Bá quyền Trung Hoa
- Lịch sử An Nam dưới thời những vị vua đầu tiên
- Họ Trịnh và họ Nguyễn
- Những giáo sĩ truyền giáo đầu tiên
- Những thương gia châu Âu đầu tiên
- Vương quốc Chàm
- Những bức hại tôn giáo đầu tiên
- Pigneau de Béhaine - Giám mục Adran (Bá Đa Lộc)
- Cuộc nổi dậy của Tây Sơn
- Cái chết của chúa Duệ Tông
- Cái chết của vua Lê Hiển Tông
- Họ Trịnh bị tiêu diệt
- Anh em Tây Sơn chia nhau đất vương quốc
Nếu không truy nguyên đến thời kỳ cổ đại, bản sắc An Nam có thể coi là hình thành dựa trên một chuỗi liên tục của những mối quan hệ quốc tế có tính chất lan tỏa, phức tạp, minh chứng cho một vận mệnh mạnh mẽ và sóng gió. Bản sắc ấy từng bộc lộ vào những thời kỳ huyền sử của những vị chúa tể trong truyền thuyết, nó mang tính chất vừa tổng hợp vừa đặc thù của nòi giống, nó thoát thai và lớn lên từ giai đoạn hỗn mang, thời kỳ mà trong suốt nhiều thế kỷ, số phận của các dân tộc châu Á không ngừng xáo động.
Quốc sử An Nam là một mối rối rắm phức tạp của những cuộc tranh chấp cá nhân hay triều đại, một mớ hỗn độn của những cuộc lật đổ, của những cuộc nội chiến đã thường xuyên nhuộm máu đất nước nhưng không vì thế làm chậm bước sự biến chuyển rộn ràng của nó.
Nhưng những lỗi lầm của các vị quân vương, tham vọng của một số gia tộc, sự náo loạn thảng hoặc trong hàng ngũ quan lại đã làm sự phát triển sôi sục của quốc gia trẻ trung này trong suốt nhiều thế kỷ phải phụ thuộc vào bá quyền bất di bất dịch của đế quốc Trung Hoa.
Toàn bộ châu Á thừa nhận bá quyền của Trung Hoa và tìm sự che chở nơi một triều đại gần như được thần thánh hóa, do một chủng tộc mắn đẻ và phong nhiêu nâng đỡ5. Ngay cả trong số những quốc vương có thể thoát khỏi mọi lệ thuộc chư hầu, do một thói quen tôn kính, cũng thừa nhận quyền uy bá chủ hiển nhiên của hoàng đế Trung Hoa.
Quyền bá chủ ấy thông thường không bao hàm những ưu thế chính trị, nó thể hiện qua những cuộc trao đổi sứ giả, những trao đổi tặng phẩm có tính tượng trưng và những tổ chức lễ nghi định kỳ. Người Á châu, là mẫu người hình thức chủ nghĩa cực đoan, lưu tâm đến sự tôn trọng các ngôi thứ, sự bất khả xâm phạm các tôn ti đẳng cấp, hơn là các lợi thế vật chất cụ thể. Thiên tử chiến đấu nhằm duy trì những nghi thức lễ lạt hơn là nhằm xâm phạm sự toàn vẹn lãnh thổ của các quốc gia lân bang, bởi lẽ lòng kiêu hãnh của Thiên tử tìm thấy nhu cầu thỏa đáng trong sự bền vững của những lễ nghi ngoại giao. Thiên tử được ví như một Người Cha Bảo Vệ những dân tộc biết kính nể sức mạnh đồng thời vừa căm ghét cái quyền lực bền vững ấy của Người Bảo Vệ. Điều mà hoàng đế yêu cầu là sự thừa nhận vai trò ưu việt của hoàng đế. Không mấy quan trọng khi có một vị vua nào đó dấn thân vào những thách thức lăng nhục, miễn là ở các nước lân bang quyền hành tối thượng phải xuất phát từ ý chí của riêng Người, miễn là quyền hạn của Người được đều đặn thừa nhận bởi những sứ bộ nịnh hót.
Quan niệm riêng biệt này, đặc biệt trong tinh thần châu Á, giải thích tại sao truyền thống Trung Hoa đã áp đặt, trong rất nhiều thế kỷ, lên các quốc gia lân cận, lên ngay cả những quốc gia có thể tự giải phóng khỏi ảnh hưởng ấy một cách khá dễ dàng.
Các vị vua An Nam luôn luôn chấp nhận và thỉnh cầu ngay cả trong những hoàn cảnh khó khăn, sắc phong từ hoàng đế Trung Hoa. Nhưng họ lại cư xử như những quốc vương độc lập lúc sắc phong ấy bị từ chối, mà không phải lúc nào Trung Hoa cũng áp đặt được. Không một lợi thế vật chất nào được đòi hỏi cho mối liên hệ ngoại giao tượng trưng ấy, và các vị vua An Nam, mà vai trò chư hầu phụ thuộc xa xôi không cản trở chút nào việc thực hiện quyền hành tuyệt đối của họ, kháng nghị gay gắt khi có mối nguy hiểm đe dọa lên họ.
Ngược lại, các vị vua ấy không ngần ngại cầm vũ khí chống lại vị hoàng đế bá quyền nhu nhược, không phải để rũ bỏ một sự bảo trợ quá sơ sài, nhưng vì những lý do mà chỉ những vị quốc vương độc lập mới có thể viện dẫn. Chế độ bảo hộ nối kết hai quốc gia trước hết là một vấn đề về lòng kiêu hãnh của quốc gia này, và là vấn đề quyền lợi đối với quốc gia kia. Nó chỉ bắt buộc, một trong hai đối tác ký kết, với tư cách của Người Bảo Hộ, phải chịu những hy sinh liên tục.
Sự nhẫn nhịn ấy chỉ được quan niệm bằng sự xác thực về một sứ mạng cao cả đến với Trung Hoa từ cái ngôi vị bề trên và những nguyên tắc linh thiêng mà đất nước này sở hữu. Trung Hoa tự cho có trách nhiệm làm người bảo trợ đạo lý cho mọi dân tộc da vàng, nơi mà Trung Hoa nắm giữ ưu thế trí tuệ nhờ vào sự truyền bá văn hóa, và vai trò trung gian của các triết gia và những nhà thông thái được đào tạo từ những trường phái Đạo giáo hay Khổng học.
Ý tưởng có cùng chung một nguồn gốc chủng tộc ở những người da vàng mạnh mẽ đến nỗi tất cả các vị vua Đông Á đều tìm ở quốc gia bá chủ một điểm tựa và một sự hòa hợp nhưng thường phải kèm theo những trách nhiệm ràng buộc đôi bên. Đại đế quốc thực hiện sự bảo trợ vô vị lợi đối với các tiểu quốc không có khả năng tự vệ chống lại những âm mưu từ bên ngoài. Chính nhờ vào tinh thần rộng rãi ấy mà các quốc vương láng giềng được tấn phong, không phải chịu một quy chế đền bù nào cả. Tình trạng lý tưởng này đã có lúc thoái hóa thành những thực tế đáng phàn nàn lúc quan niệm chính thống trên lẫn lộn với những ý đồ cá nhân của những ông vua chuyên chế nhiều tham vọng. Nhưng nguyên tắc cơ bản của chính sách Trung Hoa này đã không hề thay đổi trong suốt nhiều thế kỷ, mặc dầu có sự thay đổi triều đại, mặc dầu có cuộc biến động vĩ đại của người Mông Cổ, mặc dầu có sự vong ơn của những dân tộc được bảo vệ đã buộc Trung Hoa nhiều lúc phải dấy động binh đao.
Hầu hết các tiểu quốc chư hầu chung quanh nước An Nam cũng đều tuân phục tinh thần liên đới ấy, nhưng khi họ càng co rút trong những kỷ niệm về sự lớn mạnh của mình, thì đặc tính hỗ trợ truyền thống lại càng mất dần sự trong sáng thuần túy của một chính sách vô vị lợi thuở ban đầu. Nhà nước bảo hộ sẽ bị thúc đẩy vào những tham vọng chiếm hữu lãnh thổ dễ dàng do sự yếu đuối của chính các quốc gia chư hầu. Nhà nước bảo hộ dần dà thâu tóm đất đai mà không gặp sự chống đối của các thủ lĩnh lãnh địa, ở họ sự bất lực đã ru ngủ những luyến tiếc về một cá tính vốn dĩ đã tầm thường. An Nam cư xử với các thị tộc ấy bằng quyền uy của đấng quân vương mà Trung Hoa không thể can thiệp vào các quan hệ qua về của họ.
Điều ghi nhận một cách ấn tượng hơn về tính cách độc lập toàn diện của các quốc vương An Nam, đó là những cuộc xung đột liên tục buộc họ phải đương đầu với đế quốc Trung Hoa. Nếu có một hiệp ước nghiêm túc giữa hai quốc gia, thì những điều khoản trong hiệp ước ấy phải tránh né mọi khả năng xung đột. Và thay vì bước vào một cuộc đấu tranh công khai, hoàng đế Trung Hoa ưu tiên chọn cách khiến người ta tôn trọng các hiệp ước đã thực hiện hoặc tìm cách canh cải chúng đi. Thật đáng ngạc nhiên cho một chính sách bảo hộ hèn yếu như thế lại kéo dài được hàng thế kỷ bất chấp những xáo trộn của cả lục địa, bất chấp những khổ đau không tránh khỏi của phận người. Ta chỉ có thể tìm ra lý do tồn tại của một quá trình liên tục như thế dựa vào những nguyên lý đạo đức triết lý riêng biệt cho bản chất huyền bí của các dân tộc da vàng.
Lịch sử An Nam thực sự bắt đầu với triều đại nhà Thục kể từ năm 275 trước Thiên Chúa Giáng sinh6. Vị vua đầu tiên của dòng họ này vốn có tổ tiên gốc người Quảng Tây, khởi sự thiết lập mối quan hệ ngoại giao với Trung Hoa và mối quan hệ đó mau chóng được làm rõ nét bởi việc thừa nhận tính ưu việt của đất nước Trung Hoa.
Triều đình Nam Việt7 chịu khuất phục vì cần thiết tỏ thái độ tôn kính mà từ đó triều đình gặt hái được nhiều kết quả. Triều đình Nam Việt đẩy những tướng sĩ Trung Hoa đi bảo vệ biên giới lãnh thổ của mình, đồng thời hết sức cảnh giác không để vương quốc của họ, dưới sức ép của Trung Hoa, bị biến thành chư hầu thực sự, và cũng như không để Nam Việt, trong suốt nhiều thế kỷ phải chịu những bó buộc nô lệ.
Vua Ai vương8, vốn có quan hệ gia tộc gốc Trung Hoa, muốn chiều lòng người láng giềng vĩ đại, đã chấp nhận đến triều kiến hoàng đế Trung Hoa với thân phận chư hầu. Lúc trở về nước, nhà vua đối diện với sự nổi dậy của dân chúng. Thành phần ái quốc của triều đình gửi một đạo quân do tướng Lữ Gia9 chỉ huy, tấn công, bắt giữ và xử tử nhà vua. Lần đầu tiên trong lịch sử, An Nam tuyên bố độc lập (năm 111 trước Thiên Chúa)10.
Hoàng đế Trung Hoa coi đó là sự xúc phạm đến tôn nghiêm của vương triều, mà quyền phong hầu là một thí dụ, đã gửi quân đội xâm lăng vương quốc, tàn phá đất nước và chia cắt thành quận huyện Trung Hoa. Vương triều An Nam thế là tiêu tán trong loạn ly11.
Nhưng ý thức cực kỳ nồng nhiệt về nền độc lập mà quần chúng vẫn gìn giữ, bất chấp những biện pháp khắc nghiệt của chính sách đồng hóa do kẻ thắng trận áp đặt, ký ức oai hùng của dân tộc vẫn được duy trì trong những túp lều xơ xác nhất bởi những thi sĩ khiêm tốn mà ảnh hưởng tạo ra rất to lớn, đã mang đến một phản kháng cực kỳ mãnh liệt, thúc đẩy cả đất nước chống lại kẻ xâm lăng (năm 41 sau Thiên Chúa).
