VỤ BẮT CÓC THẾ KỶ

Lượt đọc: 1724 | 2 Đánh giá: 10/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 4

Otto Stitsen, hắn cũng là Dưxiavaia Copinca. Không hoàn toàn là một người Mỹ lãnh đạm như các nhà báo Pháp miêu tả. Rưtragốp cảm nhận được điều này ngay từ phút đầu tiên khi những người Pháp đã giữ đúng lời hứa giới thiệu anh với hắn ta.

Chuyện xảy ra cũng ở một câu lạc bộ báo chí, thậm chí cũng tại ngay chiếc bàn lần trước. Những người Pháp gọi Otto Stitsen lúc hắn đang bước vào quán cà phê.

- Làm quen với nhau đi Stitsen. Đây là đồng nghiệp người Bỉ của chúng tôi, Rêne. Còn đây là một nghệ sĩ công bằng nhất của ống kính. Otto Stitsen.

- Ông vua của phóng sự điện ảnh đây ư?

- Một vị khách sắc xảo nhất của tiệm nhảy này.

- Thôi đi - Stitsen giang tay và kêu lên.

Mọi người cùng phá lên cười. Rưtragốp trịnh trọng nói:

- Rất vui mừng được làm quen với ông.

- Còn tôi không biết nên vui hay nên buồn - Stitsen nói và bắt tay Rưtragốp. Tôi không thích công bố số tiền khi chưa biết chuyện gì sẽ được trút bỏ ở đây.

Stitsen cười phá lên như thể chỉ riêng người Mỹ mới có kiểu cười như thế. Sau đó hắn ngồi xuống không thèm để ý đến những người Pháp ở đây. Hắn thô lỗ ngắm nhìn Rưtragốp.

- Sao anh lại nhìn tôi thế này? - Rưtragốp cũng bật cười. - Lẽ nào tôi lại phản bội.

- Hô! Hô! Hô! Anh phát biểu không tồi đâu. Hoàn toàn là sự tò mò mà. Con người ở đây cũng giống như người từ nơi khác tới. Nói thật nhé tôi lại không tin vào điều này. Tôi đã có dịp bay qua Bỉ hai lần, mà lần nào cũng vậy tôi đều yêu cầu các anh phi công chỉ cho tôi xem cái quốc gia huyền bí ấy ở đâu. Vậy mà họ đều nói rằng: Không thể quan sát Bỉ từ trên không xuống được. Hô! Hô! Hô! Nói được đấy chứ, phải không các bạn Pháp?

- Đúng vậy, đất nước chúng tôi thật nhỏ bé, dân tộc chúng tôi cũng nhỏ bé - Rưtragốp buồn bã nói.

- Vậy mà cậu lại không hếch cái mũi lên! Hắn ta đột ngột chuyển giọng gọi Rưtragốp là “cậu”. Chẳng hạn nước Anh cùng với đồng Silinh như thế, giống như nước Bỉ của cậu thế mà cậu thấy mũi của họ hếch lên như thế. Học đi, anh người Bỉ ạ! Hô, Hô, Hô!

- Stitsen, anh bạn người Bỉ này chỉ muốn có một tin giật gân thôi mà. - Một trong hai người Pháp nói. - Hình như anh có tin gì đó phải không?

- Anh bạn Bỉ kia sẽ đặt cược một cônhắc đấy - Tay nhà báo kia bổ sung thêm.

- Gì thế? Một câu chuyện có được không? - Stitsen nói. Đúng lúc ấy, đôi mắt hắn sáng lên, lấp lánh lộ nguyên hình là một tên máu mê, Dưxxiavaia Coopinki.

Những người Pháp mỗi người uống một cốc cônhắc rồi viện cớ có việc cấp bách phải ra đi ngay.

- Nào, vậy cậu thích tin gì nào? - Stitsen hỏi.

- “Các loại tin của tờ báo chúng tôi cũng đang cháy túi đây”. Sếp tôi nói: “Cậu hãy tới Berlin gửi một tin nào đó gay gắt về đây”. - Rưtragốp trả lời.

- Không đơn giản đâu. Stitsen rót liền hai cốc cônhắc. Cậu cứ làm như chúng tớ đi. Hãy tự sáng tác lấy một tin gì đó. Như… ganxơ Snâyde là người cộng sản bỏ chạy sang thế giới phương Tây chẳng hạn. Kể cho phóng viên của tờ báo cậu rằng… và… thế là…! Đại khái hãy làm một cái mà cậu muốn… (lại rót thêm một cốc cônhắc nữa). Cứ bịa cho mạnh vào là được. Hoặc không có thì viết về sự khủng bố của bọn đỏ - gọi là gì nhỉ?… Phải rồi! Côlưma! Đúng là Côlưma. Cái từ khó gọi thế nào ấy. Hô, Hô, Hô! Như có phép lạ, một tù binh Đức trốn thoát từ Côlưma, một kẻ thích chơi cuồng nhiệt, một tên đã kể lại cho phóng viên của anh… Hô, Hô, Hô! Cứ như vậy mà tán ra thì ngay cả những phụ nữ bốn mươi tuổi cũng phải ngất lịm đi ấy chứ (một cốc cônhắc nữa lại được rót ra). Nói chung đó là một chuyện tầm phào. Những chuyện ấy cũng đã phát chán. Một tin giật gân phải như một con dao sắc.

Rưtragốp thật sự kinh ngạc, dưới con mắt của Stitsen mọi việc đã biến đổi thế nào. Toàn bộ con người hắn gầy rộc đi, chao đảo. Chỉ còn đôi mắt ti hí, hoạt bát, bé nhỏ thoăn thoắt đã sôi nổi, sinh động rồi trở nên tham lam. Stitsen đã bốn mươi nhăm nhưng đầu hắn hói nhiều. Chắc là trước đây hắn cũng khá đẹp trai nhưng giờ đây con người hắn khô héo giống như một cái vỏ cây xơ cứng. Bộ mặt thật khó chịu đáng ghét.

- Gọi một chai cônhắc nữa đi. Có lẽ vì cậu, thế nào tôi cũng moi được tin gì đó.

Ốtto Stitsen lại uống thêm nửa chai Cônhắc nữa. Rưtragốp thích thú quan sát kẻ đang ngồi nói chuyện với anh thay đổi tiếp ra sao.

Lời nói của Stitsen bỗng trở lên nhanh hơn, thiếu mạch lạc. Nhưng chính lúc này anh phải làm thế nào để nhớ hết mọi chuyện trao đổi quanh chiếc bàn này.

- Mình thích cậu đấy. Chắc ở chỗ cậu còn nhiều bạn trẻ tốt bụng nữa chứ.

- Cảm ơn. - Rưtragốp mỉm cười.

- Tên cậu là Raun à? Tuyệt! Thế này nhé! Cậu hãy nhớ lấy: một tin giật gân trước hết không phải là truyện xảy ra thường ngày. Chẳng hạn hôm qua chúng mình còn chưa biết nhau thế mà hôm nay đã là những người bạn của nhau. Điều đó thật là tuyệt. Cuộc sống mà! Nhưng tiếc thay chuyện đó lại không làm cho thần kinh ngứa ngáy, không có tin giật gân trong truyện này. Cho mình xin cái đầu rồi hãy đi đi vì cậu ta lấy mất hồn của mình rồi.

- Tôi mong rằng không có sự ẩu đả - Rưtragốp mỉm cười - Có thể, anh…

- Gọi là “cậu”. Người Mỹ chúng mình không thích… Chúng mình là những người đơn giản… Phải nghĩ cho cậu cái gì đấy? Cậu có máy chụp không?

- Không. Vả lại tôi cũng không biết chụp.

- Tiếc quá. Chắc tờ báo của cậu cũng không cần đến ảnh đâu nhỉ?

- Đúng là như vậy.

- Vậy thế ngày mai nhé: Sáng mai cậu hãy có mặt ở bất kỳ ga nào trên đường trong thành phố. Cậu sẽ được xem một vở kịch nhỏ.

- Cụ thể là cái gì vậy?

- Bọn mình sẽ dùng bàn tay của cảnh sát để xóa sạch các quán sách báo.

- Cụ thể là gì vậy?

- Để không bán các sách báo phía Đông.

- Tại sao vậy? Lẽ nào mọi người lại không được đọc cái mà họ muốn ư?

Stitsen cười ha hả. Tiếng cười của anh ta lẫn vào tiếng ầm ầm của bánh xe tàu hỏa.

- Hãy nghe đây anh bạn trẻ: Cậu là một điển hình ở đây. Đúng là quỷ tha bọn chúng tôi đi để cho những người Đức ở phía Tây biết rằng ở phía Đông sống ra sao? Chiếc bánh ngọt đã cắt xong. Xin mời cậu hãy dùng phần của mình đi.

Rưtragốp lắc đầu.

- Không, với những quán sách báo ấy - Nó không phải là thứ hàng hóa. Tôi cần loại tin, chẳng hạn như… một nhân vật nào đó thật đặc sắc… một chuyện gì mới xảy ra ở chỗ Khaútson. - Rưtragốp dè dặt hỏi. - Các đồng nghiệp Pháp của tôi nói rằng…

Stitsen xòe bàn tay và cúi nhìn vào mắt Rưtragốp.

- Vớ vẩn! Cái gì mà Khaútson nói thành tiếng thì chẳng ai cần cả. Tin giật gân tức là tin mà nó lại im lặng. Anh bạn trẻ có hiểu không?

- Tôi thì nghĩ rằng tin nào mà chẳng được. Các bạn Pháp đã kể cho tôi nghe về một sĩ quan vừa mới đây đã chạy sang…

Stitsen phẩy tay:

- Với cái tay sĩ quan này thì còn mờ mịt và thật sự chẳng có gì. Một tay nào đó đã đưa bản tin trên đài phát thanh còn Khaútson thì phát điên lên, hắn phản đối… Stitsen rút từ túi áo ra một bức ảnh rồi ném cho Rưtragốp xem. Hắn đấy, cái tay Khaútson bí mật này. Mình đem theo để dự trữ một tin giật gân. Hắn còn có một bí danh khác “cha đẻ của những tên chạy trốn người Nga”.

Rưtragốp cũng chưa bao giờ được thấy một tấm hình như thế này trong lưu trữ. Ảnh chụp cả hình một người đàn ông cao lớn, dáng thể thao, tay cầm một dây da và dắt một con có mõm ngắn.

- Mình chụp Khaútson, cạnh buồng ở của hắn. Có thể ký vào đây một chữ ký tuyệt vời như thế này nhé: “Con bọ đất và Môrítxơ”. Bọn mình gọi Khaútson là con bọ đất vì bàn tay của hắn lúc nào cũng đầy mồ hôi, Môrítxơ là tên của con chó. Hai đứa cô đơn đi với nhau.

- Vậy thế nào cũng phỏng vấn hắn được một lần chứ nhỉ? - Rưtragốp dè dặt đề nghị.

- Hô, Hô, Hô! Chính cậu chẳng biết gì về con bọ đất ấy. Bọn mình có một tay Gari Đamnơ, ông vui phóng sự của tờ báo “Ban ti mo san”. Hắn đã nói rằng: Phỏng vấn một con chuột đã bị mèo ăn thịt còn dễ dàng hơn cái tay Khaútson này.

- Hắn không chịu tiếp một tay nhà báo nào ư?

- Sao lại thế? Nhất định phải tiếp chứ. Nhưng hắn chẳng phát biểu một lời nào có lợi cho tờ báo của cậu đâu. Hô, Hô, Hô - Stitsen bỗng bật cười, rồi hắn nhìn Rưtragốp chằm chặp. - Anh bạn ạ, mình mới nảy ra ý này, chỉ cần cậu đồng ý. Bây giờ bọn mình đi tới chỗ con bọ đất. Chắc bây giờ hắn vừa ăn trưa. Cũng gần thôi. Mình đảm bảo là hắn sẽ tiếp bọn mình. Cậu sẽ tấn công hắn còn mình sẽ chụp một bức ảnh cho tờ báo của mình với chữ ký “Cuộc tấn công vô ích vào pháo đài Khaútson của một phóng viên Bỉ”. Bức ảnh trông sẽ buồn cười nhưng lại được lòng những người Mỹ vì có một anh người Bỉ nào đó đã cố gắng vượt qua một thiếu tá sắt đá. Thế nào, chúng mình đi thôi chứ.

