Về Nhà

Lượt đọc: 2528 | 3 Đánh giá: 10/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 35
em cũng bị à?

Mùa an cư kết hạ đã chính thức bắt đầu. Một tấm bảng đăng rõ lịch hành trì cho suốt mùa an cư đã được treo ở khu tiếp khách:

4h00: Khai tĩnh.....

4h15: Công phu khuya.....

5h15: Niệm Phật.....

5h45: Cúng Tổ.....

6h00: Tiểu thực.....

6h45: Chấp tác việc chúng.....

7h30: Thính Pháp.....

9h00: Khóa lễ sáng.....

10h45: Cúng tổ.....

11h00: Thụ trai.....

12h00: Trì tĩnh.....

14h00: Khai tĩnh.....

14h30: Tiểu trường.....

16h00: Niệm Phật.....

16h30: Khóa lễ chiều (cúng chúng sinh).....

18h00: Phi thời thực.....

19h00: Khóa lễ tối.....

21h30: Lâm thụy.....

Pháp an cư này bắt đầu từ thời Đức Phật Thích Ca. Đức Phật nhận thấy mùa hè ở Ấn Độ là mùa mưa, côn trùng sinh sôi nảy nở rất nhiều nên khi chúng tăng ra ngoài khất thực thì dễ giẫm chết các loài côn trùng. Mùa mưa cũng là mùa đi lại khó khăn, việc giữ uy nghi của người xuất gia trở nên khó. Vậy nên Phật đề ra pháp an cư để trong suốt ba tháng hè (có thể thêm ba tháng đông), chư tăng chỉ ở trong chùa tu tập mà không ra ngoài.

Đêm đầu tiên ở chùa, cũng như lần trước, tôi phải làm quen lại với bóng tối rất đặc và sâu ở đây. Tôi cắm iPod, vừa nghe nhạc vừa ngủ chập chờn, đến gần sáng mới thiếp đi. Rồi trời bắt đầu sấm ì ùng và mưa ào xuống, táp vào cửa sổ. Mất điện. Căn phòng nhỏ tối om, nóng nực. Tôi ngồi dậy, định ra ngoài nhưng cửa không sao mở được. Phòng tối đen, sấm ì ùng, thỉnh thoảng chớp lại rạch sáng xanh khiến tôi có cảm giác đang bị bao vây. Tôi lại cố đẩy cửa nhưng vẫn không mở được. Không thể gọi ai, tôi mò mẫm quay lại giường, tự trấn an bản thân và cố ngủ tiếp.

Bốn giờ có tiếng đại hồng chung chậm rãi, ngân nga trong buổi sớm, lẫn vào tiếng mưa lác đác. Tôi lập tức bật dậy và ra sức đẩy cửa. Lần này cửa mở hé. Hóa ra bên ngoài có người nằm chắn ngang - hình như là thợ xây chùa. Tôi tiếp tục đẩy rồi lách qua cửa để ra ngoài.

Sân chùa tối, không bóng người. Tôi đi ra phía sau rửa mặt, súc miệng vội vàng rồi băng ngang sân lên Tam Bảo. Chỉ có chú Đạo Lục ở đó, đang thắp nến, mở các giá kinh gỗ và xếp các cuốn kinh Thủ Lăng Nghiêm lên giá. Tôi phụ giúp chú xếp kinh trong lúc tiếng chuông vẫn ngân nga vọng tới. Không rõ ai thỉnh mà tiếng chuông rất hay. Chậm rãi, trong và yên.

Đến 4 giờ 15 thì có tiếng kiểng đi lại gần, rồi thầy và các sư ông đắp y vàng đi vào. Thấy tôi, thầy cười. Chắc thầy không nghĩ tôi sẽ dậy theo khóa sớm. Sư ông Đạo Nhị thấy tôi cũng tủm tỉm cười. Tất cả im lặng ngồi xuống - thầy ngồi chính giữa làm chủ sám; ông Đạo Nhất, Đạo Nhị bên trái thầy; ông Đạo Tam, Đạo Tứ bên phải. Tôi và chú Đạo Lục ngồi hàng dưới. Không thấy chú Thất - có lẽ chú thỉnh chuông hoặc ở dưới bếp lo việc nấu ăn sáng.

Trì Lăng Nghiêm và niệm Phật đến hơn 5 giờ thì xong. Trời đã sáng. Không khí sau mưa trong mát. Tôi xuống nhà lấy khăn và quần áo đi tắm vì đã đổ mồ hôi nhớp nháp suốt đêm. Khi tôi ở nhà tắm đi ra thì nghe có tiếng người phía sau:

“Có cay mắt không?”

