Cô gái - rất kỳ lạ nếu gọi cô ta là Inara, khi ông đã biết đó không phải tên thật - vẫn còn ngủ, khuôn mặt vùi trong cổ áo khoác của ông, khi Victor đến và kiểm tra với các kĩ thuật viên trực đêm đang ngáp ngắn ngáp dài. Một trong các kĩ thuật viên đưa cho ông một chồng tin nhắn: các bản báo cáo từ bệnh viện xuyên suốt đêm qua, từ các đặc vụ ở biệt thự, tiểu sử của càng nhiều người liên quan càng tốt. Ông lật qua hồ sơ trong lúc uống cà phê từ căng tin - chỉ khá hơn tí ti so với thứ nước vẩn đục đáng ngờ còn nằm trong bình ở bếp của đội - cố khớp những bức ảnh với tên người trong câu chuyện của cô gái.
Mới sáu giờ sáng Yvonne đã đi vào, hai mắt sưng húp vì thiếu ngủ. “Buổi sáng tốt lành, đặc vụ Hanoverian.”
“Ca trực của cô tám giờ mới bắt đầu cơ mà; sao cô không ngủ đi?”
Cô chuyên viên chỉ lắc đầu. “Không ngủ nổi. Tôi đã ngồi suốt đêm trong phòng con gái tôi, đu đưa cái ghế và nhìn nó đăm đăm. Nếu có kẻ nào…” Cô lại lắc đầu lần nữa, lần này gay gắt hơn, như đang rũ hết mọi ý nghĩ tồi tệ. “Tôi đi làm ngay khi mẹ chồng tôi đủ tỉnh táo để chăm cháu.”
Ông định bảo cô ấy tìm một văn phòng mà chợp mắt, nhưng ông không nghĩ có bất kì ai trong đội này ngủ ngon đêm qua. Ông chắc chắn là không rồi, bởi bị ám ảnh với những bức hình chụp hành lang và kí ức xa xôi về các cô con gái của mình, chạy quanh sân trong bộ trang phục cánh bướm. Rất dễ để những cơn ác mộng bắt kịp một khi bạn không có gì để làm.
Victor nhấc cái túi vải dưới chân lên. “Tôi có bánh cuộn quế vừa nướng cho cô nếu cô giúp tôi một việc này,” ông nói và nhìn cô đứng bật dậy với nguồn năng lượng bất ngờ. “Holly cho tôi quần áo để đưa Inara; cô có thể dẫn cô ấy xuống phòng thay đồ và để cô ấy tắm được không?”
“Con gái anh đúng là một thiên thần.” Cô liếc nhìn cô gái đang ngủ qua cửa kính. “Mặc dù tôi ghét phải đánh thức cô ấy.”
“Là cô thì tốt hơn Eddison.”
Cô bước ra khỏi phòng kĩ thuật mà không nói thêm lời nào và một lát sau, cánh cửa dẫn tới phòng thẩm vấn mở ra chỉ với một tiếng kẹt khẽ khàng nhất.
Thế là đủ; cô gái ngồi lên thành một đống bù xù tóc và chăn, lưng cô dựa vào tường đến khi xác định được Yvonne, người đang đứng ở ngưỡng cửa với hai bàn tay mở rộng và giơ ra. Họ nhìn nhau chằm chằm đến khi Yvonne cố nở nụ cười nhẹ. “Phản ứng tốt đấy.”
“Thỉnh thoảng hắn lại đứng ở ngưỡng cửa; lúc nào hắn cũng có vẻ thất vọng nếu chị không biết hắn ở đó.” Cô ta ngáp và duỗi người, các khớp xương kêu răng rắc vì cái cáng không thoải mái.
“Chúng tôi nghĩ cô có thể thích tắm,” Yvonne nói và giơ ra chiếc túi vải. “Chúng tôi có ít quần áo sẽ rất vừa với cô và cả xà phòng nữa.”
“Tôi có thể hôn chị nếu tôi là kiểu người như thế.” Trên đường ra cửa, cô ta gõ vào lớp kính. “Cảm ơn ông, đặc vụ FBI Victor Hanoverian.”
Ông cười nhưng không cố trả lời.
Trong lúc cô gái đi vắng, ông vào phòng thẩm vấn để tiếp tục đọc lướt qua các tin tức mới. Một cô gái khác đã chết trong đêm, nhưng những người còn lại đều có thể sống sót. Tính cả Inara là mười ba người. Mười ba người sống sót. Có lẽ là mười bốn, còn tùy cô ta có thể kể gì về chàng trai. Nếu cậu ta là con của Thợ Làm Vườn, liệu cậu ta có dự phần vào việc mà cha và anh đã làm không?
Cô ta còn đang trong phòng thay đồ thì Eddison đến, mày râu nhẵn nhụi và lần này mặc một bộ vest. Cậu ta thả một cái hộp bánh quy bơ lên bàn. “Cô ta đâu?”
“Yvonne đưa cô ấy xuống phòng tắm.”
“Ông nghĩ hôm nay cô ta có kể gì cho chúng ta không?”
“Theo cách riêng của cô ấy.”
Một cái khịt mũi cho ông biết đồng sự của ông nghĩ gì về ý tưởng đó.
“À thì.” Ông đưa cho cậu ta chồng giấy tờ ông đã đọc xong và trong một lúc, chỉ có tiếng sột soạt của những trang giấy và tiếng húp thảng hoặc từ cốc cà phê.
“Ramirez nói Thượng nghị sĩ Kingsley đã cắm chốt ở hành lang bệnh viện,” Eddison nói mấy phút sau đó.
“Thấy rồi.”
“Cô ấy bảo cô con gái không muốn gặp thượng nghị sĩ; tuyên bố cô ta chưa sẵn sàng.”
“Thấy cả chuyện đó rồi.” Victor thả mấy tờ giấy của ông lên bàn và dụi mắt. “Cậu có trách cô bé được không? Cô ấy lớn lên cùng máy quay phim, mọi việc cô làm đều phản ánh lên bà mẹ. Cô ấy biết - có lẽ là rõ hơn bất kì người nào khác - rằng cơn lũ truyền thông đang chờ đón họ. Gặp mẹ cô ấy chỉ là bước khởi đầu thôi.”
“Có bao giờ anh thắc mắc liệu chúng ta có thật sự là người tốt?”
“Đừng để cô ấy tác động đến cậu.” Ông cười trước ánh nhìn thảng thốt của đồng sự. “Chúng ta có một công việc hoàn hảo không? Không. Chúng ta có làm một việc hoàn hảo không? Không nốt. Chuyện ấy là bất khả thi. Nhưng chúng ta làm việc của mình và đến cuối cùng, chúng ta làm nhiều việc tốt hơn hẳn gây hại. Inara rất giỏi né tránh; cậu không được để cô ấy lay chuyển mình.”
Eddison đọc một bản báo cáo khác trước khi nói thêm điều gì. “Patrice Kingsley - Ravenna - bảo Ramirez rằng cô ấy muốn nói chuyện với Maya trước khi quyết định có gặp mẹ hay không.”
“Muốn xin lời khuyên à? Hay muốn ai đó quyết định thay mình?”
“Không nói. Vic…”
Victor chờ cậu ta nói nốt.
“Làm sao chúng ta biết cô ta không giống Lorraine? Cô ta chăm sóc những cô gái khác. Làm sao chúng ta biết việc ấy không phải là để lấy lòng Thợ Làm Vườn?”
“Chúng ta không biết,” Vic bảo. “Chưa. Dù cách này hay cách khác, chúng ta cũng sẽ tìm ra.”
“Trước khi chết vì tuổi già sức yếu hả?”
Vị đặc vụ lớn tuổi hơn đảo mắt và quay lại với chồng giấy tờ.
Cuối cùng người bước vào với Yvonne lại là một cô gái khác hẳn, tóc cô đã được chải thẳng xuống tận hông. Quần bò không vừa lắm, chật ních chỗ hông cô và khuy không cài để nới rộng ra thêm một chút, nhưng các lớp viền áo bên trên đã gần như che lấp hết phần đó, và chiếc áo len màu lá mạ ôm ấp những đường cong mềm mại. Đôi dép tông mỏng khẽ loẹt quẹt trên sàn nhà trong lúc cô bước đi. Lớp băng gạc đã được tháo bỏ và Victor nhăn mặt trước những vết bỏng tím đỏ quấn quanh hai bàn tay cô, điểm thêm các vết rách từ kính và vụn gỗ đâm vào trong lúc họ bỏ trốn.
Cô ta trông theo ánh mắt ông xuống hai bàn tay mình và giơ chúng lên để nhìn kĩ hơn, đồng thời thả người xuống chiếc ghế ở đầu bàn bên kia. “Cảm giác còn đau hơn cả bề ngoài cơ, nhưng các bác sĩ bảo rằng miễn là tôi không ngốc nghếch, tôi sẽ không gặp tổn thất nào về chức năng đâu.”
“Các phần còn lại của cô thì thế nào?”
“Có vài chỗ bầm tím đáng yêu, các vết khâu ửng hồng và sưng một chút quanh mép, nhưng không hẳn là mưng mủ. Lúc nào đó, bác sĩ có lẽ nên xem xét chỗ ấy. Nhưng, ông biết đấy, tôi còn sống, riêng phần đó đã hơn rất nhiều người mà tôi biết rồi.”
Cô ta đang chờ đợi ông bắt chuyện về chàng trai. Ông có thể thấy điều đó trên mặt cô, trong sự căng thẳng ở đôi vai, trong cái cách các ngón tay bên này ấn vào sẹo ở bàn tay bên kia. Cô ta đã chuẩn bị cho chuyện đó. Vì vậy thay vì hỏi, ông đẩy cái cốc còn lại qua - sô cô la nóng thay vì cà phê, cân nhắc đến vẻ chán ghét của cô với cà phê hôm qua - và mở lớp giấy bạc bọc bánh quế. Ông đưa một cái cho Yvonne, người lẩm bẩm câu cảm ơn rồi rút lui vào phòng quan sát.
Lông mày Inara nhíu lại với nhau trước hình ảnh ấy, đầu cô nghiêng nghiêng như một chú chim lúc săm soi nội dung bên trong. “Loại cửa hàng bánh ngọt nào mà lại gói đồ bằng giấy nhôm thế kia?”
“Cửa hàng được biết đến là mẹ tôi.”
“Mẹ ông vẫn còn làm bữa sáng cho ông?” Miệng cô mấp máy thành một kiểu cười với ít vẻ ngạc nhiên hơn. “Bà ấy có làm luôn cả bữa trưa đặt trong túi giấy nâu không?”
“Thậm chí còn viết lời nhắn, bảo tôi hãy lựa chọn đúng vào hôm nay,” ông nói dối không chớp mắt và cô ta phải bặm môi để ngăn nụ cười khỏi lan rộng ra. “Nhưng cô chưa bao giờ được làm thế, đúng không?” Ông nói tiếp, càng dịu dàng hơn.
“Một lần,” cô ta chỉnh lại, và giờ thì không còn chút hài hước nào nữa. “Cặp vợ chồng ở bên kia phố đã đưa tôi ra bến xe buýt ấy, nhớ không? Bà ấy đã làm bữa trưa cho tôi, và bên trong có một tờ giấy nhắn, nói rằng họ vui mừng được biết tôi như thế nào, họ sẽ nhớ tôi ra sao. Số điện thoại của họ ở đó, và họ bảo tôi hãy gọi khi nào tới chỗ bà để cho họ biết là tôi đã an toàn. Hãy gọi bất kể khi nào tôi muốn, chỉ để nói chuyện. Họ kí tên bằng những cái ôm, cả hai người, thậm chí cả con bé cũng có một hình loằng ngoằng bằng bút sáp ở cuối thư.”
“Cô đã không gọi phải không?”
“Một lần,” cô ta lại nói, gần như thì thầm. Đầu ngón tay cô lần theo từng đường cắt, từng vết xước. “Khi tôi tới bến xe gần nhà bà, tôi đã gọi để bảo họ rằng tôi tới nơi rồi. Họ đòi nói chuyện với bà, nhưng tôi bảo bà đang gọi taxi. Họ bảo tôi cứ gọi lại bất kể khi nào tôi muốn. Tôi đứng ở vỉa hè bên xe, chờ một chiếc taxi, và cứ nhìn chằm chằm vào tờ giấy ấy một cách ngốc nghếch. Rồi tôi ném nó đi.”
“Tại sao?”
“Bởi vì giữ lại nó quá giống như tự làm đau mình.” Cô ta ngồi thẳng trên ghế, bắt tréo chân chỗ đầu gối và tựa khuỷu tay vào bàn. “Dường như trong đầu ông có một hình ảnh lạ lùng về tôi là đứa trẻ lạc lối, kiểu tôi đã bị ném ra lề đường như một túi rác, hay thú hoang bị đâm chết, nhưng lũ trẻ như tôi ư? Chúng tôi không lạc. Có thể chúng tôi là những đứa duy nhất không bao giờ lạc. Chúng tôi luôn biết chính xác mình ở đâu và có thể đi đâu. Và không thể đi đâu.”
Victor lắc đầu, không sẵn sàng tranh cãi điểm này nhưng cũng không thể đồng ý với nó. “Tại sao các cô gái ở New York không báo cáo việc cô mất tích?”
Cô ta đảo mắt. “Chúng tôi không có kiểu quan hệ ấy.”
“Nhưng các cô là bạn mà.”
“Phải. Những người bạn đều đang chạy trốn khỏi những thứ khác. Trước khi tôi chuyển vào, chiếc giường đó trống bởi cô gái cuối cùng đã đột nhiên dọn đồ và đi mất. Đuổi theo sát nút cô ta là một ông chú tức điên, muốn biết cô đã làm gì với đứa bé mà lão cưỡng bức cô đến có thai ba năm trước. Bất kể ông có trốn cẩn thận đến đâu, luôn luôn có ai đó có thể tìm ra ông.”
“Chỉ khi họ đang tìm thôi.”
“Hoặc nếu ông thực sự không may tới mức đó.”
“Ý cô là sao?” Eddison hỏi.
“Sao, anh nghĩ tôi muốn Thợ Làm Vườn bắt cóc tôi sao? Cả một thành phố để tôi chìm nghỉm, nhưng hắn vẫn tìm được tôi.”
“Việc đó không giải thích…”
“Có đấy,” cô ta nói đơn giản. “Nếu anh là một loại người cụ thể.”
Victor uống cà phê, cố quyết định xem nên đẩy cuộc nói chuyện này theo hướng cần thiết hay cứ mặc nó theo hướng hên xui. “Kiểu người nào kia, Inara?” Dần dà ông cũng thúc ép.
“Nếu ông mong bị nhìn lướt qua hoặc bỏ quên, ít nhất lúc nào ông cũng phải hơi ngạc nhiên khi có ai đó nhớ ra ông. Lúc nào ông cũng phải ở ngoài tầm hiểu thấu những sinh vật kì lạ kia, cái đám thực sự mong ngóng người ta nhớ tới mình và quay lại.”
Sau đó cô ta từ tốn tận hưởng thời gian của mình, ăn bánh cuộn quế, nhưng Victor có thể nói cô ta còn chưa kết thúc với dòng suy nghĩ ấy. Có lẽ nó còn chưa được thành hình trọn vẹn - con gái út của ông đôi khi cũng làm vậy, đang nói thì ngưng bặt cho đến khi con bé nghĩ ra những câu còn lại. Ông không chắc đó có phải lí do của Inara không, nhưng đó vẫn là kiểu khuôn mẫu mà ông biết nên ông đá Eddison dưới gầm bàn để bảo cậu ta im lặng khi miệng đồng sự của ông há ra định nói.
Eddison lừ mắt với ông và đẩy ghế của mình ra xa vài phân, nhưng không nói gì.
“Các con gái của chị Sophia mong mẹ chúng quay về,” cô ta khẽ nói tiếp. Cô liếm lớp đường trên mấy ngón tay bị thương của mình và nhăn mặt. “Chúng đã ở cùng gia đình bố mẹ nuôi của mình được… chà, chúng đã ở đó gần bốn năm khi tôi bị bắt. Bất kì ai cũng sẽ hiểu nếu chúng từ bỏ hi vọng. Nhưng chúng không từ bỏ. Bất kể chuyện gì xảy ra, bất kể sự việc có tệ thế nào, chúng cũng biết là mẹ chúng đang đấu tranh vì chúng. Chúng biết chị ấy sẽ luôn luôn, luôn luôn quay về vì chúng. Tôi không hiểu. Tôi không nghĩ mình sẽ có lúc hiểu. Nhưng mà, tôi đã bao giờ có một Sophia đâu.”
“Nhưng cô có Sophia mà.”
“Đã từng,” cô chữa lại. “Và chuyện ấy không giống nhau. Tôi không phải con gái chị ấy.”
“Nhưng là gia đình cô ấy. Phải không?”
“Bạn bè. Không giống nhau.”
Ông không chắc là mình tin điều đó. Ông cũng không chắc cô ta tin. Có lẽ với cô ta, giả vờ như mình tin vào điều đó thì dễ dàng hơn.
“Các con gái ông luôn tin rằng ông sẽ về nhà, đúng vậy không, đặc vụ Hanoverian?” Cô vuốt một tay dọc cánh tay áo len mềm mại. “Họ sợ một ngày kia ông có thể chết trong lúc làm nhiệm vụ, nhưng họ không tin bất kì thứ gì có thể ngăn ông lại khi ông còn sống.”
“Giữ mồm tránh xa các con gái anh ấy ra,” Eddison quát, và cô ta cười mỉa.
“Anh có thể trông thấy con gái ông ấy trong mắt ông ấy mỗi lần ông ấy nhìn tôi hay một trong mấy bức ảnh kia. Họ chính là lí do ông ấy làm việc đang làm.”
“Đúng thế,” Victor nói và uống nốt cà phê. “Và một trong số chúng đã gửi tới một thứ khác cho cô.” Ông thò tay vào túi và lấy ra một thỏi son bóng màu dâu đậm. “Cái này từ con gái lớn của tôi, cũng là đứa đã cho bộ quần áo.”
Nó làm cô gái giật mình mỉm cười, một nụ cười thật sự làm cả khuôn mặt cô bừng sáng trong giây lát, đôi mắt lấm tấm màu hổ phách của cô nheo lại. “Son bóng.”
“Con bé bảo đó là kiểu của con gái.”
“Tôi hi vọng vậy; màu này cực kì không tôn da.” Rụt rè mở mắt, cô gái bóp ống son cho đến khi một chấm màu lấp lánh rỉ ra. Cô lăn nó dọc môi dưới, tô môi trên mà không làm nhòe ra hay thiếu một điểm nào bất chấp việc mắt cô không hề đảo tới chỗ cái gương một chiều. “Chúng tôi thường trang điểm trên tàu trên đường đi làm. Hầu hết chúng tôi có thể trang điểm cả mặt mà không cần soi gương.”
“Tôi phải thừa nhận đó không phải việc mà tôi có bao giờ muốn thử,” ông nói khô khốc.
Eddison xốc thẳng chồng giấy, so mép của chúng chính xác cạnh mép bàn. Victor nhìn cậu ta, đã quá quen với sự cưỡng chế ấy nhưng vẫn còn buồn cười vì nó. Eddison trông thấy ông đang nhìn và cau mày.
“Inara,” cuối cùng Victor nói, và cô gái miễn cưỡng mở mắt. “Chúng ta cần bắt đầu.”
“Des,” cô ta thở dài.
Ông gật đầu. “Hãy kể tôi nghe về Desmond.”
Tôi là người duy nhất thích tìm đến những chỗ cao bên trong Vườn nên tôi là người duy nhất tìm được khu vườn kia. Bên trên rìa đá nhỏ, có một khóm cây nhỏ như thế này - và khi dùng từ khóm, ý tôi là năm cây - mọc thẳng lên tận trần kính. Ít nhất hai lần mỗi tuần, tôi trèo lên một trong mấy cái cây ấy, đứng lên những cành cao nhất có thể chịu nổi sức nặng của mình và áp má vào kính. Đôi khi nhắm mắt lại, tôi có thể giả vờ mình đang ở ngoài cầu thang thoát hiểm của chúng tôi, tựa vào dãy cửa sổ, lắng nghe chị Sophia nói chuyện về các con gái chị hay nghe tiếng một cậu trai trong một tòa nhà khác đang chơi vĩ cầm, Kathryn thì đang ngồi cạnh tôi. Ở phía trước và bên tay trái, tôi có thể nhìn thấy gần hết Vườn, chỉ trừ các hành lang bao quanh chúng tôi và những thứ được mỏm đá che khuất tầm mắt. Vào buổi chiều, tôi có thể trông thấy các cô gái đang chơi trò đuổi bắt hay trốn tìm dọc con suối nhỏ, một, hai cô thả mình trong cái hồ hay ngồi giữa đám đá hoặc bụi cây, với những cuốn sách, trò giải ô chữ và những thứ khác nữa.
Nhưng tôi cũng có thể trông ra khỏi Vườn, dù chỉ một chút. Theo tôi được biết, tòa nhà kính mà chúng tôi gọi là Vườn này thực ra là một trong hai cái, cái này được đặt bên trong cái kia như những con búp bê Nga vậy. Nhà kính của chúng tôi là cái nằm giữa, cao không tưởng, còn các hành lang bao chung quanh nó thành một hình vuông. Trần nhà trong phòng chúng tôi không thực sự cao lắm, nhưng các bức tường dâng lên mãi tuốt ngọn cây trên tận mỏm đá, bên trên màu đen và phẳng lì, còn ở mặt kia lại một cái trần kính khác, đổ nghiêng bên trên một nhà kính khác. Bản thân nó giống một đường bao hơn là hình vuông đúng nghĩa, những lối đi rộng rãi được trồng cây xanh hai bên - ít nhất ở mé mà tôi nhìn được. Rất khó trông ra, kể cả từ trên ngọn cây thế này. Chỉ là một vệt chỗ này chỗ kia, nơi tôi đứng đúng góc. Trong cái nhà kính đó mới là thế giới thực, với những Thợ Làm Vườn mà không ai phải trốn tránh và những cánh cửa dẫn ra Bên ngoài, nơi bốn mùa thay đổi và sinh mạng không bị đếm ngược tới năm hai mươi mốt tuổi.
Thế giới thực không biết Thợ Làm Vườn, chỉ biết một người đàn ông, từ con mắt người-không-phải-Bướm, có liên quan đến nghệ thuật và từ thiện, cũng như một kiểu đầu tư mạo hiểm - hay đúng hơn là nhiều kiểu đầu tư mạo hiểm, từ những gì mà hắn thi thoảng hé lộ. Người đàn ông có một ngôi nhà ở đâu đó trên mảnh đất này, kể cả từ trên ngọn cây cũng không trông thấy. Người đàn ông có một bà vợ và một gia đình.
À thì hắn có Avery, và rõ ràng là thằng khốn ấy phải từ đâu chui ra chứ, thế nhưng…
Còn có một bà vợ.
Và bà ta vẫn cùng Thợ Làm Vườn đi bộ ở nhà kính ngoài gần như mọi buổi chiều từ hai đến ba giờ, bàn tay bà ta vòng qua khuỷu tay hắn để nương tựa. Bà ta gầy gò tới mức gần như người bệnh, với mái tóc đen và phong cách không chê vào đâu được. Từ tít đầu này, đó là tất cả những gì tôi nhìn được. Họ đi bộ chậm rãi xuống góc hình vuông, thỉnh thoảng dừng chỗ này chỗ kia để ngắm một bông hoa hay cái cây rõ hơn, rồi lại chậm rãi bước đi đến khi ra xa khỏi tầm nhìn hạn chế của tôi. Họ còn quay lại vài lần nữa trước khi kết thúc cuốc đi dạo.
Bà ta là người quyết định tốc độ của họ và bất kể khi nào bà ta bị tụt lại, hắn sẽ quay sang đầy quan tâm. Đó cũng là sự dịu dàng mà hắn đã tỏ bày với các cô Bướm của mình, nhẹ nhàng và thành thật theo cái cách làm tôi nổi cả da gà.
Với sự dịu dàng ấy, hắn đã chạm vào lớp kính của các bể trưng bày hay khóc bên xác Evita. Nó nằm trong cái cách hai bàn tay hắn run lên khi trông thấy những gì Avery đã gây ra cho tôi.
Đó là tình yêu, theo kiểu hắn biết.
Hai, ba lần mỗi tuần, Avery đi cùng họ, lầm lũi đằng sau và hiếm khi ở lại trọn một giờ. Gã thường chỉ đi bộ một vòng rồi bỏ vào Vườn, nơi gã kiếm tìm một cô nào đó ngọt ngào và vô tội, và thật dễ dàng trao cho gã nỗi sợ mà gã thèm khát.
Hai lần mỗi tuần, trong hai ngày liên tiếp trùng khớp với lịch bảo dưỡng buổi sáng của chúng tôi, còn có một đứa con trai trẻ hơn, mang màu tóc và dáng vẻ mảnh mai của bà mẹ. Như với mẹ cậu ta, các chi tiết không rõ do khoảng cách, nhưng rõ ràng bà ta mê mẩn cậu. Khi cậu ta đi cùng, bà ta chen giữa chồng và cậu ta.
Suốt nhiều tháng, tôi đã quan sát bọn họ mà không bị trông thấy, cho đến một ngày kia, Thợ Làm Vườn ngẩng lên.
Nhìn thẳng vào tôi.
Tôi vẫn để nguyên má áp vào lớp kính như thế, cuộn tròn lại trong đám cành lá trên cái cây của tôi và không cử động.
Phải ba ngày sau chúng tôi mới nói về chuyện đó, và còn ở bên trên giường của một người lạ, thậm chí không phải là một cô Bướm.
Victor hít vào thật sâu, gạt đi hình ảnh đời sống bình thường quái dị ấy. Hầu hết những tên điên mà ông đã bắt dường như đều rất bình thường ở bên ngoài. “Hắn đã bắt cóc một cô gái khác ư?”
“Hắn bắt vài người mỗi năm, nhưng không bao giờ trước khi cô gái tiền nhiệm đã được đánh dấu hoàn toàn và ổn định cuộc sống ít nhiều.”
“Tại sao?”
“Tại sao hắn bắt mấy người một năm ư? Hay tại sao hắn chờ giữa các lần?”
“Đúng vậy,” Victor đáp, và cô ta cười mỉa.
“Vì lí do thứ nhất - hao mòn nguồn lực. Hắn không bao giờ bắt nhiều người hơn mức Vườn có thể đáp ứng, vì thế nói chung hắn chỉ đi mua sắm khi nào một trong các cô Bướm bị chết. Không phải lúc nào cũng thế, nhưng thường xuyên. Còn thứ hai…” Cô ta nhún vai và xòe hai lòng bàn tay úp lên mặt bàn, ngắm những đốm da cháy ở khắp mu bàn tay. “Một cô gái mới là khoảng thời gian căng thẳng trong Vườn. Tất cả mọi người đều nhấp nhổm, nhớ lại hồi chính mình bị bắt và sự thể ra sao khi họ tỉnh dậy lần đầu tiên, rồi những giọt nước mắt không thể tránh khỏi lại càng làm mọi chuyện tệ hơn. Một khi cô gái mới đã ổn định, mọi thứ sẽ lắng xuống trong một thời gian, cho đến cái chết tiếp theo, cặp cánh tiếp theo vào bể trưng bày, cô gái mới tiếp theo. Thợ Làm Vườn luôn luôn - gần như luôn luôn - nhạy cảm đặc biệt với tâm trạng chung trong Vườn.”
“Đó có phải lí do hắn để cho Lyonette đóng vai trò như người hướng dẫn không?”
“Vì việc ấy có ích, đúng vậy.”
“Vậy làm sao lại đến lượt cô làm việc ấy?”
“Bởi vì ai đó phải làm, và Bliss thì quá tức giận, những người còn lại quá nhút nhát.”
Người đầu tiên mà tôi giúp không phải cô gái ngay sau tôi mà là cô sau nữa, vì Avery đã mang bệnh cúm vào Vườn và nó đã gây ra cả một trận phong ba với các cô gái.
Lyonette ốm lê ốm lết. Chị ấy tái nhợt và đổ mồ hôi, mái tóc nâu vàng bết vào cổ và mặt, bồn cầu thì trở thành người bạn thân thiết hơn tôi biết chừng nào. Bliss và tôi bảo chị hãy nằm yên trên giường, cứ để Thợ Làm Vườn tự xử đống hỗn độn của hắn một lần, nhưng ngay khi các bức tường nhấc lên để chúng tôi ra khỏi phòng, chị ấy đã mặc lại quần áo và lảo đảo ra ngoài hành lang.
Vừa chửi thề tôi vừa mặc váy và chạy theo chị cho đến khi có thể vòng một cánh tay chị lên vai mình. Chị ấy chóng mặt đến nỗi không thể bước đi mà không dùng một tay chống vào tường. Chị không ngần ngại né những bể trưng bày như vẫn thường làm, thậm chí sau gần năm năm. “Sao cứ phải là chị cơ chứ?”
“Bởi vì ai đó phải làm,” chị thì thào và dừng lại để ngăn cơn buồn nôn. Một lần nữa. Mặc dù chị ấy đã phải quỳ trước bồn cầu trong phần lớn thời gian của mười tám tiếng vừa qua.
Tôi không đồng ý, ở thời điểm ấy thì không.
Có lẽ là không bao giờ.
Thợ Làm Vườn rất, rất giỏi đoán tuổi, giỏi hơn bất kì bà đồng digan nào mà tôi từng nghe nói tới. Vài cô gái vào vườn ở tuổi mười bảy, nhưng hầu hết là mười sáu. Hắn không bắt cóc tụi trẻ hơn - và nếu hắn nghĩ có khả năng mười lăm tuổi đổ xuống, hắn bảo mình sẽ chọn một người khác - nhưng hắn cố không chọn già hơn. Tôi đoán hắn muốn có trọn vẹn năm năm mỗi khi có thể.
Những thứ gã đàn ông ấy cảm thấy thoải mái để chia sẻ với các con tin của mình… hay có lẽ chỉ với tôi.
Cô gái mới nằm trong căn phòng cũng trống không y như nơi tôi đã tỉnh lại lần đầu. Phòng tôi dần dà đã bắt đầu tích tụ các điểm nhấn cá nhân, nhưng lúc này thì cô ấy chỉ có một cái ga chun xám thô kệch và không còn gì khác. Da cô ấy tối màu và khi kết hợp cùng các đường nét khác, tôi đoán có một sự hòa trộn chủng tộc: Mexico và châu Phi, như sau này tôi sẽ biết. Cô ấy không cao hơn Bliss là bao, và ngoài chuyện có một bộ ngực trông như thể một món quà ngày quinceanera, cô ấy gầy như cây sậy. Những cái lỗ nhỏ hành quân lên hết tai bên này và gần hết tai bên kia. Một cái lỗ khác ở rìa cánh mũi và cả một cái lỗ ở quanh rốn, gợi ý rằng chúng cũng đã được xỏ khuyên.
Buổi lễ mừng tuổi mười lăm của các cô gái gốc Mexico.
“Sao hắn phải tháo hết ra thế?”
“Có thể vì hắn nghĩ chúng xấu xí,” Lyonette rên lên, sụp xuống sàn bên cạnh hố ga không nắp đậy.
“Tai em có lỗ khuyên đôi khi em tới. Giờ vẫn còn này.”
“Có thể hắn nghĩ cái của em đẳng cấp.”
“Thêm cả cái khuyên ở vành tai phải nữa.”
“Maya, đừng có lằng nhằng nữa. Thế này đã khổ lắm rồi, được chưa?”
Kì lạ thay, chính câu đó đã đủ để ngăn tôi lại. Không chỉ rõ ràng là chị ấy đang rất khổ sở vào thời điểm bấy giờ. Mà còn vì một ẩn ý nữa. Cố gắng hiểu tại sao Thợ Làm Vườn làm những việc đó là một hoạt động vô ích, ngoài ra còn hoàn toàn không cần thiết nữa. Chúng tôi không cần biết tại sao. Chúng tôi chỉ cần biết hắn làm gì thôi.
“Không phải chị có thể đi được đâu đâu, nhưng cứ chờ ở đây.”
Chị ấy đập tay và nhắm mắt lại.
Có hai chiếc tủ lạnh trong căn bếp thông với phòng ăn của chúng tôi. Một cái đựng các nguyên liệu nấu ăn cho chúng tôi và lúc nào cũng bị khóa, Lorraine cầm chiếc chìa duy nhất. Cái kia đựng các loại đồ uống và đồ ăn vặt mà chúng tôi được phép ăn giữa các bữa chính. Tôi chọn lấy hai chai, nước cho Lyonette và nước hoa quả cho tôi, rồi chôm một cuốn sách từ thư viện để đọc to lên cho chị ấy nghe trong lúc chờ cô gái mới tỉnh dậy.
“Có cả một thư viện ở đó à?” Eddison hỏi một cách khó tin.
“Có chứ. Hắn muốn chúng tôi được vui khi ở đó. Điều ấy có nghĩa là chúng tôi phải có việc mà làm.”
“Hắn cho các cô loại sách vở gì?”
“Thực ra là bất kì cái gì chúng tôi đòi.” Cô ta nhún vai và ngồi lại trên ghế, hai tay khoanh hờ trước ngực. “Đầu tiên hầu như chỉ có sách kinh điển, nhưng những người thực sự thích đọc sách trong số chúng tôi bắt đầu viết một danh mục mong muốn để ở cạnh cửa, và thi thoảng hắn lại thêm vào khoảng vài chục cuốn. Vài người chúng tôi còn có những cuốn sách riêng, quà tặng từ hắn, được giữ lại trong phòng.
“Và cô là một trong số những độc giả ấy.”
Cô gái bắn cho cậu ta cái nhìn khinh miệt, rồi cân nhắc lại. “Ồ phải rồi, lúc nói đến đoạn ấy anh đã không ở đây.”
“Đoạn nào?”
“Đoạn mà tôi giải thích việc sống ở trong Vườn thực sự buồn chán muốn chết.”
“Nếu đó mà là chán thì rõ ràng cô đã không làm đúng,” cậu ta lẩm bẩm và làm cô gái phá ra cười.
“Khi nó là lựa chọn của tôi thì không chán,” cô ta thừa nhận. “Nhưng ấy là chuyện trước Vườn.”
Victor biết ông nên lôi câu chuyện quay về câu hỏi chính, nhưng hình ảnh hai người bọn họ đồng thuận về một việc gì đó quả thực quá hấp dẫn nên ông mặc kệ, thậm chí lờ đi dấu hiệu nói dối thoáng qua trên mặt cô gái.
“Và tôi đoán cuốn yêu thích của cô là Poe?”
“Ồ không, Poe có một mục đích: để làm phân tâm. Tôi thích truyện cổ tích. Không phải loại sến chảy nước của Disney đâu, mà là các phiên bản đã ‘diệt khuẩn’ của Perrault kia. Tôi thích những câu chuyện thật hơn, khi điều khủng khiếp xảy ra cho tất cả mọi người và anh thực sự hiểu rằng nó không dành cho trẻ em.”
“Không ảo tưởng?” Victor hỏi, và cô ta gật đầu.
“Chính xác.”
Cô gái mới rất lâu mới tỉnh lại, đủ lâu để ngay cả Lyonette cũng cân nhắc đến chuyện gọi Lorraine. Tôi đã thuyết phục chị ấy không làm vậy. Nếu cô gái kia có sắp chết vì thuốc mê đi nữa thì một y tá cũng chẳng làm gì được để ngăn lại và bản mặt dúm dó của mụ khốn ấy không phải là thứ đầu tiên mà tôi sẽ muốn thấy. Lyonette dùng câu ấy để ép buộc tôi thành gương mặt đầu tiên mà cô gái mới trông thấy.
Xét đến tình cảnh Lyonette trông như người chết được ủ ấm lại, thậm chí tôi còn không tranh cãi… nhiều lắm.
Mãi cuối chiều cô gái cuối cùng mới ngọ nguậy và tôi gập cuốn Oliver Twist lên một ngón tay để xem cô ấy có thực sự tỉnh không. Chúng tôi có thêm khoảng hai giờ đọc sách nữa trước khi ông có thể coi là cô ấy tỉnh táo đôi chút. Theo các hướng dẫn của Lyonette, tôi rót một cốc nước để sẵn và vò nước vài cái khăn để giúp cô ta đỡ đau đầu. Khi tôi gập một cái khăn dưới cổ cô gái, cô ta đánh vào tay tôi và chửi thề bằng tiếng Tây Ban Nha.
Tốt thôi.
Dần dà cô ấy cũng tập trung trí óc đủ để lột mấy cái khăn ra khỏi mặt và cố ngồi dậy, cả người cô lảo đảo vì cơn chóng mặt vẫn còn mạnh.
“Cẩn thận đấy,” tôi lặng lẽ nói. “Có ít nước đây, nó sẽ giúp ích.”
“Tránh xa tao ra, đồ khốn nạn biến thái!”
“Tôi không phải là người đã bắt cóc cô nên cô khỏi phải chửi. Tùy cô muốn uống nước và thuốc aspirin hay chết quách luôn, cô chọn đi.”
Lyonette rên lên. “Maya.”
Cô gái trố mắt nhìn tôi, nhưng ngoan ngoãn cầm lấy viên thuốc và cái cốc.
“Tốt hơn rồi. Cô đang bị một gã đàn ông được biết đến với tên Thợ Làm Vườn giam cầm. Hắn cho chúng ta những cái tên mới nên cô không cần phải cho chúng tôi biết tên cô đâu. Nhớ lấy nó, nhưng đừng nói ra. Tôi được gọi là Maya, còn cô gái đáng yêu bị cúm đằng kia là Lyonette.”
“Tôi là…”
“Không ai cả,” tôi gay gắt nhắc. “Không cho đến khi hắn cho cô một cái tên. Đừng làm cho mọi chuyện khó khăn hơn mức nó phải thế.”
“Maya!”
Tôi liếc sang chỗ Lyonette, chị đang nhìn tôi bằng ánh mắt tội nghiệp, thái quá, hoài nghi, kiểu cô-đang-làm-cái-quái-gì mà thường ngày chỉ dành cho Evita. “Vậy thì chị ra mà làm. Chị đã không phải là khuôn mặt đầu tiên cô ấy trông thấy, hooray! Giờ chị có thể tiếp quản nếu không thích cách em đang làm!”
Tôi chỉ có Sophia là mẫu hình bà mẹ cho tụi trẻ. Cô gái mới không bé bỏng thế, tôi cũng không phải Sophia.
Lyonette nhắm mắt lại và cầu nguyện sự nhẫn nại. Mặc dù vậy, trước khi kịp kết thúc, chị ấy đã phải gập người bên trên bồn cầu lần nữa.
Hai bàn tay cô gái mới bắt đầu run rẩy nên tôi nắm chúng trong tay mình. Đó luôn là cách giữ ấm trong Vườn, trừ đôi lần ở cái hang đằng sau thác nước, nhưng tôi biết những cơn run rẩy ấy là vì sốc nhiều hơn là lí do khác. “Chuyện thế này nhé, và nó rất đáng sợ, choáng váng lẫn bất công khủng khiếp, nhưng không có gì thay đổi cả: chúng ta ở đây với tư cách những vị khách bất đắc dĩ của một gã đàn ông sẽ tới gặp cô để bầu bạn, và thường là sex. Đôi khi con trai hắn cũng tới tìm cô. Giờ cô đã thuộc về chúng và chúng sẽ làm bất kể điều gì chúng muốn với cô, bao gồm cả việc đánh dấu cô là của chúng. Ở đây chúng ta có khá đông, và chúng ta hỗ trợ lẫn nhau khi có thể, nhưng cách duy nhất để cô thoát khỏi đây là chết nên cô sẽ phải quyết định xem sống như chúng ta thế này tốt hơn hay tồi tệ hơn cả cái chết.”
“Tự sát là tội lỗi,” cô gái thầm thì.
“Tốt, điều đó có nghĩa là sẽ có ít khả năng cô muốn tự kết liễu.”
“Chúa ơi, Maya, sao không đưa luôn cho cô ấy cái thòng lọng đi?”
Cô gái nuốt khan nặng nề nhưng - Chúa yêu cô vì điều đó - lại siết chặt tay tôi. “Cô đã ở đây bao lâu rồi?”
“Khoảng bốn tháng.”
Cô ấy nhìn sang Lyonette.
“Gần năm năm,” chị lẩm bẩm. Giá mà lúc ấy tôi biết… nhưng không thành vấn đề. Chưa bao giờ. Biết trước cũng có thay đổi được gì đâu.”
“Và chị vẫn còn sống, má luôn bảo tôi, nơi nào có sự sống nơi ấy còn hi vọng. Tôi sẽ hi vọng.”
“Chỉ cần cẩn thận với hi vọng thôi,” tôi cảnh báo cô ấy. “Một chút thì được. Quá nhiều thì lại thành méo mó.”
“Maya…”
“Thế nào, Cô gái mới, muốn đi xem một vòng không?”
“Tôi trần truồng mà.”
“Ở đây thì chẳng là gì đâu. Rồi cô sẽ quen.”
“Maya!”
“Chị có mang váy không?” Tôi cố tình hỏi, và Lyonette đỏ mặt bên dưới làn da bệnh tật. “Mà em cũng không để cô ấy mượn váy chị đâu; có khi chị đã nôn ra khắp mặt trước rồi.”
Chị chưa nôn, nhưng cái váy đen của chị dài tới tận sàn. Không đời nào Cô gái mới bé tí xíu này có thể mặc vừa cái đó. Nếu khá khẩm hơn thì tôi đã cho cô ấy mượn váy của mình rồi.
“Chờ đây nhé,” tôi thở dài. “Tôi sẽ đi lấy cái gì đấy từ Bliss.”
Bạn chúng tôi không ở trong phòng của em ấy khi tôi tới nơi nên tôi cứ thế lấy bừa một cái và quay lại phòng cô gái mới, như mọi khi, nơi đó lại bị các cô Bướm khác cố tình né tránh. Cô gái nhăn mặt khi thấy bộ váy đen - ngay cả tôi cũng phải thừa nhận nó không nịnh da cô mấy - nhưng ông sẽ học cách sợ quần áo màu trong Vườn.
Khi ông được đưa cho cái gì đó không phải màu đen thì đó là vì Thợ Làm Vườn muốn ông chết trong bộ váy ấy.
Cô gái vâng lời khi tôi bảo cô ấy đừng nhìn ra hành lang - thậm chí cả tôi cũng không xấu tính đến mức cho cô ấy xem ngay từ đầu. Cô gái ở đầu bên kia Vườn so với phòng tôi, ngay cuối hành lang từ phòng Lyonette, và chắn một phía của vùng đất cấm-vào nơi có những căn phòng mà chúng tôi không được phép bén mảng đến, cánh cửa dẫn ra Bên ngoài mà chúng tôi phải làm ra vẻ như không tồn tại. Từ vị trí đó, cô ấy có thể quét mắt một lượt hết bề ngang của Vườn: tất cả đám cây cối sặc sỡ, khỏe khoắn, những bông hoa rực rỡ và lối đi trải cát trắng, thác nước và dòng suối nhỏ và cái hồ, gờ đá, tất cả đám cây tí hon bên trên nó, những chú bướm thật bay lượn trên mấy khóm hoa, và bầu trời kính trông có vẻ xa xôi không tưởng.
Cô ấy bật khóc nức nở.
Lyonette lao tới nhưng lập tức lùi lại vì bị run bần bật. Cơn cảm cúm có lẽ không phải là cách tốt nhất để chào đón ai đó vào cái lồng xanh của chúng tôi. Tôi… chà, tôi cũng không nhân hậu đến thế. Chuyện quá rõ. Tôi nhìn cô gái mới trong lúc cô ấy sụp xuống đất, cuộn tròn lại thành một quả bóng tí hon, lúc cô vòng hai cánh tay ôm lấy bụng như thể chuyện này là một cú đấm thực mà cô có thể chống đỡ.
Dần dần, khi những tiếng khóc hổn hển, xé nát cõi lòng kia đã rút lại thành sụt sịt và hớp lấy không khí, tôi quỳ gối bên cạnh cô, một tay đặt lên tấm lưng còn chưa bị đánh dấu. “Đây không phải nỗi đau lớn nhất đâu,” tôi nói với cô ấy dịu dàng nhất có thể. “Nhưng tôi nghĩ nó là cú sốc tệ nhất. Từ đây trở đi, cô có thể kỳ vọng một chút.”
Đầu tiên tôi không chắc cô ấy có nghe thấy mình không, vì những tiếng rên rỉ vẫn tiếp tục không ngừng. Rồi cô ấy lăng mình sang một bên, vòng tay ôm lấy eo tôi và vùi mặt vào đùi tôi khi cơn kinh hoảng và đau đớn của cô lại một lần nữa dâng lên thành những đợt nức nở nghẹn lòng. Tôi không vỗ hay vuốt tóc cô, cũng không di chuyển bàn tay - rồi cô ấy sẽ học cách căm ghét cử chỉ đó từ Thợ Làm Vườn - nhưng tôi cứ để bàn tay mình trên lớp da ấm nóng của cô gái để cô biết là tôi còn đó.
“Ông có còn những bức ảnh chụp hành lang trong này không?” Đột nhiên cô ta hỏi, và hai đặc vụ rùng mình thoát khỏi thần chú từ những lời kể của cô. Chính Eddison đưa cho cô chồng ảnh, hai nắm tay cậu ta siết chặt trên đùi khi nhìn cô gái lần giở chúng. Cô lôi ra một tấm, nhìn chằm chằm vào nó một lát, rồi đặt nó ngửa mặt trên bàn để hai người đàn ông nhìn thấy. “Một con Chiricahua White.” Cô lần ngón tay trên bản phác họa rõ ràng hai màu đen - trắng của cặp cánh. “Hắn đặt tên cô ấy là Johanna.”
Victor chớp mắt. “Johanna à?”
“Tôi không biết hắn có đặt tên cho chúng tôi theo một hệ thống nào không. Tôi nghĩ hắn chỉ lục lọi một đống tên cho đến khi tìm được thứ hắn thích. Ý tôi là chắc chắn cô ấy không có vẻ như một Johanna, nhưng sao mà chẳng được.”
Victor ép mình nhìn cặp cánh trong bể kính. Cô ta nói đúng, cô bé này nhỏ xíu, dù từ tư thế rất khó để ước lượng chiều cao thật sự của cô. “Chuyện gì đã xảy ra với cô ấy?”