“Mùa xuân, vào tháng Hai năm Kiến võ thứ mười sáu (năm 42 sau Thiên Chúa), biên niên sử triều đình Huế ghi lại, một phụ nữ người Giao Chỉ tên là Trưng Trắc đã dấy quân đánh đuổi Thái thú Tô Định và tự xưng là Nữ vương”.
Trưng Trắc và em gái tụ tập quần chúng, vội vã trang bị cho những nhóm nông dân đến quy tụ theo lời hiệu triệu của hai bà, chiếm giữ sáu mươi căn cứ12, đánh đuổi thái thú Trung Hoa đến tận biên giới Sơn Tây, quét sạch kẻ áp bức ra khỏi đất nước. Hoàng đế nhà Hán bèn gửi một đạo quân do tướng Mã Viện chỉ huy sang đánh nữ vương của Việt Nam, Mã Viện từng nổi tiếng với những chiến thắng chống lại người Tây Tạng và những chiến công khi tuổi đã rất già. Mã Viện theo đường bờ biển xâm nhập vào Bắc Việt, tận Lãng Bạc (Hồ Tây, Hà Nội) thì gặp và giao chiến với quân An Nam đổ đến. Cuộc chiến diễn ra ngắn ngủi, quân Trung Hoa cắt vụn đội quân thiếu chuẩn bị của Trưng Trắc, nữ vương đành tuyệt vọng nhìn binh sĩ bỏ chạy tan tác. Hai vị nữ anh hùng bị Mã Viện bắt và bị xử tử13. Để ghi dấu chiến thắng, Mã Viện cho dựng trụ đồng14 ở cuối biên giới Nhật Nam - xứ sở của đồi núi. Mã Viện tập hợp những quan chức Trung Hoa và thiết lập lại việc thống trị hà khắc hơn bao giờ hết. Chế độ lệ thuộc này kéo dài đến năm 54615, bị ngắt quãng vào năm 186 bởi một cuộc nổi dậy bị đàn áp mau chóng16.
Chính trong suốt thời kỳ ấy mà sự thống trị về tinh thần của Trung, Hoa được khẳng định. Tuy nhân dân đã mất hết tự do và lãnh tụ của họ, nhưng không mất đi cá tính dân tộc của riêng mình. Người dân chấp nhận dễ dàng triết lý, tôn giáo, nghệ thuật, tập quán của chủ nhân của họ, nhưng họ vẫn gắng sức chịu đựng cái ách chính trị mà họ sẽ vùng thoát một khi cảm thấy mình đủ sức mạnh để chiến đấu một lần nữa. Dù còn thiếu tinh thần ái quốc, nhưng họ biết đau khổ dưới sự đàn áp và luôn luyến tiếc nền độc lập. Mọi suy nghĩ, mọi hy vọng của họ đều hướng tới mục tiêu tự do mà họ còn gìn giữ kỷ niệm và tôn thờ. Họ chấp nhận từ kẻ xâm lăng nền giáo dục có khả năng nâng họ lên ngang tầm với chúng, họ học hỏi, âm thầm tiến hóa, quan sát, thu lượm, che giấu sự nôn nóng, rút tỉa những ưu thế mà họ được chấp thuận, nhưng không vì thế lòng hận thù lại giảm sút. Trong những ngôi làng hẻo lánh nhất, những cuộc họp mặt được tổ chức, người già kể cho con cháu kính cẩn ngồi xúm xít chung quanh, trong bóng tối mờ nhạt của những mái nhà tranh, câu chuyện tuyệt vời của hai vị nữ anh hùng cùng chung nòi giống, đã biết vinh quang hy sinh để giành lại từ tay người Trung Hoa những ruộng đồng màu mỡ và những cánh rừng huyền bí cho người dân. Đàn ông mạnh khỏe tập hợp với nhau vào lúc đêm xuống, trầm giọng trao nhau những lời thề dứt khoát trước sự chứng giám của thành hoàng hộ pháp. Ngay cả những phụ nữ, làm thê thiếp cho các lãnh chúa ngoại xâm, vây bọc chung quanh họ bằng một hệ thống những mánh khóe bên trong gia đình và những theo dõi bền bỉ. Không một hành vi, không một suy nghĩ nào của kẻ chiến thắng mà kẻ chiến bại, hãy đang còn khom mình trước sức mạnh để rồi mỗi khi đứng lên lại còn mềm mỏng hơn, khôn ngoan hơn, tự tin hơn, không biết đến. Các thứ sử của hoàng đế yên ngủ trong sự yên tâm ngạo nghễ, trong lúc chung quanh họ, quần chúng bàn tính với nhau và chuẩn bị vũ khí.
Năm 546, đất nước đã sẵn sàng nhưng cần phải có người chỉ huy. Có hai nhân vật: Triệu Túc và Lý Bí17. Hai người này tính cách rất khác biệt nhau, lại có những phẩm chất mà quần chúng chờ đợi: can đảm, thông minh, biết lấy được lòng tin của vị phó vương18. Họ quyết định lợi dụng cơ hội thuận lợi để nhanh chóng ra tay. Sứ giả của họ chạy đi khắp nơi trong xứ, lên tận những thôn làng ở vùng mạn ngược xa xôi. Nơi ấy, trước đình làng, họ điểm danh các chiến sĩ và hẹn nơi tập trung.
Trong lúc Triệu Túc, người huấn luyện, mạnh mẽ hăng hái, chuẩn bị cho chiến binh sẵn sàng chiến đấu, thì Lý Bí với khuynh hướng chính trị khôn ngoan hơn, xoa dịu sự hoài nghi bắt đầu nảy sinh ở người Trung Hoa, cung cấp những chứng cứ về lòng trung thành của mình, can thiệp vào một số gia đình mà ông ghen tị uy tín, tố cáo họ như những kẻ đáng nghi ngờ, nhận phần thưởng những ân huệ và một phẩm trật cao trong hàng quan lại.
Đất nước dường như chưa bao giờ yên bình như thế cho đến khi mùa gặt hái vừa xong, thì bùng nổ một cuộc nổi dậy ghê gớm nhất, làm rung chuyển cả An Nam. Lý Bí vứt đi cái mặt nạ phải mang lâu ngày, cùng với Triệu Túc và chiến binh, tiêu diệt các đơn vị quân đội Trung Hoa chưa hề kịp có lệnh tập trung, băng qua những xóm làng như cơn bão, rượt đuổi phó vương còn chưa kịp chặn bắt, trong khi ở đằng sau, dân chúng thoát khỏi xiềng xích, chiếm lấy hoặc đốt nhà của kẻ bại trận.
Đất nước thoát khỏi sự đô hộ nặng nề, bắt tay vào việc tổ chức. Lý Bí được đưa lên ngôi với lòng biết ơn của dân chúng, dựng lên triều đại quốc gia đầu tiên hoàn toàn độc lập. Lý Bí từ chối được sắc phong và cư xử ngang hàng với hoàng đế Trung Hoa. Việc này gây nên một lỗi lầm nặng nề mà về sau đất nước phải chịu nhiều thống khổ. Chắc chắn rằng từ đó, Trung Hoa đã hiểu sự vô ích khi theo đuổi một chính sách ngoại giao kiêu ngạo, thu vén một hình thức mơ hồ về quyền bá chủ đề mong cứu vãn sĩ diện - điều mà thiên triều vẫn còn rất nhạy cảm - buộc phải thừa nhận nền độc lập và duy trì mối quan hệ hữu nghị với nhà Lý.
Ngược lại, Lý Bí đã cư xử với nước lân bang của mình bằng một thái độ buộc hoàng đế Trung Hoa phải trù định những cuộc viễn chinh mới. Nhưng lo ngại sự hung bạo của những bộ tộc Mông Cổ rồi một ngày sẽ lật đổ triều đại mình, hoàng đế trì hoãn, để mặc cho Lý Bí có thời gian tổ chức quân đội, xây dựng thành trì, huấn luyện binh sĩ theo cách Trung Hoa, đóng cửa biên giới, thiết lập liên minh dầu vẫn còn mỏng manh với vương quốc Chàm. Nếu Trung Hoa quyết định tấn công, thì quân đội của họ không thể chọc thủng những phòng tuyến đầu và chỉ còn cách phải rút lui.
Họ Lý, sau khi giành được độc lập cho đất nước, đã cai trị bằng một sự hà khắc dữ dội. Ông cố gắng khôi phục bản sắc nguyên thủy của dân tộc bằng cách loại trừ di sản của giai đoạn đô hộ Trung Hoa. Ông cấm dân chúng buôn bán với các chủ cũ Trung Hoa, không cho họ nói ngôn ngữ và theo các tập quán Trung Hoa; ông đuổi ra khỏi vương quốc các nghệ sĩ và kẻ trí thức đang tiếp tục duy trì nếp sống văn hóa cũ, áp đặt lên người Minh hương19 một tư cách mất thể diện, xâm phạm đến tận những cơ chế gia đình được lưu truyền qua nhiều thế kỷ bởi sự đô hộ lâu đời. Ông ra lệnh cho các làng xã tu sửa các kênh rạch đê điều, chở thóc gạo đến các kho lẫm hoàng cung, tổ chức dân quân. Dân chúng sốt ruột chịu đựng một chính sách hung bạo mà họ không hiểu được sự cần thiết và tầm vóc của nó. Họ quý mến nền tự do khốn khổ của mình cùng lúc nghĩ đến những hy sinh phải chịu đựng để có được vị chủ quản đáng sợ kia. Người dân thở phào khi được tin họ Lý qua đời. Nhưng những kẻ kế vị vai luôn theo đuổi chính sách cô lập của họ Lý, gạt đi những kiến nghị của các quan thượng thư đang lo lắng vì thái độ đáng ngờ của Trung Hoa.
Triều đại nhà Lý sụp đổ trong hoàn cảnh đó. Nó chỉ kéo dài được sáu mươi năm20. Triều đình Trung Hoa lợi dụng cuộc nội chiến21 bùng nổ vào lúc ấy để đóng vai trò hòa giải và chiếm đóng bằng vũ lực các vị trí quan trọng. Nhưng Trung Hoa tránh không o ép láng giềng hà khắc như trước đây: vẫn để cho đối thủ lên ngôi, họ áp đặt vị phó vương thứ nhất một hiệp ước bảo hộ, theo đó Giao Châu vẫn được hoàn toàn tự do trong lãnh thổ của mình, có nghĩa là trên mười ba châu, phần còn lại của vương quốc gồm bốn mươi huyện thì được cai trị theo chính sách Trung Hoa và buộc phải nộp cống phẩm thường niên22. Công cuộc chiếm cứ lần này đáp ứng một nhu cầu khôi phục tinh thần hơn là một cần thiết chính trị. Hoàng đế Trung Hoa không quên những tủi nhục vào năm 54623, luôn xem Giao Châu như một quốc gia chư hầu, ông ta lợi dụng những cơ hội thuận lợi để tái lập quyền bá chủ lâu đời của mình. Sự thừa nhận địa vị tối cao xa xưa có một thời đã làm ông ta thỏa lòng, lúc mà quyền lực của ông ta có hạn, lại lo sợ các bộ tộc Mông Cổ, đối thủ của ông ta tự cho là đủ mạnh để khước từ biểu hiện lòng tôn kính mà nhà vua yêu cầu như cái giá của tình bằng hữu.
Kinh nghiệm đã cho hoàng đế hiểu sự hà khắc chỉ mang lại những cuộc lật đổ mới, thế nên ông đã dùng một chính sách khéo léo: để cho kẻ thất trận được tự do chính trị, ra tay giúp đỡ họ vào những năm mất mùa, bảo vệ lúc họ bị tấn công... và người ta có thể nói rằng trong suốt hơn ba thế kỷ, Trung Hoa đã là người bảo vệ vô vị lợi và hào hiệp của vương quốc [An Nam].
Tuy vậy, thời kỳ của những cuộc xâm lăng chưa khép lại, người Lào rồi người Chăm lần lượt nhảy bổ vào lãnh thổ, khiến quân đội thiên triều phải ra sức chiến đấu thay cho người dân được bảo vệ. Những người này chỉ bàng quan tọa khán chứ không tham gia vào cuộc chiến, nơi mà số phận của tổ quốc họ đang đặt cược. Cuối cùng, đã tận tụy đến kiệt sức, hoàng đế đành phải rút quân về.
