Những buổi sáng không phải đi bay, chàng phi công tên An, thường đứng phất phơ ở cửa Phòng Hành-quân, như chờ đợi một ai. Thì chính là chàng đang chờ đợi một lá thư của người yêu.
Thấy người Trung sĩ Bưu tín viên từ đàng xa đi tới, An thấy hồi hộp lạ. Chàng giơ nắm tay ngang đầu, đưa lên đưa xuống, như làm động lệnh, dục dã của cơ bản thao diễn, hối thúc người bưu tín viên đi mau.
Nhưng tiếc rằng, nơi nầy không phải là quân trường. Người bưu tín viên vẫn tà tà, chậm rãi, bước từng bước một, rất khoan thai, rất từ tốn. Nhiều khi, như muốn chọc tức An, người bưu tín viên còn làm ra cái điều ngắm trời, ngắm mây, ngắm cả cái ống gió hãy còn rủ ướt sương đêm, ngắm ngôi lầu gương của Đài Kiểm Soát sừng sững nổi bật giữa phi trường .
Lúc đó thì An thật khổ sở, nhưng không thể làm gì được. Nổi giận với người Trung sĩ Bưu tín viên là một điều tối kỵ. Hắn chỉ cần vài ba ngày không tới, là cũng làm cho An phải khắc khoải, chờ đợi trong cả mấy ngày ấy.
Khi người Trung sĩ bước chân lên bực thềm, An sửa lại bộ mặt, cố lấy giọng tươi cười:
– Chân của cụ đi mà cứ như đếm bước thời gian…
Người Trung sĩ Bưu tín viên cũng cười nháy mắt:
– Già rồi mà, Thiếu úy! Thấy ông có vẻ sốt ruột chờ thư, nhưng đôi chân già không cho phép chạy nhanh. Bước chỉ cần mau một chút là đầu gối văng ra ngoài ngay. Nhưng mà Thiếu úy đọc thư chậm vài phút, hay sớm vài phút thì đã có sao?
Nói chuyện với anh chàng này hơi bực mình đấy…An tự nhủ thầm như vậy, và định bụng rằng sáng ngày mai thấy anh chàng từ đàng xa, không thèm tỏ ra nôn nóng nữa. Nhưng rồi sáng hôm sau cảnh chờ đợi vẫn cứ diễn ra đúng như ngày hôm nay. Sáng nay, An cũng chờ một lá thư. Thư người yêu của An, viết rất đều đặn. Không hiểu sao mà họ nhiều chữ nghĩa đến thế. Ngày nào cũng viết thư, mà viết rất dài.
Những người bạn của An cứ lẩn thẩn nghĩ rằng nếu lấy hết tất cả những lá thư tình của cặp tình nhân này, mang in thành sách, thì cuốn sách ấy phải dầy bằng cuốn tự điển. Ở trong phòng, An có một va-li thật đẹp để giữ tất cả những lá thư. An đánh dấu từng ngày, từng tuần, từng tháng, vì vậy tập thư của An có giá trị như một tập nhật ký tình yêu.
Người Trung sĩ Bưu Tín viên vẫn có một dáng điệu quen thuộc như mọi ngày. Vừa thấy anh ta cầm xấp thư bỏ vào từng hộp thư, An đã hỏi:
– Hôm nay có thư của tôi không?…
– Có là một sự bắt buộc…
Rồi người bưu tín viên thắc mắc:
– Bồ của thiếu úy ở đâu?…
– Ở Sàigòn!…
Người bưu tín viên trợn mắt:
– Ở Sàigòn…? Trời ơi đây tới Sàigòn cách nhau có ba chục cây số, sao không chạy xe về gặp mặt nói chuyện cho đã đời, tội tình gì mà mất thì giờ viết thư cho tốn sức lao động…?
– Thì vẫn gặp nhau luôn.
– Vậy còn viết thư làm chi?
Nhưng rồi người Trung sĩ cười lên hô hố:
– À, tôi hiểu rồi! Gặp nhau thì đâu có nói chuyện. Nói chuyện bằng tay chắc nhiều hơn.
An nổi giận:
– Đừng có bậy bạ! Tôi mà không nể ông già, thì tôi đã tặng ông một cú đấm rồi. Nói chuyện là một chuyện khác. Có nhiều chuyện, chỉ có thể viết cho nhau, kể cho nhau nghe ở trong thư. Ông đã hiểu chưa?…
– Tôi…tôi hiểu rồi!…
Người Trung sĩ Bưu tín viên, tuy rằng trả lời là hiểu rồi, mà kỳ thực, anh chàng chẳng hiểu cái con mẹ gì cả. Tuổi trẻ thật nhiều chuyện rắc rối, lẩm cẩm. Anh ta tưởng lại thời mình bằng tuổi An. Đâu có sự viết lách nhung nhăng như thế này. Hình như mình chưa bao giờ nói chữ “yêu” với ai, kể cả cô nàng mà bây giờ thành mụ gái xề, vợ của mình, vô địch về đẻ.
Mặt anh chàng Trung sĩ Bưu tín viên chợt tươi lên, vì anh ta có một tin, cần phải báo cho An biết:
– Thiếu úy à, hôm nay có chuyện lạ lắm.
– Chuyện gì?…
– Trung úy Dương, Trung úy Tâm đều có thư. Mà lại thư của con gái cẩn thận. Thiếu úy thấy như thế có lạ không?…
Vừa nghe người Trung sĩ Bưu tín viên nói tới đó, An ngạc nhiên tới nỗi phải giật mình. Từ ngày đổi về phi đoàn này, thời gian ít ra là cũng ba năm, chưa thấy bao giờ hai cái thằng lạnh lùng này lại nhận được một lá thư. Điều này thì cả làng, cả nước đều biết rồi. Ấy thế mà bây giờ lại có thư cho Tâm, cho Dương, mà lại là của con gái cẩn thận. Thật là một sự vô lý có thật. An cuống quít hỏi lại:
– Có thật không? Đâu, ông đưa cho tôi coi!
Người Trung sĩ Bưu tín viên đưa cho An hai lá thư. Bao thư màu xanh, chữ viết tròn và ngắn, không viết tắt một chữ nào, với kinh nghiệm của An, thì đúng là chữ của con gái rồi, không thể nào giả mạo. Người đề tên gửi cho Dương là Phượng . Còn tên người gửi cho Tâm là Thư Hương. An nói:
– Phượng và Thư Hương, hai cái tên cùng đẹp. Không hiểu hai thằng này xuất hành hồi nào mà tìm được của thơm thế này…
Hai lá thư dù đã qua bao nhiêu chặng đường, không biết đã bao nhiêu bàn tay cầm tới, vẫn thấy thoang thoảng mùi nước hoa đắt tiền. Những mùi, những hương đó, rất quen thuộc với An.
Chàng có thể gọi tên từng loại nước hoa mà người con gái nào đã dùng, khi chỉ thoáng qua. Cái mùi êm dịu nầy, không thể là con gái con nhà rách. Nếu là con gái nhà rách thì mùi của nước hoa gay gắt, nặng mùi phàm tục.
An hỏi người Bưu tín viên:
– Tôi có thể mang tới cho chúng nó được không?…
– Không được!…
Người Bưu tín viên lắc đầu. Đó là một luật lệ. Không ai được nhận thư hộ ai, vì đã xảy ra nhiều cảnh cười đau khóc hận. Những anh chàng lính tàu bay thường có hàng triệu máu tếu ở trong người. Thấy thư của con gái, gửi cho bạn mình, anh chàng sẽ dùng bàn tay khéo léo của “diệu thủ thư sinh” bóc ra coi lén. Rồi lại dán lại y nguyên như cũ.
Những câu nói, những lời viết trong thư, giữa những cặp tình nhân, thường là lẩm cẩm và ngớ ngẩn. Những anh chàng ấy sẽ trở thành phê bình gia, phê bình văn chương một cách rất ồn ào, rất kỹ lưỡng thảo luận hết về nghĩa đen, nghĩa bóng. Nhiều khi, những lời phê bình ấy, pha chất tục tĩu, và kết quả xảy ra có khi rất đáng tiếc.
Bởi vậy đã có một luật lệ khi bắt đầu làm ra những hộc đựng thư nầy, là khuyến cáo thiên hạ nên mua một cái khóa, và không ai được nhận thư cho người khác. Nhưng vẫn bị những kẻ tinh nghịch lấy que khều ra đọc trộm được như thường.
An phẫn nộ:
– Hộp thư của chúng nó không có khoá. Ông để trong đó thì cũng như không.
Người Bưu tín viên bình thản:
– Nhưng luật lệ đã đặt ra, không thể nào làm trái luật. Thiếu úy có thể báo cho Trung úy Tâm, Trung úy Dương biết để hai ông đó tới nhận thư. Còn Thiếu úy cầm dùm thì quả thực tôi không dám đưa.
Anh chàng phi công tên An, hậm hực quay đi. Mọi khi, chàng được thư người yêu, là mở ra đọc ngấu nghiến, đọc như nhai, như nuốt từng giòng chữ. Nhưng hôm nay, vì hai lá thư của hai thằng Dương và Tâm đã làm cho An ngẩn ngơ. Hai cái thằng lạnh lùng với đàn bà, như hai tảng nước đá, vẫn thằng chế diễu chàng mỗi khi chàng nôn nóng như gà mắc đẻ vì chậm thư, ấy thế mà cũng có thư của đàn bà, con gái gửi tới. Mà lại là con gái thơm như hai cái tên Phượng và Thư Hương, thì cũng lạ.
An lừng khừng đi về phía phòng nghỉ của nhân viên phi hành. Đó là một gian phòng được đặt trên bốn bánh xe, có đầy đủ tiện nghi, một căn nhà lưu động thường thấy ở bên Mỹ. Nắng ở bên ngoài phi đạo đã bắt đầu chói chang. Những giọt sương khuya đã biến đi để lại ở đây chỉ còn nắng và gió. Chàng đẩy cửa bước vào. Hoi lạnh làm mát dịu hẳn.
Dương và Tâm đang nằm dài, đọc truyện kiếm kiệp. Tiếng âm nhạc ở đầu phòng vẳng lên nhè nhẹ. Nơi bàn viết, có vài thằng đang đi những đường xe pháo thật quyết liệt. Bàn cờ có vẻ tới hồi gây cấn, nên mấy kẻ đứng ngoài, im thin thít, không dám mách nước. An ghé nằm xuống một cái giường bên cạnh Dương :
– Mầy có quen cô nào tên là Phượng không?…
Dương bỏ quyển tiểu thuyết xuống, nhìn An:
– Có! Nhưng có chuyện gì vậy?
An không trả lời Dương lại hỏi Tâm:
– Còn mầy có quen ai tên là Thư Hương hay không?
Khi nghe An hỏi đến tên Thư Hương thì phản ứng của Tâm dữ dội hơn Dương nhiều. Thư Hương là em gái Tâm.
Chuyện gia đình của Tâm, thì Tâm đã kín miệng không kể cho ai nghe hết, cả người bạn thân nhất là Dương . Đến bây giờ lại có kẻ hỏi tới đứa em gái của chàng . Tâm ngồi bật dậy mặt lộ vẻ hốt hoảng:
– An, mầy nói gì?….Tại sao mầy biết Thư Hương là em gái tao?…
– Tao đâu biết cô Thư Hương là em gái mầy. Tao chỉ hỏi mầy có quen biết người con gái nào tên là Thư Hương hay không mà. Nghe mầy hỏi lại, tao mới biết. Chẳng có chuyện gì đâu. Mày với thằng Dương, hai đứa có thư. Thư của thằng Dương thì nàng Phượng gửi tới, còn thư của mầy, thì thấy đề ngoài bao thư là cô Thư Hương.
Tâm thở dài một tiếng, lại nằm xuống giường. Lần này, chàng không đọc nổi thêm một giòng chữ nào trên trang tiểu thuyết kiếm hiệp, dù đã tới hồi gây cấn, tả mối tình rất đẹp của Quang Minh Tả sứ Dương Tiêu, một nhân vật quan trọng của Ma giáo, với một nữ đệ tử của danh môn chính phái là Kỷ Hiểu Phù.
“Nghe tin nàng đã chết, Dương Tiêu ngửa mặt lên trời hú một tiếng đau thương. Lá cây rừng thi nhau rơi rụng lả chả chốc lát phủ đầy mặt đất.” Truyện kiếm hiệp mà tả đến như thế thì tuyệt, không còn chất bi thảm nào hơn thế nữa. Nhưng Tâm không đọc nổi, vì chàng tự nhiên thấy nhớ tới gia đình.
Không biết con bé viết gì trong thư? Tâm tự hỏi như vậy. Thì cứ ra ngoài hộp thư, cầm lấy, xé toạc ra, đọc hết lá thư, thì hiểu ngay chứ còn gì nữa. Nhưng chàng cứ nằm đó, trong đầu óc liên miên suy nghĩ. Tại sao mà con bé lại biết được địa chỉ phi đoàn của chàng? Ở nhà, không biết đã xảy ra chuyện gì?…
Chàng không phải là một kẻ bất hiếu, quên công ơn cha mẹ. Ở nhà, cha mẹ của chàng cũng chẳng ghét bỏ gì chàng, mà trái lại nữa là đằng khác. Chàng bỏ nhà ra đi, không muốn về nhà, cũng chỉ vì được cưng chiều quá. Chàng muốn đi vắng vài ba năm, không cho gia đình biết tin tức, để cho sự vắng mặt của chàng được coi là đã quen thuộc với gia đình, rồi mới trở về, xin lỗi tất cả. Chàng nhắm mắt lại, nghĩ lại những ngày xưa.
Lúc đã lớn tồng ngồng rồi mà khi tắm, vẫn bị mẹ ngồi bên cạnh kiểm soát, vì bà mẹ chàng cho rằng, chàng mà tắm thì thế nào cũng còn bỏ sót lại bọt xà-bông ở đằng sau tai. Chàng đã phải năn nỉ, van lạy mẹ nhiều lần, để chàng được sống như những đứa con trai thường, một đứa con trai sắp biến thể, để trở thành một người đàn ông.
Lúc chàng đau ốm, mẹ chàng cuống quít hẳn lên. Bố chàng thì dù trời mưa, cũng xách ô đi bộ tới nhà một ông bác sĩ là bạn của bố, mời tới nhà cho bằng được, để coi bệnh cho chàng, dù rằng cái bệnh ấy chỉ là một hứ cảm mạo xoàng. Sống ở gia đình chàng có cảm tưởng như người mình được chế tạo bằng pha lê, dễ vỡ, không dám đụng chạm mạnh.
Bởi vậy chàng đã quyết định đi xa nhà một thời gian, chọn một nghề thật nguy hiểm, để coi xem mình có còn là một đứa con trai, một thằng đàn ông hay không.
Ở giường bên cạnh, Dương đột nhiên la lên:
– Vô lý!…
Tâm giật mình:
– Mày nói cái gì vô lý?…Đọc truyện kiếm hiệp mà cứ muốn thấy sự có lý trong đó, thì một là mầy nhà quê, hai là mầy “tốc”.
Dương nhăn mặt:
– Tao nói vô lý là chuyện khác. Vô lý là ở cái lá thư của Phượng . Tại sao gần năm năm nay rồi, tự nhiên lại “phang” cho tao một lá thư thế này. Tao nghi thằng An quá.
Dương nghi như vậy vì nghĩ tới tính tinh nghịch của lũ bạn bè. Chúng nó dò la được chuyện tình của chàng và Phượng , dám làm giả mạo một lá thư lắm. Đã nhiều lần, chúng nó dùng đáy mấy lọ thuốc “pê-ni-ci-lin” bôi dầu xe rồi in nhòe nhoẹt lên bao thư, là giả con dấu nhà bưu điện, để đóng lên bao thư giả mạo. Thằng nhận thư tưởng thật, hí hửng bóc ra coi.
Trong thư cũng có những lời âu yếm, và một nơi hẹn nào đó, vào đúng một ngày nghỉ. Được một em gái hẹn hò, tất nhiên kẻ kia không thể bỏ lỡ một cơ hội bằng vàng. Mặc một bộ đồ thật đẹp, phóng xe như bay tới nơi hẹn trước cả nửa giờ rồi bồn chồn ngồi đợi. Em gái chẳng bao giờ tới, vì có hẹn gì với anh đâu. Chỉ có một lũ bạn bè quỷ sứ, đang nấp kín một chỗ, theo dõi một màn độc diễn rất hào hứng và lý thú.
Đợi cho tới khi người phải chờ đợi đã hành hạ cái đồng hồ hơi kỹ, cả bọn mới cười ồ lên, kéo ra, nói cho tên kia biết là nên đi về, vì đây chỉ là một sự đùa dai. Một màn chửi bới được biểu diễn rất kịch liệt, nhiều khi đưa tới sự đấm đá, nhưng rồi cũng huề cả làng. Lũ bạn bè đã từng sống chết với nhau, sống với nhau những ngày nhiều tiền và những ngày đói rách, không thể nào giận nhau được lâu.
Chính Dương cũng đã là thủ phạm của nhiều vụ đùa dai được mệnh danh là “cá tháng tư”. Bởi vậy nên lần nầy, thấy An báo tin mình có một lá thư, người gửi đề ngoài bao thư là Phượng, thì Dương bắt buộc có một tí nghi ngờ. Nhưng còn lá thư của Tâm?….Em gái Tâm, cô nàng Thư Hương, ngay đến cả Dương là người bạn thân nhất, cũng còn không biết, thì cái thằng An thi sĩ làm sao biết được.