Rưtragốp thoáng nghĩ đến đề nghị bất ngờ này, một đề nghị mà anh chỉ dám mơ ước. Chỉ có điều “nhưng mà” bức ảnh chụp sẽ còn ở chỗ Stitsen . “Mình sẽ mạo hiểm”, anh quyết định nhanh. “Có thể mình sẽ lấy lại bức ảnh ở Dưxiavaia Coopin.

- Đồng ý. - Rưtragốp vui vẻ nói. - Ta đi thôi.

Paxionxcaia cố ý đến sớm hơn giờ ấn định ở khách sạn “Palátxơ” để Alma Gutx nghĩ rằng cô đang khát khao buổi gặp gỡ này, rằng cô không thể chờ cho tới giờ hẹn được. Ngoài ra sẽ thấy được họ gặp nhau ra sao, để bọn họ không có cơ hội nói chuyện với nhau khi vắng mặt cô.

Paxionxcaia ngồi vào chiếc ghế đặt sâu trong phòng. Từ đây cô có thể nhìn được rõ cửa ra vào và một phần cửa ra. Tờ báo để mở giúp cô kín đáo quan sát.

Một thanh niên cao lớn, mặc chiếc áo khoác ngoài hợp thời trang màu vàng sáng từ ngoài phố đi vào. Sau khi bỏ chiếc mũ nồi ra khỏi đầu, hắn giậm chân giũ những mảnh tuyết bám trên người rồi đến chỗ treo quần áo. Sau đó hắn đứng ngắm vuốt mãi trước gương. Khó khăn lắm Natasa mới kìm được tiếng cười khi trông thấy hắn sửa lại mái tóc giống hệt những động tác của một phụ nữ, sửa lại chiếc cà vạt, vuốt lại bộ lông mày rồi cài lại khuy áo khoác. Ngắm vuốt xong hắn mới ngắm nhìn căn phòng, xem đồng hồ rồi đi sâu vào trong góc phòng. Khi đến gần Natasa, hắn chăm chú nhìn vào cô.

- Ôi, xin chào con chim bé nhỏ!

Chính là anh chàng đã nói với cô ngay từ khi gặp cô ở bể bơi.

Natasa không gập tờ báo lại, nhìn hắn bằng ánh mắt lạnh lùng.

- Trời ơi! Sao em lại nghiêm khắc thế? Chính em là con chim bé nhỏ ở cái ổ của Alma Gutx đấy ư? Đúng không nào?

- Tôi không biết anh là ai cả?

- Mọi việc phải bắt đầu từ đó - Anh ta tiến lại gần cô - Armônđơ Sôcman, người lập kỷ lục, huấn luyện viên, người dạy nhảy, người đứng ngoài chính trị. Còn em, nếu em không đùa giỡn trí nhớ của anh, Anna Lorkh… Đấy, em thấy không, anh biết hết! Chúng ta hãy làm quen với nhau chứ.

Người thanh niên đẩy chiếc ghế lại gần Natasa và ngồi xuống.

- Anna và Dich mun của cô ấy sẽ đến chậm mười hai phút. Đó cũng là một truyện bất ngờ bình thường. Bao giờ họ cũng đến muộn và bao giờ cũng là mười hai phút.

Paxionxcaia cùng cười với Armônđơ. Quả thật, sau mười hai phút Anna Gutxơ và một người đàn ông cao lớn mà Natasa không quen bước vào phòng.

- Hãy để ý chiếc xe con của tôi nhé. - Người đàn ông cao lớn nói to với người Thụy Sỹ.

- Cái cối xay gió cũ kỹ của anh thì ai mà cần. - Armônđơ hét lên với anh ta.

Người đàn ông giơ tay vẫy Armônđơ rồi đi theo Anna Gutxơ vào phòng treo áo khoác.

- Họ đã làm quen với nhau rồi đấy. Thế thì tôi còn biết nói gì nữa đây - Anna Gutxơ vừa cười vừa chào Natasa và Armônđơ - Hãy làm quen với nhau nào. - Cô ta vừa nói vừa đẩy người đi cùng lại chỗ Natasa. - Đây là vua huấn luyện viên, nhà thơ của bơi lội, Dich mun Lisốpxki.

Trông ông ta giống một võ sĩ hơn với đôi vai rộng và chắc nịch, trên khuôn mặt phẳng nhô lên cái mũi nhỏ, chiếc cằm vuông vức có một vết sẹo xanh nhạt cắt ngang. Do đó người ta có cảm tưởng rằng bộ mặt của ông ta như bị cắt mất một cạnh.

Cả nhóm ngồi vào một chiếc bàn nhỏ đặt sâu trong góc tường rất tiện lợi mà Armônđơ đã sắp xếp. Hắn vừa nói với người phục vụ đang cúi xuống, còn Dich mun Lisốpxki trao đổi với Anna nhưng thỉnh thoảng lại nhìn xoáy vào Natasa.

- Thế nào, cô bé mới đến cảm thấy người thế nào? - Hắn ta bất ngờ hỏi Natasa.

- Tuyệt vời. - Tôi rất thích hiệu ăn này.

- Ồ, vậy là cô đã từng ở đây à?

- Tất nhiên, lúc ấy tôi chưa thể thấy thích thú như thế này.

- Giỏi lắm, cô Anna ạ! - Anna vỗ tay - Hãy dạy cho anh ta nói chuyện kiểu Nga nào. Dichmun nổi danh là người biết đưa ra những câu hỏi ngu ngốc.

Ta tính điểm nhé: một không nghiêng về phía Anna. Trận đấu vẫn được tiếp tục.

- Chuyện gì xảy ra vậy? - Armônđơ tham gia vào câu chuyện. Chắc Dich mun đã kịp đặt ra một câu hỏi nào đó rồi đấy?

- Vâng, nhưng Anna thì bỏ ngoài tai đấy. - Anna cười - Còn em, Anna ạ, dù sao em vẫn suy nghĩ đi nếu Dich munđơ nhận nhiệm vụ làm huấn luyện viên dạy bơi bướm cho em. Đó là điều hạnh phúc. Vì thế em đừng đánh họ đau đấy.

Nhạc bắt đầu dạo lên. Mọi người đều ra nhảy. Anna nhảy với Dich munđơ, Natasa với Armônđơ.

- Cuộc sống thật tuyệt vời biết bao! - Người bạn nhảy thì thầm vào tai Natasa. Ngay buổi sáng hôm nay, tôi vẫn chưa biết sẽ giết thời gian buổi tối như thế nào. Mọi thứ đều chán chường. Ấy thế mà em lại hiện lên từ bể bới, người Aphơrôđit kiều diễm ơi, điều đó làm anh muốn buổi tối nay cứ kéo dài ra vô tận.

Vừa ba hoa, Armônđơ vừa kiên trì áp bộ mặt mình vào Natasa.

- Này tôi báo cho anh trước - Cô nói giễu cợt, tôi không chịu được tính phóng đãng ngay từ buổi làm quen như thế này đâu.

- Tối nào là do ý tôi chứ.

- Con chim bé nhỏ ơi, anh thấy em có đôi mắt sắc đấy.

Sau điệu nhảy, câu chuyện dường như chẳng ăn nhập vào đâu. Natasa thấy vui thích vì điều đó giúp cô có thể suy nghĩ nên hành động tiếp như thế nào.

Họ uống với nhau để chúc mừng Anna Lorkhơ đã có bức ảnh xuất hiện trên các báo.

- Anna đã nói với tôi rằng cô kiên trì như quỷ ấy, - Dich munđơ quay về phía Natasa, đối với kiểu bơi bướm thì đây là việc làm đầu tiên đấy. - Hắn gõ xuống bàn bằng nắm đấm rắn chắc như thép.

- Đừng sơ, Anna, anh ta là người tốt. - Anna Gutxtơ cười khi thấy Natasa tỏ vẻ sợ hãi khi nhìn thấy nắm đấm của Dich munđơ.

- Chúng ta sẽ làm thế này nhé. - Lisốpxki tiếp tục nói sau khi lườm Paxionxcaia. - Trước hết Anna sẽ rèn luyện kỹ thuật bơi, sau đó tôi sẽ lãnh trách nhiệm tiếp.

Anna Gutxtơ vỗ tay tán thưởng.

- Anna hãy kêu “Hoan hô” đi. Lâu lắm rồi anh ấy mới chịu dạy đấy. Chúng ta không thể không mừng vì điều đó.

- Thế rồi tôi sẽ được gì đây? - Armônđơ giả vờ cáu - Tôi yêu cầu phải công bằng, phải sẻ Anna ra làm ba phần.

- Im đi! - Dich munđơ thô bạo nhìn hắn.

Armônđơ giơ tay.

- Tôi xin hàng! Xin hàng! Không dám yêu cầu gì cả? Nhưng chẳng lẽ chị Anna lại không yêu cầu gì ư?

- Thôi im đi - Dich munđơ lại đe dọa lần nữa.

Mọi người im lặng hồi lâu, ngồi ăn một cách miễn cưỡng. Dàn nhạc lại dạo lên bản nhạc mới. Anna mời Armônđơ nhảy và cả hai ra ngoài. Paxionxcaia chờ Dich munđơ mời cô nhảy nhưng hắn đã không làm như vậy. Khi Anna và Armônđơ vừa rời khỏi bàn thì Dich munđơ lấy khăn lau mồm và cúi người về phía Paxionxcaia.

- Cha cô là người của Đinitxơ phải không?

- Tôi không biết nói dối. Đúng, cha tôi là sĩ quan hải quân của đế chế.

- Họ của ông ta?

- Cần phải suy nghĩ, Lorkho, nếu hắn là bố mình. Tỷ số sẽ là hai không. - Natasa cất tiếng cười nhưng tim thắt lại vì thận trọng và lo lắng.

Vả lại cô không sợ bị kiểm tra vì từ lâu nay cha đã được “chuẩn bị” sống cùng với Natasa theo địa chỉ đáng tin cậy tuyệt đối.

- Phải, thế đấy, Lorkh… Tất nhiên rồi… - Dich munđơ cười khẩy. - Cô vẫn đi học đấy chứ?

- Vâng. Ở trường Đại học Xây dựng.

- Và cô sẽ xây dựng những ngôi nhà cho những tên thực dân người Nga chứ?

- Tại sao lại thế? Cho người Đức chứ? Chỉ cho người Đức thôi.

- Cô nói tiếng Đức không hoàn toàn đúng giọng lắm, cũng như tôi vậy, chúng tôi là người gốc Ba lan.

- Đấy là anh cảm thấy thế thôi. Từ lúc đó trở đi Paxionxcaia cố gắng chú ý theo dõi cách nói tiếng Đức của mình.

- Bố cô bây giờ làm gì?

- Phục vụ, nhưng dĩ nhiên là trên đất liền.

- Ở đâu?

- Ở chỗ những tên thực dân Nga ấy.

Thực hiện bước đi liều lĩnh ấy, Natasa chờ đợi hắn sẽ cung cấp điều cô mong muốn.

- Thế đấy! Là ai vậy?

- Nói danh dự đấy, tôi không biết đâu.

- Tại sao cô lại sống trong khu vực của người Nga ở Berlin?

- Thật khó mà chuyển ngôi nhà mà ông tôi đã xây dựng sang phía Tây. Cha tôi nói rằng “Phương Tây sẽ tự đến với chúng ta”.

- Thế đấy! Người Nga có thường đến chỗ cô không?

- Họa hoằn lắm. Cha tôi không thích những cuộc viếng thăm ấy. Nhưng dù sao cũng có người đến chứ? Họ là ai?

- Một vài kỹ sư nào đấy. Thậm chí có một người trong số họ đã yêu tôi.

- Rất tốt - Dich munđơ dè dặt nhìn Natasa.

- Cái gì cơ? - Tốt ư?

- Mọi sự đều tốt đẹp - Dich munđơ hờ hững trả lời.

Anna và Armônđơ trở lại bàn và thế là câu chuyện lại bị gián đoạn.