Dân Giao Châu được tướng Cao Biền, người gốc Trung Hoa, nhưng đã sống từ rất lâu tại Giao Châu và xem đất này như quê hương thật sự, giải cứu. Quân đội thiên triều rút đi, ông kêu gọi dân chúng chiến đấu bảo vệ lãnh thổ và tổ chức một cuộc chiến tranh bất ngờ, liên tục đánh tan tác quân địch, đẩy lùi chúng đến tận sông Mékong sau suốt mười năm chiến đấu kiên trì. Hòa bình được lập lại, Cao Biền xưng vương nhưng không hề xin hay nhận sắc phong. Tuy nhiên, ông vẫn giữ mối quan hệ thần phục với hoàng đế Trung Hoa. Ông bình yên trị vì cho đến năm 93924.
Cao Biền mất đi, quyền lực bị họ Ngô tiếm đoạt và lên ngôi sau khi ám sát kẻ nối ngôi chính thống25. Triều đại mới này chỉ kéo dài được ba mươi năm26, nhưng Trung Hoa đang vì những cuộc xâu xé nội bộ không cách gì can thiệp vào công việc của chư hầu mình.
Năm 968, mười hai sứ quân27 cầm đầu các vùng phân chia theo hiệp ước năm 61828, nổi dậy và tự xưng vương độc lập. Nhưng Đinh Bộ Lĩnh, người mưu lược nhất trong các sứ quân29, đã chiếm lấy ngôi vua sau khi nghiền nát các đối thủ khác. Những sự kiện này diễn ra khi đế quốc Trung Hoa đang rơi vào một giai đoạn hỗn loạn của lịch sử: một thảm kịch trong cung đình, rồi cuộc nổi dậy của dân chúng đã làm hoàng đế phải án binh bất động trong vài năm. Sau khi thoát khỏi những rối rắm, chính quyền Bắc Kinh gây chiến với Đinh Tiên Hoàng và sai người đầu độc chết rồi phái quân sang chiếm nước Nam30. Và như thế người dân An Nam lại một lần nữa đứng lên hăng hái chiến đấu chống xâm lăng. Dân chúng tôn Lê Hoàn lên ngôi31, người thành lập nên nhà Lê vinh quang và mang lại cho đất nước một triều đại bền vững hơn đời trước. Lê Hoàn đã đánh và bắt giữ tướng địch, khiến hoàng đế Trung Hoa phải kính nể vũ lực của họ Lê, đến mức buộc phải từ bỏ mọi dã tâm xâm lược, long trọng tuyên bố thừa nhận vương quyền và nền độc lập của đất Đại Cồ Việt (năm 982)32.
Một nền tự do có được sau bao nhiêu biến cố không dễ dàng gì đưa được vào quy chế ổn định. Nước Trung Hoa nếu muốn, đã có thể duy trì ách đô hộ nặng nề lên An Nam, nhưng họ đã không tỏ ra muốn tìm cách dày xéo kẻ đối lập cứng cỏi. Dẫu sao, các hoàng đế Trung Hoa vẫn luôn luôn đeo đẳng một tiếc nuối và nếu phần lớn trong bọn họ chấp nhận một cách rộng rãi chính sách bảo hộ vô vị lợi đối với An Nam, thì cũng có những hoàng đế khác tìm cách lợi dụng những hoàn cảnh nhỏ nhặt nhất để mưu toan áp đặt lại sự thống trị quen thuộc.
Kể từ giai đoạn này, tính cách của các mối quan hệ giữa hai nước thay đổi và có một giá trị ổn định dưới triều vua Lý Thái Tông33, là người mà những kẻ nổi loạn ở Quảng Đông vào năm 104334 khẩn cầu đóng vai trung gian hòa giải giữa họ và thiên triều. Từ ấy, vua Đại Việt35 chấp nhận thỉnh cầu sắc phong ở hoàng đế Trung Hoa, một thủ tục hình thức không có tầm quan trọng thực sự, vì nhà vua vẫn cư xử như một vị chúa tể, không thèm quan tâm đến một ai khác. Nhà vua cho đúc tiền, tổ chức hành chính các vùng trước đây chưa được kiểm soát, xây dựng quân đội, ký kết các liên minh và không nộp một khoản cống phẩm nào cho người láng giềng vĩ đại mà ngược lại có khi nhà vua còn giúp đỡ khi thấy có lợi.
Điều chứng tỏ rằng chẳng có một mối liên hệ chính trị cũng như chẳng có một điều ước nào buộc Đại Việt phải lệ thuộc vào Trung Hoa, chính là thái độ của hoàng đế Trung Hoa vào năm 1127, trong việc chiếm cứ vô cớ một số vùng đất Đại Việt36. Không một quy ước, một hiệp định nào cho phép triều đình Trung Hoa tự áp đặt ý muốn của mình. Họ liên minh với người Lào, với vũ khí trong tay, giải quyết những phân tranh mà chính họ đã tạo ra. Bị Ly-Hou đánh bại, Trung Hoa phải thừa nhận nước chư hầu trước đây nay đã trở thành một hàng xóm đáng gờm. Vương quốc Đại Việt từ đấy được xem như một nước hùng mạnh đáng tôn trọng. Các triều đại thù nghịch với Trung Hoa đều gửi sứ giả và quà tặng đến vua Đại Việt Ly-Anh (năm 1192)37.
Lý Cao Tông, con của Lý Anh Tông và những vị vua kế nghiệp trong sáu mươi năm không hề thỉnh cầu sắc phong và sự sắp đặt việc kế vị đã được thực hiện mà không có sự can thiệp của Trung Hoa. Hai nước từ đó sống trong hòa bình yên ổn cho đến khi các đạo quân Mông Cổ gieo kinh hoàng khắp nơi thì hai quốc gia mới động binh trở lại.
Năm 1250, triều đại nhà Tống Trung Hoa bị Koublai-Khan38 lật đổ, vương quốc bị thống trị bởi nhà Nguyên của dòng họ người Tartare39. Ở Đại Việt, nhà Lý mất sau triều đại của một ông vua điên40 và một đứa trẻ. Quyền bính thuộc về tay họ Trần41. Tình thế trở nên bi đát từ cả hai phía biên giới. Ở Trung Hoa, nhà bạo chúa Mông Cổ cai trị bằng khủng bố, bị đe dọa bởi sự phản kháng của quần chúng từ mọi phía. Ở phương Nam, nhà Trần chưa được củng cố và nỗi lo sợ quân Mông Cổ xâm lăng làm quyền lực của nhà Trần trở nên rất mong manh. Thế nên, để triều Nguyên tôn trọng biên giới hai nước, vua Trần Thái Tông vào năm 1259, đề nghị ký lại hiệp ước42 trước đây về quyền bá chủ, đồng thời chấp nhận thêm việc triều cống cứ mỗi ba năm43. Hiệp ước này cứu vãn sự toàn vẹn của lãnh thổ vương quốc không bị mảy may xâm phạm. Nhưng nếu sự lệ thuộc của Đại Việt chỉ gồm bằng những biểu hiện tôn kính long trọng kèm theo những lễ nghi có tính tượng trưng, thì vị vua Mông Cổ tàn bạo không phải là không biết khẳng định ưu thế của mình bằng cách đè bẹp nước láng giềng với một chính sách bảo hộ sỉ nhục. Quả thật, dường như vị tân hoàng đế Trung Hoa đã không tôn trọng lâu dài những điều khoản của hiệp định 1259, vào lúc ấy còn được chấp thuận bởi lẽ ông ta đang bận thiết lập trật tự trong những vùng mới chinh phục khác. Ngay lập tức, khi được rảnh tay khỏi những hoạt động ấy, hoàng đế truyền lệnh cho Trần Hoảng44, con của Trần Thái Tông45, đích thân đến triều kiến để nhận sắc phong. Trần Hoảng, lấy gương của Ai Vương trong lịch sử, từ chối khom mình dưới sức mạnh của Mông Cổ và chọn lựa chiến đấu dẫu cho có thể bị dân chúng hoảng sợ truất ngôi46.
Chiến tranh bùng nổ, kinh khủng và ngắn ngủi. Trần Hoảng là người chiến thắng, nhưng mối hận thù bốn năm sau lại tái diễn vào dịp lên ngôi của vua kế vị Trần Thuyên47. Koublai-Khan qua đời vào lúc ấy. Triều đình Trung Hoa bèn rút quân về và phong vương cho Trần Mạnh48 mặc dầu nhà vua không cầu xin.
Trần Mạnh, nối ngôi Trần Thuyên, sau khi thừa nhận bá quyền của hoàng đế nhà Nguyên. Nhưng khi Trần Mạnh qua đời, Trần Vượng49 tức thì cư xử như một quân vương độc lập, còn hoàng đế Trung Hoa thì không còn nghĩ phải bắt tôn trọng những điều luật đã trở thành lỗi thời của hiệp ước 1259.
Triều đình Đại Việt, dày dạn kinh nghiệm xương máu, đã lợi dụng giai đoạn hòa bình để củng cố tổ chức quân sự và hành chánh. Đã từng học hỏi mọi điều từ người Trung Hoa, triều đình Đại Việt chống lại Trung Hoa bằng chính những phương tiện tương tự, tựa vào lòng can đảm của nhân dân và niềm tin vào sứ mạng mà triều đình tự cho phải gánh vác. Nhà Trần đã tạo ra cho nhà Nguyên một lòng kính trọng mỗi ngày một lớn cùng với sự vững mạnh của lực lượng nhà Trần. Chẳng bao lâu nhà Nguyên phải cầu sự giúp đỡ của nhà Trần - thậm chí trong tuyệt vọng, để đánh đuổi nhà Minh khỏi ngai vàng mà họ vừa đoạt được.
Kể từ đấy, dân Đại Việt mới có thể kiêu hãnh hưởng thụ thành quả của quá trình hy sinh kiên trì. Nhà Minh gửi đến quốc vương Đại Việt một phái bộ có nhiệm vụ thông báo việc lên ngôi của vua họ. Triều đình Đại Việt hết sức thỏa mãn, thừa nhận triều đại mới của Trung Hoa và mau chóng ký kết một hiệp ước bảo đảm độc lập quốc gia và tính chính thống của chính quyền Trung Hoa.
Thế là Trung Hoa chính thức từ bỏ những ý đồ tham vọng đối với Đại Việt, cư xử với một đất nước trước đây đã từng xem là chư hầu bằng một lòng kính trọng không ngờ.
Vương quốc Đại Việt cuối cùng cảm thấy giải thoát được những lo âu đã dày vò kể từ khi lập quốc. Không một đám mây nào làm mù mịt chân trời chính trị nữa. Được kẻ láng giềng mạnh mẽ nể nang, người lính vui mừng tìm lại tự do và đồng ruộng của mình, kẻ trí giả tìm vần điệu cho bản anh hùng ca tán dương tổ quốc họ... Thì bỗng dưng một cuộc phản loạn làm lật đổ ngai vàng và lại xô đẩy nước nhà vào cơn hỗn loạn. Họ Hồ thay thế nhà Trần vốn được nhân dân yêu mến. Họ Hồ cắt đứt thô bạo quan hệ với Trung Hoa khiến nhà Minh lợi dụng sự rối loạn do những láng giềng của mình đánh nhau để chiếm mười hai tỉnh miền Bắc và đặt một sứ quân của nhà Minh cai quản50. Đại Ngu51, mất tất cả vùng đất phía bắc, đành cúi mình một lần nữa dưới đạo luật pháp hà khắc của kẻ chiến thắng. Một hậu duệ còn sót lại của họ Trần xin triều đình nhà Minh phong vương phần đất còn lại. Hoàng đế nhà Minh khinh thường chấp nhận cho chức giám quốc mà kẻ khốn khổ tỏ ra hàm ơn nhưng không ngừng chiêu mộ binh mã52.
Sau trận ở Thuận Hóa, toàn bộ đất Đại Ngu bị xâm chiếm, Trần chạy trốn qua Lào và chết ở đấy trong muộn phiền53.