Nhất định là Tâm có thư gửi tới từ gia đình. Dương vừa ngồi dậy thì Tâm nói:
– Có ra lấy thư thì lấy hộ tao luôn. Cái thằng An thật tệ. Thấy thư của chúng mình, nó cũng không thèm lấy giúp. Mầy mang hai lá thư mà nặng lắm sao An?…
An cãi:
– Tao cũng đã năn nỉ với lão già phát thư để cầm hộ chúng mầy. Nhưng lão nói tới luật lệ, làm tao chịu thua. Tao có thiện chí, tới bảo cho mà biết, còn trách nỗi gì.
Dương để mặc hai thằng lời qua tiếng lại , mở cửa chiếc “trailer” đi ra ngoài. Hơi nóng phả mạnh vào mặt.
Căn phòng kín, chỉ có tiếng máy lạnh chạy rì rầm, tiếng nhạc êm nhẹ, tiếng nói chuyện vui vẻ, chợt bị những âm thanh sinh hoạt ồn ào của phi trường ùa vào. Phía “hăng-ga” của Công xưởng, tiếng máy khoan và máy cưa, rít lên từng hồi dài chói tai. Một chiếc phi cơ đang thử máy ngoài sân đậu, quay những vòng cánh quạt thật mau, tạo nên tiếng ầm ỹ động cơ.
Sinh hoạt của phi trường thì ngày nào cũng thế. Chàng bước lên bực thềm hè của Phòng Hành Quân. Hai chiếc hộp thư, đề tên chàng và Tâm vẫn bỏ ngỏ, trong đó nằm trơ trẽn lá thư của Phượng và Thư Hương. Không biết Phượng viết gì đây?…Chàng run run cầm lá thứ, vụng về bóc ra xem.
Chất keo của bao thư không chắc lắm, nên chàng bóc ra thật dễ. Chàng mỉm cười, nghĩ tới lúc Phượng thè lưỡi liếm lên chất keo nầy, rồi dán chặt lại. “Nàng đã dùng nước miếng của nàng để đóng kín tâm sự của nàng. Nào thử đọc coi nàng tâm sự gì đây. Rõ thật là rắc rối”.
Một chiếc phi cơ di chuyển qua, anh chàng phi công ngồi trên đó, thấy Dương đang đứng đọc thư, dở trò tinh nghịch, xoay đuôi lại, tống thêm một tí ga cho gió thổi bụi mù tung, rồi lại di chuyển thẳng theo đường cũ. Bụi cát bay cả vào mắt vào mồm Dương. Lá thư tuột ra khỏi tay bay đi, chàng phải chạy theo lượm lại.
Anh chàng kia quay lại, nhe hàm răng trắng nhởn ra cười. Khuôn mặt đen sạm và chiếc mũ bay màu trắng, lấp loáng dưới ánh mặt trời, đã gần tới đỉnh đầu. Dương nắm tay doạ theo:
– Thằng đểu! Lát nữa bay về, thế nào tao cũng đá đít cho mầy dăm bảy phát.
Chàng đọc tiếp xuống dưới. “Phượng chịu thua anh rồi”. Tại sao em chịu thua anh? Chúng mình có đánh nhau, cãi nhau đâu mà tính đến chuyện được thua. Nhưng dù thế nào chăng nữa thì em chịu thua cũng phải. “Con quan đô đốc, quận công, lấy chồng cũng phải gọi chồng bằng anh”. Em chỉ là em Phượng dù cho có là Phượng ớt hiểm, Phượng đuôi ngựa, Phượng áo đỏ cũng chỉ là một đứa con gái. Công lực chưa tu luyện đủ mức hoả hầu.
Dương mỉm cười, lòng chàng lâng lâng như được một cơn gió mát thổi tới, đưa chàng bay bổng vào trong những đám mây màu xanh biếc. Chàng đã tìm lại được Phượng. Chàng chưa mất Phượng.
Rồi thoáng trong một giây, hình ảnh một đám cưới có lũ bạn bè tinh nghịch, có ông Chỉ Huy Trưởng còn rất trẻ mà cố làm ra vẻ đạo mạo cho hợp với cái nón “cát-kết” hoa lá cành, có cô dâu tên Phượng, có chú rể tên Dương . Cũng có những màn ca hát rất lẩm cẩm, và thế nào cũng có vài ba thằng say sưa, lên máy vi âm kể chuyện tục cho cả làng cười chơi. Chàng nói một mình:
– Chiều nay phải tới cám ơn vợ chồng thằng Hậu mới phải dạo làm người….
Dương biết rằng mối tình của chàng và Phượng được nối lại một cách êm đẹp như thế này, là cũng nhờ Hằng. Người đàn bà đã lấy chồng lính, thường muốn bạn gái thân thiết của mình cũng kết duyên với lính.
Đấy không phải là tính ích kỷ, mà chỉ muốn có chị, có em để chạy tới, chạy lui cho vui. Vợ của Luận, đối với Hằng thì cũng thân thiết đấy, nhưng dù sao cũng chỉ mới quen, quen từ lúc lấy chồng. Phượng thì lại khác. Hơn nữa, việc kết hợp giữa Phượng và Dương đối với Hằng được coi như là một bổn phận. Dương đọc lại lá thư.
Cũng chỉ có ngần đó chữ, không thêm được một chữ nào. Nhưng càng đọc, Dương càng thấy như hiện lên trước mặt khuôn mặt đẹp của Phượng, đôi mắt tròn, đen láy mỗi lúc ngạc nhiên, nụ cười thật sáng, thật tươi. Những ngày đầu gặp Phượng, Dương đã thấy khuôn mặt ấy như quen quá. Nghĩ mãi, mới biết rằng Phượng thật giống Đức Mẹ được dựng trong khắp các nhà thờ.
Thấy lá thư của Tâm còn nằm đó, Dương cầm lấy. Đã được Tâm nhờ lấy thư, nên Dương không còn e ngại ở luật lệ. Dương liếc nhìn tên người gửi và giòng chữ đề ngoài bao thư. Cô Thư Hương nầy, chắc cũng nhiều tính nghệ sĩ. Chữ viết chân phương, đều đặn, có một chút gì bay bướm. Tự nhiên Dương thấy giận Tâm.
Có một gia đình, có một cô em gái mà cũng không thèm về thăm. “Cái thằng kín đáo thật. Gần nó cả mấy năm nay, mà chẳng bao giờ được nghe nó kể chuyện về gia đình. Thằng này thật chúa gan.” Dương chợt buồn, nhớ tới gia đình mình, hiện còn đang ở miền Bắc. Nhiều đêm, Dương đã thức giấc vào quãng nửa đêm ra ngoài đầu hè, ngồi hút thuốc cho tới tận khuya, để nhớ nhà, nhớ người thân.
Những đêm đó, Dương cố tìm vì sao Bắc Đẩu đang sáng lập lòe, mà mơ ước ngày nào đó, được mang một cánh chim hoà bình, bay hướng về phía sao Bắc Đẩu, để rồi từng phút, từng giờ, nhìn thấy sao Bắc Đẩu cao dần…Ngày đó chắc còn xa lắm…
Tiếng phi cơ cất cánh, rú lên từ đầu phi đạo. Hai thằng bạn, hồi nãy di chuyển qua mặt chàng, bây giờ mới cất cánh đây. Dương nhìn theo hai chiếc phi cơ, vừa nhấc lên khỏi mặt đất, mấy bánh xe xếp vội vã. Bom đạn mang nặng chĩu dưới cánh…Trận giặc này có vẻ kéo dài còn lâu. Phi trường hoạt động nhộn nhịp với từng loạt phi cơ, mang bom đạn nặng chĩu ra đi, rồi lúc trở về, thênh thang nhẹ nhàng. Chàng bước xuống bực thềm, trở về phòng nghỉ.
Mở cánh cửa phòng, chàng vẫn thấy lại những cảnh cũ. Bàn cờ lại đầy quân. Chắc ván cờ hồi nãy đã kết thúc, hai đối thủ bày lại bàn cờ khác. Máy phát thanh ở đầu giường đã ngưng chương trình nhạc êm dịu và người xướng ngôn viên đang đọc tin chiến sự. Tâm bỏ cuốn tiểu thuyết xuống ngực, nhìn Dương:
– Không phải đồ mạo hoá chứ?
Dương cười:
– Thứ thiệt! Không hiểu nghĩ ngợi gì mà em lại gửi tới một lá thư đòi chịu thua, không dám “thi gan cùng tuế nguyệt”. Em chờ một sự trả lời…
– Mầy có trả lời không?
– Trả lời là một sự bắt buộc.
Tâm cười buồn:
– Như vậy chắc tao mất mầy rồi. Có em thì mầy đi chơi với em, chứ đâu còn đi chơi với tao nữa…
Tâm nói vậy với luyến tiếc thật tình…Những buổi rong chơi, phóng xe không có một mục đích gì, dọc theo bờ sông Đồng Nai, hay những lúc tới nhà hàng À la Plage, đấu tiếng Tây bồi với ông chủ quán, một ông Tây già còn sót lại miền đất này. Từ nay , chắc chẳng còn những buổi tối, ngồi ở nhà hàng, uống cà-phê để nhìn ra ngoài sông nước, ngắm những con thuyền qua lại bên kia sông.
Những buổi chiều, đi về phía núi Bửu Long, rồi dựng xe, xuống ruộng, nói với chú bé chăn trâu mấy câu để cỡi trâu, cho tâm hồn trở lại với thời trăng sao hoa bướm.
Dương chớp mắt:
– Thì có khác gì trước đâu. Trước kia, mình đi chơi hai người, bây giờ thì đi chơi ba người. Thêm Phượng nữa, cũng chẳng hại gì…À, thư của mầy đây.
Chàng móc túi, quăng cho Tâm lá thư. Nhìn mặt Tâm, chàng thoáng thấy có một chút thảng thốt. Khi Tâm bóc lá thư, Dương nhận thấy bàn tay của Tâm còn hơi run. Chàng nghĩ rằng, nếu mà chàng nhận được thư nhà, chắc chàng còn hốt hoảng hơn Tâm nhiều lắm. Tuy vậy, chàng vẫn nói đùa:
– Mày có vẻ cảm động, phải không? Thì ra người hùng, chỉ có thể nói cứng được những lúc khác, còn những lúc như thế nầy thì vẫn yếu đuối như thường ….
Tâm không trả lời, mở lá thư ra. Hai trang giấy viết dày đặc những chữ. Những giòng chữ chạy dài, ngay ngắn như một toán lính đứng xếp hàng duyệt binh, diễn qua trước mắt Tâm. Cô em gái Thư Hương của chàng, đã viết hết chuyện tâm sự của cả mấy năm trong một lá thư…
Tâm đọc những giòng chữ mà nước mắt rưng rưng. Tới những đoạn mà Thư Hương viết cảm động quá, Tâm thấy những giòng chữ ấy mờ đi.
Chàng phải đặt tờ thư xuống, nhắm mắt lại. Dương liếc nhìn sang bạn thì thấy hai giọt nước mắt trào ra ở hai bên đuôi mắt rồi từ từ chảy xuống phía tóc mai…
Người đàn ông mà khóc thì lặng lẽ, không ồn ào như đàn bà. Nỗi buồn của đàn ông, thường đau đớn và thấm thía hơn đàn bà. “Đàn ông nông nỗi giếng khơi, đàn bà sâu sắc như cơi đựng trầu” là thế.
Người đàn bà, khóc ồn ào đấy, nhưng mà quên ngay đấy. Nhưng người đàn ông, khi đã phải trào nước mắt, là đã chứng tỏ một nỗi đau canh cánh bên lòng. Có thể là một sự hối hận. Có thể là một sự thương cảm. Cả hai thứ, chỉ có thể có với những người đàn ông đầy ắp lương tâm.
Dương nằm im lặng, kính trọng nỗi buồn của bạn. Tâm đọc tiếp lá thư:
“Biết được địa chỉ của anh, em lặng lẽ viết thư cho anh, không dám cho mẹ biết. Mẹ mà biết được anh chỉ cách xa mẹ có ba chục cây số, thì không có một sức gì ngăn cản được bà cụ chạy lên với anh. Dù không có xe, không có phương tiện nào, bà cụ cũng dám cơm nắm, muối vừng, đi bộ suốt dọc xa lộ, để tới nơi mà anh đang sống. Ngày anh mới bỏ nhà đi, mẹ khóc nhiều lắm, nhưng bây giờ, mẹ không khóc nữa.
“Nhưng em không dám bảo đảm là mẹ đã cạn nước mắt. Gặp anh, mẹ chắc lại biểu diễn một trận mưa tháng bảy. Anh nên về nhà. Anh phải về nhà, sống với bố mẹ. Không khí gia đình bây giờ thật là buồn, thật nản, và rồi đây chắc sẽ buồn nản hơn, và em báo cho anh biết một tin vui: em sắp sửa lấy chồng!”
Tâm để lá thư xuống, nói một mình:
– Thế ra con bé sắp sửa lấy chồng.
– Con bé nào?
Nghe Dương hỏi, Tâm giựt mình, nhìn Dương cười gượng gạo. Đưa bàn tay kéo mạnh lên mắt để lau những giòng nước mắt chưa kịp khô. Chàng không ngờ câu nói ấy mà Dương lại nghe được.
– À, tao muốn nói tới con bé em gái tao. Thư Hương nó sắp sửa lấy chồng…
Chàng nói đến tên Thư Hương với một giọng thật âu yếm. Coi như Dương đã là người của gia đình chàng, đã quen biết với Thư Hương. Dương lại hỏi:
– Mày có mấy anh em?…
– Chỉ có hai anh em. Tao với Thư Hương.
– Thế thì bắt buộc mầy phải về rồi. Chẳng lẽ để cho hai cụ sống lủi thủi với nhau, trong những ngày tháng cuối của cuộc đời như thế này. Con gái, chúng nó có cuộc đời riêng của chúng nó. Khi đi lấy chồng là chúng nó phải lo cho gia đình bên chồng, đâu có thì giờ mà săn sóc tới bố, tới mẹ. Mầy phải về nhà.
Tâm nó bằng một giọng buồn:
– Mầy đuổi tao đấy à?…Có được em Phượng rồi, mầy đâu có cần tới tao nữa. Tao tiếc cái thời hai đứa chúng mình thênh thang, không có một tí bụi trần nào dính dáng vào người…
Dương phản đối ngay:
– Tao không đồng ý mầy nói câu đó. Tao không có gia đình, nên tao biết được những cái đau khổ của sự thiếu tình thương . Mầy thì có sẵn mà không biết hưởng. Gia đình mầy có bạc đãi mầy không?
Tâm thở dài:
– Nếu bạc đãi, ghét bỏ thì sung sướng cho tao biết mấy. Đằng nầy thì trái lại. Tao bỏ nhà đi, vì mẹ tao vẫn cứ tưởng như tao còn bé tí xíu, được tạc bằng pha-lê, chỉ cần đụng nhẹ cũng vỡ. Lớn xác tần ngần ra mà vẫn bị mẹ tắm. Đi đâu mà qua đường, cũng bị bà mẹ dắt tay dẫn đi. Ngày mới vào lính, mầy biết đấy. Tao không ăn được rất nhiều thứ. Thịt mỡ, xào nấu có hành, có tỏi là tao chê. Vì ở nhà, tao đã quen sống kiếp cậu ấm, chỉ ăn giò, chả, thịt rim…Bây giờ, nhờ đi lính tao đớp được hết. Tao lại còn chọn nghề lái tàu bay khu trục này, để thử lại từng con ốc ở trong người, coi đã lỏng lẻo hay chưa?…
Tâm muốn nói, nói thật nhiều về kiếp sống cậu ấm của mình, khi còn là một sinh viên trẻ tuổi. Sống với một ông bố già khoa cử, thèm làm cách mạng nhưng vì già rồi đành sống câm lặng như một cây cổ thụ. Và bà mẹ, đã già rồi, mà còn giữ được vẻ đẹp của một mệnh phụ khả kính thời xưa…
Nhớ tới mẹ, là nhớ tới cả một quãng đời xa xưa thời kỳ thơ ấy, nơi căn nhà rộng lớn gần hồ Trúc Bạch. Căn nhà như một viện bảo tàng, với đầy đủ những thứ đồ cổ. Từ những bức hoành phi, câu đối, cho tới những chiếc tủ chè, sập chân quì khảm xa cừ. Chiếc ghế tràng kỷ lót đá, vào mùa hạ, nằm lên mát lạnh người. Những thứ đó, sau khi di cư đã phải bỏ lại tất cả.
Tâm tiếc nhiều lắm, tiếc từ cái gối da, bố hay tựa tay đọc sách, cái cơi trầu đen, nhẵn bóng của mẹ, cho tới cái tủ đứng, mỗi lần mở, khóa kêu leng keng. Lá thư của Thư Hương đã kéo Tâm trở về với cái quá khứ dịu dàng, đầy tiếng thông reo trưa hè và gió lạnh heo hút mùa đông. Giang sơn của gia đình Tâm xây dựng đã bao nhiêu đời. Giòng họ này không phải là giòng họ đa đinh, mỗi đời chỉ có một người con trai.
Mẹ chàng đã cố tu nhân, tích đức, lễ hết các đền các chùa, để mong cho giòng họ thêm người. Nhưng rồi chỉ có được Tâm, rồi Thư Hương, rồi thôi. Cũng chính vì vậy mà Tâm được quí mến đặc biệt. Mà chính sự qúi mến ấy đã ám ảnh rất nhiều. Ngày còn nhỏ đã học đến lớp nhất rồi mà vẫn được cõng đi học. Lên trung học, đòi mẹ mua cho một chiếc xe đạp mà không được. Đi xích-lô thì chẳng thú vị gì.
