Thái trông quanh bốn phía, đoạn nhìn Sơn, thở dài:
- Kiên cố quá!
Sơn ngồi tréo ngoảy trên một chiếc đệm, hai tay chống vào cằm có vẻ nghĩ ngợi.
Chàng ngẩng lên:
- Tôi đang nghĩ đến phương thế vượt ngục.
Thái mỉm cười:
- Bạn tìm được chưa?
- Được rồi. Tôi chợt nhớ lại cách vượt ngục của hai chàng hiệp sĩ ngày xưa.
- Họ làm cách nào?
Sơn vui vẻ:
- Họ bị nhốt trong một căn phòng bao bọc trong bốn bức tường, chỉ chừa một khung cửa sổ bằng song sắt, đâu mặt ra một khoảng sân rộng. Chính ở khung cửa ấy, hai chàng hiệp sĩ thường dõi mắt trông về phía chân trời cao rộng mà thèm khát những ngày bay nhảy tự do.
Một đêm kia, ánh trăng thu rụng trên song cửa đánh thức một tâm hồn sương gió. Chàng hiệp sĩ thứ nhất không ngủ được, ra tựa cửa nhìn trăng. Có gì đâu, chỉ những sợi tơ trăng dịu dàng nghiêng trên tàu lá chuối. Vài cánh chim lấp lánh bay về xa xa... Dưới mái nhà gác, một tên lính đang nhìn theo khói thuốc tản mạn trước mắt gã.
Ánh đóm thuốc lập loè trong bóng tối.
Chàng hiệp sĩ chợt thấy ánh trăng xiên qua cành lá và soi xuống mái nhà gác. Ánh trăng huyền ảo một cách lạ thường. Ánh trăng phản chiếu vào tâm hồn chàng những tia sáng và làm nổi bật lên một ý định. Chàng đã tìm được trong tri thức của tơ trăng một phương thế vượt ngục.
Và từ đây, hai chàng hiệp sĩ thành ra kẻ si trăng. Cứ mỗi lần trăng nhô lên tàu lá, là hai chàng lại tựa cửa, hát lên những bản ca ngợi ánh trăng. Những bài hát tình tứ ấy làm phì cười tên lính gác. Thì ra những trang hiệp sĩ cũng đa tình! Nhưng đó là chủ ý của những chàng hiệp sĩ. Gã cười, chàng cũng cười. Rồi từ cái cười thản nhiên đến cái cười cảm tình, từ cái cười cảm tình đến cái cười quen thuộc. Cho đến khi cái cười đã hoàn toàn thiện cảm, chàng hiệp sĩ bắt đầu khơi chuyện. Chàng xin mồi một điếu thuốc. Trời tàn thu lạnh quá, một điếu thuốc có thể làm ấm những tấm lòng.
Tên lính gác chiều lòng người bạn mới, ghé lại khung cửa cho mượn que diêm. Chàng hiệp sĩ đưa tay qua cánh song chẳng phải nhận que diêm, mà để tóm lấy tên lính khờ khạo ấy kéo vào. Trong lúc đó, chàng hiệp sĩ thứ hai tiếp lấy bá súng tên lính, nạy bật cánh song sắt...
Sơn vừa dứt lời, Thái phì cười:
- Và đó là cánh cửa giải thoát của họ?
Sơn gật. Thái chán nản:
- Nhưng đó chỉ là cánh cửa không tưởng của ta. Giữa căn ngục tối này, ta tìm đâu ra một khung cửa sổ và một ánh trăng?
Sơn đang mê man trong cốt truyện mà quên cả hoàn cảnh. Nghe Thái nói, chàng chợt nhìn quanh. Và chàng cũng phì cười:
- A, nếu vậy ta tìm phương thế khác.
Thấy Thái vò tay có vẻ tư lự:
- Hay là thế này...
- Thế nào?
- Tôi cũng nhớ một câu chuyện vượt ngục. Ngày xưa có một tội nhân chính trị bị đày ra một hoang đảo, giam trong một ngục tối kiên cố. Ngày xanh đang sáng lạn bỗng sa sầm, chàng thấy cửa đời như khép lại. Trải qua những ngày đằng đẳng kham khổ và tăm tối, chàng tuyệt vọng. Chàng tìm đủ cách để tự vận. Nhưng sau những cuộc thử thách với tử thần, càng thấy việc tự vận không phải là dễ đối với những kẻ đầu xanh còn yêu đời. Chàng thay đổi ý nghĩ vá cố tìm phương vượt ngục.
Tới bữa ăn, người cai ngục như thường lệ đem cho chàng một son cơm và một bát nước. Chàng nhìn son cơm nghĩ thầm: “Cái này có thể dùng được”. Ăn xong, chàng cầm cái son đập nát xuống gạch. Chàng đem cán son bằng sắt dấu vào góc giường. Khi tên cai ngục trở vào lấy son và bát, chàng cười hề hề cho rằng lỡ tay. Đã từng chứng kiến những sự khuấy phá của tù nhân, gã cai ngục chỉ càu nhàu, rồi mang bát trở ra với những lời quyền rủa.