“Cô ấy… bất ổn. Phần lớn thời gian cô ấy có vẻ ổn định cuộc sống khá tốt, nhưng rồi đột nhiên cô lại có những đợt thay đổi tâm tính, làm ầm ĩ khắp Vườn. Rồi Lyonette chết, rồi Thợ Làm Vườn lại mang về một cô gái mới hơn.”
Ông hắng giọng khi cô gái không kể tiếp. “Chuyện gì đã xảy ra với cô gái ấy?” Ông lại hỏi, và Inara thở dài.
“Các bức tường hạ xuống để Thợ Làm Vườn có thể thực hiện hình xăm cho cô gái mới, nhưng bằng cách nào đó Johanna nán lại ở ngoài Vườn. Khi các bức tường được kéo lên, chúng tôi tìm thấy cô ấy trong hồ.” Bằng một cử động mượt mà, cô ta chộp lấy bức ảnh và úp mặt nó xuống bàn kim loại một cái rầm. “Tội lỗi loài người thế đấy.”
Trượt một chồng ảnh khác và các tài liệu tới trước mặt mình, Victor lặng lẽ giở qua chúng đến khi tìm được thứ đang tìm. Đó là một chàng trai trẻ, có lẽ già hơn vẻ ngoài một chút, với mái tóc rối bù kiểu nghệ sĩ màu nâu đậm đến mức gần như đen. Cặp mắt xanh lục nhạt nổi bần bật trên khuôn mặt gầy gò, trắng trẻo. Đó là một cậu bé đẹp trai, thậm chí cả trong bức chân dung vỡ nét này, một người mà - ít nhất dựa vào bề ngoài - ông sẽ không phiền nếu Holly dẫn về giới thiệu với ông. Ông nên mang cuộc nói chuyện quay trở lại chàng trai này.
Chưa được. Chỉ thêm một chút nữa thôi.
Ông không chắc đó là vì lợi ích của cô gái hay của chính ông.
“Khi Thợ Làm Vườn để ý thấy cô trèo lên cây.”
“Thì sao?”
“Cô đã kể rằng hắn tới để nói chuyện với cô trên giường của một người lạ; đó có phải cô gái sau Johanna không?”
Xác nhận câu hỏi của ông không phải là một nụ cười, mà giống một cái nhăn mặt hơn. “Không. Là cô sau nữa kia.”
Một chút chần chừ. “Tên cô gái ấy rốt cuộc là gì?”
Cô ta nhắm mắt lại. “Cô ấy chưa bao giờ có tên.”
“Sao lại không…”
“Đúng thời điểm. Đôi khi tất cả mọi chuyện đều vì thế.”
Cô gái có làn da như gỗ mun, gần như đen ánh xanh trên chiếc ga chun màu xám bồ câu, với cái đầu cạo nhẵn thín và các đường nét sẽ chìm nghỉm trên các bức tường của một kim tự tháp Ai Cập. Trong mấy ngày sau cái chết của Lyonette, tôi khẩn thiết cần một việc gì đó - bất kì việc gì - để làm, nhưng không giống như Bliss và Lyonette, tôi chẳng có tài năng lẫn hứng thú gì trong việc sáng tạo ra các thứ. Tôi đọc, và đọc rất nhiều, nhưng tôi không tự viết ra cái gì của riêng mình cả. Bliss vùi mình trong đống đất sét dẻo, chất đầy lò nướng các mô hình rồi lại hủy phân nửa số chúng trong cơn cáu giận, nhưng tôi không có cách giải tỏa như thế, cả sáng tạo lẫn hủy hoại.
Mặc dù vậy, ba ngày sau, Thợ Làm Vườn mang vào một cô gái mới và không còn Lyonette để cho cô ta những lời giới thiệu duyên dáng nữa. Không ai trong số các cô gái muốn tới gần cô ta cho đến khi cô ta ổn định và tôi tự hỏi không hiểu Lyonette đã phải làm cái công việc mà thậm chí không ai buồn nghĩ đến ấy bao lâu rồi.
Trong những ngày nối tiếp cái chết của Johanna, tôi tự hỏi mình gánh bao nhiêu phần tội lỗi trong lựa chọn của cô ấy - nếu có. Nếu tôi đã giải thích nhẹ nhàng hơn cho tình huống của cô, nếu tôi thông cảm hay an ủi tốt hơn, có lẽ cô ấy vẫn còn có thể bám víu vào niềm hi vọng mà mẹ cô đã kể với cô. Hoặc có lẽ là không. Có lẽ chính lần đầu tiên trông thấy Vườn, giây phút đầu tiên nó trở thành sự thật ấy, mới là thứ làm nên khác biệt.
Chẳng giống như tôi có thể hỏi cô ấy.
Vậy là tôi bị kẹt với cô gái mới, kiên nhẫn với cô ta hết mức có thể, và kiềm lại những câu nhận xét chua chát hơn. Nghĩ đến chuyện cô ta thường xuyên bật khóc đến thế nào, tôi đã phải kiên nhẫn hơn mức mà tôi tưởng là mình có thể. Bliss giải cứu tôi mấy lần.
Không phải là em ấy tự mình đến - đó sẽ là một ý kiến rất tồi - mà bằng cách gửi Evita tới để mang đến sự ngọt ngào và chân thành, và trong rất nhiều khía cạnh em làm tốt hơn tôi dù tôi có hi vọng cách mấy cũng không bằng.
Hôm sau buổi xăm mình thứ ba của cô ta, tôi vẫn ở cùng cô suốt buổi tối đến tận khi thuốc trong bữa tối của cô phát huy tác dụng. Thường thường tôi sẽ rời đi ngay, nhưng tôi đã trông thấy một thứ mà tôi muốn điều tra nhưng không làm cô ta sợ, điều đó có nghĩa là cô ta cần ngủ say. Thậm chí cả sau khi cô ta đã thở sâu và đều đặn, và cái cách mọi sự căng thẳng rời bỏ cơ thể cô cho tôi biết cô đang ngủ, thậm chí tôi vẫn để thuốc ngấm hơn nữa.
Có lẽ khoảng một tiếng sau khi cô gái đã ngủ, tôi đặt cuốn sách sang bên cạnh và lăn người cô ta nằm úp. Thường thì cô ta nằm ngửa, nhưng quá trình xăm đã khiến cô phải nằm nghiêng để giảm áp lực cho khu vực đang bị đau. Cuốn sách về bướm trong thư viện - cùng những chữ viết tay của Lyonette bò khắp lề, liệt kê những cái tên và vị trí trong hành lang - đã cho tôi biết Thợ Làm Vườn chọn loài Falcate Orangetip cho cô ta, hầu hết là màu trắng với một vệt màu cam trên rìa của mỗi cái cánh trên. Hắn thích dùng màu trắng và vàng nhạt nhất cho những cô gái có nước da đen, vì lí do gì đó. Tôi đoán hắn sợ những màu tối sẽ không nổi bật như thế. Lần này, hắn đã làm xong phần màu cam và chuyển sang các phần màu trắng, có điều gì đó ở chúng hơi sai sai.

Bấy giờ, khi tôi đã có thể thực sự cúi sát nó để nhìn mà không làm cô gái sợ, tôi có thể trông thấy những chỗ sưng thêm, giống hình vảy cá bên dưới lớp mực xăm, cái cách mực trắng phồng rộp lên ghê tởm trong những bọc mụn to. Cặp chóp cánh màu cam cũng tệ không kém. Lần theo sống lưng cô gái kĩ hơn, thậm chí cả các đường viền và đường gân cũng lấm chấm vẩy. Tôi tháo một bên khuyên tai của mình - Thợ Làm Vườn chưa bao giờ lấy chúng - và dùng đầu nhọn để cẩn thận gẩy một cái mụn nhỏ. Chủ yếu là chất lỏng trong rỉ ra từ chỗ châm kim nhỏ xíu, nhưng khi tôi khẽ ấn xuống, một chất khác màu trắng sữa cũng rỉ ra theo.
Tôi rửa cái khuyên tai trong bồn và đeo lại lên tai trong lúc cố nghĩ ra một giải pháp. Tôi không chắc cô ta đang phản ứng với mực hay kim, nhưng chắc chắn một kiểu dị ứng gì đó đang xảy ra. Không phải loại đe dọa tính mạng tức thời như dị ứng lạc, nhưng nó cũng không để cho vết xăm liền da. Sự nhiễm khuẩn cũng có thể gây chết người chẳng kém gì phản ứng ít-xta-min, như Lorraine đã có lần bảo chúng tôi vào một trong mấy ngày thân thiện hiếm hoi của mụ.
Tất nhiên, mụ cũng đã gây ra cho Bliss đủ kiểu đau đớn bằng cách chọc ngoáy bàn chân em ấy để lấy dằm nên việc đó ắt hẳn góp phần vào tâm trạng tốt của mụ.
Vì không có ý tưởng nào tốt hơn, tôi quay lại bên cạnh cô gái và cố đánh giá xem phản ứng ở từng vùng da tệ đến đâu. Tôi đã xem được hết phần da cam và nửa phần trắng thì cảm thấy có sự thay đổi.
Thợ Làm Vườn đã ở đó.
Hắn dựa người vào ngưỡng cửa, hai ngón cái móc vào túi quần kaki là cứng. Đèn đóm khắp Vườn đã tắt khi các cô gái đi ngủ, chờ đợi xem đêm nay họ có được yêu cầu mua vui cho kẻ giam giữ mình không. Hắn không bao giờ gọi Lyonette khi chị ấy phải chăm sóc một cô gái mới, nhưng tôi nào phải Lyonette.
“Trông em có vẻ lo lắng,” hắn nói thay vì chào hỏi.
Tôi chỉ vào lưng cô gái. “Cô ấy sẽ không lành lại.”
Khi bước vào phòng, hắn tháo măng-xéc và xắn tay áo sơ mi xanh đậm lên tận khuỷu. Màu xanh ấy làm cặp mắt xanh nhạt sáng rực trên gương mặt hắn. Hắn dùng hai bàn tay dịu dàng ấn vào lưng cô gái, cũng tìm thấy những thứ giống tôi, và dần dần nỗi lo ngại chuyển thành cái nhìn buồn bã sâu sắc. “Mọi người đều phản ứng khác nhau với hình xăm.”
Đáng lẽ tôi phải cảm thấy buồn thương, giận dữ hay bối rối. Nhưng tất cả những gì tôi cảm thấy là tê liệt.
“Ông làm gì với những cô gái không bao giờ hoàn thiện cặp cánh?” Tôi khẽ hỏi.
Hắn dành cho tôi một cái nhìn thoáng qua, trầm tư, và tôi băn khoăn liệu mình có phải đứa con gái đầu tiên hỏi về chuyện ấy. “Tôi đảm bảo họ được chôn cất tử tế trên mảnh đất này.”
Eddison gầm lên và với tay lấy cuốn sổ ghi chép. “Hắn có nói ở đâu trong khu đất không?”
“Không, nhưng tôi nghĩ nó trông ra một con sông. Đôi khi hắn vào Vườn với bùn dính trên giày và vẻ bâng khuâng trên mặt. Trong những ngày đó, hắn cho Bliss vài viên sỏi lấy từ sông để dùng làm bệ đỡ cho các hình nộm. Từ trên ngọn cây thì tôi không trông thấy gì.”
Cậu ta vo viên tờ giấy bạc và ném nó vào tấm gương một chiều. “Cử một đội tới bờ sông, tìm mấy nấm mộ.”
“Anh có thể nói làm ơn.”
“Tôi giao nhiệm vụ cho họ, chứ không xin một ân huệ,” cậu ta đốp lại qua hàm răng nghiến chặt.
Cô gái nhún vai. “Guilian lúc nào cũng nói làm ơn. Cả Rebekah cũng thế, kể cả khi chị chỉ phân chia khu vực. Nhưng mà, tôi đoán đó là lí do tôi thích làm việc cho Guilian. Anh ấy khiến nơi đó trở nên dễ chịu và ai nấy đều được tôn trọng.”
Chẳng khác nào cô ta vừa tát thẳng vào mặt Eddison. Victor trông thấy màu đỏ vì cơn giận lan tới tận cổ áo đồng sự của mình và nhìn ra chỗ khác để không bật cười. Hay ít nhất để Eddison không trông thấy. “Có phải chỉ có những cô gái bị chết trước khi cặp cánh hoàn thiện không?” Ông hỏi nhanh.
“Không. Nếu họ chết mà làm hỏng cặp cánh, hắn sẽ không trưng bày họ. Avery đã đưa vài cô khác xuống mồ thay vì bể kính, khi hắn đánh họ dữ dội đến mức có sẹo trên hình xăm.” Cô ta khẽ chạm vào cổ. “Giselle.”
“Cuộc nói chuyện chưa dừng lại ở đó, đúng không?”
“Không, nhưng ông đã biết rồi.”
“Phải, nhưng tôi muốn nghe nốt,” ông trả lời, đúng như cách sẽ nói với mấy cô con gái.
Cô ta nhướn một chân mày với ông.
Như Lyonette thường làm, tôi đã mượn một cái ghế đẩu trong phòng y tế để đặt cạnh giường cô gái. Ngồi trên giường có lẽ cũng chẳng sao, nhưng việc này cho cô ấy thêm một chút không gian. Cho cô ấy một lãnh thổ riêng. Thợ Làm Vườn không thực sự công nhận lãnh thổ theo cách ấy. Hắn ngồi tựa lưng vào tấm ván đầu giường, đặt đầu cô gái lên đùi để hắn có thể xoa một bàn tay khắp cái đầu đã cạo trọc. Theo tôi được biết, hắn không bao giờ ghé thăm các cô gái trong phòng họ đến tận sau khi họ đã được đánh dấu hoàn chỉnh và hắn đã hiếp họ lần đầu tiên.
Rốt cuộc, việc ấy mới làm họ trở thành của hắn.
Nhưng, hắn đã không ở đó để gặp cô gái mới. Hắn ở đó để nói chuyện với tôi.
Và dường như hắn không hề vội vã.
Tôi kéo hai chân lên ghế, ngồi xếp bằng trên chiếc ghế hẹp và giở cuốn sách ngang đùi, đọc tiếp để lấp chỗ trống cho đến khi hắn đưa tay ra và khẽ đóng sách lại. Khi ấy tôi mới chú ý đến hắn.
“Em đã theo dõi gia đình tôi bao lâu rồi?”
“Gần như từ khi cặp cánh của tôi được hoàn thành.”
“Nhưng em đã không nói gì cả.”
“Không nói với ông hay bất kì ai.” Thậm chí cả Lyonette và Bliss cũng không, mặc dù tôi đã bị cám dỗ. Tôi không chắc vì sao. Có lẽ sẽ dễ dàng hơn nếu chỉ nghĩ về hắn như kẻ giam cầm chúng tôi. Đặt một gia đình vào đó làm cho… à thì, làm cho chuyện có vẻ sai trái hơn theo cách nào đó. Ngay việc nó có thể còn sai hơn nữa đã đủ đáng sợ rồi.
“Và em đã nghĩ gì khi trông thấy chúng tôi?”
“Tôi nghĩ vợ ông đang ốm.” Tôi hiếm khi nói dối Thợ Làm Vườn; sự thực là thứ duy nhất có thể mãi mãi thuộc về tôi. “Tôi nghĩ bà ấy sợ Avery và không muốn thể hiện điều đó, tôi nghĩ bà ấy yêu con trai út của ông. Tôi nghĩ bà ấy trân trọng những cuộc đi dạo cùng ông như khoảng thời gian duy nhất mà bà ấy có được sự chú tâm không hề bị chia sẻ của ông.”
“Chỉ đứng trên cây mà nghĩ ra từng ấy chuyện ư?” Tạ ơn Chúa, trông hắn có vẻ hứng thú hơn bất cứ điều gì. Hắn dựa lưng thoải mái hơn vào tấm ván đầu giường, một tay vòng ra sau để gối đầu.
“Tôi nói sai à?”
“Không.” Hắn nhìn cô gái trên đùi, rồi nhìn tôi. “Bà ấy đã vật lộn hàng năm trời với bệnh tim. Nó không đủ nghiêm trọng để bà ấy đủ tiêu chuẩn nhận ghép tạng, nhưng lại ảnh hưởng đáng kể đến chất lượng cuộc sống.”
Vậy vợ hắn cũng là một kiểu bươm bướm. “Thế là đúng một vế.”
“Và bà ấy đúng là rất yêu con trai thứ hai của chúng tôi. Bà ấy khá tự hào về thằng bé. Nó đạt điểm tuyệt đối, luôn luôn lịch sự, lại chơi đàn dương cầm và vĩ cầm rất hay.”
“Thế là hai vế.”
“Khu vườn và công việc kinh doanh của tôi, các hoạt động từ thiện và kế hoạch của bà ấy, thời khóa biểu của chúng tôi thường xung đột với nhau. Cả hai chúng tôi đều dành thời gian để đi dạo buổi chiều trừ khi ra khỏi thành phố. Nó có lợi cho tim bà ấy.”
“Thế là ba.”
Và tất cả những gì còn lại mới là khó khăn nhất, điều mà không cha mẹ nào muốn thừa nhận.
Thế nên hắn không nói. Và im lặng cũng có nghĩa là đồng thuận.
“Em rất để ý đến mọi việc, đúng không, Maya? Con người, các hình mẫu, các sự kiện. Em tìm ra nhiều ý nghĩa hơn những người khác.”
“Tôi có để ý,” tôi đồng tình. “Nhưng không biết là mình tìm được nhiều ý nghĩa hơn.”
“Em quan sát một cuộc đi dạo trong nhà kính và nghĩ ra chừng đó ý nghĩa.”
“Tôi không nghĩ ra ý nghĩa gì cả. Tôi chỉ chú ý đến ngôn ngữ cơ thể thôi.”
Ngôn ngữ cơ thể là một trong những thứ đã cho tôi biết hàng xóm kế bên nhà tôi là một kẻ ấu dâm từ rất lâu trước khi hắn tự hé lộ lần đầu tiên, trước khi hắn chạm vào tôi và bảo tôi chạm vào hắn. Nó nằm trong cách hắn nhìn tôi và những đứa trẻ khác ở khu, trong những cái nhìn bị tổn thương của bọn trẻ được hắn nhận nuôi. Tôi đã chuẩn bị cho sự tấn công của hắn vì tôi biết nó sẽ tới. Ngôn ngữ cơ thể cảnh báo tôi về gã cắt cỏ của bà, về những đứa trẻ ở trường sẽ đánh đập tôi chỉ vì chúng có thể. Ngôn ngữ cơ thể còn tốt hơn cả một cái đèn pin cảnh báo.
Và ngôn ngữ cơ thể cho tôi biết dù hắn có muốn tỏ ra hoàn toàn thư giãn ngay lúc này đến đâu, hắn không thể.
“Tôi không định kể cho ai cả, ông biết đấy.”
Nó đây rồi. Không phải toàn bộ sự căng thẳng đã rời khỏi cơ thể hắn, nhưng phần lớn đã không còn. Ngoại trừ khi dục vọng chiến thắng hắn, hắn là một người đàn ông cực kỳ nhẫn nại.
“Chúng tôi không biết về họ… và họ không biết về chúng tôi, phải không?”
“Không,” hắn lẩm bẩm. “Có những thứ…” Hắn không bao giờ nói nốt suy nghĩ ấy, ít nhất là không thành tiếng. “Tôi sẽ không bao giờ cố ý làm tổn thương Eleanor.”
Tôi không biết tên hắn, nhưng lại biết tên vợ hắn.
“Còn con trai ông?”
“Desmond?” Hắn đã thực sự ngạc nhiên một lát, rồi lắc đầu. “Desmond rất khác Avery.”
Ngay cả khi ấy, tất cả những gì tôi có thể nghĩ chỉ là Tạ ơn Chúa.
Hắn nhấc đầu cô gái ra khỏi đùi mình và nhẹ nhàng đứng dậy khỏi giường, chìa tay ra cho tôi. “Tôi muốn hỏi em một việc, nếu được.”
Tôi không chắc vì sao hỏi tôi chuyện gì đó mà lại liên quan đến di chuyển, nhưng tôi ngoan ngoãn đứng dậy và cầm tay hắn, để cuốn sách lại trên ghế. Cô gái sẽ không tỉnh lại đến sáng hôm sau nên tôi không đặc biệt phải túc trực bên giường. Hắn dẫn chúng tôi qua các hành lang, lơ đãng chạm vào mỗi chiếc bể đã có người lúc đi ngang qua. Nếu có tâm trạng, tôi có thể hỏi hắn tên họ, và hắn sẽ nói. Từng cái tên, từng cô Bướm, hắn biết và nhớ tất cả bọn họ.
Tôi không bao giờ muốn biết.
Tôi tưởng hắn đang dẫn tôi về phòng, nhưng hắn lại rẽ ngang ở phút chót và đưa chúng tôi vào cái hang đằng sau thác nước. Trừ ánh trăng rọi xuyên qua tấm trần kính và phản chiếu đứt gãy qua thác nước đang chảy, cái hang tối om.
Ồ, còn cả ngọn đèn đỏ chớp tắt của camera nữa.
Chúng tôi đứng im lặng trong bóng tối, nghe tiếng nước chạm vào dòng suối và những viên đá trang trí. Pia, người ở đây lâu hơn tôi khoảng một năm, đã nêu giả thuyết là dưới đáy ao có những cái ống giữ nước ở một mực nhất định bằng cách hút và bơm nước vào một cái ống khác dẫn đến cái ao nhỏ xíu trên đỉnh mỏm đá, cấp nước cho thác. Có thể cô ấy đã nói đúng. Vì tôi không biết bơi, tôi không bao giờ cố lặn xuống đáy hồ để xem cho chắc. Pia thích chọc ngoáy các thứ và tìm hiểu xem chúng hoạt động như thế nào. Khi những bức tường dâng lên để lộ Johanna trong bể kính, Pia đã đi ra ao, và nói rằng bây giờ ở ven ao đã có các cảm biến.
“Tôi đã thắc mắc điều gì kéo em tới chốn này,” một lúc sau hắn nói. “Đỉnh mỏm đá thì tôi gần như hiểu được. Nó thoáng đãng, tự do, vị trí cao cho em cảm giác an toàn. Nhưng còn nơi này… cái hang này có thể làm gì cho em?”
Khả năng nói bất kể điều quái quỷ gì tôi muốn mà không phải lo bị trừng phạt, bởi vì tiếng thác nước chảy đủ mạnh để át hết những gì micro có thể thu được.
Nhưng hắn đang kiếm tìm thứ gì cá nhân hơn thế, một thứ có ý nghĩa mà hắn nghĩ là tôi sẽ đánh đổi tất cả để có được. Một, hai phút sau tôi mới nghĩ ra câu trả lời cho hắn, nó khá gần với sự thật. “Trong này không có ảo ảnh nào,” cuối cùng tôi nói. “Nó không xanh mướt mắt và khỏe khoắn và chờ đợi cái chết hay khả năng bị thối rữa. Chỉ có đá và nước.”
Tại đây, các cô gái và tôi ngồi đối diện và chạm gối vào nhau, và rất dễ để giả vờ như không có cô Bướm nào cả. Những cô bợ đỡ có cặp cánh được vẽ quanh mắt như mặt nạ Carnevale, nhưng kể cả khi ấy, trong ánh sáng mờ tối của cái hang, rất dễ để nghĩ đó chỉ là trò lừa của những cái bóng. Chúng tôi sẽ thả tóc xuống, tựa lưng vào đá và không còn con Bướm chết tiệt nào cả. Chỉ trong thoáng chốc.
Vì vậy, có lẽ rốt cuộc vẫn còn ảo ảnh ở đây, nhưng đó là ảo ảnh của riêng chúng tôi, không phải thứ hắn tạo ra cho chúng tôi.
Hắn thả tay tôi ra rồi kéo hết những cái kẹp đang giữ tóc tôi trong bím tóc bện quanh đầu, cho đến khi nó xõa xuống thành một màn tóc uốn lượn dài tới tận hông tôi. Che đi cặp cánh. Đó là điều hắn chưa từng làm, trừ lúc chải nó. Nhưng hắn cứ để nó thả quanh người tôi, nhét những chiếc kẹp tóc vào túi ngực của áo sơ mi.
“Em khá là khác biệt với tất cả những người khác,” cuối cùng hắn nói.
Không hoàn toàn đúng. Tôi cũng nóng nảy như Bliss, chỉ là tôi không xả ra. Tôi cũng sốt ruột như Lyonette, tính cách mà tôi làm hết sức để thể hiện. Tôi đọc sách như Zara, chạy như Glenys, nhảy múa như Ravenna và bện tóc như Hailee. Tôi có những đặc trưng của hầu hết mọi người quanh tôi, mỗi thứ một ít, ngoại trừ sự đơn giản ngọt ngào của Evita.
Thứ duy nhất khiến tôi thực sự khác biệt là tôi không bao giờ khóc.
Người không thể khóc.
Cái vòng quay ngựa gỗ khốn nạn.
“Em ghi yêu cầu sách trên danh mục nhưng lại không bao giờ công khai đòi hỏi gì. Em trợ giúp các cô gái khác, lắng nghe họ, làm họ bình tâm lại. Em giữ những bí mật của họ, và rõ ràng cả của tôi nữa, nhưng em không cho bất kì ai bí mật nào để giữ.”
“Bí mật với tôi như những người bạn cũ; tôi sẽ cảm thấy mình là một người bạn tồi nếu bây giờ tôi từ bỏ họ.”
Tiếng cười trầm của hắn vang vọng quanh cái hang trước khi thác nước nuốt chửng nó. “Tôi không đòi em phải chia sẻ chúng, Maya; cuộc đời em trước đây thuộc về em.”
Cô ta dành cho Eddison cái nhìn ngụ ý và Victor không thể không cười. “Tôi sẽ không xin lỗi,” Eddison nói thẳng. “Đây là công việc của tôi và chúng tôi phải biết sự thật để tạo thành một cáo buộc vững chắc chống lại hắn. Các bác sĩ khá tự tin hắn sẽ sống sót để ra tòa.”
“Tiếc thật.”
“Một phiên tòa có nghĩa là công lý,” cậu ta quát.
“Theo một nghĩa nào đó, chắc chắn rồi.”
“Theo một nghĩa ư? Nó…”
“Cái công lý ấy có thay đổi bất kì điều gì hắn đã làm không? Bất kì điều gì mà chúng tôi đã phải trải qua? Nó có khiến các cô gái trong bể kính sống lại không?”
“Không, nhưng nó sẽ ngăn hắn không thể làm lại việc đó.”
“Cái chết của hắn cũng làm được, mà còn không có bản tin giật gân và tiền thuế.”
“Quay lại thác nước,” Victor tuyên bố át lời phản đối ngấp nghé chót lưỡi Eddison.
“Chuyên gia phá bĩnh,” cô gái lẩm bẩm.
“Hãy yêu cầu tôi một việc, Maya.”
Trong mắt hắn là một lời thách thức, đan xen trong giọng hắn. Hắn trông đợi tôi đòi hỏi một điều bất khả, chẳng hạn như sự tự do. Hay có lẽ hắn trông đợi tôi sẽ giống như Lorraine, hỏi xin một thứ có thể cho tôi ra khỏi Vườn nhưng lại không phải tự do gì hết.
Tôi biết rõ hơn thế chứ. Giống như ném đi những số điện thoại thiện ý, tôi biết tốt hơn là không nên đòi hỏi thứ gì mà rõ ràng là tôi không thể có.
“Có thể tắt cái camera này mà không đặt cái khác thế chỗ nó được không?” Tôi hỏi nhanh, và nhìn cú sốc lướt qua khuôn mặt khuất trong bóng tối của hắn. “Không camera, không mic? Thế thôi ư?”
“Sẽ rất tuyệt khi có một nơi thực sự riêng tư,” tôi giải thích với một cái nhún vai. Cảm giác gần như lạ lẫm khi tóc tôi cọ vào lưng và vai cùng với cử chỉ ấy. “Ông có thể trông thấy mọi nơi khác chúng tôi đi, thậm chí xem chúng tôi đi vệ sinh nếu muốn. Chỉ có một chỗ duy nhất này trốn tránh camera sẽ rất có lợi. Một bài tập vì sức khỏe tinh thần, kiểu vậy.”
Hắn nhìn tôi một lúc lâu trước khi trả lời. “Một thứ sẽ có lợi cho tất cả các em.”
“Đúng vậy.”
“Tôi bảo em yêu cầu một thứ gì, mà em lại đòi hỏi một điều có lợi cho tất cả.”
“Nó cũng có lợi cho tôi mà.”
Hắn lại cười và với lấy tôi, kéo tôi sát vào ngực để hắn có thể hôn tôi. Hai bàn tay hắn lần lên khóa kéo của váy tôi và trong lúc hắn hạ người tôi xuống mặt đá ẩm ướt, tôi nhắm mắt lại và mặc cho suy nghĩ của mình lang thang tới chỗ Annabel Lee và nấm mồ của nàng ở vương quốc bên đại dương.
Tôi không nghĩ các thiên thần có bao giờ ghen tị với tôi đâu.
Thật đáng kinh ngạc trước lượng thông tin cô ta có thể truyền tải qua một câu trả lời mà không thực sự trả lời gì cả. Phần nào đó nhỏ nhoi và không thích hợp trong Victor rất mong được đặt cô trước vành móng ngựa ngay lúc này và xem cả đội luật sư bên nguyên lẫn bên bị vò đầu bứt tóc vì thất vọng. Ngay cả khi cô ta có vẻ đang thẳng thắn, các câu trả lời gần như lúc nào cũng vòng vèo, cung cấp thứ gì đó như là thừa thãi nhưng không thực sự đưa ra trọng tâm. Hỏi về cậu con trai và cô ta bắt đầu ở đó, hay là có vẻ thế, và bằng cách nào đó nó lại kết thúc ở một câu chuyện hoàn toàn khác, vẫn chẳng thấy bóng dáng cậu ta đâu. Đúng, các luật sư sẽ ghét đưa cô ta ra tòa lắm. Ông gạt thôi thúc của mình sang bên và lấy bức ảnh chàng trai từ trong chồng ảnh, đặt nó lên bàn để cô có thể nhìn đúng chiều.
Đầu tiên cô ta nhìn đi chỗ khác, đánh mắt sang tấm gương, xuống sàn, hai bàn tay bị bỏng và trầy xước, trước khi một cái thở dài thoát ra khỏi cơ thể và cô ta quay lại đối mặt với bức ảnh. Cô khẽ nhấc một góc của nó lên, ngắm nghía hình phóng to vỡ nét từ bằng lái xe của cậu thanh niên. Tấm giấy bóng run rẩy trong bàn tay cô, nhưng không ai nhắc chuyện đó.
“Ông làm quen với nhiều thứ trong Vườn,” cô trầm ngâm nói. “Thậm chí việc các cô gái mới tới cũng là thứ ông sẽ dần quen và chờ đón sau khi một người nữa ra đi. Và rồi, đột nhiên, mọi chuyện thay đổi.”
“Khi nào?”
“Chỉ mới khoảng sáu tháng trước. Vài ngày sau khi Evita chết.”
Có lẽ vì Evita là kiểu người mà ông không thể không yêu. Có lẽ vì cái chết của cô là tai nạn, chúng tôi không thể chuẩn bị gì cho điều đó. Có lẽ là do phản ứng của Thợ Làm Vườn, sự công khai của nó.
Dù sao thì Vườn cũng bốc mùi tuyệt vọng trong những ngày tiếp nối tai nạn của Evita. Hầu hết các cô gái ở lỳ trong phòng mình, Lorraine phải đổ hết các bữa ăn vào khay và mang tới cho chúng tôi, Chúa ơi, việc ấy chả nhẽ không khiến mụ điên tiết sao. Tất nhiên, mụ cũng có tâm trạng giống chúng tôi, nhưng lại vì lí do khác. Chúng tôi thương tiếc Evita. Mụ tiếc thương một cái bể kính đầy nữa mà không có mụ bên trong.
Mụ khốn bệnh hoạn.
Tôi rời phòng mình vào ban đêm, không chịu nổi bốn bức tường và sự im lặng nữa. Chúng tôi không có cuối tuần đó nên tôi không phải lo về giờ bảo dưỡng hay các bức tường cứng hạ xuống. Không có lí do gì trên đời mà tôi không thể lang thang quanh đó vào ban đêm. Đôi khi ảo ảnh về tự do, về sự lựa chọn, còn đau đớn hơn cả cảnh tù đày.
Không hẳn là Thợ Làm Vườn không thể tìm được tôi nếu hắn muốn tôi, mặc dù hắn đang ở với ai đó khác.
Đêm đến, Vườn hầu như im lặng. Tất nhiên vẫn có tiếng thác chảy, và tiếng suối reo ùng ục, tiếng ro ro của máy móc và không khí lay chuyển, và cả tiếng khóc nghẹn của con gái đâu đó quanh vườn, nhưng so với ban ngày, nó gần như yên tĩnh. Tôi cầm cuốn sách và đèn đọc sách lên mỏm đá để ngồi trên một trong mấy tảng đá lớn. Tôi gọi nó là tảng đá tắm nắng.
Bliss gọi nó là Tảng đá Vinh quang và cười phá lên khi tôi thách em ấy tìm được một con sư tử để treo lơ lửng trên mỏm đá.
Trong phim hoạt hình Vua Sư tử.
Em ấy đã làm một con từ đất nặn, và khi tôi đủ sức thở trở lại sau khi đã cười quá nhiều, em đưa nó cho tôi. Nó sống ở một cái kệ bên trên giường tôi, cùng vài thứ khác quý giá nhất với tôi. Tôi đoán nó vẫn còn ở đó, hay đã ở đó, cho đến khi…
Bliss gia nhập với tôi trên mỏm đá quãng giữa đêm, ném cho tôi một hình nộm. Tôi cầm nó soi dưới đèn đọc sách và nhận ra nó là một chú rồng đang nằm cuộn mình. Nó có màu xanh đen, đầu rúc vào hai vai và bằng cách nào đó, đường nét chân mày bên trên cặp mắt to đen láy khiến nó có cái nhìn tội nghiệp nhất mà một hình nộm bằng đất sét có thể có. “Sao nó buồn vậy?”
Em lừ mắt với tôi.
Đúng rồi.
Nhà của rồng ở cạnh Simba, và khi chú sư tử chỉ là một trò đùa thì chú rồng này thực sự đã có ý nghĩa gì đó.
Nhưng ngày hôm đó, nó còn mới và buồn bã, Bliss thì giận dữ lẫn buồn khổ, nên tôi đặt nó trên đầu gối mình và quay lại đọc Antigone cho đến khi em ấy cảm thấy muốn nói gì đó.
“Nếu phòng tôi còn nguyên vẹn, ông nghĩ tôi có cơ hội được lấy lại các hình nộm của mình không? Cả các hình gấp origami nữa? Và còn… à, tất cả mọi thứ, thật đấy.”
“Chúng tôi có thể hỏi,” Victor nói nước đôi, và cô gái thở dài.
“Tại sao lại là Antigone?” Eddison hỏi.
“Tôi luôn nghĩ cô ấy khá là ngầu. Cô ấy khỏe mạnh, dũng cảm và tháo vát nhưng không đến mức thao túng tình cảm, cuối cùng cô ấy đã ra đi, nhưng theo cách riêng. Cô ấy bị kết án chung thân trong mồ và cô ấy đã bảo mặc kệ các người, tôi tự treo cổ đây. Cả vị hôn phu của cô ấy nữa, anh ta yêu cô ấy nhiều tới mức hồi tâm chuyển ý trước cái chết của cô ấy và cố giết cha đẻ mình. Tất nhiên, sau đó anh ta cũng chết, bởi vì thôi nào, đó là một bi kịch thời Hi Lạp và người Hi Lạp lẫn Shakespeare thực sự thích giết người ta. Đó thật sự là một bài học lớn. Tất cả mọi người đều chết.” Cô gái đặt tấm ảnh xuống và dùng hai bàn tay che mặt chàng trai. Victor không chắc cô ta có biết mình đã làm vậy không. “Nhưng có thể tôi đã chọn một cuốn sách khác nếu biết Bliss sẽ tới với tôi.”
“Ồ?”
“Dường như nó đã tạo cảm hứng cho em ấy.”
Em đi qua đi lại quanh tôi khi tôi đọc, giật lá trên cây và xé vụn chúng cho đến khi ông có thể lần theo đường đi của em ấy bằng vụn lá trên đá. Em gầm gừ và chửi thề theo từng bước chân nên tôi không buồn nhìn lên cho đến khi em im lặng.
Em đang đứng ở ngay rìa mỏm đá giả, hai ngón chân cái bám vào đá, hai cánh tay choãi rộng hai bên người. Làn da trắng của em sáng lên trong ánh trăng ở những mảng hở của chiếc váy đen dài đến đầu gối. “Em có thể nhảy xuống,” em thì thào.
“Nhưng em sẽ không nhảy.”
“Em có thể,” em ấy khăng khăng, còn tôi lắc đầu.
“Nhưng em sẽ không.”
“Em sẽ nhảy!”
“Không, em không nhảy.”
“Vì cái chết tiệt gì?” Em hỏi, xoay lại để đối mặt với tôi, hai nắm đấm chống bên hông.
“Bởi vì em không thể đảm bảo là mình sẽ chết và nếu em bị thương, nó có thể không đủ nặng để hắn phải giết em. Có phải cú ngã từ trên cao lắm đâu.”
“Evita còn rơi từ chỗ thấp hơn.”
“Evita gãy cổ khi va vào cành cây. Em có vận may như chị; nếu em cố thử thì cũng hỏng bét và còn khỏe mạnh, chỉ trừ mỗi mấy vết thâm tím thôi.”
“Quỷ tha ma bắt!” Em thụp xuống cạnh tôi trên đá, vùi mặt trong hai cánh tay và khóc. Bliss đã ở đây lâu hơn tôi ba tháng. Với em, hai mươi mốt tháng trời. “Tại sao lại không có một lựa chọn tốt hơn?”
“Johanna đã trẫm mình. Em có nghĩ việc ấy đỡ đau đớn hơn một cú ngã không chắc chắn?”
“Pia bảo không làm thế được nữa. Hắn đã cho gắn cảm biến vào bờ; nếu nước dâng lên, nó sẽ gửi cảnh báo tới chỗ hắn và hắn có thể kiểm tra camera. Cô ấy bảo ta có thể trông thấy những cái camera gần nhất quay sang chĩa vào người nào đang bơi.”
“Nếu em chờ đến khi hắn rời nhà, hay thậm chí ra khỏi thành phố, em có thể có đủ thời gian để chết đuối nếu em thực sự muốn.”
“Em không muốn chết đuối,” em ấy thở dài, ngồi thẳng dậy để lau nước mắt bằng vạt váy. “Em không muốn chết.”
“Ai mà chẳng chết.”
“Vậy thì em không muốn chết bây giờ,” em gầm ghè.
“Thế sao lại nhảy xuống?”
“Chị chẳng cảm thông tí gì hết.”
Không hoàn toàn đúng, và em ấy biết thế, nhưng cũng có phần đúng.
Tôi gập sách lại và tắt đèn, đặt cả hai trên mặt đất cùng chú rồng buồn bã ở trên cùng để có thể vặn người nằm cạnh em ấy.
“Em quá mệt mỏi với nơi này rồi,” em thì thầm, và mặc dù chúng tôi không ở trong hang - nơi duy nhất thực sự riêng tư - tôi nghĩ có thể em đã nói đủ khẽ để tránh bị nghe thấy. Không ai trong chúng tôi biết liệu hắn có xem lại các đoạn ghi, liệu có an toàn để nói chuyện kể cả khi chúng tôi dám chắc hắn không ngồi trước màn hình điều khiển.
“Ai cũng vậy.”
“Vậy thì tại sao em không thể tận dụng tối đa nó, như chị đang làm?”
“Em đã có một gia đình hạnh phúc, đúng không?”
“Đúng.”
“Đó là lí do em không thể tận dụng nó.”
Tôi đã hạnh phúc ở căn hộ, nơi dần dà đã thành nhà tôi, nhưng tôi từng trải qua nhiều điều tồi tệ trước khi tới đó nên cũng coi như tôi từng sống chật vật trước khi tới đây. Bliss chưa từng, hay ít nhất là chưa từng sống kiểu gì gần như thế này. Em ấy có quá nhiều điều tốt đẹp để mà so sánh với nơi này.
“Kể cho em nghe điều gì đó về trước đây đi.”
“Em biết là chị sẽ không kể.”
“Không phải chuyện cá nhân. Chỉ là… một chuyện gì đó.”
“Một trong mấy người hàng xóm của chị có cả vườn thuốc phiện trên mái nhà,” một lát sau tôi kể. “Khi chị mới chuyển đến, nó chỉ là một góc nhà, nhưng thời gian trôi qua và không ai báo cáo, nó lan rộng đến khi phủ hết nửa mái nhà. Vài đứa trẻ ở các tầng dưới còn từng chơi trốn tìm trong đó. Mặc dù vậy, dần dà cũng có người mách cho cảnh sát và ông ta đã trông thấy họ tới, hoảng lên, rồi phóng hỏa cả đám cỏ. Tất cả bọn chị đều bị phê cả tuần đó, và bọn chị phải giặt giũ mọi thứ nhiều lần liền để tẩy bớt mùi.”
Bliss lắc đầu. “Thậm chí em còn không tưởng tượng được.”
“Đó không phải chuyện gì xấu.”
“Em đang dần quên những chuyện ở nhà,” em ấy thú nhận. “Em đã cố nhớ địa chỉ phố nhà mình lúc nãy và không tài nào nhớ nổi nó là đường, đại lộ, phố hay là gì nữa. Em vẫn không nhớ được. Một-không-chín-hai-chín phố Năm mươi tám Tây Bắc… gì đó.”
Hóa ra tất cả vụ om sòm này là vì thế. Tôi dịch người để đặt một bàn tay lên tay em, vì không biết phải nói gì.
“Mỗi sáng thức dậy và mỗi đêm trước khi đi ngủ, em đều tự nhẩm tên của em, tên của người nhà em. Em nhắc mình nhớ trông họ như thế nào.”
Tôi đã thấy gia đình Bliss, một bộ hình nộm đất sét. Em đã làm quá nhiều hình đến nỗi không có lí do gì để đặc biệt chú ý bộ này, trừ phi ông để ý những phần bóng nhẫy vì ngón tay em đã miết mịn, hay chúng được đặt ở vị trí mà em sẽ trông thấy đầu tiên và cuối cùng trong một ngày.
Có lẽ Thợ Làm Vườn đã đúng, tôi luôn ban cho mọi thứ một ý nghĩa.
“Chuyện gì sẽ xảy ra khi như thế vẫn không đủ?”
“Tiếp tục tự nhắc mình,” tôi bảo em. “Cứ làm vậy đi và nó sẽ phải đủ.”
“Nó có tác dụng với chị không?”
Tôi không bao giờ nhớ địa chỉ của mình ở New York. Khi tôi phải viết nó vào một biểu mẫu nào, tôi sẽ nhờ một trong các cô gái khác, và họ cười nhạo tôi mỗi lần như vậy nhưng không bao giờ thực sự bắt tôi học thuộc. Tôi không bao giờ đổi bằng lái từ cái bằng giả vì không biết nó có chịu nổi sự soi xét gắt gao không hay bên DMV có làm nhiều hơn là chỉ kiểm tra thông tin đơn thuần.
Nhưng tôi nhớ Sophia với thân hình già nua đã phát tướng sau khi cai nghiện, mái tóc đỏ vàng của Whitney, tiếng cười của Hope và tiếng khúc khích lo lắng của Jessica. Tôi nhớ vóc dáng tuyệt vời của Noémie, thừa hưởng từ ông bố Blackfoot và bà mẹ Cherokee, nhớ nụ cười của Kathryn có thể làm bừng sáng cả căn phòng trong những dịp hiếm hoi cô ấy làm vậy. Tôi nhớ quần áo rực rỡ, bóng bẩy của Amber, họa tiết không khi nào ăn nhập với nhau nhưng luôn hài hòa, bởi vì cô ấy yêu chúng biết bao. Tôi không nhắc mình về họ, không cố giữ họ trong kí ức, bởi vì họ đều đã được khắc sâu ở đó không tài nào xóa nổi.
Cũng như đáng lẽ tôi có thể vui mừng mà quên sạch khuôn mặt của cha mẹ tôi, những bộ áo liền quần co giãn của bà ngoại, gần như mọi người tôi gặp trước đó ở New York. Nhưng tôi nhớ cả họ nữa, và trong một khoảng kí ức mơ hồ, thậm chí tôi còn nhớ cả các ông chú bà dì và anh chị em họ, cảnh họ chạy quanh trong những trò chơi xoắn não mà tôi chưa bao giờ hiểu được, và tạo dáng cho những bức ảnh tôi chưa bao giờ trông thấy. Tôi chỉ nhớ các sự việc và con người.
Kể cả khi tôi thà không nhớ còn hơn.
Chúng tôi ngồi dậy cùng lúc, chống người trên hai khuỷu tay, đúng lúc cánh cửa mở ra và ánh đèn pin quét vào góc xa của Vườn.
“Cái quái gì thế?” Bliss thì thào, và tôi gật đầu đồng ý trong câm lặng.
Thợ Làm Vườn đang ở phòng Danelle, tìm kiếm sự an ủi đồng thời cũng an ủi cô ấy vì cô ấy chính là người đã đếm trong trò trốn tìm cuối cùng với Evita. Thậm chí nếu có rời đi, hắn không bao giờ cần đến đèn pin. Avery cũng vậy, gã đã bị cấm vào Vườn hai tuần vì làm gãy tay Pia. Lorraine cũng không phải, giờ này mụ đã ngủ hoặc đã khóc đến vật ra rồi. Có một nút bấm ở phòng y tế sẽ làm đổ chuông trong phòng mụ và trong bếp nếu ai đó mụ cần đến mụ với tư cách y tá.
Dáng người kia mặc toàn đồ đen, đáng lẽ đó đã là một ý tưởng hay cho đến khi hắn bước vào lối đi trải toàn cát trắng. Hắn di chuyển thận trọng, quầng sáng từ đèn quét lên trước từng bước chân, nhưng từ dáng điệu ấy chúng tôi có thể thấy là hắn đang trố mắt nhìn mọi thứ.