Thế là, chỉ cần có hai trận đánh cũng đủ làm tiêu tan lực lượng đã phải khó nhọc lắm mới có được của các triều đại An Nam. Mới hôm trước, hãy còn là đồng minh của thiên triều, hãy còn được tôn trọng và kính sợ, thì nay quốc gia An Nam không thể chịu đựng những biến động của một cuộc nội chiến làm chia cắt đất nước, làm lợi cho Trung Hoa vẫn luôn chú tâm vào những xung đột bên trong của mình. Nhưng nếu những tham vọng cá nhân đóng một vai trò quan trọng trong lịch sử của đất nước, nếu những tham vọng ấy có lúc đã tạo ra những thảm họa, thì sức sống kỳ diệu của người dân cũng cho phép đất nước đứng lên, lấy lại vị trí đã bị đánh mất do những sai lầm và tội ác của những chủ nhân của nó. Chính nhờ trải qua những cuộc đấu tranh ấy mà lòng ái quốc của nhân dân, bản sắc anh hùng của đất nước được khẳng định, bởi lẽ những vùng đất bị chiếm cứ bởi Trung Hoa đã sớm đánh thức trong mọi tầng lớp xã hội ý thức về một nền độc lập toàn diện, vẫn thường được thực hiện nhờ vào tinh thần độc đáo của dòng giống, nhưng luôn luôn bị phá hoại bởi những sai lầm liên tục của những kẻ gây ác tham lam.
Chiến thắng Thuận Hóa và cuộc lẩn trốn của Trần [Quý Khoách] đã khiến hoàng đế Trung Hoa phải theo đuổi một chính sách thôn tính và bạo lực. Mọi quận huyện An Nam đều bị chiếm cứ, quan lại cai trị nhà Minh áp dụng một kế hoạch xóa bỏ dân tộc tính thô bạo, đảo lộn mọi tập quán, cưỡng chế mọi truyền thống, áp đặt việc dạy học tiếng Hán, cấm mặc quốc phục, đày đọa người dân dưới sức nặng của việc khổ sai. Quân đội An Nam bị sáp nhập vào quân đội Trung Hoa và trở thành một công cụ cho việc thống trị của nhà Minh54.
Có vẻ như người Việt đã vĩnh viễn mất hẳn bản sắc dân tộc và mọi niềm tin. Trung Hoa tin rằng đã thanh toán xong kẻ láng giềng non trẻ và quật cường. Tuy nhiên, sự thật không hề như thế.
Quả thật, ách đô hộ của ngoại xâm ở giai đoạn này đã làm bừng dậy dũng khí của người Việt. Lòng kiêu hãnh của người dân vùng lên dưới sự “thóa mạ như tát nước vào mặt” ngay trên đất quê hương, và phản ứng của người Việt rồi sẽ khủng khiếp hơn những gì họ đã phải gánh chịu và với nhiều năng nổ hơn bao giờ hết. Họ chiến đấu trong mười năm55, từng bước chiếm lại đất đai của tổ tiên cho đến khi Lê Lợi, thủ lĩnh của họ, đã buộc hoàng đế Trung Hoa phải từ bỏ tham vọng xâm chiếm bằng một hiệp ước ký kết ở Đông Đô - Hà Nội. Trần Cao, hậu duệ cuối cùng của nhà Trần được tôn lên ngôi vua, nhưng một năm sau thì qua đời, để lại ngôi báu cho vị thủ lĩnh chiến thắng kế vị56. Từ đó, sự toàn vẹn lãnh thổ nước Nam và mối quan hệ ngoại giao lại được tôn trọng. Nền độc lập tự chủ không còn bị lũng đoạn vì những tranh chấp nội bộ. Đây là lần thứ ba triều đình Trung Hoa biểu lộ một thái độ chính trị mơ hồ và nhu nhược mà về sau sẽ không có một sự kiện nào làm thay đổi sâu sắc nữa.
Triều đại nhà Lê không mấy tỏ ra quan tâm về những bổn phận mà sự thừa nhận bá quyền Trung Hoa bắt buộc. Những vì vua kế vị Lê Lợi không xin sắc phong của triều đình Trung Hoa57. Lại có khi, như trường hợp Lê-Tai [nguyên văn], họ chỉ thông báo lễ đăng quang của họ cho triều đình Trung Hoa vào cuối giai đoạn trị vì của mình. Họ giao chiến, phát triển và nới rộng lãnh thổ, thiết lập nền bảo hộ vùng Trấn Ninh và Lào mãi đến tận vùng đồi núi Miến Điện là những quốc gia chịu sự bảo trợ của Trung Hoa mà không thèm lưu tâm đến những phản đối của thiên triều.
Lê Oanh58 là người đầu tiên không tuân theo thông lệ của các đời vua trước, đã nhận sắc phong của hoàng đế Trung Hoa, nhưng lại bị Lê Ỷ59 lật đổ và đến lượt Lê Ỷ bị họ Mạc truất ngôi vào năm 152760 Mạc Đăng Dung tiếm quyền nhân một cuộc binh biến61, nhưng rồi lại bị hạ bệ bởi những kẻ nổi loạn vào năm 1546. Họ Mạc chạy lên vùng đồi núi phía bắc và xưng vương ở đấy62. Vua Lê-Minh63, nhận thấy không thể rượt đuổi họ Mạc, kêu nài hoàng đế Trung Hoa tuyên chiến với kẻ tiếm quyền rồi cuối cùng phải chấp nhận việc chia cắt lãnh thổ. Mười ba tỉnh phía bắc giao cho nhà Mạc được triều đình Trung Hoa phong hầu64 làm quan thế tập vùng Quảng Tây. Phần đất còn lại thì do Lê-Minh hoàn toàn cai trị (1558). Thật kỳ dị khi ta nhận thấy hành vi duy nhất chứng tỏ tính bá quyền thực sự của hoàng đế Trung Hoa đối với An Nam chỉ là chia rẽ khiến cho đất nước lại rơi vào trong sự hỗn độn rối rắm65. Các vua Lê chính thống từ đấy mất dần quyền uy thực sự. Dường như triều đình Trung Hoa bỗng dưng có trực cảm về chính sách bảo hộ hiện đại, như ngày nay nó đang được thực thi dưới nhiều hình thức khác nhau66. Hiệp ước song phương trên bề mặt, nhưng trong thực tế chỉ là đơn phương do các cường quốc áp đặt lên những nước yếu hơn. Triều đình Trung Hoa tìm cách làm suy yếu vương quốc bằng cách phân chia lãnh thổ, hỗ trợ một cuộc nổi loạn đối đầu với nhà vua chính thống. Trung Hoa duy trì các nước lân bang mãi trong tình trạng suy yếu để bảo đảm rằng Trung Hoa không thể bị các nước ấy tấn công, đồng thời giữ vững vai trò của một cường quốc ưu việt cho phép Trung Hoa can thiệp vào mọi lúc công việc nội bộ của các chư hầu.
Trên thực tế, việc can thiệp ấy trở nên cần thiết. Thế lực lớn mạnh của họ Mạc ở phương Bắc làm vua Lê Thế Tông67 lo ngại, và thêm một lần nữa cầu viện hoàng đế Trung Hoa. Triều đình Trung Hoa đáp ứng lời cầu xin bằng cách hạ thấp những đặc quyền của nhà Lê và sửa đổi hiệp ước 154868. Trung Hoa trả lại cho vua Lê mười một tỉnh phía bắc, chỉ để cho họ Mạc quyền cai trị Thái Nguyên và Cao Bằng. Thái độ rộng lượng bề mặt này không làm vua Lê thỏa mãn vì không thể chống lại sự chia cắt âm thầm trong xứ sở của ông ta.
Năm 1636, nhà Minh bị người Thanh lật đổ. Khang Hi được tôn lên ngôi hoàng đế69. Vua Lê Duy Vũ70 gửi sứ bộ đi triều kiến tân hoàng đế và xin được sắc phong. Hai vua bèn ký hiệp định 166371, theo đó hai quốc gia phải sẵn sàng giúp đỡ và hỗ trợ lẫn nhau. Đây là văn kiện ngoại giao cuối cùng được trao đổi giữa hai nước trước khi người phương Tây đến Đông Dương.
Khang Hi chấp thuận phong vương cho vua Lê, lại đồng thời phong chức chúa cho Trịnh Tráng72, người có những năng lực bổ khuyết cho sự mềm yếu của vua Lê, rồi dần dà xâm lấn quyền chỉ đạo mọi vấn đề. Những hậu duệ của họ Trịnh bức ép vua Lê vào tình thế phụ thuộc đến độ họ không cho nhà vua thỉnh cầu nhà Thanh tấn phong, vì việc ấy có khả năng nâng cao uy quyền của nhà vua và làm giảm vai trò của họ. Với những nỗ lực của họ Trịnh, An Nam bảo vệ được tính thống nhất dòng giống, đạo đức và tôn giáo. Trung Hoa đã tìm cách đồng hóa người Việt, thì họ Trịnh lại cố sức trả lại cho đất nước bản sắc dân tộc mà sự thôn tính của Trung Hoa đã làm mất đi. Họ Trịnh đã thành công trong công việc ấy, bất chấp những phản đối giận dữ của triều đình nhà Thanh, bất chấp ngay cả sự ngờ vực của dân chúng vốn từ lâu gắn bó với các vua triều Lê, một vương triều chẳng bao lâu nữa sẽ biến mất.
Quả thật, những vua nhà Lê về sau không có được một phẩm chất nào của vị vua [Lê Lợi] khai sáng triều đại. Phóng túng, yếu đuối, hoài nghi, họ dễ dàng chấp nhận gìn giữ quyền lực chỉ để hưởng thụ vật chất và những hào nhoáng có sẵn từ trước. Họ để cho các chúa Trịnh giữ quyền chỉ đạo các hoạt động triều chính. Điều đã khiến cho họ Trịnh cuối cùng xem như một trách nhiệm thế tập để mà vinh dự gán tên tuổi của mình vào đấy. Đại diện cho vương quyền phương Bắc, họ đã sớm cư xử như những vị chủ tể có quyền hành tuyệt đối, dành cho người trong gia đình họ Nguyễn quyền cai trị các tỉnh phía nam, trấn thủ ở Huế73, để rồi về sau lại cung cấp cho An Nam một vị vua [Gia Long] khai sáng nên triều đại ngày nay.
Kể từ đấy, lần đầu tiên xuất hiện hai cách gọi Đàng Ngoài và Đàng Trong được dùng trong ngôn ngữ ngoại giao, để chỉ định vùng Tonkin và Cochinchine. Những cách gọi ấy chứng tỏ rõ ràng rằng, vương quốc từ đấy được cai trị bởi hai thế lực khác nhau dưới một uy quyền hoàn toàn mang tính danh nghĩa của một vị vua nhu nhược [vua Lê], không có khả năng ngăn cản những hậu quả của một cuộc tranh chấp không tránh khỏi sẽ đưa đất nước vào một cuộc nội chiến. Quả thật, cuộc nội chiến này bùng nổ vào năm 162774, nhân khi có việc tăng thuế, họ Trịnh tấn công và đánh bại họ Nguyễn và trở thành vị chúa có ưu thế hơn.
Trong khi những sự kiện trên xảy ra, vào năm 1596, một giáo sĩ Thiên Chúa giáo dòng Dominique tên là Diego Adverte đã đến [giảng đạo Thiên Chúa] ở Đàng Trong không ai hay biết. Chính quyền thoạt tiên không mấy chú ý đến hoạt động đơn lẻ của vị thừa sai này mà dân chúng trọng vọng đón tiếp. Nhưng một thời gian ngắn sau đó có một số tàu thủy Tây Ban Nha đến cập bến ở Đàng Trong. Chính quyền lo ngại, buộc những tàu ngoại quốc phải lập tức rời đi. Kế hoạch ban đầu thất bại không làm nản chí các giáo sĩ ở Manille. Năm 1626, một giáo sĩ dòng Tên, Baldinotti75, được gửi đến Đàng Ngoài để rao giảng Phúc Âm. Sự lựa chọn của giáo sĩ này thật không may. Baldinotti không hề hiểu biết gì về các vùng đất được đặt dưới trách nhiệm rao giảng của mình. Ông không thể làm cho người trong vùng hiểu được ông. Ông kiên trì, với một lòng can đảm vụng về, đối đầu với các quan bản xứ cuối cùng đã buộc ông phải lên tàu trở về lại Philippines. Cha Alexandre de Rhodes được phái đến thay thế76. Cha là một trong những khuôn mặt kỳ lạ nhất trong những giáo sĩ truyền giáo của thế kỷ XVII, là một học giả sâu sắc, một nhà quan sát nhạy bén, một nhà ngoại giao mềm dẻo và tinh tế, khiến ngay cả chúa Trịnh cũng quý mến. Cùng đi với cha còn có giáo sĩ Pedro Marquès. Cả hai đi khắp Đàng Ngoài và ở nơi nào cũng đều được nồng nhiệt đón tiếp, mọi e ngại đều lắng dịu nhờ vẻ hiền hòa của nhà truyền giáo Pháp đã xóa đi mọi định kiến về tôn giáo.