- À, mà hình như Armômđơ đúng đấy. Tôi có yêu cầu đây. - Anna giả vờ cáu nói, - các anh chị có chuyện gì mà tâm tình thế? Tôi thấy hết rồi đấy nhé.

- Dich munđơ đã đặt ra hàng triệu câu hỏi cho tôi.

- Mà lại là những câu hỏi ngốc nghếch chứ? Armônđơ phấn khởi nói, có nghĩa là bàn thắng thua là bao nhiêu nhỉ? Một triệu - không ư?

- Giữa hai chúng tôi là chuyện nghiêm túc. - Natasa nói - Rất nghiêm túc.

- Câu chuyện nghiêm túc chứ Dich munđơ? Tôi không tin, - Anna kêu lên..

“Õng ẽo à? Cứ õng ẽo đi! - Paxionxcaia nghĩ thầm. Các người thừa biết Dich munđơ nói gì với tôi. Chính các người đã cố ý bỏ đi để nhảy đôi với nhau…”.

Sau đó suốt bữa ăn Dich munđơ không nói gì với Natasa nữa. Cô cũng không bắt chuyện với họ, cô hiểu rằng mình phải hết sức thận trọng và kiên nhẫn.

Đúng một giờ đêm. Paxionxcaia đứng lên.

- Xin lỗi, đã đến giờ tôi phải về.

Mọi người đều nài cô ở lại.

- Tôi không cho phép như thế đâu! Armônđơ kêu lên…

- Sao các anh lại cư xử như các anh là người đàn ông đầu tiên tôi quen ấy. - Natasa nhướn mày lên nhìn Armônđơ một cách giễu cợt.

- Anna ơi, em làm hỏng mất cả buổi tối của chúng tôi rồi đấy! - Anna giận dữ nói.

Natasa cúi xuống nói thầm vào tai:

- Em không làm gì được nữa đâu. Em có một người bạn, anh ấy cũng ghen như mọi người. Anh ấy nói với em rằng sẽ đến đón em vào lúc một giờ đêm nay. Chị hãy yên tâm, một tuần nữa em sẽ cho anh ta nghỉ luôn. Em đã chán lối sống của anh ta với những tiếng thở dài và bệnh ghen của anh ấy.

- Hay em kéo anh ta đến đây vậy. - Anna đề nghị.

- Thế thì sẽ đánh nhau mất… Natasa cười và nghiêm nghị nói thêm. - Không nên làm như vậy. Chị hiểu không. Rồi cô thì thầm vào tai Anna. - Anh ấy là người Nga đấy.

Paxionxcaia nhanh nhẹn chia tay với mọi người và đi ra.

Một lúc sau Dich munđơ cũng đứng dậy. Hắn đuổi kịp cô ở phòng treo quần áo ngoài. Khi đưa áo choàng hắn khẽ nói:

- Về câu chuyện của chúng ta cô không được nói một lời nào đấy.

- Không có chuyện gì cả. - Natasa đáp lại cũng bằng giọng nói ấy.

Dich munđơ cùng cô bước ra. Chiếc ôtô của người bạn đóng giả bạn cô đã đỗ cách thềm ra vào khoảng chục bước chân. Natasa ngăn Dich munđơ lại.

- Một mình tôi đến ôtô thôi, không thì anh bạn tôi lại mắng tôi đấy. Tạm biệt nhé.

Natasa chạy lại ôtô và nhanh chóng ngồi vào xe và phút chốc nó đã biến mất vào bóng đêm. Một người đàn ông trẻ tuổi ngồi sau tay lái đội chiếc mũ che kín cả gáy theo kiểu Mỹ hỏi cô.

- Cô nghĩ thế nào? Liệu hắn có nhìn thấy số xe không?

- Có thể lắm. Số xe được chiếu sáng rõ lắm.

- Tuyệt. Dù sao tôi cũng không đến nỗi ngu đâu. Để chờ xem tất cả bọn họ sẽ trưởng thành cùng với cô ra sao?

- Chẳng có gì đáng sợ xảy ra đâu. Anh cứ đóng vai người yêu tôi đi và im lặng vì ghen tức. Thế thôi mà.

- Còn mặt khác đưa từng đứa về để biết được địa chỉ của chúng. Như thế có tốt hơn không?

- Một đứa trong bọn họ có ôtô riêng. - Natasa nói.

- À! Có lẽ đó là cái “Vanđêrenơ” cũ đỗ trước thềm cửa rồi.

- Chắc thế.

- Thế nào tôi cũng chụp ảnh được nó. Nhìn xem bọn họ không bám theo chúng ta đấy chứ.

Natasa ngó trước ngó sau.

- Không.

- Vậy thì về nhà thôi.

Chiếc ôtô quay gấp ở góc phố.

Người lái xe chính là Vlađimia Subbôtin. Sau thất bại hoạt động ở môi trường thương mại, Subbôtin được Đại tá cho liên lạc với Natasa. Từ hôm nay trở đi anh sẽ là một kỹ sư Nga, chủ một căn hộ, độc thân chưa có vợ, có ôtô riêng và là người yêu của Anna.

Natasa cười.

- Tôi đang hình dung xem cái thông báo của tôi có hiệu quả như thế nào đối với bọn chúng. Hơn nữa người nào đi với tôi được chuẩn bị rồi. Tôi đã nói trước với anh ta…

Rưtragốp bắt đầu lo lắng. Khi say rượu Dưriavaia Côpinca đã làm gián đoạn buổi phỏng vấn thiếu tá Khaútson. Ông đã không nghe rõ địa chỉ mà người Mỹ nói cho người lái xe taxi. Bây giờ ông đang cố nhớ lại họ đã cho xe chạy qua đường phố nào. Quả thật là khó. Chiếc taxi lao đi vùn vụt, còn thành phố đã bị buổi hoàng hôn của mùa thu đến sớm che phủ. Con đường không hoàn toàn ngắn như Stitsen đã nói: hai mươi bảy phút đi xe. Chiếc ôtô đỗ trước cửa một ngôi nhà có người ở, hai bên là những ngôi nhà đứng chen chúc nhau. Stitsen kịp thiu thiu ngủ một lát trên đường, tỉnh dậy ngạc nhiên nhìn ra xung quanh. Hắn như sực nhớ ra tại sao hắn lại ở đây nên hắn lặng thinh chui ra khỏi xe rồi tiến lại gần thềm nhà.

Khi thanh toán tiền, Rưtragốp hỏi người lái xe.

- Đường này tên là gì?

- Rôbisơ Strátxơ.

- Xe điện ngầm có cách xa đây không?

- Ngay đây thôi.

- Anh người Bỉ, anh ở đâu đấy? - Stitsen kêu lên - Nhanh lên chứ.

Khi chiếc thang máy đưa họ lên cao, Stitsen mới nói.

- Hãy hành động can đảm lên nhé. Cái tay Khaútson này không phải là đồ giẻ rách đâu.

Một phụ nữ người Đức có mái tóc sặc sỡ kim cài đầu ra mở cửa cho họ. Stitsen ngang nhiên gạt bà ta ra một bên và họ bước vào tiền sảnh. Từ gầm bàn, một con chó hình thù quái dị gầm gừ đe dọa.

- Môrítxơ, yên nào - Stitsen vui vẻ nói.

Con chó im lặng.

Ngay lúc ấy, một trong những cánh cửa bật mở. Rưtragốp nhìn thấy Khaútson. Ông ta mặc chiếc áo choàng sáng, tay cầm quyển sách để mở.

- A! Dưriavaia Côpinca! Cậu cần gì vậy?

Nói xong Khaútson nhìn Rưtragốp chằm chằm.

- Cậu không nhầm địa chỉ đấy chứ? Vì tôi chứ không phải cô Uýtxki sống ở đây đâu nhé.

- Mình không nhầm đâu, Khaútson ạ. Stitsen bình tĩnh và tỉnh táo trả lời. Sau bữa ăn trưa mà đi ngủ thì thật là có hại nên tôi mới kéo anh bạn đồng nghiệp lại đây muốn hỏi cậu đôi điều. Hãy làm quen với nhau đi. Đây là nhà báo Raun Rêne.

Rưtragốp để ý thấy Khaútson không có ý định giơ tay bắt nên chỉ nghiêng mình, trong bụng thầm ngạc nhiên về trí nhớ của Stitsen vẫn chưa quên cái tên Bỉ của ông.

Khaútson quay người về phía Rưtragốp.

- Tôi không biết anh Stitsen lấy của anh bao nhiêu nhưng anh ta đã báo cho anh biết rằng đây là sự lãng phí thời gian vô ích chưa?

Đó cũng là một lời đề nghị đuổi khéo. Rưtragốp dè dặt nói.

- Ngài Khaútson. Tôi xin ngài mười lăm phút được không.

- Xin mời. Khaútson tránh sang một bên nhường cho Stitsen và Rưtragốp đi qua.

Căn phòng của Khaútson rất rộng và trống trải. Toàn bộ đồ đạc sắp xếp trong phòng là một chiếc bàn và cạnh đó là một chiếc ghế tựa cứng. Mặt bàn được đánh bóng, một chiếc đèn bàn đặt trên đó. Một làn khói màu xanh da trời lập lờ từ chiếc gạt tàn thuốc lá đặt dưới chiếc chao đèn. Ngoài ra không còn thứ gì khác trên mặt bàn. Các bức tường được dán một loại giấy. Lò sưởi tỏa ra không khí ấm áp và mùi hăng hắc của than đá đang cháy hồng.

Khaútson ngồi vào bàn, ngón tay mảnh dẻ cài vào nhau và ngắm nhìn Rưtragốp.

- Nào, anh hỏi đi.

Rưtragốp mỉm cười.

- Tôi đã được ông Stitsen báo trước rằng ngài sẽ im lặng. Tôi rất lấy làm lạ nếu như ngài lại có một vinh quang nào khác.

- Vậy đơn giản đó không phải là của tôi. - Khaútson phòng thủ một cách vụng về.

- Và chính vì thế, xin ngài thứ lỗi cho những câu hỏi ngốc nghếch của tôi, tôi sẽ cố gắng hỏi những gì Ngài có thể trả lời được.

- Xin hỏi đi.

- Dựa vào đâu mà ngài lại có bí danh “Cha đẻ của những kẻ chạy trốn người Nga”.

Trên bộ mặt khô khốc của Khaútson thoáng xuất hiện một nụ cười. Chỉ tay vào Stitsen lúc đó đang chúi mũi vào chiếc máy ảnh của mình, ông ta nói:

- Trong số tất cả các bí danh được các nhà báo hào hiệp đặt cho thì chỉ có Stitsen là người đưa ra bí danh chính xác vì mọi người đều hiểu cả, Dưriavaia Côpinca… Đúng không Stitsen?

Anh ta cúi đầu và bắt đầu chĩa ống kính vào Rưtragốp và Khaútson.

- Cậu chụp làm gì thế?

- Tớ sẽ in bức ảnh này dưới dòng tựa đề: “Một trận công kích uổng công của anh nhà báo người Bỉ vào pháo đài Khaútson người Mỹ”. Không tồi đấy chứ?

Khaútson nở nụ cười hiền từ. Thế là Rưtragốp hiểu rằng ngài thiếu tá không phản đối sự nịnh hót.

- Ngài chưa trả lời tôi, thưa ngài Khaútson. Rưtragốp lên tiếng.

- Chẳng lẽ như thế ư – Khaútson tỏ ra ngạc nhiên. - A, phải rồi. Đó là một thứ tên lóng ngu xuẩn. Nếu tôi là cha đẻ của những kẻ chạy trốn người Nga thì phải có một người mẹ chứ. Vậy bà đó là ai?

Đúng, để tấn công vào pháo đài Khaútson không phải là dễ, Rưtragốp đã thấy tay thiếu tá này như một hòn đá ẩm ướt trơn tuột đi.

- Có trường hợp người Mỹ chạy sang phía Đông không?

- Có chứ. - Khaútson trả lời ngay tức khắc.

- Những trường hợp như thế có nhiều không?

- Tôi không tính được.

- Vậy thì tại sao người Mỹ lại bỏ chạy?

- Tốt nhất là ông hỏi điều đó với người Mỹ ấy. - Stitsen khẽ cười rồi tiếp tục bấm máy.