Những giờ nghỉ vì giáo sư vắng mặt, hay vì một lý do gì, Tâm được chở trên xe hơi đi chơi quanh Hà-nội. Nhờ đó Tâm mới tập đi xe đạp và tập bơi tại bến sông nhà Bác Cổ.
Có một lần Tâm đã làm cho mẹ xuýt xoa. Một ông bạn của bố tới chơi, dựng cái xe đạp ở đầu nhà. Tâm đã trèo lên, đạp chạy phăng phăng. Mẹ Tâm nhìn thấy giật mình:
– Con tập đi xe hồi nào vậy?….
– Con chẳng cần tập cũng biết đi…
Rồi Tâm khoe với mẹ là mình còn biết bơi nữa. Mẹ Tâm đã ôm chặt lấy Tâm rồi…bà cụ khóc. Từ đấy những lúc Tâm đi học là lúc mẹ ở nhà thấp thỏm không yên. Nếu có thể bắt con ở nhà, hay theo con tới trường, thì chắc mẹ Tâm cũng làm rồi.
– Thế mà bây giờ, mình lại làm cái nghề nguy hiểm này. Nếu bà cụ biết được mình lái tàu bay khu trục, mang bom đạn đi giết người, chắc là bà cụ khóc thét lên được. Nhưng biết làm thế nào, khi bản chất của mình không giống mẹ…
Tại sao mình lại không thể giống mẹ?….Các bà cô, bà dì mỗi lần tới chơi nhà, đều khen Tâm giống mẹ đặc biệt. Cũng có đôi mắt hiền dịu, chớp chớp luôn. Cũng có khuôn mặt trắng trẻo, hai má có những đường gân xanh. Tâm sờ tay lên mặt mình. Chắc bây giờ, những đường gân xanh đã biến mất rồi. Cả màu trắng trên mặt cũng không còn nữa.
Nắng gió quân trường, súng đạn chiến trường đã biến Tâm thành một người khác. Trung úy Tâm, phi công khu trục, không thể là cậu Tâm được người cõng đi học, nhong nhong, ếp ếp trên lưng một anh người làm khoẻ mạnh. Tất cả mọi diễn biến thoáng qua như một sự đổi đời.
Dương hỏi Tâm:
– Mầy thức hay ngủ đấy?
Tâm giật mình, choàng tỉnh. Lá thư của Thư Hương đã rơi xuống đất. Chàng nhặt lên, gấp gọn lại cho vào bao thư, đút lá thư vào túi áo bay.
Dương nói tiếp:
– Đi ăn cơm! Hôm nay tao với mầy trực hành quân nên ăn cơm sớm một chút.
Tâm uể oải:
– Ừ thì đi! Không có gì nản bằng phải đi bay buổi trưa nắng đến cháy lưng áo. Lúc bay ở trên trời thì còn dễ chịu, chứ lúc di chuyển ở dưới đất, cái dù áp vào lưng, cái nón bay ôm chặt lấy tai, nhiều lúc làm tao nóng đến phát điên…
– Thì cũng đành chịu chứ biết làm sao!…
Tâm và Dương đi ra cửa. Nhìn sang An thấy tên phi công này đọc thư của em gửi tới, thỉnh thoảng trên môi lại nở một nụ cười. Cái thằng thế mà sướng! Dương nói vậy, thì được Tâm chỉnh ngay:
– Tụi mầy rồi cũng thế…Tao sợ rằng em Phượng của mầy ít nữa còn viết thư lẩm cẩm hơn con bồ của thằng An nhiều lắm.
Dương cãi:
– Cái đó thì không phải nghề của Phượng. Mày chưa biết Phượng đấy thôi. Lát nữa, lúc chờ cơm, tao sẽ đưa cho mầy coi lá thư của Phượng viết cho tao. Hơn năm năm xa nhau, lúc gửi thư mà chỉ viết vừa đúng một trang giấy. Không thừa, không thiếu một chữ.
Phượng, lúc nào cũng nhắc tới Phượng. Thấy Dương cứ nhắc tới tên Phượng hoài, Tâm muốn chửi một phát. Bao nhiêu năm đi lính rồi, nhưng khi trở về với tình yêu, con người vẫn ngây thơ một cách tức cười. Tâm nghĩ rằng, chắc cặp này nói chuyện với nhau , như các cậu học trò mới lớn, vẫn xưng tên thay cho những tiếng “anh, em” . Nắng đã lên thật chói mắt.
Từ ngoài phi trường thiếu bóng cây, vào tới vùng trong căn cứ, bóng cây cao su cổ thụ thật rợp mát.
Hai người chở nhau trên chiếc xe. Tâm ngồi đằng sau lưng Dương mà nghe thấy gió lộng ào ào.
– Chạy chậm thôi mầy! Tao không muốn què một cẳng, gãy năm bảy cái răng vì cái thứ xe chỉ có hai bánh…
Dương nói trong tiếng gió:
– Tao đang yêu đời…
– Vậy thì càng nên chạy chậm.
Chiếc xe chạy chậm lại một chút, nhưng rồi lại vọt đi. Tới một ngã ba, Dương làm một phát lượn vòng thật đẹp, như mỗi lần ở trên trời làm những vòng bắn hẹp, nghiêng hẳn phi cơ đi để có một bề mặt thật nhỏ, tránh đạn phòng không. Tâm hét lên:
– Phần nào thôi Dương! Mầy có điên hay không?
Dương cười vang thích thú. Chàng lại có Phượng, có được mối tình đẹp như thuở xưa. Chiếc xe ngừng lại, Tâm đã nhảy xuống đất rồi mà Dương vẫn còn ngồi trên xe, rú máy xe ầm ầm. Tâm nhìn Dương lắc đầu rồi cười tha thứ. Nó đang sung sướng, thì để cho nó tận hưởng hết những thú vị của tình yêu.
Tâm ngồi vào bàn ăn. Cũng vẫn là chiếc ghế nhìn thẳng ra cửa sổ. Đúng như anh chàng chủ Câu Lạc Bộ đã nói. Tâm nhìn thấy lá cây cao su lấp loáng phản chiếu ánh nắng, những tảng mây trắng nõn lững lờ trôi hay đứng im chết sững trên nền trời. Vào mùa mưa, thì Tâm được nhìn thấy những hạt nước mưa rơi thẳng đứng, vì nơi đây, bốn bề là nhà che khuất nên vắng gió.
Dương cười đùa với cô nàng ngồi ở quày hàng. Thằng nầy đang vui nên đùa có vẻ hơi quá lố, nên Tâm thấy mặt cô hàng nặng như đeo một tảng đá.
Bữa ăn hôm nay, chỉ có Dương nói nhiều…Anh chàng đưa cho Tâm đọc lá thư, kể về chuyện Phượng. Chuyện của chúng nó ly kỳ, hấp dẫn như thế, mà đến hôm nay mới được nghe. Nhưng rồi câu chuyện cũng hết. Lúc đó mới là lúc Tâm buồn, thật buồn.
– Còn về chuyện lá thư của mầy. Mầy vẫn chưa kể cho tao nghe về chuyện gia đình của mầy…
Tâm đăm chiêu nhìn vào ly nước trà đá đã tan hết. Phía bên ngoài ly, nước đọng từng giọt lạnh buốt, thấm vào lòng bàn tay. Chuyện gia đình của Tâm là thế đó. Lạnh và đọng nước như ly nước đá nầy.
Tâm nói về một gia đình quan lại, không có một chút hãnh diện nào, mà chỉ có những bực bội, vì những người nuối tiếc thuở “vang bóng một thời”. May mà Tâm thoát ra khỏi đấy sống như một người thường. Nhưng lúc nào cũng nghĩ tới những người thân yêu.
– Tao sẽ về thăm nhà vào chủ nhật tuần nầy. Tao muốn mầy phải về cùng với ao, để mầy làm cái thắng ngăn chặn bớt lại. Khi nào mẹ tao khóc nhiều quá, tao sẽ lấy mầy ra để làm cái cớ ngăn bà cụ nín khóc. Tao sẽ nói “mẹ đừng làm vậy thằng Dương nó cười con”. Bố tao sẽ thở dài thật nhiều, rồi nói đến chuyện thánh hiền, lúc đó tao sẽ nói “có thằng Dương, bố phải vui vẻ lên, hôm nay nó là khách của nhà ta”. Gia đình tao, dù cho chuyện gì buồn đến thế nào chăng nữa nếu có người lạ, sẽ cố dấu tất cả. Có như vậy tao mới có thể về thăm nhà.
– Nhưng tao không muốn làm người lạ. Tuy mới quen biết, nhưng tao đã tự coi như một đứa con trong gia đình của mầy. Tao muốn như vậy.
– Mầy giúp tao một lần thôi.
Dương thở dài…Cái vui hồi nãy như biến đi khỏi con người Dương. Thì đã nói, Dương chỉ là một đứa trẻ con, cười ngay đấy, rồi khóc ngay đấy. Đã từ lâu, chàng thèm được hưởng một chút không khí gia đình. Chàng cũng mong Tâm đưa chàng về gia đình Tâm, sống ở đó để nhớ lại những ngày xưa thơ ấu. Chàng sẽ coi cha mẹ Tâm như cha mẹ chàng, và cô em gái Thư Hương như cô em gái của chàng. Dương uống cạn ly nước rồi thẫn thờ đứng dậy. Lúc trở về phi đoàn, chàng chạy xe rất chậm…
Khi Tâm và Dương về tới phi đoàn, thì tiếng còi hụ đặt trên nóc hồ nước rú lên một hồi thật dài báo hiệu giờ tan sở. Mọi công việc như ngừng hẳn lại. Tiếng động cơ xe hơi, xe gắn máy thay thế cho tiếng phi cơ. Nơi nhà để xe ồn ào lên một lúc, rồi tất cả trở về với vắng lặng.
Trên sân đậu, chỉ còn lại vài ba bóng dáng những cơ khí viên trực đi lủi thủi giữa những dẫy phi cơ nằm im lìm, bất động.
Dương nhìn thấy một người thật quen đi trong cái ánh nắng ấy. Chàng cất tiếng gọi lớn:
– Hậu!….lại đây mầy!…
Hậu vẫn lừng khừng đi tới không vội vã. Vừa thấy Hậu đặt chân lên bực thềm trước Phòng Hành Quân, Dương đã vội khoe ngay:
– Tao mới nhận được thư của Phượng.
– Ừ…
Hậu vẫn thản nhiên một cách đáng ghét. Dương đã bắt đầu thấy muốn nổi giận:
– Mầy không hỏi thêm tao một câu nào nữa à ?…
– Hỏi thêm làm… cái mẹ gì. Ở nhà, nghe chuyện của mụ vợ, tao đã khổ cái lỗ tai vì chuyện của mầy với em Phượng. Bây giờ, mầy lại bắt tao phải nghe nữa, thì mầy cho tao một cú đấm, nằm lăn ra đây ngủ một giấc, có lẽ còn khoái hơn…
Tâm nói xen vào :
-Thằng Dương là một thằng chúa vô lý. Chuyện của mầy mà cứ bắt thiên hạ phải nghe là nghĩa làm sao ?…
Hậu không chào từ biệt, lại bỏ đi ra ngoài sân nắng, Dương nói theo :
– Chiều nay, ở nhà mầy có cái gì ăn uống được không ?…
Hậu trả lời mà không ngừng bước:
– Muốn ăn thì cứ tới, rồi đi mua sau. Đừng có hỏi trước như vậy…
Tâm và Dương nhìn theo Hậu. Ai có thể ngờ được một con người như thế, mà đã có một thời oanh liệt. Những ngày học tại trường cơ khí bên Tây, Hậu là một chuyên viên xuất sắc, lên bảng danh dự đều đều. Mọi da trắng, mọi da đen và mọi da vàng sợ khiếp vía. Về những môn ăn chơi, Hậu cũng vẫn đứng đầu với những bước nhảy tân kỳ, lả lướt.
Nhưng bây giờ chỉ còn là một chàng cơ khí viên nghèo nàn, nợ muốn nặng chĩu cả đôi vai, rồi tự dưng biến thành một tên gàn dở muốn chịu hết nổi.
Tâm nói với Dương :
– Tao với mầy về phòng nghỉ, coi xem có lệnh phải bay hay không ?…
Hai người lại về phía phòng nghỉ. Buổi trưa, căn phòng lạnh này thật đáng quí. Vẫn chỉ có tiếng máy lạnh chạy rì rầm, tiếng nhạc thật nhẹ và những chồng sách báo nằm bừa bãi. Tâm nhắc chiếc “tê-lê-phôn” lên, quay vài vòng.
– Có gì lạ không bạn ?… Ô kê, chúng tôi nằm đây chờ. Phải rồi … Trung úy Tâm, Trung úy Dương. Có gì, cứ việc phát cho một tiếng chuông. Những chiếc tàu bay nào bay được?… 374 và 392. Đồng ý ! Bạn nói với toán trực phi đạo kiểm soát kỹ dùm. Cám ơn….
Tâm nói liên hồi trong điện thoại… Dương nhắm mắt rồi chỉ còn nghe thấy tiếng nói của Tâm thật mơ hồ. Buổi trưa, ngồi trực hành quân thật buồn, nên thường dùng điện thoại, cố kéo dài cuộc đối thoại, để thì giờ chóng qua đi. Dương đi vào một giấc ngủ chập chờn. Khuôn mặt của Phượng, những năm về trước lại thoáng hiện về trong giấc mơ.
Dương nghe thấy cả tiếng cười pha lê loang ra, trùm lấy dần giấc ngủ. Như một viên gạch ném xuống mặt nước lặng yên. Những vòng tròn nhỏ, lớn xoáy nhẹ trong đầu.
Dương xoay mình nằm nghiêng để nghe thấy tiếng rì rầm của chiếc máy lạnh lớn hơn, Dương chợt giựt mình vì có một bàn tay lay rồi có tiếng Tâm:
– Dậy đi bay! Ngủ gì mà kỹ thế?…
Dương uể oải ngồi đậy cho chân vào trong giầy. Chàng tới cuối phòng mở vòi nước rồi đưa cả đầu vào. Nước lạnh làm cho Dương tỉnh hẳn.
Chàng lắc đầu thật mạnh. Dùng mấy ngón tay làm lược, chàng vuốt lại mái tóc. Nhìn vào trong tấm gương trước mặt, Dương thấy khuôn mặt chàng thật nghệ sĩ. Có nhiều lúc, chàng cũng thích viết văn, thích làm thơ. Nhưng đã thử nhiều lần, viết xong đọc lại, thấy văn thì nặng mùi, và thơ thì… khó ngửi, chàng xé đi không một chút luyến tiếc. Tâm dục:
– Mau lên mầy! Còn sửa sang nhan sắc mãi.
– Thì cũng phải có một tí đẹp trai để còn làm cái công việc giết người. Nhưng vùng hành quân là vùng nào vậy mầy ?… Có nặng lắm không ?
Tâm giở vội tấm bản đồ:
– Vùng Y T… chỗ nầy đây. Tao với mầy thì nhắm mắt cũng bay được tới vùng nầy. Cứ đánh đấm nhau hoài. Sao không làm một mẻ bào láng, rồi khai quang đi cho được việc. Cứ như một nơi, dùng làm chỗ thử lửa…
Dương ngồi lên một chiếc ghế, buộc lại chặt giây giầy. Tâm đã bước ra cửa, Dương cũng đứng dậy đi theo. Chàng nhìn vào đồng hồ và chợt giật mình. Ấy vậy mà trời đã vào cơn nắng xế. Thời gian này là lúc nóng nhất trong một ngày nhưng rất may là có nhiều cơn gió thoảng.
– Không ngờ tao ngủ một giấc dài ghê…
– Ừ, tao nhìn thấy mầy ngủ mà phát thèm. Tao đã nhìn kỹ lúc mầy ngủ. Không đến nỗi xấu xí lắm. Có nhiều thằng ngủ trông xấu chịu không nổi. Mặt thì nhăn như mặt khỉ, lâu lâu còn nghiến răng rồi lảm nhảm nói mê…
Dương đi bên cạnh bạn… Những thứ như nón bay và dù, đã để trên phi cơ nên hai người lên đường với một tấm thân nhẹ thênh thang. Chỉ vướng có một vài tâm sự nặng chĩu. Nhiều lúc Dương đã nhìn những cảnh tiễn đưa nhau, mỗi lần lên đường xuất ngoại, hay chỉ là một chuyến đi thông thường, chẳng có gì nguy hiểm. Những buổi tiễn đưa ấy đã làm Dương nhớ tới giọng khinh bạc của Nguyễn Tuân : “Chỉ còn thiếu cái cảnh mặc áo trắng qua đò, là đủ lệ bộ của một cuộc tế sống anh chàng kiếm sĩ Kinh Kha sang Tần”. Còn những người sống với nghề nguy hiểm nầy ? Như Tâm và Dương… Mỗi chuyến đi là một lần gần kề với cái chết, mà mỗi lần đi là một lần lặng lẽ, chẳng có tới một chiếc khăn tay vẫy chào nhau.
Lúc đặt chân xuống mặt sân đậu là lúc Dương tỉnh hẳn ngủ. Cơn gió mạnh chợt nổi, bốc hơi nồng. Bụi phi trường chạy la đà, dài theo cơn gió. Chàng cũng cảm thấy bước chân xiêu xiêu, và bộ đồ bay như dán vào một bên. Chàng nhìn sang Tâm, mỉm cười bâng quơ.
Chiếc phi cơ nằm sững như chờ đợi. Bóng đáng của khối sắt thật kiêu hùng.
