Hôm nay, Sơn nhất định từ giã cụ già và Lan để lên đường. Thắm thoát mà đã ba tháng qua, ba tháng Sơn thử nếm cuộc đời phong lưu mà ngày xưa ở cửa thế gia chàng đã từng sống một cách yên phận. Nhưng nay Sơn có cảm tưởng khác. Mặc dầu nơi ấy có riêng một cảm tình để an ủi những ngày trống trải, lòng người tráng sĩ vẫn thấy thèn thẹn và tự muốn hành động phản lại cái gì hèn yếu của tâm hồn. Nhiều khi chàng tự hỏi lòng: “Hay là mình yêu nàng thật?”. Và chàng không dám trả lời. Cái nhu hoài của một lòng trai - dầu là một tráng sĩ đi nữa - cũng không thể bền gan trước một làn sóng sắc.
Trời xanh và cao thăm thẳm. Sơn cất sách vào ngăn tủ, thơ thẩn lần ra vườn nhãn. Giàn hoa nho rủ la đà bên khung cửa sổ tươi cười ngậm kín sương mai. Qua chiếc hàng rào xanh, Sơn thấy một con đường mòn chạy mút vào rừng thẳm. Sơn nhớ đến Thái. Có lẽ giờ này Thái đang sửa soạn từ giã mẹ già để lên đường tranh đấu. Mái tóc bạc một lần nữa lại tựa cửa, mắt lệ mờ theo dõi bóng con đi.
Một nỗi niềm ưu ái làm động lòng tráng sĩ. Ngẫu nhiên, chàng ngâm khẽ mấy câu thơ:
Đời có bao nhiêu trang tuấn sĩ,
Mà không trả được mối thù chung.
Bỗng có tiếng cười ha hả phía sau lưng. Chàng ngảnh lại. Cụ già đã thung dung đứng dưới giàn hoa, vui vẻ hướng về phía chàng.
- Không ngờ cậu cũng là thi sĩ! Phải lắm, bao nhiêu tuấn sĩ mà không trả nổi mối thù, nghĩ cũng bất tài thay!
Sơn giạt mình, lặng thinh cúi mặt. Cụ già lại cười to.
- Đã lâu lắm rồi, lão mới nghe được một lời thơ khẳng khái. Giá mỗi người Việt Nam đều có một tâm hồn như tráng sĩ thì lo gì dân tộc không hùng cường.
Sơn kính cẩn:
- Thưa cụ, chẳng qua là những lời thơ sáo. Có gì đâu mà cụ quá khen.
Không để ý đến lời khiêm nhượng của chàng, cụ thân mến nhìn Sơn mà rằng:
- Ngày xưa Phạm Thái làm thơ nhưng là thơ “đạo tình”. Nay tráng sĩ cũng làm thơ, nhưng là thơ “ngôn chí”. Thơ ngôn chí ngang tàng, thơ đạo tình phách lạc, chung quy đều để tỏ tâm hồn của mình. Cứ nghe lời thơ của tráng sĩ, đủ biết tráng sĩ có chí lớn.
Sơn băn khoăn:
- Có chí lớn là một chuyện, thành công hay không lại là một chuyện khác.
Cụ cười khà:
- Ai đem thành bại mà luận anh hùng! Quý hồ mình có được cái chí, thì có hy vọng thành công. Tư Mã Thiên ngày xưa có nói: “Sửa mình là dấu hiệu của trí, yêu giúp là dấu hiệu của nhân, lấy cho là nêu mực của nghĩa, sĩ nhục là màu cờ của dũng, lập danh là chỗ đến nơi của chí”. Tại sao tráng sĩ là người có chí lại không chịu ra lập công danh?
Biết cụ muốn thử mình, chàng từ tốn đáp:
- Thưa cụ, nếu vậy thì Tư Mã Thiên chỉ nói đến cái chí nhỏ mà thôi. Cháu tuy kém về nho học, cũng nhớ tích này: “Xưa Cung Vương nước Sở đi săn, giữa đường đánh rơi mất cây cung. Các quan theo hầu cố xin tìm cho được.