Đến năm 1644, cha de Rhodes đã đào tạo được hàng ngàn người theo học đạo, đã xây dựng nhiều nhà thờ, tập trung các tín đồ thành những họ đạo thịnh vượng. Dân chúng yêu mến ông và ông đã mau chóng học cách hiểu những niềm vui khiêm tốn và khổ nhọc nặng nề của họ. Cha de Rhodes bảo vệ con chiên chống lại những tham lam ngạo mạn của những quan lại trong vùng, bảo vệ những nông dân bằng quyền hạn yếu ớt của mình, giám sát hành chính của các thôn làng, nơi mà những ý kiến của ông được nghe theo với sự tôn trọng. Việc được lòng dân của ông lan đến những vùng lân cận, thâm nhập vào ngay cả phủ chúa Trịnh, nhạy cảm khi thấy những thiết chế đáng kính ban đầu dọn đường cho những nguyên tắc mới, đã ban hành một chỉ dụ truy tố tín đồ Thiên Chúa, mà trong thực tế chỉ áp dụng một cách yếu ớt. Cha de Rhodes không lấy làm e ngại, nhưng không muốn gây khó cho những người đã giúp đỡ mình thực hiện sứ mệnh, đã rời Đàng Ngoài để vào Đàng Trong77 chờ đợi những ngày tươi sáng hơn.
Suốt trong thời kỳ xảy ra những hoạt động truyền giáo của cha de Rhodes thì những thương gia châu Âu bắt đầu xâm nhập đất nước An Nam. Đầu tiên là những người Hà Lan đến mở thương điếm tại Phố Hiến, nằm giữa Nam Định và Hà Nội, một vị trí được chọn lựa kỹ lưỡng, khiến nơi ấy mau chóng trở thành một trung tâm giao dịch sầm uất nhất của cả vùng. Chẳng bao lâu, những bố trí tạm thời được thay thế bằng những công trình vững chãi. Một thành phố mà mọi thương lái của các vùng biển châu Á đều lui tới được dựng lên nơi mà trước đây là một xóm chài và thợ thủ công nghèo nàn.
Năm 1638, một chiếc tàu Hà Lan, Ryp, Lần đầu tiên đã ngược dòng sông để lên đến tận Thăng Long, và từ năm 1640 sử Việt ghi nhận sự có mặt của những thương gia Nhật Bản, Hà Lan và Trung Hoa tại Faifoo78. Sự có mặt dồn dập của những người nước ngoài tạo nên một hoạt động thương mãi mạnh mẽ làm lợi trước tiên cho người dân địa phương. Chính quyền địa phương tận lực thích ứng với sự phồn vinh chưa từng có này, tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển các thương điếm, bất chấp cả sự khuyến cáo của triều đình. Quả tình cả chúa Trịnh lẫn chúa Nguyễn đều cho là đang bị đe dọa. Họ ngờ vực những giáo sĩ thừa sai đã kêu gọi những người Âu châu đến, lấy cớ phát triển thương mãi và tôn giáo, để chuẩn bị can thiệp vào vương quốc bằng sức mạnh phương Tây. Chính tư tưởng ấy đã tạo ra cho họ cũng như những người kế vị lòng căm ghét Thiên Chúa giáo, đặc biệt sâu sắc vào thời vua Minh Mạng, dẫu cho gia đình nhà vua đã từng nhận sự giúp đỡ của Giám mục Adran, và vua Tự Đức, đã hy sinh nền độc lập của nước nhà cũng vì suy nghĩ ấy79.
Năm 1643, thương điếm Hà Lan ở Faifoo bị chính quyền Đàng Trong thiêu hủy. Một người giúp việc bản xứ bị các thương gia bắt gặp vào lúc y đang cuỗm vài kiện bông vải, đã bị viên giám đốc thương điếm ra lệnh giết chết. Vị quan địa phương gửi giấy khiển trách những người Hà Lan, nhưng họ đã nhận một cách ngạo mạn. Được tin ấy, chúa Thượng80 ra lệnh đốt thương điếm, xử từ những tội phạm, chỉ ngoại trừ hai người được chính quyền cho phép xuống tàu trở về Batavia81. Người Hà Lan phẫn nộ bèn gửi ba chiến hạm đến đòi hỏi chúa Đàng Trong một khoản bồi thường xứng đáng. Nhưng hạm đội Hà Lan82 vấp phải lực lượng thủy quân của chúa Thượng ở vịnh Tourane - theo lời kể của Vachet83, hoặc trên sông ở Huế - theo sử gia Việt, và hạm đội đã không thể kháng cự nổi. Đấy là lần đầu tiên người châu Âu phải chịu thất bại nhục nhã tại Đông Dương84.
Thương gia Nhật Bản bèn chiếm lấy chỗ của người Hà Lan ở Faifoo sau sự kiện kể trên.
Chính người Anh cũng rất sớm bị thu hút bởi sự giàu có phong phú của châu Á. Nữ hoàng Elisabeth vào năm 1600 đã ban một Hiến chương cho Công ty Đông Ấn Luân Đôn. Một năm sau, những thương điếm Anh quốc đầu tiên được mở tại Ấn Độ, trong vùng quần đảo Sonde. Hai năm sau, thuyền trưởng John Sarris thành lập một cơ sở thương mãi tại Hirado ở Nhật Bản và giao quyền quản lý cho Richard Cocke. Người này đã gửi đến Đàng Trong một thuyền buôn do Peacok chỉ huy cập bến Faifoo, nơi mà hàng hóa trên tàu được đưa lên bờ. Giai đoạn đầu của cuộc viễn du này diễn ra thuận lợi. Nhiều người địa phương chạy đến các cửa hàng Anh để mua sắm. Nhưng nhân một cuộc xô xát lại có một nhân viên người Âu tên là Walter Corwarden bị giết, Peacok vội vàng lên tàu ra đi, bỏ lại phần lớn các hàng hóa mặc tình bị cướp bóc trên bờ.
Công ty Đông Ấn vào năm 1616 còn cố thử thách một lần nữa nhưng cũng không thành công. Người Hà Lan, thuở ấy làm chủ mọi vùng biển, buộc các đối thủ cạnh tranh phải rời bỏ Nhật Bản và Đài Loan. Chỉ vào năm 1672 mới có một thuyền lớn chở William Gyfford85, giám đốc thương mãi, và năm người Âu lên đường đến Đàng Ngoài và họ đến nơi không xảy ra điều gì trắc trở. Chúa Trịnh Tráng cho phép Gyfford được kinh doanh tại Phố Hiến rồi tại Thăng Long. Nhưng sự vụng về của những người Âu mới đến và sự thiếu thiện chí của những người địa phương chẳng bao lâu buộc ban giám đốc tại Madras phải ra lệnh đóng cửa hai cơ sở ấy.
Cuối cùng, vào năm 1695, Bowyear86, người đại diện thương mãi, lên tàu Dauphin rời cảng Fort Saint Georges ở Madras. Ông này nhân danh Công ty Đông Ấn, có nhiệm vụ đến yết kiến Minh vương87 để cầu xin ban cho một nhượng địa cũng như mọi sự dễ dãi để thiết lập mối quan hệ thương mãi rộng rãi với vương triều. Chuyến đi này không mang lại một kết quả nào cả, nhưng câu chuyện mà thương gia Anh quốc này kể lại về sứ mạng của ông đã cung cấp những chi tiết quý giá về tình hình chính trị của xứ sở, nguồn gốc và lịch sử của triều đại đang trị vì, về các tài nguyên của Đàng Trong88, nơi mà Bowyear mới chỉ ở được một năm.
Năm 1681, đến lượt du Plessis đến Đàng Ngoài, trình cho chúa Trịnh: Hiền vương89, một lá thư của Pháp hoàng Louis XIV, yêu cầu cho phép các giáo sĩ thừa sai được quyền rao giảng đạo Thiên Chúa và cho phép Công ty Đông Ấn [của Pháp] được quyền mua bán dọc theo bờ biển. Hai năm sau90, một nhân viên thương mãi khác tên là Le Chappelier91 được phép mở một thương điếm, nhưng người này chỉ làm mỗi việc đi khắp xứ và gửi báo cáo về Công ty. Công ty Đông Ấn lại khánh kiệt vào năm 1723 vì sự sụp đổ của hệ thống Law92, không còn muốn phát triển ở Đông Dương nữa.
Phải chờ đến năm 1749 để thấy người Pháp tìm cách tổ chức ở An Nam những xí nghiệp quan trọng dưới sự chỉ đạo của Pierre Poivre, người vùng Lyon. Người này lúc đến ở Đàng Trong, vào năm 1744, bị mất một cánh tay trong một trận chiến giữa tàu chở ông ta với hạm đội do Barnet, thiếu tướng hải quân Anh, chỉ huy. Được gửi về Batavia, ông chữa lành vết thương nhưng không thể gia nhập vào hàng ngũ trước đây nữa, Pierre Poivre trình cho Công ty Đông Ấn những kiến thức tuyệt vời của ông về các vùng miền và khả năng sử dụng thông thạo tiếng An Nam. Ông thuyết phục được ban giám đốc về sự thuận tiện cho một nỗ lực mới mà ông bảo đảm nhiều lợi ích và đã được trao nhiều quyền hành để thực hiện kế hoạch.

.
Tượng bán thân Pierre Poivre đặt tại vườn thực vật Pamplemousse, Cộng hòa Mauritus.(L'Ile Maurice, le Jardin Botanique)
Pierre Poivre cập bến Pondichéry93 ngày 21 tháng 6 năm 1749, nhưng sự đón tiếp của Dupleix94 ngay lúc ông đến đã khích động ông chống lại với Thống đốc Pondichéry, lên án ông này muốn cướp đi mọi vinh dự hoặc quyền lợi của Công ty mà ông chịu trách nhiệm. Luận cứ này xem ra được khẳng định bởi những mưu mẹo tiểu nhân của Friell95, người cháu có quan hệ thông gia của Dupleix.
Không chờ đợi gì nữa, Poivre rời Pondichéry lên đường đến Huế96, thương lượng với Võ vương về một thỏa ước [thỉnh cầu] mà theo đó người Pháp được phép mở một thương điếm ở Faifoo97 và bắt đầu buôn bán trong mọi vùng Đàng Trong. Poivre hoàn thành sứ mạng, trở về châu Âu vào tháng 2 năm 175098. Nhưng những xí nghiệp của Dupleix99 đã hút hết nguồn vốn của Công ty và người ta không còn ghi nhận được gì nữa cho đến cuối vương triều của vua Louis XV, ngoài vô số những dự án như của Bénédat100, Saint-Phalle101, Protais-Leroux102 v.v... mà những thảm họa của Cuộc chiến tranh bảy năm103, việc mất quyền ở Ấn Độ, sự sụp đổ của Công ty đã cản trở thực hiện kế hoạch104.
Tuy nhiên, chiến tranh đã trở lại giữa hai đối thủ muôn đời Đàng Trong và Đàng Ngoài. Hận thù vẫn tiếp diễn, thỉnh thoảng bị ngưng lại nhờ những giai đoạn lễ lược truyền thống, hoặc những cuộc hòa giải và hưu chiến ngắn ngủi, sau đó lại tiếp tục vì bất kỳ một lý do nhỏ nhặt nào. Công cuộc bảo vệ lãnh địa Đàng Trong không ngăn các chúa Nguyễn mở rộng đất về phương Nam. Năm 1658, chúa Nguyễn thu phục đất Chiêm Thành và đẩy biên giới phía nam đến tận cuối Bình Thuận.