- Ai là người cuối cùng chạy từ phía Đông sang? - Rưtragốp vừa hỏi vừa nhìn thẳng vào Khaútson.

- Sau đó thì chẳng còn ai nữa.

Tất nhiên Rưtragốp muốn gọi tên Côvancốp để xem Khaútson sẽ phản ứng ra sao. Nhưng một sự xác minh như vậy chỉ có thể làm cho thiếu tá thêm nghi ngờ mà thôi.

- Những người Nga làm cho tôi tin rằng người ta còn mưu sát người của họ nữa. Vậy thì họ có cơ sở nào để chứng minh điều đó không?

- Trong bọn họ ư? - Khaútson hỏi lại.

- Đúng.

- Thế thì tại sao anh lại hỏi tôi điều đó? Cá nhân tôi không bao giờ tham dự vào những chủ đề Hôliút như thế.

- Bản thân ngài thì không, nhưng những người của ngài có thể làm điều đó lắm chứ?

Khaútson kinh ngạc nhìn Rưtragốp rồi kêu lớn:

- Frau Enda!

Vẫn người phụ nữ trung niên ban nãy ra mở cửa bước vào.

- Chị Frau Enda, đã có lúc nào chị tham gia vào mưu sát những người Nga không?

Đôi mắt chị ta tròn xoe.

- Ngài vừa nói gì vậy? Chưa bao giờ.

- Cảm ơn. Xin lỗi chị, chị có thể đi được.

Người phụ nữ ra khỏi phòng. Khaútson nói:

- Không còn người nào của tôi nữa đâu.

- Hô, Hô, Hô! - Stitsen vừa ôm bụng vừa cười – không anh bạn Bỉ ơi, cậu đi đâu vậy?

Khaútson ngồi một cách thản nhiên, không một thớ thịt nào động đậy trên khuôn mặt.

- Vâng, thưa ngài Khaútson tôi chỉ có một phương pháp làm cho độc giả vui sướng mà thôi: đó là thuật lại chính xác câu chuyện của chúng ta mà sẽ không nghĩ là người ta sẽ nhìn tôi như một thằng rất ngu.

- Ồ, đó là việc của anh. - Khaútson đột ngột cất lời và nhìn đồng hồ. Nghỉ ngơi sau khi ăn thế là xong. Xin lỗi nhé. Hắn ta đứng dậy.

Rưtragốp cùng với Stitsen quay trở lại quán rượu.

- Thế nào anh bạn, anh có cắn vào tai mình không?

Rưtragốp lấy làm ngạc nhiên tại sao Stitsen hoàn toàn tỉnh táo.

- Ôi, anh bạn trẻ ơi! Xem bộ dạng của anh kìa! Một con mèo con chuyện trò với một con chó xù. Hô, Hô, Hô!

Rưtragốp phẩy tay.

- Hãy uống đi cho hết đau khổ.

- Thế mới là chuyện của nam nhi chứ. Mình nghĩ rằng cậu không đoán ra được đâu.

Stitsen say rất nhanh nhưng bây giờ trông hắn thay đổi hẳn - âu sầu và dữ tợn.

- Cậu có biết nước Mỹ là thế nào không? - Bỗng nhiên hắn nói - Mọi người đều làm giàu?… Thật vớ vẩn? Ai cũng chỉ nghĩ đến việc làm giàu như thế nào?

- Tất cả chúng tôi đều biết rằng anh được tự do hoàn toàn cho cái sáng kiến riêng biệt của anh - Rưtragốp phản đối.

- Thằng ngu! Hãy nhìn vào rạp chiếu bóng của chúng tôi, ông nội của tôi ơi, một thiếu niên di chuyển chỗ ở đã chết vì bần cùng. Người bế thì đập chán vào tường, ông ta cũng là người thích làm giàu. Ông ta chết mà chưa kịp trả hết hàng đống tín dụng. Người ta tống cổ chúng tôi ra khỏi nhà, đồ đạc bị lấy đi. Quỷ quái! Bây giờ thì tôi đang nhào lộn như thế đấy. Nhưng tôi là một người cao thượng. Tôi không sinh ra một thế hệ trẻ con bần cùng. Đối với tôi, thế là kết thúc. Đủ rồi… Cậu cười cái gì? Cậu quay về sân chơi bóng chày của cậu đi. Sếp của cậu sẽ cho cậu biết phải đến đâu bằng đầu gối.

- Cũng không loại trừ điều đó. - Rưtragốp buồn bã mỉm cười.

- Dù sao mình cũng kiếm chác được ở cậu.

- Bao nhiêu?

- Nếu buồng gan của sếp mình mà tốt thì sẽ có năm mươi đôla.

- Mình trả cậu một trăm.

- Về cái gì?

- Về cuốn phim chụp có hình của mình ấy. Cậu phải hiểu rằng nếu in cuốn phim ấy ở chỗ cậu thì sếp tôi nhất định tận dụng cái đầu gối của mình.

- Nghiêm chỉnh đấy chứ anh bạn? Một trăm chứ?

- Nghiêm chỉnh. Chỉ có điều là bằng tiền Mác.

- Quỷ thật. Nào, đưa đây.

Stitsen nhanh nhẹn cuộn cuốn phim bằng những đông tác chuyên nghiệp.

- Có phải rửa ảnh không?

- Không cần. Một trăm đôla thì không rửa. Tôi sẽ rửa lấy ở nhà mình để làm kỷ niệm.

- Vậy thì năm đôla nữa cho tiền cát sét.

- Được thôi.

Rưtragốp nhận phim và trao tiền cho Stitsen, thanh toán các khoản khác. Rồi họ chia tay nhau.

- Dù sao thì cậu cũng là một chàng trai biết làm việc. - Stitsen nói khi chia tay với Rưtragốp - Nếu cậu còn cần tớ giúp đỡ thì ngày nào cũng vậy vào giờ này tớ ăn trưa ở đây. Đến đây nhé, bọn mình sẽ còn kiếm chác được cái gì đấy - Hắn vẫy tay rồi rảo bước vào trong bóng đêm đang hòa trong ánh đèn màu của những bức quảng cáo.

Đại tá Sêmin thích câu nói: “Đối với chúng ta kiên trì là một phần của sự hiểu biết”.

Nhưng lâu nay mọi cộng sự đều biết rằng nếu như ông nhớ đến lời nói đó thì cũng có nghĩa là công việc tiến hành không tốt.

Trong khi Subbôtin, Paxionxcaia và Rưtragốp báo cáo công việc mà họ vừa làm thì Đại tá Sêmin thỉnh thoảng lại rút điếu thuốc trong hộp rồi vò nát cho tới khi điếu thiếu vụn ra thì ông lại cẩn thận dốc từ lòng bàn tay vào chiếc gạt tàn, còn vỏ hộp ông để vào sọt rác. Một phút sau ông lại rút một điếu khác từ trong hộp ra. Khi chiếc hộp rỗng hết, ông lại cầm bao mới từ trong ngăn bàn ra. Ông đã “hút” như thế hai bao “Cadơtếch”. Vậy mà đôi mi mắt nặng nề của ông chưa lần nào mở ra để nhìn các cộng sự đang ngồi trước mặt.

Paxionxcaia là người phát biểu cuối cùng. Sau khi nghe thông báo của các đồng chí trong nhóm. Cô rất xúc động cho rằng mình là người tiếp cận gần nhất nội dung công việc so với các đồng chí khác, đặc biệt là khi gặp Armônđơ vào sáng nay.

- Tôi hãy còn trong thời kỳ luyện tập. Cô kể, - Tôi nhận thấy hắn đang mong chờ ở tôi và cực kỳ ghen tức. Khi lên khỏi bể bơi, Anna Gutxơ vội vã có vài lời nhận xét rồi sau khi liếc nhìn xung quanh liền cho biết rằng tôi cần phải gặp mặt Dich munđơ Lixôpxki vào chiều nay, Anna Gutxơ báo cho biết điểm hẹn. Tôi trả lời lúc đó tôi bận. Rõ ràng là cô ta rất lúng túng, rồi sau đó nói với tôi rất nghiêm túc và đầy ý nghĩa: “Anna, cô cần phải gặp ông ta. Đây không phải là gặp gỡ vì tình yêu mà nó rất nhiều ý nghĩa. Em có hiểu không?”. Tôi làm ra vẻ suy nghĩ sẽ phải làm như thế nào rồi mới trả lời là sẽ cố gắng. Armônđơ gặp tôi ở phòng treo áo khoác. Rõ ràng là hắn đang chờ tôi. Hắn hỏi tôi đi đâu ngoài phố. Tôi nói tên trường Đại học. Hắn định tiễn tôi. Suốt cả quãng đường chúng tôi đã không nói gì với nhau. Tôi trả lời là không được. Hắn cười một cách lạ lùng và nói: “Tôi hiểu… Cô đi gặp Lixôpxki”. “Cứ cho là như vậy đi”. - Tôi trả lời. Hắn ta im lặng rồi đột nhiên nói với tôi rằng: “Anna, tôi rất thích cô, vì thế tôi cần phải nói cho cô biết rằng hãy thận trọng với tên Lixôpxki này. Hắn có thể dẫn cô đến những việc mà chỉ trong tích tắc cô sẽ đi đời”. Tôi yêu cầu hắn nói rõ hơn và chọc tức hắn bằng nhận xét rằng chẳng yêu những người đàn ông nào mà vì ghen tức lại làm hại những đối thủ của mình dù đó chỉ là những đối thủ giả tạo. Hắn im lặng hồi lâu cho tới khi tôi chia tay hắn ở trường Đại học. Lúc đó hắn mới nói rằng: “Anna, tôi chỉ báo cho cô biết điều gì tôi thấy chứ không nói được điều gì hơn đâu”. Tôi thấy hết…

Sau khi thông báo xong Paxionxcaia không rời mắt khỏi Đại tá. Hy vọng tìm được những suy nghĩ của Đại tá về những công việc cô làm.

Im lặng trong căn phòng được vài phút. Mọi người nghe thấy Đại tá lại vò điếu thuốc thứ hại.

- Chúng ta sẽ bắt đầu từ nguồn của Rưtragốp. Cuối cùng Đại tá phá tan bầu không khí im lặng. Thật là tốt khi đồng chí ấy đã gặp được Khaútson.

Điều đáng quý là xác minh được con đường đi lại của tay thiếu tá này trong thành phố chừng nào chúng ta có những cơ sở suy nghĩ rằng Khaútson đang phụ trách trung úy Côvancốp. Chúng ta sẽ làm sáng tỏ một điều là hàng ngày Khaútson không chỉ đi lại trong khu vực “vui chơi” mà còn đến một địa chỉ trước đây chúng ta không được biết. Điều đó hết sức quan trọng, đồng chí Rưtragốp hãy suy nghĩ xem làm thế nào để có thể “thăm dò” sâu thêm nữa vào các địa chỉ này được không? Không cần phải tiếp xúc với Stitsen nữa, mà cũng không cần đến chỗ các nhà báo nữa. Đối với chúng ta Stitsen đã làm tất cả những gì mà hắn có thể làm được rồi, cứ để hắn làm cái việc kiếm chác của hắn mà chúng ta không cần tham gia.

Đại tá lắc lắc những vụn thuốc lá trong chiếc gạt tàn rồi lại lấy điếu mới.

- Điều chủ yếu bây giờ là làm sao tới được con đường dẫn chúng ta đi, tránh đi xa đích. Về việc này thất bại của xí nghiệp thương mại Subbôtin đã cho chúng ta một bài học. Tất nhiên về mặt lý thuyết chúng ta có thể tính toán được rằng trong số các sĩ quan Mỹ buôn bán đầu cơ, có thể có một tay nào đó có ích đối với chúng ta. Nhưng tìm được một con người như vậy không phải là đơn giản. Cái tay buôn bán chợ đen mà Subbôtin làm quen lần đầu rõ ràng là một tên vô danh tiểu tốt và chúng ta có thể tiến hành một phi vụ nhỏ nào đấy nhưng nó chẳng có lợi gì cho công việc của chúng ta. À, còn anh chàng Cuper lại hoàn toàn khác hẳn. Không chỉ các thương gia mới quan tâm đến tiền Xô Viết. Subbôtin, anh kiếm được khá đấy. Hình như tay Cuper đã tin rằng anh đúng là một tay đầu cơ nhưng không hiểu vì sao mà hắn cứ cho rằng anh là người không đáng tin cậy lắm. Thành ra vấn đề ở đây là phải đảm bảo bằng vật chất bao nhiêu thì cũng bằng chính trị bấy nhiêu.