Tôi không bao giờ thắc mắc chuyện mình lập tức gắn nhãn cho kẻ đột nhập là đàn ông. Có lẽ là điều gì đó ở cách hắn bước đi. Hay cái lối ngớ ngẩn mang theo đèn pin trong khi ông cần lén lút do thám.
“Chị nghĩ việc nào sẽ làm chúng mình gặp rắc rối hơn?” Bliss thở trên tai tôi. “Tìm xem hắn là ai hay lờ hắn đi?”
Tôi nhận ra mình đã ước đoán khá chính xác về kẻ đột nhập là ai, nhưng tôi đã bảo Thợ Làm Vườn rằng tôi sẽ không kể với ai. Chẳng phải lời hứa với một kẻ giết người hàng loạt có sức nặng gì cho lắm, nhưng vẫn là lời hứa. Tôi gần như không bao giờ hứa hẹn, đơn giản vì tôi cảm thấy bị buộc phải giữ lời.
Nhưng con trai thứ hai của Thợ Làm Vườn đang làm cái quỷ gì khi đột nhập vào khu liên hợp nhà kính bên trong này? Và điều đó có hoặc có thể có ý nghĩa gì với chúng tôi?
Câu hỏi đầu tiên đã tự có lời giải gần như ngay khi nó lướt qua đầu tôi, bởi nó cũng là lí do mà tôi trèo lên những cái cây kia gần như mỗi chiều để bắt gặp một thoáng của thế giới thực Bên ngoài tấm kính. Với tôi thì nó chính là sự tò mò, bên cạnh những thứ khác. Có thể cậu ta cũng chỉ tò mò mà thôi.
Câu hỏi thứ hai…
Những cô gái có thể chết nếu chúng tôi chọn sai. Nếu cậu ta chỉ vào Vườn thôi thì không sao - Nó chỉ là một khoảng vườn bí mật, ai thèm quan tâm chứ? - nhưng nếu cậu ta khám phá các hành lang thì…
Có thể cậu ta sẽ trông thấy những cô gái đã chết và gọi cảnh sát.
Nhưng có thể cậu ta sẽ không gọi, rồi Bliss và tôi sẽ bị bỏ lại đây để giải thích tại sao chúng tôi trông thấy kẻ đột nhập mà không làm gì cả.
Vừa lẩm bẩm chửi thề, tôi vừa trườn xuống khỏi tảng đá, cúi người sát đất. “Ở đây, và canh chừng cậu ta.”
“Và làm gì nữa nếu hắn làm gì đó?”
“Hét lên?”
“Còn chị…?”
“Đưa vụ này cho Thợ Làm Vườn tự xử.”
Em ấy lắc đầu nhưng không ngăn tôi lại. Trong mắt em, tôi có thể thấy nhận thức về tình trạng mắc kẹt giống tôi. Chúng tôi có thể mạo hiểm mạng sống của tất cả mọi người khi hi vọng rằng chàng trai này sẽ tốt đẹp hơn những kẻ còn lại trong gia đình cậu ta. Và cũng không phải lần đầu tôi nhìn thấy Thợ Làm Vườn đang cùng với một người khác. Hắn thường vào một căn phòng riêng, nhưng thi thoảng… Như tôi đã nói, hắn là một người đàn ông biết kiềm chế một cách đáng kể, trừ những lúc không như vậy.
Tôi đã bò gần đến cuối đường ở đầu bên kia mỏm đá, nơi thực sự có một cái dốc chứ không hoàn toàn là mặt phẳng. Cát chặn tiếng bước chân tôi chạm đất, và bằng cách di chuyển chậm, tôi đã có thể bước xuống lòng suối mà không gây ra tiếng động nào. Tôi thụp xuống sau thác nước và nhanh chóng chạy vào hành lang đằng sau tới phòng Danelle.
Thợ Làm Vườn đã mặc quần nhưng chưa kịp mặc áo hay đi giày và hắn đang ngồi trên mép giường, dùng lược chải mái tóc xoăn màu nâu đỏ của Danelle cho đến khi chúng phồng lên thành một mớ bờm xung quanh cô ấy. Hơn bất kì ai trong chúng tôi, Danelle căm thù niềm thích thú của hắn với tóc chúng tôi bởi lúc nào nó cũng khiến cô ấy khó xoay xở.
Cả hai cùng nhìn lên khi tôi chui vào phòng, vẻ bối rối trên mặt Danelle được lặp lại ở Thợ Làm Vườn nhưng gần với sự tức giận hơn. “Tôi xin lỗi,” tôi thì thầm, “nhưng việc này quan trọng.”
Danelle nhướng một bên chân mày với tôi. Khi cô ấy mới tới Vườn bốn năm trước, cô nghĩ bợ đỡ Thợ Làm Vườn thì sẽ được về nhà và đã cho xăm cặp cánh lên mặt để thể hiện điều đó, một tấm mặt nạ màu đỏ và tím. Mặc dù vậy, qua nhiều năm cô đã trưởng thành và dần thay đổi thành kiểu nghĩ “mặc hắn muốn làm gì thì làm, chỉ không can dự vào đó”. Tôi biết cô đang hỏi tôi điều gì, nhưng tôi chỉ nhún vai. Tôi có kể cho cô nghe hay không đa phần phụ thuộc vào điều đã thực sự xảy ra.
Xỏ chân vào giày và tóm lấy áo sơ mi, Thợ Làm Vườn theo tôi ra hành lang. “Như thế…”
“Có ai đó ở trong Vườn,” tôi cắt lời nhẹ nhàng nhất có thể. “Tôi nghĩ đó là con trai út của ông.”
Hai mắt hắn mở lớn. “Nó đâu?”
“Gần ao khi tôi tới đây tìm ông.”
Hắn mặc áo sơ mi vào và ra hiệu cho tôi cài khuy áo trong lúc hắn lùa ngón tay vuốt lại mái tóc rối. Mặc dù vậy hắn vẫn bị tố cáo bởi mùi nồng trên người. Khi hắn rảo bước trên hành lang, tôi đi theo. Rốt cuộc, hắn có bảo tôi không được theo đâu. Ít nhất là không cho đến khi chúng tôi tới một trong mấy ngưỡng cửa và hắn có thể tự nhìn thấy cậu thanh niên, vẫn còn đang vung vẩy chiếc đèn pin ngu ngốc. Hắn theo dõi con trai mình một lúc lâu trong im lặng, tôi không thể đọc nổi biểu cảm trên mặt hắn. Với một bàn tay đặt trên vai tôi, hắn chỉ xuống, cử chỉ có thể mang nghĩa ngồi xuống hoặc ở lại.
Tôi không phải loại con gái chịu ngồi yên nên tôi chọn ở lại, và hắn không tranh cãi với tôi.
Từ trong sảnh, tôi dõi theo hắn bước ra ngoài Vườn, công khai và không do dự chút nào. Giọng hắn phá vỡ sự yên tĩnh tương đối như một phát đạn. “Desmond!”
Cậu con trai quay ngoắt đầu lại và làm rơi đèn pin. Nó nảy trên một hòn đá kéo theo âm thanh nhựa vỡ, khi nó rơi xuống cát, ánh sáng chớp nháy rồi tắt phụt. “Bố!”
Thợ Làm Vườn thò tay vào túi quần và một giây sau, những bức tường hạ xuống quanh tôi, khóa chặt tôi cùng các cô gái khác trong phòng họ, giấu đi những bể kính trưng bày. Bliss và tôi như bị mắc kẹt lại, em ấy ở trên tảng đá còn tôi thì trong sảnh. Và không hẳn là tôi đã kể cho Thợ Làm Vườn biết em ấy ở trên kia. Khốn thật.
Tôi dựa vào tường và chờ đợi.
“Con đang làm cái quái gì ở đây? Ta đã bảo con nhà kính bên trong này là chỗ cấm vào mà.”
“Con… con nghe Avery nói về nó, con chỉ… chỉ muốn xem thôi. Con xin lỗi đã không nghe lời bố.”
Rất khó đoán định tuổi tác khi nghe giọng cậu ta. Nó là tông nam cao nhẹ, mang đến hiệu quả là làm cho cậu ta có vẻ rất trẻ. Cậu ta không thoải mái và rõ ràng là xấu hổ, nhưng không thực sự sợ hãi.
“Mà làm thế nào con vào đây được?”
Và một cô Bướm có thể dùng nó để trốn ra không?
Cậu thanh niên - Desmond, tôi đoán là vậy - do dự. “Vài tuần trước, con trông thấy Avery kéo sang bên một tấm bảng cạnh mấy cửa bảo trì,” rốt cuộc cậu ta bảo. “Anh ấy đã đóng nó lại ngay khi trông thấy con ở đó, nhưng trước đó con đã kịp trông thấy một bảng điều khiển có nút bấm.”
“Còn có mã an ninh nữa, vậy làm sao con vào trong được?”
“Avery dùng có mỗi ba mật khẩu cho tất cả mọi thứ. Con chỉ cần thử từng cái.”
Tôi có cảm giác Avery sẽ phải tạo ra mật khẩu thứ tư sớm thôi. Chúng tôi không được phép lảng vảng gần cửa chính. Cái mé phòng đó, chìa ra mỗi bên cánh cửa khóa một chút, có phòng của Lorraine, phòng chơi bời của Avery trước khi nó bị dỡ, phòng y tế và phòng bếp/nhà ăn, phòng xăm mình dẫn vào buồng ngủ riêng của Thợ Làm Vườn, và vài phòng nữa mà chúng tôi không biết công năng, nhưng có thể đoán. Dù hắn làm gì trong những căn phòng đó, đó cũng là nơi chúng tôi chết. Tất cả những thứ mà về lý chúng tôi sẽ không chú ý quá nhiều, chỉ trừ nhà bếp, và cả Thợ Làm Vườn lẫn Avery đều không bao giờ rời đi trong lúc có cô Bướm nào có thể trông thấy chúng làm vậy.
“Vậy con nghĩ con sẽ tìm ra cái gì?” Thợ Làm Vườn hỏi.
“Một… khu vườn…” cậu trai chậm rãi trả lời. “Con chỉ muốn xem xem tại sao nó lại đặc biệt đến thế.”
“Bởi vì nó riêng tư,” cha cậu ta thở dài, và tôi tự hỏi đó có phải lí do khiến hắn đã thực sự dỡ camera và mic trong cái hang đằng sau thác nước. Bởi hắn tôn trọng sự riêng tư của mình đến mức cho phép chúng tôi giả vờ là mình cũng có. “Nếu con thực sự muốn trở thành một nhà tâm lý học, Desmond à, con sẽ phải tôn trọng quyền riêng tư của người khác.”
“Chỉ trừ phi sự riêng tư ấy cấu thành một bức tường giam cầm sức khỏe tinh thần của họ, trong trường hợp đó thì về mặt chuyên môn, con buộc phải thúc giục họ kể ra các bí mật ấy.”
Hài hước làm sao, Whitney chưa bao giờ đề cập tới thôi thúc về mặt đạo đức kiểu đó khi cô kể chuyện về các buổi thảo luận tâm lý học của mình.
“Vậy về mặt chuyên môn con sẽ buộc phải giữ những bí mật ấy cho riêng mình,” Thợ Làm Vườn nhắc nhở cậu ta. “Giờ thì đi thôi.”
“Bố có ngủ ở đây không?”
“Thỉnh thoảng. Đi đi, Desmond.”
“Tại sao?”
Tôi cắn môi ngăn một tiếng cười. Thật là một món quà hiếm hoi khi nghe thấy Thợ Làm Vườn thật sự bối rối.
“Bởi vì ta thấy nó bình yên,” cuối cùng hắn cũng trả lời. “Nhặt đèn pin của con lên. Ta sẽ dẫn con quay lại nhà.”
“Nhưng…”
“Nhưng cái gì?” Hắn gắt.
“Tại sao bố phải giữ bí mật nơi này đến thế? Nó chỉ là một khu vườn thôi mà.”
Thợ Làm Vườn không trả lời ngay và tôi biết chắc hẳn hắn đang nghĩ qua các lựa chọn. Kể với con trai sự thật và hi vọng cậu ta sẽ tin vào câu chuyện ấy, giữ bí mật? Nói dối cậu ta và mạo hiểm rằng dù thế nào sự thật cũng bị phát hiện, bởi vì một thằng con trai bất tuân một lần cũng có thể sẽ bất tuân lần nữa? Hoặc phải chăng hắn đang nghĩ đến điều tệ hơn, rằng bằng cách nào đó một đứa con trai cũng có thể dễ bị loại bỏ như một cô Bướm?
“Nếu ta cho con biết, con phải giữ bí mật hoàn toàn,” rốt cuộc hắn nói. “Con không được thở ra một lời nào bên ngoài những bức tường này. Thậm chí không nói về nó với anh trai con. Không một lời nào, con hiểu không?”
“Vâng, thưa bố.” Vẫn không phải là sợ hãi, nhưng còn có gì đó trong ấy, một thứ gì đó cứng rắn và tuyệt vọng.
Cậu ta muốn làm cha mình tự hào.
Một năm trước, Thợ Làm Vườn đã kể với tôi rằng vợ hắn tự hào về đứa con trai nhỏ, không nhất thiết hắn cũng cảm thấy như vậy. Hắn đã không tỏ ra thất vọng, nhưng có lẽ khi so với niềm tự hào dễ nhận thấy của mẹ cậu ta, cảm xúc của cha cậu ta khó lòng đoán định hơn. Hay có lẽ ông bố chỉ đơn giản là kìm nén những lời khen cho đến khi hắn cảm thấy chúng xứng đáng. Có rất nhiều cách giải thích khả dĩ, nhưng chàng trai này muốn làm cha cậu ta tự hào, muốn cảm thấy mình là một phần của thứ gì đó lớn hơn.
Chàng trai ngu ngốc, ngu ngốc làm sao.
Lúc ấy có tiếng bước chân, nhỏ dần, di chuyển ra xa hơn. Tôi ở nguyên vị trí, bị kẹt lại cho đến khi những bức tường nhấc lên. Khoảng một, hai phút sau, Thợ Làm Vườn bước vào đầu bên kia của hành lang và vẫy gọi tôi. Tôi tuân lệnh, như luôn luôn làm thế, và hắn lơ đãng luồn một bàn tay vào tóc tôi, lúc này đã lại trở về một búi rối bời. Tôi đoán hắn đang tìm kiếm sự an ủi.
“Làm ơn đi cùng tôi.”
Hắn thực sự chờ tôi gật đầu rồi mới đặt một bàn tay lên lưng tôi và khẽ đẩy tôi đi xuống hành lang. Phòng xăm mình đang mở, các máy móc được phủ ni lông chống bụi cho đến khi lại có một cô gái mới; khi đã vào bên trong, hắn lôi một chiếc điều khiển nhỏ từ trong túi quần ra, bấm một nút, và cánh cửa hạ xuống sau chúng tôi. Bên kia căn phòng, cánh cửa dẫn vào buồng riêng của hắn cũng mở. Bảng nút bấm kêu bíp khi cánh cửa đóng lại. Con trai hắn đứng trước mấy giá sách, quay người lại trước tiếng khóa kêu tạch.
Cậu ta há hốc miệng nhìn tôi.
Khi lại gần, rất dễ thấy rằng cậu ta thừa kế cặp mắt của ông bố, nhưng phần lớn đường nét của cậu ta thuộc về bà mẹ. Cậu ta có thân hình dong dỏng và những ngón tay dài, sang trọng. Hai bàn tay của nhạc sĩ, tôi nghĩ bụng, khi nhớ lại điều cha cậu đã nói về cậu. Vẫn rất khó để đoán tuổi cậu ta. Cậu ta có thể bằng tuổi tôi, hoặc lớn hơn một chút. Tôi không giỏi trò này như Thợ Làm Vườn.
Cha cậu ta chỉ vào một cái ghế bành dưới ngọn đèn đọc sách. “Con ngồi đi.” Về phần mình, hắn chọn một chỗ trên sô-pha và kéo tôi xuống ngồi cạnh, suốt lúc ấy hắn vẫn giữ lưng tôi tránh khỏi tầm nhìn. Tôi cuộn chân lên bên cạnh mình và dựa người trên những cái gối nhồi êm, hai bàn tay tôi đặt trên đùi. Con trai hắn vẫn đứng đó, nhìn chằm chằm vào tôi. “Desmond, ngồi xuống.”
Hai chân cậu ta sụp xuống và cậu ta đổ cả người lên chiếc ghế tựa.
Nếu tôi xổ ra hết những câu chuyện kinh dị với cậu chàng đang bị sốc này, liệu cậu ta có thể gọi cảnh sát tới đây nhanh hơn tốc độ cha cậu giết tôi không? Hay là cha cậu ta chỉ việc giết cậu ta để bịt miệng? Vấn đề đích thực với những kẻ tâm thần là ông không bao giờ biết ranh giới của chúng ở đâu.
Tôi còn chưa thể quyết định liệu có đáng để liều không, và rốt cuộc, thứ ngăn tôi lại chính là ý nghĩ về tất cả những cô gái khác. Toàn bộ không khí cho Vườn đều tới từ một hệ thống điều hòa tổng. Tất cả những gì Thợ Làm Vườn phải làm để lấy mạng toàn bộ chỉ là thả một chút thuốc sâu hay thứ gì đó vào không khí. Rốt cuộc, hắn đã phải tàng trữ đủ loại hóa chất để chăm cho hai nhà kính này.
“Maya, đây là Desmond. Nó là sinh viên năm ba ở trường Đại học Washington.”
Điều đó giải thích vì sao anh ta chỉ đi bộ với cha mẹ vào các dịp cuối tuần.”
“Desmond, đây là Maya. Cô ấy sống ở vườn trong này.”
“Sống… sống ở đây sao?”
“Sống ở đây,” hắn khẳng định. “Cùng với những người khác nữa.” Thợ Làm Vườn ngồi ra mép sô-pha, hai bàn tay hắn thả lỏng trên đầu gối. “Anh trai con và ta cứu họ khỏi đường phố và mang họ quay về đây để sống một cuộc đời tốt đẹp hơn. Chúng ta cho họ cái ăn, cái mặc và chăm sóc họ.”
Rất ít người trong số chúng tôi tới từ đường phố, và không đời nào có chuyện chúng tôi được cứu khỏi thứ gì, nhưng phần còn lại có thể là sự thật từ một góc nhìn lệch lạc nhất định. Dù sao Thợ Làm Vườn cũng chẳng bao giờ coi mình là kẻ xấu.
“Mẹ con không biết về chuyện này, bà ấy cũng không thể biết. Áp lực phải chăm sóc từng ấy người là gánh nặng quá lớn đối với trái tim bà ấy.” Hắn tỏ ra quá sức chân thành, quá sức thật thà. Và tôi thực sự có thể trông thấy con trai hắn đang tin lời. Nỗi nhẹ nhõm lan khắp mặt anh ta, đuổi đi một thoáng hoảng sợ nhất thời rằng cha anh ta đang giữ cả một dàn hậu cung để thỏa mãn riêng.
Chàng trai ngu ngốc, ngu ngốc.
Rồi anh ta sẽ học được nhiều điều hơn. Lần đầu tiên nghe tiếng một cô gái khóc, lần đầu tiên trông thấy cặp cánh của ai đó, lần đầu tiên những bức tường được kéo lên và trưng ra tất cả những cô gái trong bể kính và nhựa ấy, rồi anh ta sẽ biết. Còn giờ đây, anh ta chấp nhận hết. Khi hiểu biết hơn, liệu anh ta đã lún quá sâu để mà làm điều đúng đắn chưa?
Chúng tôi cùng ngồi trong căn phòng ấy gần một giờ và nghe Thợ Làm Vườn kể câu chuyện theo cách của hắn, thi thoảng lại nhìn sang tôi để tôi gật đầu và cười phụ họa. Tôi làm vậy, dù bụng dạ nhộn nhạo, nhưng rất giống Bliss, tôi còn chưa muốn chết. Tôi không có niềm hi vọng như của mẹ Johanna, nhưng nếu còn vài năm để sống, tôi muốn có chúng, kể cả là sống như thế này. Nếu tôi không rơi vào mức độ muốn tự sát, tôi sẽ không lê bước tới cái chết của mình.
Rốt cuộc Thợ Làm Vườn kiểm tra đồng hồ. “Đã gần hai giờ sáng rồi,” hắn thở dài, “và con còn lớp học lúc chín giờ. Đi nào, để ta dẫn con quay lại nhà. Và nhớ là không một lời nào, kể cả với Avery trừ phi con ở đây. Chúng ta sẽ tạo một mật mã cho con khi nào ta chắc chắn là con đáng tin cậy.”
Đáng lẽ tôi cũng đứng dậy, nhưng khi tôi quăng chân xuống sàn, hắn làm một cử chỉ rất nhẹ khiến tôi lại ngồi thừ ra sô-pha.
Tôi đoán rốt cuộc mình đúng là kiểu con gái ấy.
Hắn gọi chúng tôi là Bướm, nhưng thực ra chúng tôi là những con chó được huấn luyện kĩ càng.
Tôi ở nguyên trên sô-pha đúng chỗ hắn đã bỏ tôi lại, thậm chí còn không đứng lên để đi quanh căn phòng đó. Không có cửa sổ hay cửa ra vào nào khác nên đi lung tung cũng chẳng ích gì. Tất nhiên tôi đã trông thấy nó rồi, nhưng lần này không còn tấm màn mờ mịt của cơn đau và cú sốc nữa. Đây là một chốn riêng tư với hắn, thậm chí còn riêng tư hơn cả Khu vườn. Thậm chí các cô Bướm cũng không thuộc về nơi này.
Vậy thì tôi ở đây làm cái quái gì? Đặc biệt là khi hắn vắng mặt?
Khoảng nửa tiếng sau đó, hắn trở lại. “Quay người lại,” hắn khàn giọng ra lệnh, lột quần áo mình và thả nó thành một đống bừa bãi trên thảm. Tôi tuân lệnh trước khi hắn có thể thấy mặt tôi, xoay người ngồi trên hai cẳng chân để cho không gian mở đằng sau lưng tôi. Hắn thả người quỳ xuống đầu gối, lần những ngón tay và cặp môi run rẩy theo từng đường nét trên lưng tôi, bằng cách nào đó tôi biết rằng lúc này hắn đã rã rời vì sự căng thẳng khi phải kể chuyện cho con trai, vì niềm vui với ý nghĩ có lẽ cậu con trai nhỏ này sẽ chia sẻ mối quan tâm với hắn theo cái cách nhẹ nhàng hơn cậu cả. Hắn lúng túng với những cái móc trên váy tôi và khi không thể tháo chúng trong một, hai lần thử, hắn xé toạc lớp vải từ chỗ móc khóa, khiến tôi ngồi giữa đống lụa đen rách rưới.
Thế nhưng nếu hi vọng có bay xa trong một đêm, hay một ngày, hay vô tận, liệu có vì thế mà nó bay đi ít hơn? Mọi thứ chúng ta thấy hay tưởng mình thấy vốn chỉ là một giấc mơ trong giấc mơ.
Nhưng khi ấy tôi đã ở trong Vườn được một năm rưỡi, và kể cả Poe cũng trở thành một thói quen nhiều hơn là sự phân tâm thật sự. Tôi ý thức được nhiều hơn mong muốn của mình về việc hắn đang làm, về chỗ mồ hôi nhỏ từ ngực hắn xuống xương sống tôi, về những tiếng rên rỉ của hắn mỗi lần hắn kéo người tôi sát về phía hắn hơn. Tôi ý thức quá rõ mọi việc hắn làm để thu lấy phản ứng của tôi, và mọi cách mà cơ thể tôi phản bội chính tôi khi đầu hàng, bởi vì không bao giờ tôi đủ sợ hay hắn đủ hung hãn để hoàn toàn dập tắt mọi xúc cảm.
Ngay cả khi có vẻ đã xong việc, hắn vẫn còn nán lại tại chỗ, thổi những đám hơi nhẹ trên đường viền cặp cánh và sau khi hết một vòng, hắn lặp lại chuyện đó bằng những nụ hôn, nhẹ nhàng như lời cầu nguyện, rồi hắn lặp lại mọi chuyện một lần nữa, khiến tôi nghĩ thật quá bất công khi hắn biến chúng tôi thành bướm, trong tất cả mọi thứ khác.
Những con bướm thật có thể bay đi, vượt khỏi tầm với.
Những cô Bướm của Thợ Làm Vườn chỉ có thể rơi xuống, mà việc ấy cũng hiếm hoi.
Cô gái lôi thỏi son bóng từ trong túi ra và dặm nó lên môi một lần nữa bằng hai bàn tay run rẩy. Nhìn cô ta, tận mắt thấy phẩm giá đã bị đánh tả tơi của cô được cử chỉ ấy khôi phục, Victor thầm cảm ơn con gái mình vì đã suy nghĩ rất chu đáo. Chỉ là một việc giản đơn như thế, nhưng vượt khỏi tầm dự đoán của ông.
“Và thế là xong cuộc gặp gỡ với Desmond,” một phút sau cô ta nói.
Eddison cau mày với chồng ảnh và các giấy tờ khác. “Làm sao cậu ta có thể…”
“Những người cực kì muốn tin vào điều gì đó thì thường có thể,” cô ta nói đơn giản. “Anh ta muốn tin cha mình có một cách giải thích tốt đẹp, hợp tình hợp lý và khi hắn đưa ra được một đáp án như thế, anh ta muốn tin nên anh ta đã tin. Trong một thời gian, anh ta đã tin.”
“Cô bảo là đến thời điểm đó, cô đã ở trong vườn được một năm rưỡi,” Victor lẩm bẩm. “Cô vẫn canh thời gian đấy à?”
“Đầu tiên thì không. Rồi tôi có một món quà bất ngờ trong ngày kỉ niệm của mình.”
“Từ Bliss?”
“Từ Avery.”
Sau lần đầu tiên ấy, khi cha gã cho gã một trận ra trò vì những gì gã đã làm với tôi và Giselle, Avery chỉ chạm vào tôi hai lần, dưới sự cho phép nghiêm khắc của cha gã cũng như lời đe dọa rằng bất kì điều gì không phải xảy đến với tôi cũng sẽ xảy đến với gã. Gã không tát hay bóp cổ tôi, cũng không trói tôi lại ngoại trừ hai cổ tay ngoặt ra sau lưng, nhưng Avery biết nhiều cách khác để khiến người ta đau đớn.
Sau mỗi lần trải qua với Avery, tôi lại mất cả tuần tiếp theo trong cảnh mất nước, bởi vì nếu đằng nào đi tiểu cũng bị đau, ít nhất tôi cũng đảm bảo việc ấy không diễn ra thường xuyên lắm.
Mặc dù vậy gã vẫn dõi theo tôi suốt, có lẽ gần bằng Desmond dõi theo những dấu hiệu của khu vườn trong cho đến khi anh ta tìm được đường vào. Tôi là một thứ đáng lẽ không được phép đụng vào, vì thế tôi trở nên thú vị và đáng khao khát.
Lần thứ tư tôi phải đối mặt với gã bắt đầu y như hai lần trước, với việc Thợ Làm Vườn tới tìm tôi và giải thích rằng Avery đã hỏi xin thời gian ở cùng tôi, nhưng gã phải chấp nhận các giới hạn, y như trước. Đó là cách an ủi của Thợ Làm Vườn. Chúng tôi vẫn không thể nói không, bởi việc đó làm hắn bực, nhưng hắn nghĩ chúng tôi yên tâm hơn khi biết Avery không thể làm đau chúng tôi mà không chịu hậu quả gì.
Thực tế những hậu quả ấy chỉ xảy đến sau khi chúng tôi đã què cụt hoặc bị giết chẳng mang lại chút an tâm nào hết, nhưng dường như hắn không bao giờ chịu hiểu. Hay có lẽ hắn hiểu nhưng chỉ gạt mối lo ấy sang bên. Rốt cuộc, gã đàn ông này thực sự tin rằng hắn đang ban cho chúng tôi một cuộc đời tốt đẹp hơn so với thứ chúng tôi đã có ở Bên ngoài, rằng hắn đang chăm sóc chúng tôi.
Vậy là trong tâm trạng không thực sự được an ủi, tôi ngoan ngoãn theo Avery vào phòng chơi bời của gã và nhìn gã đóng cửa lại, cởi quần áo khi gã ra lệnh và để gã khóa mình vào những cái móc trên tường, buộc một dải bịt mắt thật chặt quanh đầu tôi nữa. Đến lúc ấy tôi đã chuyển sang đọc văn xuôi của Poe, bởi vì nó khó học thuộc hơn khi không có vần, và tôi cố lục lại những gì có thể nhớ được trong truyện The Tell-Tale Heart (Trái tim thú tội) và chuẩn bị để thầm nhẩm lại nó.
Không như Thợ Làm Vườn, Avery không tin vào việc chuẩn bị hay màn dạo đầu gì hết, không quan tâm đến chuyện làm cho chúng tôi sẵn sàng hay ít nhất là bôi trơn cho chúng tôi, bởi vì gã thích gây ra đau đớn. Tôi không hề ngạc nhiên khi gã vào việc ngay lập tức.
Khoảng một phần tư câu chuyện sau đó, tôi lại thấy ngạc nhiên khi gã rút ra mà không kết thúc. Tôi có thể nghe thấy tiếng gã ở đầu bên kia căn phòng, nơi gã cất hầu hết đồ chơi của mình, nhưng thậm chí cả khi thời gian trôi đi, gã cũng không quay lại với tôi. Mặc dù vậy, dần dà tôi bắt đầu để ý thấy một mùi nhẹ. Tôi không thể xác định được nó, thứ gì đó giống cà phê thiu hay một bình nước vẫn đặt trên bếp sau khi nước đã bốc hơi hết. Rốt cuộc tôi cũng có thể nghe thấy tiếng bước chân nặng nề của gã trên sàn kim loại lạnh băng khi gã quay lại, một cơn đau trời ơi đất hỡi ập đến khi gã ấn thứ gì đó vào hông tôi khiến nó vừa bỏng rát vừa rách toạc. Nó không giống bất kì thứ gì tôi từng trải qua trước đó, cơn đau khủng khiếp đến mức nó lôi mọi thứ trong tôi tới một điểm duy nhất và cố đập vỡ nó.
Tôi gào lên, cổ họng tôi thắt lại quanh âm thanh vừa thoát ra khỏi nó.
Avery cười phá lên. “Chúc mừng ngày kỉ niệm, con khốn kiêu ngạo.”
Cánh cửa mở toang và gã quay ngoắt đi, nhưng thậm chí cả sau khi dụng cụ ấy bị lôi ra thì cơn đau vẫn còn, cướp mọi hơi thở khỏi người tôi khi tiếng thét của tôi cuối cùng cũng tắc nghẹn và lụi tàn. Có nhiều tiếng động trong phòng, nhưng tôi không còn nhận ra chúng là gì. Tôi hít lấy hít để không khí, nhưng cảm giác như phổi tôi đã quên mất cách hoạt động như thế nào.
Rồi hai bàn tay lúng túng với mấy cái còng tay và còng chân tôi, tôi co rúm lại.
“Là tôi đây, Maya, tôi đây.” Tôi nhận ra giọng Thợ Làm Vườn, cảm thấy những bàn tay thân quen đang giật vải bịt mắt tôi để tôi có thể trông thấy hắn. Trên sàn nhà cạnh hắn, Avery đang nằm rũ ra không lấy gì làm thanh lịch, một cơn run rẩy dưới lớp da trên cổ hắn. “Tôi rất xin lỗi, tôi không hề nghĩ… nó đã quá… tôi xin lỗi. Nó sẽ không bao giờ, không bao giờ đụng vào em lần nữa.”
Dụng cụ kia nằm trên sàn cạnh Avery. Khi trông thấy nó, tôi phải cắn vào lưỡi để ngăn cơn buồn nôn không chiếm lấy mình. Thợ Làm Vườn tháo được những mối buộc cuối cùng và tôi gần như hét lên lần nữa khi cố bước một bước.
Hắn đỡ hai chân bên dưới người tôi và bế bổng tôi lên, lảo đảo ra khỏi phòng chơi của Avery và đi nốt phần cuối hành lang tới phòng y tế. Hắn gần như thả tôi trên cái cáng hẹp để có thể bấm nút gọi Lorraine. Rồi hắn quỳ xuống bên cạnh tôi, nắm bàn tay tôi trong cả hai bàn tay hắn và nói đi nói lại với tôi rằng hắn hối tiếc như thế nào, thậm chí cả sau khi Lorraine vừa chạy vừa thở hổn hển vào phòng và bắt đầu làm việc.
Ở mặt tích cực, tôi đã không phải gặp Avery một thời gian rất dài sau đó, còn phòng chơi của gã thì đã bị dỡ bỏ hoàn toàn. Nhưng. Cha gã không thể khước từ gã tuyệt đối - Vườn gần như là sợi xích duy nhất hắn có với Avery - nên gã vẫn có những cách khác để làm đau những cô gái khác. Dù có hay không có ánh sáng cuối đường hầm ngớ ngẩn kia.
Ông không muốn biết. Ông thực sự, thực sự không muốn biết, và ông có thể thấy điều ước tương tự trên mặt Eddison.
Nhưng họ phải biết.
“Bệnh viện đã không nói gì cả.”
“Các ông lôi tôi tới đây trước khi bệnh viện kịp làm bài kiểm tra cho người bị cưỡng hiếp như họ đã dự định.”
Ông hít một hơi thật sâu, run rẩy và thả nó ra gần như một tiếng huýt gió. “Inara.”
Không nói một lời, cô đứng dậy và lật áo len cùng áo thun lên nửa bụng trên, để lộ những vết bỏng khác, vết cắt và đoạn cuối một đường khâu trên mạng sườn. Khuy quần bò của cô đã mở nên cô kéo khóa quần xuống, rồi vươn tay sang sườn trái và dùng một ngón cái kéo cả quần bò lẫn chiếc quần lót bằng thun kẻ sọc xanh xuống, vừa đủ để hai đặc vụ trông thấy.
Lớp mô sẹo có màu hồng rực và gồ lên dày cộm dọc xương hông của cô gái. Chỉ có rìa cặp cánh là mờ đi thành một màu hồng nhạt và trắng. Cô dành cho họ cái nhếch mép gần như cười. “Chúng bảo mọi thứ đều đi theo bộ ba.”
Ba con bướm cho một cô bé bị tổn thương: một cho cá tính, một cho sự chiếm hữu và một cho lòng thương hại.
Cô chỉnh lại quần áo và ngồi xuống, lôi một cái bánh phô mai từ trong chiếc hộp đã bị lãng quên để nhường chỗ cho món bánh quế cuộn nhà làm. “Tôi xin thêm ít nước được không?”
Một tiếng gõ ở đầu bên kia lớp kính vang lên để trả lời.
Victor nghĩ đó chắc là Yvonne. Bởi vì sẽ dễ dàng hơn khi bạn có việc gì đó để làm.
Cánh cửa mở ra, nhưng một chuyên viên nam ló đầu vào, ném cho Eddison ba chai nước trước khi đóng cửa lại lần nữa. Eddison đưa một chai cho Victor, rồi vặn nắp một chai khác và đặt nó trước mặt Inara. Cô nhìn hai bàn tay bị thương của mình, nhìn các đường rãnh trên nắp chai, và gật đầu, uống một ngụm dài.
Victor với lại bức ảnh chàng trai và đặt nó ở vị trí nổi bật trên bàn. “Kể cho chúng tôi nghe về Desmond và Vườn đi, Inara.”
Cô ấn hai cườm tay lên mắt. Trong một thoáng, những đốm hồng, đỏ và tím ngang mặt cô trông như một tấm mặt nạ.
Gần như một con bướm.
Victor rùng mình, nhưng ông vươn tay qua bàn để nhẹ nhàng kéo tay cô xuống. Ông giữ hai bàn tay mình đặt trên tay cô gái, cẩn thận không đặt quá nhiều áp lực lên các vết bỏng, và chờ cô tìm lời. Sau vài phút im lặng, cô xoay hai bàn tay dưới tay ông cho đến khi có thể khẽ túm lấy cổ tay ông, và ông đáp lại cái nắm ấy.
“Desmond không biết bản chất thật sự của Vườn trong một khoảng thời gian,” cô kể với hai bàn tay ông. “Có lẽ là rất lâu, theo cách mọi chuyện xảy ra. Cha anh ta đã đảm bảo điều đó.”
Thợ Làm Vườn đã không đưa mật mã cho con trai út của mình ngay. Trong vài tuần đầu, hắn tháp tùng Desmond vào Vườn, kiểm soát những gì anh ta thấy và những ai anh ta nói chuyện. Chẳng hạn, Bliss là một trong những người được giới thiệu sau, khi Thợ Làm Vườn đã có cơ hội nói chuyện mấy lần thật lâu với em ấy về điều gì được và không được phép thể hiện hay kể với con trai hắn.
Desmond không được dẫn tới gặp những cô mau nước mắt hay những cô nịnh bợ, và ai mà anh ta được phép tiếp xúc thì được nhận một chiếc váy che lưng.
Bliss cười đau cả bụng khi thấy cái váy của em ấy được gấp cẩn thận đặt bên ngoài cửa. Lorraine đưa chúng đến và trong một thoáng, mụ đã có vẻ hài lòng. Mụ không biết chuyện Desmond đã khám phá ra Vườn, không biết đây chỉ là nhất thời.
Mụ tưởng chúng tôi đang phải chia sẻ sự trừng phạt với mụ, cảnh đày ải của mụ.
Những chiếc váy ấy đơn giản nhưng sang trọng, giống mọi thứ khác trong tủ đồ của chúng tôi. Hắn biết kích cỡ của tất cả và có lẽ đã cử Lorraine ra ngoài để mua chúng - bất chấp nỗi hoảng sợ của mụ trước ý nghĩ phải rời khuôn viên an toàn trong Vườn - nhưng chúng tôi có chúng nhanh đến mức không thể là bằng cách nào khác. Tất nhiên, vẫn là màu đen. Váy của tôi gần giống một chiếc áo sơ mi, không tay và có cổ áo với hàng khuy tới eo, nơi nó biến mất bên dưới một dải thắt lưng đen bản rộng và trở thành một chiếc chân váy xòe sột soạt dài tới đầu gối tôi. Tôi âm thầm yêu thích nó.
Cặp cánh của chúng tôi đã được che đi, nhưng trước sự hài lòng của Thợ Làm Vườn, tôi vẫn còn có cánh trong tầm mắt. Con bướm đen nhỏ mà tôi đã xăm cùng các cô gái trong căn hộ vẫn còn sắc nét và rõ ràng trên cổ chân phải của tôi. Chừng nào cặp cánh của chúng tôi vẫn còn được che đi, thậm chí chúng tôi được phép vấn tóc theo ý thích. Bliss thả mái tóc của em xuống thành những lọn tóc nổi loạn vướng vào mọi thứ, trong khi tôi tết một bím đơn giản ở đằng sau. Nó mang tới cảm giác nuông chiều bản thân đáng kể.
Desmond của hai tuần đầu tiên đó chỉ là cái bóng của cha anh ta, lịch thiệp và tôn trọng, cẩn thận với các câu hỏi của mình để không co kéo sự nhẫn nại của cha anh ta. Tất cả chúng tôi đều đã được dặn dò cẩn thận về phản ứng của mình. Nếu anh ta hỏi bất kì điều gì về cuộc sống trước đây, chúng tôi phải cụp mắt xuống và lẩm bẩm cái gì đó đại loại là những điều đau thương tốt nhất nên bị lãng quên. Mãi đến lần thứ năm hay sáu anh ta nghe thấy điều đó thì mới thấy có gì đó là lạ.
Nội việc anh ta sinh nghi đã khiến tôi phải điều chỉnh ước đoán ban đầu của mình về trí tuệ của anh ta. Tuy nhiên, chỉ chút ít thôi. Rốt cuộc, anh ta vẫn tin vào câu chuyện của ông bố.
Anh ta đến vào các buổi tối, mỗi lần vài tiếng, không phải hàng ngày nhưng cũng gần như vậy. Sau các lớp học, và nếu anh ta không có quá nhiều bài tập về nhà. Trong khoảng thời gian giới thiệu ấy, Avery bị cấm lai vãng vào Vườn hoàn toàn còn Thợ Làm Vườn thì không đụng đến bất kì ai trong chúng tôi khi Desmond còn ở đó. Tất nhiên, hắn chạm vào chúng tôi sau hoặc trước đó, nhưng không bao giờ ở chỗ con trai hắn trông thấy được. Các bức tường hạ xuống chắn những cô gái trong bể kính, không phải chỉ chắn từ bên ngoài mà còn chắn luôn tường kính trong các phòng. Chúng tôi trải qua nhiều tuần liền không trông thấy những cô gái đã chết và mặc dù chúng tôi vẫn cảm thấy tội lỗi khi muốn quên lãng hoặc tảng lờ họ, cảm giác vẫn thật huy hoàng khi không bị nhắc nhở liên tục về quãng đời hữu hạn và vô hạn của chúng tôi.
Cuộc giới thiệu với Desmond cũng giống như cách Lyonette mang các cô gái vào Vườn. Đầu tiên ông làm cho họ cảm thấy tốt hơn. Rồi ông chỉ cho họ xem, kể với họ, mỗi lúc một ít. Ông không đề cập ngay tới vụ đánh dấu, không mang chuyện tình dục lên bàn luôn. Ông đề cao nó trên một khía cạnh trước đã, khi nào họ không còn tranh cãi về nó nữa, ông liền giới thiệu thứ tiếp theo.
Một trong rất nhiều lí do mà các bài giới thiệu của tôi chẳng khi nào đạt tới độ duyên dáng như của Lyonette.
Hầu như tôi vẫn giữ thói quen hàng ngày của mình dù Desmond có ở trong Vườn hay không. Tôi dành các buổi sáng nói chuyện với các cô gái trong hang, chạy thể dục trước bữa trưa, dành các buổi chiều đọc sách trên tảng đá hoặc chơi trốn tìm dưới đất. Dù anh ta và cha anh ta hay bắt đầu từ chiều, họ thường kết thúc bằng việc nói chuyện với tôi trên tảng đá. Đôi khi Bliss cũng ở đó vì lí do này.
Thường thì hễ trông thấy họ xuất hiện trên con đường mòn là em ấy trèo ngay xuống để né tránh họ.
Dù yêu thích tính cách và tinh thần của Bliss như thế nào, Thợ Làm Vườn cũng thấy ổn với sự né tránh ấy. Như thế còn đỡ mạo hiểm hơn là để con trai hắn khám phá ra sự thật trước khi gã kịp chuẩn bị cho anh ta một cách kĩ lưỡng.
Đêm cuối cùng của đợt giám sát trực tiếp, Thợ Làm Vườn bắt đầu câu chuyện với tôi và Desmond, rồi bỏ chúng tôi lại để đi xuống lối mòn và rẽ vào hành lang. Rốt cuộc các bể kính đã bị chắn mất và tôi nghĩ hắn nhớ họ. Nhưng cuộc nói chuyện đã cạn không bao lâu sau khi hắn bỏ đi và khi Desmond không tài nào tìm ra cách nói tiếp - bởi vì chắc chắn tôi không có trách nhiệm phải làm vậy - tôi liền quay lại với cuốn sách của mình.
“Antigone à?” Eddison hỏi.
“Lysistrata.” Cô chỉnh lại với một thoáng cười. “Tôi cần thứ gì đó nhẹ nhàng hơn.”
“Tôi chưa đọc nó bao giờ.”
“Tôi không ngạc nhiên; đó là kiểu sách anh trân trọng hơn sau khi đã có được một người phụ nữ vững vàng trong đời mình.”
“Làm sao…”
“Thật ư? Cái cách anh quát nạt và gầm ghè, phản ứng thô thiển của anh, vậy mà anh vẫn muốn bảo tôi rằng anh có một cô vợ hay bạn gái ư?”
Hai vệt đỏ lừ xấu xí nổi lên trên má cậu ta - nhưng cậu ta đã rút kinh nghiệm. Cậu ta không mắc cái bẫy đó.
Cô gái nhe răng cười với cậu ta. “Phá bĩnh.”
“Vài người trong chúng ta phải làm việc,” cậu ta đốp lại. “Cô cứ thử hẹn hò khi công việc có thể gọi cô đi bất kì lúc nào xem.”
“Hanoverian có gia đình đấy.”
“Ông ấy kết hôn từ hồi đại học.”
“Hồi đó Eddison còn bận bị bắt,” Victor nhận xét. Mấy vằn đỏ hiện lên sau gáy cậu đồng sự của ông.
Inara ngẩng đầu lên. “Say xỉn và làm mất trật tự? Dâm đãng, khiêu dâm?”
“Tấn công.”
“Vic…”
Nhưng Victor đã ngắt lời cậu ta. “Cảnh sát trường học và địa phương mở cuộc điều tra về một loạt các vụ cưỡng hiếp trong trường. Có thể là cố ý - nghi phạm là con trai của cảnh sát trưởng. Rốt cuộc không có cáo buộc nào được đưa ra. Trường cũng không áp dụng hình thức kỉ luật nào.”
“Và Eddison nhắm vào thằng đó.”
Cả hai người đàn ông gật đầu.
“Một kẻ xấu.” Cô ngồi lùi lại trên ghế, biểu cảm đăm chiêu trên mặt. “Khi anh không nhận được công lý, anh tạo ra nó.”
“Chuyện đó lâu lắm rồi,” Eddison lẩm bẩm.
“Thật sao?”
“Tôi thượng tôn pháp luật. Nó không hoàn hảo nhưng vẫn là luật, và nó là thứ chúng ta có. Không có công lý, chúng ta không có trật tự và hi vọng nào.”
Victor quan sát cô gái nghiền ngẫm điều đó, xoay lật nó.
“Tôi thích ý tưởng của anh về công lý,” cuối cùng cô nói. “Tôi chỉ không chắc nó thực sự tồn tại.”
“Điều này,” Eddison nói và gõ xuống bàn, “cũng là một phần của công lý. Đây là nơi chúng ta bắt đầu tìm kiếm sự thật.”
Cô gái khẽ cười.
Và nhún vai.
Chúng tôi ngồi trong im lặng lâu đến mức anh ta trở nên không thoải mái, nhấp nhổm trên tảng đá và cởi áo len ra vì hơi nóng phả từ trên trần kính xuống. Chủ yếu tôi lờ tịt anh ta, cho đến khi tiếng hắng giọng ám chỉ cuối cùng anh ta cũng có nhu cầu nói. Tôi gập sách và kẹp một ngón tay làm dấu rồi quay sang chú ý đến anh ta.