Vua nói: “Tìm làm gì? Người nước Sở mất cung, lại người nước Sở bắt được, đi đâu mà thiệt.” Khổng Tử nghe nói bảo rằng: “Đáng tiếc cho cái chí của vua Sở không làm to được. Hà tất phải nói: Người nước Sở? Giá nói: người đánh mất cung lại người bắt được cung; lại chẳng hơn ư?”. Cháu thiết tưởng cái chí mà Khổng Tử nói đây mới có thể gọi là chí to.
Cụ ngạc nhiên trố mắt nhìn Sơn. Chẳng những cụ thấy ở Sơn một giọng nói lưu loát, mà ngoài cái hiên ngang của chàng tuổi trẻ, còn có một cái gì khác thường. Điều ấy cụ chưa bao giờ nghĩ tới hay chẳng bao giờ nghĩ tới.
- Tư tưởng người xưa và tư tưởng người nay cũng có chỗ đại đồng, cụ ạ! Cái chí lớn của người nay chẳng phải chỉ cung phụng trong đơn vị quốc gia, mà phải có mục đích là giải thoát nhân loại. Cụ há không nhớ cuộc Mậu Tuất chính biến, cuộc Cách mạng Tân Hợi, cuộc Ngũ Tứ và Ngũ Tạp vận động Trung Hoa sao? Các nhà cách mạng của nước láng giềng ta hoạt động không ngoài cái chí lớn ấy.
Cụ thở dài có vẻ bất mãn:
- Họ chỉ gây ra cuộc tương tàn tương sát chớ ích lợi gì đâu?
Sơn muốn đánh thêm một tiếng chuông nữa để phá tan đám sương mờ u ám:
- Không có cuộc cách mạng nào là tránh khỏi sự đổ máu. Nhưng trong lúc chiến đấu, phải luôn luôn ghi nhớ mục đích là cứu nhân loại. Có cách mạng dân tộc mới tiến hóa và nhân loại mới mong được giải thoát.
Đến đây, cụ mới biết Sơn là một chiến sĩ cách mạng. Lời của Sơn chỉ gieo vào tâm hồn cứng rắn của lão một ngờ vực thoảng qua. Rồi lão chỉ cho đó là một mớ ngụy biện. Lão mỉm cười bảo Sơn:
- Vậy ra cậu hoạt động với mục đích ấy?
Sơn cương quyết:
- Thưa cụ, vâng.
Và chàng tiếp:
- Cháu vừa toan nói để từ giã cụ lên đường. Hôm nay, cháu phải đi Bắc Sơn.
Dầu sao, cụ vẫn thấy có một cảm mến nồng nàn đối với Sơn. Chàng tuổi trẻ đã đem lại cho gia đình cụ một bầu không khí vui tươi thân mật. Cụ bảo:
- Cháu đã vì phận sự thì lão không thể cản. Nhưng bao giờ cháu lên đường?
- Dạ, trưa nay.
- Cháu Nhi và Lan hay chưa?
- Thưa chưa.
Cụ ngậm ngùi.
- Hai cháu hay cậu đi, chắc là buồn lắm. Thôi cậu hãy vào nhà lo sửa soạn hành lý rồi lên đường cho sớm.
Dứt lời, cụ rảo bước đi trước. Sơn nối gót theo.
Lan đang ngồi dạy Nhi học ở bàn giấy. Thấy Sơn vào, Nhi day lại gọi:
- Anh Sơn ơi! Anh giải nghĩa giùm em bài này.
Sơn đến gần Nhi, âu yếm:
- Để chị Lan giải nghĩa cho cậu được rồi. À, anh vô để từ giã cậu và cô Lan đây. Anh phải lên đường ngay trưa hôm nay.
Một vẻ buồn đượm trên nét mặt mọi người. Nhi dằn dỗi:
- Không, anh ở lại dạy cho em học cơ!
- Ở lại sao được, anh còn nhiều chuyện bận.
- Anh đi, rồi ai dạy vẽ cho em, ai dạy em cỡi ngựa.