- Có lẽ tôi cần phải bỏ qua chuyện chính trị chứ. – Subbôtin hỏi.

- Bỏ qua ư? - Mí mắt của Đại tá rung lên, ông nhìn Subbôtin với vẻ không hài lòng. - Coi bọn chúng là những đứa ngu cả ư? Đó là sai lầm đáng buồn nhất của chúng ta.

- Tôi không thấy đứa nào trong bọn chúng thần thánh cả. – Subbôtin lắp bắp.

- Nhưng chính vì anh không phải là một thiên thần - Đại tá giận dữ nói - Chúng ta đã và đang phạm phải những sai lầm.

Sau một lúc im lặng, Đại tá nói:

- Các khuyết điểm trên đã dạy cho bọn chúng. Chúng ta đừng quên điều đó. Một năm trước đây, giả sử Cuper có ký hợp đồng mà không cân nhắc gì cả thì bây giờ thử xem nếu như Rưtragốp đề nghị với Khaútson ký một hợp đồng về đồng hồ thì một giây sau hắn sẽ biến mất ngay. Chúng ta đang làm việc với một đối thủ không ngu ngốc gì đâu. Chúng có kinh nghiệm và hiểu biết tuyệt vời về những thiếu sót của các cán bộ. Vì thế đối với chúng ta một công việc dễ dàng bao giờ cũng gây ra nghi ngờ. Còn như nghe cô Paxionxcaia kể thì ta có thể nghĩ được rằng ngày mai cô ấy sẽ đem đến cho chúng ta chiếc chìa khóa ngôi nhà bọn chúng giấy Côvancốp. Nhưng không được hấp tấp.

Cũng có thể là ngẫu nhiên cô đã chạm trán với những người làm cho chúng ta quan tâm nhưng những người này lại chẳng có quan hệ gì tới vụ bắt cóc Côvancốp. Mà cũng có thể là mỗi ngày đồng chí lại đi lệch xa khỏi đích mà nhóm chiến dịch chúng ta đã đặt ra. Về chuyện Rênát Senle luyện tập trong nhóm Alma Gutxơ, chúng ta chẳng có một sợi chỉ nào khác. Việc có sự tham gia của Rênát Senle vẫn còn treo lơ lửng trên không. Như vậy điều chủ yếu bây giờ là hai đồng chí Paxionxcaia và Subbôtin phải lại gần đích. Một trong hai người phải đến ngày Phơrăng phuốc. Hãy bắt liên lạc với đồng chí Đức ở đấy. Phải tổ chức theo dõi Rênát Senle và làm sáng tỏ độ tin cậy của những tin tức về nguyên nhân tại sao cô ta lại rời khỏi Berlin.

Subbôtin không đi một mình tới Phơrăng phuốc. Ngồi trước mặt anh trong toa tàu là Đại úy Rát Chúc cũng đang bị căng thẳng thần kinh. Anh được đề nghị đi theo như một đồng sự duy nhất của Côvancốp, người biết Rênát Senle. Ở Phơrăng phuốc, nếu thấy cần phải xuất hiện thì anh là người có nhiệm vụ giúp đỡ Subbôtin làm quen với Rênát.

Vào một buổi sáng mùa thu xấu trời, có khoảng mười hành khách bước ra khỏi tàu dưới những tấm vòm nhà ồn ã của nhà ga Phơrăng phuốc. Cùng đi với họ có Rát Chúc và Subbôtin, hai người cố gắng không để cho ai chú ý đến.

Họ nhanh chóng tìm ra bệnh viện nơi chị của Rênát đang chữa bệnh. Subbôtin đến cơ quan an ninh địa phương, còn Rát Chúc thì chờ anh ở một tiệm cà phê nhỏ đối diện bệnh viện. Trong tiệm cà phê không có một người khách nào khác ngoài Rát Chúc. Hai cô gái phục vụ đứng ở góc quầy hàng đang thì thầm nói chuyện riêng tư. Hai người xét nét nhìn người đàn ông trẻ tuổi đang buồn bã ngồi trước tách cà phê.

Rát Chúc lơ đãng quan sát một buổi sáng của thành phố qua khung cửa sổ. Cả bầu trời lẫn đường phố đều bị xẻ ngang xẻ dọc bởi những hạt mưa nhỏ li ti xám xịt. Khi chiếc tàu điện chạy qua cửa thì chiếc chuông nhỏ nhạy bén treo ở cửa tiệm cà phê kêu lên loảng xoảng.

“Lẽ nào Rênát Senle lại là kẻ thù?” - Rát Chúc nghĩ. Anh không muốn tin điều đó. Dù sao đi nữa những chuyện mà Subbôtin kể lại cho anh nghe đúng là rất đáng ngờ.

Một chiếc chuông nhỏ kêu leng keng. Một cô gái mặc chiếc áo đi mưa bước vào, chiếc mũ liền áo hất ngược ra sau lưng. Rát Chúc sững người lại. Đó chính là Rênát. Cô gái phục vụ chạy từ trong quầy ra tiếp cô.

- Xin chào! Thế mà tôi cứ nghĩ là hôm nay chị sẽ không đến. Bọn này cho là bà chị đã khỏe rồi. - Cô gái vui tính xởi lởi mồm miệng. - Chẳng là bao giờ chị cũng đến đây vào chín giờ mà. Sức khỏe của chị gái chị ra sao? Chị ấy vẫn như mọi hôm chứ?

- Vâng! Vâng! - Rê nát sốt ruột trả lời… Một tách cà phê và ba bánh mỳ nóng. Chị tôi rất thích bánh mỳ của cửa hàng.

- Xin chị chờ năm phút. Tôi sẽ pha cà phê. Mời chị ngồi.

Rênát đặt chiếc túi xách lên bàn rồi ngồi xuống.

Rát Chúc hoàn toàn không biết mình phải làm gì. Rênát soi gương, thoa phấn rồi liếc nhanh vào đồng hồ treo ở lối vào (Rát Chúc nhìn thấy hết qua khóe mắt). Rồi cô nhìn qua phòng cà phê bằng đôi mắt hờ hững. Đôi mắt cô đột nhiên tròn xoe, cô ngập ngừng như muốn bỏ chạy. Cô đã nhận ra Rát Chúc.

Cô vội vã cài lại chiếc áo khoác, đứng lên rồi chậm rãi lại gần Rát Chúc.

- Chào anh. Tôi không nhầm đấy chứ.

- Không - Rát Chúc trả lời với vẻ không niềm nở. Anh không biết giấu kín tình cảm của mình.

- Xin chào Đại úy.

Rát Chúc yên lặng, ngồi yên tại chỗ, nhìn chằm chằm Rênát một cách căm thù.

Bộ mặt của cô ta từ từ nhuốm một màu trắng nhợt, vụng về ngồi ghé xuống chiếc ghế.

- Tôi biết anh đang nghĩ rằng - Cô khẽ nói rồi im lặng một hồi - Nhưng anh không biết rằng… không hề biết gì…

Rát chúc im lặng.

Đúng lúc ấy tiếng chuông reo lên rồi Subbôtin bước vào. Anh nhanh chóng tiến lại bàn.

- Đây là cô Rênát Senle - Rát chúc nói.

Trên gương mặt của Subbôtin không thấy một thớ thịt nào động đậy.

- Người quen của anh đấy ư? - Anh vui vẻ chìa tay cho Rênát bắt. - Cho phép tôi ngồi xuống chứ?

Subbôtin ngồi xuống và chăm chú nhìn Rênát. Cô vẫn ngồi nguyên, mặt nhìn xuống.

- Hai người có chuyện gì thế? Cãi nhau à? - Subbôtin nhanh nhẹn hỏi.

Rát chúc và Rênát đều im lặng. Các cô phục vụ tò mò theo dõi không biết chuyện gì xảy ra.

- Các đồng chí, tôi không có lỗi. - Rênát khẽ nói. - Tôi không hề có lỗi gì…

Một niềm vui thoáng đi qua trên khuôn mặt của Subbôtin. Anh hiểu rằng không cần đến cái trò chơi này.

- Tôi sẽ kể hết cho các đồng chí, tất cả…

Lần đầu tiên Rênát nhìn Subbôtin. Hai ánh mắt gặp nhau.

- Chị đến chỗ chị gái chứ? - Subbôtin nghiêm giọng hỏi.

- Vâng.

- Đi đi. Lúc nào xong việc chị hãy đến tìm cơ quan an ninh địa phương và chị hãy kể lại những gì chị biết về vấn đề mà chúng tôi đang quan tâm. Chị sẽ đến chứ?

- Tôi sẽ tới. - Rênát trả lời một cách chắc chắn.

Cô ta đứng lên trả tiền cho cô phục vụ bàn rồi bước ra khỏi quán.

Subbôtin và Rát chúc nhìn qua cửa sổ. Cô gái đã đi ra phố và biến mất sau chiếc cổng bệnh viện.

- Cô ta có tới không? - Subbôtin tự hỏi. - Cô ta phải tìm đến. Mình có thể từ Sêmin bay tới được rồi.

Rênát Senle kể lại:

Khi chiến tranh kết thúc, tôi mới mười sáu tuổi. Còn chị tôi, chị Alisa hiện đang nằm viện, hai mươi ba tuổi. Suốt thời gian chiến tranh chúng tôi sống ở Berlin. Mẹ và em trai tôi đã chết trong những trận ném bom năm 1944. Cha tôi là đảng viên quốc xã giữ một chức vụ kha khá trong trại tập trung của đế chế Hítle. Tôi gặp cha tôi lần cuối cùng vào tháng 3 năm 1945. Ít lâu sau một người giúp việc của ông tìm gặp chúng tôi và nói rằng cha tôi đã hi sinh như một người anh hùng. Anh trao lại cho chúng tôi huân chương và một số tiền lớn. Cuối cuộc chiến, hai chị em tôi gặp lại nhau. Chồng chị ấy là phi công quân sự đã mất tích ở mặt trận phía đồng.

Sau một lúc im lặng đôi mắt cô nhìn lướt qua các đồ vật trong phòng, uống một ngụm nước. Rồi cô tiếp tục.

- Đối với tôi, chị ấy là tất cả: vừa là người mẹ, vừa là người bạn. Tất nhiên tôi yêu chị và cái gì cũng tin chị ấy dù tôi hoàn toàn không biết cái gì diễn ra trong tâm hồn chị ấy. Nói chung chị ấy là một người kín đáo. Tôi thường thấy chị ấy ngồi bất động suy tư trầm lặng. Nhiều lúc chị ấy ngồi im lặng như thế hàng giờ liền. Tôi lại chỗ chị ấy, ôm lấy chị ấy và nhìn vào đôi mắt chị. Tôi muốn nhìn thấy chị cười. Nhưng họa hoằn lắm tôi mới đạt được mong muốn ấy. Chị ấy thường nói với tôi một cách thô bạo rằng: “Hãy để chị ấy yên! Rênát! Chẳng bao lâu công việc của em sẽ phát triển”. Năm ngoái chị ấy sống ở Berlin, làm nghề bán báo ở sân bay Sône Phelđơ. Rồi chị ấy chuyển đến sống ở đây, tại Phơrăng phuốc. Lúc đó mẹ chồng chị ấy vẫn còn sống. Chị tôi sống cùng bà ấy.