Dân tộc Chăm bị triệt thoái. Phần còn lại sống trong thân phận phụ thuộc hoàn toàn mà họ chịu đựng với lòng tự trọng mà thời gian đã tạo dựng nên một hình ảnh xúc động. “Hẳn đấy là một chủng tộc đẹp đẽ”, Aymonier105 đã viết như thế, “không hiếm những con người đáng ngưỡng mộ, cho dầu những cơ cực hiện nay. Nhưng những hậu duệ của dòng tộc Chăm ngày nay lại sống lay lắt trong một nỗi buồn sâu thẳm. Ngay những lễ lược tôn giáo của họ cũng mang dấu ấn sầu bi. Tuyệt vọng trong những kỷ niệm xa xưa, đắm chìm trong một niềm thất vọng không cứu chữa được và không ngừng bị khích động vì những thống khổ trong hiện tại mỗi ngày mỗi lớn, họ lại tiếp tục mong chờ một phép lạ, một cuộc phục hưng không thể có được. Một trong nhiều tác phẩm thi ca của họ, họ than vãn hay đúng hơn, khóc lóc về những bất hạnh của họ, gửi lên Thượng đế những lời cầu khẩn và chấm dứt bằng tiếng kêu tuyệt vọng: ‘Làm thế nào để đừng sống nữa!’”
Phụ nữ Chăm là những người luôn có một ảnh hưởng mạnh mẽ đối với đàn ông của họ, lặp đi lặp lại những lời kiêu hãnh: “Tổ tiên chúng ta là người Chăm. Chúng ta là người Chăm và con cái chúng ta cũng sẽ là người Chăm. Đúng là dân ta đang ở trong hố thẳm, hãy đứng lên dân Chăm, cho đến lúc xẻng đất cuối cùng đắp lên mộ của người Chăm cuối cùng”.106
Dân tộc Chăm, theo những nghiên cứu lỗi lạc của J. Clayes, là họ hàng gần gũi với những người Mọi miền núi thuộc chủng Mã Lai cổ. Nhưng những người miền núi này không bao giờ xa lìa núi rừng nơi mà nền văn minh chưa vượt qua giai đoạn đồ đồng, trong lúc người anh em của họ lại bám trụ trên vùng đất phì nhiêu của đồng bằng ven biển, nhanh chóng vươn đến trình độ văn minh mà nền kiến trúc mạnh mẽ đến nay vẫn còn chứng tỏ sự lớn lao.
Dân tộc này nhanh chóng có được thành phần ưu tú mạnh dạn nới rộng giới hạn của thị tộc nguyên thủy đến tận biên giới của An Nam ngày nay, lôi cuốn sự chú ý của Trung Hoa và khiến Trung Hoa kiên quyết gây chiến chống lại thành phần này.
Năm 111 trước Thiên Chúa, hoàng đế nhà Hán chiếm đất Giao Chỉ và thành lập quận Nhật Nam (Ye-Nan) có thủ phủ giám sát đất nước trẻ trung và năng động này.
Cho đến năm 1069, vương quốc Chiêm Thành luôn kháng cự những cuộc xâm lăng từ bên ngoài và những cuộc nội chiến gây rối loạn sự phát triển của đất nước. Các vua Chăm, tiếp tục truyền thống của các vua đời trước, đô hộ các vùng đất phía nam. Nhưng những cuộc xung đột với người Việt [phía bắc] là dân tộc mau chóng ý thức về sức mạnh của mình đã khởi đầu những tan rã của đất nước Chiêm Thành.
Bị người Việt lấn át, lại bị người Khmer xâm lăng, nước Chiêm Thành gần như sụp đổ thì may thay có một vị vua kiên nghị Yaya Harivarman107 đánh đuổi được người Khmer. Vua tiếp theo Surjavarman108 biết làm cho kẻ địch ở phương Bắc kính nể và ổn định lại được sự thống nhất quốc gia. Năm 1118, vị vua này tấn công nước Cao Miên109 nhưng bị đánh bại và phải chịu sự chiếm đóng của ngoại xâm trong suốt ba mươi năm. Triều đại mới của nhà Trần, nước Đại Việt về sau buộc nước Chiêm Thành phải chấp nhận quyền lực của vua Việt. Chính hoàng đế Koublai-Khan của nhà Nguyên đã khiến hai thành phần đối lập muôn thuở này đoàn kết với nhau để chống lại chính mình. Hai quốc gia này, trước thảm họa chung, đã đoàn kết để chống lại quân Mông Cổ tàn bạo, và giành thắng lợi.
Năm 1307, vua Jaya Simhavarman III110 qua đời sau khi đã trả bằng các nhượng địa ở phía bắc để kết nối tình bằng hữu với vua nhà Trần, thâm nhập vào gia đình này bằng cuộc hôn nhân với công chúa Huyền Trân111. Sự qua đời của nhà vua đã gây nên những hỗn loạn mà nhà Trần hưởng lợi một cách khéo léo. Vương quốc Chiêm Thành trở thành chư hầu của Đại Việt, vùng dậy một thời gian dưới thời vua Chế Bồng Nga112 rồi cuối cùng cũng phải khuất phục dưới những áp lực nặng nề dưới thời vua Lê Thánh Tông.
Đất nước từ đó bị phân hóa, còn tồn tại một cách khó nhọc trong vài năm trước khi biến mất vĩnh viễn.
Ngày nay, dân tộc Chăm chỉ còn lại vài ngàn gia đình, sống lay lắt một cách khốn khổ và dần dà quay trở lại những điều kiện sống của những người anh em miền núi mà càng ngày họ càng trộn lẫn với nhau.
Chiêm Thành bị chinh phục, nhà Nguyễn đem quân đánh Cao Miên vào năm 1660. Vua nước này bị bắt cầm tù và bị đưa về Quảng Bình113, rồi được trả tự do với điều kiện trở thành nước chư hầu của kẻ chiến thắng.
Hòa bình lập lại, họ Trịnh và họ Nguyễn kết hợp với nhau để đuổi ra khỏi xứ các giáo sĩ thừa sai mà các lý thuyết tôn giáo của họ tấn công một cách có hiệu quả ngay cả những nguyên tắc của nền đạo lý Khổng - Mạnh xưa cũ. Một chỉ dụ được ban ra cấm người dân từ bỏ việc thờ cúng tổ tiên: “Người Âu châu được gọi là Hoa-Lang, vào trong nước để hoạt động, họ quyến rũ và hướng dẫn vào sự sai lầm bằng đạo Gia-tô [Công giáo], nhiều đàn ông và đàn bà thiếu suy nghĩ chạy theo họ, đông đảo và gắn bó nồng nhiệt. Họ xây nhà thờ để giảng đạo. Sai lầm càng lúc càng tăng. Trước đây đã từng đuổi những người ngoại quốc này đi, nhưng việc thực hành xấu xa không được nghiêm trị, nên năm nay ban lại lệnh cấm như trước”.
Nhiều nhà thờ bị phá hủy, các giáo sĩ phải ẩn nấp, những hận thù tôn giáo bắt đầu được cảm nhận. Nhưng những khắc nghiệt ấy không kéo dài: một cơn dịch tả giết chết nhiều dân, người phương Tây coi đó là một dấu hiệu biểu lộ sự phẫn nộ của thượng đế. Quần chúng hoảng sợ, xây dựng lại giáo đường và chỉ dụ bị hủy bỏ. Hoàn cảnh ấy đã khuyến khích cha de Rhodes yêu cầu Tòa Thánh La Mã gửi đến vương quốc một Đoàn truyền giáo đặc biệt đồng thời mở một chủng viện. Tòa Thánh chỉ định hai giám mục: cha Pierre Lambert de la Motte cho vùng Đàng Trong và cha François Pallu114 cho Đàng Ngoài. Cả hai giám mục đều có nhiều tu sĩ thuộc nhiều dòng đi theo: dòng Tên, dòng Barnabite, dòng Dominicain, dòng Franciscain và các giáo sĩ của Hội Thừa sai. Các nhà truyền giáo này tỏa đi khắp mọi nơi, trú ngụ trong những làng mạc với người dân quê mà họ đưa hàng loạt người đến nhà thờ rửa tội. Họ thành lập các họ đạo, xây dựng giáo đường, săn sóc người bệnh, giúp đỡ người nghèo, thay thế dần dà vai trò của chính quyền thôn xã, vốn là căn bản của trật tự xã hội người Việt. Nhưng nhiệt tâm ấy đột ngột bị chững lại vì một phản ứng quyết liệt của chính quyền. Chỉ dụ năm 1705115 được chỉ định chống lại mọi người nước ngoài, nhằm vào các giáo sĩ châu Âu, buộc họ phải rời khỏi vương quốc, cũng như đối với các thương gia Hoa kiều là những người mà lệnh cấm được truyền đạt là phải tuân theo những phong tục mới được du nhập vào Trung Hoa bởi các hoàng đế Mãn Thanh. Những hình phạt nặng nề được công bố cho người Việt nào dám đón tiếp những kẻ bị phát vãng, nói ngôn ngữ của họ, sống theo những tập quán của họ. Tám năm sau, chúa Trịnh truyền lệnh cho mọi tín đồ Thiên Chúa phải bỏ đạo trong thời hạn hai mươi tám ngày, nếu không sẽ bị khắc lên mặt dòng chữ “Học Hoa Lang Đạo”116.
Quan lại địa phương áp dụng miễn cưỡng những điều lệ của chỉ dụ năm 1713 mà qua năm sau (1714) lại thêm một lần nữa bị chúa Trịnh hủy bỏ.
Các giáo sĩ thừa sai tập hợp tín đồ và tiếp tục yên lành nhiệm vụ truyền giáo bị bỏ dở. Nhưng hoạt động của họ lại gây ra sự tức giận của chính quyền tối cao.
Vào năm 1721117, việc bức hại lại tiếp tục, nhiều tín đồ Thiên Chúa bị kết án khổ sai, một số khác bị xử tử. Các cha Massari và Bucharelli chịu hình phạt thắt cổ. Sự khắc nghiệt làm dân chúng hoảng sợ, khiến trong một thời gian dài không dám hành đạo nữa.
Tuy thế, khi bão táp qua đi, các giáo sĩ lại trở về trong giáo phận của mình, cố sức với sự kiên trì can trường thu phục lại ảnh hưởng mà họ đã mất. Họ vấp phải sự bướng bỉnh đầy lo âu của dân chúng trước sức đe dọa của những trừng phạt nặng nề buộc họ phải tôn trọng những truyền thống quốc gia.
Nhưng đức tin đầy xúc động của những kẻ chăn chiên đã vượt qua mọi trở lực, mọi oán hận, mọi sợ hãi. Nửa thế kỷ sau, đạo Thiên Chúa du nhập vào Á châu, do một nhóm giáo sĩ truyền giáo đến từ những nước La-tinh, suýt làm đảo lộn ngay cả nước Trung Hoa và thay thế những tôn giáo xưa cũ. Các giáo sĩ dòng Tên vào thế kỷ XVIII rất được triều đình Trung Hoa nghe theo. Họ đấu tranh chống lại những học giả Trung Hoa bằng chính vũ khí của họ, thay thế những đạo lý lạnh lùng của Khổng tử bằng những quan niệm nhân bản hơn của giáo lý Thiên Chúa. Triết học kinh viện của đế quốc Trung Hoa bị lay chuyển bởi nền khoa học thực dụng phương Tây: các học giả bị thuyết phục, tìm đến các vị thừa sai, cùng với họ lôi cuốn các lớp bình dân tột cùng là những người sẵn lòng đi theo những kẻ chiến thắng các bậc thầy của họ.
Ở An Nam, Thiên Chúa giáo phát triển đến mức có một chủng viện được thành lập và đào tạo hằng năm một số lượng đông đảo tu sĩ bản xứ, nhờ đó mối thống nhất tư tưởng giữa người nước ngoài và dân chúng được chặt chẽ hơn.