- Chị Lan em.
Nhi xịu mặt:
- Nhưng mà vắng anh thì buồn lắm!
Tiếng “buồn lắm” của Nhi làm cho Lan chau mặt. Chính nàng, hơn ai hết, đã thấy cái buồn mênh mang ấy từ ngày biết rằng Sơn sắp ra đi. Nhưng nàng vẫn giữ nó thầm kín ở tận đáy lòng. Nàng muốn bắt chước Sơn, rắn rỏi mà phấn đấu với những nhu hoài của tình cảm. Nàng ngẩng lên nhìn Sơn, nói khẽ:
- Mau quá nhỉ?
Sơn tê tái:
- Mau thật! Thắm thoát mà đã ba tháng rồi.
Mắt Lan chớp luôn mấy cái:
- Em chúc anh mau trở về và quyết thắng.
Lần đầu tiên Sơn nghe tiếng “anh” thân ái thốt ra từ môi thiếu nữ. Nhưng chàng không thấy khoan khoái như khi ngồi đối mặt nhau ở vườn nhãn dưới ánh trăng, chàng chỉ thấy có cái gì rót thắm thía vào cõi lòng như những dòng lệ. Chàng đứng lặng nhìn Lan một lúc, âu yếm bảo:
- Em hãy nhớ lời anh. Tuy anh và em ở trên hai ngã đường nghĩa vụ, nhưng không phải là không thể gặp nhau. Về phần anh, anh tin chắc là sẽ trở về quyết thắng.
Lan cúi đầu không đáp, lấy bút chấm vào mực rồi mân mê trên tờ giấy. Sơn trở về phòng lo sửa soạn hành trang. Khi Sơn trở xuống thì không thấy Lan đâu nữa. Nhi vẫn ngồi một mình trước trang sách. Chàng hỏi Nhi:
- Chị Lan em đâu?
- Chị vừa đi.
- Đi đâu?
- Em không biết.
Và cậu hỏi lại:
- Anh đi thật sao?
- Chứ không đi thật thì đi giả à?
Câu pha trò của Sơn không làm cho Nhi cười. Cậu rơm rớm nước mắt:
- Bao giờ anh về?
- Anh chưa định ngày về, nhưng có lẽ lâu lắm.
Bỗng Sơn thấy bên tập vở của Nhi một mảnh giấy, mảnh giấy mà lúc nãy Lan mân mê dưới ngòi bút. Chàng cầm lên xem, thì ra một bài thơ của Lan vừa viết, tựa đề “Tống biệt hành”. Chàng lẩm nhẩm:
Viết mấy vần thơ “Tống biệt hành”.
Nghe chừng xáo trộn giấc tàn canh.
Hỡi ôi! Thiên lý ngùi kim mã,
Vân các tan rồi nhịp yến anh.
Đồng ải sớm vương niềm cửu biệt;
Phù hoa khép chặt cửa kinh thành,
Mai này nhẩm lại dòng thơ cũ,
E đã hương vàng rụng giếng xanh.
Sơn nghĩ thầm: “Lời thơ lưu lệ, ý tứ diễm kiều, đầy dẫy những cảm tình nồng nàn. Lời tống biệt sao mà buồn quá thế?”
Chàng quay lại bảo Nhi:
- Thôi cậu ở lại ngoan ngoãn và siêng năng nhé? Anh đi đây...
Sơn lại chào cụ già rồi lặng lẽ bước ra, trong lúc hai làn lệ Nhi lăn tròn xuống má.
Ra đến vườn nhãn, Sơn thấy con tuấn mã đã sẵn sàng yên cương. Chàng mỉm cười: “Chu đáo quá!” rồi nhảy phắt lên yên, cho ngựa ruổi về phương Bắc. Vừa đến một nhịp cầu, chàng nghe xa xa đưa lại những tiếng nguyệt cầm. Sơn lắng tai. Tiếng đàn thanh tao lướt dài trong rừng rậm, âm điệu dập dồn như một điệp khúc tiễn quân ca...