Anh ta lùi lại. “Cô là, ừm… một người rất thẳng thắn, phải không?”
“Đó có phải chuyện gì xấu không?”
“Không…” Anh ta chậm rãi nói, như thể chưa hoàn toàn chắc chắn. Anh hít một hơi dài, nhắm mắt lại. “Bao nhiêu phần trong những gì bố tôi kể cho tôi là hoàn toàn bịa đặt?”
Câu hỏi đó đáng để đi tìm một cái kẹp sách. Tôi nhét nó vào giữa các trang và cẩn thận đặt cuốn sách lên tảng đá đằng sau tôi. “Điều gì khiến anh nghĩ bất kì chuyện gì là thật?”
“Ông ấy đã cố gắng biết mấy. Và… toàn bộ vấn đề riêng tư nữa. Khi tôi còn nhỏ, ông ấy đã đưa tôi vào văn phòng, chỉ cho xem một vòng, giải thích rằng ông đã làm việc rất chăm chỉ ở đó và cần tôi không bao giờ vào đó làm phiền ông. Ông đã cho tôi xem. Ông chưa bao giờ làm vậy với nơi này nên tôi biết chắc hẳn nó có gì khác.”
Tôi quay hẳn sang đối diện với anh ta, bắt tréo chân trên tảng đá được mặt trời sưởi ấm trong lúc xếp lại váy áo để che những chỗ quan trọng. “Khác theo cách nào?”
Anh ta cũng làm theo tôi, đầu gối chúng tôi sát sạt nhau. “Ông ấy có thực sự giải cứu cô không?”
“Anh không nghĩ đó là câu hỏi anh nên đặt ra với bố anh à?”
“Tôi thà hỏi người nào có thể kể sự thật hơn.”
“Và anh nghĩ người đó là tôi?”
“Sao lại không? Cô là một người rất thẳng thắn cơ mà.”
Tôi nở nụ cười bất cần. “Thẳng thắn không có nghĩa là thành thật. Cũng có thể là tôi rất thẳng thắn và nói dối trắng trợn.”
“Vậy cô định nói dối tôi?”
“Tôi định bảo anh đi hỏi bố anh.”
“Maya, bố tôi thực sự đang làm gì ở đây?”
“Desmond, nếu anh nghĩ bố anh đang làm bất kì điều gì không thích đáng ở đây thì anh sẽ làm gì?” Anh ta có biết rằng câu trả lời của anh ta có thể quan trọng đến nhường nào không?
“Tôi sẽ… à, tôi sẽ…” Anh ta lắc đầu, vò mái tóc đã hơi dài của mình. “Tôi đoán điều đó phụ thuộc việc không thích đáng ấy là gì.”
“Vậy anh nghĩ ông ta đang làm gì?”
“Ngoài chuyện lừa dối mẹ tôi ư?”
Một điểm.
Anh ta hít thêm một hơi sâu. “Tôi nghĩ ông ấy tới tìm tất cả các cô vì tình dục.”
“Và nếu đúng?”
“Ông ấy đang lừa dối mẹ tôi.”
“Đó sẽ là vấn đề của mẹ anh, không phải của anh.”
“Ông ấy là bố tôi.”
“Không phải bạn đời của anh.”
“Tại sao cô không dành cho tôi câu trả lời trực tiếp?”
“Tại sao anh lại hỏi tôi, thay vì hỏi ông ta?”
“Bởi vì tôi không chắc tôi có thể tin những gì ông ấy nói.” Anh ta đỏ mặt, như thể nghi ngờ những lời nói của bố là một việc gì đó đáng hổ thẹn.
“Và anh nghĩ có thể tin được tôi sao?”
“Các cô khác đều thế.” Cử chỉ của anh ta bao trọn toàn bộ Vườn, một nhúm các cô gái được phép ra khỏi phòng khi Desmond đang ở đó.
Nhưng tất cả các bức tường đã bị hạ xuống với những cô gái từng bấu víu vào niềm hi vọng được thả, cặp cánh thứ hai của họ hiển hiện trên mặt. Chúng đã hạ xuống với những cô mít ướt và bơ phờ - chỉ trừ Bliss - kẻ xấu tính muôn thuở. Chúng đã hạ xuống với tất cả mấy chục cô gái trong bể kính, và dăm ba chiếc bể trống vốn không đủ chứa cả một thế hệ đang hiện hữu, không ai biết hắn sẽ làm gì khi hết bể.
“Anh không phải là một trong chúng tôi,” tôi nói thẳng. “Bởi vì anh là anh, anh sẽ không bao giờ thuộc về chúng tôi.”
“Bởi vì tôi có đặc quyền ư?”
“Nhiều hơn mức anh có thể hiểu được. Họ tin tôi bởi vì tôi đã chứng minh cho họ thấy họ có thể tin. Tôi không quan tâm chút nào đến việc chứng minh điều đó với anh.”
“Cô nghĩ phản ứng của ông ấy sẽ như thế nào nếu tôi hỏi?”
“Tôi không biết, nhưng ông ta đang trên đường lên đây kìa, và tôi sẽ cảm ơn anh nếu không hỏi ông ta trước mặt tôi.”
“Không dễ để hỏi ông ấy bất kì điều gì,” anh ta lẩm bẩm.
Tôi biết tại sao điều đó lại rất đúng với chúng tôi. Nhưng tôi nghĩ nếu nó vẫn đúng với anh ta thì đó chỉ là do sự hèn nhát.
Cha anh ta gia nhập với chúng tôi đúng lúc đó, đứng mỉm cười bên trên chúng tôi. “Hai người thân nhau đấy chứ, Desmond?”
“Vâng, thưa bố. Nói chuyện với Maya rất dễ chịu.”
“Ta vui khi nghe thấy thế.” Bàn tay hắn xoay như thể để chạm vào tóc tôi, nhưng vào giây cuối hắn đã đưa nó lên xoa cằm. “Đã đến giờ chúng ta về ăn tối với mẹ con rồi. Tôi sẽ quay lại xem cháu sau, Maya.”
“Tất nhiên rồi.”
Desmond đứng dậy và đưa bàn tay tôi lên môi anh ta. Thật á? “Cảm ơn vì đã bầu bạn với tôi.”
“Tất nhiên rồi,” tôi lặp lại. Tôi nhìn họ đi xuyên qua Vườn. Chẳng bao lâu nữa bọn họ sẽ ngồi cùng một phòng ăn với Eleanor và Avery, một gia đình bình thường hoàn hảo tán gẫu trong bữa ăn, không để ý gì đến những lời nói dối giăng mắc trên bàn như một màn sương.
Vài phút sau đó, tôi nghe tiếng Bliss đến bên cạnh mình. “Công cụ tốt đấy.” Em khịt mũi.
“Có thể.”
“Anh ta có tới gặp cảnh sát không?”
“Không,” tôi do dự nói. “Tôi không nghĩ vậy.”
“Vậy thì anh ta đúng là một công cụ.”
Đôi khi rất khó để tranh cãi với lý luận của Bliss, nó chỉ đến thế mà thôi.
Nhưng đôi khi, công cụ cũng dùng được.
“Sao cô lại không nghĩ cậu ta sẽ báo cảnh sát?”
“Cùng một lí do anh ta sẽ không hỏi cha mình những câu quan trọng kia,” cô gái trả lời với một cái nhún vai. “Bởi vì anh ta sợ. Lỡ anh ta tới gặp cảnh sát và lời giải thích của ông bố là thật thì sao? Hay tệ hơn, lỡ nó không phải là thật? Có thể anh ta muốn làm điều đúng đắn, nhưng anh ta chưa đầy hai mươi mốt tuổi. Bao nhiêu người trong chúng ta biết điều gì là đúng ở cái tuổi ấy?”
“Thậm chí cô còn chưa đến tuổi đó,” Eddison chỉ ra, và cô gái gật đầu.
“Và tôi đâu có bảo mình biết điều đúng đắn. Anh ta muốn tin cha mình. Chưa từng có ai khiến tôi muốn tin tưởng thiết tha như thế. Tôi cũng chưa từng có kiểu nhu cầu khiến ai đó tự hào về mình đến vậy.”
Đột nhiên cô cười, nụ cười vừa dịu dàng, vừa chua chát và buồn bã. “Mặc dù vậy Lotte lại lo lắng về chuyện đó.”
“Lotte?”
“Con gái út của chị Sophia. Tôi nhớ có một lần, sau khi chúng tôi làm việc đến ba giờ sáng, Sophia đến trường của hai con lúc tám giờ rưỡi sáng hôm ấy để có thể xem các vở kịch của chúng. Chị kể với chúng tôi về nó sau khi đã ngủ bù được một giấc.” Nụ cười nở rộng, sâu hơn và trong một thoáng Victor nghĩ mình đã trông thấy Inara Morrisey đích thực, cô gái đã tìm được gia đình trong căn hộ kì lạ kia. “Jiller không biết sợ, tự tin, là kiểu bé gái sẵn sàng lao mình vào bất cứ điều gì, không do dự. Lotte thì… không. Những cô bé có chị như Jillie có lẽ sẽ không bao giờ dám thế.”
“Dù sao thì, chúng tôi đang ngồi quanh bàn cà phê vào lúc ấy, ngồi cả trên sàn để ăn các món tổng hợp từ cửa hàng Taki, và Sophia quá mệt để mặc lại quần áo. Chị cứ thế nhào tới trong bộ đồ lót, mái tóc che gần hết hình xăm nhưng không che được mấy phần bộ ngực, và sà xuống để ăn. Lotte đã bồn chồn về lời thoại của con bé suốt mấy tuần, tập đi tập lại với từng người trong chúng tôi khi chúng tôi đi thăm cô bé cùng mẹ cô, và tất cả chúng tôi đều muốn biết liệu nó có nhớ đúng không.”
Victor đã từng tới các buổi diễn kịch ở lớp như vậy. “Nó có nhớ không?”
“Một nửa. Jillie hét toáng phần còn lại từ ghế khán giả.” Nụ cười thay đổi, nhạt đi. “Tôi chưa bao giờ là một kẻ hay ganh tị, chưa bao giờ thật sự thấy nó có ích lợi gì. Mặc dù vậy, hai cô bé đó, điều mà họ có với nhau và với chị Sophia… họ đáng để người khác ghen.”
“Inara…”
“Ông có thể có bất cứ thứ gì ở quán Taki,” cô gái quả quyết cắt ngang, lật những ngón tay bị bỏng và bị cứa lại như thể để gạt đi tình cảm ủy mị ấy. “Nó nằm giữa nhà ga và tòa nhà của chúng tôi, không bao giờ đóng cửa, và ông ta sẽ làm bất kì món gì, thậm chí kể cả ông có mua đồ ở cửa hàng rượu ngay cạnh. Vì đều làm việc trong nhà hàng, không ai trong số chúng tôi còn muốn nấu nướng gì nữa.”
Giây phút đáng lẽ ông có thể thúc giục đã qua đi nhanh chóng như khi nó đến, nhưng ông vẫn thầm ghi lại. Ông không ngây thơ đến mức nghĩ rằng cô ta tin cậy họ. Tuy nhiên, ông không nghĩ cô ta chủ định tiết lộ nhiều tình cảm đến thế. Dù cô ta có đang che giấu điều gì - và ông đồng ý với Eddison, cô ta đang che giấu điều gì đó quan trọng - cô ta cũng quá tập trung vào nó đến mức những thứ khác đã bắt đầu vuột ra.
Ông quý Inara, và ông thấy hình ảnh các con gái mình mỗi lần nhìn vào cô, nhưng ông có việc phải làm. “Còn Vườn thì sao?” Ông ôn tồn hỏi. “Tôi nghĩ cô đã nói Lorraine được lệnh chỉ làm các món ăn lành mạnh.”
Cô gái nhăn mặt. “Kiểu căng tin thôi. Ông đứng thành một hàng, nhận bữa ăn của mình, rồi ngồi xuống mấy cái bàn có ghế băng khiến ông nghĩ mình như đang trở về trường tiểu học. Trừ phi ông muốn mang khay về phòng mình, mà chủ yếu là ông sẽ làm vậy bất cứ khi nào thấy thích, miễn là mang khay trở lại trước bữa tiếp theo.”
“Nếu cô không thích món được cho ăn thì sao?”
“Ông phải ăn những gì có thể trên khay. Nếu thực sự có vấn đề dị ứng ở đây thì ông được tha, nhưng nếu ông không ăn đủ hoặc ông kén cá chọn canh quá, mọi chuyện sẽ không tốt lành gì với ông đâu.”
Có một cặp chị em song sinh ở đó hồi tôi mới đến. Trông họ giống hệt nhau, tới cả cặp cánh xăm trên lưng họ, nhưng họ lại là hai con người cực kì khác biệt. Magdalene và Magdalena. Maggie, người chị chỉ lớn tuổi hơn vài phút, bị dị ứng với cuộc sống. Thực vậy, thậm chí cô ta còn không thể ra Vườn chính vì không thở nổi ngoài đó. Nếu ông có khi nào cần giúp đỡ để chìm vào giấc ngủ thì chỉ cần bảo cô ta liệt kê các loại thức ăn cô ta bị dị ứng. Lena thì ngược lại, không dị ứng với bất kì thứ gì. Vào một trong những khoảng thời gian vô lý hiếm hoi của Thợ Làm Vườn, hắn đã giam họ cùng một phòng và luôn ghé thăm họ cùng một thời điểm.
Lena thích chạy nhảy quanh Vườn và thường xuyên kết thúc bằng việc bị ướt sũng, vấy bùn hay cây cỏ bám đầy người. Điều này gây rắc rối khá lớn khi cô cố quay lại phòng để tắm rửa. Thậm chí nếu lúc ấy Maggie đang ở phòng ăn, sau khi cô ta quay lại và thấy một cọng cỏ trên sàn nhà, cô ta cũng sợ chết khiếp. Maggie bị dị ứng với khoảng hai mươi loại xà phòng đầu tiên mà Thợ Làm Vườn cung cấp, thậm chí sau đấy cô ta vẫn còn phàn nàn da mình khô thế nào, tóc xơ xác ra sao và lúc nào, lúc nào cũng nói mình không thở nổi rồi tại sao mắt mình lại mờ mà chẳng ai cảm thông chút nào, đủ thứ dấm dở.
Maggie đã quen với việc cha mẹ cô ta rạp mình làm cô ta thoải mái từng li từng tí rồi.
Mặc dù vậy tôi lại thích Lena. Lena không bao giờ phàn nàn - thậm chí cả khi Maggie đang tỏ ra khó chịu tột cùng - và cô khám phá Vườn cũng nhiều ngang bằng tôi. Thậm chí đôi khi Thợ Làm Vườn còn giấu vài kho tàng nho nhỏ để cô ấy đi tìm, đơn giản vì hắn biết cô sẽ tìm được. Cô thích cười và vồ lấy mọi cái cớ để làm vậy, tạo ra một trong những vẻ bề ngoài vui vẻ bất tận nhất mà ông sẽ cảm thấy cực kì khó chịu nếu không biết rằng cô ấy biết về tình cảnh trong vườn. Cô ấy chọn niềm vui vì không thích buồn bã hay tức giận.
Cô đã cố giải thích với tôi, và tôi cũng hiểu phần nào, dù không thực sự, bởi vì nói thẳng ra: tôi không phải kiểu người đó. Tôi không chọn buồn hay tức tối, nhưng tôi cũng không hẳn là chọn hạnh phúc.
Maggie không bao giờ ăn cùng những người còn lại vì cô ta bảo chỉ cần ở chung phòng với mấy món ấy cũng khiến cô ta gặp phản ứng dữ dội. Gần như lúc nào em gái cô ta cũng phải mang cho cô ta một khay đồ ăn được chuẩn bị đặc biệt, rồi lượn qua đó để thu khay trước bữa tiếp theo. Nhưng mà, Lena có thời gian để làm việc ấy, bởi vì ông có thể đặt bất kì món gì trước mặt cô và cô sẽ nuốt trọn trong vòng chưa đầy năm phút. Lena có thể ăn mọi thứ mà không hề phàn nàn gì.
Và Lena là một trong rất ít người ở Vườn mà tôi thật sự lo lắng, bởi hầu hết chúng tôi đều hiểu rằng nếu Thợ Làm Vườn đã giữ hai cô gái là một cặp trong mọi chuyện khác thì cái chết cũng tương tự.
Họ đã ở trong vườn được sáu tháng trước khi tôi tới, với Lyonette cẩn trọng ngăn cách Maggie với phần còn lại trong thế giới nhỏ bé của chúng tôi, và may thay Thợ Làm Vườn lại có vẻ buồn cười hơn hết với những nhu cầu chăm sóc đặc biệt của Maggie.
Ít nhất cho đến khi hắn không còn cảm thấy vậy nữa.
Tôi đã ở đó khi sự thay đổi bắt đầu, và không còn Lyonette để can thiệp nữa.
Thỉnh thoảng, Thợ Làm Vườn cảm thấy muốn ăn tối cùng tất cả chúng tôi, như một vị vua với quần thần của mình. Hay, như Bliss vẫn bảo, Sultan với hậu cung. Hắn đã cho Lorraine loan báo với tất cả chúng tôi trong bữa sáng rằng tối hôm đó hắn sẽ dự bữa tối, tôi đoán là để chúng tôi có thể nỗ lực hơn nữa với vẻ ngoài của mình.
Chiều hôm ấy, tôi ở trong phòng Danelle cùng một chậu nước đặt trên đùi để có thể cẩn thận thấm nước vào tóc cô mỗi lần tôi cần dùng lược chải qua nó. Cô ngồi trước mặt tôi trên giường để đan sợi ruy băng qua các lọn tóc của Evita trước khi vặn nó lên thành một búi to đằng sau mái tóc vàng của cô ấy. Còn với Danelle, tôi tết tóc thành từng phần nhỏ để thả xuống giữa hai búi tóc cao, to, còn để những bím khác rủ xuống lưng cô. Chúng rất nhỏ nên không làm che mất cặp cánh nhưng là sự phản kháng nho nhỏ của cô. Hailee ngồi sau lưng tôi làm gì đó với một cây lược và những chiếc kẹp ghim, trong lúc Simone đứng sau lưng cô ấy với cuộn ruy băng, cái cuộn tóc và dầu.
Tôi chưa bao giờ đến một buổi khiêu vũ ở trường học, nhưng trông như thể chúng tôi đang chuẩn bị cho thứ gì đó tương tự, một sự kiện vui vẻ và tuyệt vời, thứ gì đó đáng mong đợi, và đến cuối buổi tối ông sẽ có cả đống kí ức để trân trọng. Ở trong Vườn này thì không có nhiều. Với sự hiện diện của nước và nguy cơ bị nước đổ vào người, không ai trong chúng tôi mặc gì ngoài quần lót, cũng không ai cười khúc khích hay tán gẫu như những cô gái chuẩn bị đi khiêu vũ có thể sẽ làm.
Lena bước vào, thân mình vẫn còn nhỏ nước tong tong sau khi tắm - hay ngâm mình trong hồ, theo kiểu của cô - và ngồi thụp xuống sàn. “Chị ấy bảo sẽ không đi.”
“Cô ta phải đi thôi,” Danelle thở dài. Tôi làm nốt bím tóc cuối cùng và để nó thả trên lưng Danelle.
“Chị ấy bảo không đi mà.”
“Chúng ta sẽ lo vụ đó.” Cô vỗ vào sau đầu Evita và trườn xuống khỏi giường cùng cây lược. “Ngồi lên.” Cô quỳ gối sau lưng Lena, cô ấy nhanh chóng tuân lệnh.
Đáng lẽ chuyện chỉ đến đó, đặc biệt là sau khi Danelle đã vào phòng Maggie, nhưng khi tất cả chúng tôi mặc váy và tụ tập trong sảnh rồi, chúng tôi vẫn có thể nghe tiếng họ cãi nhau. Thứ gì đó va vào tường vỡ tan và một phút sau, Danelle má đỏ bừng bừng bước ra. Chỉ có dấu vết một phần bàn tay hiện trên cặp cánh đỏ và tím. “Cô ta đang mặc đồ. Đi thôi.”
Thợ Làm Vườn còn chưa có mặt ở nhà ăn khi chúng tôi đến, đi thành hàng hai như Madeline và các bạn cùng lớp. Danelle và tôi lấn cấn ở lại để những người khác đi vào, xoay váy cho chúng về đúng chỗ, chỉnh một cái kẹp ở chỗ này chỗ kia. Khi tất cả đã vào trong và ngồi xuống, tôi dựa người vào tường.
“Cô ta có thực sự đang mặc đồ không?”
Cô ấy đảo mắt. “Chúa ơi tôi mong là vậy.”
“Tôi nghĩ là tôi sẽ đi để đảm bảo việc đó.”
“Maya…” Cô ấy ngăn tôi, rồi lắc đầu. “Thôi được, cứ đi đi. Cô thử xem.” Danelle đã rũ bỏ trạng thái lãnh đạm sau thời kì nịnh hót để giúp đỡ tôi kể từ khi Lyonette vào bể kính. Tôi còn chưa tìm được cách bày tỏ rằng tôi biết ơn cô đến chừng nào.
Maggie không mặc quần áo gì hết. Thực tế là cô ta đang bận rộn cố nhồi toàn bộ váy xống của mình - những thứ cô chia sẻ với em gái song sinh - xuống bồn cầu. Cô ta nhăn nhó khi tôi hắng giọng từ cửa ra vào, rồi thở hồng hộc khi bướng bỉnh gặp ánh mắt tôi. Cô ta cũng có màu tóc vàng sậm y như Thợ Làm Vườn và Avery, hiện gió nó đang là một đống hỗn loạn quanh mặt cô. Với cặp mắt nâu và sống mũi khỏe khoắn, cô ta có thể dễ dàng bị nhầm là con gái hắn.
Chuyện đó sẽ rất là kinh, ông thấy đấy.
“Tôi không đi.”
“Có, cô sẽ đi, bởi vì cô đang làm em gái mình gặp nguy hiểm.”
“Còn nó thì không làm tôi gặp nguy hiểm mỗi lần nó lượn lờ vào phòng với những thứ có thể giết chết tôi bám khắp người nó chắc?” Cô ta hỏi.
“Chuyện dị ứng không giống như chọc tức Thợ Làm Vườn, và cô biết thế.”
“Tôi sẽ không đi! Không đi, không đi, không đi.”
Tôi tát cô ta.
Nó tạo ra âm thanh ong ong trong căn phòng nhỏ, làn da ngay lập tức ửng hồng quanh điểm tiếp xúc. Cô ta lừ mắt nhìn tôi, ứa lệ trong lúc cô ta ôm một bên má. Avery không được phép chạm vào cô ta vì những thứ dị ứng kia nên tôi nghi cô ta chưa bao giờ bị tát, dù có làm vậy với người khác nhanh đến đâu. Trong thời gian cô ta còn bị sốc đến đờ cả ra, tôi tóm bộ tóc và vặn nó thành một búi cao trên đầu rồi ghim chặt nó lại bằng vài chiếc kẹp tăm.
Tôi tóm chặt cẳng tay cô ta và lôi cô ra hành lang. “Đi thôi.”
“Tôi không đi đâu,” cô ta khóc, cào khắp tay tôi. “Không đi!”
“Nếu cô có thể trưởng thành lên một chút, cô đã ăn vận tử tế và bình tĩnh và tất cả chuyện này rồi sẽ qua đi trong vòng một giờ gì đó. Nhưng không, cô cứ phải làm một công chúa nhỏ hư hỏng cơ, vậy nên bây giờ cô sẽ trần truồng và kích động và cô sẽ phải giải thích với Thợ Làm Vườn tại sao cô lại bất tuân hắn theo cách như vậy.”
“Cứ bảo với hắn tôi bị ốm!”
“Hắn đã biết là cô không bị rồi,” tôi gầm lên. “Lorraine đã báo cáo, hay chẳng lẽ cô không thấy lạ khi mụ ta kiểm tra từng người một chiều nay à?”
“Đó là mấy tiếng trước rồi!”
“Cô ôm đủ loại dị ứng còn Lena thì có cả hai bộ não,” tôi lẩm bẩm và thổi phù một lọn tóc ra khỏi miệng. “Magdalene, làm ơn đừng cố trở thành một con ngốc triệt để nữa. Chỉ là một bữa ăn thôi. Thức ăn của cô vẫn sẽ được chuẩn bị riêng và chúng tôi vẫn sẽ để cô ngồi ở đầu bàn xa nhất, tránh khỏi đĩa của mọi người khác.”
“Sao không ai trong các cô hiểu nhỉ?” Cô ta cố đá tôi, và khi việc ấy không thành, cô ta cố thụp xuống đất. Tôi cứ tiếp tục lôi cô ta cho đến khi những ma sát ở bên sườn khiến cô ta phải lảo đảo đứng dậy. “Tôi có thể ốm nặng đấy! Tôi có thể chết đấy!”
Đến mức đó thì…
Tôi quay sang và đẩy cô ta đến trước một trong những bể kính trưng bày, đầu cô ta đặt giữa cặp cánh bằng mực xăm xòe rộng. Cô gái kia đã ở đây trước Lyonette, trước cả người đã chào đón Lyonette, và không ai trong chúng tôi biết tên cô ấy, chỉ biết cô ấy là một con Gulf Fritillary, và điều ấy mới điên tiết làm sao. “Nếu cô không ăn tối cùng chúng tôi, cô sẽ chết, cả em gái cô cũng vậy. Động não đi.”
Cô ta bắt đầu khóc dữ hơn nữa, những tiếng nức nở, nghẹn ngào rung cả người. Phát tởm, tôi tiếp tục kẹp chặt cẳng tay cô ta và rẽ ở khúc quanh.
Thợ Làm Vườn đang đứng ở ngưỡng cửa phòng ăn, hai cánh tay khoanh trước ngực và một cái cau mày nhẹ trên mặt.
Chết tiệt.
“Có vấn đề gì không, hai tiểu thư?” Hắn hỏi.
Tôi liếc sang Maggie trần truồng, khóc lóc vật vã và vệt bàn tay màu hồng trên má cô ta, cũng như những dấu hiệu ban đầu của vết bầm tím hấp dẫn trên cánh tay, nơi tôi đang tóm chặt. “Không có?”
“Tôi hiểu rồi.”
Không may là hắn hiểu. Hắn theo dõi tất cả qua bữa tối, ngồi ở một đầu bàn giữa tôi và Danelle, trong lúc Maggie chọc đĩa thức ăn được chuẩn bị riêng cho cô ta mà không hề cắn lấy một miếng. Hắn theo dõi cô ta từ chối trò chuyện, thậm chí không trả lời những câu trực tiếp hướng đến mình. Hắn theo dõi cô ta lăn cốc nước đá trên má mình - trong khi Danelle đơn giản là giả vờ bên má sưng vù của cô không làm phiền cô, theo dõi cách cô ta thu mình xa hết mức ở đầu bàn để che thân thể lõa lồ.
Trong lúc chúng tôi ngồi bên món bánh phô mai và cà phê với chút bối rối, hắn hắng giọng và ghé sát vào tôi. “Cái tát có thực sự cần thiết không?”
“Có, để làm cô ta bình tâm lại.”
“Kia mà là bình tâm?”
Tôi cân nhắc cách tốt nhất để trả lời. Tôi không muốn hại Maggie - mà thực ra là Lena - nhưng tôi cũng không muốn hại chính mình. “Bình tâm hơn.”
Tất cả những gì hắn làm là gật đầu và khi tôi nhìn sang Danelle để rồi thấy nỗi cam chịu u ám trong mắt cô, bụng dạ tôi thắt lại.
“Bao lâu?” Eddison hỏi.
“Thêm hai tuần nữa,” cô ta lẩm bẩm. “Anh biết người ta có câu là: Không thể che giấu điều đã bị trông thấy? Sau buổi tối hôm đó, hắn luôn cau mày trong lúc nhìn cặp chị em song sinh. Rồi một đêm, các bức tường hạ xuống. Hai ngày sau, họ được đặt ngay bên tay phải phòng ăn.”
Victor đưa cho cô gái xấp ảnh chụp hành lang. Một phút sau, cô đưa lại nó với một bức ảnh khác trên đầu. “Cùng nhau à?”
“Cả lúc chết cũng như lúc sống,” cô buồn bã xác nhận.
Đặt cạnh nhau trong cùng một chiếc bể kính, cặp chị em được xếp sát nhau, hai bàn tay cạnh nhau kết nối họ. “Metalmark đầm lầy,” cô gái nói thêm trong lúc ông di một ngón tay theo những cặp cánh lốm đốm cam và đồng. Cô chị ngả đầu vào vai em; cô em tựa đầu lên đầu chị. Trông họ…

“Bọn họ chưa bao giờ hòa thuận với nhau đến thế lúc còn sống.”
Cô cầm chồng ảnh chụp hành lang, lật giở chúng với biểu cảm khó dò. Một lát sau, cô bắt đầu xếp loại chúng thành hai chồng trước mặt mình. Khi cô đã làm xong, chồng bên trái cao hơn. Cô trượt nó sang đầu bàn bên kia, rồi đặt tay lên chồng thấp hơn, các ngón tay đan vào nhau.
“Tôi biết những cô gái này,” cô lặng lẽ nói. Khuôn mặt cô vẫn khó dò. “Vài người tôi không biết rõ lắm, vài người đã thành những mảnh linh hồn tôi, nhưng tôi đều biết họ. Tôi biết những cái tên hắn đã cho họ. Và sau khi Lyonette giới thiệu chúng tôi với Cassidy Lawrence, giới thiệu chúng tôi với cái phần có thể sống mãi sau khi Lyonette đã vào bể kính, những người khác cũng dùng vài giờ cuối cùng trước khi chết để giới thiệu chúng tôi với những cái tên mà họ từng có trước đây.”
“Cô biết tên thật của họ ư?”
“Anh không nghĩ rằng đến một lúc nào đó thì những cái tên Bướm cũng trở thành thật ư?”
“Vậy, tên hợp pháp của họ?”
“Một vài.”
“Đáng lẽ đến giờ này chúng tôi đã có thể báo cho gia đình họ rồi,” Eddison nói. “Sao cô không kể với chúng tôi sớm hơn?”
Cô gái nhướn một bên chân mày. “Anh thật sự tin rằng hiểu biết mang đến kết cuộc, đúng không?” Cô hỏi. Có thể cô đang tỏ ra hoài nghi, hay chế nhạo - Victor không chắc chắn. Có lẽ là một cảm xúc hoàn toàn khác.
“Các gia đình ấy đáng được biết điều gì đã xảy ra.”
“Có không?”
“Có chứ!” Đẩy người lui khỏi bàn, Eddison bắt đầu đi đi lại lại trước chiếc gương một chiều. “Một vài người trong số họ đã chờ đợi hàng thập kỉ để nghe được tin tức về người thân yêu của mình. Chỉ cần họ biết thôi - biết rằng rốt cuộc họ đã có thể từ bỏ…”
Mắt cô dõi theo cậu ta đi lại ngang căn phòng nhỏ. “Vậy là anh chưa bao giờ nghe được.”
“Cái gì?”
“Người nào đó đã mất tích ấy. Anh chưa bao giờ nghe tin gì.”
Victor thầm chửi thề trước bộ mặt cứng đờ của đồng sự mình. Ồ, cô gái rất giỏi, ông có thể thừa nhận chuyện đó. Không hẳn việc chọc tức Eddison có gì khó khăn, nhưng để thực sự hiểu cậu ta đến thế? “Đi gọi chút đồ ăn giao đến đây đi,” ông ra lệnh. “Hãy thong thả.”
Cánh cửa đóng sầm sau lưng Eddison.
“Đó là ai vậy?” Inara hỏi.
“Cô thực sự nghĩ chuyện ấy có liên quan gì đến cô sao?”
“Thế bao nhiêu phần trong những điều ông vừa hỏi tôi thực sự có liên quan đến bất kì ai trong các ông?”
Hai việc không giống nhau, và họ đều biết vậy.
“Tôi không tin hiểu biết giúp được gì.” Một lát sau, Inara nói. “Nếu bố mẹ tôi còn sống, nếu họ đã chết, việc ấy cũng chẳng thay đổi những gì đã xảy ra từ hồi xưa. Tôi đã không còn đau đớn từ lâu, ngay khi chấp nhận chuyện họ không trở lại nữa.”
“Bố mẹ cô đã chọn bỏ đi,” ông nhắc nhở cô. “Không ai trong các cô chọn bị bắt cóc cả.”
Cô gái nhìn xuống hai bàn tay bị bỏng của mình. “Tôi đoán là tôi chẳng thấy sự khác biệt.”
“Nếu một trong hai đứa con gái của Sophia bị bắt, cô có nghĩ chị ta sẽ ngừng lại trước khi biết chúng đang thế nào không?”
Inara chớp mắt. “Nhưng việc ấy thì có ích gì? Biết họ đã chết từ lâu; biết họ từng bị cưỡng hiếp và ám hại và còn bị xâm phạm sâu hơn nữa kể cả sau khi chết?”
“Bởi vì khi ấy họ sẽ không còn phải tự hỏi nữa. Cô không nghĩ những cô gái trong căn hộ đã lo lắng cho cô sao?”
“Mọi người ra đi,” cô gái nói với một cái nhún vai.
“Nhưng đáng lẽ cô đã quay về nếu có thể,” ông đánh bạo nhận xét.
Cô ta không trả lời. Liệu cô có bao giờ nghĩ đến việc quay về? Nghĩ rằng mình có thể chưa?
Ông thở dài và mệt mỏi xoa mặt. Đây không phải là cuộc tranh luận mà một trong hai người có thể giành chiến thắng.
Cánh cửa lại đâm sầm vào tường khi nó bị mở ra quá nhanh, và Eddison bước vào. Victor chửi thề và bắt đầu đứng dậy, nhưng Eddison đã lắc đầu. “Để tôi đi, Vic. Tôi biết ranh giới mà.”
Việc cậu ta vượt qua lằn ranh ấy hồi đại học đã làm FBI có hứng thú tuyển dụng cậu ta; vượt qua lằn ranh thêm vài lần nữa kể từ khi đó thì cậu ta gặp vô khối rắc rối. Mặc dù vậy, bên dưới cơn thịnh nộ vẫn còn sót lại, Victor có thể trông thấy một quyết tâm bình tĩnh.
Điều đó đã đủ để ông ngồi lại. Nhưng để phòng hờ, ông ngồi ở mép ghế của mình.
Eddison đi vòng qua bàn để cậu ta có thể cúi người trên đầu Inara. “Vì cô thích nói, chuyện là thế này nhé: hầu hết mọi người đều được thương nhớ. Tôi rất tiếc vì cô đã có một gia đình rẻ rách như thế. Tôi thực sự tiếc đấy. Không có đứa trẻ nào đáng phải lớn lên trong hoàn cảnh đó. Tôi tiếc vì không ai nhớ nhung gì cô, nhưng cô không được quyền định đoạt rằng tất cả những cô gái kia cũng không được ai nhớ đến.”
Cậu ta đặt một khung ảnh trên bàn; Victor không cần nhìn cũng biết trong đó là ai.
“Đây là em gái tôi, Faith,” Eddison nói. “Nó biến mất khi lên tám tuổi, và không, chúng tôi không bao giờ nghe tin tức gì về em ấy. Chúng tôi không biết em ấy còn sống hay đã chết. Hai mươi năm gia đình tôi đã tìm kiếm và chờ đợi. Thậm chí nếu chúng tôi tìm được thi thể em ấy, ít nhất rốt cuộc chúng tôi cũng biết. Tôi sẽ thôi phải nhìn vào các cô tóc vàng trạc ba mươi tuổi và tự hỏi liệu một trong số họ có phải Faith không, liệu tôi có đang bước qua em tôi mà không hề hay biết. Bố tôi có thể dùng số tiền thưởng dành cho tin chỉ điểm mà ông ấy đã gìn giữ suốt chừng ấy năm để sửa ngôi nhà đang xập xệ trên đầu họ. Rốt cuộc chúng tôi có thể để em ấy yên nghỉ và ra đi.
“Không biết sự thật là một thứ tật bệnh. Sẽ mất rất nhiều thời gian để lôi được những cô gái kia ra khỏi lớp nhựa, thậm chí còn lâu hơn nữa để xác định nhân dạng. Quá lâu. Cô có cơ hội đem lại sự bình yên cho những gia đình ấy. Cô có cơ hội để họ rốt cuộc được chịu tang và sống tiếp cuộc đời mình. Cô có cơ hội đưa những cô gái ấy về với gia đình họ.”
Cô bé trong bức ảnh đang đội một chiếc vương miện lấp lánh màu hồng và bộ trang phục Ninja Rùa - hoàn chỉnh đến tận mặt nạ mắt và chiếc mai rùa màu hồng - một tay còn đang ôm cái vỏ gối Wonder Woman. Một Eddison trẻ tuổi hơn nhiều đang nắm tay em, mỉm cười với em. Cậu ta không mặc đồ hóa trang nhưng cô em gái đang cười toe toét với cậu, khuôn miệng khuyết hai răng cửa dưới thì dường như không quan tâm.
Inara chạm vào nụ cười trong khung kính của cô bé. Cô cũng đã chạm vào ảnh Lyonette theo cách ấy. “Hắn chụp ảnh chúng tôi,” cuối cùng cô nói. “Cả mặt và lưng, một khi những hình xăm đã được hoàn thiện. Nếu hắn đã chụp thì hẳn là phải cất giữ chúng. Không phải trong căn hộ ở Vườn của hắn - tôi từng đi tìm rồi - Lyonette nghĩ hắn có thể đã cho chúng vào một dạng sách gì đó, để bầu bạn trong những lúc hắn phải đi xa khỏi Vườn.” Cô lại ngắm bức ảnh thêm một lát nữa, rồi trả lại cho Eddison. “Lotte đã sắp được tám tuổi.”
“Tôi sẽ gọi bên CSU,” Eddison bảo Victor, “để họ lục soát ngôi nhà lần nữa.” Cậu ta cẩn thận kẹp bức ảnh vào một bên cánh tay và rời khỏi phòng.
Sự im lặng tiếp theo bị tiếng khịt mũi khe khẽ của Inara phá vỡ. “Tôi vẫn không thích anh ta.”
“Cô được phép,” Victor nói và phá lên cười. “Desmond đã từng trông thấy cuốn sách ấy chưa?”
Cô nhún vai. “Nếu có thì anh ta cũng chưa từng nhắc đến.”
“Nhưng vào một thời điểm nào đó, cậu ta đã khám phá ra bản chất thật sự của Vườn.”
“Một thời điểm nào đó.”
Lần đầu tiên Desmond dùng mã số mới của anh là sau nửa đêm vào một ngày thứ Năm. À, đúng ra là thứ Sáu. Đó là khoảng một tuần sau khi cha anh ta cài đặt hệ thống an ninh nhận diện anh ta, một tuần chỉ đi thăm vườn cùng cha, không hỏi han gì thậm chí cả lúc cha anh ta đã đi chỗ khác. Đến khi đó anh ta đã biết về Vườn được ba tuần, nhưng không phải vườn thật sự.
Tôi dành phần lớn thời gian trong ngày để trốn vào phòng Simone, giúp đỡ cô bằng những miếng vải lạnh và đưa nước vì cô đang phải chịu cơn buồn nôn và ọe khan liên tục. Đã ba ngày liên tiếp và đến lúc ấy chúng tôi vẫn giấu được sự việc với Lorraine, nhưng tôi không chắc chuyện này còn tiếp diễn được bao lâu. Giữa cơn buồn nôn và vài điểm nhạy cảm nhất định, tôi có linh cảm xấu rằng Simone đã mang thai.
Việc ấy thi thoảng vẫn xảy ra, vì không có biện pháp ngừa thai nào là tuyệt đối, nhưng nó luôn đồng nghĩa rằng thêm một bể kính trưng bày được lấp đầy và một căn phòng trống tạm thời nữa. Tôi không nghĩ Simone đã nhận ra tình trạng của mình. Cô ấy chỉ nghĩ Avery đã mang bệnh cúm trở lại Vườn. Rốt cuộc cô cũng thiếp ngủ, một tay đặt trên bụng, và Danelle đã hứa sẽ ở với cô ấy cho đến sáng.
Mùi bãi nôn chua lòm, tanh ói bám lấy tôi, đủ mạnh để làm chính tôi cũng hơi buồn nôn. Tôi đã giành được đặc quyền bật nước tắm bất kể khi nào tôi muốn từ lâu, nhưng ý tưởng bị kẹt trong một căn buồng bé xíu khác gần như là cơn đau thể xác vậy. Tôi chỉ ghé qua phòng đủ để dúi chiếc váy cùng đồ lót của mình vào ống đựng đồ cần giặt - quá hẹp để một người lớn chui lọt, như Bliss đã từng cảnh báo tôi - rồi đi thẳng ra Vườn.
Ban đêm Vườn là một nơi đầy rẫy những chiếc bóng và ánh trăng, nơi ông có thể nghe rõ hơn mọi ảo ảnh đã khiến nó thành một nơi như thế. Ban ngày khắp nơi đều có những cuộc chuyện trò và cử động, đôi khi còn cả các trò chơi hay bài hát nữa, chúng sẽ khỏa lấp tiếng những cái ống tiếp nước và chất dinh dưỡng vào các luống cây, tiếng quạt gió đối lưu không khí. Vào ban đêm, tạo vật vốn là Vườn liền trút bỏ tấm da giả để hé lộ bộ xương bên dưới nó.
Tôi thích Vườn vào ban đêm vì cùng một lí do tôi yêu những câu chuyện cổ tích khởi thủy hơn. Nó là chính nó, không hơn không kém. Trừ khi Thợ Làm Vườn đến thăm chúng tôi, bóng tối trong Vườn chính là thứ gần nhất với sự thật mà chúng tôi có.
Tôi bước qua cái hang vọng tiếng và đi vào thác nước, mặc cho nước chảy xuống mình và gột rửa mùi chua lòm của bệnh tật và cái chết chực chờ. Nước đủ mạnh để làm giãn những cơ bắp bị đau nhức và mệt mỏi từ ba ngày còng lưng bên giường bệnh ai đó, ngồi ghé mông trên một chiếc ghế đẩu không thoải mái và nhấp nhổm lo từng giây rằng Lorraine hoặc Thợ Làm Vườn sẽ đến điều tra. Tôi cứ để mặc nước chảy xuống như thế, rồi dùng những tảng đá ẩm sương để đu mình lên đỉnh gờ đá và tảng đá sưởi nắng. Tôi vắt gần hết nước trong tóc ra rồi nằm nhắm mắt lại, duỗi tay chân theo lối không lịch sự gì cho lắm trên tảng đá với những vệt ấm nhờ mặt trời chiếu vào còn lưu lại từ ban ngày. Từng hơi thở một, tôi có thể cảm nhận các cơ bắp của mình từ từ giãn ra.
“Thẳng thắn thật, nhưng không đoan trang cho lắm.”
Tôi ngồi dậy nhanh đến nỗi có thứ gì đó cào vào lưng mình và tôi dành mấy phút tiếp theo để chửi thề kẻ đáng lẽ đã có thể cảnh báo tôi đàng hoàng hơn. Desmond đứng trên lối mòn cách đó năm hoặc mười mét, hai tay thọc sâu trong túi quần, ngỏng cổ lên để nhìn chằm chằm lớp gạch kính của mái nhà.
“Chúc một buổi tối tốt lành,” tôi chua chát nói, sắp xếp lại tư thế cho thoải mái hơn trên tảng đá. Tất cả quần áo của tôi đã ở trong phòng hoặc đang chờ được giặt giũ nên cũng chẳng ích gì nếu tôi hét toáng lên và cố tìm gì đó che chở cho mình. “Tới ngắm cảnh à?”
“Hơi nhiều phong cảnh hơn tôi chờ đợi một chút.”
“Tôi đã tưởng tôi ở một mình.”
“Một mình ư?” Anh ta lặp lại, gặp ánh mắt tôi và rất cẩn thận không nhìn xuống thấp hơn. “Trong cả một khu vườn có đầy các cô gái khác?”
“Những người đều đã đi ngủ hoặc tự bận rộn trong phòng họ,” tôi đốp lại.
“À.”
Đó là câu cuối cùng được nói ra trong một khoảng thời gian. Chắc chắn tôi không có nhiệm vụ tán gẫu nên tôi xoay người trên tảng đá và nhìn ra ngoài Vườn, ngắm mặt hồ gợn sóng và cuộn xoáy nơi nước chảy ra từ dòng suối. Dần dà tôi nghe tiếng bước chân anh ta trên đá và thứ gì đó tối màu lượn lờ trước mặt tôi. Khi tôi vươn tay ra chạm vào nó, nó thả xuống đùi tôi.
Áo khoác của anh ta.
Màu của nó rất khó nhận ra trong ánh trăng, có lẽ là nâu đỏ, với huy hiệu trường khâu vào một bên ngực áo. Nó có mùi xà phòng và nước hoa sau cạo râu và mùi tuyết tùng, thứ gì đó ấm áp, nam tính và gần như lạ lẫm trong Vườn. Tôi cuốn mái tóc ướt của mình thành một búi rối tinh trên đỉnh đầu và khoác chiếc áo vào, khi mọi thứ đã được che đậy đâu vào đấy, anh ta ngồi xuống cạnh tôi trên tảng đá.
“Tôi không ngủ được,” anh ta khẽ nói.
“Nên anh đã ra đây.”
“Tôi chỉ không thể hiểu nổi chốn này.”
“Nhắc đến chuyện nó khó hiểu, đó lại là việc dễ hiểu đấy.”
“Vậy là cô không tự nguyện ở lại đây.”
Tôi thở dài và đảo mắt. “Đừng có tìm kiếm những thông tin anh không thực sự có ý định dùng đến nữa.”
“Làm sao cô biết tôi sẽ không dùng nó?”
“Bởi vì anh muốn ông ta tự hào về anh,” tôi nói gay gắt. “Và anh biết nếu anh kể với bất kì ai về tất cả chuyện này, ông ta sẽ không như thế. Khi nghĩ đến đó thì việc chúng tôi có ở đây tự nguyện hay không có gì quan trọng?”
“Cô… chắc hẳn cô nghĩ tôi là hạng người đáng khinh bỉ lắm.”