Ảnh hưởng phương Tây đang thâm nhập vào thế giới châu Á xưa cũ như thế thì bỗng dưng, vào năm 1744118, Giáo hoàng Benoit XIV giáng cho nó một đòn chí tử. Ông lên án việc thờ cúng tổ tiên và lòng tôn kính dâng lên Đức Khổng tử, mãi đến lúc ấy vẫn được các giáo sĩ dòng Tên thừa nhận119. Việc lên án này còn gây tai họa thê thảm cho việc truyền đạo hơn cả những cuộc tra tấn hận thù nhất, vì kể từ đấy các giáo sĩ thừa sai không còn thực hành chữ viết Trung Hoa, sống xa cách với giới tinh hoa. Dẫu nhiệt tình, họ không còn làm phát triển rõ rệt đạo Thiên Chúa nữa và lời nói của họ chỉ còn chạm tới lớp bình dân, giới hạn hoạt động của họ vào tầng lớp ít kiên định nhất của xã hội.
Điều nổi bật trong những tín ngưỡng mà người An Nam gắn bó là ở chỗ niềm tin của họ được thể hiện không cần có sự can thiệp của giới tu sĩ. Tu sĩ duy nhất được thừa nhận trong tầm cỡ quốc gia là nhà vua, trong tầm cỡ tỉnh là vị quan đầu tỉnh đại diện, trong tầm cỡ thôn xã là các thân hào đạo cao đức trọng, trong gia đình là người cha.
Tôn giáo thật sự của người An Nam, và là tôn giáo mà họ hiến dâng thật sự và tận lòng, là thờ cúng tổ tiên. “Lòng thành kính mà họ dành cho linh hồn người đã mất”, cha de Rhodes đã ghi lại như thế, “vượt qua tất cả những gì mà ở Âu châu chúng ta có thể nghĩ đến. Họ chấp nhận một lao nhọc khó tin để tìm nơi thích hợp cho phần mộ của tổ tiên. Họ tin rằng mọi hạnh phúc của gia đình tùy thuộc vào sự trân trọng mà họ chứng tỏ với người chết. Họ không tiếc tiền bạc cũng như công sức, và cả công sức của bạn bè để tổ chức những bữa tiệc thịnh soạn suốt trong nhiều ngày sau hôm người thân qua đời. Và họ cũng làm tương tự như thế cho tổ tiên xa xôi của họ cho tới tận đời thứ tám hoặc ngay cả đời thứ mười”.
Ta có thể cho rằng Tòa Thánh La Mã, vốn thường có tinh thần cởi mở cho một số nhượng bộ, đã mắc lỗi vụng về khi đối kháng quá thô bạo với những tình cảm sâu kín của một dân tộc sẵn sàng tìm thấy trong đạo Thiên Chúa những nguyên tắc không lôi kéo họ phải từ bỏ việc thờ cúng tổ tiên mà ngay cả những tu sĩ truyền giáo đầu tiên cũng đã không đặt ra một cấm đoán nào cả. Dầu sao, sự thoái bộ của Thiên Chúa giáo kể từ đó được đánh dấu bằng sự đấu tranh tuyệt vọng của một vài người can đảm mà hoạt động truyền giáo phụ thuộc vào những đổi thay của chính sách địa phương.
Ngày 11 tháng 3 năm 1767, một thừa sai hai mươi sáu tuổi tên là Pigneau de Béhaine đã cập bờ Căn Cáo (tức Hà Tiên).
Một khuôn mặt tu sĩ thật lạ lùng, lần lượt là sứ giả, chiến sĩ, người tổ chức công binh, ít nhiều là kẻ phiêu lưu, mà nhờ đó chúng ta có một trong những trang đẹp nhất của lịch sử thuộc địa.

.
Giám mục Pigneau de Béhaine (Bá Đa Lộc, 1741-1799) - tranh vẽ của họa sĩ Maupérin, trưng bày tại Hội truyền giáo hải ngoại Paris.
Xuất thân từ một gia đình đông con xứ Picardie, Pierre Pigneau de Béhaine theo học ở chủng viện Sainte-Famille. Ý thích phiêu lưu đến những chốn xa đã tạo nên trong ông khuynh hướng chọn lựa châu Á. Ông trải qua hai năm thực tập tại Hội Thừa sai rồi bí mật xuống thuyền đi Pondichéry để thoát những van nài của cha mẹ ông, những người muốn ngăn cản cuộc ra đi.
Ông ở lại Hà Tiên một năm, bình tâm cam chịu cách cư xử xấu xa của chính quyền người Hoa trong vùng ấy, ông ban phát những săn sóc cho dân địa phương, dạy dỗ những con chiên trẻ tuổi. Trong số đó ông quý mến Paul Nghị120, người về sau sẽ trở thành phụ tá chính của ông. Họ đạo nhiều lần bị tàn phá vì những cuộc xâm lấn, vẫn phát triển mặc dầu có những trừng phạt vì theo đạo mới. Những hoạt động thông minh của Pigneau de Béhaine đã gây cảm tình ở vị Khâm mạng Tòa Thánh già: Đức Cha Piguel, giám mục miền Canathe. Vị này đã gọi Pigneau de Béhaine đến với ngài và đề nghị với Tòa Thánh La Mã để ông kế tục ngài. Ông được phong Giám mục Adran lúc vị Khâm mạng qua đời năm 1770 và được tôn phong năm 1774 tại Pondichéry121.
Pigneau de Béhaine trở lại Đàng Trong và mãi cho đến khi ông qua đời vào hai mươi lăm năm sau, những hoạt động cá nhân của ông luôn gây ảnh hưởng lên chính sách của Nguyễn Ánh.
Vào giai đoạn ấy, có một nhân viên thuế vụ nhỏ, gốc người Nghệ An, tên là Nguyễn Văn Nhạc, ăn cắp công quỹ để giải quyết nợ cờ bạc, chạy trốn lên miền Tây Sơn để trốn tránh sự trừng phạt. Hết vốn liếng nhưng không thiếu thông minh và can đảm, Nhạc gọi hai người em là Huệ và Lữ và nhờ hai người này làm trung gian, Nhạc liên lạc được với các nhóm cướp trong vùng. Nhờ thế Nhạc nhóm họp được vài ngàn kẻ gian ác, bọn phiêu lưu, kẻ thất chí, tìm cách hiệp đồng với các quan lại trong vùng e sợ vì bị hăm dọa, rồi sai bọn đồng đảng nhảy vào cướp những vùng giàu có ở đồng bằng, thu lấy tiền bạc và thực phẩm Nhạc đang cần. Sức mạnh và sự hung hăng càng lúc càng phát triển của Nhạc làm chúa Duệ Tông122 ở Phú Xuân hết sức lo lắng. Chúa gửi quân đội vào đánh dẹp nhóm Tây Sơn nhưng lại thất trận một cách nhục nhã. Cuộc thảm bại này xảy ra không bao lâu trước khi thành Qui Nhơn bị lực lượng phản loạn chiếm cứ để lập đại bản doanh123.
Cuộc phiêu lưu nhục nhã này đã mang lại một hậu quả rất nghiêm trọng cho lực lượng của chúa Duệ Tông. Chúa chuẩn bị để phản công thì chúa Trịnh Sâm ở Đàng Ngoài lợi dụng chúa Nguyễn đang khi bối rối, cho rằng đã đến lúc dứt khoát buộc Đàng Trong phải chịu khuất phục họ Trịnh. Quân đội Đàng Ngoài chiếm thành Phú Xuân - Huế dễ dàng, do sự hèn nhát của tướng thủ thành124. Tuy thế, chúa Duệ Tông trong cơn bối rối đã chạy vào Quảng Nam125 rồi chạy thẳng vào đồng bằng sông Cửu Long để trốn tránh đồng thời tổ chức căn cứ vững chắc cho việc kháng cự.
Nguyễn Văn Nhạc lo ngại khi chứng kiến quân đội Đàng Ngoài tiến vào Phú Xuân, cảm thấy không đủ tầm vóc để ngăn cản chúa Trịnh, người mà mọi sắp đặt để tiếp xúc cho tương xứng với địa vị của chúa đòi hỏi Nhạc phải hành động cẩn thận, vào chiếm cứ những vùng đất mà mình đang thèm muốn. Nhạc cam kết với kẻ mới đến những tình cảm tôn kính, đồng thời tìm cơ hội chiến thắng chúa Duệ Tông để củng cố địa vị của mình. Cơ hội ấy chẳng bao lâu đã xuất hiện, từ Sài Gòn vị chúa trốn lánh gọi con mình là Mục vương126 lúc ấy đang còn ở Cu Đê127. Mục vương gặp một tướng Tây Sơn người Hoa tên là Lý Tài ở Bình Thuận, do Nguyễn Văn Nhạc phái vào truy bắt mình. Nhưng vị hoàng tôn trẻ tuổi đã thành công trong việc thuyết phục Lý Tài và đưa mình vào Sài Gòn để gặp Duệ Tông. Nhà chúa ngạc nhiên, sung sướng khi có một sự hỗ trợ trời ban do con mình mang lại. Nhạc rất đau khổ vì sự phản bội của Lý Tài và cảm thấy không đủ sức để cùng lúc chống lại quân đội Đàng Ngoài và Đàng Trong, quyết định đầu hàng quân Trịnh và được phong tướng Tiên phong năm 1774128 rồi được cho cai quản đất Quảng Nam129.
Những cư xử thịnh tình và những chức vị mà Nhạc nhận được không xoa dịu tham vọng và những lo lắng của mình. Nhạc cảm thấy ở vào một vị trí bất ổn nằm giữa hai đối thủ, rồi ra sẽ đuổi mình khỏi Qui Nhơn một khi hai phe đối lập kia tìm được một thỏa thuận để chấm dứt cuộc đấu đá. Nhạc không thể nghĩ chuyện tấn công quân Trịnh vì lực lượng này vẫn làm mình lo ngại. Nhưng còn con đường về phương Nam thì bỏ ngỏ. Duệ Tông đã để mất Qui Nhơn và Phú Xuân, những thành quan trọng nhất của Đàng Trong, chứng tỏ sự yếu kém mà không một nhân vật có khả năng nào cứu vãn được. Thôi thúc muốn lớn mạnh để không phải bị tiêu diệt, Nhạc đề nghị với quân Trịnh vào chiếm luôn vùng Hạ Đàng Trong [Basse Cochinchine], thanh toán họ Nguyễn để sáp nhập đất này với Đàng Ngoài. Quân Trịnh hiểu rất rõ động cơ của sự tận tâm giả hình này, nhưng nhanh chóng nắm lấy cơ hội để hạ gục họ Nguyễn mà ít tốn công sức, sẵn lòng can thiệp vào thời điểm thuận lợi để cướp từ kẻ đồng minh lúc tình huống bắt buộc, lợi lộc của cuộc chiến.
Quân Tây Sơn rời Qui Nhơn năm 1776, tiến vào Bình Thuận mà không gặp kháng cự, do một sai lầm không thể hiểu được, Duệ Tông đã cho rút trước quân phòng ngự. Quân Tây Sơn tiến chiếm Sài Gòn, xuống tận sông Mékong thì bị quân Lý Tài chặn lại. Cuộc đụng độ bất phân thắng bại, nhưng Nguyễn Văn Huệ là người chỉ huy đạo quân thoát ra, dẫn đội tiền quân bất ngờ tiến vào Vĩnh Long, chặn bắt những kẻ đào tẩu. Hai vương130 bị đưa về Sài Gòn và bị xử tử. Trong lúc ấy chúa Trịnh vì bận rộn về một cuộc nổi loạn ở Đàng Ngoài, không thể ngăn Nhạc tự tuyên xưng hoàng đế ở Đàng Trong năm 1777131, niên hiệu Thái Đức.
Thế là, thủ lĩnh của băng nhóm mà quân Trịnh đã đón tiếp với một thái độ hạ cố khinh thường bấy giờ đã thay thế vị trí của chúa Nguyễn và chứng tỏ một cách không giấu diếm ý muốn trở thành chủ nhân duy nhất thành quả của cuộc chinh phục, sớm phủ nhận ưu thế của kẻ mà trước đây Nhạc phải nhờ cậy để có được vị trí chính thức. Chúa Trịnh, bận rộn vì những khó khăn ở Đàng Ngoài, không thể phản kháng gì được. Chúa mất năm 1781132, không lần nào trở lại Đàng Trong. Con trai là Trịnh Khải133 kế vị, nhưng chẳng bao lâu phải chạy trốn để tránh sự hận thù của dân chúng và các quan lại triều đình, trả lại ngai vàng sức mạnh và hào quang thuở trước.