Tại sao chị ấy phải dời chỗ ở? Khi mẹ và em tôi chết, chúng tôi sống với một người họ hàng xa. Chị tôi rất xung khắc với họ. Cả gia đình ở đây là người lao động, có tinh thần dân chủ. Còn chị tôi ngược lại lúc nào cũng sống với quá khứ. Ngồi ở quầy bán báo, sau khi đã trở thành vợ của một sĩ quan không quân nổi danh và là con trai của một người giàu có và tiếng tăm. Đối với chị đó là sự đau khổ không có gì sánh được. Cũng cần phải hiểu chị ấy. Nói chung chúng tôi không thường xuyên ở cạnh chị tôi. Sau khi tốt nghiệp phổ thông, tôi vào học lớp thủ thư. Sau đó tôi làm việc ở thư viện. Chị tôi đã bỏ đi không ở đấy. Họ hàng tôi có dạy dỗ tôi nên người, đó là công lao của họ, cho nên bây giờ tôi mới ngồi đây và kể lại một cách trung thực tất cả những gì đã xảy ra. Nhưng nếu hỏi họ những gì về tôi thì thế nào họ cũng chỉ nói xấu về tôi. Đó là vì mọi câu chuyện và những lời khuyên của họ tôi chỉ thấy ở đầu lưỡi, tôi chọc tức họ khi tôi muốn. Tôi sẽ ra khỏi nhà và chỉ trở về khi đã thật khuya. Họ muốn tôi vào học tại trường Đại học buổi tối, tôi lại cố tình luyện tập thể thao dưới nước vào các buổi tối ấy.

Bốn tháng trước, tôi quen với Cônvancốp một cách ngẫu nhiên trong rạp chiếu bóng. Sự quen biết này giữ một vai trò lớn trong cuộc đời tôi. Một điều thú vị là anh Cônvancốp cũng nói như những người thân của tôi, nhưng có điều anh nói ra tất cả những điều đó mà không la hét, không đe dọa, anh nói một cách đơn giản, vui vẻ, thân mật. Tôi tin những lời anh nói và rất muốn anh ấy không hiểu lầm về tôi.

Bây giờ tôi sẽ kể lại sự kiện kinh hoàng nhất trong cuộc đời tôi. Một lần, vào buổi sáng, tôi ra khỏi nhà. Một người đàn ông trạc năm mươi tuổi, ăn mặc khá diện, giữ tôi ở cửa: “Cô lad Rênát Senle - Người ấy nói - Đây là bức thư của chị gái cô gửi. Tôi muốn nói chuyện với cô”. Tôi nói rằng tôi đi làm muộn. Khi đó ông ta nói: “Cô hãy đọc lá thư này ở thư viện, tôi sẽ chờ cô vào buổi chiều. Nếu cô đến là tốt. Nếu không đến là việc của cô”. Ông ta nói xong rồi bỏ đi.

Bức thư của chị tôi rất ngắn, chị viết rằng người chuyển bức thư này là người bạn của gia đình chúng tôi và ông ta sẽ nói với tôi một sự kiện rất quan trọng. Chỉ nói sự thật. Hai chữ sự thật được gạch dưới. Chị ấy yêu cầu hủy bức thư đi. Tất cả những chuyện đó là lập mưu kế với tôi. Sau buổi làm việc, tôi đã gặp người đó. Trái tim thì nói rằng đừng đi nhưng chân tôi thì cứ bước. Lời ông ta nói đầu tiên làm tôi kinh ngạc, đôi mắt của tôi thật sự tối tăm. Ông ta nói rằng ba tôi vẫn còn sống, hiện giờ ông đang ở cách đây không xa, ở Tây Đức. Ngay lúc ấy ông ta đưa quà cha tôi cho tôi. Đó là một phong bì đựng tiền. Sau đó ông ta nói rằng cha tôi sống với ước mơ được gặp lại các con gái mình, ông muốn sang vùng phía Đông dù biết rằng điều đó là khó khăn và nguy hiểm. Sau đó ông ta đưa cho tôi giấy và bút rồi yêu cầu tôi viết cho cha tôi mấy dòng. Tôi suy nghĩ mãi rồi viết rằng tôi rất yêu và mong được gặp cha tôi. Người đó nói rằng: “Hãy cảm ơn cha cô về món quà đi. Sự cảm ơn của cô đã chứng minh rằng tiền đã được chuyển giao”. Tôi đã viết: “Cha thân yêu! Con xin cảm ơn số tiền cha đã cho. Tất nhiên con rất cần chúng”. Sau đó chúng tôi chia tay nhau.

Từ phút đó trở đi, toàn bộ cuộc đời tôi đã bị lật ngược. Lúc nào tôi cũng nghĩ đến người cha và ước mơ chúng tôi sẽ cùng nhau chung sống. Những suy nghĩ ấy chẳng làm cho tôi lúc nào được yên, cả ngày lẫn đêm. Ít lâu sau lại có một người nữa từ chỗ cha tôi tới. Ông ta cầm bức ảnh của cha tôi và cả tiền nữa. Lúc này tôi mới viết một bức thư dài cho cha tôi. Chẳng bao lâu sau người thứ ba đem thư trả lời đến. Tôi đã nhận được chữ viết của người. Tất cả những bức thư trước đây người viết cho mẹ tôi là cùng một nét chữ. Tôi cất thư đi và đã thuộc lòng chúng. Cha viết rằng chúng tôi sẽ gặp nhau trong một thời gian gần đây.

Có một lần vẫn người đàn ông đầu tiên gặp tôi đã đón tôi ở thư viện. Ông ta kể rằng cha tôi đã dứt khoát bỏ phía Tây sang sinh sống ở phía Đông. Nhưng cha tôi sợ rằng ông sẽ phải vào tù vì vậy ban đầu ông muốn chứng minh cho chính quyền địa phương biết tấm lòng trung thực của mình. Ông nghĩ rằng làm điều đó nhờ sự giúp đỡ của một sĩ quan Nga mà tôi đang kết bạn. Cha tôi đã biết tình bạn này… từ đâu? Điều đó thì tôi cũng không rõ.

Trong bức thư cha tôi viết rằng hiện giờ ông chỉ tin người sĩ quan này. Ông hi vọng vì tình bạn với tôi, người sĩ quan này sẽ giúp đỡ ông. Tóm lại cha yêu cầu tôi làm mọi thư để cha có thể gặp được người sĩ quan Nga này. Tôi tin vào tất cả chuyện ấy.

Họ thúc giục tôi, nhưng tôi lúc nào cũng rất bận. Còn về chuyện chuẩn bị cho cuộc gặp gỡ thì Cônvancốp không hề hay biết gì. Anh ấy cũng không biết cả buổi tối hôm tôi gọi điện cho anh ấy đi chơi trong thành phố, mặc dù lúc gọi điện cho anh thì đã có phái viên từ chỗ cha tôi đứng bên cạnh.

Côvancốp đồng ý đi chơi. Người phái viên bảo: “Cô hãy đi tới cầu Varsápki. Đến đấy cô ngồi vào xe ôtô, nó sẽ đưa cô đến gặp cha cô”. Điều làm tôi vừa ngạc nhiên, vừa sung sướng là trong chiếc ôtô đến chỗ tôi và Côvancốp đứng trên cầu thì có một người huấn luyện viên bơi mà tôi đã quen. Đó là G. Armônđơ. Tôi nhớ ra rằng trong thời gian gần đây, Armônđơ và nhất là Alma Gutxơ huấn luyện viên của tôi cứ luôn miệng nói những câu bóng gió bí mật gì đấy, cứ như họ đang tham gia xây dựng hạnh phúc cho tôi vậy. Tôi không hề biết người đàn ông thứ hai có mặt trong xe. Tôi chỉ nhận thấy rằng người đó nói tiếng Đức không sõi.

Xe đi dọc theo bờ sông. Khi chúng tôi đi cách cầu khoảng năm trăm mét thì bỗng dưng tôi trông thấy anh Côvancốp ngã xuống sàn xe. Ngay lúc đó người không quen biết lấy một cái khăn dùng để phủ mình ngựa phủ lên người anh ta rồi hạ lệnh cho lái xe dừng xe. “Ra khỏi xe đi”. Hắn thét lên với tôi và Armônđơ. Chúng tôi chui ra khỏi xe. Người kia cũng ra khỏi xe và nói với chúng tôi rằng: “Người sĩ quan Nga này đang chuẩn bị bắt cha tôi. Chúng tôi kịp đánh hơi thấy. Chúng tôi, và nhất là cha cô, khuyên cô nên im lặng. Chúng tôi có đầy đủ những bức thư của cô trong đó cô cảm ơn số tiền cô đã nhận. Tốt nhất là cô hãy đến ngay Phơrăng phuốc trong ngày hôm nay với chị cô. Chị cô đang ốm nặng đấy”. Sau đó người đó nói với Armônđơ vài lời mà tôi không nghe được rồi quay xe phóng về cầu Varsápki. Đây là tất cả những gì tôi biết.

Thế đấy, tất nhiên là tôi đã nói chuyện với Armônđơ - nói chính xác thì hắn ta đã nói chuyện với tôi. Nói chung là tôi rất hoang mang đến nỗi không nói nỗi một lời nào. Armônđơ cho chiếc taxi dừng lại rồi dẫn tôi về nhà. Trong lúc chúng tôi đi trên đường hắn cứ lải nhải khẳng định bên tai tôi là chỉ có một cách làm duy nhất có thể cứu chúng tôi thoát khỏi tình huống này là dù có xảy ra chuyện gì cũng phải im lặng. Tất cả là như vậy. Tôi phải nói rằng Armônđơ cũng hốt hoảng và tỏ ra xúc động…

Vâng, tôi đi Phơrăng phuốc ngay đêm đó trong chuyến tàu hỏa đầu tiên đến ga…

Chị tôi đang nằm ở bệnh viện, người bác sĩ trưởng cho tôi biết công việc của chị tôi rất tồi tệ… Không, ngoài bác sĩ trưởng ra tôi không hề nói cho một ai biết chuyện này. Hắn ta luôn luôn có mặt tại đấy mỗi khi tôi tới bệnh viện, đích thân lại dẫn tôi đến gặp chị tôi rồi lại đưa tôi ra tận cổng… Sự việc lại không phải như thế, chị tôi không hoàn toàn sung mãn.

Dich mun Lixôpxki quy định cho Paxionxcaia địa điểm gặp mặt tại một cửa hiệu bán sách cũ trên thềm một ngôi nhà đã bị đổ vỡ vì chiến tranh. Paxionxcaia thậm chí còn không tìm được ngay ngôi nhà này. Chiếc rèm che cửa ra vào bé tí chật hẹp có kích thước chỉ bằng một trang vở viết.

Mùi hôi hám của đàn chuột và mùi cồn dán gỗ xông lên nồng nặc trong quán. Những giá sách chiếm hết cả phần bên tường bên trái với một chiếc thang đặt chéo phòng. Một chiếc cửa ra vào thấp lè tè treo một chiếc rèm nỉ ở bức tường phía sau. Từ đây bỗng xuất hiện một phụ nữ lùn tịt tròn trùng trục đặc biệt là đã được lựa chọn đúng với kích thước của chiếc cửa ra vào trong bộ trang phục áo liền quần màu xanh.

- Thưa bà cần gì? - Người đàn bà thấp lùn ngước cặp mắt sưng húp rơm rớm nước mắt thể hiện một vẻ quỵ lụy nhìn chằm chằm cô gái.

- Cho tôi xem một vài truyện tiểu thuyết Pháp nào đó.

- Xin chờ một chút! - Người đàn bà thấp lùn chồm dậy khỏi chiếc thang xếp rồi rút từ trên giá xuống một vài cuốn sách rách tả tơi và bày ra trên mặt quầy.

- Mong bà thứ lỗi cho, chỗ chúng tôi đây không có nhiều sách Pháp. Nguyên nhân của nó thuần túy là do hậu quả của quy định lịch sử - Người bán sách vừa cúi chiếc đầu tròn như một quả cầu nhìn Paxionxcaia đang lật giở từng trang một nói với cô.

Natasa phân vân. Cô đã tới đây chậm mất mười phút, vậy mà vẫn chưa thấy Dich mun Lixôpxki đến.

- Tôi sẽ lấy cuốn sách này… Paxionxcaia miễn cưỡng nói - Bao nhiêu tiền?

- Liệu không phải trả tiền một cách vô ích được không?

Bắt gặp cái nhìn ngạc nhiên của Natasa người bán sách khẽ nói:

- Ông Lixôpxki đang chờ cô ở kia - Nói xong bà ta chỉ tay vào chiếc cửa sau.

Đằng sau cánh cửa là một căn buồng rất nhỏ, bên trong kê một chiếc giường, một chiếc bàn và một chiếc ghế ngồi. Dich mun Lixôpxki đang ngồi trên giường. Khi Natasa bước vào buồng hắn liếc nhìn đồng hồ.