“Tôi nghĩ anh có tiềm năng thành kẻ như vậy đấy.” Tôi nhìn vào khuôn mặt buồn bã, thành thật của anh ta và quyết định mạo hiểm lần đầu tiên kể từ khi tới Vườn. “Tôi cũng nghĩ anh có tiềm năng thành người tốt hơn thế.”
Anh ta im lặng một lúc lâu. Chỉ là một bước tiến nhỏ nhoi như thế, một cú hích siêu nhẹ, vậy mà nó đã có vẻ to tát đến vậy. Làm sao một ông bố có ngần ấy quyền kiểm soát đứa con trai, chẳng lẽ niềm tự hào của cha mẹ quan trọng hơn cả lẽ phải? “Những lựa chọn của chúng ta tạo ra con người chúng ta,” cuối cùng anh ta bảo.
Tôi không coi đó là phản ứng thực sự.
“Vậy anh đang chọn điều gì, Desmond?”
“Tôi không nghĩ ngay lúc này mình đang chọn gì cả.”
“Vậy thì chẳng khác nào anh đã chọn sai.” Anh ta ngồi thẳng dậy, miệng há ra định phản đối, nhưng tôi đã giơ một tay lên. “Không lựa chọn cũng là một lựa chọn. Trung lập chỉ là một khái niệm, chứ không phải thực tế. Không ai thực sự sống đời mình như vậy được.”
“Với Thụy Sĩ có vẻ ổn đấy chứ.”
“Với tư cách là một quốc gia, có lẽ. Anh nghĩ một cá nhân sẽ cảm thấy như thế nào, khi họ biết sự thật tính trung lập của họ đã khiến điều gì đó diễn ra? Khi họ biết về những trại tù, những phòng hơi ngạt, những thử nghiệm, anh có nghĩ họ còn hài lòng với tính trung lập của mình nữa không?”
“Vậy thì tại sao cô không chỉ việc bỏ đi?” Anh ta hỏi. “Thay vì chỉ trích bố tôi đã cho cô đồ ăn và áo mặc và một nơi ẩn náu thoải mái, tại sao cô không chỉ việc quay về cuộc sống ngoài kia?”
“Anh không thực sự nghĩ chúng tôi có mật khẩu đấy chứ?”
Anh ta xịu xuống, cơn tự ái tan biến nhanh chóng như lúc nó bùng lên. “Ông ấy nhốt các cô trong này ư?”
“Các nhà sưu tập không để bướm bay tự do. Việc đó phá hoại mục đích.”
“Cô có thể hỏi xin.”
“Không dễ để hỏi xin ông ta bất kì điều gì đâu.” Tôi nói, lặp lại y hệt lời của anh ta khoảng một tuần trước.
Anh ta nhăn mặt.
Anh ta mù quáng, nhưng không ngu ngốc. Việc anh ta chọn làm kẻ khờ khạo thực sự khiến tôi điên tiết. Tôi rũ chiếc áo khoác ra và thả nó lên đùi anh ta, trườn xuống khỏi tảng đá. “Cảm ơn anh vì cuộc nói chuyện,” tôi lẩm bẩm, nhanh chóng đi xuống con dốc dẫn tới tầng chính từ đầu trên cùng của mỏm đá. Tôi có thể nghe tiếng anh ta trượt xuống và lúng túng đi theo tôi.
“Maya, chờ đã. Chờ đã!” Bàn tay anh ta tóm lấy cổ tay tôi và kéo lại, suýt chút nữa làm tôi ngã ngửa. “Tôi xin lỗi.”
“Anh đang chắn đường tôi đi tìm thức ăn. Cứ việc xin lỗi vì chuyện đó, nếu anh thích, rồi biến đi cho khuất mắt tôi.”
Anh ta thả cổ tay tôi ra nhưng vẫn theo tôi băng ngang Vườn. Đầu tiên anh ta nhảy qua dòng suối nhỏ rồi vươn tay để đỡ tôi từ bờ bên kia, một việc làm tôi cảm thấy vừa kì lạ vừa quyến rũ. Đèn chính trong phòng ăn - và căn bếp mở kề bên - đều đã tắt, nhưng có một ngọn đèn mờ bật bên trên cái bếp để ai cần thì tìm một món ăn đêm. Hình ảnh một chiếc tủ lạnh to hơn và bị khóa nhất thời làm anh ta phân tâm.
Tôi giật mở cánh cửa tủ nhỏ hơn và xem bên trong có gì. Tôi đói thật, nhưng ở cùng người bị nôn không khiến khẩu vị của tôi khá hơn chút nào, không có gì có vẻ hấp dẫn cả.
“Trên lưng cô là cái gì kia?”
Tôi đóng sầm cửa lại, chắn ánh sáng, nhưng đã quá muộn.
Anh ta bước lại gần tôi, dẫn cả hai chúng tôi qua chỗ bếp và trong ánh sáng lờ mờ bên trên cái bếp, anh ta nghiên cứu cặp cánh với mọi chi tiết tỉ mỉ, đau đớn của chúng. Trong những trường hợp thông thường, tôi đã có thể gần như quên chúng trông như thế nào. Hắn sẽ cho chúng tôi mấy tấm gương nếu chúng tôi đòi; tôi thì chưa bao giờ hỏi. Mặc dù vậy, Bliss quyết tâm thường xuyên cho tất cả mọi người ngắm cặp cánh của họ.
Để chúng tôi không thể nào quên mình là gì.
Bướm là những sinh vật yểu mệnh, và đó cũng là một phần lời nhắc của em ấy.
Những đầu ngón tay anh ta chạm vào mạng lưới màu nâu sậm hơn của cặp cánh trên nâu vàng, tỏa rộng khi các đường viền mở ra ngoài thành một hình chữ V tinh tế. Tôi đứng bất động hoàn toàn bất chấp da gà đã nổi lên dọc sống lưng trước hành động khám phá rụt rè của anh ta. Anh ta đã không hỏi, nhưng anh ta là con của cha anh ta kia mà, tôi cho là vậy. Mắt tôi nhắm nghiền, hai bàn tay cuộn thành nắm đấm ở hai bên sườn, khi ngón tay anh ta di chuyển xuống thấp hơn, đến chỗ cặp cánh dưới màu hồng và tím. Anh ta không lần theo đường viền xuống dưới nữa mà quay vào sống lưng, cho đến khi có thể di một ngón tay cái lên toàn bộ chiều dài của đường mực đen chạy dọc sống lưng tôi.
“Nó đẹp lộng lẫy,” anh ta thì thào. “Tại sao lại là bướm?”
“Hỏi cha anh ấy.”
Đột nhiên hai bàn tay anh ta run rẩy trên da tôi, trên dấu ấn sở hữu của cha anh ta. Mặc dù vậy anh ta đã không bỏ tay ra. “Ông ấy làm việc này với cô ư?”
Tôi không trả lời.
“Có đau lắm không?”
Điều đau đớn thật sự là nằm ì ra đó mặc cho hắn làm điều đó, nhưng tôi không nói. Tôi không nói ra tôi đau khổ biết nhường nào khi trông thấy những đường viền đầu tiên xuất hiện trên tấm lưng của mỗi một cô gái mới, không nói ra lớp da đã rát đến mức tôi không nằm ngủ ngửa được nhiều tuần trời, không nói ra tôi vẫn không ngủ úp bụng được bởi nó nhắc tôi nhớ đến lần đầu tiên bị cưỡng hiếp trên chiếc ghế xăm mình kia, khi hắn thúc vào trong tôi và ban cho tôi một cái tên mới.
Tôi đã không nói gì cả.
“Ông ấy… ông ấy làm việc này với tất cả các cô sao?” Anh ta run rẩy hỏi.
Tôi gật đầu.
“Ôi, Chúa ơi.”
Chạy đi, tôi âm thầm gào thét. Chạy đi và kể với cảnh sát, hoặc mở các cánh cửa ra và để chúng tôi tự kể. Chỉ cần làm gì đó thôi - bất cứ điều gì - ngoài việc đứng lì ra đây!
Nhưng anh ta không làm. Anh ta đứng đằng sau tôi, bàn tay đặt trên tấm bản đồ của mực và sẹo, cho đến khi sự im lặng biến thành một thực thể sống động, hít thở giữa chúng tôi. Vậy nên tôi mới là người tránh đi, để mở cửa tủ lạnh lần nữa và giả vờ như giây phút này có chút gì bình thường. Tôi lấy ra một quả cam, dùng hông hẩy cánh cửa đóng lại và tựa vào phần mặt bàn bếp vuông góc với phần còn lại. Nó không hẳn là một cái đảo, nhưng nó cũng tạo được một tấm ngăn cao đến eo chắn giữa bếp và phòng ăn.
Desmond cố ngồi cùng với tôi ở đó nhưng chân anh ta đã nhũn ra, anh ta trượt xuống sàn cạnh chân tôi, tựa lưng vào tủ bếp. Vai anh ta chạm vào đầu gối tôi trong lúc tôi thoăn thoắt bóc vỏ cam. Tôi luôn cố lột hết vỏ trong một lần bóc, một hình xoắn ốc hoàn hảo. Từ trước đến nay tôi chưa bao giờ thành công. Nó luôn luôn bị rách giữa chừng.
“Tại sao ông ấy lại làm thế?”
“Anh nghĩ là tại sao?”
“Khốn nạn.” Anh ta kéo hai đầu gối lên và gục đầu trên đó, cánh tay anh vòng ra sau ôm lấy phần gáy.
Tôi bóc múi cam đầu tiên và mút sạch nước, nhằn hạt vào lớp vỏ.
Và sự im lặng lớn dần.
Khi nước cam đã bị mút sạch, tôi thảy cả miếng vào miệng và nhai. Hope từng có lần trêu tôi vì cách tôi ăn cam, bảo rằng tôi làm tụi con trai rất khó chịu. Tôi đã lè lưỡi với cô ấy và bảo lũ đàn ông của cô ấy đâu cần phải nhìn. Dù sao thì chắc chắn là Desmond đã không nhìn. Tôi chuyển sang múi thứ hai, rồi thứ ba, thứ tư.
“Vẫn còn thức hả, Maya?” Giọng nói nhẹ bẫng của Thợ Làm Vườn vẳng lại từ ngưỡng cửa. “Em cảm thấy không khỏe à?”
Desmond ngước lên, mặt anh ta tái dại và căng cứng, nhưng anh ta không đứng dậy hay nói bất kì điều gì để tuyên bố sự hiện diện của mình. Ngồi trên sàn tựa lưng vào tủ, anh ta sẽ không bị trông thấy trừ phi Thợ Làm Vườn đi hẳn tới bàn bếp và nhìn thẳng xuống. Thợ Làm Vườn không bao giờ vào trong bếp.
“Tôi ổn,” tôi trả lời. “Tôi chỉ quyết định kiếm món gì ăn vặt sau khi tráng qua nước ở thác thôi.”
“Và không buồn mặc quần áo vào sao?” Hắn cười và đi vào phòng ăn, ngồi xuống một chiếc ghế đệm to vốn dành riêng cho hắn. Theo chỗ tôi được biết, hắn chưa bao giờ trông thấy hình vương miện xộc xệch mà Bliss đã cào vào phần lưng ghế. Chiếc ghế hao hao ngai vàng, tôi công nhận với em ấy, có lớp đệm nhung màu đỏ đậm và mặt gỗ gần như đen bóng cuộn lên trên đầu hắn thành những cái lô trang trí. Hắn đẩy nó lùi lại, một khuỷu tay đặt trên mép bàn vì chiếc ghế không có tay vịn.
Tôi nhún vai, nhặt một múi cam khác. “Lo ngại việc đó thì có vẻ hơi ngu.”
Trông hắn thoải mái kì lạ, khi ngồi trong bóng tối và không mặc gì ngoài chiếc quần ngủ bằng vải lụa. Chiếc nhẫn cưới bằng vàng trơn lóe lên do ánh đèn trong bếp. Tôi không thể biết hắn đã ngủ trong phòng riêng hay là vừa ở cùng một cô gái khác, mặc dù hắn thường không ngủ trong phòng chúng tôi. Trừ phi vợ hắn ra khỏi thành phố, hắn thường dành ít nhất một phần mỗi đêm trong ngôi nhà tôi chưa từng trông thấy, không thể, kể cả từ những ngọn cây cao nhất trong Vườn. “Tới đây ngồi với tôi.”
Bên cạnh chân tôi, Desmond ấn bàn tay mình lên miệng với cái nhìn đau đớn.
Bỏ chỗ cam còn lại trên mặt bàn cùng cả vỏ cam và hạt, tôi ngoan ngoãn đi vòng qua bàn bếp và lướt vào bóng tối để đến chỗ hắn bên bàn. Tôi bắt đầu hạ mình xuống chiếc ghế băng gần nhất nhưng hắn lôi tôi lên đùi hắn. Một tay vuốt ve dọc sống lưng và hông tôi, một việc hắn đã làm trong vô thức, còn tay kia tóm chặt hai bàn tay tôi đặt trên đùi hắn.
“Các cô gái phản ứng thế nào với việc Desmond ở đây?”
Nếu hắn có chút ý tưởng nào rằng Desmond đã ở đây, tôi không nghĩ chúng tôi sẽ có cuộc nói chuyện này.
“Họ… cảnh giác,” cuối cùng tôi trả lời. “Tôi nghĩ tất cả chúng tôi đều đang chờ xem anh ta giống ông hay Avery hơn.”
“Và hi vọng điều gì?” Tôi liếc mắt trách móc và hắn đã thực sự cười phá lên, ấn một nụ hôn lên xương đòn của tôi. “Chắc chắn là họ không sợ nó đấy chứ? Desmond sẽ không bao giờ làm đau ai.”
“Tôi chắc chắc rồi tất cả bọn họ sẽ quen với việc anh ta ở đây.”
“Còn em, Maya? Em nghĩ gì về con trai út của tôi?”
Tôi suýt nhìn về phía bếp, nhưng nếu anh ta đã không muốn cha mình biết mình ở đây, tôi sẽ không tố giác. “Tôi nghĩ anh ta bối rối. Anh ta không thực sự biết phải hiểu tất cả chuyện này như thế nào.” Tôi hít một hơi sâu, dành cho mình một giây để tự thuyết phục rằng câu hỏi tiếp theo là vì lợi ích của Desmond, để cho anh ta thấy một góc nhìn khác vào thực tế của Vườn. “Tại sao phải trưng bày?”
“Ý em là sao?”
“Sau khi giam chúng tôi lại, tại sao ông phải giữ chúng tôi?”
Hắn đã không trả lời trong một lúc lâu, những ngón tay hắn lần theo các hình dạng vô nghĩa trên lưng tôi. “Cha tôi sưu tập bướm,” cuối cùng hắn nói. “Ông ấy săn lùng chúng, và nếu không thể bắt chúng trong điều kiện tốt thì ông sẽ trả tiền cho người khác để có chúng, và ông gắn chúng vào các hộp trưng bày trong lúc chúng vẫn còn sống. Mỗi con trong số đó lại có một tấm nền nhung màu đen, một miếng đồng vàng nhỏ ghi tên thường gọi và danh pháp của chúng, tạo ra cả một bảo tàng hộp đen đáng giá trên tường phòng làm việc của ông. Đôi khi ông sẽ treo món đồ thêu của mẹ tôi ở giữa các hộp ấy. Đôi khi chúng là những con bướm độc nhất, đôi khi lại là cả một bó hoa, nổi bật với những màu sắc xinh đẹp bên trên lớp vải.”
Bàn tay hắn rời khỏi đùi tôi và đưa lên lưng, lần theo cặp cánh. Thậm chí hắn không cần nhìn cũng biết hình dạng của chúng. “Ông ấy cảm thấy hạnh phúc nhất trong căn phòng đó và sau khi nghỉ hưu thì ông dành hầu hết mọi ngày ở đó. Nhưng đã có một vụ chập điện nhỏ trong phòng đó của ngôi nhà, và toàn bộ lũ bướm bị hủy hoại. Từng con một, bộ sưu tập mà ông đã dành nhiều thập kỷ để gom góp và hoàn thiện. Ông đã không bao giờ hồi phục sau vụ đó, và mất không lâu sau. Tôi đoán ông đã cảm thấy như thể toàn bộ cuộc đời mình đã bị thiêu rụi trong đám lửa ấy.
“Một ngày sau đám tang của cha, mẹ và tôi phải dự một hội chợ mừng Ngày độc lập trong thị trấn. Người ta sẽ giới thiệu mẹ với một giải thưởng vì các công việc từ thiện mà bà ấy đã làm, bà không muốn khiến ai thất vọng vì không tham dự. Tôi để bà tâm sự cùng hội bạn hết sức nồng hậu của bà và lang thang trong hội chợ nhỏ ấy, rồi tôi trông thấy nàng: một cô gái, đeo mặt nạ hình bướm làm từ lông vũ đang phát những chú bướm nhỏ làm từ lụa hồng và lông vũ cho lũ trẻ vượt qua mê cung lụa. Nàng sống động và rạng rỡ quá, đến mức thật khó để tin rằng loài bướm có bao giờ chết đi.
“Khi tôi mỉm cười với nàng và vào mê cung, nàng đã đi theo tôi. Không khó để đưa nàng về nhà từ đó. Đầu tiên tôi giữ nàng dưới tầng hầm, cho đến khi tôi có thể xây dựng khu vườn thành một tổ ấm đúng nghĩa. Tôi đang đi học và chỉ vừa tiếp quản công việc kinh doanh của cha, và chẳng bao lâu sau tôi lấy vợ, nên tôi nghĩ chắc hẳn nàng sẽ rất cô đơn, kể cả khi tôi đã chuyển nàng vào sống trong vườn. Thế là tôi mang Lorraine về cho nàng, cả những người khác nữa, để bầu bạn.” Hắn đã lạc trong hồi tưởng nhưng với hắn, nó không đau đớn. Với hắn, nó chỉ hợp lý và đúng đắn. Thay vì mang nàng Eve của hắn tới vườn địa đàng, hắn đã xây hẳn một cái bao quanh cô ta, và phục vụ như một thiên thần với thanh gươm rực lửa để giam cô ta bên trong. Hắn xốc lại người tôi trên đùi hắn, nép tôi vào ngực hắn cho đến khi hắn có thể đặt đầu tôi nằm giữa cổ và vai hắn. “Cái chết của nàng thật đau đớn, tôi không tài nào chịu nổi ý nghĩ rằng sự tồn tại thoảng qua ấy là tất cả những gì nàng có thể có. Tôi không muốn quên nàng. Chừng nào tôi còn nhớ đến nàng, một phần của nàng vẫn còn sống. Tôi đã làm những cái bể, tìm mọi cách để bảo tồn nàng khỏi sự hủy hoại.”
“Chất dẻo,” tôi thì thầm, và hắn gật đầu.
“Nhưng đầu tiên phải ướp xác đã. Công ty tôi trữ sẵn formaldehyde và nhựa formaldehyde trong bộ phận sản xuất, cho quần áo nếu em có thể tin. Rất dễ để đặt hàng nhiều hơn mức họ cần và mang phần còn lại về đây. Thay máu bằng formaldehyde làm chậm quá trình phân hủy, đủ để chất dẻo có thể bảo quản mọi thứ khác. Thậm chí cả khi em đã ra đi, Maya, em cũng sẽ không bị lãng quên.”
Điều bệnh hoạn ở đây là hắn thực lòng có ý an ủi tôi. Trừ khi có tai nạn gì hay tôi làm hắn điên tiết, trong vòng ba năm rưỡi nữa hắn sẽ cho formaldehyde chảy vào mạch máu tôi. Tôi hiểu hắn đủ để biết rằng hắn sẽ ở bên tôi trong toàn bộ thời gian ấy, thậm chí có khi còn vuốt tóc tôi và cuộn nó lại thành kiểu cách cuối cùng. Sau đó, khi máu của tôi đã bị rút hết ra, hắn sẽ đặt tôi vào lồng kính và bơm đầy chất dẻo trong trẻo kia để ban cho tôi cuộc đời thứ hai mà không đám cháy do chập điện nào có thể kết thúc. Hắn sẽ chạm vào vỏ kính và thì thầm tên tôi mỗi khi bước qua, hắn sẽ nhớ đến tôi.
Và việc ngồi đây trong lòng hắn khiến tôi không còn ảo tưởng nào rằng hắn cảm thấy ra sao về tất cả những chuyện đó nữa.
Hắn khẽ đẩy tôi xuống khỏi đùi hắn, dạng hai chân để tôi quỳ ở giữa chúng, một tay cuộn tóc tôi. “Cho tôi thấy em sẽ không quên tôi đi, Maya.” Hắn lôi đầu tôi xuống gần hơn, bàn tay kia bận bịu kéo dải rút quần. “Kể cả sau đó cũng không.”
Kể cả khi tôi đã chết và ra đi từ lâu, hình ảnh tôi vẫn còn đủ để làm hắn cứng lên.
Và tôi vâng lời bởi tôi luôn luôn vâng lời, bởi tôi vẫn còn muốn ba năm rưỡi kia kể cả nếu điều đó nghĩa là gã đàn ông này đang nói hắn yêu tôi. Tôi tuân lệnh khi hắn gần làm tôi chết nghẹn, và tôi tuân lệnh khi hắn lôi tôi trở lại đùi hắn, tuân lệnh khi hắn bắt tôi hứa tôi sẽ không bao giờ quên hắn.
Lần này, thay vì chép những bài thơ và câu chuyện của người khác vào não mình, tôi băn khoăn về chàng trai đang ở bên kia quầy bếp, lắng nghe tất cả mọi chuyện.
Điều đã thuyết phục tôi rằng người hàng xóm nhà bên từ thuở nào kia là một kẻ ấu dâm không chỉ vì cái nhìn gã dành cho tôi. Nó còn ở cái nhìn mà những đứa con nuôi dành cho nhau, hiểu biết đau đớn, bệnh hoạn mà chúng chia sẻ với nhau. Tất cả chúng đều rõ chuyện gì đang xảy ra, không chỉ với chúng mà còn với từng đứa khác. Không đứa nào hé ra một lời. Tôi đã trông thấy những cái nhìn u uất ấy và biết chỉ còn vấn đề thời gian trước khi gã đặt tay lên váy tôi, cầm lấy tay tôi và đặt nó lên đùi gã, thì thầm rằng tôi sẽ được quà.
Thợ Làm Vườn hôn tôi khi hắn xong việc và bảo tôi nên chú ý nghỉ ngơi. Hắn vẫn còn đang chỉnh quần trong lúc bước ra khỏi phòng ăn. Tôi quay lại mặt bàn bếp bên kia, nhặt chỗ cam còn lại và ngồi xuống cạnh Desmond, khuôn mặt anh ta đẫm nước mắt. Anh ta nhìn tôi chằm chằm bằng cặp mắt đờ đẫn.
Cặp mắt đớn đau.
Tôi ăn nốt chỗ cam trong khoảng thời gian anh ta cần để tìm lời nói, nhưng rồi anh ta không nói gì cả, chỉ đưa cho tôi chiếc áo khoác. Tôi mặc nó vào và khi anh ta nắm tay tôi, tôi để yên.
Anh ta sẽ không bao giờ tới gặp cảnh sát.
Cả hai chúng tôi đều biết thế.
Tất cả những gì mà nửa giờ vừa qua đã thay đổi chỉ là giờ đây anh ta đã ghét chính mình hơn một chút mà thôi.
“Cô vẫn chưa hỏi ai còn sống.”
“Các ông sẽ không cho tôi đi gặp họ đến khi tôi kể xong mọi điều các ông muốn biết.”
“Đúng vậy.”
“Nên tôi sẽ tìm hiểu khi chúng ta đã xong việc, khi tôi có thể thực sự dành thời gian với họ. Việc tôi ở đó ngay lúc này đằng nào cũng không thay đổi được gì.”
“Đột nhiên tôi có thể tin là cô đã không hề khóc kể từ hồi sáu tuổi.”
Một nụ cười nhạt lướt qua mặt cô gái. “Cái vòng quay ngựa gỗ khốn nạn,” cô nhẹ nhàng đồng ý.
Bliss đã làm một vòng quay ngựa gỗ, tôi nhắc đến chuyện đó chưa nhỉ?
Em ấy có thể làm ra gần như mọi thứ từ đất sét dẻo, hết khay nướng này đến khay nướng kia trong lò, Lorraine lườm nguýt giám sát em suốt trong lúc ấy. Em là người duy nhất trong số chúng tôi có đặc quyền dùng lò nướng. Em cũng là người duy nhất từng đòi hỏi điều đó.
Cái đêm trước khi Lyonette chết, trong những giờ dài đằng đẵng nằm ôm nhau trên giường ấy, Lyonette đã kể cho chúng tôi nghe chuyện hồi chị còn nhỏ. Chị không cho chúng tôi biết tên tuổi hay vị trí, nhưng chúng vẫn thành chuyện, và câu chuyện khiến cho chị mỉm cười, câu chuyện chị yêu thương hơn bất kì điều gì khác, là về một vòng quay ngựa gỗ.
Cha chị ấy làm hình nộm cho rất nhiều vòng quay, và đôi khi cô bé Cassidy Lawrence sẽ vẽ ra thứ gì đó rồi cha chị kết hợp nó vào các bản thiết kế của dự án tiếp theo, cho chị chọn màu sắc hay biểu cảm trên một khuôn mặt. Có lần cha chị ấy để chị cùng ông đi giao các chú ngựa và xe trượt tuyết cho một đoàn du mục. Họ đặt các hình nộm quanh một chiếc đĩa và chị ngồi trên lan can sắt nhìn họ chạy dây điện qua các cây cột màu vàng để những chú ngựa ấy nhấp nhô lên xuống. Khi mọi thứ đã xong, chị cứ chạy quanh vòng quay ngựa gỗ ấy, vỗ về những chú ngựa và thì thầm tên chúng vào tai chúng, để chúng không lãng quên. Chị biết từng con một và yêu tất cả bọn chúng.
Những đặc tính của Thợ Làm Vườn không tồn tại riêng trong hắn mà chỉ cực đoan hơn thôi.
Nhưng lũ ngựa không thuộc về chị ấy và khi đã đến giờ ra về, chị buộc phải bỏ lại chúng sau lưng, có lẽ không bao giờ gặp nữa. Chị không khóc được vì đã hứa với cha là sẽ không khóc, hứa là chị sẽ không vòi vĩnh khi chúng phải đi.
Đó là lần đầu tiên chị gấp một chú ngựa origami.
Trong cabin xe tải trên đường về nhà, chị đã gấp hai chục chú ngựa giấy đầu tiên, dùng giấy vở và hóa đơn món ăn nhanh để luyện tập cho đến khi thành thục, và khi về đến nhà, chị đã tiến tới dùng giấy in của máy tính. Chị gập hết con ngựa này đến con ngựa khác và tô màu sao cho giống những con chị đã bỏ lại, thì thầm tên chúng như trước. Khi đã làm xong, chị cẩn thận sơn màu mấy cái chốt mảnh và gắn chúng vào giữa bụng mấy chú ngựa với một chút hồ dán.
Chị vẽ tiếp và tô màu các hoa văn trên sàn nhà, toàn bộ tranh trên trần nhà mái dốc, thậm chí cả những bức tranh đã đóng khung trong viền trang trí cầu kì chạy dọc viền mái lều, và mẹ chị giúp chị nối chúng với nhau. Thậm chí cha chị còn giúp làm một cái cần quay ở đáy để tất cả mọi thứ có thể xoay đều chậm rãi. Cha mẹ chị rất tự hào về chị.
Buổi sáng cái ngày chị bị bắt cóc, khi chị ra khỏi nhà để đi học thì chiếc vòng quay ấy vẫn còn chễm chệ đầy tự hào ở vị trí của nó trên bệ lò sưởi.
Sau khi Lyonette chết, tôi đã có cô gái mới vô danh để lấp đầy tâm trí.
Bliss thì có đất nặn của em ấy.
Em không cho bất kì ai xem mình đang làm cái gì và không ai trong chúng tôi hỏi, cứ để em làm việc cho quên nỗi đau thương theo cách riêng. Em ấy tập trung vào dự án này một cách khác thường. Thành thực mà nói, chừng nào nó không phải một hình thu nhỏ của Lustrous Copper thì tôi chưa lo lắng. Em đã làm vậy cho vài cô gái đã chết khác và vì lí do gì đó, tôi thấy những chú bướm cao sáu phân này còn rùng rợn và phiền toái hơn hẳn những cô gái trong bể kính.
Nhưng rồi vết nhiễm trùng của cô gái mới nặng tới mức nguy kịch - hình xăm của cô ấy không bao giờ thực sự lành hẳn. Thậm chí nếu cô ấy không chết vì nhiễm trùng thì cặp cánh cũng đã bị lỗi vô phương cứu chữa, đó là điều mà Thợ Làm Vườn sẽ không chấp nhận. Không, khi mà vẻ đẹp chính là lí do hắn đã chọn chúng tôi.
Các cánh cửa hạ xuống trong những giờ nhá nhem đầu tiên của buổi sáng, như chúng sẽ hạ xuống vào một buổi xăm bình thường của cô, nhưng khi chúng được kéo lên, cô gái không còn nằm trong phòng xăm hay giường của mình nữa. Cô ấy không bao giờ xuất hiện trong bể kính. Không có lời tạm biệt nào.
Chỉ là… không có gì hết.
Thực sự không còn lại gì của cô gái ấy, thậm chí cả một cái tên cũng không.
Bliss đang ở trong phòng tôi khi tôi quay về sau khi tìm kiếm, ngồi bắt tréo chân trên giường tôi với một cái váy quây phủ lên một mớ cồm cộm trên đùi em ấy.
Những quầng thâm hằn lên làn da tái xanh dưới hai mắt em và tôi tự hỏi em đã ngủ bao lâu kể từ lúc Lyonette nói lời tạm biệt chúng tôi.
Tôi ngồi xuống cạnh em trên giường, một chân cuộn lại dưới người, và dựa lưng vào tường.
“Cô ấy chết chưa?”
“Nếu chưa thì cũng sắp rồi,” tôi thở dài.
“Và rồi chị sẽ lại ngồi chờ một cô gái mới đến và được xăm.”
“Có thể.”
“Tại sao?”
Tôi cũng đã tự hỏi điều đó trong khoảng một tuần vừa qua. “Bởi vì Lyonette nghĩ rằng việc đó quan trọng.”
Em lôi tấm vải ra khỏi đùi mình và cái vòng quay nằm đó.
Lyonette đã làm một cái vòng quay bằng origami nữa khi chị đến Vườn; nó đang nằm ở cái giá bên trên giường Bliss kể từ ngày chị mất. Chị đã tái tạo toàn bộ hoa văn, thiết kế và màu sắc, Bliss cũng làm vậy bằng phương tiện của mình. Những cây cột vàng thậm chí còn có cả rãnh xoắn ốc. Tôi đưa tay ra và bấm nhẹ vào mặt màu đỏ trên đỉnh vòng quay, tất cả mọi thứ khẽ xoay đôi chút.
“Em phải làm ra nó,” em thì thầm, “nhưng em không thể giữ nó.”
Bliss bật khóc tức tưởi, thê lương trên giường tôi. Em không biết về vòng quay ngựa gỗ của tôi. Em không biết tôi đã ngồi trên chú ngựa sơn đen-đỏ ấy và cuối cùng đã hiểu ra cha mẹ tôi không thương tôi, hay ít nhất không thương tôi đủ nhiều. Ngày hôm ấy rốt cuộc tôi đã hiểu - và chấp nhận - rằng mình không được ai mong muốn.
Tôi khẽ nhấc nó lên khỏi đùi Bliss và hẩy nhẹ đầu gối em bằng ngón chân cái. “Tắm đi.”
Em nấc lên và trườn xuống giường để làm theo lời tôi, và trong lúc em gột rửa hai tuần đau thương và giận dữ, tôi ngắm nghía những chú ngựa để xem có con nào trong ấy giống con đã được tôi tắm đẫm đến giọt nước mắt cuối cùng từ mười năm trước không.
Câu trả lời là gần giống. Chú ngựa này có những cái rãnh màu bạc thay vì vàng và có một chiếc ruy băng đỏ buộc vào mái bờm đen, nhưng ngoài cái đó ra thì chúng rất, rất giống nhau. Tôi quỳ lên và đặt nó trên kệ cạnh Simba, đám thú origami và những mô hình đất nặn khác, những viên đá Evita đã sơn và bài thơ mà Danelle đã viết cùng mọi thứ khác mà bằng cách nào đó tôi đã thu thập được sau sáu tháng sống trong Vườn. Tôi tự hỏi liệu có thể nhờ Bliss làm một cô gái nhỏ xíu với mái tóc đen và nước da vàng óng cho ngồi lên chú ngựa đen-đỏ kia rồi để nó quay mãi, quay mãi trên vòng quay và ngắm nhìn phần còn lại của thế giới này rời bỏ nó hay không.
Nhưng nếu tôi nhờ, em ấy sẽ hỏi tại sao, và cô gái nhỏ kia không cần nhiều sự cảm thông để rồi rốt cuộc cũng bị lãng quên.
Bliss ra khỏi buồng tắm, cả người và tóc quấn trong những chiếc khăn màu tím và hồng, cuối cùng em cũng cuộn tròn nằm ngủ bên cạnh tôi như một trong hai cô con gái của Sophia. Tôi đặt một cánh tay đằng sau đầu và gác lên tường, thi thoảng lại vươn tay ra và khẽ chọc vào vòng quay ngựa gỗ để có thể trông thấy chú ngựa đỏ-đen lại trượt đi xa thêm một chút.
Ông ước gì có thể để cô gái được phân tâm như thế. Để cuộc trò chuyện chậm lại, để cô ấy trốn tránh thảm họa mà ông buộc phải bắt cô trải qua.
Nhưng Victor vẫn ngồi chìa ra ngoài ghế và hắng giọng, khi cô gái quay cặp mắt khổ sở sang nhìn ông, ông gật đầu chậm rãi.
Cô thở dài và gập tay lại trên đùi.
Trong tuần tiếp theo, Desmond tránh xa Vườn hoàn toàn. Anh ta không dùng mật khẩu, không đến cùng cha mình, chỉ tránh đi thôi. Chính Bliss đã hỏi Thợ Làm Vườn về chuyện ấy, theo cái cách thẳng thừng đến đáng sợ thường thấy của em, nhưng hắn chỉ cười và bảo không cần lo lắng, con trai hắn chỉ đang tập trung vào các kì thi sắp tới.
Tôi chấp nhận chuyện đó.
Dù anh ta có đang trốn tránh, hay chỉ đang nghĩ thông suốt mọi chuyện, tôi không phiền nếu bớt đi một người đàn ông phải mua vui. Tôi trân trọng khoảng không để suy nghĩ.
Avery rốt cuộc đã quay lại Vườn, điều đó có nghĩa là những lần can thiệp liên tục, kín đáo phải được tiến hành để bảo vệ các cô gái mong manh hơn khỏi mối quan tâm của gã. Điều hành mọi chuyện từ giường bệnh của Simone lại càng khiến việc ấy khó khăn hơn.
Cô ấy đã sụt cân đáng kể trong vòng một tuần rưỡi, không thể giữ nổi thứ gì trong bụng quá nửa tiếng. Ban ngày, tôi ở cùng cô, còn ban đêm, khi Danelle tới để giải thoát tôi, tôi vào Vườn và ngủ trên tảng đá tắm nắng, nơi tôi có thể giả vờ các bức tường không sập xuống và thời gian không phải đang đếm ngược.
Tôi thích Simone. Cô ấy vui tính và khôn ngoan, không bao giờ tin lời đường mật nhưng dù sao vẫn tận dụng tối đa nó. Tôi giúp cô trèo vào giường sau một lần ôm bồn cầu khác và cô nắm chặt tay tôi. “Tôi sẽ phải thử một lần, đúng không?”
Bliss kể rằng Lorraine đã ở lại trong bữa sáng, hỏi han. “Phải,” tôi chậm rãi trả lời. “Tôi nghĩ là thế.”
“Mọi chuyện sẽ tốt hơn, đúng không?”
“Tôi nghĩ vậy.”
Cô nhắm mắt lại, một tay gạt mớ tóc đẫm mồ hôi trên trán. “Đáng lẽ tôi phải nhận ra sớm hơn. Tôi đã trông thấy cả mẹ lẫn chị cả tôi trải qua mấy thai kỳ và cả hai đều nghén nặng suốt hai tháng trời.”
“Cô muốn tôi tráo mẫu nước tiểu vào que thử không?”
“Chúng ta bị cái quái gì để đến nỗi chuyện ấy lại thành lời tuyên ngôn của tình yêu và tình bạn thế này?” Nhưng cô vẫn lắc đầu chậm rãi. “Tôi không muốn cả hai ta phải chết, mà ta biết kết cục sẽ là như thế.”
Chúng tôi ngồi trong im lặng một lát, bởi vì có những thứ không có câu trả lời.
“Cô giúp tôi một việc này được không?” Cuối cùng cô ấy bảo.
“Cô cần gì?”
“Nếu chúng ta có sách trong thư viện, cô có thể đọc nó cho tôi nghe không?”
Khi cô ấy nói ra điều mình muốn, tôi suýt phá lên cười. Suýt thôi. Không phải vì nó buồn cười mà là tôi vui vì đó là điều duy nhất tôi có thể làm cho cô ấy. Tôi lấy nó từ trong thư viện, đặt nó cạnh cô trên giường và đan tay cô trong tay tôi, rồi mở cuốn sách tới một trang thích hợp để tôi có thể bắt đầu đọc.
“Trời lạnh kinh khủng khiếp; tuyết rơi xuống, trời đã khá tối, và đêm đến - đêm cuối cùng của năm. Trong cái lạnh và bóng tối, có một cô gái nghèo bé nhỏ vẫn đi dọc con phố, đâu trần, hai bàn chân trần.”
“Đó là cuốn nào vậy?”
“Một truyện trong sách,” cô gái chỉnh lại. “Đó là Cô bé bán diêm của Hans Christian Andersen.”
Victor gần như nhớ ra nó, một câu chuyện từ vở ba lê mà con gái ông - Brittany đã diễn khi còn rất nhỏ, nhưng nó đã bị lu mờ trong những kí ức về Kẹp hạt dẻ và Chú lính chì dũng cảm.
“Nó là kiểu câu chuyện có lý hơn khi ở trong Vườn so với ngoài đời thực.”
Tôi đọc tiếp sang các truyện khác sau khi đọc xong truyện đó, nhưng im bặt khi Lorraine bước vào. Mụ cầm một cái khay gồm hai phần ăn trưa và ở giữa chúng là một bộ thử thai.
“Tôi phải có mặt ở đây khi cô thử,” mụ nói.
“Đùa à.”
Simone thở dài ngồi tựa người lên ván đầu giường và với tay lấy cốc nước, uống hết chỉ bằng một ngụm. Tôi đưa cho cô cái cốc còn lại trên khay, cốc này đựng nước quả, và cô cũng uống luôn một lèo. Cô gắng gượng ăn trưa, vốn chỉ gồm súp và bánh mỳ nướng, nhưng phần lớn khay thức ăn đã không được đụng đến. Khi cuối cùng chỗ nước kia cũng được cơ thể cô hấp thụ xong, cô cầm lấy bộ thử thai trên khay, lảo đảo bước về bồn cầu nhỏ của mình và kéo rèm lại.
Lorraine lởn vởn ở ngưỡng cửa như một con kền kền, hai vai mụ so lại và mắt hau háu nhìn tấm vải che.
Simone cúi người tới để bắt lấy ánh mắt tôi, rồi giật đầu về phía mụ khốn ở ngưỡng cửa. Tôi gật đầu và hít một hơi sâu, bắt đầu đọc Chú lính chì dũng cảm.
Gào to hết sức mình.
Việc ấy khiến tôi nhận một cú lườm cháy mắt từ mụ đầu bếp - y tá, nhưng ít nhất cũng để Simone đi tiểu trong yên bình. Chúng tôi nghe tiếng giật nước và một lát sau, cô bước ra từ sau tấm rèm và ném cái que nhựa còn nhỏ nước vào mụ già. “Chúc vui vẻ. Đi báo cáo đi. Cút xéo đi.”
“Cô không muốn.”
“Không. Cút xéo.” Simone ném mình lên giường, phủ phục nửa người trên đùi tôi. “Cô đọc tiếp có được không?”
Tôi đặt cuốn sách ngang lưng cô ấy, che đi cặp cánh nâu mờ của loài Mitchell’s Satyr, và bắt đầu lại từ chỗ chúng tôi vừa dừng. Cô ấy ngủ gần hết buổi chiều, chỉ thỉnh thoảng thức dậy để lê mình đến bồn cầu. Một lát sau, Danelle đến với chúng tôi, chải mái tóc nâu sậm của Simone thành một búi sang trọng, Bliss mang bữa tối cho chúng tôi và kẹp vài bông hoa phi yến bằng đất nặn vào búi tóc. Khi tôi đã ăn xong và Simone chỉ đẩy thức ăn quanh đĩa, Bliss mang hai cái khay trở vào bếp cho Lorraine.

Khi buổi tối dần buông đã làm những cái bóng chuyển vị trí trong hành lang, Thợ Làm Vườn xuất hiện nơi ngưỡng cửa.
Cùng một chiếc váy.
Nó là một tập hợp nhiều lớp lụa xuyên thấu mang các sắc độ của màu nâu và kem, tất cả chỉ để mô phỏng cặp cánh và tôn lên nước da sẫm của cô ấy. Simone nhìn lên khi chúng tôi im bặt, trông thấy chiếc váy và nhanh chóng quay mặt đi trước khi hắn kịp nhìn thấy những giọt nước mắt của cô.
“Các cô gái?”
Chớp mắt lia lịa, Danelle hôn vành tai Simone, nơi gần nhất với mặt mà cô có thể chạm tới và lặng lẽ rời khỏi phòng. Simone chậm rãi đẩy mình ngồi dậy và vòng hai cánh tay quanh tôi, vùi mũi cô vào vai tôi. Tôi ôm cô chặt hết mức có thể, cảm thấy những cơn rùng mình bắt đầu.
“Tên tôi là Rachel,” cô ấy thì thào trên da tôi. “Rachel Young. Cô sẽ nhớ tôi chứ?”
“Tôi sẽ nhớ.” Tôi hôn má cô và miễn cưỡng để cô đi. Cầm cuốn truyện cổ tích trên tay, tôi đi ra cửa, nơi Thợ Làm Vườn khẽ hôn tôi.
“Cô ấy sẽ không chịu đau đớn,” hắn thì thầm.
Cô ấy sẽ chết.
Đáng lẽ lúc đó tôi phải quay lại phòng mình, phòng Bliss hay phòng Danelle. Đáng lẽ lúc đó chúng tôi phải tụ tập thành những nhóm nhỏ, giả vờ mình là bất kì thứ gì khác với tình cảnh thực sự của mình và khóc thương cho tổn thất thực ra còn chưa xảy đến. Đáng lẽ lúc đó chúng tôi phải ngồi chờ Simone chết.
Và lần đầu tiên, tôi đã không thể làm vậy.
Tôi không thể.
Đèn nhấp nháy, lời cảnh báo để chúng tôi về phòng mình trước khi những bức tường hạ xuống trên hành lang. Tôi bước ra lối đi rải cát, ý thức được chuyển động trong những bóng râm ở đầu bên kia của Vườn. Tôi không chắc đó là Avery, Desmond hay bất kì cô gái nào khác, và ngay lúc này tôi không quan tâm. Đèn tắt hẳn và những bức tường rít lên đằng sau tôi, hạ xuống những cái rãnh của chúng với tiếng thụp nặng nề vang lên khô khốc trong sự tĩnh lặng.
Đi sâu hơn vào Vườn, tôi bước dọc bờ suối cho đến khi tới được chỗ thác nước. Tôi thả cuốn sách lên tảng đá ở một khoảng cách an toàn so với thác nước và vòng hai cánh tay ôm ngang bụng, tóm chặt hai khuỷu tay chống lại sức ép lớn dần trong ngực tôi. Đầu tôi ngửa ra sau, dựa vào tảng đá, tôi nhìn đăm đăm những tấm kính trên đầu. Sao trời đang nhấp nháy trên nền trời sâu thẳm trong tầm nhìn, vài ngôi sao sáng rực màu bạc, vài ngôi sao nhờ nhờ màu xanh hay vàng và một ngọn đèn đỏ cô đơn chắc hẳn thuộc về một chiếc máy bay.
Một tia sáng nhỏ xíu xẹt qua bầu trời, và mặc dù tôi biết về khoa học - rằng đó chỉ là rác vũ trụ, tảng đá, kim loại hay bất kì loại phế thải nào đó từ vệ tinh đang bị đốt cháy trên bầu khí quyển - tất cả những gì tôi nghĩ được là về câu chuyện ngu ngốc kia. “Ai đó chỉ vừa mới mất!” Cô bé nói; vì bà ngoại già nua của cô, người duy nhất từng yêu thương cô, giờ đã không còn nữa, từng nói với cô rằng: Khi một ngôi sao rơi xuống, một linh hồn bay lên với Thượng đế.
Và cô bé ngốc nghếch kia cứ đứng giữa mùa đông như thế mà thắp diêm để tóm lấy những khoảnh khắc gia đình không phải - không bao giờ có thể là - của cô và chết cóng trong thực tại khắc nghiệt giữa những que diêm, bởi vì dù diêm có thể cháy, chúng là ánh sáng, chứ không phải hơi ấm.
Hơi thở của tôi nghẹn lại vì sức nặng chắc chắn, ngày càng phình ra kia và không thể thoát khỏi nó. Tôi không hít vào hay thở ra được, chỉ có một cục không khí bốc mùi đang làm tôi bị nghẹn. Lá và cành cây lay động xa xa trong lúc tôi ngã quỳ xuống, hổn hển hít vào từng bụm không khí không tới. Tôi cuộn một bàn tay thành nắm đấm và đập xuống ngực mình nhưng ngoài cơn đau nhói chỉ kéo dài một giây, không có gì thay đổi. Tại sao tôi lại không thở được?
Một bàn tay chạm vào vai tôi và tôi quay ngoắt lại, tát vào nó trong lúc tôi ngã ra vì cử động đột ngột.
Desmond.