Những ngày rời bỏ chiếc phi cơ quan sát nhẹ nhàng về đây, nắm lấy cái cần lái phi cơ khu trục, chàng có cảm tưởng như một chú trẻ mục đồng đang dắt một con bò hiền lành ngoan ngoãn, phải đi chăm sóc một con trâu rừng. Mọi động tác đều dữ dội. Nghiêng thật mạnh, chúi thật thấp rồi kéo lên thật bạo. Đủ mầu hiện lên trước mắt, kể cả những vùng lửa đỏ và chớp loé súng phòng không.
Chàng trèo lên tàu. Người cơ khí viên giúp chàng buộc lại chiếc đai đù. Đội chiếc nón bay lên đầu, nhìn sang cười với Tâm, rồi theo ngón tay làm dấu hiệu của người cơ khí viên, chàng cho máy chạy.
Tiếng máy nổ rền, một làn khói xanh thoát ra từ ống khói bay tản mạn rồi loãng tan đi. Tiếng nói bên tai đã vọng về những âm thanh quen thuộc. Trên nóc hăng-ga là chiếc ống gió; nằm căng thẳng, đuôi hướng về phía đầu phi đạo 27.
Chàng nhìn thấy bánh xe của Tâm nhích lên, rồi chiếc phi cơ chạy, quẹo tay mặt, qua mặt chàng. Tai chàng nghe thấy tiếng Tâm thử máy vô tuyến, những lời đối thoại với Đài Kiểm Soát phi trường, êm dịu, bình thản như tất cả mọi chuyến bay.
Một chiếc xe của toán chuyên viên vũ khí, chạy theo sau phi cơ của chàng để gắn điện vào hột nổ nơi phía cuối đường bay…
Sau giấc ngủ trưa dài, Dương thấy mình thoải mái, nhẹ nhàng. Mặt trời chênh chếch, chiếu lấp loáng vào mặt kính phía trước. Con đường vận chuyển, trải xi măng phẳng rộng thênh thang, chàng để cho con tàu tự do chạy trên đó không một chút vấp váp, gập ghềnh.
Chàng kéo cái khăn quàng ra khỏi cổ áo cho gió thổi phất phơ, rồi ngửa mặt lên trời, hít một hơi dài cái không khí mênh mông của phi trường, phảng phất một chút khét nơi đầu máy. Chàng tưởng rằng, không cần cái vật vô tri nặng nề cục mịch này , chàng cũng có thể bay bổng lên trời như một cánh chim.
Khi chuyên viên vũ khí, từ trên xe nhảy xuống đất, Dương cười, dơ thẳng cả hai tay lên trời. Mọi khi, chàng chỉ để bàn tay lên hai thành cửa, để cho những chuyên viên ấy biết rằng chàng không đụng gì tới những nút điện ở phía dưới. Nhưng hôm nay, lòng chàng như mở rộng, tâm hồn khoáng đãng rất trẻ con, chỉ thích đùa nghịch, vui chơi.
Ngay sát cánh bên trái của chàng, Tâm đang nhìn thẳng về đằng trước, nét mặt đăm chiêu. Dương chắc là Tâm đang nghĩ tới lá thư nhận được buổi sáng. Gió phi trường chiều nay thổi lên lồng lộng.
Những người chuyên viên cơ khí đã lên hết trên xe. Dương đẩy tay ga, nhìn lại một dẫy đồng hồ. Tất cả đều bình thường…
– Số 2, thử máy xong!…
– Đài kiểm soát, Phụng Hoàng xám xin phép cất cánh!
Chàng nhìn theo Tâm lướt về phía trước thật nhẹ nhàng, đôi bánh xe gấp vào thật gọn. Tới lượt chàng đẩy nhẹ tay ga và buông chân thẳng…
Chiếc phi cơ được xả thắng chồm lên như một con ngựa ngàn dặm được nới lỏng giây cương. Dương hơi bị kéo lại đằng sau.
Chàng lấy làm lạ là hôm nay, động tác nào của mình cũng mạnh bạo. Đáng lẽ, chỉ nên thả từ từ.
Sàn xi măng lót phi đạo thật bằng phẳng. Dương nghe thấy cả tiếng bánh xe chạy phía dưới nệm ngồi, một thứ tiếng rì rầm của một trận mưa không có gió. Rồi chợt tàu nhấc bổng, nhẹ nhàng, thênh thang. Cỏ cây như chạy ngược chiều.
Đất hai bên phi đạo, chưa kịp mọc lên những đám cỏ mướt, nên hiện ra loang loáng, nhiều mầu xám, đỏ… Dương gấp bánh xe lại, bay thấp dọc theo phi đạo, cho tới hết màu trắng xi măng mới kéo vụt lên đuổi theo chiếc phi cơ của Tâm, bây giờ chỉ còn là một chấm nhỏ.
– Số 3, cất cánh xong !…
-Hiểu rõ… Đài kiểm soát Phi trường, xin phép được rời tầng số của Đài, để liên lạc tầng số hành quân. Số 2, đổi qua tầng số 4. Bốn, hai lần hai…
Dương thò tay qua bấm nút vô tuyến. Tiếng nói của Trung Tâm Hành Quân hỗn độn hơn. Vùng trời này, lúc nào cũng đầy những phi cơ mang bom đạn, tới tấp gọi về báo cáo tình hình, xin chỉ thị, rồi những tàu bay quan sát đọc những công điện dài lê thê. Nhiều lúc, Dương muốn tháo bỏ cái nón bay, rồi bay lên thật cao, để ở chung quanh, ngoài tiếng động cơ, chỉ còn một sự yên lặng thật mênh mông. Những lần bay thử phi cơ vừa làm kiểm kỳ xong, Dương đã làm như thế, và những giây phút đó, là giây phút sung sướng nhất.
Nhưng hôm nay là một phi vụ hành quân. Chỉ cần gọi ba lần mà không thấy Dương trả lời, là tất cả mọi người đã lo âu thắc mắc. Chàng nhìn sang bên trái, thấy cái mũ bay của Tâm thấp thoáng trong lòng khung kính phi cơ. Từ nãy giờ, Tâm mải liên lạc với Trung Tâm Hành Quân. Tiếng nói của Tâm ở bên cạnh, và tiếng nói của những người ở đưới đất, vọng tới bên tai Dương với một giọng đều đều không lúc nào lớn lúc nào nhỏ. Chàng vẫn lắng tai nghe, vì những lời nói với Tâm, cũng là những lời nói với chàng. Dương cũng định cười đùa dăm bảy phát bằng cách sàng qua sàng lại bay qua bên trái rồi lại trở qua bên mặt chiếc tàu bay của Tâm, nhưng nhìn thấy dưới cánh bom đạn vẫn còn nặng chĩu nên lại thôi.
Đã nhiều lần Dương đùa với cái chết. Nhưng với những cái chết vô nghĩa thì có khác chi đi giang hồ bốn biển không chết, mà lại chết vì sụp lỗ chân trâu. Dương đã thấy nhiều cái chết được mô tả là lãng nhách. Chàng không thể trách những người bạn tuổi trẻ không thể kìm hãm được những cơn hứng nhất thời, cũng như chàng hôm nay, rất muốn nổi hứng.
Nhưng khi sắp sửa làm, nghĩ tới những cái chết thê thảm, bắt buộc phải ngừng lại. Những chiếc đồng hồ trước mặt in khuôn mặt chàng lờ mờ hiện lên. Chàng nhìn thấy cả đôi mắt của chàng đang chớp… Rồi từ đó nhìn ra, chàng thấy cả đám không gian mênh mông mù mù xanh biếc. Trời chiều nay sương xuống sớm.
– Xám 2, quẹo trái hướng 045…
-Hiểu, hướng 045…
Dương đạp nhẹ một bên bàn đạp. Chiếc phi cơ ngoan ngoãn vâng lời, sát bên cánh của Tâm, như cả hai chiếc phi cơ, chỉ có một người điều khiển. Tiếng của Tâm lại vang lên :
– Mầy nhìn thấy chiếc phi cơ quan sát chưa?…
– Nó bay mấy ngàn bộ ?…
– Hai ngàn…
Dương nói với Tâm :
– Vậy mình nên bay cao hơn nó.
– Đồng ý…
Hai chiếc phi cơ ngước cao đầu lên… Tiếng máy, thật ngọt. Cao độ kế chỉ hai ngàn năm trăm bộ. Tâm và Dương lấy lại thăng bằng. Dương chợt la lên :
– Tao thấy nó rồi. Hướng mười giờ. Mầy liên lạc với nó đi…
Tâm nghiêng đầu nhìn xuống. Cánh chuồn chuồn mỏng manh đang làm những lượn vòng xuống thấp. Rừng cây phía dưới mù mịt, và về xa xa phía trái, Tâm nhìn thấy toàn diện hình tam giác của một chiếc đồn nhỏ chơ vơ. Ngoài đồn là bãi đất trống, bao bọc chung quanh. Tuy rằng ngồi trên cao, nhưng Tâm cũng ước lượng rằng khoảng rộng của khoảng đất ấy cũng phải tới vài trăm thước. Nhìn thấy các công sự vẫn chưa đổ nát nhiều lắm, Tâm mừng thầm. Chàng và Dương đã tới kịp thời…
Chiếc đồn nhỏ, nằm gần ngay quốc lộ. Tâm nghĩ là nhờ chiếc đồn này mà người dân quê có thể biết được thành phố. Nếu chiếc đồn này mất, thì kể như cả một vùng này không còn là của ta. Tâm đã nhìn rõ cả cái thế bất lợi. Ba mặt là rừng hoang, cách đó chừng một cây số là trái núi tuy không cao lắm, nhưng đứng từ trên đó, cũng đủ thấy hết sinh hoạt ở trong đồn. Trên đỉnh núi, cũng có một lô cốt rào giây kẽm gai, nhưng có lẽ đã bị chiếm rồi, nên chiếc cột cờ không còn lá quốc kỳ bay trong gió buổi chiều.
Tâm bắt đầu liên lạc với chiếc phi cơ quan sát:
– Hai Phụng Hoàng Xám đã tới mục tiêu. Đang ở phía bốn giờ của bạn… Xin cho biết chi tiết mục tiêu..
Tiếng nói thân mật bắt đầu oang oang như muốn chạy thẳng vào đầu Tâm và Dương. Một thứ tiếng quen thuộc của một thằng bạn:
– Thằng Tâm phải không? Thằng nào cùng đi với mầy đấy ?… Thôi chẳng cần phải trả lời, tao cũng biết là thằng Dương rồi… Đúng hướng mầy đang bay tới. Phía Đông Bắc của đồn, đang bị uy hiếp nặng. Hãy gửi cho chúng nó vài ba con heo rồi tính sau…
– Đồng ý ! Kể như xong rồi…
Tâm và Dương cùng mở hết khóa an toàn sẵn sàng vào cuộc. Nhìn về phía Đông Bắc, rừng cây rậm rạp. Trong đám đen của bóng cây dưới thấp, vài ba lằn chớp liên hồi. Tâm thấy phía đó, chúng có ít nhất là năm cây đại liên. Cần phải cho những thằng này câm họng trước.
Tâm la lên:
– Sửa soạn, tao bắt đầu vào vòng oanh kích…
Chiếc phi cơ lật mạnh về phía trái, nghiêng chiếc bụng trắng về phía Dương. Những lúc này Tâm và Dương chỉ trao đổi với nhau những tiếng ngắn và gọn. Tiếng vào vùng oanh kích hay ra khỏi vùng oanh kích được thay bằng những tiếng “in” và “out” cho gọn. Tâm vòng lại, cánh quạt quay tốc độ mạnh. Tâm thấy rừng cây dâng lên thật mau, rồi từng hàng kẽm gai và hầm hố.
– Một “in”….
Chiếc cột cờ lướt qua dưới bụng Tâm, lá cờ vẫn còn nguyên vẹn. Chàng bấm một chiếc nút. Chiếc phi cơ như nhẹ đi, khẽ chòng chành. Chàng kéo vụt lên và bên tai vọng thấy một tiếng nổ ầm. Chàng bình thản :
– Một “out”!
Tới lượt Dương:
– Hai “in”!
Cũng động tác ấy, Dương chúi xuống. Chiếc phi cơ thuần thục đến nỗi, Dương chỉ cần nhích nhẹ bàn tay cũng thấy phi cơ chuyển động. Độ chúi của Dương thật lớn. Dương thấy người như muốn rời ra khỏi chiếc ghế ngồi. Đôi cánh xẹt ra hai làn khói trắng. Hai trái bom lại rời ra khỏi hai bên cánh. Dương kéo lên thật mạnh. Máy chạy ngọt không một chút rung…
– Hai “out”!…
Tiếng reo của anh chàng phi công quan sát:
– Tuyệt điệu! Bốn con heo của hai thằng mầy đáng tiền lắm. Chúng nó câm rồi! Nhưng cũng nên cho thêm vài ba phát nữa xa hơn mục tiêu cũ hai trăm thước.
– Xong rồi…
Lại “in” và “out”.. Trận đánh có vẻ hơi tẻ nhạt. Tâm và Dương vẫn thích đánh với phi tuần nhẹ, chỉ có hai chiếc, đánh đấm thoải mái hơn, vùng vẫy khoái hơn. Phi tuần nặng bốn chiếc, chỉ làm vòng oanh tạc rộng cũng đủ mất thì giờ, mà chờ nhau cũng đủ mất sướng. Còn với hai chiếc thì thanh toán bom đạn rất lẹ. Lần này vừa thả xong trái bom, Dương quẹo liền, vừa vút lên cao vừa ngó xuống, để được thấy từng bụi cây, đất đá bắn tung. Trong lúc đó nếu có thể được, chàng đã buông cần lái, vỗ tay reo…
Lại có tiếng của anh chàng phi công quan sát :
– Thằng Dương đừng bay sát vào gần núi ! Trên đó chúng đặt mấy khẩu đại liên. Nó xơi tái mầy bây giờ. Tránh ra xa đi.
Dương hỏi lại:
– Ở chỗ nào, chỉ cho tao để tao đáp lễ!…
– Chưa tới lượt chúng nó. Hãy bào láng chung quanh đồn trước đã…
Tâm và Dương cùng bay lên cao để cho chiếc phi cơ quan sát xuống thấp coi lại mục tiêu. Cánh chim mỏng manh, nghiêng như muốn cắm cái cánh nhỏ bé ngập vào rừng cây. Tâm nhìn về phía quốc lộ, thấy một chiếc xe đò lật nghiêng, khói còn nghi ngút cháy. Chung quanh chiếc xe đò, vắng tanh không một bóng người. Hành khách và tài xế không biết đi đâu. Chàng và Dương lái vòng trở lại.
Tiếng của người phi công quan sát :
– Dưới đồn cho biết mặt đó yên rồi. Họ có hỏi tên chúng mầy để làm một phát suy tôn. Còn những mặt kia nhiều địa đạo lắm. Tụi mầy có thể gánh bằng “cà-nông” và “rốc-kết”.
Vẫn một sự hăng say như lúc mói lâm trận, Tâm và Dương đẩy cần lái… Sau những lùm cây, Tâm nhìn thấy những bóng áo đen di động.
Hầm hố dầy chi chít, như một cái tổ ong. Chàng gửi hai trái “rốc-kết” vào một địa đạo. Rồi tới lượt Dương. Tới vòng thứ tư, thì những hầm hố và khoảng đó, vắng những bóng áo đen di động. Chỉ còn lại những con người bất động…
Những lần bay lên cao chờ đợi, để cho chiếc phi cơ quan sát xuống thấp coi lại mục tiêu, Tâm lại nhìn về phía chiếc xe đò đang cháy dở dang. Tâm thắc mắc rất nhiều về số phận của những hành khách. Không biết bây giờ, họ đã bị dẫn đi đâu ?… Có thể, họ đã được dẫn vào trong rừng, rồi vì thua trận, những kẻ kia bỗng nổi thú tính, quét qua người họ một tràng đạn. Từng tấm thân người gục ngã một cách tức tưởi. Có lẽ, có nhiều kẻ, lúc gục xuống chết, còn không hiểu lý do vì sao mà mình lại chết.
Chàng muốn ra tay nghĩa hiệp, giải cứu cho họ, nhưng chàng chỉ là một cánh chim. Dù cho là một cánh đại bàng thì đôi chân cũng không thể đặt xuống ở bất cứ một chỗ nào. Nhờ những người ở trong đồn kia chăng ? Có thể được lắm, nếu chàng nói ra ý nghĩ đó, chắc những người kia sẽ không từ chối.
Nhưng hiện nay, họ phải tự bảo vệ sinh mạng của họ trước đã. Nếu cuộc công đồn này kết thúc, họ cũng phải sửa sang lại công sự chiến đấu, rào lại những hàng giây kẽm gai đã bị bộc lôi phá thủng, đặt lại những trái mìn ngoài hàng rào phòng thủ. Tâm biết rằng công việc dành cho một chiếc đồn vừa bị tấn công sẽ tốn rất nhiều sức lực và thì giờ…
Tâm gọi Dương trong vô tuyến :
– Xám hai, đây Một gọi !..
– Hai nghe !…
Tâm cười trong máy vô tuyến:
– Mầy nghĩ gì vậy ? Có về không ? Kể như xong xuôi rồi. Về cho được việc nhà nước…
Dương hằn học :
– Tao còn đang nổi giận với mấy cái ổ đại liên đặt ở sườn núi kia. Hồi nãy nó quạt tao bốn phát. Tuy chưa rụng mất chiếc lông nào, nhưng tao cần đáp lễ.