“Ngoảnh lại thấy sư ông Đạo Nhị đang cười.”

“Dạ sao ạ?”

“Dậy sớm tụng kinh có cay mắt không?”

“Dạ không, con chỉ nóng thôi, lúc đêm mất điện nóng quá.”

“Sư ông cũng nóng nhưng mà kệ. Vẫn ngủ.”

Rồi ông toét miệng cười. Lạ thật. Sư ông Đạo Nhị còn trẻ lắm, lại tập võ và là người trực tính ngang tàng nhất chùa nhưng ông có kiểu cười toét hỉ lạc không thể tả nổi. Có khi đang trừng mắt mắng bọn trẻ, ông lại toét miệng cười. Một nụ cười mà toàn thân tan biến, như bông hoa sen bung nở khiến ta chỉ có thể lặng ngắm và vui hưởng cái đẹp của nó. Đơn giản vậy mà sau này tôi mới hiểu nó chính là pháp hỉ - một thứ pháp rất kỳ diệu không phải ai cũng có được.

Mỗi lần về chùa, tôi phải học lại phép tắc, soạn lại thân và tâm mình. Có cái gì đó tự động rũ bỏ ngoài cổng chùa. Tất cả quần áo, giày thấp giày cao phải bỏ lại, chỉ còn mấy bộ quần áo nâu và hai cái áo tràng. Tất cả phấn son, vòng cổ vòng tay, hoa tai cũng cất đi, chỉ một khuôn mặt mộc. Kem dưỡng da, nước hoa, dầu gội dầu tắm cũng không cần thiết - tôi bỏ vào ba lô một khăn mặt, bàn chải răng, kem đánh răng, và một lọ dầu gội đầu nhỏ kiêm luôn sữa tắm. Tất cả sự nhanh nhẹn để ứng phó, đối đãi cũng tự động lặn đi. Với thầy, các sư ông sư bác sư chú và người ở chùa, tôi không cần bất cứ sự cố gắng nào. Một khuôn mặt mộc và ngơ ngơ, có lẽ trông tôi quê mùa nhất chùa. Cho nên những người có việc đến chùa tìm thầy mà thấy tôi thì gần như luôn thì thào hỏi tôi cùng một câu này:

Em cũng bị à?

Ý họ là tôi cũng bị “nhập”, “ám”, “hành” như những người đang đến chùa nhờ thầy chữa bệnh. Họ đoán tôi cũng đang “ở chùa chữa bệnh.”

“Không ạ” - tôi cười.

“Thế ở chùa tập đi tu hả?”

“Không ạ. Em đang ở đây làm nghiên cứu.”

“Cái gì?” - họ hỏi lại, mặt nhăn nhăn.

“Em làm nghiên cứu.”

“À à” - họ gật gù, nhưng vẫn không tin mà cũng không hiểu - “Em làm nghề gì?”

“Em dạy học” - tôi nói.

“Dạy gì? Dạy cấp một à?”

“Không, em dạy đại học.”

“Đại học á? Trông trẻ thế mà dạy đại học á? Em dạy trường nào?”

“Ừm... em dạy bên Mỹ.”

“Hả? Cái gì? Bên Mỹ á? Dạy tiếng Việt à?”

“Không, em dạy công tác xã hội.”

“Hả? Cái gì?”

Cái kịch bản trên lặp lại rất nhiều lần, đến mức tôi cảm giác như mình đang nói về cái vai giáo viên ở Mỹ mà tôi từng sắm vào lúc nào đó trong quá khứ chứ không phải nói về tôi của hiện tại. Cuộc sống của tôi ở Mỹ - cái cô Việt làm giảng viên đại học - trở nên không có thực, chỉ còn cô gái đang sống ở chùa này. Mà thực sự, tôi cũng không còn thấy mình là một cô gái như thế... như thế... nữa. Tôi thường có cảm giác mình là một đứa trẻ - chính xác là một chú bé - đang theo chân thầy, các sư ông, sư bác, sư chú học đạo ở chùa.

“Con thấy con giống Thiện Tài Đồng Tử trong kinh Hoa Nghiêm, đang đi học đạo vậy” - tôi nói với ông Đạo Nhị - “có khác là con là Bất Thiện Bất Tài Đồng Tử.”

Nhiều lần, trong lúc đi quanh sân chùa, tôi thấy thầy chỉ tôi để giới thiệu cho người này người kia rằng tôi là “giáo sư đại học ở Mỹ đang ở đây làm nghiên cứu”; nhưng tôi thấy họ cứ gật gật rồi ngẩn ra, vẻ nghi hoặc.