Tôi lồm cồm bò trên cả tay và đầu gối, lảo đảo đứng lên và chạy qua thác nước vào trong hang, nhưng anh ta đi theo tôi, bắt kịp tôi lúc tôi vấp phải cái hốc trên sàn và lại bị ngã. Anh ta nhẹ nhàng đặt tôi xuống đất và quỳ trước mặt tôi. Anh ta theo dõi khuôn mặt tôi trong lúc tôi vật lộn để thở. “Tôi biết cô không có lí do gì để tin tôi, nhưng dù thế hãy tin, chỉ một phút thôi.”
Bàn tay anh ta vươn tới mặt tôi và tôi lại tát gạt nó đi. Anh ta lắc đầu, nhanh nhẹn xoay tôi và giữ chặt hai cánh tay tôi ở một bên sườn bằng một tay, bàn tay kia anh ta úp lên mũi và miệng tôi. “Hít vào đi,” anh ta thì thầm trên tai tôi. “Không quan trọng nếu đó không phải là một hơi trọn vẹn, cô vẫn sẽ có chút ít không khí. Hít vào.”
Tôi thử, và có lẽ anh ta nói đúng, có lẽ cũng có chút không khí, nhưng tôi không cảm nhận được nó. Tất cả những gì tôi cảm thấy là bàn tay anh ta chắn giữa tôi và thứ tôi cần để sống.
“Tôi chỉ đang buộc cô phải hít vào một lượng CO₂ đậm đặc,” anh ta bình tĩnh nói tiếp. “Hít vào đi. CO₂ sẽ chạm vào huyết quản của cô thay vì ôxy và làm chậm phản ứng của cơ thể. Hít vào. Khi cơ thể cô tới điểm giới hạn, khi cô đã ở ranh giới ngất đi, các phản ứng tự nhiên của cơ thể sẽ đẩy các nhân tố tâm lý học đi. Hít vào.”
Mỗi lần anh ta cho tôi chỉ dẫn, tôi cố vâng lời, tôi đã thực sự cố gắng, nhưng vẫn chẳng có chút không khí nào. Tôi thôi vùng vẫy, chân tay đờ ra nặng nề, và dựa cả vào ngực anh ta. Bàn tay anh ta cứ tiếp tục che mũi và miệng tôi. Với cả cơ thể nặng trịch, tôi gần như có thể cảm nhận cục nặng trong ngực mình và hết sức chậm rãi, trong lúc anh ta lặp đi lặp lại chỉ dẫn, không khí bắt đầu nhỏ giọt len vào. Đầu tôi quay quay vì sự nhẹ nhõm bất ngờ, nhưng tôi vẫn đang hít thở. Anh ta dời tay sang vai tôi, xoay lên xuống trên cánh tay trong lúc vẫn tiếp tục thầm thì, “Hít vào.”
Dần dần nó lại trở thành một thói quen, mà tôi không cần phải nghĩ để làm nữa, và tôi nhắm mắt lại để ngăn cảm giác hổ thẹn mù quáng. Tôi chưa từng suy sụp vì hoảng loạn như thế, mặc dù tôi đã gặp ở khá nhiều người khác, và cảm giác bất lực của chính tôi cũng đáng hổ thẹn nữa. Hơn cả việc đó, lại còn có người chứng kiến. Khi đã cảm thấy nửa phần chắc chắn là mình sẽ không ngã sấp mặt nếu đứng dậy, tôi cố đẩy người lên.
Hai cánh tay Desmond siết chặt quanh tôi. Không đau đớn, nhưng đủ để tôi không đi đâu được nếu không vật lộn. “Tôi là một thằng hèn,” anh ta bảo khẽ. “Và tệ hơn cả thế, tôi nghĩ tôi có lẽ đúng là con trai của cha tôi; nhưng nếu tôi có thể giúp cô theo cách này, xin hãy để tôi.”
Nếu cô bé bán diêm được ai đó ôm lấy như thế này, ai đó ấm áp và chắc chắn đỡ lưng cô bé, dùng cơ thể của chính anh ta bao bọc lấy cô, liệu cô bé có sống sót được không?
Hay cả hai sẽ cùng chết cóng?
Dịch người đến khi dựa được lưng vào tường, Desmond khẽ xoay tôi đến khi tôi gần như ngồi nghiêng giữa hai chân anh ta, má tôi tựa vào ngực anh ta nên tôi gần như có thể nghe thấy tiếng tim đập. Tôi căn những hơi thở run rẩy của mình dựa vào đó, cảm thấy nó nảy lên hay lỡ nhịp mỗi khi tôi cử động. Anh ta không có thân hình rắn chắc của anh trai, mối đe dọa hiển hiện của các cơ bắp ấy, cũng không có sức khỏe dẻo dai của ông bố. Anh ta gầy guộc như vận động viên điền kinh, toàn là góc cạnh gân guốc và mặt phẳng dài. Anh ta khẽ ngâm nga, điệu gì đó tôi không nhận ra được và cũng không nghe đúng khi dựa vào ngực anh ta như thế, nhưng những ngón tay anh ta chạm lên da tôi như đánh đàn dương cầm.
Chúng tôi ngồi trong cái hang ẩm và tối ấy với quần áo ướt sũng vì thác nước, bám chặt lấy nhau như hai đứa trẻ trong một cơn ác mộng, nhưng khi tôi ngủ gật, cơn ác mộng vẫn sẽ còn ở đó. Khi tôi thức dậy, nó vẫn sẽ còn ở đó. Mọi ngày trong ba năm rưỡi qua, cơn ác mộng vẫn luôn luôn, luôn luôn ở đó, và không có chút an ủi nào.
Mặc dù vậy, trong vài giờ này, tôi có thể giả vờ.
Tôi có thể là cô bé bán diêm và đập những ảo tưởng của mình lên tường, chìm trong hơi ấm cho đến khi ánh sáng mờ đi và vứt tôi về với Vườn.
“Họ không chỉ là những người cùng cảnh bị giam cầm đúng không?” Victor hỏi sau khi cho cô gái một phút để bình tâm lại. “Họ là bạn cô.”
“Một vài người là bạn. Tất cả đều là gia đình. Tôi đoán chuyện ấy cứ thế xảy ra thôi.”
Đôi khi rất khó để bắt mình tìm hiểu những người khác. Việc ấy chỉ càng làm ta đau đớn hơn khi họ chết đi, hay làm họ đau đớn khi ta chết đi. Đôi khi rất khó để tin rằng nỗi đau đó là xứng đáng. Mặc dù vậy, cốt lõi của Vườn chính là sự cô độc và nguy cơ phát điên luôn chực chờ, và kết nối với những người khác dường như an toàn hơn hai con quỷ kia. Không nhất thiết là ít nguy hiểm hơn, nhưng an toàn hơn.
Vì lẽ đó, tôi biết Nazira thậm chí còn sợ lãng quên hơn cả Bliss. Cô ấy là một nghệ sĩ, vẽ hết sổ này tới sổ kia về bạn bè và gia đình mình. Cô vẽ ra những bộ cánh mà cô yêu thích, ngôi nhà và trường học, những chiếc xích đu trong công viên thành phố nơi cô đã có nụ hôn đầu. Cô vẽ đi vẽ lại chúng và hoảng loạn nếu các chi tiết thay đổi hay trở nên mơ hồ.
Có một cô được gọi là Zara khốn nạn, và khi Bliss đặt cho ông cái biệt danh ấy, ông biết mình hẳn là một kẻ xấu xa cực kỳ. Bliss thường gay gắt và không chấp nhận nổi trò mèo; Zara vốn xấu tính sẵn rồi. Tôi tôn trọng chuyện cô ta không tin vào ảo tưởng, nhưng cô ta biến cuộc sống thành địa ngục với những người cần bám vào nó… Như Nazira, người tin tưởng rằng chừng nào cô ấy không quên bất kì chuyện gì trong quá khứ, cô ấy sẽ gặp lại chúng. Không tuần nào trôi qua mà tôi không phải can một trận đánh nhau giữa hai người, thường bằng cách lôi Zara tới bờ suối và đẩy cô ta xuống đó cho nguội bớt. Cô ta không phải bạn tôi, nhưng trong những phút yên lặng, tôi thích cô ta. Cô ta cũng thích sách như tôi vậy.
Glenys cứ chạy và chạy và chạy mãi, hết vòng này đến vòng khác quanh các hành lang, cho đến khi Thợ Làm Vườn phải ra lệnh Lorraine cung cấp gấp đôi lượng thức ăn cho cô ấy so với chúng tôi. Ravenna là một trong vài người có máy MP3 và loa. Cô ấy nhảy hàng giờ liền và nếu ông đi qua cô ấy, cô sẽ tóm lấy tay ông và lôi ông vào nhảy cùng. Hailee thích làm tóc cho mọi người và có thể vấn những kiểu tuyệt vời nhất, Pia thì muốn biết mọi thứ hoạt động như thế nào và Marenka thêu chữ thập rất đẹp. Thậm chí cô ấy còn có cả một chiếc kéo thêu nhỏ xíu cực kì sắc mà Thợ Làm Vườn đã yêu cầu cô xỏ ruy băng đeo vào cổ để không ai có thể dùng nó tự làm hại mình. Adara viết truyện và Eleni vẽ tranh, đôi khi Adara sẽ nhờ Eleni hay Nazira minh họa cho cô ấy.
Còn có Sirvat. Sirvat là… Sirvat.
Cô ấy rất khó hiểu.
Không chỉ vì cô ấy là kẻ cô độc hay lặng lẽ mà còn vì ông không bao giờ biết chuyện quái quỷ gì sẽ thốt ra từ miệng cô ấy. Cô ấy là lần giới thiệu cuối cùng của Lyonette. Lyonette yêu cầu tôi không giúp trong lần đó, vì Sirvat quá lạ lùng, và cả Lyonette lẫn tôi đều không đoán được phản ứng của tôi sẽ thế nào. Vậy nên lần đầu tiên tôi gặp cô ấy là sau khi cặp cánh của cô ấy đã hoàn tất. Cô ấy nằm dang tay dang chân bên bờ suối, úp mặt xuống bùn, Lyonette thì đang đứng nhìn chằm chằm bối rối.
“Cô đang làm gì đấy?” Tôi hỏi.
Thậm chí cô ấy không nhìn tôi, nửa mái tóc nâu nhạt của cô dính bết bùn đất. “Cô có thể chết vì nước theo nhiều cách hơn là chỉ bị đuối. Uống quá nhiều cũng dễ mất mạng như không uống tí nào.”
Tôi liếc sang Lyonette đang bối rối. “Cô ta thực sự đang tự tử đấy à?”
“Chị không nghĩ vậy.”
Cô ấy không tự tử, hầu hết là thế. Về sau chúng tôi hiểu rằng Sirvat là vậy đấy. Cô ấy xác định các loài hoa chúng tôi có thể ăn trong thời gian dài để tự tử, nhưng lại không ăn cái nào. Cô ấy biết cả ngàn cách để chết và có mối quan tâm tới các cô gái trong bể kính mà không ai trong chúng tôi muốn hiểu. Cô ấy tới thăm họ thường xuyên gần như Thợ Làm Vườn.
Sirvat là một chú vịt lạc bầy. Tôi thực sự không dành nhiều thời gian với cô ấy và cô ấy thậm chí còn không để ý, chứ chưa nói đến bận tâm.
Nhưng hầu hết chúng tôi biết nhau. Thậm chí khi chúng tôi chọn cách không chia sẻ cuộc đời trước khi đến Vườn, tình bạn của chúng tôi vẫn có sự thân ái. Tốt xấu gì - và gần như lúc nào cũng là xấu - chúng tôi đều là các cô Bướm. Một điểm chung không thể nào thay đổi.
“Và các cô để tang cho nhau.” Đó không phải là một câu hỏi.
Miệng cô gái nhếch lên. Đó không phải là một nụ cười, thậm chí không phải nhăn mặt, chỉ là sự xác nhận rằng đáng lẽ ở đó phải có biểu cảm nào đó. “Lúc nào cũng vậy. Ông không bao giờ phải chờ để ai đó xuất hiện trong một bể kính. Ông vừa khóc cho họ mỗi ngày, như họ khóc cho ông, bởi vì mỗi ngày chúng tôi đều đang chết.”
“Desmond có gần gũi với bất kì cô gái nào khác không?”
“Có và không. Theo thời gian. Đó là…” Cô do dự, mắt đảo vài lần giữa Victor và hai bàn tay bị thương của mình, trước khi thở dài và chắp hai tay lại trên đùi để chúng tránh khỏi tầm nhìn bên dưới gầm bàn. “Ông phải hiểu rằng chuyện rất phức tạp.”
Ông gật đầu. “Cha cậu ta nghĩ gì?”
Một ngày sau khi Simone vào bể kính - chúng tôi không nhìn thấy cô ấy, khi các bức tường vẫn còn hạ - Thợ Làm Vườn đã mang tôi vào phòng riêng của hắn để dự một bữa tối riêng sang trọng. Theo tôi được biết mà không cần hỏi han ai, tôi là người duy nhất mà hắn từng mang vào đó. Tôi đoán chuyện ấy nên được tán thưởng, nhưng tôi chỉ thấy bất an. Cuộc nói chuyện vẫn nhẹ nhàng. Hắn không nhắc gì đến Simone và tôi không đề cập đến vì tôi không muốn biết phần tệ nhất. Bí mật duy nhất còn lại của chốn này là hắn đã giết chúng tôi bằng cách nào.
Khi đã ăn xong món tráng miệng, hắn bảo tôi ngồi xuống cùng một ly sâm panh mới toanh và thư giãn trong lúc hắn dọn dẹp. Tôi chọn chiếc ghế thư giãn thay vì sô-pha, lôi cái gác chân lại gần và xếp chiếc váy dài của tôi để che kín cả bàn chân. Người ta có thể giới thiệu tôi tại một chương trình trao giải thưởng trong chiếc váy ấy và tôi thắc mắc hắn đã đổ bao nhiêu tiền vào Vườn cũng như việc giam giữ chúng tôi. Hắn đang bật một bản nhạc cổ điển nào đó trên chiếc máy thu kiểu cũ nên tôi nhắm mắt lại và chìm sâu vào chỗ gối đầu.
Tấm thảm dày trong phòng hút hết tiếng bước chân của hắn, nhưng tôi vẫn có thể nghe thấy hắn đã quay lại. Hắn đứng cúi nhìn tôi một lát, chỉ nhìn. Tôi biết đôi khi hắn thích ngắm chúng tôi lúc ngủ và vì lí do gì đó mà việc này đáng sợ hơn nữa lúc tôi thức.
“Desmond có làm phiền em đêm hôm nọ không?”
Mắt tôi choàng mở, dường như hắn chọn đó là dấu hiệu để ngồi ghé lên tay ghế. “Làm phiền tôi?”
“Tôi đã xem vài đoạn phim và thấy em đẩy nó ra. Nó đã đi theo em vào hang nhưng trong đó không có máy quay. Nó có làm phiền hay làm em đau không?”
“Ồ. Không.”
“Maya.”
Tôi gắng nở nụ cười nhẹ, vì hắn hay vì chính mình thì tôi không chắc. “Tôi đã rất buồn, đúng, nhưng đó là trước khi Desmond đến. Tôi đã rơi vào một cơn hoảng loạn. Tôi chưa từng như thế trước đó nên không biết phải làm gì, và đầu tiên tôi hiểu nhầm việc anh ta đến. Anh ta đã giúp tôi vượt qua.”
“Một cơn hoảng loạn à?”
“Nếu sau một năm rưỡi mà đó là phản ứng dữ dội nhất của tôi, tôi không nghĩ việc ấy đặc biệt đáng ngại, không phải sao?”
Hắn đáp lại nụ cười ấy, ấm áp và chân thành. “Và nó đã giúp em?”
“Phải, và ở lại với tôi đến khi tôi bình tĩnh hơn.”
Anh ta đã ở lại với tôi suốt đêm đó, thậm chí cả khi chúng tôi nghe tiếng hai cánh cửa ở xa hé mở, khi chúng tôi nghe tiếng cha anh ta bước trên hành lang với Simone khóc thút thít. Đôi khi hắn muốn quan hệ lần cuối cùng trước khi giết một cô gái; tốt hơn là ở trong phòng cô ta thay vì những căn phòng bí mật kia, tôi đoán vậy. Des ở lại cùng tôi đến sáng, khi mọi cánh cửa đã được kéo lên và các cô gái khác bước vào Vườn để bám víu nhau chống lại nỗi mất mát đau đớn mà anh ta không hiểu, bởi vì anh ta không biết cô ấy đã hay sẽ mau chóng phải chết. Anh ta có nghĩ cô ấy chỉ bị đuổi đi không? Hay được đưa đi để phá thai?
“Con trai út của tôi có thể rất khó hiểu.”
“Có nghĩa là ông không thể đọc được phản ứng của anh ta với chúng tôi.”
Hắn cười và gật đầu, trườn xuống ngồi cạnh tôi trên ghế. Một cánh tay hắn vòng lên ôm vai tôi, áp đầu tôi vào ngực hắn và trong khoảnh khắc, chúng tôi có thể là bất kì cặp đôi nào đang âu yếm nhau trước một bộ phim.
Chỉ có điều, nếu chúng tôi là hai con người bất kì nào khác, da tôi đã không nổi gai ốc như thế.
Chắc chắn tôi chưa bao giờ nổi gai ốc với Topher, hay khi cả đám chúng tôi nằm ườn trên sô-pha nhà Jason hay Keg, hay bất kì cậu trai nào ở chỗ làm. Sự thân mật với Thợ Làm Vườn cũng là một ảo ảnh y như cặp cánh hắn đã khắc vào lưng chúng tôi vậy; nó không biến điều gì trở thành sự thật cả.
“Nó không thích nói về chuyện đó với tôi.”
“Nếu nghĩ rằng chúng tôi là một kiểu hậu cung, tôi không tưởng tượng được hầu hết các chàng trai trẻ sẽ cảm thấy thoải mái khi bàn về nó với cha họ. Ông có thể hỏi cha mẹ về các cách tiếp cận ai đó hay phải làm gì trong cuộc hẹn đầu tiên, nhưng sex thường bị cấm đoán kể cả khi không có vấn đề gì với sự tự nguyện.”
Và đó lại là một lời nhắc nhở khác rằng chúng tôi không phải hai con người bất kỳ, bởi tất cả những gì hắn làm chỉ là cười lớn và quay đầu sang để hôn tôi. Tôi chợt nhận ra rằng mình có thể đi vào căn bếp riêng của hắn và nhặt một con dao lên đâm xuyên tim hắn. Tôi đã có thể giết hắn ngay lúc đó và ngay tại đó, nhưng điều ngăn cản tôi chính là ý nghĩ Avery sẽ thừa kế Vườn.
“Avery đã rất háo hức khi tôi giới thiệu nó với Vườn lần đầu tiên. Nó nói về nơi này bất kể khi nào chúng tôi một mình. Có lẽ một ông bố không cần phải biết nhiều chi tiết như thế về con trai mình. Nhưng tôi không thể thấy Desmond làm việc gì khác ngoài ngó nghiêng xung quanh.”
“Việc ấy khiến ông thất vọng sao?” Tôi hỏi với vẻ thờ ơ.
“Làm tôi tò mò.” Bàn tay hắn lần lên cánh tay rồi gáy tôi, nơi hắn kéo sợi dây thắt nơ cho chiếc váy. Mảnh vải lụa đen lỏng ra trong ngón tay hắn và hắn ngắm chúng trượt xuống xương đòn rồi xuống eo tôi, lộ ra bầu ngực trần. Hắn khẽ lần theo một bên ngực tôi trong lúc nói. “Nó là một chàng trai khỏe mạnh được những cô gái xinh đẹp bao quanh, và tôi biết nó không phải trai tân, thế nhưng nó vẫn không hề tận dụng các cơ hội.”
“Có lẽ anh ta vẫn đang điều chỉnh.”
“Có thể. Hoặc sự đa dạng không phải thứ hấp dẫn nó.” Hắn khẽ nâng người tôi trên ghế để có thể chuồi xuống bên dưới tôi, cho hắn vị trí tốt hơn để tiếp cận ngực tôi và đẩy váy tôi qua hông xuống đùi. “Nó vẫn ngóng em mỗi khi đến, thậm chí nếu nó không đi tìm em.”
“Rõ ràng tôi là kiểu người thẳng thừng,” tôi nói khô khan và hắn cười khùng khục.
“Phải, tôi có thể thấy tại sao nó lại đặt câu hỏi với em. Em sẽ làm gì, nếu nó đến tìm em giống như tôi?”
“Tôi cho là, như với ông và Avery, chúng tôi phải làm những gì chúng tôi được bảo. Tôi nói sai không?”
“Vậy là em sẽ để nó chạm vào em?” Hắn cúi đầu trên ngực tôi, môi di chuyển trên những điểm nhạy cảm. “Em sẽ để nó tìm khoái lạc nơi em?”
Desmond không phải cha anh ta.
Nhưng đúng là con trai của cha anh ta.
“Trừ phi ông bảo tôi cái khác, tôi sẽ làm những gì được bảo.”
Hắn rên lên và lột hẳn chiếc váy ra, thả nó thành một đống đen sì cạnh chân ghế. Khi môi và tay hắn biến cơ thể tôi thành kẻ phản bội, không còn lời nào nữa được thốt ra trừ tên tôi, hết lần này đến lần khác, những tiếng thở vang lên trong tĩnh lặng.
Có vài tính chất - vài thứ tách biệt hẳn với nhau, có một cuộc đời kép… Đó là Sự im lặng hai chiều - biển và bờ - cơ thể và linh hồn. Một người trầm mình ở những chốn cô độc.
Hắn chiếm lấy tôi hết lần này tới lần khác, trên ghế trên thảm, trên chiếc giường cỡ lớn. Tôi nhẩm lại mọi thứ mình có thể nhớ được, kể cả công thức đồ uống, nhưng rất lâu trước khi ban mai tới, tôi đã cạn lời và cảm thấy chất độc thấm dần qua những kẽ hở vào tâm hồn mình. Tôi đã quen với cảm giác bệnh hoạn đi kèm với việc để mặc Thợ Làm Vườn cưỡng đoạt tôi, nhưng tôi không bao giờ quen nỗi đau ghê tởm đi kèm với việc để mặc hắn tin rằng hắn yêu tôi.
Khi cuối cùng hắn cũng tháp tùng tôi trở lại phòng mình, hắn ngồi trên mép chiếc giường hẹp của tôi và đắp chăn quanh tôi, vuốt ve tóc trên mặt tôi ra sau và dành cho tôi một nụ hôn lưu luyến. “Tôi hi vọng Desmond sẽ nhận ra em là một phụ nữ trẻ tuyệt vời đến thế nào,” hắn thì thầm trên môi tôi. “Em sẽ có ích cho nó biết bao.”
Sau khi hắn đi, tôi ra khỏi giường và đứng dưới vòi tắm, kì cọ da mình đến khi nó rát đau bởi tôi chỉ muốn giả vờ là mình có thể gột sạch cảm giác từ sự đụng chạm của hắn. Bliss tìm thấy tôi ở đó, và với linh cảm không ngờ, em ấy không nói một lời. Em giúp tôi xả nốt chỗ xà phòng và dầu xả cuối cùng rồi tắt nước, lau khô tóc tôi trong lúc tôi lau phần còn lại. Khi tóc tôi đã được chải hết chỗ rối và bện lại thành một bím tóc gọn gàng, chúng tôi cùng nhau cuộn tròn dưới tấm chăn.
Lần đầu tiên, tôi hiểu vì sao em ấy lại nghĩ đến việc nhảy xuống.
Lần đầu tiên, những năm còn lại kia dường như không đáng với khả năng trốn thoát mong manh đến thế.
Lần đầu tiên trong một năm rưỡi, tôi cảm thấy từng đường kim trên da thịt mình như thể nhà tù đã bị xăm vào cơ thể tôi. Nếu tôi chưa từng hi vọng nhiều thì tôi cũng chưa từng tuyệt vọng nhiều như vậy, nhưng tôi cảm nhận được nỗi tuyệt vọng đang chặn họng mình bằng từng kí ức một. Tôi hít một hơi dài, lắng nghe tiếng vọng của Desmond trong hang và để nó nhắc nhở mình phải tiếp tục hít thở sao cho ngay cả Bliss, người đã chứng kiến tôi trong những lúc không ai khác từng tưởng tượng là tôi gặp phải, sẽ không thấy tôi đang sợ chết khiếp ra sao.
Nàng cất lời trong hoảng sợ, để cho cặp cánh của mình rũ xuống tới khi chúng lê trên đất - khóc thương trong đớn đau, để lông vũ của mình chìm xuống tới khi chúng lê trên đất - tới khi chúng đau buồn lê trên đất.
Nhưng cặp cánh của tôi không cử động được và tôi không thể bay, tôi thậm chí còn không thể khóc.
Tất cả những gì còn lại cho tôi là nỗi sợ hãi, đau đớn và buồn khổ.
Victor bỏ ra khỏi phòng mà không nói lời nào.
Một lát sau, Yvonne từ phòng quan sát bước vào hành lang, đưa cho ông hai chai nước. “Ramirez gọi đến báo tin thêm,” cô thông báo. “Các cô gái trong tình trạng mong manh hơn đã ổn định lại. Họ vẫn muốn nói chuyện với Maya trước khi trả lời nhiều câu hỏi. Thượng nghị sĩ Kingsley đã bắt đầu gây áp lực với Ramirez để được gặp Maya.”
“Khốn nạn.” Ông xoa má. “Ramirez có thể kìm chân bà ta ở bệnh viện không?”
“Thêm một lát nữa thôi. Cô ấy đang điều đình giữa thượng nghị sĩ và con gái bà ta. Cô ấy đoán mình có thể kéo dài thêm vài giờ nữa với tình hình hiện tại.”
“Được rồi, cảm ơn. Hãy nói với Eddison khi nào cậu ta trở lại nhé?”
“Được ạ.”
Các chính trị gia cứ như Cục bảo vệ trẻ em vậy, ông nghĩ. Vô cùng hữu dụng, nhưng để có ích thì vẫn còn đau đầu chán.
Ông quay lại với phòng thẩm vấn và đưa cho Inara một trong hai chai nước.
Cô gái chấp nhận nó với một cái gật đầu, mở nắp bằng răng thay vì bàn tay còn yếu. Mực nước trong chai còn một nửa trước khi cô đặt nó xuống và nhắm mắt lại. Một ngón tay lần theo những hoa văn trên mặt bàn kim loại, cô bình tâm đón nhận câu hỏi tiếp theo.
Ông theo dõi cử chỉ này, bụng ông quặn lại khi nhận ra những thứ ông vốn tưởng chỉ là biểu tượng vô nghĩa hóa ra là những cánh bướm, được vẽ hết lần này đến lần khác trên mặt bàn thép như một lời nhắc về thứ đã mang cô gái đến đây. “Tôi sắp hết thời gian để bảo vệ cô rồi,” cuối cùng ông nói.
Cô chỉ nhìn ông chằm chằm.
“Những con người quyền uy muốn biết chuyện gì đã xảy ra. Họ sẽ không kiên nhẫn như tôi đâu, Inara, và tôi đã rất kiên nhẫn rồi.”
“Tôi biết.”
“Cô phải thôi vòng vo đi. Kể cho tôi điều tôi cần biết.”
Trong một thời gian, Thợ Làm Vườn tiếp tục bị con trai út của hắn làm cho khó hiểu. Desmond tới Vườn thường xuyên, nhưng anh ta không chạm vào ai trừ đưa một bàn tay ra để đỡ họ lên.
Anh ta còn mang theo cả sách giáo khoa.
Ban ngày, tôi ở cùng cô gái mới nhất, một sinh vật tuyệt đẹp mang dòng máu Nhật Bản. Ban đêm, Danelle ở lại cùng cô gái say ngủ và tôi ngồi trên mỏm đá, bám vào ảo tưởng không gian. Desmond thường ngồi cùng tôi ở đó, và trong vài lần đầu chúng tôi chỉ ngồi im lặng, mỗi người lại mải miết đọc cuốn sách của mình. Đã rất lâu tôi mới có thể ngồi cùng một người đàn ông mà không cảm thấy bị trực tiếp đe dọa. Không chính xác là an toàn, nhưng không bị đe dọa. Thi thoảng, chúng tôi nói về việc học hành của anh ta. Không bao giờ nói về Vườn. Không bao giờ nói về cha anh ta.
Tôi ghét anh ta, tôi nghĩ vậy, vì không chịu ghép các mảng tranh lại với nhau, nhưng tôi không thể hiện ra. Thợ Làm Vườn sẽ không bao giờ thả chúng tôi, Avery thì quá nguy hiểm để cố gây ảnh hưởng. Tôi không chắc Desmond có phải là hi vọng, nhưng anh ta là thứ gần nhất với hi vọng mà tôi có thể trông thấy.
Tôi muốn sống, và tôi muốn các cô gái khác cũng sống, lần đầu tiên tôi muốn giai thoại về cô Bướm trốn thoát kia trở thành sự thật. Tôi muốn tin rằng mình có thể ra ngoài mà không kết thúc trong bể kính hay trên bờ sông.
Rồi một đêm nọ, Desmond mang theo cây vĩ cầm của anh ta.
Thợ Làm Vườn đã kể với tôi con trai hắn là nhạc sĩ, và tôi đã trông thấy cách ngón tay anh ta lặng lẽ gõ phím trên sách, đá, trên đầu gối hay bất kì mặt phẳng nào có thể trong lúc anh ta suy nghĩ. Nó giống như cách anh ta truyền suy nghĩ của mình vào âm nhạc để chúng có nghĩa lý vậy.
Tôi đang nằm úp bụng trên đá với cuốn sách và một quả táo trước mặt, để mắt tới ba cô gái bên dưới ở phần Vườn trung tâm. Họ đang ngụp đến cổ trong cái hồ nhỏ, vẩy nước vào nhau hết sức có thể và tôi biết các cảm biến chắc hẳn đã cảnh báo Thợ Làm Vườn rằng có người trong nước, nhưng tất cả những gì họ phải làm là chơi đủ lâu để hắn thấy thoải mái và tiếp tục làm việc gì khác. Hắn không có mặt trong Vườn đêm đó - hắn có nhắc đến một hoạt động từ thiện cùng vợ mình khi tôi tới tháp tùng cô gái mới quay lại phòng sau buổi xăm đầu tiên - nhưng tôi không nghi ngờ rằng hắn có cách theo dõi chúng tôi nếu muốn. Eleni và Isra đã lần lượt ở đây ba và bốn năm, nhìn chung đã vượt qua thời điểm ngốc nghếch, nhưng Adara mới tới trước tôi khoảng hai tháng. Hầu hết thời gian cô ấy chịu đựng tốt, nhưng thi thoảng lại chìm vào những cơn trầm cảm nặng đến mức gần như gục ngã. Chúng chỉ ở dạng lâm sàng và khi cô ấy không có thuốc men, tôi ngạc nhiên vì chúng đã không xảy ra thường xuyên hơn, nhưng chúng tôi đảm bảo cô ấy không ở một mình trong những giai đoạn như vậy. Cô ấy đã gần như vượt qua lần gần nhất, nhưng tâm trạng vẫn còn bấp bênh.
Desmond trèo lên lối đi với thùng đàn trong tay và dừng lại bên cạnh tảng đá. “Chào.”
“Chào,” tôi đáp lại.
Bình thường là một trạng thái biến thiên trong Vườn này.
Tôi để mắt tới cái thùng trong tay anh ta. Yêu cầu anh ta chơi nhạc cho tôi có phỉnh phờ cái tôi của anh ta? Hay nó sẽ làm anh ta cảm thấy tôi nợ anh ta một ân tình? Tôi rất giỏi đọc vị Thợ Làm Vườn và Avery; Desmond thì khó hơn. Không giống cha và anh mình, anh ta không biết mình muốn gì.
Tôi giỏi thoát khỏi người ta, chứ không phải điều khiển họ. Đây là một lĩnh vực mới.
“Chơi cho tôi nghe à?” Cuối cùng tôi vẫn hỏi.
“Cô có phiền không? Tôi có một bài kiểm tra vào ngày mai và không muốn đánh thức mẹ tôi. Tôi định tập bên ngoài, nhưng mà…” Anh ta chỉ tay lên.
Tôi không nhìn. Tôi có thể nghe thấy tiếng mưa trên tấm kính. Tôi nhớ cảm giác mưa rơi.
Trong căn hộ gần như lúc nào cũng có tiếng nhạc. Kathryn thích nghe nhạc cổ điển, nhưng Whitney thích nhạc rap Thụy Điển và Noémie thích dòng bluegrass, trong khi đó Amber thích nhạc đồng quê, và rốt cuộc chúng tôi có kinh nghiệm nghe nhạc tạp pí lù nhất mà ta có thể tưởng tượng ra. Ở đây vài cô gái có đài hay máy nghe nhạc trong phòng nhưng với phần lớn chúng tôi, nhạc nhẽo vẫn là của hiếm.
Tôi gập sách lại và ngồi thẳng lên trong lúc Desmond chuốt cây vĩ và duỗi ngón tay. Việc theo dõi tất cả những thủ tục nhỏ trong phần khởi động rất thú vị, nhưng khi cuối cùng anh ta cũng đưa cây vĩ lên dây đàn để chơi thật sự, tôi nhận ra vì sao ông bố gọi anh ta là nhạc sĩ.
Anh ta không chỉ đang chơi đàn. Mặc dù tôi không phải chuyên gia, dường như anh ta rất điêu luyện về kĩ thuật, anh ta có thể khiển các nốt nhạc cùng khóc hay cười trên dây đàn. Anh ta thấm đẫm từng bản nhạc bằng cảm xúc. Bên dưới ao, bộ ba đã thôi quẫy nước và chỉ ngoi lên để họ có thể nghe đàn. Tôi nhắm mắt lại và để âm nhạc ôm lấy mình.
Đôi khi, Kathryn và tôi đang ngồi trên cầu thang thoát hiểm hay mái nhà vào lúc ba, bốn giờ sáng sau giờ làm, một anh chàng nhà bên sẽ bước lên mái nhà anh ta để tập vĩ cầm. Anh ta lúng túng với ngón đàn và cây vĩ không phải lúc nào cũng lên đến nốt cao, nhưng ngồi trong bóng tối lờ mờ gần nhất với màn đêm có thể có ở thành phố ấy, chúng tôi có cảm giác vĩ cầm chính là người yêu của anh ta. Dường như anh ta không bao giờ nhận ra mình có khán giả, anh ta dồn hết tâm trí vào nhạc cụ và âm thanh được tạo ra giữa họ. Đó gần như là việc duy nhất Kathryn và tôi làm cùng nhau như một lịch trình. Thậm chí nếu được nghỉ làm tối đó, chúng tôi vẫn đảm bảo mình tỉnh táo để ra ngoài và nghe chàng trai ấy chơi nhạc.
Desmond chơi giỏi hơn nhiều.
Anh ta chuyển từ bài này sang bài kia một cách trơn tru, và khi rốt cuộc anh ta cũng hạ cây vĩ xuống một bên người, những nốt nhạc cuối cùng vẫn còn ngân vang chờ đợi.
“Tôi không nghĩ anh có vấn đề gì với bài kiểm tra trình độ đâu,” tôi thì thầm.
“Cảm ơn.” Anh ta kiểm tra nhạc cụ, nhẹ nhàng ôm nó, và khi đã hài lòng với tất cả mọi thứ như nó nên thế, anh ta cất nó vào chiếc hộp lót nhung. “Hồi còn nhỏ hơn, tôi từng mơ trở thành một nhạc sĩ thực thụ.”
“Từng?”
“Bố đã đưa tôi đến New York và sắp xếp cho tôi dành vài ngày với một nghệ sĩ vĩ cầm chuyên nghiệp, để xem công việc ấy thế nào. Tôi ghét nó. Nó có cảm giác… vô hồn, tôi đoán vậy. Giống như nếu tôi thực sự kiếm sống bằng nghề ấy, tôi sẽ trở nên căm ghét âm nhạc. Khi tôi kể với bố rằng tôi thà làm một việc gì khác vẫn cho phép tôi yêu âm nhạc, ông đã nói ông rất tự hào về tôi.”
“Dường như ông ta hay tự hào về anh,” tôi lẩm bẩm, và anh ta dành cho tôi cái nhìn ngờ vực.
“Ông ấy nói về tôi với cô à?”
“Một chút.”
“Ừm…”
“Anh là con trai ông ta. Ông ta yêu anh.”
“Vâng, nhưng…”
“Nhưng gì?”
“Nhưng chẳng lẽ cô không thấy hơi kì quặc khi ông ấy nói về con trai mình với tù nhân của mình ư?”
Tôi quyết định không kể cho anh ta toàn bộ những gì cha anh ta đã nói về anh ta. “Còn kì hơn cả việc ông ta có tù nhân sao?”
“Đúng thật.”
Vậy là anh ta đã đến nước này, cuối cùng cũng gọi chúng tôi là tù nhân, và không thể cố làm gì để thay đổi thực tế đó.
Dòng suối kết nối với thác nước và cái ao chỉ sâu chưa đến chín mươi phân, nhưng Eleni đã bơi được tuốt lên trên tảng đá trước khi đứng dậy. “Maya, bọn tôi sắp đi vào đây. Cô có cần gì không?”
“Tôi chưa nghĩ ra, cám ơn nhé.”
Desmond lắc đầu. “Đôi khi cô cứ như một bà mẹ trong nhà vậy.”
“Một hội nữ sinh nhỏ lệch lạc làm sao.”
“Cô có ghét tôi không?”
“Cái gì, vì là con trai của cha anh à?”
“Tôi chỉ vừa bắt đầu nhận ra cô ghét tới chừng nào,” anh ta lặng lẽ nói. Anh ta ngồi xuống cạnh tôi trên tảng đá, vòng hai cánh tay trên đầu gối đã thu lại. “Một trong các bạn nữ sinh ở lớp Freud và Jung của tôi cũng có một hình xăm bướm trên vai. Nó xấu hoắc và bị vẽ rất tệ, kiểu một trong mấy cô tiên cánh bướm với khuôn mặt như con búp bê bị tan chảy vậy, nhưng cô ấy lại mặc một chiếc váy quây và tôi đã trông thấy nó. Tất cả những gì tôi có thể nghĩ đến trong phần giờ học còn lại là cặp cánh của cô đẹp đến thế nào. Chúng rất kinh khủng, nhưng cũng rất đẹp.”
“Đó cũng gần giống cách chúng tôi nhìn nhận nó,” tôi trả lời chung chung, tò mò xem anh ta định dẫn câu chuyện này đi đến đâu.
“Tôi nghi ngờ hình ảnh cặp cánh của cô khiến cô tụt cả hứng.”
Ồ.
Phải rồi, đích thực là con trai của cha anh ta.
Nhưng không giống như ông bố, vẫn còn biết hổ thẹn với thực tế đó.
“Ở một trong các tiết học khác, chúng tôi đang nói về những kẻ tích trữ và tôi nghĩ về câu chuyện của cha tôi với bộ sưu tập bướm của cha ông ấy. Tất nhiên sau đó tôi lại nghĩ đến phiên bản sưu tập của cha tôi rồi đột nhiên nghĩ về cô và cách cô có thể giữ phẩm giá như thế nào chỉ với đám mực in và sẹo trên người, hơn hầu hết những kẻ mặc đủ quần áo khác. Mấy tuần nay, tôi đã có… những giấc mơ kiểu này, và tôi bừng tỉnh với mồ hôi đầm đìa, thân thể cứng ngắc và tôi không biết chúng có phải ác mộng hay không.” Anh ta gạt tóc ra khỏi mặt, giữ bàn tay ấy đằng sau gáy. “Tôi không muốn tin rằng mình là loại người có thể làm việc này.”
“Có thể là không.” Tôi nhún vai trước cái liếc mắt của anh ta. “Hùa theo chuyện đó rất phức tạp, nhưng nó không có nghĩa là anh có thể tự mình làm việc đó.”
“Nó vẫn là hùa theo còn gì.”
“Đúng và sai không có nghĩa luôn có một lựa chọn dễ dàng.”
“Tại sao cô không ghét tôi?”
Tôi đã suy nghĩ về điều đó rất nhiều trong mấy tuần qua và vẫn không chắc mình tìm được câu trả lời hay chưa. “Có lẽ anh cũng bị kẹt ở đây y như chúng tôi,” tôi chậm rãi nói. Chỉ có điều tôi có ghét anh ta một chút, cũng nhiều như cha và anh của anh ta nhưng theo một cách khác.
Anh ta suy nghĩ về câu đó một lát. Trong một thoáng, tôi cố đọc các cảm xúc lướt qua khuôn mặt anh ta. Anh ta có cặp mắt của cha, nhưng anh ta hiểu chính mình hơn rất nhiều, Thợ Làm Vườn mãi mãi không làm được như vậy. Thợ Làm Vườn bám vào các ảo tưởng của hắn. Desmond rốt cuộc đã đối mặt với sự thật cay đắng, hay ít nhất là khởi đầu của chúng. Anh ta không biết phải làm gì với những sự thật ấy, nhưng cũng không cố làm cho chúng bớt thật đi.
“Tại sao các cô không cố trốn?”
“Bởi vì những cô gái trước tôi đã làm rồi.”
“Trốn thoát ư?”
“Cố.”
Anh ta nhăn mặt.
“Chỉ có một cánh cửa duy nhất dẫn ra khỏi chốn này, nó bị khóa và mã hóa mọi lúc. Anh phải bấm mã số cho cả lúc vào và lúc ra. Khi thợ sửa chữa đến, các căn phòng trở nên cách âm hoàn toàn. Anh cứ việc gào thét và đấm đá thỏa thích nhưng sẽ chẳng có ai nghe được chúng tôi. Chúng tôi có thể ở bên ngoài khi các bức tường được hạ xuống để bảo dưỡng, nhưng ai đó đã thử cách này mười năm trước và không có gì xảy ra trừ việc cô ta biến mất.” Và tái xuất hiện trong bể kính và nhựa trong, nhưng Desmond vẫn chưa trông thấy các cô Bướm đó. Dường như anh ta đã quên mất chuyện cha mình nói về việc giữ lại chúng tôi sau khi chúng tôi chết. “Tôi không chắc là do bố anh thuê những người không tò mò hay ông ta đã làm cho sự việc không có gì đặc biệt, nhưng không ai tới giải cứu cả. Mặc dù vậy, khi tính đến bước đường đó, là do chúng tôi sợ thôi.”
“Sợ tự do ư?”
“Sợ chuyện sẽ xảy ra nếu chúng tôi gần thoát.” Tôi nhìn lên bầu trời đêm bên ngoài những tấm kính. “Hãy đối mặt với nó đi, ông ta có thể giết tất cả chúng tôi khá nhanh chóng nếu có lúc nào ông ta cảm thấy cần phải làm vậy. Và nếu một trong chúng tôi thử và thất bại, ai nói được là ông ta sẽ không trừng phạt tất cả chúng tôi vì điều đó?”
Hoặc ít nhất kẻ đã cố làm việc đó và tôi, bởi ông ta nghĩ họ kể với tôi mọi chuyện. Làm sao tôi có thể không biết về một kế hoạch như thế?
“Tôi rất tiếc.”
Thật là một câu ngu như lừa trong tình huống này.
Tôi lắc đầu. “Tôi chỉ tiếc vì anh đã từng đến đây thôi.”
Thêm một cái liếc xéo nữa, đâu đó giữa tổn thương và buồn cười. “Hoàn toàn tiếc nuối ư?” Anh ta hỏi sau một phút.
Tôi quan sát khuôn mặt anh ta trong ánh trăng. Đã hai lần anh ta giúp tôi vượt qua các cơn hoảng loạn, thậm chí nếu anh ta mới chỉ biết tới một. Anh ta mong manh dễ vỡ theo cách mà cha và anh của anh ta không thể, một người muốn làm người tốt, muốn làm việc tốt, chỉ không biết phải làm thế nào. “Không,” cuối cùng tôi nói. “Không hoàn toàn.” Không, nếu tôi có thể tìm ra cách nào đó để dẫn dắt anh ta tới chỗ có ích.
“Cô là một người rất phức tạp.”
“Còn anh là một sự phức tạp.”
Anh ta cười lớn và giơ một tay lên giữa chúng tôi, ngửa lòng bàn tay lên, và tôi không do dự bắt lấy nó, đan ngón tay chúng tôi lại với nhau. Tôi dựa vào anh ta, ngả đầu lên vai anh ta, và tìm được sự im lặng dễ chịu giữa chúng tôi. Anh ta nhắc tôi nhớ đến Topher một chút, nếu tình cảm có phức tạp hơn, và chỉ trong một thoáng, tôi muốn giả vờ rằng chàng trai này không phải con trai của cha anh ta, rằng anh ta là bạn tôi.
Tôi ngủ quên theo cách đó, và khi ánh sáng ban mai chiếu vào mắt tôi, tôi từ từ ngồi dậy và thấy chúng tôi đã cuộn tròn bên nhau trong đêm, tay anh đặt trên hông tôi còn cánh tay kia thì làm gối cho má tôi trên đá. Cô gái mới phải mấy tiếng nữa mới tỉnh, nhưng Desmond có lớp học và vào một lúc nào đó, anh ta sẽ thi đạt một cuộc kiểm tra trình độ vĩ cầm mà không cần cố gắng.
Tôi rụt rè vươn tay ra và vuốt một lọn tóc tối màu trên trán anh ta. Anh ngọ nguậy và vô thức quay theo cử chỉ ấy, tôi không thể không cười. “Dậy đi.”
“Không,” anh ta lẩm bẩm và tóm tay tôi để che mắt.
“Anh có lớp học.”
“Bỏ đi.”
“Anh có bài kiểm tra.”
“Tôi đạt rồi mà.”
“Tuần tới anh có kiểm tra cuối kì.”
Anh ta thở dài nhưng nó biến thành một cái ngáp sái quai hàm, và cau có ngồi dậy để dụi mắt cho tỉnh. “Cô hống hách thật đấy, nhưng thức dậy với cô thì thật vui.”
Tôi nhìn ra xa vì không chắc gương mặt mình để lộ biểu cảm gì. Những ngón tay anh ta, hơi chai vì phím đàn, chạm vào cằm tôi và mang mặt tôi quay lại với anh ta, thứ duy nhất trên đó là một nụ cười nhẹ.