– Thôi mầy!… Nó nấp ở trong vách đá. Dù mầy có tặng nó vài trái “rốc kết”, vài cú bom miểng, thì núi cũng cứ trơ ra. Nhất là mầy lại không lao thẳng tới được, vì chúng nó nằm ở lưng chừng núi. Mày chơi nhau với chúng nó thì kéo lên làm sao cho kịp ? Mà đánh tạt ngang thì vô ích. Rốt cuộc chỉ còn có xác của đại hiệp Trương Vô Kỵ nằm trên đỉnh núi cao kia vui đùa cùng trăng thanh gió mát…
Tiếng cười vang lên trong vô tuyến của anh chàng phi công quan sát. Lúc nào cũng vậy, khi chiến trường đã kết thúc, họ nói chuyện “tự do như ở nh”. Anh chàng quan sát cũng bàn góp:
– Quả thật mấy cây đại liên ấy cũng là một cái đinh nhức nhối cho lính ở trong đồn. Lâu lâu nó lại sủa vài tràng. Cách xa tới cả hàng cây số nên cũng chẳng chết được ai, nhưng cũng bực mình. Tao tin rằng ngày mai thế nào mấy người bạn ta ở trong đồn cũng làm một vụ “thượng sơn”..
Dương la lên :
– Tao làm ngay bây giờ đây !…
Chàng kéo vút phi cơ lên cao… Tâm đành theo sau. Lúc lên tới ba ngàn bộ, Dương nhằm sườn núi lao xuống. Từ lúc bắt đầu chúi xuống là Dương bắt đầu bấm nút “cà-nông”. Từng loạt đạn ào ạt, dữ dội bay vèo sườn núi. Dương dụ cho chúng nó bắn lại để xác nhận vị trí.
Quả nhiên, từ một vài lùm cây bên sườn núi lấp loáng hiện lên những ánh chớp. Dương bay lên, bụng phi cơ còn cách đỉnh núi rất xa.
– Tao biết chỗ của chúng nó rồi ! Tao làm lại đây!
Chàng nhìn lại sườn núi ấy một lần nữa. Chàng chọn một ổ đại liên ở ngay phía ngoài để dễ dàng quẹo trái. Dương có cảm tưởng như đang tham dự một trận không chiến, nên chui vào những đám mây, rồi từ đó lao xuống, đánh những phát bất ngờ.
Một ý nghĩ lại chợt tới với Dương khi chàng nghĩ tới những phim về miền Viễn Tây của Hoa kỳ. Đây cũng là một cuộc đấu súng một mất, một còn mà hai bên đều là những người tình nguyện. Có điều những khẩu súng mà chàng và đối thủ xử dụng thì lớn hơn, sức tàn phá mạnh hơn, giết được nhiều người hơn.
Hai kẻ tử thù nhất định phải thanh toán nhau. Đặc biệt là trong vụ đấu súng nầy, ai cũng có quyền bỏ cuộc. Nếu Dương muốn bỏ cuộc, thì chỉ việc gọi Tâm một phát, hai đứa bay lên cao rồi hướng về phi trường, tung cánh chim tìm về tổ ấm.
Đối phương muốn bỏ cuộc thì cũng dễ. Chỉ cần tìm một hốc đá kín, là có thể yên tâm nằm ngủ kỹ. Nhưng cả hai bên chưa bên nào có ý định bỏ cuộc… Tuy ở trên cao, nhưng Dương cũng nhìn thấy những cái đầu nhấp nhô nấp sau những tảng đá và những họng súng toé lửa. Chàng định sẵn một chiến thuật. Biết chắc được vị trí của địch thủ, chàng tính đánh một cú bất ngờ.
Từ trong mây, chàng lao ra vừa nhìn thấy mục tiêu lọt vào ống nhắm, chàng phụt ra hai trái hỏa tiễn.
Hai mũi tên lửa vụt bay đi, trong lúc chàng kéo tạt ngang…
Tiếng của Tâm :
– Mầy đừng làm một phát tạt ngang như thế. Chúng nó sẽ bắn đuổi theo sau lưng mầy. Cứ kéo lên cao, bay thẳng, vì đằng trước, khuất trái núi che lưng đi cho mầy thì an toàn hơn…
Dương trả lời :
– Nhưng tao muốn trở lại cho lẹ, biểu diễn một màn sấm nổ không kịp bưng tai…
Tiếng của anh chàng phi công qưan sát.
– Phát vừa rồi thằng Dưong đánh tuyệt đẹp. Thanh toán được một thằng rồi. Chúng mày lui ra để tao coi lại.
Rồi chiếc phi cơ quan sát bay bọc lại đằng sau trái núi. Chỉ vài phút sau đã thấy hắn lững lờ, làm những vòng tròn thật hẹp trên đỉnh núi. Cái thằng ấy vậy mà khôn. Từ chỗ nó bay, nhìn xuống quan sát rất dễ, tụi kia không làm gì được vì vướng những tảng đá, vướng cây… Lượn đươc vài vòng rồi, chiếc phi cơ quan sát lại thoát đi bằng đường phía sau núi …
– Chúng nó vẫn còn ở chỗ cũ. Còn có ba ổ đại liên. Chúng mầy có thể chia nhau làm nốt…
Dương nhào ngay xuống… Tràng đạn “cà-nông” bắn từ trên cao xuống, nổ ròn rã. Nhìn xuống phía trong đồn, thấy lố nhố bóng đen. Những người lính giữ đồn, có lẽ đã thấy hết hiểm nguy của cuộc công đồn vừa rồi, ra khỏi hầm, nấp một chỗ để xem một cuộc đấu súng kỳ thú.
Tràng đạn vừa qua của Dương, gần như vô ích chỉ dội được vào vách núi. Những lần sau, đạn bay đi chính xác hơn. Dương cũng bị trúng một vài viên vào cánh, vào thân phi cơ, nhưng ở những chỗ không quan trọng. Chàng thấy khoan khoái như đang dự một buổi thực tập mà đích bắn như được bày ra nơi trường bắn Phú Lợi, nhưng đích bắn bây giờ ở cao hơn và nguy hiểm hơn.
Địch thủ của chàng như có ý định bỏ cuộc. Hai lần tác xạ, chàng không được đáp lễ. Và chàng cũng có ý định bỏ về…
Tiếng của Tâm :
– Thôi về, mầy !
– Tao đánh một lần nữa thôi.
Chàng nhào xuống, lần này nghiêng tới hơn sáu chục độ. Chiếc phi cơ gần như thẳng đứng, nhào xuống mục tiêu.
Không ngờ lần này hoả lực của cả hai ổ đại liên tập trung lại một chỗ, bắn trả lại chàng. Hai giòng đạn bay ngược chiều, ào ào như bão táp. Một tiếng động mạnh nơi đầu máy. Dương lấy thăng bằng, nhưng chiếc phi cơ như muốn cưỡng lại. Tay lái sao mà nặng quá. Chắc là một viên đạn nào đó đã làm hư bộ phận điện và trúng vào ống đựng dầu.
Chàng nghiến răng, kéo chiếc cần lái. Rất may, chiếc phi cơ lấy lại được chiều ngang, vừa lúc, chiếc phi cơ gần sát với những ngọn cây mọc chìa ra gần ngang đỉnh núi. .
Chiếc phi cơ lảo đảo bay về hướng Đông. Khói bốc ra từ thân tàu. Bên tai Dương nghe thấỵ tiếng của Tâm gọi thảng thốt.
Chàng trả lời Tâm, nhưng vẫn nghe tiếng Tâm dồn đập hỏi. Máy vô tuyến của chàng cũng hỏng rồi. Làn khói bay ra, mỗi lúc thêm dày đặc…
Ánh nắng dịu buổi chiều, in bóng chiếc phi cơ của Dương chòng chành, nghiêng ngửa trên khu rừng hoang vắng bóng người. Chiều đã xuống thật chậm.
Chàng kéo phi cơ lên cao hơn. Rất may là tay lái, trong phút tuyệt vọng nầy, lại lay chuyển được. Khói đã bắt đầu lùa vào phòng lái. Dương cúi gập người xuống, ho sặc sụa. Phải thoát ra khỏi đây, nếu còn muốn gặp Phượng… Ồ, tại sao lại nhớ tới Phượng trong lúc nầy ?… Bên tai Dương, tiếng của Tâm gọi dồn dập :
– Dương, mầy có sao không ?… Nghe tao nói không ?.. Trả lời đi ! Trả lời đi Dương?
Tiếng la thất thanh của Tâm như muốn xoáy vào tai Dương. Chàng đã trả lời nhiều lần, gào lên như muốn vỡ tan lồng ngực, nhưng chỉ có chàng nghe được tiếng nói của chàng. Nhìn sang bên cạnh, thấy Tâm đang cặp kè bay theo sát.
Nỗi khổ của Dương hiện nay không thể nào nói được. Mỗi lần Tâm tới gần bên, cánh phi cơ của Tâm như múc đi từng tảng không khí, làm phi cơ của Dương như tụt hẫng xuống, mà bây giờ cao độ là đời sống của Dương. Chỉ cần chiếc phi cơ hơi chúc xuống là chúi xuống mãi, và cuộc đời sẽ đi đứt luôn
Thế gian này không còn một kẻ mang tên Dương, không còn một kẻ để cho Phượng phải mong chờ một sự hồi âm. Chàng gọi trong tuyệt vọng :
– Tránh xa tao ra! Tâm ơi, tao van mầy, tránh xa tao ra!…
Nói như vậy, còn cho là chưa đủ, chàng quay sang phía Tâm dơ tay xua lia lịa… Mới đầu Tâm không hiểu, lại cố sức bay gần tới Dương.
Từng tảng không khí lại bị đôi cánh phi cơ của Tâm múc đi, phi cơ của Dương lại nghiêng ngả. Khói từ đầu máy tuôn vào, không lối thoát, bịt kín lấy đôi mắt, bịt chặt lấy bộ phận hô hấp. Trước mặt Dương, không còn ánh nắng, không còn trời xanh và mây trắng. Chàng lại nghĩ tới cái chết. Nghiến răng, chàng đưa hai tay lên, bám vào thành cửa đẩy mạnh…
Chiếc cửa nặng quá chừng, chỉ hé ra được một chút, nhưng nhờ vậy, khói thoát ra ngoài, để Dương lại nhìn thấy một khoảng trời. Cố gắng thêm một lần nữa, chàng đạp cả hai chân lên mặt kính đồng hồ để làm điểm tựa, đẩy được chiếc cửa lùi ra phía sau. Chàng thở một hơi dài nhẹ nhỏm :
– Thoát rồi!…
Thắt lại giây lưng dù, tháo giây cột vào ghế, chàng vỗ tay vào mấy cái túi để kiểm soát lại những thứ mang trên người. Khẩu súng đeo bên hông, nhắc nhở tới những gian nguy sẽ gặp. Chàng nhìn xuống bên dưới, để nhận xét địa hình, địa vật một lần chót . Cảnh vật chẳng khác lạ. Chàng chưa bay xa nơi đồn lẻ.
Có lẽ hồi nãy, tay lái đã kẹt cứng, rồi vì Tâm làm cho phi cơ của chàng nghiêng đi, nên cứ bay lòng vòng quanh vùng trận địa. Ngó một vòng lên trời, chàng vẫn thấy Tâm và chiếc phi cơ quan sát bay lượn quanh chàng. Dơ tay chào theo kiểu nhà binh một phát, rất đúng thế cơ bản thao diễn. Chàng nói lớn :
– Nếu thoát được thì cái chào này là cái chào cám ơn. Còn nếu không, thì lần nầy tao chào chúng mầy, coi như một cái chào… vĩnh biệt.
Chàng nhoài người ra khỏi buồng lái. Mới thò dầu ra, chàng đã thấy gió thổi tới như một cơn bão táp hung bạo. Cúi gập người cho thân hình vắt ngang qua thành cửa, chàng đạp chân vào chiếc ghế ngồi. Một chút cợm lại ở nơi bụng, chỗ thắt lưng giây súng.
Hai bàn tay chàng đã chống vào đôi cánh. Lúc nầy thì đất ở trên đầu. Ngửa mặt lên là nhìn thấy rừng cây loang loáng. Trong một thoát suy nghĩ, chàng đạp mạnh đôi chân để cho chàng và chiếc phi cơ rời hẳn nhau ra.
Một vật sáng loáng qua trước mặt, làm cho chàng chợt vui, vì đi qua khỏi giai đoạn đầu, thoát được cái máy chém. Chàng và lũ bạn, thường gọi cái đuôi phi cơ là cái máy chém. Lúc nhảy dù, sợ nhất là cái đó. Dù cho lộn ngược, nghiêng trái, nghiêng phải, lên cao, xuống thấp, cái máy chém vẫn đi theo như bóng với hình. Thoát được cái máy chém, mới được kể như một đoạn đường nguy hiểm vừa mới qua đi…
Thoát ra khỏi vùng đầy tiếng động, bây giờ chàng như rơi vào cõi im lặng mênh mông. Bên tai chỉ có tiếng gió ào ào và đôi ống quần đập vào chân kêu phành phạch. Và trong cái mênh mông ấy, chàng nghe thấy cả tiếng đập của con tim. Gió thổi vào mặt chàng làm ngạt thở, làm cay xé đôi mắt.
Dương phải nhắm nghiền đôi mắt lại, để cho thân người rơi xuống. ” Mình đang là một tảng đá, một khối thịt từ trêu trời cao ném xuống. Không thể được, không thể là một đống thịt bầy nhầy, không còn là hình dáng con người”. Nghĩ vậy, chàng nhớ tới cái chốt dù lòi ra phía trên ngực, nơi con tim chàng đang đập, phổi chàng còn chứa không khí, và những giòng máu, đang còn chạy rần rật khắp ngưòi.
Thân người chàng gần như nằm ngang với những ngọn cây rừng, chỉ có việc đưa tay lên chốt chiếc dù giật mạnh, mà sao công việc ấy thấy khó khăn và nặng nhọc. Cánh tay này, hình như không còn phải của Dương, cố gắng lắm, cũng chỉ nhích được lên một chút. Hãy cố gắng nữa lên Dương! Sức lực của một đứa đàn ông chưa tới ba mươi, là một sức vô địch, không có gì ngăn cản nổi.
Chàng lần từng phân, từng ly của mảnh vải áo bay, để cho bàn tay bò lần về cái chốt dù, như bàn tay tìm tới sự sống. Khoảng cách từ bàn tay tới đó, như biên giới của sự sống và sự chết. Thật chật hẹp đấy, mà cũng thật mênh mông đấy.
Nếu bây giờ, cái áo của chàng mà rách xoạc một miếng để cho bàn tay rơi xuống chỗ cũ, thì thật là một sự hối tiếc ghê gớm. Chàng nắm mạnh vào chiếc áo, vải áo từ đôi vai tới bàn tay chàng như căng ra như mỏng đi, mỏng như số kiếp mong manh của chàng hiện giờ.
Bàn tay đã đi được một nửa đường. Khoảng khắc ấy diễn ra chỉ trong từng giây, từng phút, mà sao thấy lâu như bằng cả một thế kỷ. Chàng đã sờ thấy cái ram ráp của chiếc khoá kéo nơi bụng. Mấy ngón tay đưa ngược lên, co lại rồi duỗi ra như bước đi của một con sâu trên thảm xanh. Lúc nắm được chiếc chốt dù. Chàng mừng quá nghiến răng giật mạnh.
Chàng dùng sức mạnh, cộng thêm sức trì kéo của cánh tay, nên chợt thấy nhẹ hẫng. Như một bước hụt vào khoảng không. Thảng thốt đến gần như muốn ngất lịm đi, chàng tưởng rằng cái chốt dù đã sút ra hay đứt ra từ trước rồi. Tim chàng nhói đau, và lồng ngực như trống rỗng vì một sự thất vọng tột cùng. Nhưng rồi toàn thân bị giật một cú thật mạnh đến choáng váng cả người.
Thân người như bị ai ôm ghì lấy. Ngước mặt lên nhìn, chàng thấy hoa dù nở tuyệt đẹp căng phồng, in hình những đám mây vàng ửng của bầu trời bảng lảng lúc hoàng hôn.
Bây giờ mới là lúc chàng ngắm cảnh chung quanh. Mặt trời ở phía ngang tầm mắt. Đường chân trời như được viền một làn sương khói.
À, thì ra đây là khói hoàng hôn, mà các thi sĩ ngày xưa đã tả trong những bài thơ cổ. Nhìn xuống phía dưới, rừng rậm ngút ngàn. Ngay phía chân chàng, là một khoảng trống, có một căn nhà tranh bơ vơ, nằm ở bìa rừng. Mình sẽ hạ xuống ở chỗ này đây.. Một tràng đạn nổ ở phía xa, nơi chiến trận vừa kết liễu.
Tiếng động cơ nổ ầm ầm… rồi một chiếc phi cơ bay vụt qua gần chàng, gió quạt thốc như muốn kéo chiếc dù của chàng bay theo. Tâm ơi, mầy vẫn chưa bỏ tao, để trở về phi trường hay sao ?… Qua một thời gian đi từ biên giới của sự chết để lần mò về với sự sống, chàng tưởng rằng lâu lắm, đâu ngờ, tất cả diễn biến xảy ra, chưa đầy năm phút,
Thời gian là như thế. Có thể dài, ngắn tùy theo sự xúc động của con ngưòi. Chàng thấy Tâm lượn vòng trở lại, chúi xuống, bắn một tràng đạn về phía bìa rừng. “À nó sửa soạn bãi đáp cho mình đây”. Chàng có cảm tưởng như mình là một đứa nhỏ yếu ớt, phải nương tựa vào cánh tay của mẹ, của chị, của anh để bước đi…
Đứa trẻ bước hụt, vấp ngã chỉ u đầu, chảy máu khóc lên vài tiếng rồi nín bặt, rồi quên đi, chập chững bước đi nữa… Nhưng Dương chỉ có được một lần cho cả một cuộc đời. Bước hụt ngã xuống là nằm luôn, không thể ngoi dậy để làm lại. Chiếc phi cơ của Tâm lao vút lên, nằm nghiêng trước mắt Dương. Chàng nhìn thấy cả chiếc nón bay của Tâm trắng xóa.