Cái kịch bản lặp đi lặp lại trên cũng làm tôi nhận ra không một ai có thể tin được là cái cô gái ngơ ngơ, quê quê đây đang dạy đại học ở Mỹ. Chuyện này làm tôi hiểu ra cụm từ “chấp trước” và “vọng niệm” mà thầy và các sư ông hay nói đến. Những người nhìn thấy tôi đều đã có sẵn các ý niệm về việc một “giáo sư đại học” và Mỹ trông phải thế nào; trong ý niệm đó, tôi lẽ ra phải ăn mặc sành điệu, hiện đại, nhanh nhẹn, tự tin, tiếng Anh như gió, tiền nhiều, chứ không thể là một cô gái nho nhỏ, rất ít nói, mặt không son phấn, với một vẻ quê mùa. Cả con người tôi thật sự không có gì ấn tượng. Cho nên khi họ gặp tôi, dù tôi có nói với họ tôi đang dạy học ở Mỹ, thì tai họ đâu có nghe được; ý của họ đã đi trước tai và chặn hết lối nghe của họ rồi. Ngay cả khi tôi khẳng định lại, thì họ vẫn cần thời gian để mà nhập âm thanh với ý niệm và điều chỉnh thực tại của mình.

Đã bắt đầu vào mùa an cư nên buổi sáng thầy giảng kinh Hiền Ngu. Hôm nay, kinh nói về hạnh bố thí của Đức Phật Thích Ca trong những kiếp trước. Hôm nay lại là thứ Bảy nên buổi chiều thầy giảng tiếp kinh Dược Sư. Hết giảng kinh là thời niệm Phật chiều. Trời nóng, chùa không chỗ nào có điều hòa, thậm chí quạt cũng thiếu nên người tôi từ sáng đến giờ lúc nào cũng đầm đìa mồ hôi, có lúc mồ hôi chảy xuống mắt cay xè, cổ thì lâm râm ngứa và mẩn đỏ. Hết khóa niệm Phật chiều, thầy hỏi tôi có theo được khóa cúng chúng sinh lúc 5 giờ không, tôi xá thầy xin đầu hàng. Chịu rồi. Ngày hôm nay tôi chỉ có thể cố được đến thế.

“Tu khó thật sư ông nhỉ” - tôi nói với ông Đạo Tứ khi thấy ông uống trà ở bàn nước - “Ngày sáu thời hành đạo. Con mới theo được ba thời mà đã đứt cả hơi.”

“À, cô còn mới nên chưa quen thôi” - ông nói - “vả lại làm thân nữ, tu cũng có khó hơn.”

Ái chà, cái này thì tôi chưa nghe bao giờ. Sao lại có hơi hướng trọng nam khinh nữ thế nhỉ.

“Đâu phải vô cớ mà cô sinh làm thân nữ hoặc có hình tướng như thế này đâu (ý nói mặt mũi, dáng người). Thân tướng mình đều là do phước do nghiệp, trừ các bậc thánh nguyện sinh làm thân nữ để độ người nữ chẳng hạn. Mình sinh thân nữ là do ái nhiễm còn nhiều nên sinh ra hình tướng nữ. Cái tình nó còn nặng. Ngày xưa lúc đầu Đức Phật không cho người nữ đi tu đâu ạ; ngài A Nan cứ thỉnh mãi nên cuối cùng Phật đồng ý.”

Hmm, luận điệu này tạm thời tôi chưa thể nuốt trôi. Nhưng thôi thì tôi sẽ phải chăn cái thân nữ nhiều lậu hoặc sân hận này của tôi từ từ vậy. Giờ mà ép nó lên chùa tụng kinh là nó sẽ cáu, nó sẽ rủa sả mắng nhiếc tôi và... một số người khác.

Kể ra thì tôi cũng “bị” thật. Bị quý cái thân này quá mức, bị khăng khăng với một số niềm tin của bản thân. Bị ngầm thấy mình là thế nọ thế kia, so với người khác. Cho nên chẳng thể mở rộng tâm với tất cả.

Nghĩ cho kỹ, chúng ta ai mà chẳng bị bệnh, bị “ám”, bị “hành” theo cách nào đấy. Bởi tiền, bởi danh, bởi kiến thức, bởi chồng, bởi mẹ chồng, bởi bạn gái, bởi con, bởi sếp - cũng đều là các loại ma khác nhau mà thôi.

« Lùi
Tiến »