- Cô thích sự chậm trễ? - Hắn hỏi cộc lốc.

- Phải nhỡ mất hai chuyến xe điện ngầm vì nhiều người đi làm về.

- Ngồi xuống đi. - Lixôpxki hất đầu về phía chiếc ghế. - Cuộc gặp gỡ giữa hai chúng ta không có gì là thú vị lắm, chúng ta sẽ không để mất thời gian. Tôi muốn trao đổi với có về cha cô.

- Nói với tôi chuyện đó để làm gì nữa? - Paxionxcaia nói trong lúc đầu cô lại nghĩ cách đối phó với ý thích bất ngờ của Lixôpxki.

- Cô thấy không…

Lúc này Natasa nhận thấy ông vua của các huấn luyện viên tỏ ra hơi bối rối và chính hắn cũng không biết phải bắt đầu câu chuyện như thế nào. Hắn lắc lắc đầu rồi lấy lại bình tĩnh đúng lúc.

- Tôi không biết đánh lừa ai và sẽ nói thẳng ra ngay. Tôi là một trong số những người không muốn nước Đức bị xé nát thành từng mảnh, những người không biết chịu khuất phục. Nước Đức không cần cả người Nga, người Anh, kể cả người Pháp. Nhưng quả thật tôi khó có thể nhìn thấy một người Nga nào trên các đường phố của Berlin!

Natasa đã nhận thấy hắn không gợi đến những người Mỹ.

- Chúng tôi là những người sẵn sàng đi tới đâu mà nước Đức cần và đã không đầu hàng cùng với tướng Kây-ten. Cha của cô là sĩ quan hải quân của Đế chế? Phải không nào?

- Đã có lúc. - Natasa thừa nhận.

- “Đã có lúc” nghĩa là sao? Một sĩ quan Đức lúc nào cũng là sĩ quan, khi người đó vẫn còn sống, - Lixôpxki nhanh nhẹn lên tiếng. Trong đôi mắt của hắn lóe lên một tia lửa độc ác nhưng ngay lập tức đã dập tắt.

- Cha tôi về cơ bản thuộc nghề nghiệp dân sự.

- Vớ vẩn! Làm sao cô biết được trong tâm hồn của ông ấy có cái gì?

Cả hai im lặng không nói gì với nhau một lúc.

- Thế nào, đúng ra thì ông muốn gì ở tôi? - Natasa hỏi.

Lixôpxki nhìn Natasa một cách giận dữ và ngay lúc đó hắn tỏ ra thận trọng.

- Trước hết đừng quên rằng mình là người Đức - Hắn cười khẩy.

- Tôi luôn luôn nhớ đến điều này.

- Vậy thì cha cô còn nhớ gấp đôi nữa đấy. Ông đã đổ máu vì nước Đức. Có lẽ nói chuyện với ông ấy tôi thấy dễ chịu hơn.

- Còn phải xem là chuyện gì! - Paxionxcaia nhìn Lixôpxki như chọc tức.

- Mọi chuyện chỉ là một mà thôi - về nước Đức. Ông ấy đâu phải là đỏ.

- Ông ấy là người Đức và luôn là như vậy…

- Những tên đỏ cũng la lên rằng chúng là những người Đức.

- Ông biết tôi sẽ nói gì với ông không? - Paxionxcaia mạnh dạn nhìn thẳng vào đôi mắt lạnh lùng của hắn. - Tuyệt đối tôi không thích tham gia vào công việc chính trị. Tất cả những ai trong trường Đại học của tôi đều biết đến điều này, cha tôi cũng biết như vậy, bạn bè của tôi và cả ông nữa cũng cần phải biết như thế. Tôi thích gì thì tôi làm vậy. Tôi học. Tôi thích thể thao - tôi luyện tập thể thao. Tôi thích một chàng trai - tiêu khiển thời gian cùng với anh ta.

- Một người Nga ư? - Lixôpxki mỉa mai nói.

- Hôm nay là người Nga, ngày mai - là những người Ai Cập. Điều quan trọng là tôi thích. Ngoài ra tôi chẳng muốn biết gì cả. Làm chính trị như ông là đồ bỏ đi nếu ông không thể lôi kéo những người như tôi tham gia chính trị!

- Nhưng cha cô là một người đàn ông? - Sau một hồi lâu Lixôpxki mệt mỏi nói.

Natasa đã đọc thấy sự chán chường trong đôi mắt của hắn. Có thể, hắn tự thấy bực cho chính hắn, rằng đã uổng công sắp xếp một cuộc gặp gỡ như thế này. Đã có đà Natasa quyết định làm cho hắn phấn khởi một chút.

- Tôi sẽ trao đổi chuyện này với cha tôi. - Natasa nói.

- Về chuyện gì? - Lixôpxki thận trọng hỏi.

- Nói chung. Hình như chưa lần nào tôi nói chuyện chính trị với ông ấy. Bất ngờ tôi lại cảm thấy thú vị khi ông ấy nghĩ đến mọi chuyện này.

- Về những gì vậy?

- Về nước Đức. Lại về nước Đức.

- Nhân đây tôi cũng muốn hỏi cái anh chàng người Nga mà cô thích là ai vậy? - Lixôpxki hỏi.

- Đó là một người đàn ông trẻ, sắc sảo và thú vị.

- Anh ta làm gì?

Natasa bật cười.

- Tôi không có ý hỏi câu như vậy về anh ta. Tôi chỉ quan tâm đến tiền lương của anh ấy là bao nhiêu? Anh ta nói rằng anh ta là một kỹ sư quân sự khi tôi hỏi anh ấy ý kiến về một chuyện gì đó.

- Cụ thể là chuyện gì vậy?

- Tôi cũng không biết nữa. - Paxionxcaia luống cuống một cách chân thật. Im lặng một lúc cô rụt rè hỏi:

- Chắc là anh sẽ không phụ trách môn bơi bướm cho tôi nữa nhỉ. Tôi rất lấy làm tiếc.

- Ừ - Lixôpxki cười cởi mở. - À, không. Tại sao tôi phải như vậy. Chúng ta sẽ cùng luyện tập chứ. Vì cô đã hứa là sẽ nói chuyện với cha cô mà. - Hắn nặng nề đứng lên. - Cô ra một mình nhé. Tha lỗi cho tôi, tôi không thể tiễn cô được.

- Người bạn Nga của tôi sẽ làm chuyện đó. - Natasa cất tiếng cười.

- Anh ấy lại chờ cô à? - Lixôpxki hỏi với vẻ sợ hãi.

- Ồ không đâu. Sao lại có thể như vậy được. Tôi đi gặp một người đàn ông khác được ư?

Natasa bước ra phố, cô cảm thấy hài lòng với mình. Chắc là cô không làm một cái gì để đến nỗi Đại tá Sêmin lại sẽ cạo cho cô một trận trong cuộc họp tới.

Rưtragôp xác định được rằng cứ mỗi sáng Khaútson lại đi xe tới phố Khênen. Để ôtô ở quảng trường Mai Balch, anh đi ngang qua đại lộ, theo đường Khênen để tới ngôi nhà năm tầng kiến trúc rất cổ rồi đứng sau cánh cửa to lớn nặng nề, bẩn thỉu.

Ở hai bên đường người ta treo nhiều bảng con ở cửa ra vào, nhìn vào đó người ta có thể biết được ai đang sống trong nhà. Một bác sỹ nha khoa, một người làm răng giả, một luật sư, một thầy giáo dạy nhạc,… và rất nhiều người khác nữa. Chỉ thiếu một cái bảng con ở tầng hai, nơi có một cơ quan tổng đại diện của thiếu tá Khaútson.

“Hắn là một người khiêm tốn - hắn không muốn quảng cáo cơ quan của mình”. Đại tá Sêmin cười một cách khó chịu khi Rưtragốp cho xem bức ảnh chụp lối vào tòa nhà này trên đường phố Khênen.

Sau khi bước vào cửa chính, thiếu tá Khaútson trèo lên cầu thang thứ nhất, lấy chìa khóa mở cửa và bước vào phòng ngoài có ánh sáng chói của ngọn đèn. Ở cuối hành lang có hai người lính ngồi cạnh chiếc bàn con, chân duỗi thẳng. Một khẩu tiểu liên treo ở trên cổ một tên, vòng qua thắt lưng của tên kia. Hai người lính không chú ý đến thiếu tá Khaútson. Người ta có thể nghĩ họ đang ngủ.

Khaútson đi qua một trong các phòng, ở đấy có một người trẻ tuổi đang ngồi ở góc bàn đọc cho cô thư ký một văn bản nào đấy. Anh ta vẫn cứ đọc, nhưng tay vẫy thiếu tá và chỉ vào một chiếc bàn trên đó có một hồ sơ màu vàng chói. Thiếu tá Khaútson ngồi xuống, mở cặp và đọc các giấy tờ. Người trẻ tuổi lại gần Khaútson cáu kỉnh nói:

- Tôi đã ở chỗ hắn hai lần rồi mà vẫn cứ như thế.

- Hãy kiên nhẫn, Gêrácđơ. - Khaútson nói nhưng mắt vẫn không rời tập giấy tờ. - Cái này anh đã đọc chưa?

Thiếu tá chìa cho người trẻ tuổi một đoạn mật mã ngắn.

- Tất nhiên đã đọc rồi. Toàn bộ câu chuyện này bắt chúng ta phải chờ đợi.

Thiếu tá Khaútson đấm tay xuống bàn.

- Người ta giữ nó ở Munkhen làm gì nhỉ? Chúng ta chẳng đã nói với họ rằng cái tay người Nga này là một tên trộm nhóc con và chạy sang chỗ chúng ta là để tránh cái nhà tù kia. Đã báo trước cho những đứa ngu biết rằng phải nhanh chóng chuyển hắn đi xa hơn nữa, có lẽ là đến Úc. Ở đấy hắn sẽ được yên tâm rèn luyện dưới cái sốt nhiệt đới. Vậy mà họ lại giữ hắn ở Munkhen, trong lúc các tay nhà báo không biết rằng hắn là một con chim. Bây giờ thì khắp châu Âu chửi suốt.

Người trẻ tuổi nhếch mép cười:

- Chỉ có một cách là làm vô hiệu hóa hắn. Một tai nạn ôtô, một cơn suy tim hay một tai nạn gì đó…

- Ừ, ừ! Tất nhiên rồi… - Khaútson lơ đãng nói. - Giêrácđơ, ngay ngày hôm nay anh phải tới Munkhen và hãy làm những gì cần thiết… Còn tên đó cứ tiếp tục im lặng. Như con vẹt lúc nào cũng nhắc đi nhắc lại yêu cầu ta phải thả ngay.

- Thôi thì làm thế nào khác được. Tôi sẽ làm việc với hắn vậy.

Khaútson rời khởi căn phòng và đi về phía cuối hành lang nơi có hai tên lính. Hai tên này co chân lại và chậm chạp đứng dậy. Một tên quay chìa khóa vào một cánh cửa sắt. Khaútson bước vào phòng mà mới vài ngày trước đây Côvancốp đã tỉnh lại.

Trong lúc đó Rưtragốp đã theo chân Khaútson lần theo từ căn hộ của hắn tới ngôi nhà số ba trên đường phố Khênen. Ông quan sát kỹ ngôi nhà. Từ lâu ông đã nhận ra rằng từ phố Khênen không có lối nào khác dẫn vào sân được. Trong tất cả các ngôi nhà bên cạnh đều có cổng vào sân.

Rưtragốp đi vào sân của ngôi nhà bên cạnh bên phải. Nó ngăn cách với ngôi nhà số ba bởi một bức tường im lìm, vắng vẻ, xây bằng chất liệu chịu lửa, ngay ở sát mái có một cửa sổ tròn để thông gió. Chắc chắn ô cửa sổ này dùng để chiếu sáng khoảng giữa mái nhà và trần nhà. Chăm chú nhìn bao quát bức tường, Rưtragốp khó khăn lắm mới nhận ra rằng trước đây ở ngang với tầng hai của bức tường đã có một ô của sổ. Bây giờ nó đã bị một viên gạch cũ giống với màu của bức tường bịt lại.