Rồi Tâm lại lao xuống, quét từng loạt đạn vào nơi ven rừng, tối om đầy bóng cây, xác lá. Tất cả đều im lặng đến lạnh người, chỉ còn lại tiếng động cơ chiếc tàu bay của Tâm, lúc gần thì ào ào, lúc xa thì mơ hồ, và những tràng đạn nổ ròn rã ngay phía dưới chân Dương và cuối cùng, chàng đã thấy mặt đất dâng lên dần.
Chàng đưa mắt nhìn một vòng, để kiếm lấy một sinh lộ. Mặt trời vàng ửng, sắp chìm vào những đám mây thành. Không hiểu rằng bóng tối sẽ giúp chàng hay sẽ làm hại chàng ? Chưa thể biết được. Rừng cây như âm u thêm. Dù có muốn giải cứu cho chàng, thì các bạn chàng cùng không thể làm được. Vậy chỉ có một cách là tự cứu mình trước đã.
Chàng co chân lấy thế khi nhìn thấy cây cỏ vươn cao. Hai chân chụm lại, đầu gối kép chặt để cho cử động được dễ dàng. Chàng hạ người trong một tư thế tuyệt đẹp, lộn nhẹ một vòng rồi đứng lên. Chiếc phi cơ của Tâm bay ào qua đầu chàng rồi một loạt đạn nổ chát chúa, bắn vào rừng cây… Dương gỡ nhanh cây dù, rồi hướng về phía căn nhà trơ vơ nơi khoảng đất trống, chạy như điên…
Chưa bao giờ, Dương chạy mau như thế, kể cả những ngày thi mãn khóa môn căn bản quân sự. Một loạt đạn bắn đuổi theo, nhiều viên đạn cày tung đất phía dưới chân, nhiều viên đạn vút qua gần đến nỗi chàng thấy nóng rát một bên mi. Chàng vẫn chạy những bước dài và dồn dập. Căn nhà không có rào, cửa bỏ ngỏ.
Phi cơ của Tâm lại chúi xuống, bắn một loạt đạn nữa vào bìa rừng. Dương thầm cám ơn bạn, và nhảy xổ vào trong nhà như một làn gió thoảng.
Một tiếng la thất thanh, vang lên rồi tắt nghẽn. Tưởng là một căn nhà bỏ hoang, nhưng không ngờ bên trong cũng có người.
Chàng nằm vội xuống, lăn một vòng tới một góc nhà rồi rút khẩu súng. Nhưng khẩu súng chỉ rút ra được một nửa rồi bàn tay chàng buông thõng xuống. Trước mặt Dương, chỉ có một người con gái và một bà già. Bà già nằm im lìm bất động, gối đầu lên đùi người con gái. Nhìn người con gái, chàng thấy có vài ba nét quen thuộc.
Chắc không phải là dân vùng nầy. Nhưng tại sao, cô ta lại sống ở đây, nơi mà chiến trận đang diễn ra một cách khốc liệt. Mái tóc uốn ngắn, nhưng rối tung như một mớ rơm khô mục nát. Bộ mặt dù lem luốc, nhưng vẫn chưa phai đi một lớp phấn son rẻ tiền.
Những loại con gái nầy, chàng thường gặp ở những nơi ăn chơi không đứng đắn, ở những gốc cây trên những con đường tối tăm như con đường Duy Tân, Trần quý Cáp…
Người con gái la nhỏ :
– Xin ông đừng bắn !
Dương gằn giọng :
– Cô làm gì ở đây ?.
Người con gái nói trong sự sợ hãi :
– Em là hành khách chuyến xe đò. Tới chỗ này thì bị chận lại, rồi hành khách bị lùa vào rừng. Vì em dìu mẹ em đi, bà cụ lại đang đau nặng, nên bị bỏ lại. Từ sáng đến giờ nghe tiếng súng, sợ quá, rồi có tiếng tàu bay, bay ầm ầm trên đầu. Rồi súng lại bắn ngay sát bên cạnh, làm em sợ quá.
Tiếng phi cơ lại rú lên, xẹt qua nóc nhà. Từng tràng đạn lại nổ ròn. Cám ơn, cám ơn Tâm ! Mầy nghĩ đến tao, cố hết sức bảo vệ tao, thì chắc cũng chẳng còn được lâu. Nửa giờ nữa, mầy bắt buộc phải trở về phi trường, đưa tin buồn về tao tới các bạn bè.
Dương nép mình nhìn qua chiếc cửa sổ nhỏ, thấy Tâm bay vút lên rồi vòng lại. Nơi bìa rừng vẫn im lìm, nhưng Dương chắc rằng chỉ ít lâu sau, khi Tâm bay đi, là sẽ xuất hiện vô số những bóng đen, chạy tới đây, quyết định số phận của Dương.
Nhìn về phía sau nhà, cách một khoảng xa cũng là một khu rừng với những đám cây không cao lắm. Nơi đó có vẻ bình yên hơn. Chàng nghĩ đến chuyện chạy tới chỗ đó, nhưng khoảng trống chỗ nầy rộng quá, không hiểu chàng có thoát nổi không. Tình thế này, đối với Dương đã gần như tuyệt vọng.
Nhìn lại người con gái thấy cái tiếng “em” mà cô con gái dùng một cách dễ dàng, chàng chợt hiểu cô ta thuộc vào loại người nào. Chàng hỏi nhỏ:
– Bà cụ làm sao vậy ?
Người con gái nức nở, hai vai rung lên, mặt gục xuống, nói trong tiếng khóc:
– Mẹ em chết rồi!
Dương thấy bàng hoàng sửng sốt. Nhìn vào mặt bà cụ già, chàng thấy một sự bình thản và im lìm. Những người chết già, khuôn mặt thường thỏa mãn như vậy. Chàng lại hỏi :
– Bà cụ chết tự bao giờ ?
– Dạ, từ hơn một giờ trước đây…
Dương ngậm ngùi :
– Xin chia buồn cùng cô….
Người con gái nức nở :
– Sao cuộc đời em lại khổ đến thế này!
Dương móc túi lấy ra gói thuốc. Rất may, gói vẫn chưa rơi mất. Chàng che tay cho bớt ngọn lửa, bật quẹt đốt một hơi thuốc. Chưa bao giờ, điếu thuốc lại ngon đến thế. Chàng hít một hơi đến căng đầy lá phổi, rồi thở một hơi thật dài…
– Em chỉ muốn sống ở nhà quê, nhưng không thể được. Vùng quê em là một vùng bất an. Em đã bỏ vùng quê, lên thành phố một mình, cố kiếm lấy một chút đỉnh tiền, để đưa mẹ em lên, cùng sống với em. Kiếm sống ở thành phố khó quá, nên cuộc đời em đã đi đến chỗ dạn dày…
Người con gái cúi mặt xuống đôi mắt bất động của bà cụ già.
Cũng may là lúc bà cụ chết còn có bàn tay của cô gái độc nhất, vuốt cho khép kín đôi mắt, và được chết trong vòng tay của người thân yêu. Như thế cũng đủ mãn nguyện rồi. Dương đã tưởng tượng thấy người con gái quê, bơ vơ đứng giữa những giòng xe cộ chạy tấp nập nơi thành phố đông người. Đường sá chưa thuộc, chạy từ vỉa hè bên này đường, qua vỉa hè bên kia đường, còn ngập ngừng bước chân, thì làm sao tranh sống.
Như một con chim, chưa đủ lông, đủ cánh đã được vứt tung lên trời cao, để mặc cho mưa gió vùi dập. Dương liếc nhìn người con gái lòng thoáng một chút thương hại …
– Em đã nghiến răng, chịu mọi khổ cực để mặc cho giòng đời lôi cuốn mình đi. Em cố sống, vì nghĩ đến mẹ em suốt cả một đời, không có một ngày được nhàn hạ, kể cả những lúc tuổi già. Em đã làm đến một cái nghề mạt hạng của xã hội để có tiền. Em đã làm điếm.
– Thì cũng đã sao đâu !.
Ngồi yên, mắt nhìn về khu rừng, đăm đăm chờ mọi bất trắc, tới lúc nầy Dương mới thốt ra một câu ngắn ngủi. Tại sao lúc nầy mà chàng còn có đủ trí óc, đủ bình thản để nghe tâm sự của một người con gái không quen biết, lạc lõng tới đây, gặp gỡ nhau trong tình thế tuyệt vọng nầy. Tâm vẫn còn bay trên trời. Có lẽ vì tiết kiệm đạn, nên lâu lâu, Tâm mới chúi xuống, bắn một tràng đạn về phía bìa rừng.
Dương biết rằng, ở trên kia, Tâm rất lo cho chàng. Không chừng, mỗi lần ngón tay của Tâm ấn vào cò súng, là mỗi lần nước mắt lại chảy dài. Tâm và Dương, có lẽ rồi đây chỉ còn lại một người. Cái bàn nhìn ra cửa số nơi Câu Lạc Bộ, rồi đây chỉ còn có một người, ngồi cúi đầu xuống, để thấy đôi mắt mình in lên những tảng mây trắng nõn, thăm thẳm ỡ mãi cuối ly bia đã hết nước đá…
Tiếng thì thầm lại rót vào bên tai :
– Em đã để đành được một số tiền, đã sang lại một cửa hàng nho nhỏ, để hai mẹ con sống với nhau một cách lương thiện. Bởi vậy, em về quê đón mẹ em lên đúng vào lúc mẹ em đang đau nặng. Ở nhà quê thiếu thuốc men, nên em đưa mẹ em về tỉnh để chạy chữa luôn một thể. Không ngờ giữa đường lại xảy ra cảnh này. Vì đã đau nặng từ trước, lại bị thêm vụ này, mẹ em không chịu đựng nổi. Bà cụ đã đi…
Dương nghe những lời nói ấy, chỉ thấy thoảng qua, như một cơn gió… Chàng đang suy nghĩ để kiếm cách thoát thân. Chẳng lẽ cứ ngồi đây, chờ chúng tới bắt, để sống một cuộc đời cả năm không nhìn thấy ánh sáng. Măt trời càng xuống thấp, càng như thu ngắn mạng sống của Dương.
Bóng cây đã dài ra, ánh nắng chỉ còn thoi thóp trên ngọn cây, trên một vài mảnh vá của khu đất trống. Bỗng dưng, chàng thấy bình thản lạ lùng. Chàng muốn chạy ngược về phía bìa rừng kia, nơi những người áo đen đang chờ đợi chàng, bắn cho tới chỉ còn một viên đạn. Viên đạn đó để dành cho chàng. Đưa khẩu súng vào màng tang, nổ một phát là hết chiêm bao, mộng mị.
Nhưng lòng khát sống của con người vẫn mạnh, giữ chân chàng lại…
– Mẹ em chết, em cũng không thích sống nữa.
Dương hỏi lại :
– Bà cụ mất, cô càng được sống thảnh thơi, vậy lại càng phải nên sống chứ ?.
Người con gái thở đài :
– Nhưng sống không có mục đích thì sống cũng như đã chết rồi. Ngày trước, em thèm sống vì em sống là để tìm thấy sự sung sướng nhàn hạ cho mẹ em. Nhưng nay mẹ em chết, cái mục đích ấy đã biến mất rồi. Vậy thì tội gì mà kéo lê cuộc đời khổ ải này mãi. Em muốn đi theo mẹ em.
Người con gái nói về mục đích của cuộc sống… Những lời ấy nói ra làm cho Dương bàng hoàng. Từ trước tới nay, lâu lâu chàng lại bị một ngày trống vắng một cách thê thảm, chỉ vì bao nhiêu câu hỏi dồn dập đập vào đầu óc. Câu thơ của Vũ Hoàng Chương, mở đầu bằng “ta còn để lại gì không?”. Những đứa con gái sống bằng nghề bán vui cho thiên hạ, như người con gái ngồi trước mặt Dương đây, bên cạnh một xác chết, đã nói về mục đích của cuộc đời.
Dương cưòi chua chát :
– Nhiều khi muốn sống hay muốn chết, không thể tự mình quyết định. Như trường hợp của tôi, của cô bây giờ. Tôi chỉ sợ rằng chúng mình muốn sống cũng không được. Chúng nó đã bố trí sẵn sàng rồi.
Người con gái bừng tỉnh để nghĩ tới hiện tại. Từ lúc gặp nhau tới giờ, Dương cũng chẳng hỏi tên người con gái là gì, vì thấy chẳng cần thiết. Mặt trời đã xuống thật thấp, ngang với tầm mắt. Nếu không có tiếng động cơ của chiếc phi cơ mà Tâm đang bay trên trời, thì cái vắng lặng và êm ả của buổi chiều, có thể làm cho Dương phát điên lên. Người con gái hỏi:
– Ông đã quyết định gì chưa ?
Dương không trả lời mà hỏi lại:
– Cô có biết tôi là ai không ?
Người con gái hững hờ :
– Dạ, em biết. Ông là phi công, vừa rớt tàu bay hồi nãy. Lúc tàu bay của ông sắp rớt đã có nhiều người chạy qua đây vừa chạy vừa la rằng phải bắt ông cho bằng được. Không ngờ ông lại nhảy dù xuống chỗ này. Cũng may là họ đã phân tán lực lượng đi, để đón tiếp ông. Nơi chỗ này cũng không đông lắm. Nhưng thoát được cũng là một điều khó.
Măt trời lại nhích xuống bên đưới một chút nữa như thu ngắn thêm mạng sống của Dương. Khi mặt trời khuất vào rặng cây phía chân trời. Dương quyết định sẽ giao hết tánh mạng cho sự may rủi.
Chàng sẽ ráng chạy vượt qua khoảng trống tới căn rừng phía sau nhà. Nếu không có kẻ nào phục kích ở đó thì may ra chàng thoát nạn. Nếu có, thì chàng sẽ phơi thây nơi rừng vắng này.
Nhưng dù sao, chàng cũng có phần nào yên chí, vì hình như kẻ địch định bắt sống chàng hơn là bắn chết. Họ cho là chàng đã như cá nằm trong lưới.
Nếu muốn giết chàng, thì căn nhà bơ vơ và dột nát này, chịu sao nổi một phát B40. Chỉ cần một phát đạn, căn nhà cũng có thể bị bốc cháy và chàng sẽ biến thành con heo quay thơm phức. Chàng nghĩ thầm :
– Chúng mầy không thể toại nguyện được đâu. Nếu thấy đã lâm vào bước đường cùng, thì chúng mầy chỉ có được xác thằng Dương và chẳng bao giờ có được thằng Dương còn sống.
Kinh nghiệm của cuộc đời quân ngũ, đã cho chàng biết rằng, khi đã bị địch cầm tù, thì thà chết còn hơn. Chưa có một trường hợp nào thê thảm bằng cuộc chiến tranh nơi đất nước nầy, mà người chết còn sướng hơn người sống. Nếu may mắn mà được địch phóng thích, thả về, thì cũng được những cơ quan an ninh khai thác đến rách tã người.
Chàng rút nơi túi quần, chiếc mũ “dô-kề” màu đen đội lên đầu, rút khẩu súng ra, kiểm soát lại đạn. Chàng còn hai băng đạn, đủ để giết ít nhất là mười đứa. Kéo mạnh khẩu súng, cho một viên đạn lên nòng..
Người con gái lại nói :
– Xin ông đừng liều mạng.
Dương bình thản :
– Không liều mạng thì cô bảo tôi phải làm gì bây giờ ?
Chiếc phi cơ của Tâm lại bay thấp xuống, xẹt qua mái nhà, bắn vu vơ một tràng đạn. Nhìn vào đồng hồ, Dương thấy rằng phi vụ này đã qua hơn ba giờ. Sắp sửa phải trở về đấy Tâm! Mầy ở lại cũng chẳng giúp gì được tao vì trời cũng sắp tối rồi.
Bóng tối sẽ hại tao, nhưng cũng giúp tao trốn đi. Thôi, mầy về đi! Nghĩ tới chúng mầy, tao muốn khóc lên đây ! Dương bùi ngùi, xốc lại chiếc thắt lưng giây súng. Chàng kéo chiếc “phẹc-mơ-tuya” lên tới tận cổ cho ấm, đội lại chiếc mũ “dô-kề” thật chặt. Chàng chào cô gái một lần chót:
– Thôi, cô ở lại đây ! Chắc chúng nó chẳng làm khó dễ gì đến cô. Hãy cố mà về tới thành phố. Chúc cô thoát được tai nạn này.
Chàng đạp mạnh vào chiếc cửa sổ đằng sau nhà cho lỗ thủng rộng hơn, để đễ dàng thoát ra ngoài. Nhìn khoảng trống dài quá, Dương cũng thấy ngán. Lần đầu tiên, chàng thầm cầu nguyện…
Mặt trời đã chìm vào hàng cây phía chân trời. Bóng tối chụp xuống khoảng rừng thật nhanh. Mới sáng tỏ đó, mà chỉ trong khoảnh khắc, đã tối sầm lại. Dương đứng trong một tư thế thật vững chãi, lưng hơi cúi xuống, ước lượng thời gian để chạy ra khoảng trống, rồi định lao người đi. Chợt bên tai một tiếng gọi lại :
– Này ông !