Anh vươn tới trước rồi khựng lại và bắt đầu lùi. Tôi thu hẹp khoảng cách giữa chúng tôi, môi anh mềm mại trên môi tôi. Cái chạm nhẹ trên cằm tôi lùi xuống cho đến khi bàn tay anh có thể ôm lấy má tôi và anh đẩy mạnh nụ hôn đến mức đầu tôi quay cuồng. Bao lâu tôi rồi tôi mới thực sự hôn ai đó, thay vì chỉ để mặc họ ép một nụ hôn lên môi mình. Thợ Làm Vườn đã nghĩ rằng con trai hắn có thể yêu tôi, và tôi nghĩ có thể hắn đã đúng. Tôi cũng nghĩ tình yêu sẽ minh chứng đứa con trai có một động lực khác với người cha. Tôi hi vọng thế.
Khi Desmond rời ra, anh ấn một nụ hôn lên má tôi. “Anh tới gặp em sau giờ học được không?”
Tôi gật đầu kể cả khi âm thầm nhận ra cuộc đời mình chỉ vừa tiến lên một bước điên loạn hoàn toàn mới.
“Và Thợ Làm Vườn vui vẻ với chuyện đó?”
“Thực ra là có. Ý tôi là, tôi chắc chắn có một mức độ lợi ích cá nhân nhất định trong đó - rốt cuộc, nếu Desmond bị ràng buộc về mặt tình cảm với một hay nhiều người hơn trong số chúng tôi, khả năng anh ta mạo hiểm bất kì chuyện gì xảy ra với chúng tôi sẽ rất thấp. Đó chắc là một phần lí do, nhưng tôi nghĩ phần lớn là hắn thực lòng thích thú khi thấy con trai mình hạnh phúc.”
Victor thở dài. “Ngay khi tôi tưởng câu chuyện này không thể quái đản hơn nữa.”
“Nó luôn luôn trở nên quái đản hơn.” Cô gái cười trong lúc nói điều này, nhưng ông biết tốt hơn là không nên tin. Nó hoàn toàn không phải một nụ cười tử tế, không nên dễ dàng hiển hiện nơi một cô gái ở tuổi cô ta. “Cuộc sống mà, phải không?”
“Không,” Victor lặng lẽ nói. “Không phải. Hay ít nhất là không nên như thế.”
“Nhưng hai việc ấy không giống nhau. Phải và không nên là hai việc hoàn toàn khác nhau.”
Ông bắt đầu nghĩ có khi Eddison sẽ không quay lại.
Ông không thể đổ lỗi cho cậu ta.
Nếu đây là chuyện quái đản mà cô gái chịu thừa nhận thì những gì cô ấy che giấu còn tệ đến đâu nữa?
“Sự việc thay đổi ra sao sau kì thi của cậu ta?”
Anh ta lang thang quanh vườn nhiều hơn vào mùa hè, chỉ trừ khoảng một tiếng đồng hồ đầu giờ chiều để đi bộ cùng cha mẹ anh ta ở nhà kính ngoài. Nếu anh đến vào các buổi sáng, anh sẽ ở bên trên tảng đá hoặc trong thư viện, tôn trọng cuộc nói chuyện riêng tư của tôi với những cô gái khác trong hang. Danelle đã trở thành người thay thế Lyonette như một đối trọng của tôi trong những lần nói chuyện cần tinh tế hơn, y như cách cô ấy đã bắt đầu nhận ca trông đêm với các cô gái mới đến.
Ca đêm cũng không có gì nhiều lắm, xét đến chuyện họ đều bị đánh thuốc ngủ, nhưng vẫn là công việc. Tôi biết ơn vì mình có được chút không gian riêng.
Và bất chấp cặp cánh xòe rộng trên hai má và trán cô ấy, tôi có thể tin cậy Danelle như một lựa chọn hợp lý. Tôi đã quen với cặp cánh đúp của Tím Đốm đỏ trên mặt cô, với sự tương phản giữa màu sắc đậm, sặc sỡ và hoa văn gián đoạn tươi sáng của nó. Tôi sẽ không bảo nó hợp với cô ấy, chẳng khác nào nói cặp cánh trên lưng hợp với tôi, nhưng cô đã biến chúng thành một phần của mình và rút ra bài học từ kinh nghiệm ấy. Cô ấy và Marenka là những người cuối cùng nhận cánh bướm lên mặt; sau đó, họ đã cảnh báo mọi người khác đừng nịnh hót đến mức độ đó. Đã có mấy người suýt sa chân, nhưng họ còn chưa bước qua lằn ranh ấy.

Tôi thực hiện những cuộc trò chuyện sớm nhất và cô ấy đổi chỗ với tôi khi nào cô gái mới có dấu hiệu hồi tỉnh. Danelle hạn chế thực sự gặp các cô gái mới cho đến khi họ đã ổn định phần nào, y như những người mang cặp cánh bướm trên mặt khác vẫn làm.
Sau buổi xăm đầu tiên, tôi đã thực sự có mặt trong phòng bất kể khi nào Thợ Làm Vườn xử lý hình xăm của cô gái mới. Cô ta ghét kim xăm, nhưng nếu tôi đọc sách cho cô - và để cô bóp chặt cánh tay tôi đau muốn chết - cô sẽ nằm yên chịu trận. Vì lời yêu cầu của cô ta mà tôi có mặt ở đó, chứ không phải vì Thợ Làm Vườn, mặc dù tôi nghĩ hắn hài lòng với việc này. Trong lúc tôi đọc lớn cuốn Bá tước Monte Cristo và thắc mắc liệu như thế này có châm biếm lắm không, tôi theo dõi màu xanh băng tuyết rực sáng của một con Spring Azure xòe rộng trên làn da trắng như sứ của cô gái, tấm mạng xanh chỉ thỉnh thoảng bị phá vỡ bởi các đường gân và rãnh màu trắng bạc và một vệt xanh tím than hẹp trên hai chóp cánh trên.

Bliss mang tới một túi đá cùng các khay đồ ăn trưa để tôi đặt lên cánh tay giờ đã tím bầm của tôi.
Thợ Làm Vườn không chạm đến tôi nếu Desmond có mặt trong Vườn, nhưng mối quan tâm của con trai hắn cũng làm gợi lên sự háo hức tương tự trong hắn. Với riêng các cô gái, chuyện hắn thích tôi nhất không có gì bí mật - thành thực mà nói, tôi nghĩ họ còn thấy nhẹ nhõm - nhưng hắn đã chuyển từ chỗ tới gặp tôi hai hoặc ba lần mỗi tuần sang gần như mỗi ngày một cách chết tiệt.
Tất nhiên hắn vẫn tới tìm các cô gái khác, và khi hắn ở bên bất kì ai khác, hắn không quan tâm liệu con trai út của mình có ở trong Vườn hay chăng. Còn có Avery, nhưng nanh độc của gã gần như đã bị lột hết bằng việc phá hủy phòng vui chơi của hắn và niềm tự hào lồ lộ ông bố thể hiện ra với Desmond. Với tấm gương là em trai mình cho thấy cách cha gã muốn chúng tôi được đối xử như thế nào, rất khó để gã đầu hàng sở thích của mình.
Tôi bắt đầu ghét ăn trưa, bởi ngày nào cũng vậy, mỗi khi Desmond dành bữa trưa hay chiều với mẹ anh, là Thợ Làm Vườn lại tới tìm tôi với một khao khát khiến cho tay hắn phải run lên. Tôi bắt đầu ăn trưa trong phòng chỉ để không phải chịu đựng nỗi ô nhục khi hắn tới phòng ăn và gọi tên tôi trong các cuộc nói chuyện. Mặc dù hắn biết rõ Desmond chưa làm gì ngoài hôn tôi, chỉ ý nghĩ hắn có thể làm hơn thế cũng đủ để Thợ Làm Vườn suýt mất kiềm chế.
Và lạy Chúa tôi, cái khả năng có thể hắn đã lần mò cuộn băng an ninh, hi vọng bắt gặp con trai mình với tôi cũng đã đủ làm não tôi sập nguồn hoàn toàn.
Ít nhất những lần ghé thăm này cũng có một giới hạn thời gian cụ thể, bởi vì hắn phải có mặt ở nhà lúc hai giờ kém mười lăm để gặp vợ mình và đi dạo. Trong khi cả nhà họ rảo bước dọc quảng trường ở nhà kính ngoài, tôi trải qua thời gian đó với cô gái mà hắn đã ban cho cái tên Tereza. Cô bé chỉ vừa tròn mười bảy, con gái của hai luật sư, và gần như không bao giờ nói chuyện to hơn tiếng thì thầm. Khi em nói to thì đó là chuyện quan trọng, giống như lúc em nhờ tôi đọc sách cho em nghe khi Thợ Làm Vườn xăm cặp cánh cho em. Em cũng dễ bị dụ vào cuộc trò chuyện về âm nhạc. Em chơi dương cầm, chúng tôi đã tìm hiểu được, và muốn trở thành nghệ sĩ dương cầm chuyên nghiệp. Em và Ravenna có thể nói với nhau hàng giờ liền về các vở ba lê. Em để tâm đến những đợt sóng ngầm trong bất kì tình huống nào nên dường như em hiểu được sự tồn tại bấp bênh của chúng tôi trước cả khi tôi cho em thấy những bể kính trưng bày trong tuần đầu tiên ấy.
Vì lợi ích của em, để em có thể giữ tỉnh táo, tôi đã yêu cầu Thợ Làm Vườn cho em một cây đàn điện tử.
Hắn cho lắp hẳn chiếc dương cầm đứng ở một trong những phòng trống, thay thế chiếc giường bằng nhạc cụ xinh đẹp ấy và một dãy tủ dài bằng bức tường chứa đầy các bản nhạc. Trừ ăn, ngủ và chịu đựng những cuộc ghé thăm của Thợ Làm Vườn - vô số lần bởi vì em còn mới quá - em ở lại trong căn phòng ấy, chơi đàn đến khi các ngón tay bị chuột rút mới thôi.
Một chiều nọ, Desmond gặp tôi ở hành lang, dựa người vào bức tường bên cạnh Vườn. Đầu anh ta nghiêng sang một bên trong lúc lắng nghe. “Chuyện gì sẽ xảy ra nếu ai đó bị suy sụp?” Anh khẽ hỏi.
“Theo cách nào?”
Anh hất đầu về phía ngưỡng cửa. “Em có thể nghe thấy điều đó trong âm nhạc. Cô ấy đang tan vỡ. Cô ấy bị giật cục, thay đổi nhịp độ, chọc xuống phím đàn… có lẽ cô ấy không nói, nhưng điều đó không có nghĩa là cô ấy đang thích ứng.”
Ông không bao giờ thực sự quên được anh ta học chuyên ngành tâm lý.
“Cô ấy sẽ sụp đổ hoặc không. Có một giới hạn trong những việc tôi có thể làm để ngăn cản chuyện ấy.”
“Nhưng chuyện gì sẽ xảy ra nếu cô ấy suy sụp?”
“Anh biết mà. Anh chỉ không muốn thừa nhận.” Anh ta không bao giờ hỏi tại sao Simone không quay lại. Việc Tereza đến đây cũng được chào đón bằng sự sửng sốt, tiếp theo là một nỗ lực hiển nhiên đã được tính toán để không nghĩ về nó quá sâu.
Desmond tái mặt, nhưng cái gật đầu cho thấy anh ta đã hiểu. Rồi anh ta nhanh chóng chuyển sang đề tài khác. Nếu ông không nhìn vào cái xấu, cái xấu cũng không trông thấy ông, đúng chưa? “Bliss có dự án nào đó đang trải hết ra trên đá. Em ấy bảo rằng nếu anh ngồi vào thứ gì trong đó, em ấy sẽ thọc nó vào mũi anh.”
“Em ấy đang làm gì vậy?”
“Anh không biết; vẫn đang trong giai đoạn làm mềm đất nặn.”
Các buổi chiều mùa hè trong Vườn gần như ấm không chịu nổi, nhiệt lượng thẩm thấu qua lớp kính. Hầu hết các cô gái dành những buổi chiều trong hồ nước hoặc bóng râm để trốn tránh nó, hoặc chui trong phòng nơi họ có thể thực sự cảm nhận không khí mát mẻ qua các đường ống thông hơi. Tôi sẽ không làm phiền Bliss nếu em ấy đang nặn thứ gì đó, đặc biệt là nếu em lại làm ở cái nơi nóng nhất trong Vườn như thế, vì vậy tôi nắm tay Desmond và dẫn anh ta xuống hành lang. Ở góc sau vườn này không khí mát mẻ hơn, nơi gốc tảng đá dựng thẳng đứng áp vào bức tường kính của hành lang và chắn ánh mặt trời.
Tôi rẽ vào phòng mình và Desmond lập tức ngắm nghía cái giá trên đầu giường tôi. Anh ta gõ vào vòng quay ngựa gỗ để làm nó quay tròn. “Vì lí do gì đó anh không nghĩ em là kiểu người thích vòng quay,” anh ta bảo và quay sang nhìn tôi.
“Tôi không thích.”
“Vậy thì sao…”
“Người khác thích.”
Anh ta nhìn lại vòng quay và không nói gì. Anh ta không thể hỏi thêm mà không chọc trúng chỗ anh ta đã cố gắng không nghĩ đến biết bao.
“Những món quà ta trao đi cũng cho thấy nhiều điều về ta y như những món quà ta nhận và giữ lại,” cuối cùng anh ta lẩm bẩm. Anh ta chạm vào mũi chú rồng nhỏ buồn bã, lúc này đã có một con gấu Teddy mặc pyjama nhỏ xíu làm bạn. “Vật chất quan trọng, hay con người?”
“Tôi tưởng các lớp học nghỉ hè rồi.”
Anh ta cười ngượng nghịu. “Thói quen chăng?”
“Đúng vậy.”
Phòng tôi đã thay đổi một chút so với ngày đầu tiên ấy. Ga giường của tôi đã đổi sang màu hồng đậm, đệm dày, màu tím rực rỡ, với mấy chồng gối màu nâu vàng nhạt. Bồn cầu và vòi sen của tôi được che chắn bằng cả những tấm rèm màu nâu hợp tông lẫn những dải mành màu hoa hồng và tím được gắn lỏng lẻo trên tường phòng khi tôi muốn kẹp chúng lại vì bất kì lí do gì. Có hai giá sách ngắn đứng sát một bên tường với vô số cuốn sách mà Thợ Làm Vườn đã tặng riêng cho tôi, thay vì chỉ thêm chúng vào thư viện, cùng những vật trang trí bày đầy mấy cái giá này, thứ quan trọng nhất - hay mang tính cá nhân nhất - nằm trên giá ở đầu giường tôi.
Ngoài các đồ lặt vặt, rất khó để nói căn phòng này phản ánh điều gì về tôi, vì tôi đã không chọn bất cứ gì trong đó. Thậm chí cả những vật lưu niệm cũng khó xác định thực sự. Evita từng vẽ tặng tôi một bông cúc xinh đẹp trên đá, nhưng cái đó chỉ cho thấy tính cách rộng lượng của em, không phải của tôi. Việc tôi giữ lại nó chỉ có nghĩa là em ấy quan trọng với tôi.
Và rồi ở đây còn có một thứ khiến tôi luôn luôn ý thức được không gian này không phải của tôi đến thế nào: ngọn đèn đỏ chớp nháy của chiếc camera bên trên cửa.
Tôi ngồi trên giường, dựa lưng vào thành giường, và nhìn anh ta nghiêng người sang bên để đọc gáy các cuốn sách. “Bao nhiêu trong số này là lựa chọn của bố anh?”
“Có lẽ là một nửa.”
“Anh em nhà Karamazov ư?”
“Không, cái đó của tôi.”
“Thật sao?” Anh ta cười với tôi qua vai. “Nặng đô quá nhỉ?”
“Bề mặt thôi. Bàn về nó cũng vui.”
Tôi đã bàn luận về rất nhiều cuốn sách với Zara, nhưng không bao giờ là sách kinh điển cả. Đó là thứ mà Noémie và tôi đã làm, mổ xẻ chúng, lao vào những cuộc tranh luận nhiều ngày hay thậm chí nhiều tuần liền mà không bao giờ thực sự giải quyết được. Đọc lại Destoevsky khiến Noémie tươi mới trong tâm trí tôi theo một cách không đau đớn bằng trực tiếp nhớ nhung cô ấy và những người khác ở New York. Có một cuốn sách cho từng cô gái ở căn hộ. Việc ấy nhẹ nhàng hơn những bức tranh của Nazira hay hình nộm của Bliss, nhưng cũng cùng chung thôi thúc.
“Tại sao anh lại không ngạc nhiên khi em thích các cuốn sách đa nghĩa nhỉ?” Anh ta kết thúc việc xem xét của mình và đứng cạnh giường, hai tay xỏ túi quần.
“Anh có thể ngồi lên giường, anh biết đấy.”
“Anh, à… đây là không gian của riêng em,” anh ta lúng túng nói. “Anh không muốn mạo muội.”
“Anh có thể ngồi lên giường, anh biết đấy.”
Lần này anh ta cười và nhón chân khỏi giày, ngồi cạnh tôi trên cái chăn. Chúng tôi đã hôn nhau thêm vài lần nữa kể từ lần đầu tiên đó, mỗi lần lại dè dặt và chỉ vượt ngưỡng choáng ngợp một chút. Cha, và cả anh trai của anh ta ở một mức nhất định, đều lảng vảng giữa chúng tôi bất kể khi nào mọi thứ có vẻ sắp đi xa thêm chút nữa, và tôi không chắc mình cảm thấy thế nào về chuyện đó.
Thực ra tôi không chắc về bất kì điều gì khi chuyện có liên quan đến Desmond.
Chúng tôi nói chuyện một lát về bạn bè anh, về trường học, nhưng thậm chí việc đó đôi khi cũng khó khăn. Tôi đã ở trong Vườn đủ lâu để thế giới bên ngoài trở nên có phần phi thực, như một truyền thuyết nửa vời vậy. Dần dà, đã đến giờ ăn tối, thời gian anh ta phải trở lại nhà một lát để mẹ anh ta không thắc mắc anh ta đã ở đâu suốt chừng đó thời gian, và chúng tôi nắm tay nhau đi ra hành lang. Nếu tôi tiễn anh ta ra tận cổng, liệu anh ta có bảo tôi quay đi trước khi bấm mã số lên bảng điều khiển không? Tôi tự hỏi liệu cách phòng bị ấy có phải là một trong những điều mà cha anh ta đã nhồi sọ anh ta. Nếu tôi chạy qua ngưỡng cửa đó, liệu anh ta có thương hại mà cho tôi đi?
Liệu tôi có gọi được cảnh sát về đây cứu các cô gái khác trước khi họ có mệnh hệ gì?
Nếu tôi đã không mải miết nghĩ về vấn đề cửa ra, đáng lẽ tôi đã chú ý ngay, đã nhận ra ngay lập tức sự im lặng này lạ kì làm sao, nhưng tôi mất tới một phút mới nghĩ ra đáng lẽ chúng tôi vẫn nghe thấy tiếng đàn piano từ tận đầu này của hành lang. Tôi thả tay anh ta, không quan tâm anh ta có đi theo hay không và chạy tới phòng nhạc, sợ chết khiếp vì điều mình có thể tìm thấy.
Tereza vẫn còn sống và không bị thương.
Nhưng đã sụp đổ.
Em ngồi trên ghế chơi đàn, mọi thứ trong dáng vẻ của em đều đúng và chuẩn, hai bàn tay em thậm chí còn đặt trên phím, cong lên và giữ thế. Trông em như sắp sửa bùng nổ với âm nhạc vào bất kì lúc nào.
Chỉ có điều ông nhìn vào mặt em ấy, những giọt nước mắt đang lặng lẽ lăn dài trên má, cái nhìn trống rỗng tuyệt đối trong mắt em, và ông sẽ hiểu rằng bất kì điều gì từng tạo nên Tereza đã không còn ở đó. Đôi khi chuyện xảy ra chỉ trong chớp mắt, như một nhịp tim, như bất kì điều gì đáng lẽ bình thường bỗng trở thành bất thường.
Tôi ngồi dạng chân trên ghế cạnh em, một tay đặt lên lưng em. Vẫn nhìn thẳng vào thinh không, em rùng mình. “Nếu em có thể quay lại, xin em hãy cố,” tôi thì thầm. “Chị biết chuyện này rất tệ, nhưng sau đây sẽ không còn gì cả. Tệ hơn cả không gì cả.”
“Em có nghĩ chúng ta sẽ làm mọi chuyện tệ hơn bằng cách cố làm gì đấy không?” Desmond cẩn trọng hỏi.
“Cố gì cơ?”
“Đây, đứng dậy khỏi ghế và giữ em ấy ở sát mép ghế.” Anh ta ngồi ở đầu xa hơn và cẩn thận dịch lại gần cho đến khi anh ta có thể gõ hết các phím đàn. Tereza không chiến đấu hay vật lộn gì khi tôi nhấc hai bàn tay em ra khỏi đàn. Desmond hít một hơi thật sâu và bắt đầu chơi, bản nhạc nào đó êm ái và dịu dàng và chất chứa đau thương.
Hơi thở Tereza rít lên, dấu hiệu duy nhất cho thấy em ấy nghe được.
Tôi nhắm mắt khi bài nhạc tiếp tục, ngực thắt lại với những giọt nước mắt không biết làm sao nhỏ xuống. Anh không chỉ chơi nhạc mà là tuôn trào cảm xúc, và anh càng chơi, Tereza càng lắc lư trong vòng tay tôi, cho đến khi rốt cuộc em cũng bật khóc nức nở và vùi mặt vào ngực tôi. Desmond tiếp tục đàn, nhưng giờ bản nhạc đã chuyển sang thứ gì đó nhẹ nhàng và bay bổng hơn, không vui vẻ nhưng an ủi tâm hồn. Tereza khóc, nhưng em đã ở đó, vẫn còn suy sụp đôi chút, với vài mảnh ghép quan trọng đã mất, nhưng đã phản ứng. Tôi ôm em thật chặt và trong một giây đau đớn, tôi tự hỏi liệu để mặc em trong tình trạng đờ đẫn có tử tế hơn không. Cứ mặc em chết có tốt hơn không?
Khi chúng tôi không có mặt trong bữa tối hay nhờ người lấy khay đồ ăn, Lorraine đã kể với Thợ Làm Vườn. Chúng tôi vẫn còn trong phòng nhạc, dụ dỗ Tereza chơi một bài nào cho chúng tôi nghe, thì hắn xuất hiện ở ngưỡng cửa. Tôi để ý thấy hắn ở đó nhưng không mấy chú tâm, vì quá tập trung vào cô gái vẫn còn đang run rẩy như chiếc lá này. Desmond giữ giọng nói nhỏ nhẹ, không cử động bất chợt, và cuối cùng em cũng đặt hai bàn tay trở lại phím đàn, bấm một nốt đơn.
Desmond bấm một nốt thấp hơn.
Tereza chạm một phím khác, rồi anh lại trả lời. Dần dà nốt nhạc chuyển thành đoạn nhạc và bài nhạc, cho đến khi họ cùng chơi một bản song tấu mà tôi suýt nhận ra. Khi bản nhạc đã xong, em hít một hơi sâu, chậm rãi, thở ra, rồi lại hít một hơi khác.
“Chúng ta quen với nó,” em thì thầm gần như không thành lời.
Tôi rất cẩn trọng không nhìn ra cửa. “Ừ, rồi em sẽ quen.”
Em gật đầu, dùng vạt váy lau mặt và cổ, và bắt đầu một bản nhạc khác. “Cám ơn chị.”
Chúng tôi nghe em đàn thêm mấy bài, cho đến khi Thợ Làm Vườn bước vào phòng để làm tôi chú ý. Hắn cong ngón tay và tôi nén một tiếng thở dài, đứng dậy và ra ngoài hành lang cùng hắn. Desmond đi theo.
Desmond đã cứu cô gái, nhưng sẽ không thừa nhận với chính mình rằng anh đã cứu cô ấy khỏi cái gì.
“Lorraine bảo em bỏ bữa tối,” hắn nói nhanh.
“Tereza vừa có thời gian khó khăn,” tôi trả lời. “Em ấy quan trọng hơn bữa tối một chút.”
“Cô ấy sẽ ổn chứ?”
Con bé phải thế, nếu không sẽ vào bể kính. Tôi liếc sang Desmond, anh nắm tay tôi siết nhẹ. “Tôi không nghĩ đây sẽ là lần cuối cùng em ấy gặp tình trạng vật vã này, nhưng tôi nghĩ đây sẽ là lần tệ nhất. Bị sốc chậm, tôi đoán vậy. Mặc dù vậy Desmond đã làm em ấy chơi đàn lại nên đó là một dấu hiệu tốt.”
“Desmond à?” Thợ Làm Vườn mỉm cười, nỗi lo được thay thế bằng niềm tự hào, và hắn tóm vai cậu con trai. “Ta mừng khi nghe thấy thế. Ta có giúp gì được cô ấy không?” Tôi cắn môi và hắn đã thực sự trỏ ngón tay vào tôi. “Maya, giờ phải nói thật.”
“Tốt nhất ông đừng quan hệ với em ấy trong một thời gian ngắn,” tôi thở dài. “Dành thời gian với em ấy thì được, nhưng tôi nghĩ sex đòi hỏi ở em ấy nhiều hơn mức hiện nay em ấy có thể đáp ứng.”
Hắn chớp mắt với tôi, có phần ngỡ ngàng, nhưng Desmond gật đầu. “Và giữ Avery tránh xa cô ấy,” anh nói thêm. “Lúc nào anh ấy cũng thích đập vỡ các thứ.”
“Bao lâu?”
“Có lẽ là vài tuần? Chủ yếu chúng tôi cần để mắt đến em ấy, xem em ấy có sao không.”
Ý thức rõ rệt về con trai mình đến mức khó lòng đầu hàng thứ đã rừng rực trong mắt hắn, Thợ Làm Vườn đặt một nụ hôn lên trán tôi. “Em đã chăm sóc họ rất tốt, Maya. Cám ơn em.”
Tôi gật đầu vì dường như cách ấy an toàn hơn nói.
Hắn đi qua chúng tôi để vào phòng và bản nhạc của Tereza trật đi, nhưng em lấy lại sức mạnh khi tất cả những gì hắn làm chỉ là kéo một chiếc ghế từ trong góc phòng ra ngồi nghe em đàn.
Desmond và tôi đứng ở hành lang nghe thêm vài bản nữa, chờ xem liệu tiếng giật cục có quay trở lại, nhưng nghe như em đang chơi đàn trong một bản thu âm, tất cả đều trơn tru và đúng bài. Khi đã chắc không còn nguy cơ có thêm một đợt khủng hoảng bất chợt nào nữa, anh khẽ kéo tay tôi để dẫn tôi đi xuống. “Em có đói không?”
“Thực sự là không.”
Nếu là cha anh ta thì hắn sẽ bắt tôi phải ăn, vì bỏ bữa là không lành mạnh. Anh trai anh ta cũng sẽ bắt tôi ăn vì gã thấy vui khi theo dõi tôi tọng thức ăn vào họng bất chấp cơn buồn nôn. Nhưng Desmond chỉ nói đơn giản “Được rồi” và dẫn đường ra chỗ hang đá.
Bên trong không có ai, tất cả mọi người đều đang ở phòng ăn, và khi chúng tôi tới trung tâm căn phòng ẩm thấp, anh dừng lại, quay sang và vòng hai cánh tay ôm tôi thật chặt. “Bố đã nói đúng ở một điểm,” anh ta nói trên tóc tôi. “Em đã chăm sóc họ rất tốt.”
Lí do duy nhất tôi biết cách làm là ở căn hộ hồi xưa, chị Sophia đã làm mẹ của tất cả chúng tôi theo cái cách nhẹ nhàng quan tâm của chị. Và cả Lyonette. Sophia chăm sóc các cô gái của chị, nhưng Lyonette dạy tôi cách chăm sóc các cô Bướm.
“Chắc là rất khó để thích nghi với một nơi như thế này, nếu em từng lang thang trên phố,” anh ta bảo. “An toàn, nhưng không được phép rời đi.”
Chúng tôi không tới từ đường phố và chúng tôi không an toàn; tôi chỉ không biết làm sao để khiến anh ta hiểu điều đó, khi các cô gái trong bể kính đã bị giấu đi.
Dần dần chúng tôi đi đến nhà bếp, khi cơn sợ hãi cũng giảm đi phần nào đủ để cơn đói của tôi lên tiếng. Trong lúc chúng tôi ăn chuối và bánh Nilla Wafers, Adara ló đầu vào và hứa ở lại với Tereza ban đêm. Đợt trầm cảm của Adara cho cô ấy một góc nhìn khác so với những người còn lại, cô ấy đã từng phải cẩn thận gom góp lại từng chút một tâm tình của bản thân mấy lần trước đó.
Tôi hôn má cô vì không có lời nào để diễn tả lòng biết ơn cho đúng.
Danelle cũng tình nguyện hi sinh thời gian của mình vì nghĩa lớn, bằng cách mời Thợ Làm Vườn quay lại phòng cô như cách cô từng làm hồi còn van lơn cặp cánh trên mặt. Tôi không nghĩ hắn mù quáng trước những lí do đằng sau nó, nhưng tôi nghĩ hắn vẫn bị cảm động, vì dù điều đó không dành cho hắn, ít nhất cũng là cho Tereza. Làm điều tốt cho một cô Bướm khác cũng tương tự như làm điều đó cho hắn.
Desmond rót một cốc sữa và ngồi ghé lên mặt bếp cạnh chỗ tôi, chuyền tay cốc sữa giữa hai người. “Nếu anh sắp làm một việc thực sự thảm hại, em nghĩ em có thể giả vờ thích thú để chiều lòng anh không?”
Tôi nhìn anh ta cảnh giác. “Tôi rất thích tỏ ra cảm thông và nói có, nhưng tôi không thể hứa mà không biết nó là gì.”
Anh ta uống cạn nửa cốc trong một ngụm. “Đi nào. Anh sẽ chỉ cho em.”
“Nếu tôi nói mình sợ nhưng vẫn đi cùng anh thì có được tính là thông cảm không?”
“Cũng được.” Anh ta đỡ tôi đứng dậy khỏi bàn bếp và nắm tay tôi trong lúc chúng tôi ra khỏi bếp và bước vào Vườn. Trời vẫn còn chút ánh sáng, nắng chiều chạng vạng vắt ngang bầu trời, và tôi dõi theo sự thay đổi màu sắc ấy. Anh chúi đầu qua thác nước để vào hang rồi thả tay tôi ra. “Chờ ở đây nhé.”
Chưa đầy một phút sau, anh ta đã trở lại. “Nhắm mắt lại.”
Khi Desmond bảo tôi làm gì đó - nói đúng hơn là khi tôi thực sự làm việc đó - tôi không có cảm giác như mình chỉ đang tuân lệnh. Tôi tuân lệnh Thợ Làm Vườn, tôi tuân lệnh Avery.
Desmond thận trọng hơn với những gì anh ta bảo tôi làm.
Thác nước đã chặn bớt âm thanh phát ra từ cử động của anh, nhưng một lát sau tôi nghe được tiếng nhạc. Bản nhạc mà tôi thực sự nhận ra. Sway là bài hát yêu thích của chị Sophia, bản mà chị nhảy với hai cô con gái vào cuối mỗi buổi đến thăm, và chị không thể nghe đoạn cuối mà không khóc nấc lên. Desmond nắm tay tôi, đặt một bên lên hông anh và bước lại gần. “Mở mắt ra.”
Một chiếc iPod và một cái loa đang nằm trên phần sàn khô ráo an toàn gần lối ra sảnh. Anh ta cười với tôi, có chút lo lắng, và nhún một bên vai. “Nhảy với anh nhé?”
“Tôi chưa từng… tôi không…” Tôi hít một hơi thật sâu, và bằng cách nào đó, nụ cười ngại ngần của anh đã gắn lên môi tôi. “Tôi không biết nhảy.”
“Không sao cả. Anh cũng chỉ biết mỗi điệu waltz.”
“Anh nhảy waltz được á?”
“Các buổi từ thiện của mẹ.”
“À.” Anh kéo tôi lại gần hơn nữa, cho đến khi má tôi tựa lên vai anh, và anh đưa người chúng tôi lên trước, ra sau. Anh đặt hai bàn tay đang nắm chặt của chúng tôi lên ngực mình, bàn tay kia thì luồn ra hõm lưng tôi. Anh hát khe khẽ, lúc đầu gần như không thành lời. Tôi để anh dẫn bước, vùi mặt mình vào vai anh để che giấu bất kể điều gì đang hiện lên mặt tôi lúc đó.
Có một thời khắc cụ thể mà đột nhiên ông nhận ra rằng mọi thứ đã thay đổi. Hầu hết mọi người đều trải qua thời khắc ấy nhiều lần trong đời họ.
Tôi có cảm giác ấy khi lên ba, và tôi nhận ra cha tôi không giống những người còn lại trong gia đình ông.
Tôi có cảm giác ấy khi lên sáu, và tôi ngồi trên cái vòng quay ngựa gỗ khốn kiếp khi tất cả mọi người đều đã ra về.
Tôi có cảm giác ấy khi phải đón taxi về nhà bà, khi bà mất, khi Noémie rót cho tôi chén đầu tiên ở căn hộ.
Tôi có cảm giác ấy khi tỉnh dậy trong Vườn, khi tôi có một cái tên mới được đặt để tẩy xóa mọi thứ tôi từng có trước đó.
Và lúc này đây, trong vòng tay của chàng trai lạ lùng, không đáng tin này, tôi biết rằng dù không còn gì thay đổi thì mọi thứ đã khác rồi.
Có lẽ tôi có thể thay đổi anh ta. Thuyết phục, lừa gạt hay điều khiển anh ta xây đắp sự tự do mà tôi muốn đem lại cho tất cả chúng tôi - nhưng điều đó không phải là không có một cái giá.
“Des…”
Tôi có thể cảm nhận nụ cười của anh ta trên thái dương mình. “Sao?”
“Ngay lúc này tôi có thể ghét anh đôi chút.”
Anh ta không ngừng khiêu vũ, nhưng nụ cười nhạt đi. “Tại sao?”
“Bởi vì việc này cực kỳ điên rồ.” Tôi hít một hơi chậm rãi, thật sâu, nghĩ xem phải nói tiếp thế nào. “Và vì việc này sẽ làm trái tim tôi tan vỡ.”
“Như thế có nghĩa là em cũng yêu anh?”
“Mẹ tôi đã dạy tôi phải đảm bảo là người con trai luôn nói điều đó trước.”
Anh ta lùi lại một chút, chỉ vừa đủ để nhìn mặt tôi. “Bà ấy nói vậy thật á?”
“Thật.”
Tôi không nghĩ anh ta biết tôi đang nói thật hay đùa.
Bài hát kết thúc, chuyển sang một bản nhạc đáng lẽ tôi nên nhận ra, và anh ta chừa lại chút khoảng cách giữa chúng tôi. “Anh phải nói điều đó với ai đây? Bởi vì em có thể trả lời cái tên Maya, nhưng đó không phải em.”
Tôi lắc đầu. “Tôi không thể nghĩ như thế. Không thể khi mà tôi không còn bất kì cơ hội nào để trở lại làm con người đó nữa.”
Khuôn mặt anh ta ỉu xìu nhưng thật sự, anh ta trông đợi điều gì? Rồi anh ta quỳ một bên gối, nắm cả hai bàn tay tôi, và mỉm cười với tôi. “Anh yêu em, Maya, và anh thề, anh sẽ không bao giờ làm đau em.”
Tôi tin một phần của câu đó.
Tôi không muốn cảm thấy tội lỗi vì nó.
Nhưng tôi vẫn cảm thấy tội lỗi nên tôi ngồi ghé lên đùi anh ta và hôn anh ta. Anh ta mải hôn lại tôi đến nỗi bị mất thăng bằng và cả hai chúng tôi ngã ra nền đá ẩm. Anh ta vừa cười phá lên vừa hôn tôi và hôn tôi mãi, tôi biết tôi không bao giờ có thể tin phần còn lại. Desmond không tốt, dù anh ta có muốn làm người tốt đến đâu, và tốt hơn gia đình anh ta thôi thì chưa đủ. Mỗi ngày anh ta giam chúng tôi ở đây, anh ta đều tổn thương tôi.
“Lần đó tôi đã không nhẩm đọc Poe, trong trường hợp ông đang tự hỏi.”
“Không, lần đó thì tôi chắc chắn là cô đã chú tâm hoàn toàn,” Victor khô khan đồng tình. “Vậy, cô nói thật chứ?”
“Sao, tôi và Des ấy à?”
“À, đúng, nhưng cụ thể hơn cơ, điều cô nói về mẹ mình ấy.”
“Thực ra là thật đấy.”
Ông nghiền ngẫm điều đó một lát, cố lý giải nó. Nhưng không được.
“Vẫn còn muốn tìm ra tôi là ai và tôi từ đâu đến ư?’
“Phải.”
“Tại sao?”
Ông thở dài và lắc đầu. “Bởi vì tôi không thể đưa một người giả mạo lên bục nhân chứng.”
“Tôi không phải người giả mạo; tôi đã được tạo tác tỉ mỉ và thành thực nhất đấy.”
Đáng lẽ ông không nên cười. Ông thực sự không nên cười nhưng lại cười phá lên rồi không ngăn nổi mình nữa, ít nhất ông cũng dựa vào bàn và cố chặn âm thanh ấy. Khi cuối cùng cũng nhìn lên được, ông thấy cô đang cười với mình, lần này là một nụ cười thực sự, và ông cảm kích đáp lại.
“Đời thực chen vào, đúng không?” Cô gái khẽ hỏi và nụ cười của ông nhạt đi.
“Giữ cho tôi trung thực?”
“Ông đau lòng khi phải hỏi, đau lòng khi phải nghe, dù cho rất nhiều chuyện ông đã từng nghe trước đây. Tôi quý ông, Đặc vụ Victor Hanoverian. Các cô con gái rất may mới có được ông. Dù sao thì câu chuyện cũng sắp đến hồi kết. Sau đó, nó không thể làm ông đau lòng một thời gian nữa.”
Thời điểm cuối hè mang đến một sự chuyển biến trong Vườn. Desmond dành nhiều thời gian với chúng tôi đến mức đã thành một thứ cố định, và mặc dù tôi là người duy nhất anh chạm tới, tôi không phải là người duy nhất làm quen với anh. Tereza nói chuyện với anh nhiều hơn cả tôi, bởi vì âm nhạc vượt qua các ranh giới trong chiếc lồng của chúng tôi và làm em ấy quên đi, dù chỉ trong chốc lát. Ngay cả Bliss dường như cũng thích Desmond, dù tôi cũng không dám chắc bao nhiêu phần trong đó là vì lợi ích của tôi.
Dần dà, các cô gái đều cảm thấy thoải mái bên anh theo cách mà họ không bao giờ cảm nhận được bên cha và anh trai anh ta, bởi anh ta không bao giờ đòi hỏi bất kì điều gì nơi họ. Hầu hết đã từ bỏ ý niềm hi vọng được cứu thoát nên thậm chí họ còn không cay đắng là bao với câu hỏi tại sao anh ta vẫn không trình báo gì hết.
Còn Thợ Làm Vườn thì vui mừng khôn xiết.
Lần đầu tiên chúng tôi nói về Des, hắn đã bảo “Mẹ nó rất tự hào về nó”. Tôi đã tưởng như thế nghĩa là hắn thì không, nhưng giờ thì tôi hiểu hơn rồi. Lúc nào hắn cũng tự hào về Desmond, nhưng khi đối mặt với một cô gái chỉ biết Avery, hắn buộc phải thừa nhận thằng con trai công khai chia sẻ niềm vui giữ nguyên một dàn hậu cung bị bắt ép với hắn. Giờ đây khi Desmond đã trở thành một phần của Vườn, niềm hạnh phúc của cha anh ta đã trọn vẹn. Lần khủng hoảng của Tereza là lần duy nhất trong mùa hè đó. Không có thêm tai nạn nào, không có lễ sinh nhật hai mươi mốt tuổi nào, không có gì ép buộc chúng tôi nhớ rằng mình không thể có dù chỉ chút ít niềm vui.
Có lẽ chỉ trừ việc Thợ Làm Vườn và Avery vẫn còn cưỡng hiếp chúng tôi thỏa thích. Điều đó làm mọi việc u ám đi một chút.
Nhưng Thợ Làm Vườn đã thay đổi cách đối xử với tôi. Sau khi Desmond và tôi quan hệ với nhau, Thợ Làm Vườn không còn chạm vào tôi theo cách đó nữa. Hắn đối xử với tôi như kiểu… một cô trông trẻ, tôi đoán vậy. Hay một đứa con gái. Tôi không giống Lorraine, tôi không bị thất sủng, nhưng vì lí do nào đó hắn quyết định rằng giờ đây tôi đã thuộc về Desmond. Với Avery, hắn chia sẻ; với Desmond, hắn ban cho.
Điên loạn không?
Nhưng chỉ trong một thời gian, tôi sẵn sàng chấp nhận điều đó mà không thắc mắc gì. Nếu tôi muốn có một chút hi vọng lay chuyển Desmond, tôi không thể chỉ dựa vào sự si mê. Tôi cần anh ta thực sự yêu tôi, sẵn sàng chiến đấu vì tôi, và việc ấy sẽ không xảy ra nếu anh ta vẫn chia sẻ tôi với cả cha lẫn anh trai mình.
Thợ Làm Vườn thậm chí còn tắt camera trong phòng tôi vì Des yêu cầu hắn làm vậy, bảo rằng thứ đó làm anh chột dạ khi nghĩ cha mình đang xem mình quan hệ tình dục, và chẳng lẽ cha anh không thể tin rằng anh sẽ không làm hại tôi, khi anh yêu tôi tha thiết như thế?
Thôi được, tôi chắc cuộc nói chuyện của hai cha con sẽ duyên dáng và nam tính hơn thế, nhưng Bliss làm các cô gái tin sái cổ phiên bản của em ấy.
Dù vậy Desmond vẫn là con trai của cha anh ta. Bất kể khi nào tôi cố tiễn anh ta ra cửa, anh ta đều lịch sự nhưng kiên quyết đẩy tôi vào để tôi không thể trông thấy anh bấm mã số. “Việc ấy sẽ hủy hoại mẹ anh,” anh ta bảo khi rốt cuộc tôi cũng nhắc đến nó. Hành động trực tiếp chống lại ông bố sẽ rất phức tạp, tôi hiểu điều đó, nhưng tại sao không trao cho chúng tôi cơ hội tự cứu chính mình? “Tên tuổi gia đình anh, danh dự, công ty nhà anh… anh không thể là người hủy hoại chúng.”
Bởi một cái tên thì quan trọng hơn một cuộc đời. Hơn tất cả cuộc đời của chúng tôi.
Cuối tuần trước khi kì học mùa thu bắt đầu, chúng tôi có một buổi hòa nhạc trong Vườn. Desmond mang tới mấy cặp loa tốt hơn và đặt chúng trên bờ đá. Chỉ trong tối đó, Thợ Làm Vườn cho phép tất cả chúng tôi ăn mặc lòe loẹt và ăn đồ ăn vặt. Khốn kiếp thay, thảm hại thay vì chúng tôi đều hạnh phúc biết mấy trong đêm đó. Chúng tôi vẫn là những tù nhân, chúng tôi vẫn bị cái chết đè nặng trên hai vai và đếm ngược tới sinh nhật thứ hai mươi mốt của mình, nhưng đêm đó vẫn là một phép màu. Tất cả mọi người đều cười nói và nhảy nhót và ca hát, dù có dở tệ đến đâu. Thợ Làm Vườn và Desmond nhảy cùng chúng tôi.
Avery thì ngồi ngoài lề mà dằn dỗi, vì toàn bộ chuyện này là ý tưởng của Desmond.
Sau khi chúng tôi đã lau dọn tất cả và các cô gái chia nhau về phòng đi ngủ, Des mang chiếc loa nhỏ nhất tới phòng tôi và chúng tôi khiêu vũ, lắc lư tại chỗ trong lúc hôn nhau. Thân mật với Des không phải là cảm xúc thật, không thật hơn với cha anh ta là bao, nhưng anh ta không nhận ra điều đó. Tôi không bao giờ nói ra, nhưng anh ta tưởng tôi cũng yêu anh ta. Anh ta nghĩ đây chính là hạnh phúc, rằng điều này lành mạnh và ổn định bằng cách nào đó, một thứ cốt lõi mà người ta gây dựng cuộc đời mình quanh nó. Anh ta bỏ lỡ hoặc lấp liếm những lời nhắc nhở thường xuyên của tôi rằng kiếp cá chậu chim lồng thường không thọ.
Des tha thiết mong làm người tốt, làm việc tốt, nhưng tình cảnh của chúng tôi đã không thay đổi và không có vẻ gì sẽ thay đổi.
Khi cuối cùng chúng tôi cũng ngã ra giường, tôi gần như bị chóng mặt vì những nụ hôn của anh ta, còn anh ta thì không thể ngừng cười. Bàn tay anh ở khắp mọi nơi, tiếp bước chúng là đôi môi, tiếng cười của anh mơn trớn làn da tôi. Quan hệ với Des không phải là sự thân mật, nhưng rất vui. Anh ta khiến tôi phát điên vì trò đùa của mình, cho đến khi tôi phải lăn người cả hai và ấn người anh xuống, cắn môi trong lúc hạ mình xuống người anh. Anh rên rỉ và lắc hông, rồi cười khi một bài hát cực kì không thích hợp bắt đầu xướng lên. Khi tôi vỗ vào bụng anh, anh ngồi dậy và hôn tôi đến choáng váng lần nữa, rồi đẩy tôi nằm ngửa ra ở chân giường.
Ấy là khi tôi trông thấy Avery, đứng trên ngưỡng cửa, vừa lườm nguýt vừa tự sướng.
Tôi la lên - không tự hào gì - và Desmond ngẩng đầu để xem điều gì làm tôi thảng thốt. “Avery! Ra ngoài!”
“Tao cũng có quyền với nó y như mày,” Avery gầm lên.
“Ra. Ngoài!”