Rưtragốp đi qua sân ngôi nhà ở bên trái. Cũng từ đây, ngôi nhà số ba nổi lên im lìm như thế. Chỉ khác ở chỗ cửa sổ tầng hai không bịt kín nên dựa vào đó chắc phải có một phòng ở sau cửa sổ này. Trên ô cửa sổ là những bông hoa.

Nhà số ba ăn sâu vào phía trong. Những đoạn tường chịu lửa dài hơn phần mái rất nhiêu. Các sân bên cạnh không có lối ra vào, vậy thì sân của ngôi nhà số ba là ở đâu? Rưtragốp đi qua phố Khênen, sau đó ông ra ngã ba đường đi song song trên phố Bênike. Ông đặt giả thuyết rằng nhà số ba có một mặt thứ hai thông ra phố song song và chắc chắn có một lối vào sân của nó.

Nhưng ngay từ xa ông đã thấy rằng cái nhà ông đang quan tâm không có lối nào thông ra phố song song. Một tòa nhà bốn tầng đã bị đổ vỡ nhìn ra phố ở chỗ này bằng những ô cửa sổ. Một nửa tòa nhà tiếp theo cũng bị phá hủy. Mọi cửa ra vào và các cửa sổ phía dưới của các nhà bị phá đã bị bịt kín bởi các đoạn công trình xây dựng bằng gạch chịu lửa, cho nên không thể len lỏi vào bên trong khu đổ nát này được.

Rưtragốp thong thả đi dọc theo những ngôi nhà chết. Nhà cuối cùng nhìn ra Quảng trường Maibakhơ. Đến đây ông dừng lại cách góc phố ba bước chân và suy nghĩ. Lẽ nào lại không thể có cửa vào nhà số ba từ sân… Dù thế nào đi nữa thiếu tá Khaútson cũng cần phải có một lối ra.

Để quay trở về phố Khênen, Rưtragốp rẽ vào góc phố và ông chết lặng tại chỗ. Tận sâu của một bức tường, phía sân của một tòa nhà đổ vỡ, ông trống thấy một cổng vào cao, đóng kín, ghép bởi những tấm thép. Ông đã nhìn thấy nó trước đây nhưng không nghĩ rằng cái cổng sắt này đứng cách xa nhà số ba như vậy lại có thể dẫn vào trong nhà được. Cổng bị bịt kín tứ phía trong và không thấy có một kẽ hở nào cả.

Rưtragốp đi qua đại lộ, ngồi xuống chiếc ghế đá. Từ chỗ này ông có thể nhìn chiếc cổng rất rõ và ông chờ đợi. Hai tiếng sau, một chiếc ôtô không có cửa sổ phóng như bay về phố Bêniken. Chiếc ôtô ngoặt gấp và dọi đèn pha vào chiếc cổng. Ngay lập tức cổng mở ra để xe vào rồi nhanh chóng khép lại. Nhưng trong ba giây đó Rưtragốp đã thấy hết những gì ông cần: giữa những đống đổ nát có một lối hẹp kéo dài tới nhà số ba.

Thiếu tá Khaútson đã khai thác Côvancốp hơn một giờ. Nhưng cũng giống như những ngày trước đây, ông ta đều bất lực. Thiếu tá là một người sắt đá.

Không một nụ cười thiện chí nào thoảng qua trên khuôn mặt của hắn. Hắn vẫn kiên trì tấn công vào Trung úy. Thâm tâm Khaútson tức điên lên vì hắn đã không bẻ gãy được cái thằng trẻ con này, nhìn bên ngoài trông anh ta mềm yếu và hay dao động.

- Tôi kêu gọi anh, Côvancốp. Hãy nhìn bằng con mắt tỉnh táo của người sĩ quan về tất cả những gì đã xảy ra với anh. Hai thế giới của chúng ta đang đối chọi nhau… - Thiếu tá Khaútson đập hai tay vào nhau. - Nói chung cả chúng tôi và các anh đều không mấy tin vào cái thiên đường này trên trái đất. Cả chúng tôi và các anh đều không muốn bị bất ngờ. Chính vì thế mà ở chỗ chúng tôi và chỗ các anh đều có các cơ quan đang hoạt động, nhiệm vụ của chứng ta là tìm hiểu phía bên kia có bí mật gì. Thậm chí ngay cả lúc các nhà ngoại giao của chúng ta đang phung phí những nụ cười cho nhau, và những lời khen cho nhau thì các cơ quan đó vẫn tiếp tục hoạt động theo những nhiệm vụ của mình, một sự hoạt động vô hình trong chừng mực có thể. Vì thế chuyện gì đã diễn ra với anh ở đây - đó là một việc hết sức bình thường diễn ra trong các cuộc chiến tranh không có tiếng vang này. Một tháng trước, ở chỗ chúng tôi có một Đại úy Mỹ tên là Rêt Gierơ đã chạy sang bên các anh. Anh ta biết không nhiều lắm nhưng chắc là anh ta vẫn có ích đối với các anh. Bây giờ thì anh phải có ích đối với chúng tôi.

- Tôi đã nói với các ông đừng chờ đợi gì ở tôi nữa. Tôi yêu cầu phải thả tôi ngay.

Côvancốp hiểu rõ ràng rằng Khaútson muốn làm giảm nhẹ cảm giác căng thẳng của sự việc đang diễn ra trong lòng anh. Không được đâu! Chiến tranh là chiến tranh! Cắn chặt môi, Côvancốp nhìn Khaútson với sự giễu cợt. Còn hắn vẫn nở một nụ cười đầy thiện ý.

- Nào Trung úy. Không có gì phải xúc động mạnh mẽ như vậy. Anh thấy đấy, ở đây làm gì có những ống kính Xô Viết. Còn cái chủ nghĩa anh hùng viễn vông của anh chỉ là chuyện đáng cười đối với tôi và các đồng nghiệp của tôi mà thôi. Nào ta bắt đầu làm việc. Anh đang sống trong một ban thực hiện liên lạc với tổ chức hành chính Đức của khu vực phía Bắc. Nhưng chúng tôi lại biết rằng sự am hiểu của anh cũng chật hẹp như các sọc trên quân hàm của anh thôi. Anh không bị bắt buộc bán rẻ Tổ Quốc - vì anh cũng chẳng đủ sức làm được việc đó. Chúng tôi sẽ hỏi những câu hỏi hết sức đơn giản. Người ta in tiền Mác Đông Đức ở đâu? Ở Berlin, Laixic? Hay ở Mátxcơva?

Côvancốp im lặng nhìn sang Khaútson.

- Thôi được, một câu hỏi nữa: Có bao nhiêu thực phẩm hàng ngày chở từ Liên Xô đến Berlin? Ước lượng cũng được…

- Tôi sẽ không trả lời đâu, ông đang mất thời gian một cách vô ích đấy. - Côvancốp bình tĩnh nói.

- Thế nào. Tuyệt. - Khaútson vô tư lự nói. - Ta hãy nghỉ đến sáng mai. Nhân tiện anh hãy suy nghĩ luôn về điều này nhé: nếu anh không trả lời thì chúng tôi sẽ nói với chính quyền phía Đông rằng người bạn gái của anh, cô Rênát là người tham gia vào vụ bắt cóc anh. Mặc dù tôi nói với anh rằng cô ấy hoàn toàn không tham dự vào chuyện này. Chào anh Trung úy. Hẹn đến mai!

Khi bước ra khỏi phòng, Khaútson vấp phải chân đang duỗi của một tên lính gác. Hắn phải chịu toàn bộ cơn tức giận của Thiếu tá.

Khaútson trở về phòng làm việc và ngồi vào bàn. Cơn điên bất lực réo lên trong người hắn khiến hắn không thể thở được. Hắn bóp chặt bàn tay ướt mồ hôi. Với người Nga thì đây không phải là công việc đầu tiên của Khaútson. Hắn hiểu không thể đạt được gì ở chàng trai trẻ này bằng lòng tốt được. Dựa vào tất cả các sự kiện, đã đến lúc phải đưa anh ta đến vùng “Y” rồi phải “luyện nóng” cho anh ta. Ít ra thì củng phải nhanh chóng quyết định tất cả: hoặc anh người Nga này phải mở mồm, hoặc anh ta sẽ trở thành một thây ma - như vậy thì không có gì dễ chịu cả. Nhưng Khaútson không thể làm như vậy.

Chiều qua hắn ở chỗ vị tướng, ông ta đã hỏi:

- Công việc của anh với tên người Nga kia thế nào?

- Cho đến giờ hắn vẫn im lặng.

- Anh có thể giải thích cho tôi biết “cho đến giờ” được tính là bao lâu (Khaútson im lặng). - Vị tướng nhún vai, điều này chẳng hứa hẹn một điều gì tốt lành cả. - Đó là một công việc tồi tệ đấy, Thiếu tá ạ. Anh đã chuẩn bị lằng nhằng mãi cái chiến dịch này. Nó tiêu tốn của chúng ta không ít tiền. Thế mà bây giờ khi công việc đã xong thì anh lại nhắc đi nhắc lại “cho tới tận bây giờ vẫn im lặng”.

- Thưa Đại tướng cho biết, trước đây. - Khaútson bắt đầu chống đỡ nhưng ông ta đã ngắt lời hắn.

- Cái gì? Trước đây? Một tên chạy trốn? Phải rồi người tùy tùng của tôi đã được thông báo về những việc làm ở phía Đông hơn tất cả những tên chạy trốn của anh cộng lại. Có thể tên này sẽ im lặng trong nửa năm, rồi hắn sẽ thông báo cho chúng ta biết về những tài liệu giật gân về giá lúa mỳ ở khu vực phía Đông?

- Nhưng mà Đại tướng hiểu cho, cái tên sĩ quan này là trong ban tham mưu và trong ban đang làm cho chúng ta hiện nay rất quan tâm. Chính vì hắn rơi vào tay chúng ta không phải là tự nguyện cho nên cần phải có thời gian để hắn tỉnh rồi sẽ cung cấp cho chúng ta những lời cung khai.

- Không đâu vào đâu cả - Viên tướng nhún vai rồi quẳng cái bút chì lên bàn. - Vào thời điểm này tôi hỏi anh tại sao lại cứ phải chọn đúng cái tay sĩ quan này. Anh đã nói là vì hắn trẻ và vì hắn đã vi phạm nội quy làm quen với một cô gái Đức. Có phải anh đã nói thế không nào? Tuyệt vời. Có nghĩa là tôi chưa mắc phải cái bệnh xơ cứng và trí nhớ của tôi vẫn còn làm việc. Đến khi kiểm tra thì mới vỡ lẽ rằng anh đã bắt một người Nga mà vì lý do anh ta sẵn sàng chết một cách khoan khoái. Vậy thì tôi xin chúc mừng anh, Thiếu tá ạ, anh sẽ đào tạo ra một anh hùng tiếp theo cho những người Nga.

- Tôi sẽ cố gắng không làm điều đó. - Khaútson buồn bã nói.

- Có thể anh chưa hình dung được rõ ràng tình hình địa phương đâu. Chúng ta đang làm tất cả những gì ở Tây Đức cần cho nước Mỹ. Thế nhưng người Nga ngày càng nối tay cho người Đức và họ yêu cầu phải thống nhất nước Đức. Yêu cầu này được toàn dân ủng hộ. Nếu người Đức làm việc thống nhất này thì tức là họ đã làm hỏng kế hoạch của chúng ta. Đó là một điều rõ ràng như hai cộng hai bằng bốn vậy. Chúng ta cần phải cho nổ tung tất cả các vị trí của người Nga ở nước Đức ngay lập tức. Khi đó thì cái tay trung úy này phải được sử dụng. Nếu hắn là một sĩ quan tham mưu thì hắn sẽ bình tĩnh và sẽ nói một cách rõ ràng những gì chúng ta cần. Còn nếu không… - Đại tướng nhún vai, im lặng rồi nói tiếp. - Nói chung tôi không định chờ đợi lâu thêm.

Câu chuyện với Đại tướng kết thúc. Khaútson không thể vội vã gửi Côvancốp đến cái “lò luyện nóng” được. Người Nga phải bắt đầu nói ở đây. Phải như vậy.

« Lùi
Tiến »