Sự đứng lại bất chợt làm Dương lao đao, phải vịn tay vào vách đất. Chàng nhìn về phía phát ra tiếng nói. Trong cái bóng tối mờ mờ, mặt người con gái trắng bệch ra, như được nặn bằng sáp, đôi mắt long lanh sáng như mắt thú đêm khuya. Dương gắt khẽ:
– Lại còn chuyện gì nữa đó. Nói mau lên, tôi không có thì giờ..
– Em muốn giúp ông!
Dương đứng thẳng người lên :
– Cô giúp tôi ?… Mà giúp bằng cách nào?… Chuyện nầy không ăn thua gì tới cô. Cô không phải là người cầm súng, nên chắc rằng tụi kia không làm khó dễ gì tới cô đâu. Nhất là tôi chạy ra ngoài rồi, thì chúng nó không ngờ rằng trong nầy còn có cô.
Giọng chàng chợt dịu hẳn lại:
– Ngày mai, bạn bè tôi, thế nào cũng tới chốn nầy. Nếu cô thoát được những trận oanh kích, những viên đạn bắn ra từ hai bên thì chắc chắn, sẽ có trực thăng hạ xuống đây, đưa cô về thành phố. Không chừng xác của bà cụ cũng được mang theo để mai táng cho mồ yên, mả đẹp.
Người con gái thở dài.
– Chết là hết rồi ! Mồ yên mả đẹp mà làm gì ?
– Nhưng mà cô chưa chết, mà không thể nào chết…
Giây phút quyết định đã tới mà ý Dương không thể ngập ngừng được nữa. Chậm một phút là cũng đủ để cho Dương ân hận suốt đời. Chàng chắc rằng, ở phía bên ngoài, thế nào cũng có vài ba bóng đen đang thận trọng bò dần tới căn nhà dột nát này. Chàng phải thoát đi trước khi chúng tới.
Người con gái lại ngập ngừng :
– Em muốn có một kỷ niệm của ông ?
– Một kỷ niệm ? Cô xin tôi một thứ gì bây giờ ? Trên người tôi chẳng có một thứ gì đáng giá để cho cô. Trừ khẩu súng của tôi, cô thích cái gì ?
– Em muốn xin ông cái nón mà ông đang đội trên đầu. Không biết có được không ?.
Trong lúc cần thiết phải đi, mà lần chia tay với người con gái này, là lần vĩnh biệt, chẳng thế nào gặp lại được nhau nữa, chàng cũng chẳng tiếc. Dương lột chiếc mũ, đập nhẹ vào đùi, rồi đưa cho người con gái.
Kỷ niệm ư, kỷ niệm là cái gì, hay chỉ là những ray rứt làm mất ngủ, làm cuộc đời mất đi những chất ưu tư cần thiết để sống ?
Dương rất quí trọng kỷ niệm, nhưng cững ghét kỷ niệm. Người con gái cầm chiếc mũ “dô-kề” màu đen có gắn hai bông mai vàng lấp lánh của Dương, đội lên đầu, cẩn thận vén từng lọn tóc, nhét vào trong chiếc mũ. Rồi trong một phút bất ngờ nhất, người con gái lao mình ra khỏi cửa… Dương bàng boàng gọi giật lại :
– Cô… Đừng có liều mạng !
Nhưng vì không biết tên của người con gáỉ, nên Dương gọi trống không. Dương thở dài vì biết ý định của người con gái ấy. Phía bên ngoài, nổi dậy những tiếng lao xao, ồn ào, rồi súng nổ từng tràng lóc cóc.
Nhìn theo bóng mờ mờ của người con gái, thấy nàng vẫn chạy.
Nhiều tràng đạn vẫn bắn đuổi theo… Không thể nào ngập ngừng được nữa, chàng phóng mình ra ngoài đêm tối, chạy ngược lại với hướng chạy của người con gái. Những tràng đạn bắn từ phía bìa rừng bên kia đỏ rực, nhưng không bay về hướng chàng đang chạy.
Đôi chân chàng như nuốt từng khúc đườngg để tìm vào cõi sống. Lần được vào khu rừng kia, với bộ đồ bay đen của chàng và bóng tối đồng loã, chàng rất dễ có cơ hội thoát thân và chờ sáng. Những hàng cây đã đứng sừng sững trước mặt chàng. Bất chấp gai góc, hầm hố, chàng cứ theo những khe của cây mọc chạy mãi về hướng trước mặt. Tiếng súng vẫn nổ vang rền. Lũ kia vẫn chưa bắt được hay bắn chết được người con gái ấy.
Nhưng rồi thế nào công việc “thoát xác” ấy cững bị bại lộ, để rồi mục tiêu để tìm kiếm lại cũng vẫn là chàng. Nghĩ như vậy, Dương lại cắm đầu chạy, càng xa càng tốt. Rừng cây đầy gai góc, xé rách quần áo, da thịt, nhưng chàng không cảm thấy đau đớn một chút nào…
Dương không nhớ rằng mình đã té ngã bao nhiêu lần. Và cũng không biết trên mình, trên đầu, đã bị bao nhiêu vết thương vì bị gai cào rách, và đập vào thân cây. Chàng chỉ biết chạy về phía đằng trước mặt, chạy để tìm cái sống, để lánh xa cái chết. Rừng cây tối mù mịt. Tuy rằng cặp mắt đã quen nhiều với bóng tối, chàng cũng không biết chân mình đã đạp lên bụi cỏ hay bụi gai, trước mặt là đám cây rậm hay những cây lớn.
Tới lúc mà đám thú rừng, nghe thấy bước chân chàng, vội nhảy vào bụi rậm để trốn, hay đám chim đang ngủ yên trên cành, thấy động, vỗ cánh bay xào xạc, chàng đã biết rằng mình đã xa vùng trận địa.
Lúc nầy, chàng mới đứng dựa lưng vào một thân cây thở hổn hển. Chưa bao giờ chàng thấy mệt như thế.
Nơi vùng chiến trận có tiếng súng giao tranh và sự lẩn khuất của con người, thì thú rừng và chim chóc phải lánh xa. Bây giờ, chàng đã tới vùng có sinh vật, có chim muông, tức là chàng đã tới được nơi không còn bóng dáng kẻ thù. Nhưng kẻ thù của chàng là những kẻ xuất hiện và biến đi rất bất ngờ.
Biết đâu, trong một vài phút nữa đây, chung quanh chàng lại không đầy rẫy những người mặc quần áo đen, những mũi súng chĩa vào người chàng, bắt chàng phải theo họ, sống chui rúc ở những nơi hằng năm không bao giờ nhìn thấy ánh sáng mặt trời.
Vài ba cô chim, vỗ cánh bay lên không trung, rồi lại trở về cành cây, đậu trên đó, tiếp tục giấc ngủ. Tất cả lại trở về yên lặng, chỉ còn nghe thấy tiếng động của rừng khuya.
Tiếng dế kêu rỉ rả một khúc nhạc đều đều, đến nỗi dường như Dương không cảm thấy. Một cơn gió thổi mạnh, lá cây rụng xuống ào ào. Chàng cũng mong có một cơn mưa, nhưng mùa này không phải mùa mưa. Dù có gió nổi, cũng không thể tụ họp được hết những đám mây trên nền trời, để rơi xuống đây một vài giọt nước.
Nghĩ tới nước, chàng bỗng thấy cơn khát ở đâu tự nhiên kéo tới. Và cũng cần thấy đói nữa. Nhưng cái đói, dù sao cũng không mãnh liệt bằng khát. Chàng lắng tai nghe một tiếng róc rách của con suối chảy, nhưng chung quanh, chỉ còn một sự yên lặng mênh mông thật cô đơn.
Chàng muốn bật lên tiếng khóc và cất giọng gọi thật lớn. Tâm ơi!… Phượng ơi !.. Hậu ơi !… Những người bạn thân của chàng, lần lượt kéo về, đi qua trước mặt chàng, đứa nào cũng nhìn chàng với cặp mắt nửa như chế riễu, nửa như thương hại. Chàng nhìn thấy đôi mắt của Tâm, từ trên cao đăm đăm nhìn xuống. Chàng ngửa mặt nhìn trời.
Thằng Tâm vẫn hãnh điện với cái tên của nó bằng một câu trong truyện Kiều “một vừng trăng khuyết, ba sao giữa trời”. Bóng lá che lấp, nên chỉ thấy vài ngôi sao ẩn hiện, như thật gần, mà cũng thật xa. Đêm nay là một đêm không có trăng. Chàng không hiểu đó là một cái may, hay là một cái rủi cho chàng.
Chợt nhớ tới thời gian, chàng nhìn vào đồng hồ. Chiếc kim dạ quang, in lên mặt đồng hồ mầu đen, chiếc kim ngắn mới chỉ vào con số mười. Mười giờ tối, mà chàng có cảm tưởng rằng đã khuya lắm. Con đường mà chàng vượt qua hơn ba giờ đồng hồ, không hiểu là bao nhiêu cây số. Chàng không nghĩ tới nữa. Tiếng thở đã bớt dồn dập, cơn mệt đã lắng dịu. Chàng ngần ngại không biết nên nán lại đây, chờ cho trời sáng, hay tiếp tục đi xa hơn nữa.
Sau cùng, chàng quyết định ở lại. Kẻ thù của chàng, dù sao cũng quen với đêm tối hơn chàng. Ẩn nấp ở một nơi, dù sao cũng còn đỡ nguy hiểm hơn là đi lang thang rồi tự nhiên đâm đầu vào bẫy. Chàng nhìn chung quanh, để kiếm một nơi an toàn. Những cành cây dơ lên như những cánh tay gầy, đu đưa theo từng cơn gió. Chàng sờ lần vào gốc cây. Vỏ cây làm rát bàn tay.
Khi thấy một cây nào lớn, chàng nhìn lên đám lá rậm xum xuê, để kiếm một cho nào, khả dĩ có thể nằm ngủ được qua đêm. Cây của rừng nầy, phần nhiều là những cây mọc thẳng, nên tự lượng sức, chàng biết rằng khó có thể leo được lên tới chỗ có cành mọc xiên ngang. Từ nhỏ, Dương đã không biết leo trèo.
Nhưng rồi sau, chàng cũng kiếm thấy một thân cây, có cành mọc là đà. Ôm lấy cành cây đó chàng đánh du lên trên cành. Còn có một cành nữa, cũng vừa một tầm tay với chàng lại leo lên cành đó.
Nhún thử, thấy cũng khá chắc, chàng dựa lưng vào thân cây, hai chân buông thõng xuống, cảm thấy thật thoải mái. Vài con chim thấy động, vỗ cánh bay và kêu lên mấy tiếng.
Chàng định tháo đôi giày ra cho đôi chân được thoải mái, nhưng lại ngập ngừng. Cứ để đôi giày ở chân, nếu lỡ có chuyện gì thì lại… chạy. Nhưng chạy đi đâu nữa bây giờ?.. Chàng không còn tin ở sức người mà chỉ còn tin ở số mệnh đời mình. Thôi thì cử gửi cho Trời. Chàng muốn cầu nguyện nhưng không thuộc một câu kinh, dù là kinh của đạo Thiên Chúa, hay là Kinh Phật.
Chàng lại thấy hối hận, khi nhớ tới ngày xưa, sáng chủ nhật nào cũng theo Phượng đi nhà thờ. Bao nhiêu chủ nhật, mà không biết lấy một bài kinh. Lúc nào cũng chỉ thoáng nghe bên tai, những câu “lạy Chúa, lạy Cha”. Tự nhiên, chàng buột miệng:
– Lạy Trời !…
Phải rồi, chỉ còn có Trời là giúp được chàng. Dương thầm nhủ như vậy và chậm rãi, cởi từng sợi giây của chiếc giầy.
Không ngờ, đôi giây nầy, chàng buộc lại giây nơi phòng nghỉ, có tiếng máy lạnh rì rầm, có tiếng âm nhạc êm nhẹ, mà nay lại tháo nó ra trong một khu rừng âm u, không có một bóng người. Chàng buộc giây của hai chiếc giầy lại, rồi mắc lên cành cây. Đôi chân được thả lỏng, chàng nắm lấy từng ngón chân cứng đơ, sờ từng chỗ phồng lên mọng nước, lấy tay xoa bóp hai bàn chân mà cảm thấy hai bàn tay ẩm ướt.
Một hồi sau đỡ mỏi, chàng duỗi chân thẳng trên cành cây, ngồi dựa lưng vào thân cây, nhắm chặt đôi mắt. Tiếng động của rừng, như nghe rõ cả bước chân của con heo rừng bước trên lá khô, tiếng bước chân thật gọn và nhẹ. Khi nghe thấy những tiếng động đó, chàng không còn thấy sợ nữa, vì biết sự di chuyển về khuya của kẻ thù thường đông, và thế nào cũng có những tiếng nói chuyện thì thầm…
Chàng thấy bình tĩnh hẳn, khi nghĩ tới sự phó mặc cho định mệnh.
Về khuya, vài tiếng nổ ầm ở gần, ở xa… Nghe tiếng đạn đi và tiếng nổ, chàng biết rằng, đây là tiếng trọng pháo của một đồn bót nào đó, bắn đi một cách vu vơ. Vùng nầy, vốn là một nơi oanh kích tự do. Những lúc không muốn mang bom đạn về phi trường sợ gây nguy hiểm cho những người ở dưới đất, chàng và các bạn chàng, thường tới đây trút hết bom đạn xuống, rồi thảnh thơi bay về.
Không ngờ, hôm nay, chàng lại nằm lọt vào vùng oanh kích tự do. Tiếng “đề-pa” của viên đạn đi rất rõ. Đếm từ lúc đi cho tới lúc đạn nổ, chàng thấy nơi bắn cũng khá xa…
Khi nghe vài tiếng nổ đầu, Dương cũng định nhảy xuống gốc cây nằm dưới đó cho an toàn hơn. Nhưng rồi chàng vẫn ngồi lại. Nếu số mình chết, thì chẳng làm sao tránh được.
Cả một khu rừng rộng mêeh mông này, nếu viên đạn trái phá có rơi xuống gần đây, xé chàng tan xác, thì âu đó cũng là số mệnh. Chàng bình thản chứng kiến những lằn chớp loé sáng, nghe từng tiếng nổ và tiếng cành cày gẫy rớt xuống ào ào, và những mảnh đạn xé gió bay đi. Cuộc pháo kích chỉ lâu chừng một giờ, rồi rừng cây lại trở về yên lặng.
Xa xa, vài đám cháy, ngọn lửa vật vờ không đủ soi sáng tới chỗ Dương ngồi.
Đàn muỗi đói vây lấy chàng đốt những phát đau nhói. Chàng kéo tay áo xuống, lật cổ áo lên. Chỉ còn có hai bàn tay và cái mặt, để cho muỗi đốt. Sợ gây thành tiếng động, nên khi muỗi vo ve bên tai, hay đốt lên mặt, chàng chỉ dám xoa nhè nhẹ.
Chàng không nhìn vào đồng hồ vì sợ thời gian đi chậm quá sẽ không làm cho chàng đủ can đảm ngồi đây chờ sáng. Dương thèm nghe một tiếng chim hót. Chàng nhớ tới một thằng bạn, đóng đồn nơi rừng núi cao nguyên, cũng nói tới cảm tưởng thèm được nghe một tiếng chim hót như chàng. Chiếc đồn, bốn mặt là rừng, như chiếc đồn mà chàng yểm trợ hồi chiều.
Địch lẩn quất ở những cánh rừng ấy, lâu lâu lại làm một cuộc tấn công nhỏ, rồi lại rút vào rừng. Chim chóc và dã thú không thích sống chung với người. Khi con người còn đi lại nơi cánh rừng đó, thì chim chóc và dã thú phải ra đi. Hơn nữa, con người cũng không muốn có những đàn chim, thỉnh thoảng lại bay rung lên, làm lộ mục tiêu di chuyển.
Dương nhớ tới lúc thằng bạn ấy kể, khi nghe thấy tiếng chim hót một buổi sáng, nó đã vùng dậy, chạy hẳn ra bờ rào phòng thủ, mắt long lanh nhìn lên một cành cây, có một chú chim rừng không biết tên, ngửa mỏ lên trời, líu lo hót lên một khúc tuyệt vời, để chợt nhớ ra, ngày đó là ngày hưu chiến.
Bao nhiêu ngày ở thành phố, Dương cũng chẳng nhớ được tiếng hót của những giống chim. Đến như tên những loài chim quen thuộc, mà chàng cũng không biết được hết. Chỉ nhớ được những con bồ cầu, con quạ hay con nhạn mà những ngày giao mùa, thường sà xuống thấp, bắt được một con mồi, rồi lại bay vụt lên trời cao. Bây giờ, chàng thèm nghe một tiếng chim hót, vì có tiếng chim hót, là báo hiệu cho bắt đầu của một ngày.
Chàng đưa tay lên vuốt tóc. Những giọt sương đêm làm ẩm ướt mái tóc và làm lạnh bàn tay. Chàng lại nhớ tới chiếc nón đã cho người con gái nơi nhà lá ven rừng, để người con gái ấy đóng vai Lê Lai, cứu chàng thoát khỏi những viên đạn hận thù. Nước mắt chàng rưng rưng. Lòng chàng chợt bồi hồi, khi nghĩ không kịp hỏi tới tên người con gái. Cả khuôn mặt ấy, chàng cũng chỉ nhớ một cách rất mơ hồ.