Đêm ấy, chàng bắt đầu vào việc. Chàng dùng cái cán son mà đục tường. Khi trời gần sáng, chàng kéo giường mình lại, lấp ngay lỗ đục. Đến đêm thứ ba, khi vừa lôi cái giường ra, chàng bỗng nghe có tiếng gõ nhè nhẹ ở bên kia vách. Chàng tái mặt, nghĩ rằng hành động của mình bị phát giác. Nhưng qua hàng giờ, tiếng gõ tiếp tục và đều đều. Chàng nghi lại một tù nhân nào đó đang làm công việc chàng đang làm. Nghi như vậy, chàng đâm ra chán nản. Chàng cố ý đục bức tường ăn ra vườn hoặc một bờ bể, không dè công toi lại đục sang một căn ngục khác. Sau nghĩ rằng thêm một bạn đồng chí cũng đỡ buồn, chàng lại hăng hái làm việc.
Ròng rã hàng mấy tuần, bức tường mới thủng một lỗ vừa một người chui qua. Chàng lên tiếng gọi. Bên kia có tiếng đáp, rồi một cái đầu râu tóc xồm xàm trỏ sang. Bốn mắt nhìn nhau ngạc nhiên và cảm động.
Người tù nhân ấy là một vị cố đạo. Từ đấy, mỗi đêm chàng thanh niên đều qua ngục lão. Chàng thấy lão thông minh khác thường và am hiểu nhiều tiếng ngoại quốc. Ngay lần gặp đầu, lão nhìn chàng than thở: “Thế là ta đành ở lại đây đến một ngày vô định. Theo nhận xét của lão, chúng ta không còn phương nào để có thể vượt thoát. Tuy vậy, ta hãy bền chí đợi một dịp may mắn”. Và để quên những ngày đen tối kéo dài như những điệp khúc thời gian vô tận, chàng thanh niên bắt đầu học các ngoại ngữ của lão.
Hai mươi năm qua, chàng thanh niên đã trở nên một nhà bác học. Lão cố đạo thì càng ngày càng đau yếu, cho đến một hôm, lão buông hơi thở cuối cùng trên giường bệnh. Chàng đành nhỏ lệ tiễn người ân nhân hạc giá.
Nhưng cái chết của lão giúp cho chàng một phương vượt ngục. Hay tin lão chết, người ta bó lão trong một manh đệm, định hôm sau theo thường lệ sẽ đem quăng xác lão xuống biển. Tối đến chàng thanh niên sang ngục lão, cố đem thây lão qua ngục mình. Chàng cầm theo một con dao nhỏ - con dao mà lão cố đạo đã dùng để đào tường - rồi tự quấn mình trong manh đệm thay lão. Mờ sáng hôm sau, bọn lính hối hả vào ngục. Chúng quờ quạng khiên chiếc áo quan đệm ra khỏi khám, quăng đùng xuống biển. Đợi đến lúc ấy, chàng lập tức lấy dao rạch đệm, rồi lội như rái đến một bến bờ giải thoát...”
Thái kết thúc câu chuyện với một nụ cười:
- Cứ hoàn cảnh ta hiện nay, ta phải thực hành chương trình thứ nhất của chàng thanh niên.
Sơn băn khoăn:
- Nếu đụng nhằm một căn ngục khác?
Thái có vẻ cương quyết:
- Tôi tin rằng ta sẽ may mắn hơn. Vả cứ theo vị trí mà tôi đã để ý nhận xét, thì căn ngục này ở giữa một khu vườn rộng. Ta có thể vượt khỏi vườn một cách dễ dàng.
Sơn đang đăm đăm nghĩ ngợi, bỗng có một tiếng động trên mái ngói. Đôi bạn cùng ngẩng lên. Một mảnh ngói từ từ bị rút ra. Ánh trăng dịu dàng chiếu qua lỗ trống, in xuống mặt đệm. Tiếp theo một mảnh ngói nữa, rồi mảnh ngói thứ ba. Thái chợt nghe đánh sảng trên nền gạch một vật gì. Chàng cúi xuống nhặt lên. Thì ra một bức thư kèm theo một đồng xu làm đà. Chàng vội mở ra xem, chỉ có một hàng vắn tắt:
“Hai bạn hãy leo dây ra. Hướng Bắc có sẵn ngựa”.
Trong lúc đó, một sợi dây đã từ trên mái ngói buông thỏng xuống. Sơn bảo Thái:
- Anh lên trước.
Thái nắm sợi dây phăng mình lên, thoát cái đã chui ra khỏi nóc. Năm phút sau, Sơn cũng lên đến. Cả hai khoan khoái thở ra. Bầu không khí mát lạnh làm cho hai chàng rùng mình. Sơn ngó dáo dác, thấy ở mái hướng Bắc một sợi dây thòng xuống. Chàng nghĩ thầm: “Ai cứu mình mà hành động lẹ làng quá!” và chàng kéo Thái về hướng ấy.
Vừa xuống tới đất, Sơn đã thấy cột sẵn ở gốc cây hai con ngựa. Bốn bề vẫn yên lặng, không một bóng người. Tuy ngạc nhiên, Sơn và Thái chỉ lẳng lặng mở cương rồi nhẹ nhàng nhảy lên yên.
Sơn ra roi:
- Về phương Bắc.
Thái cũng đáp:
- Về phương Bắc.