúng sinh vì mình phải đau khổ rồi mình mới thấu hiểu được đau khổ của người khác.
Trong những năm sau này, tôi sẽ gặp bằng xương bằng thịt những bậc tu hành mà cuộc đời họ, từ lúc sinh ra đến lúc gặp đạo và hành đạo phải trải qua muôn vàn thử thách mà tấm lòng của họ lúc nào cũng vằng vặc. Gặp họ, lòng ta rung chuyển theo cách mà không có bất kỳ học giả nổi tiếng, thiên tài, tổng thống hay ngôi sao nào có thể làm rung chuyển.
Hè năm sau tôi về, Khải trong câu chuyện trên đã xuất gia, thành sư chú Đạo Lục. Lúc ấy tôi mới được biết đầy đủ hơn chuyện của sư chú Đạo Lục.