Chàng đã có lỗi nhiều lắm, với những người ân của chàng. Dương nghe thấy cả một trời trống vắng dồn lên ngực, thoát ra ngoài bằng một tiếng thở dài. Những cơn gió lộng của rừng khuya như hòa theo tiếng thở dài ấy, để rồi bao nhiêu hình ảnh cứ hiện lên chập chờn mông lung, thoắt biến, thoắt hiện, mơ hồ như trong một bức hình đã lâu đời, mờ nhạt nước men. Chàng thèm hút một điếu thuốc lá, nhưng lại ngần ngại
Bất cứ một hành động nào của chàng, cũng làm cho chàng phải đắn đo cân nhắc. Trong cái bóng tối này, hai bàn tay không thể che được tàn lửa đỏ thuốc lá lập loè. Chất tinh khiết của rừng núi, sẽ đưa mùi thuốc lá đến tận xa. Rất có thể sẽ lọt vào lỗ mũi thính hơi của kẻ thù, đã từ lâu, chỉ hút những điếu thuốc mùi khét lẹt.
Chàng cố nghĩ tới chuyện khác, để quên đi, nhưng gói thuốc lá cứ phồng lên ở trước ngực. Không biết làm sao, chàng xé một nửa điếu thuốc, bỏ vào miệng nhai, nuốt cái chất đắng ấy vào bụng. Chàng thấy tỉnh hẳn ngủ.
Những trận cháy do vụ pháo kích gây ra vừa rồi đã tắt lịm. Rừng cây lại trở về, với cái tối âm u và thầm lặng.
Từ thành phố và rừng hoang, hai nơi xa cách nhau như hai đầu trái đất. Như thiên đường và địa ngục. Như ánh sáng và đêm tối. Dương co hai chân lại gục đầu lên đầu gối, tủi thân với sự cô độc hiện tại. Nhưng rồi đêm tối cũng đi qua một cách yên lành. Rừng cây đã sáng, hiện lờ mờ từng thân cây, bóng lá. Và chàng nghe thấy tiếng hót của một loài chim lạ.
Một đêm, đầu óc căng thẳng, thân xác mệt mỏi, lại không được ngủ, chàng có cảm tưởng như chàng đã là một xác chết, nhưng là một xác chết còn thèm sống. Chàng nhìn quanh một vòng, và vui mừng thấy ở gần chàng, cách chừng vài ba chục thước, có một giòng nước.
Cơn khát hành hạ chàng từ hôm qua, tới nay lại ầm ầm kéo tới. Chàng muốn chạy vội tới giòng suối cúi mặt xuống, nhúng đầu vào giòng suối, uống đầy một bụng nước. Nhưng chàng chợt nhớ tới những câu chuyện đường rừng, có những giòng suối độc, chỉ cần lội xuống cũng đủ rụng hết lông chân. Uống nước trong những giòng suối đó, không chết thì cũng á khẩu. Chàng chế ngự cơn khát bằng những giọt sương đọng trên lá, hay những vũng nước đọng trong những hốc cây. Nhưng giòng suối vẫn đầy hấp dẫn khiến cho chàng luyến tiếc, ngập ngừng không muốn bước chân đi.
Chàng ngồi trên cành cây thấp, nhìn giòng nước đen sì. Giòng nước gần như không buồn chảy. Ánh sáng không đủ rõ để in lên đó một vài bóng lá. Nhìn vào đồng hồ, mới có năm giờ sáng. Giờ này các tiểu thư của thành phố, chắc là đang mơ những giấc mơ đẹp. Không biết có bao nhiêu cặp vợ chồng, thức dậy vào giờ nầy, để làm chuyện yêu đương. Nghĩ đến đó, chàng chợt mỉm cười, và quên đi trong một phút, hoàn cảnh tuyệt vọng hiện tại.
Một bước chân nhè nhẹ đạp trên lá khô, làm cho chàng bàng hoàng, bừng tỉnh. Chàng nhìn về phía có tiếng động, bàn tay đã tự động đặt lên bao súng. Nhưng chàng mỉm cười, vì đó chỉ là một chú nai con, bước đi bằng những bước chân ngơ ngác, rụt rè… Chú nai chậm rãi đi tới giòng suối, cúi mặt soi bóng, rồi gục đầu uống nước tóc tóc…
Mừng quá, chàng nhảy từ cành cây xuống, chạy chỉ ba bước là tới giòng suối. Chú nai con ngước mắt lên nhìn chàng, rồi vùng chạy. Dương không nhìn theo chú nai, mà cúi đầu xuống, uống như muốn cho nước cả giòng suối vào bụng. Nước ôm lấy mặt… Nước luồn vào mái tóc, chảy vào hai lỗ mũi, lùa vào khe mắt. Nước êm dịu quá. Nước đáng yêu quá.
Uống đã đời, chàng vẫn úp mặt vào nước lạnh, lâu lâu mới nghiêng mặt đi một chút, thở phì phì, rồi lại úp mặt lên mặt nước. Chàng biết rằng, giống thú rừng rất tinh khôn. Khi chúng đã uống được, tức là nước không độc. Vì vậy, chàng không nghi ngại, nằm sấp xuống bờ cỏ, áp mặt vào nước, để cảm thấy mềm mại, mát dịu hơn cả những khuôn mặt đàn bà.
Trời sáng mờ mờ, bỗng tối sầm lại. Trước khi bình minh trả cảnh vật lại cho ánh sáng mặt trời, thường có những phút tối thẩm hẳn lại như thế nầy đây. Chàng cởi áo bay, buộc chung với đôi giầy, cầm tay, dơ lên cao rồi lội xuống suối. Nước thật lạnh, ôm lấy chân, lấy bụng. Lội tới ngực, chàng trầm mình xuống.
Một vài con cá, rỉa vào chân, vào bụng, gây một cảm giác nhột nhạt. Chàng thấy tỉnh hẳn, như không còn một chút mệt mỏi nào. Dơ cao những vật dụng cần thiết, chàng hụp dần xuống cho nước ngập quá đỉnh đầu, và nhớ tới những ngày thuở nhỏ, còn thích tắm sông…
Khi chàng trồi lên khỏi mặt nước thì ánh sáng tràn vào lóa mắt. Tia nắng đầu tiên trong ngày, chạy dài từ chân trời trước mặt, chiếu thẳng tới mặt chàng.
Từ lâu, Dương vẫn thèm nhìn cái ánh nắng đầu tiên trong ngày, nhưng đã mấy năm nay, chàng chưa có dịp thưởng thức. Cũng có nhiều lúc đi bay vào sáng sớm, nhưng lúc mặt trời lên, là những lúc chàng đang mê mải với chiến trận. Không phải là lúc hoàn toàn nhàn rỗi như bây giờ.
Chàng đi lần về phía bờ bên kia. Đặt quần áo và vật đụng lên bờ cỏ, chàng nắm một chiếc rễ cây mọc thành chùm, lơ thơ phơ phất trên giòng nước, đánh đu một phát, nhảy lên bờ.
Trong cái lạnh tê người, Dương mới thấy xót xa ở những chỗ trên thân thể, bị gai cào rách. Chàng đưa bàn tay xuống xoa nhè nhẹ. Nặng nhất là ở hai đầu gối. Nhưng cũng chẳng có gì quan trọng.
Những giọt sương đọng trên lá rơi lộp độp xuống nước, kéo theo vài chiếc lá ẩm ướt. Chàng mặc quần áo thật chậm. Chiếc áo bay của chàng đã nhiều chỗ bị rách vì cơn chạy mê loạn chiều hôm qua. Lúc này, chàng mới thấy bâng khuâng, không biết sẽ đi về hướng nào.
Tấm bản đồ, chàng đã để lại trên phi cơ. Với lại miền rừng hoang này, có tấm bản đồ chỉ càng thêm rối trí.
Ở trên cao có hướng bay riêng biệt, mới cần tấm bản đồ để giữ đúng đường bay. Còn ở đây, không có một chút gì được gọi là sự giúp đỡ của cơ giới. Chỉ có đôi chân để đi, đôi mắt để nhìn, và đôi tai để lắng nghe từng tiếng động…
Chàng nhớ tới một câu chuyện xảy ra lâu lắm, từ ngày chàng còn là một sinh viên sĩ quan, thụ huấn tại quân trường Nha Trang. Ngày đó, có hai phi công người Pháp, lái một chiếc Piper-Cub, bị rớt trên đường từ Pleiku về Nha Trang. Sau một hồi nhìn bản đồ để đò dường, thấy bản đồ chỉ ghi núi rừng trùng điệp, hai người ấy đã giận dữ xé nát tấm bản đồ, rồi tự tìm đường bằng sự may rủi.
Hai ngày đi lang thang rồi lại trở về nơi cũ, vẫn còn dấu tích mảnh giấy vụn của tấm bản đồ bị xé. Quá thất vọng, hai người ngồi chờ chết. Thêm mấy ngày đói lả, rất may gặp một người thiểu số đi kiếm măng, kiếm nấm. Hai người được dẫn đi, chỉ trong có nửa giờ đã tới một khu làng mạc đông đúc và thoát nạn.
Câu chuyện đó, giờ đây ám ảnh Dương. Thời của hai anh chàng Tây chủ đồn điền cao su ấy, lái tàu bay Pipei-Cub, là thời mà đất nước này được sống một khoảng thời gian ngắn thanh bình. Trong rừng không có bóng đáng những người áo đen. Thấy người là mừng và đã coi như thoát nạn. Nhưng bây giờ, những sự nguy hiểm xảy tới với Dương, không những là thiên nhiên, dã thú, mà còn cả con người. Thấy người lại càng phải trốn tránh, vì chưa biết họ sẽ đối xử với mình ra sao.
Sau một hồi suy nghĩ, chàng quyết định đi về phía mặt trời mọc. Những ngày ở quân trường, mỗi buổi sáng phải thức dậy tập thể dục, chàng thấy mặt trời mọc về phía biển. Đi về phía mặt trời mọc, là đi về phía biển.
Mới đầu, chàng cũng định đi ngược về phía con đường đã chạy chiều hôm qua, vì phía đó là quốc lộ có đồn bót, nhưng lại nghĩ rằng, chiến trận mới xảy ra chiều qua. Những tàn phá vẫn còn âm ỷ cháy, dù có tới quốc lộ, cũng chẳng thể nào có được một chiếc xe đò dám chạy vào lúc này. Đấy là chưa kể đến sự đụng đầu với địch. Dù có tới được đồn bót, thì cũng không ai tin chàng, để cho chàng trú ngụ chờ đợi người giải cứu.
Đi về phía biển, con đường xa hơn, nhưng cũng an toàn hơn .Những làng mạc, những thị trấn, đều được thiết lập dọc theo vùng biển. Chàng cũng định đi theo con suối, vì theo như sách vở, thì cạnh những con suối, bao giờ cũng có dân chúng sống rải rác… Nhưng kẻ địch của chàng, cũng sống nhờ vào nước suối nên cạnh những con suối, rất có thể có những bộ chỉ huy của địch quân.
Nắng đã lên cao. Nhìn quanh một vòng, thấy không có gì khả nghi, chàng bước đi theo hướng mặt trời. Chàng tránh những lối mòn, băng đi vào những nơi gai góc. Khi thấy một cành cây tươi bị gẫy, vừa với một tầm người, hay lá cây tươi rụng ở một nơi nào hơi nhiều, là chàng ngừng lại, thận trọng nghe ngóng.
Có thể những cành cây tươi hay lá cây tươi, bị gãy rụng đó, chỉ vì một con dã thú nào đó vừa đi qua. Nhưng cũng vẫn làm chàng hồi hộp và lo sợ. Từ chiều hôm qua cho tới bây giờ, khẩu súng vẫn còn nằm im trong bao da. Chàng chưa bắn một viên đạn nào…
Đã hai ngày rồi, Dương lang thang trong rừng hoang, chưa tìm được lối ra. Chàng vẫn đi về hướng mặt trời mọc. Chàng đã ăn đủ các thứ trái cây, nhất là những thứ trái cây còn dấu vết của mỏ chim. Chàng cũng chỉ là một thứ sinh vật. Tự nghĩ như vậy, nên khi thấy chim ăn những thứ trái cây nào, là chàng cũng ăn thứ đó. Có nhiều trái cây, trông bề ngoài thì ngon lành lắm nhưng vừa cắn vào miệng đã phải vội nhổ ra vì đắng quá.
Không phải ở nơi nào chàng cũng gặp một con suối lành như ngày đầu… Chàng phải uống nước ở những vũng bùn, mà lúc uống xong rồi, nhìn lại vũng nước mới thấy sợ ! Nước thì đầy chất rong rêu, những con bọ nhỏ li ti, bơi lội lăng quăng.. Lúc khát, chàng cũng chẳng cần biết, nhưng lúc đã qua được cơn khát, thì chàng lại nhớ tới những bài học về vệ sinh hồi nhỏ. Chàng nhếch miệng cười một cách ngao ngán.
Những bài học ở trường, kể cả ở quân trường, chẳng giúp gì được chàng trong lúc này. Có nhiều lần chàng cũng thấy vài ba chiếc phi cơ, bay xẹt qua đầu, nhưng không sao có thể làm dấu hiệu để cầu cứu. Tiếng động cơ quen thuộc ấy ầm ầm lên một thoáng, làm cho chim chóc bay tán loạn, đám thú rừng chạy nháo nhác, rồi rừng hoang lại trở về vắng lặng, trả lại sự cô đơn cho riêng một mình Dương, với đôi chân và đầu óc quá mệt mỏi.
Đêm thứ nhì cũng là một đêm thật dài. Rồi đêm thứ ba. Dương cũng khắc khoải chờ sáng, cả một ngày, chỉ có một lúc vui nhất là nghe tiếng chim hót buổi sáng. Như một khúc nhạc reo mừng của kẻ đắm tàu nhìn thấy xa xa, một hải đảo. Ánh sáng đuổi đêm đi, để cho Dương lại lên đường, rồi lại hy vọng, lại thất vọng với tiếng động cơ trên trời, nguyền rủa lũ bạn bè, chửi thầm bâng quơ tất cả mọi người.
Nhiều lúc quá chán nản, Dương nghĩ rằng ai ai cũng bỏ rơi chàng, mặc cho chàng tự sinh, tự diệt. Nhưng rồi nhớ lại, những lần mà mình bay ở trên trời, với rừng cây rậm rạp như thế này, làm sao mà nhìn thấy một bóng người khuất trong bóng lá. Nhiều khi thấy có một bãi đất trống, Dương cũng muốn chạy ra đó ngồi chờ một chiếc phi cơ bay ngang qua, để làm dấu hiệu cầu cứu, nhưng lại không dám.
Chưa chờ được người tới cứu, thì chắc sẽ chết vì những viên đạn của kẻ thù. Nghĩ như vậy, nên chàng lại đi về phía biển, để mong tới được một nơi đông dân cư, một quốc lộ để có thể đón xe đò, đi về đơn vị.
Tới ngày thứ ba, trong không khí mà Dương thở, đã thấy phảng phất mùi muối mặn. Gió thổi đã lộng hơn. Nhìn xuống bước chân, Dương đã thấy có lẫn nhiều hạt cát. Mừng quá, thu hết sức tàn, chàng chạy về hướng gió thổi. Cây cối quang đãng hơn, khoảng trước mặt đã ít bị chắn lối.
Chừng hơn một giờ sau, chàng, nghe thấy tiếng sóng biển vỗ vào ghềnh đá, một âm thanh thật quen thuộc mà những đêm mất ngủ ở quân trường, chàng thường nằm lắng tai nghe. Rồi chỉ một lát sau vùng trời như được mở ra ở trước mặt, thật chói sáng và xanh ngắt một màu.
Biển như dính liền với chân trời. Trước mặt không một hòn đảo nào che khuất nên sóng ở đây thật lớn đập vào ghềnh đá rồi bắn tung bọt lên trắng xóa. Bãi biển ở đây, cũng chưa có được một vết chân người. Có lẽ Dương là người đầu tiên đặt chân tới dây. Ngoài khơi, không một bóng dáng con thuyền nào lai vãng. Chắc đây là một vùng biển dữ.
Quá mệt mỏi, chàng cởi chiếc áo bay, đặt trên cát lấy đá chặn lên hai ống quần, hai tay áo. Rồi kiếm một tảng đá, chàng nằm xuống. Cơn ngủ ở đâu kéo tới, đè nặng xuống đôi mắt Dương..
Trong giấc ngủ, Dương đã mơ thấy một con mơ dữ dội. Chàng thấy mình bị quỷ bắt được, hành hạ chàng bằng cách rút từng chiếc móng tay, móng chân cắt dần dần da thịt chàng. Bao nhiêu ngọn roi, bao nhiêu gót giày quất lên mặt chàng. Thân hình chàng quằn quại đau đớn. Chàng gào thét chửi rủa. Chàng đã vùng ra được rồi chạy nhưng đằng sau chàng, lũ quỷ đuổi theo rầm rập.
Cuối cùng, chúng lại bắt dược chàng. Lần này chúng trói chàng vào một tảng đá, leo lên một ghềnh đá cao ngất để ném chàng xuống biển…
Chàng tỉnh dậy vào lúc đó. Dư âm của cơn mê hãi hùng vẫn chưa tan. Mà sao lạ, chàng cũng thấy chàng được khiêng đi, thân người vẫn rập rình theo những bước chân. Quá hoảng sợ, chàng vùng dậy, nhảy xuống đất để chạy. Nhưng có một người đã chận chàng lại, ôm chặt lấy chàng. Vùng vẫy, nhưng đôi cánh tay càng siết chặt hơn.
Trong lúc tuyệt vong nhất, chàng mở bừng đôi mắt, để nhìn thấy đôi cánh bay trắng xóa trên ngực người đó. Ngước mắt nhìn lên, bắt gặp đôi mắt và khuôn mặt của Tâm lặng lẽ mỉm cười. Lúc đó chàng mới nghe thấy tiếng động cơ của chiếc trực thăng đang quay cánh quạt chầm chậm.
Mừng quá, chàng khuỵu hai đầu gối xuống cát, rồi ngất đi.