Lúc ấy vua Lê lẽ ra có thể nắm được quyền lực thật sự mà trước đây nhà vua chỉ giữ được những biểu hiện giả hình. Họ Nguyễn đã biến mất, họ Trịnh thì bị phân hóa, Tây Sơn thì chưa thật sự ổn định lực lượng. Mọi hoàn cảnh đều thuận tiện giúp nhà vua nắm thực quyền. Nhưng vị vua thiếu ý chí đã để cho Trịnh Tông khéo léo mưu mô tái tạo lực lượng đông đảo những người ủng hộ họ Trịnh. Các triều thần, hoảng sợ trước sự im lìm bất lực của nhà vua, bỏ triều đình để chạy đến phục vụ chúa Trịnh trẻ tuổi. Nhà chúa nắm lại quyền điều khiển mọi việc mạnh mẽ hơn bao giờ hết. Trong khi vua Lê trở lại với những vui thú và thế giới tối tăm của mình.
Tuy nhiên, Nhạc cảm thấy chật chội trong lãnh thổ chưa được tổ chức của mình. Những sự kiện xảy ra ở Đàng Ngoài cho thấy sự yếu kém của chính quyền miền Bắc mà cho đến giờ phút ấy Nhạc chưa hề có tư tưởng tỉ thí. Nhạc quyết tâm lợi dụng sự yếu kém này nhưng kế hoạch thì chưa rõ ràng dứt khoát. Vào lúc ấy, Nhạc chỉ tìm cách gây dựng lực lượng, củng cố vương quyền để mong có ngày cư xử ngang ngửa với vị chúa còn buộc vua Lê phải phụ thuộc. Phú Xuân, thủ phủ của Đàng Trong vẫn còn trong tay họ Trịnh, Nhạc muốn ra đấy, ngự trong lâu đài của họ Nguyễn, và được vua Lê thừa nhận là chúa Đàng Trong. Chẳng cần gì phải che đậy, Nhạc không ngần ngại vứt bỏ mặt nạ và đương đầu với thế lực của vì vương huyền bí đất An Nam.
Nhưng thái độ ấy buộc Nguyễn Văn Nhạc phải có một hành động quân sự tức thời. Nhạc giao cho Nguyễn Văn Huệ một đội quân tinh nhuệ, lệnh cho Huệ tiến công ra thành Phú Xuân thần thánh, kết hợp cùng với các tướng Vũ Văn Nhậm và Nguyễn Hữu Chỉnh mà Nhạc đã hiểu rõ khả năng chiến đấu qua vô số những trận chiến.
Phú Xuân lẽ ra có thể kháng cự một cuộc công kích dài lâu nhờ có sẵn kho lẫm dự trữ, đội quân đồn trú thiện chiến, và những phương tiện phòng ngự lợi hại. Kẻ bị vây lẽ ra có thể đợi quân cứu viện của Đàng Ngoài vào triệt hạ thế lực còn chưa ổn định của Tây Sơn. Nhưng tướng chỉ huy thành, vốn là người trước kia đã giao nộp thành cho quân Trịnh, nay lại mở cổng thành đón lực lượng công đồn mới sau vài ngày thương thảo.
Thành công này làm bốc lên lòng hăng hái của tướng Nguyễn Văn Huệ trẻ tuổi. Huệ tiếp tục theo đuổi mạnh mẽ cuộc tiến công, quyết định tấn công quân Trịnh ngay trên lãnh thổ Đàng Ngoài, bất chấp những cảnh báo của Nhạc, hãy còn chưa sẵn sàng để em trai mình dấn thân vào một cuộc phiêu lưu mà tham vọng ấy phải được thành tựu tùy thuộc vào quyết định của người chủ gia đình.
Để chinh phục lòng dân Đàng Ngoài, nơi mà quân Nam gây nên chiến tranh, Huệ xuất hiện như một người giải phóng vô vị lợi các vua Lê mà Huệ hứa sẽ giúp dứt bỏ mối phụ thuộc nhục nhã với họ Trịnh.
Huệ ra lệnh cho Hữu Chỉnh đợi mình tại Hiến Nam134 sau khi vượt qua Nghệ An và Thanh Hóa, rồi lợi dụng cơn gió thuận chiều, Huệ thân hành dong buồm ra xứ Nghệ và đánh tan quân Trịnh ở đấy, tiêu diệt các cứ điểm phòng vệ cảng mà không bị một tổn thất nào vì sự có mặt của quân Huệ đã làm cho đối phương kinh hoàng. Tuy nhiên, Huệ không hề chậm bước vì muốn tấn công gấp những lực lượng của đối phương trước khi họ Trịnh hoàn hồn. Huệ nhổ neo ra Bắc ngày 9 tháng 7 năm 1786, trong lúc ấy Hữu Chỉnh bằng đường bộ vững vàng và nhanh chóng ra theo với tiền quân. Ngày 11 tháng 7, thủy quân của Huệ có mặt tại bến Vị Hoàng và không ngờ rằng quân đồn trú ở đấy bỏ chạy trốn tan tác, để lại cho quân Tây Sơn bao nhiêu là kho gạo, vũ khí, quân lương.
Ngày 18 tháng 7, sau khi cho dân chúng thu lượm lúa gạo và sau khi đã chất đầy gạo lên thuyền bè các loại bắt được trong bến, em trai của Nguyễn Văn Nhạc dong buồm ra Hiến Nam. Triều đình Thăng Long, trước đó vẫn còn bất nhất, cuối cùng cũng hết kinh hoảng và tìm cách chặn quân Tây Sơn, đối đầu trên đường bộ cũng như đường thủy với tất cả lực lượng có được. Hai đạo quân giao chiến với nhau vào chiều tối ngày 19 tháng 7 và trận đánh chỉ dừng lại vào bình minh hôm sau.
Doanh trại quân Trịnh bị hạ, kinh đô bị bỏ ngỏ. Nhưng Huệ, đuối sức vì trận giao chiến đẫm máu mà binh lính của ông đã gian khổ nếm trải, không thể lợi dụng ngay thế thắng lợi, buộc phải tổ chức lại các đơn vị bị hao hụt quân số. Huệ chờ Hữu Chỉnh mang quân tiếp viện tới, trong lúc ấy quân Trịnh tập trung lại sau lũy tre bảo vệ Thăng Long. Cuối cùng, ngày 25 tháng 7, Hữu Chỉnh kết nối được với chủ tướng của mình. Quân Tây Sơn tiến về Thăng Long và họ nghĩ sẽ dễ dàng chiếm được, nhưng lại vấp phải quân Trịnh tuyệt vọng liều chết chiến đấu hết sức. Trận chiến diễn ra vô cùng khốc liệt, quân cố thủ liều chết ngay tại chỗ, nhưng cuối cùng cũng ngã gục trước một quân số đông hơn sau mười giờ chiến đấu dũng cảm. Chúa Trịnh [Khải] bại trận tự tử, trong khi đó quân chiến thắng tiến vào kinh đô của miền Bắc.
Thế là chỉ một tháng cũng đủ cho Huệ kết thúc thắng lợi trận chiến lẫy lừng kia. Toàn bộ vương quốc đã thay đổi chủ và vua Lê, công nhận tình trạng mới của sự việc, đón tiếp rầm rộ kẻ mà mới hôm qua hãy còn bị xem như một tên thảo khấu tầm thường. Nhà vua phong Nhạc là người bảo vệ chính thức ngai vàng135.
Tháng 9 năm 1786, vua Lê qua đời sau bốn mươi bảy năm trên ngôi136. Hoàng tử Lê Duy Khiêm nối ngôi lấy hiệu là Chiêu Thống137.
Việc nối ngôi xảy ra không gặp điều gì trở ngại, vì dân chúng vốn quý mến nhà Lê bày tỏ lòng thành kính tự nhiên với gia đình hoàng tộc, mà ở đó Huệ được xem như người giải phóng cho vương triều. Việc được lòng nhà Lê làm kẻ chiến thắng họ Trịnh bối rối. Nếu muốn, Huệ có thể hạ bệ Lê Duy Khiêm, như lời khuyên của Hữu Chỉnh, nhưng vì đã vượt quá mệnh lệnh của anh mình và lo sợ Nhạc tức giận, nên Huệ đâm ra do dự, chần chừ tránh né, và để cho hoàng đế Thái Đức có đủ thời gian kịp ra gặp mặt, làm tiêu tan mọi hy vọng của Huệ.
Vua xứ Đàng Trong [Nguyễn Nhạc] quả tình cho rằng chưa phải lúc trải rộng sức mạnh của mình trên toàn lãnh thổ. Họ Trịnh và họ Nguyễn đã biến mất, kể từ nay vua xứ Đàng Trong là đại biểu duy nhất cho sức lực của quốc gia, nhưng Nhạc còn cần sự hậu thuẫn về tinh thần của vua Lê chính thống, sự tin cậy của các quan và dân chúng để vững mạnh hơn. Mặt khác Nhạc còn nỗi lo về tham vọng của Huệ mà những chiến thắng đã đảo lộn quá sớm tình hình nội bộ vương quốc. Thế nên Nhạc đã tỏ một thái độ vô vị lợi, từ chối đề nghị của vua Lê cùng hoàng gia cai trị xứ Đàng Ngoài138, rồi ông rút về Phú Xuân cùng với em trai, sau khi đã ra lệnh cho Hữu Chỉnh ở lại Nghệ An139 bảo vệ đất nước, phòng những kẻ theo họ Trịnh quay trở lại và huấn luyện quân lính mới tuyển.
Nhưng quân Trịnh, tản mát từ khi Trịnh Khải chết, tìm được Trịnh Bồng140 là người trong dòng họ để tôn làm thủ lĩnh mới, rồi tiến về kinh đô tập hợp lại bất chấp những nỗ lực từ khước của vua Chiêu Thống. Nhà vua buộc phải nhượng bộ, trao trả cho Trịnh Bồng tước vị thừa kế của họ Trịnh. Nhưng vị chúa mới này bị Hữu Chỉnh đánh tan tại Bắc Ninh. Kể từ đó họ Trịnh biến mất vĩnh viễn.
Trong lúc ấy, Huệ và Nhạc lại bất hòa, sau khi đánh nhau để tranh sở hữu tài sản chung từ các cuộc chinh phạt, họ chia vương quốc làm ba miền. Anh cả giữ phần đất từ Quảng Nam vào đến cuối Bình Định, người thứ hai giữ phần đất phía bắc của Đàng Trong bao gồm thành Huế-Phú Xuân. Em út Lữ xưng vương ở vùng phía Hạ Đàng Trong là nơi bắt đầu có cuộc tranh chấp với Nguyễn Ánh141.
Cuộc chia phần vừa xong, Huệ bấy giờ có quyền làm chủ mọi hoạt động, tiến quân ra Thăng long lần thứ hai, thực hiện tham vọng bền bỉ của mình. Cộng sự trước kia là Hữu Chỉnh, tuân lệnh vua Lê đem quân ra chống nhưng bị Huệ nghiền nát lực lượng. Huệ vào thẳng kinh thành, chiếm giữ ngôi vị cai quản142.
Chiêu Thống chạy trốn qua Trung Hoa để cầu cứu viện. Hoàng đế nhà Thanh chấp thuận lời cầu xin, gửi một đạo quân đưa Chiêu Thống về lại ngai vàng. Nhưng Chiêu Thống không biết lợi dụng sự có mặt của quân đội đồng minh để mạnh mẽ đuổi theo kẻ địch. Sự hung bạo, những lỗi lầm lặp đi lặp lại, những cuộc trả thù man rợ được tiến hành với danh nghĩa nhà vua đã biến ông thành một vị vua bị căm ghét143. Cuối cùng, ông đã làm chính những kẻ bảo vệ mình mất kiên nhẫn, để cho quân Tây Sơn chiếm lại Thăng Long. Quân Thanh rối loạn đào thoát khỏi Đàng Ngoài. Chiêu Thống xin vua Thanh được tị nạn và từ đấy không bao giờ trở về quê hương nữa (1789)144.
Nguyễn Văn Huệ, kẻ chiến thắng, chiếm Thăng Long lần thứ ba.