Một phần nhỏ trong tôi sắp cười đến chết. Rất may, phần đó đã bị đè nén gần hết trong cảm xúc giận dữ và xấu hổ nói chung. Tôi định với lấy cái chăn, nhưng Avery đã trông thấy tất cả của tôi từ trước rồi, còn Desmond… mấy thứ của anh ta còn chưa lộ lắm trong lúc đó. Tôi nhắm chặt mắt lại trong lúc họ tranh cãi trên đầu tôi bởi tôi không muốn biết liệu Avery có còn nắm của quý trong tay khi cãi nhau với em trai hay không.
Và vì tiếng cười có nguy cơ chiến thắng.
Thợ Làm Vườn lao vào. Vì tất nhiên là thế rồi. “Cái quái gì đang diễn ra ở đây vậy? Avery, bỏ cái thứ ấy ra.”
Tôi mở mắt và trông thấy Avery kéo khóa quần còn Thợ Làm Vườn thì đang cố cài nút áo. Ôi, trông mà xem, cả nhà họ đang ở đây, ngoại trừ Eleanor. Vừa lẩm bẩm chửi thề, Desmond vừa tách khỏi tôi và đưa cho tôi chiếc váy trước khi với lấy quần của anh ta.
Đôi khi chỉ là những chi tiết nhỏ như thế.
“Các cậu có định giải thích tại sao tiếng cãi cọ của các cậu vang khắp cả Vườn hay không?” Thợ Làm Vườn hỏi, giọng trầm và nguy hiểm.
Hai anh em bắt đầu tranh nhau nói nhưng cha họ cắt ngang bằng một cử chỉ gay gắt.
“Maya?”
“Des và tôi đang ngủ với nhau, và Avery quyết định tự mời mình vào dự tiệc. Anh ta đứng ở cửa tự xử.”
Sau một cái nhăn mặt vì sự thô lỗ của tôi, Thợ Làm Vườn nhìn chằm chằm đứa con cả, cơn giận từ từ dâng lên đi kèm nỗi kinh hoàng rõ rệt. “Mày nghĩ cái gì thế?”
“Tại sao nó lại được có con bé đó? Nó chưa bao giờ giúp bố mang ai về, chưa bao giờ cùng bố ra ngoài tìm chúng, nhưng bố lại đem con bé đó cho nó như một cô dâu chết tiệt và thậm chí tôi còn không được đụng vào cô ta?”
Mất một phút Thợ Làm Vườn mới tìm lại được giọng mình. “Maya, cô thứ lỗi cho chúng tôi nhé?”
“Tất nhiên rồi,” tôi lịch sự trả lời. Bởi vì Lịch duyệt cũng khốn nạn không kém gì Khinh bỉ. “Ông có muốn tôi ra ngoài không?”
“Không, đây là phòng cô. Desmond, đi cùng bố và anh con. Avery. Đi.”
Tôi nằm lại trên giường đến khi không thể nghe tiếng chân họ nữa, rồi mặc váy vào và chạy vội xuống phòng Bliss. Em đang ngồi trên sàn nhà với một chồng đất nặn bên cạnh và một thứ trông như cuộc thảm sát gấu Teddy trên các tờ giấy nướng trước mặt.
“Chuyện om sòm gì thế?”
Tôi nằm ườn ra giường em và kể chuyện, em ấy cười đến mức kích động.
“Chị nghĩ bao lâu nữa thì hắn sẽ cấm Avery hoàn toàn?”
“Chị không nghĩ hắn có làm thế hay không,” tôi nói một cách tiếc nuối. “Avery khi ở trong này đã khó kiểm soát lắm rồi; sẽ còn khó đến đâu ở bên ngoài?”
“Chúng ta sẽ không bao giờ biết.”
“Đúng.”
Em đưa cho tôi một quả bóng đất nặn để nhồi. “Em hỏi chị một câu riêng tư được không?”
“Riêng tư như thế nào?”
“Chị có yêu anh ta không?”
Tôi suýt thì hỏi anh nào - đặc biệt là vì chúng tôi chỉ vừa mới nói chuyện về Avery - nhưng tôi nhận ra ý em trong nửa giây trước khi tôi kịp làm mình trông như con ngốc. Tôi liếc nhìn ngọn đèn đỏ nhấp nháy của camera và chuồi xuống khỏi giường để chúng tôi ngồi tụm lại với nhau. “Không.”
“Vậy thì tại sao chị lại làm tất cả những việc này?”
“Em có tin vào chuyện một cô Bướm đã trốn thoát không?”
“Không. Có thể. Kiểu vậy? Chờ đã… khốn thật. Đột nhiên thế giới lại có nghĩa lý rồi. Chị nghĩ có hiệu quả không?”
“Chị không biết,” tôi thở dài, mân mê quả bóng đất nặn. “Anh ta sợ hãi vì là con trai của cha mình, nhưng anh ta cũng… rất tự hào? Lần đầu tiên trong đời, anh ta dễ dàng thấy rõ rằng cha mình tự hào về mình. Với anh ta, điều ấy vẫn còn có ý nghĩa to lớn hơn cả chị và anh ta quá sợ hãi, không dám nghĩ về đúng sai nữa.”
“Nếu chưa từng có Vườn, nếu chị đã gặp anh ta ở thư viện hay chỗ nào đó, liệu chị có yêu anh ta không?”
“Thành thực ư? Chị không nghĩ mình biết kiểu tình yêu đó. Chị từng thấy điều đó ở vài người khác, nhưng cho chính mình ư? Có lẽ chị chỉ không làm được.”
“Em không quyết định được thế là đáng buồn hay an toàn nữa.”
“Chị không thể nghĩ ra lí do gì để chối bỏ cả hai tính từ đó.”
Cặp vợ chồng bên kia đường yêu nhau gần như điên cuồng, và sự ra đời của đứa con bằng cách nào đó khiến họ gắn bó hơn nữa, thay vì lạnh nhạt với nhau. Rebekah, tổ trưởng tổ hầu bàn ở Sao Hôm yêu chồng mình sâu sắc - người này vô tình lại là cháu trai của Guilian - và đôi khi trông thấy họ bên nhau ngọt ngào như thế khiến tất cả chúng tôi đều tan chảy ít nhiều.
Dù chúng tôi chỉ trêu chọc họ, tất nhiên.
Taki và Karen có điều đó, con gái họ và vợ cô ấy cũng có.
Nhưng mỗi lần chứng kiến, tôi biết mình đang bắt gặp một thứ gì đó phi thường, một thứ mà không phải tất cả mọi người đều tìm được hay có khả năng nhận ra và gìn giữ.
Và tôi là người đầu tiên thừa nhận rằng mình là một kẻ điên rồ.
“Cũng phải. Và trung thực.” Em lấy lại đất nặn từ tay tôi và đưa cho tôi một quả bóng khác, cái này màu hồng tím làm các vệt màu dính lại khắp da tôi. “Bọn em chưa bao giờ thực sự cám ơn chị.”
“Gì cơ?”
“Chị chăm sóc bọn em,” em lặng lẽ nói, cặp mắt xanh sáng nhìn xoáy vào chú gấu Teddy trong tay em. “Không phải chị như mẹ bọn em hay gì, bởi vì thật sự thì, kệ mẹ chuyện đó, nhưng chị cho bọn em kiểu tình yêu cứng rắn, chị lắng nghe và lại còn can thiệp với Thợ Làm Vườn trong cái phòng riêng của hắn.”
“Đó không phải là việc chúng ta cần nói.”
“Được rồi. Đưa em cục đất nặn và đi rửa tay đi.”
Vừa buồn cười, tôi vừa làm theo lời em nói, cọ hết những vệt màu hồng tím trên da mình. Em đưa cho tôi một quả bóng đất màu xanh ngọc. Lần này khi ngồi xuống cạnh em, tôi thực sự trông thấy tất cả các mảnh ghép. Một nửa số bộ phận của gấu Teddy vương vãi - đầu, móng vuốt, đuôi - màu đen, còn nửa kia màu trắng. Vài con thực sự được lắp ráp với đồng phục, con nào màu đen thì mặc đồ đỏ còn con nào màu trắng thì mặc đồ xanh. Một nửa số gấu của mỗi màu hơi to hơn và đồng phục của chúng được trang trí nhiều hơn, một vài con còn có vẻ là một cặp. “Em đang làm cả bộ cờ đấy à?”
“Sinh nhật lần thứ hai mươi mốt của Nazira sẽ tới sau vài tuần nữa.”
Và sinh nhật lần thứ mười tám của tôi là sau đó vài tuần, nhưng nhìn chung các ngày sinh nhật không được chúc tụng trong Vườn này. Nó quá giống một lời chế nhạo, như là chúng tôi đang chúc mừng mình tiến gần đến cái chết hơn. Những người khác nhìn vào ngày sinh nhật và nói, “Chà! Già thêm một tuổi!” Chúng tôi đối mặt với những ngày sinh nhật của mình theo kiểu, “Chết tiệt. Bớt một năm.”
“Nó không phải là quà sinh nhật,” em chua chát nói. “Nó là món quà Em rất tiếc vì cuộc đời của chị thảm thương đến thế.”
“Quà hay đấy.”
“Và đúng lúc chết tiệt luôn,” em đồng tình. Em lăn một quả bóng bé xíu bằng đất nặn màu vàng thành sợi thừng, cắt nó làm đôi, bện lại với nhau, và vua đỏ đã có ngay sợi dây đeo vai trên bộ đồng phục của mình. “Và chị cũng ghét anh ta một chút chứ?”
“Nhiều hơn một chút.”
“Anh ta sẽ chống lại cả gia đình mình.”
“Trong khi bây giờ anh ta chỉ đang bất chấp luân thường đạo lý và cả luật pháp,” tôi thở dài. Tôi đưa ra một nhúm đất nặn đã mềm và em cho tôi quả bóng màu xanh hoàng gia. Tôi biết tốt hơn không nên đòi tự nặn một trong các chú gấu - tác phẩm đất nặn của tôi xấu tệ hại. “Bliss, chị đảm bảo với em chưa có mặt nào trong chuyện này mà chị chưa nghiền ngẫm. Nó đã không còn có lý lẽ gì nữa từ lâu rồi, nếu từng có bao giờ.”
“Vậy nên cứ xuôi theo chiều gió và xem chuyện gì xảy ra.”
“Gần như vậy.”
“Anh ta đang đến.”
Tiếng bước chân vang lên dưới hành lang, trở nên to hơn. Một lát sau Desmond bước vào và ngồi thụp xuống sàn cạnh tôi, đưa cho chúng tôi mỗi người một quả cam. “Đó có phải là bộ cờ vua không?”
Bliss đảo mắt và không trả lời nên trong khi em ấy làm các chú lính tốt Teddy, tôi nhồi đất nặn, Desmond nghịch iPod và chiếc loa du lịch của anh để tiếp tục buổi hòa nhạc.
Còn quả cam đó? Lần đầu tiên và duy nhất tôi từng bóc được vỏ thành một hình xoắn ốc hoàn hảo.
Cuối cùng Eddison cũng trở lại, hai tay cầm hai chiếc túi, một bên đựng mấy chai soda và nước, túi kia hóa ra đựng những chiếc bánh mỳ kẹp thịt băm viên. Khi đưa một chiếc cho cô gái, cậu ta đồng thời lôi một túi nhựa nhỏ từ trong túi quần mình ra và đặt nó trên bàn trước mặt cô.
Cô cầm túi lên rồi nhìn chằm chằm vào nội dung bên trong. “Chú rồng xanh nhỏ của tôi!”
“Tôi đã nói chuyện với các kĩ thuật viên hiện trường; họ nói phòng cô được tảng đá bảo vệ.” Cậu ta ngồi đối diện cô gái, bận bịu lột vỏ chiếc bánh mỳ của mình. Vì lịch sự, Victor giả vờ không trông thấy cặp má đỏ bừng của cậu ta. “Họ sẽ đóng hộp tất cả cho cô khi xong việc, nhưng họ đã làm trước và đưa tôi cái đó để chuyển cho cô.”
Cô gái mở túi ra và ôm ấp sinh vật nhỏ bé bằng đất nặn ấy trong hai tay, một ngón cái xoa khắp con gấu mặc pyjama nhỏ xíu bị nhét vào một cẳng tay của nó. “Cảm ơn anh,” cô thì thầm.
“Cô đã cởi mở hơn. Một chút.”
Cô gái cười.
“Vic, kĩ thuật viên hiện trường đang lục soát cả ngôi nhà. Họ sẽ cho chúng ta biết nếu tìm được các bức ảnh.”
Trong một khoảng thời gian, cuộc nói chuyện dừng lại khi họ ăn, mặc dù cô gái phải quấn hai bàn tay bị thương của mình trong khăn giấy để giữ chiếc bánh sandwich nóng. Khi bữa ăn đã xong và rác đã được ném đi, cô cầm chú rồng nhỏ buồn bã lên và vòng tay quanh nó.
Victor quyết định đã đến lượt mình bạo dạn. “Chuyện gì đã xảy ra với Avery?”
“Ý ông là gì?”
“Cha anh ta có trừng phạt anh ta không?”
“Không, bọn họ chỉ có một cuộc thảo luận rất lâu về chuyện tôn trọng riêng tư của nhau, rằng các cô Bướm không phải vật sở hữu để chuyền tay nhau mà là những cá nhân cần được trân quý. Theo lời Des kể thì còn có một lời cảnh báo nghiêm khắc là dù thế nào Avery không được phép chạm vào tôi, xét đến cái vụ đóng dấu kia. À, ‘xét đến sự việc lần trước’ và Des không bao giờ hỏi tôi về vết sẹo trên hông tôi. Nếu ông không hỏi, ông có thể vùi đầu mình trong cát.”
“Vậy là mọi chuyện lại trở về bình thường.”
“Cứ như từng bình thường vậy.”
“Nhưng thứ gì đó phải thay đổi chứ.”
“Có thứ đã thay đổi. Tên của nó là Keely.”
Hay nói đúng hơn, tên của nó là Avery và nạn nhân của nó là Keely.
Tôi gặp Desmond ít hơn nhiều kể từ khi học kì bắt đầu. Đó là năm cuối cùng của anh ta và anh ta phải gồng gánh cả một khóa đầy đủ, nhưng anh ta vào Vườn mỗi tối và mang theo cả sách vở để có thể học bài; cũng như tôi từng có lần giúp Whitney, Amber và Noémie hồi còn sống ở căn hộ, tôi giúp anh ta. Không kèm rượu. Bliss cũng giúp, bằng cách chế nhạo mỗi khi anh ta trả lời câu hỏi sai.
Hay chỉ là không trả lời đúng hoàn toàn.
Thực ra Bliss kiếm mọi cơ hội để cười nhạo anh ta.
Tâm trạng của Avery từ xấu đến tồi tệ khi hắn theo dõi em trai mình trở thành một phần của Vườn như thế. Như tôi đã nói, hầu hết các cô Bướm đều thích Desmond. Anh ta không đòi hỏi điều gì ở họ. Anh ta có hỏi họ vài câu, và để mặc họ thích trả lời hay không.
Đôi lần anh ta hỏi tên họ, nhưng bằng cách nào đó việc nói ra tên thật như lời tiễn biệt đã trở thành một truyền thống trong Vườn. Tuy nhiên, chúng tôi kể với anh Simone từng là Rachel Young và Lyonette từng là Cassidy Lawrence. Bất kì ai chúng tôi biết không thể bị tổn thương vì một lời nhắc nhở như thế nữa.
Desmond không phải một mối nguy hiểm đối với họ.
Mặt khác, Avery đã hành hạ Zara thậm tệ trong lúc quan hệ đến mức cha gã phải cấm tiệt gã một tháng và phải chuốc thuốc gã sau đó để tránh cơn tam bành. Sau đấy Zara gần như không đi nổi, và phần nào trên người cô ấy cũng bầm dập. Ai đó phải ở bên cô suốt chỉ để giúp cô các chức năng đơn giản như tắm rửa, đi vệ sinh hay ăn uống.
Lorraine là một y tá thành thạo - dù có thể không tâm huyết - nhưng mụ không phải là người tạo nên kì tích.
Hông Zara bị viêm nặng, phải đưa cô đến bệnh viện hoặc cho cô vào bể kính.
Tôi nghĩ ông có thể đoán được Thợ Làm Vườn đã chọn cách nào.
Lần đầu tiên, hắn báo cho chúng tôi biết sáng hôm đó, cho chúng tôi có trọn một ngày bên cô ấy để tạm biệt.
Tôi liếc xéo hắn khi hắn báo cho tôi biết chuyện đó và nhận lại một nụ cười nhếch mép cùng một nụ hôn lên thái dương. “Kể cả khi đó chỉ là một cái ôm vội hay lời thì thầm vụng trộm, các em chia sẻ mọi điều với nhau trong những giờ phút như vậy. Nếu tôi có thể cho Zara - và những người còn lại - chút an ủi nào, tôi mong được trông thấy các em có nó.”
Tôi nói cảm ơn chỉ vì dường như hắn trông đợi điều đó, nhưng một phần trong tôi tự hỏi liệu có tốt hơn nếu hắn cứ để mọi thứ xảy ra bất ngờ, thay vì kéo dài nó thêm cả một ngày.
Trước khi đi học, Desmond mang tới một chiếc xe cút kít để chúng tôi đẩy Zara quanh Vườn. Anh ta mỉm cười khi mang nó tới, cười khi hôn lên má tôi và ra về để đi học. Bliss chửi thề trơn tru đến mức Tereza phải đỏ cả mặt.
“Anh ta không biết đúng không?” Em thở hổn hển khi có thể nói lại một thứ ngôn ngữ ngoài chửi tục. “Anh ta thực sự không biết gì.”
“Anh ta biết Zara bị ốm; anh ta nghĩ mình đang làm điều tử tế.”
“Đó… việc đó…”
Có những câu không cần tới một phiên dịch viên.
Chiều hôm đó, trong khi Thợ Làm Vườn đi bộ cùng vợ mình ở nhà kính bên ngoài vốn gần với chúng tôi hơn cả tưởng tượng, Zara đẩy mình ngồi dậy trên giường cô, mồ hôi làm bết hết mái tóc màu cam rực rỡ. “Maya? Bliss? Hai cô đẩy tôi đi vòng quanh một lát được không?”
Chúng tôi gập một cái chăn vào lòng xe cút kít, xếp thêm vài chiếc gối bên dưới và xung quanh cô, cố định hông cô hết mức có thể. Nó không phải là chỗ xương duy nhất bị gãy, nhưng chắc chắn là chỗ đau đớn nhất. “Chỉ một vòng qua hành lang thôi,” cô chỉ dẫn.
“Tìm bất động sản hả?” Bliss hỏi và Zara gật đầu.
Đó là một điều ông không thể không tự hỏi. Khi ông chết đi, chiếc lồng nào sẽ chứa đựng ông? Tôi khá chắc tôi biết Thợ Làm Vườn đã chọn cái nào cho tôi; nó ở ngay bên cạnh Lyonette và được đặt sao cho ông có thể trông thấy nó từ trong hang. Bliss nghĩ em ấy sẽ nằm ở hộp bên kia của tôi, chỉ ba chúng tôi, mãi mãi đứng tụ lại đó trong bức tường khốn kiếp để các thế hệ Bướm tương lai chiêm nghiệm và sợ hãi.
Chúng tôi đi chậm rãi qua sảnh, tôi đẩy xe còn Bliss thì cố hết sức giữ thăng bằng ở đằng trước. Zara bảo chúng tôi dừng lại gần cửa trước, nơi hương hoa kim ngân lấp đầy không khí và trộn lẫn mùi hóa chất từ một trong các căn phòng chúng tôi chưa từng thấy mở cửa bao giờ. Giống như phòng xăm, phòng Lorraine và phòng chơi cũ của Avery, các bức tường mờ xỉn và chắc nịch, với một bàn phím số ở bên cạnh cánh cửa to tướng. Đáng lẽ chúng tôi không được ở đây.
Và tôi vẫn chưa từng trông thấy Des bấm mã mở cửa chính của mình.
“Các cô có nghĩ nếu tôi hỏi xin chỗ này, hắn sẽ cho tôi không?”
“Vì hoa kim ngân ấy à?”
“Không, vì tất cả chúng ta đều tránh đi về phía này. Nên tôi sẽ không bị trông thấy nhiều.”
“Cứ hỏi xem. Cùng lắm đến lúc đó hắn ta chỉ nói không thôi mà.”
“Nếu tôi bảo cô giết tôi ngay bây giờ, cô có làm không?”
Tôi quan sát chiếc bể kính rỗng vì không muốn nhìn xem cô ấy có nghiêm túc hay không. Zara có thể ác, chế nhạo những cô gái khác đến khi họ phải khóc, nhưng cô không hề có khiếu hài hước. “Tôi đoán mình không phải là một người bạn tốt đến thế,” cuối cùng tôi nói.
Bliss không nói gì.
“Cô nghĩ nó có đau không?”
“Hắn bảo là không đau.”
“Và cô tin hắn?”
“Không,” tôi thở dài, dựa người vào cánh cửa dẫn đến cuộc đời thực vật. “Tôi không nghĩ hắn biết thật đâu. Tôi nghĩ hắn chỉ muốn tin là không có đau đớn gì.”
“Cô nghĩ người ấy sẽ như thế nào?”
“Ai kia?”
“Cô Bướm tiếp theo ấy.” Cô ấy ngửa cổ ra sau để nhìn tôi chằm chằm, cặp mắt nâu sáng bừng. “Hắn đã không đi săn một thời gian dài rồi. Không thêm ai kể từ Tereza. Hắn hạnh phúc vì Desmond ở đây đến mức thậm chí không đi tìm thêm ai khác.”
“Hắn có thể không đi tìm.”
Cô ấy khịt mũi.
Mặc dù vậy, không phải lúc nào hắn cũng đi kiếm. Đôi khi một cô gái chết và hắn không đi săn. Không cho đến khi một người khác lại mất. Đôi khi hắn mang về một cô, thi thoảng là hai cô, mặc dù hắn đã không làm thế kể từ thời tôi ở đây. Cố hiểu tại sao người đàn ông đó làm bất kì điều gì theo cách của hắn là một nỗ lực vô ích.
Chúng tôi vẫn đứng ở đó khi Lorraine ra khỏi phòng mình để đi làm bữa tối. Đầu tiên mụ ta có vẻ giật mình, một tay vụt lên mái tóc hạt dẻ tối màu, phần nào đã nhạt đi và vương nhiều lọn bạc, mái tóc mụ vẫn còn để dài và vấn cao, như cách Thợ Làm Vườn yêu thích. Dù hắn không bao giờ nhìn đến mụ, không bao giờ bình luận về nó, mụ vẫn còn để tóc như thế. Mụ liếc Zara băng gạc đầy người, nước da tái nhợt của cô ấy trừ môi hai chấm đỏ trên má, rồi nhìn cái bể trống.
Mắt Zara nheo lại. “Ước gì mình ở trong đó hả, Lorraine?”
“Tao không phải chấp nhặt với mày,” mụ già đốp lại.
“Tôi biết cách bà có thể làm được đấy.”
Nỗi nghi ngờ đấu tranh với niềm hi vọng trong cặp mắt xanh mờ đục. “Mày biết à?”
“Ừ. Trẻ lại ba mươi tuổi một cách kì diệu. Tôi chắc chắn khi đó hắn sẽ thích thú được giết và trưng bày bà.”
Lorraine khịt mũi và bước qua chỗ chúng tôi, vỗ vào cổ chân Zara trong lúc đi. Cử động ấy làm giật chỗ hông đã bị gãy xương, viêm nhiễm và cô phải cắn môi ngăn tiếng thét.
Mắt Bliss dõi theo mụ đầu bếp - y tá. “Em sẽ bảo Danelle tới giúp chị quay về.”
“Sao, em đi đâu…” Tôi nhìn lại biểu cảm của em ấy. “Được rồi. Đừng bận tâm. Danelle.”
Cả Zara đang hổn hển thở và tôi cùng nhìn theo dáng Bliss chạy đi. “Cô cho là con bé định làm gì?” Cô ấy hỏi sau đó một phút.
“Tôi không hỏi và không muốn biết trước,” tôi nói tha thiết. “Tùy thuộc điều đó là gì, có khi tôi còn không muốn biết sau sự việc.”
Vài phút sau, không chỉ Danelle mà cả Marenka rất bối rối cũng bước xuống hành lang để gia nhập cùng chúng tôi. “Tôi có nên hỏi Bliss đang làm gì không?”
“Không,” chúng tôi đồng thanh trả lời.
“Vậy tôi không nên hỏi tại sao cô ấy lại mượn kéo của tôi à?” Marenka lẩm bẩm, một tay đưa lên cổ họng chỗ sợi ruy băng thường giữ chiếc kéo cắt chỉ thêu tí hon của cô ấy.
“Đúng vậy.”
Danelle ngẫm nghĩ về chuyện đó, chấp nhận và khẽ chạm vào gờ của chiếc xe cút kít. “Vào Vườn không? Hay quay lại phòng cô?”
“Phòng,” Zara rên rỉ. “Tôi nghĩ tôi sẽ uống thêm một viên thuốc giảm đau nữa.”
Nhờ sức ba người, Danelle, Marenka và tôi đưa được cô ấy trở lại giường mình với một cốc nước và một viên thuốc hạnh phúc. Rồi Bliss bước vào, hai tay giữ đằng sau lưng với một vẻ hài lòng to lớn trên mặt.
Ôi Chúa ơi, tôi không muốn biết.
“Em có quà cho chị đấy, Zara,” em vui vẻ tuyên bố.
“Đầu Avery trên một chiếc đĩa à?”
“Gần đúng.” Em ném một thứ gì đấy lên trên tấm chăn phủ.
Zara nhấc nó lên để nhìn, rồi phá ra cười. Nó lủng lẳng trên tay cô, chỗ đuôi tóc từ từ bị tung ra khỏi bím thắt. “Bím tóc của Lorraine?”
“Tận hưởng đi!”
“Em nghĩ chị mang theo nó có được không?”
Danelle xoa các ngọn tóc giữa hai ngón tay mình. “Chúng ta có thể bện lại một phần của nó thành nịt bít tất cho cô.”
“Hoặc tết thêm vào tóc cô như phần nối dài.”
“Một chiếc vương miện, chắc chắn rồi.”
Tất cả những người đến căn phòng trong buổi chiều và tối hôm ấy đều có một gợi ý khác nhau, và đó là một chỉ dấu cho thấy chúng tôi đồng lòng căm ghét Lorraine đến mức không ai thể hiện chút buồn phiền hay cảm thông nào cho mụ đầu bếp - y tá của chúng tôi. Khi đã đến giờ ăn tối, tất cả chúng tôi đều lấy khay thức ăn và len chặt phòng Zara, hơn hai chục con người, quỳ gối trên sàn nhà và thậm chí cả trong buồng tắm.
Adara giơ một cốc nước táo ép lên. “Vì Zara, người có thể nhổ hạt xa hơn bất kì ai.”
Chúng tôi đều cười, thậm chí cả Zara, cô ấy cũng giơ cốc nước của mình lên đáp lại lời chúc mừng.
Nazira đứng lên tiếp theo và tôi nghĩ tất cả chúng tôi đều khá e ngại người này; Nazira và Zara có mối quan hệ không khác nào Avery và Desmond. “Vì Zara, người có thể là một con khốn đích thực, nhưng là con khốn của chúng ta.”
Zara thổi cho cô ấy một nụ hôn.
Thật là bệnh. Tôi không nghĩ có người nào trong phòng nghi ngờ chuyện đó. Thật là bệnh và sai trái và méo mó vô cùng, ấy vậy mà vì lí do gì đó, nó lại khiến chúng tôi cảm thấy khá hơn rất nhiều. Từng người một, chúng tôi đều đứng dậy và nâng cốc vì Zara, vài người trêu chọc, vài người nghiêm túc và chắc chắn là đã có khá nhiều giọt nước mắt đổ xuống, kể cả khi chúng không phải là của tôi, nhưng có lẽ Thợ Làm Vườn đã nói đúng, có lẽ việc này giúp ích thật.
Đến lượt mình, tôi đứng dậy và nâng cốc nước lên. “Vì Zara, người bỏ chúng ta đi quá sớm, nhưng sẽ được nhớ đến theo một kiểu không có gì đáng sợ trong suốt phần đời còn lại của chúng ta.”
“Dù nó có ngắn ngủi đến đâu,” Bliss thêm vào.
Chúng tôi điên đến mức độ nào mà tất cả cùng phá lên cười?
Khi mọi người đều đã nói lượt của mình, Zara giơ cốc lên một lần nữa. “Vì Zara,” cô nói lặng lẽ, “vì khi cô ấy chết đi, Felicity Farrington cuối cùng cũng được an giấc vĩnh hằng.”
“Vì Zara,” tất cả chúng tôi lẩm bẩm cùng nhau, và uống cạn cốc của mình.
Khi Thợ Làm Vườn đến, hắn không mang theo chiếc váy nào mà đi cùng Desmond. Hắn mỉm cười khi thấy tất cả chúng tôi đang ở cùng nhau. “Đến giờ rồi, các cô gái.”
Từng người chậm rãi hôn Zara, thu dọn khay ăn của mình và ra khỏi phòng, Thợ Làm Vườn hôn lên má từng người và mỗi người. Tôi chờ cho đến cuối cùng, ngồi ghé lên một bên giường để có thể nắm bàn tay lạnh và ướt của cô ấy. Bím tóc lẫn sợi bạc của Lorraine đã được gắn quanh vòng tóc tết của cô như một chiếc vương miện nhỏ. “Tôi có thể làm được gì không?” Tôi thì thầm.
Cô ấy thò tay xuống dưới gối và đưa cho tôi một cuốn Giấc mộng đêm hè đã nhàu nhĩ, rách lởm chởm, được đánh dấu và ghi chép hết phân nửa chỗ trống. “Hồi đi học, tôi thực sự thích nhạc kịch,” cô ấy nói khẽ. “Lúc bị bắt cóc từ công viên, đáng lẽ tôi sẽ đến gặp các bạn mình để tổng duyệt. Tôi đã dành ba năm để viết các ghi chú cho một tác phẩm mình không bao giờ làm. Cô có nghĩ cô và Bliss có thể tổ chức một buổi đọc kịch bản cho mọi người được không? Chỉ để… có gì đó nhớ về tôi?”
Tôi cầm lấy cuốn sách và giữ nó sát ngực mình. “Tôi hứa.”
“Hãy chăm sóc cô gái tiếp theo nhé và cố đừng tới thăm tôi nhiều quá, được không?”
“Được.”
Cô kéo tôi vào vòng ôm thật chặt, các ngón tay cô bấm vào vai tôi. Bất chấp đã tỏ ra bình tĩnh thế nào, tôi có thể thấy cô ấy đang run. Tôi để cô ôm tôi bao lâu cô muốn và khi cuối cùng cô cũng hít một hơi sâu và thả ra, tôi hôn lên má cô. “Tôi chỉ mới gặp chị, Felicity Farrrington nhưng tôi yêu chị, và tôi sẽ nhớ đến chị.”
“Tôi đoán mình chỉ có thể yêu cầu đến chừng đó,” cô cười gượng. “Cảm ơn cô, thực sự cảm ơn cô, vì mọi chuyện. Cô đã làm cho mọi chuyện dễ dàng hơn, đáng lẽ đã không thể như thế.”
“Tôi ước gì mình có thể làm được nhiều hơn.”
“Cô làm việc mình phải làm. Phần còn lại phụ thuộc vào bọn chúng.” Cô hất đầu về phía hai người đàn ông trên ngưỡng cửa. “Tôi đoán cô sẽ gặp lại tôi trong vài ngày tới thôi.”
“Bên cạnh bụi kim ngân, để chúng tôi gần như không bao giờ trông thấy chị nữa,” tôi đồng tình, gần như không thốt ra tiếng. Tôi lại hôn cô và bước ra khỏi phòng, ôm chặt cuốn sách đến mức các khớp ngón tay tôi kêu răng rắc.
Thợ Làm Vườn liếc nhìn bím tóc rõ ràng không phải của Zara, rồi nhìn lại chỗ tôi. “Lorraine đang khóc,” hắn lẩm bẩm. “Cô ta bảo Bliss đã tấn công cô ta.”
“Chỉ là tóc thôi mà.” Tôi nhìn thẳng vào mắt hắn. “Mụ ta không phải là ông hay các con trai ông. Chúng tôi không phải chịu đựng chuyện mụ làm đau chúng tôi.”
“Tôi sẽ nói chuyện với cô ta.” Hắn hôn má tôi và đến bên Zara, nhưng Desmond chùn bước với cái cau mày khó hiểu, hơi lo ngại.
“Anh đã bỏ lỡ chuyện gì sao?” Anh ta khẽ hỏi tôi
“Quá nhiều.”
“Anh biết các em sẽ nhớ cô ấy, nhưng nhà anh sẽ nhờ người chăm sóc cô ấy. Cô ấy sẽ ổn mà.”
“Đừng.”
“Maya…”
“Không. Anh không biết. Đáng lẽ anh nên biết, anh đã chứng kiến đủ rồi… Tôi biết. Anh không cần phải bảo tôi là cô ấy sẽ ổn. Ngay lúc này anh không cần bảo tôi gì cả.”
Avery là con trai cả của Thợ Làm Vườn nhưng theo nhiều khía cạnh quan trọng, Desmond mới chính là người thừa kế của hắn.
Và chẳng bao lâu nữa, chúng tôi sẽ biết được anh ta giống cha mình đến mức độ nào.
Tôi nhìn lại Zara, nhưng Thợ Làm Vườn đã chắn lối. Phớt lờ cái nhìn tổn thương của Desmond, tôi bỏ đi.
Trả lại khay ăn của mình vào bếp - và tận hưởng niềm hân hoan độc địa trước những tiếng khụt khịt và mái tóc lởm chởm chỉ dài dăm ba phân của Lorraine - tôi từ chối lời đề nghị của vài cô gái mời tôi gia nhập cùng họ và quay lại phòng mình. Sau khoảng nửa giờ gì đó, các bức tường hạ xuống. Rốt cuộc Zara đã bị thương quá nặng để cho một cuộc hẹn cuối cùng, và Desmond lại đang ở đó cùng họ. Tôi cuộn tròn trên giường cùng vở kịch, đọc tất cả các ghi chú bên lề sách và đã hiểu thêm về Felicity Farrington hơn một chút.
Quãng ba giờ sáng, bức tường chắn giữa tôi và hành lang nhấc lên. Chỉ có bức tường đó - các bức tường ở hai bên trông ra những bể kính trưng bày và vào phòng Marenka và Isra, nếu ông nheo mắt nhìn, đều ở nguyên tại chỗ. Họ đã ở đó được mấy tuần, và đó là một kiểu đáng yêu kì lạ khi không phải trông thấy thi thể mỗi lần mở mắt ra. Tôi gập cuốn sách trên ngón tay mình, gồng mình chờ đợi sẽ trông thấy Thợ Làm Vườn ở ngưỡng cửa, một tay đặt trên thắt lưng còn cặp mắt thì hau háu.
Nhưng đó lại là Desmond, cặp mắt xanh nhạt đau khổ và tổn thương theo cách tôi đã không thấy trong nhiều tháng qua. Anh ta vịn vào tường kính để giữ mình đứng được, hai đầu gối run rẩy và đung đưa với mỗi nỗ lực nâng đỡ trọng lượng của anh.
Tôi gập hẳn sách lại, trượt nó lên giá và ngồi thẳng trên giường.
Anh ta bước lảo đảo vào phòng và ngã uỵch xuống hai đầu gối. Anh vùi mặt trong hai bàn tay rồi giật thót, nhìn chằm chằm vào tay mình như thể chúng vừa bị tách rời ra khỏi phần thân còn lại. Một mùi hóa chất chua lòm bệnh hoạn vẩn lên quanh anh ta, cùng thứ mùi tôi vẫn để ý thấy mỗi lần lại gần bụi kim ngân ở cửa trước. Toàn bộ cơ thể anh ta run lên khi gập người xuống, tựa trán trên sàn kim loại lạnh toát.
Gần mười phút trôi qua trước khi anh ta nói nên lời, nhưng kể cả khi ấy giọng anh ta vẫn khàn đặc và vụn vỡ. “Ông ấy đã hứa bọn anh sẽ chăm sóc cô ấy.”
“Phải.”
“Nhưng ông ấy… ông ấy…”
“Giải phóng cô ấy khỏi nỗi đau, và ngăn cô ấy khỏi bị phân hủy,” tôi nói đều đều.
“… hạ sát cô ấy.”
Vậy là không hoàn toàn là con trai của cha anh ta.
Tôi lột quần áo của mình và quỳ trước mặt anh ta, cởi nút khuy áo. Anh ta bắn cho tôi cái nhìn muốn bệnh và gạt tay tôi đi. “Tôi đang đưa anh đi tắm - anh bốc mùi.”
“Formaldehyde,” anh ta lẩm bẩm. Lần này anh ta để tôi cởi đồ, và loạng choạng theo sau tôi khi tôi kéo anh ta qua phòng để ngồi vào buồng tắm. Tôi xoay cổ tay để xả nước ấm xuống người anh ta.
Không có chút gì dục vọng trong diễn biến tiếp theo. Nó rất giống với việc tắm cho hai con gái của Sophia khi chúng đang ngái ngủ. Khi tôi bảo anh ta cúi người tới, nhấc cánh tay lên hay nhắm mắt lại, anh ta tuân lệnh nhưng đờ đẫn, như thể việc này không hoàn toàn có nghĩa lý gì. Dầu gội đầu và sữa tắm của tôi đều sặc mùi hoa quả nhưng tôi vẫn tắm gội cho anh ta từ đầu đến chân cho đến khi mùi hóa chất chỉ còn lưu lại trên quần áo.
Tôi quấn khăn tắm quanh người anh ta và dùng một chiếc giày đẩy bộ quần áo ra ngoài hành lang, rồi quay lại để lau khô cho cả hai chúng tôi. Tôi đã phải liên tục lau mặt cho anh ta - khi ở dưới vòi sen tôi không thấy, nhưng hai dòng nước mắt đang tuôn như mưa trên mặt anh.
“Ông ấy tiêm cái gì đó làm cô ấy ngủ,” anh ta thì thầm. “Anh tưởng bọn anh sẽ đưa cô ấy ra ngoài tới chỗ ô tô, nhưng ông ấy mở cửa một căn phòng anh chưa từng trông thấy.” Một cơn rùng mình lan khắp người anh. “Khi cô ấy đã ngủ say, ông ấy mặc cho cô bộ váy vàng và cam rồi đặt cô lên trên một cái bàn ướp xác, rồi ông ấy… ông ấy gắn…”
“Xin đừng kể với tôi,” tôi khẽ nói.
“Không, anh phải kể, bởi vì ông ấy sẽ làm việc đó với em một ngày nào đó, đúng không? Đó là cách ông ấy, ông ấy giữ các em, bằng cách ướp xác em trong lúc em còn đang sống.” Thêm một cái rùng mình nữa, một tiếng khóc làm vỡ giọng nói của anh ta, nhưng anh ta vẫn tiếp tục. “Ông ấy đứng đó để mà giải thích mọi bước làm cho anh. Để anh có thể tự làm vào một ngày nào đó, ông ấy nói. Tình yêu không chỉ là khoái lạc, ông ấy bảo; chúng ta phải sẵn sàng làm cả những việc khó khăn nữa, ông ấy nói. Ông ấy nói… ông ấy nói…”
“Thôi nào, anh vẫn còn run này.”
Anh ta để tôi dẫn lên giường và kéo chăn đắp cho. Tôi ngồi xuống cạnh anh ta, trên tấm chăn, hai tay đặt lên đùi. “Ông ấy bảo rằng nếu anh thật sự yêu em, anh sẽ không để bàn tay kẻ nào ngoài chính mình chăm sóc em.”
“Des…”
“Ông ấy đã cho anh xem vài người khác. Anh đã tưởng… anh tưởng ông ấy chỉ để họ trở lại đường phố! Anh đã không nhận ra…” Anh ta suy sụp hoàn toàn, khóc nấc lên đến mức gần như làm rung cả giường. Tôi xoa tay thành vòng tròn trên lưng anh ta trong lúc anh nức nở, không thể cho anh ta thêm chút an ủi nào khác bởi anh ta vẫn không biết toàn bộ sự thật. Zara bị viêm xương, và anh ta tưởng tất cả những người bị bệnh đều tự tử hoặc buông thả mình hoàn toàn đến chỗ chết. Anh ta không hề biết về dáng vẻ hay độ tuổi của họ.
Và vào giây phút ấy, khi anh ta đã quá gần đến mức hủy hoại bản thân, tôi không nỡ lòng nào nói cho anh ta. Tôi không thể lợi dụng một kẻ đã sụp đổ. Tôi cần anh ta cứng cáp lên.
Tôi không nghĩ có bao giờ anh ta trở nên như thế.
“Cô ấy đã tự chọn bể kính của mình,” vài phút sau anh ta đã nói lại được. “Ông ấy bảo tôi bế cô ấy tới đó, chỉ cho tôi cách sắp đặt cô ấy, phải đóng kín bể kính như thế nào để đổ chất dẻo vào trong. Trước khi đóng bể kính, ông ấy… ông ấy.
“Hôn tạm biệt?”
Anh ta gật đầu giật cục, nấc lên vì cơn nức nở. “Ông ấy bảo cô ấy rằng ông yêu cô!”
“Theo chỗ ông ta hiểu thì ông ta có yêu.”
“Làm sao em có thể ở gần anh được chứ?”
“Đôi khi tôi không thể,” tôi thừa nhận. “Tôi không ngừng tự nhủ rằng anh không biết toàn bộ câu chuyện, rằng anh còn quá ngây thơ với quá nhiều chuyện mà cha và anh trai anh đã làm, và có những lúc đó là cách duy nhất tôi có thể nhìn anh. Nhưng anh…”
“Xin em nói đi.”
“Nhưng anh là một thằng hèn,” tôi thở dài. “Anh biết việc giam cầm chúng tôi ở đây là sai trái. Anh biết việc ấy vi phạm pháp luật, anh biết ông ta cưỡng hiếp chúng tôi, và giờ anh biết ông ta giết chúng tôi. Vài cô gái ở đây thậm chí còn có gia đình, những người đang tìm kiếm họ. Anh biết thế là sai, nhưng anh không đi trình báo. Anh bảo anh sẽ học cách dũng cảm hơn vì tôi, nhưng anh đã không làm. Và thật lòng tôi không biết anh có thể làm được không.”
“Phát hiện ra chuyện này… để tất cả bung bét ra… việc ấy sẽ giết chết mẹ anh mất.”
Tôi nhún vai. “Chần chừ đủ lâu thì nó cũng giết cả tôi nữa. Có lẽ hèn nhát là trạng thái tự nhiên của chúng ta nhưng nó vẫn là một lựa chọn. Từng ngày anh biết về Vườn nhưng không gọi cảnh sát hay thả chúng tôi đi, anh đã chọn đi chọn lại cách đó. Chuyện là thế đấy, Desmond. Anh chỉ không thể giả vờ được nữa.”
Anh ta lại bắt đầu khóc hay có lẽ là vẫn còn khóc từ nãy đến giờ, toàn bộ cú sốc kinh hoàng không ngừng vùi dập khả năng chịu đựng của anh ta.
Anh ta dành phần còn lại của buổi sáng đen tối ấy nằm lì trên giường tôi. Khi ánh mặt trời vươn tới Vườn, anh ta thu thập chỗ quần áo bốc mùi formaldehyde của mình và bỏ đi.
Anh ta không nói chuyện với tôi hàng tuần trời và chỉ vào Vườn một lần duy nhất: để ngắm Zara sau khi lớp chất dẻo đã cứng lại và bức tường kéo lên trên bể kính của cô ấy. Khi đó tất cả các bức tường đều đã được kéo lên và hiện thực vốn bị phủ bóng suốt cả mùa hè bỗng ụp xuống với sức mạnh to lớn của nó. Chúng tôi là các cô Bướm và cuộc đời ngắn ngủi của chúng tôi sẽ kết thúc trong bể kính.
“Chờ đã, tôi tưởng cô bảo mọi chuyện thay đổi với Keely,” Eddison nói.
“Có, tôi đã nói vậy. Tôi đang kể đến đó.”
“Ồ.”
Cô xoay hai ngón cái trên cổ rồng màu xanh và hít một hơi dài. “Keely tới vào bốn ngày trước.”
Phải mất một thời gian để tôi giữ lới hứa với Zara. Thợ Làm Vườn dễ dàng đồng ý kiếm cho chúng tôi trọn bộ Giấc mộng đêm hè khi tôi kể với hắn nó dùng để làm gì, nhưng hắn muốn sự kiện phải được “làm đúng”. Hắn đặt hàng đủ loại phục trang và cho Bliss một hộp đất nặn nặng gần bằng em ấy để làm cho chúng tôi những cái vương miện hoa. Chúng tôi phân vai và hướng dẫn các cô gái tập thoại. Một vài người trong số họ đã đọc một hai vở kịch bằng tiếng Anh, nhưng hầu hết đều không có nhiều kinh nghiệm thực tiễn.
Tôi đã sống hai năm cùng Noémie, người đi loăng quăng khắp căn hộ trong chiếc quần lót và đọc lớn những bài tự sự trong lúc đánh răng.
Vâng, lúc đánh răng ấy, cũng vì lí do ấy mà việc đó mất thời gian vô tận.
Khi buổi tối đó đến, Thợ Làm Vườn sai Lorraine sắp đặt một bữa tiệc trong chính Vườn, trải cả hai bên của dòng suối nhỏ. Chúng tôi có mấy chiếc ghế kì lạ nằm đâu đó giữa ghế bành và ghế lưới, tất cả đều sặc sỡ, và mỗi người chúng tôi có một bộ váy lụa bán xuyên thấu nhiều màu xinh đẹp, chỉ lần này không liên quan gì đến cặp cánh xăm lên lưng chúng tôi. Tôi sẽ đọc vai Helena và Thợ Làm Vườn đã cho tôi một chiếc váy mang màu xanh của rừng cây và rêu phong, với một lớp vải màu hồng đậm. Đó là màu mà Bliss làm đồng bộ cho chiếc vương miện hoa hồng bằng đất nặn của tôi.
Hầu hết chúng tôi đều thả tóc xuống bên dưới mũ vương miện, đơn giản vì chỉ một đêm đó chúng tôi có thể.
Trong tiếng cười của chúng tôi có đôi phần sắc bén khi tất cả chúng tôi chuẩn bị. Chúng tôi đang làm việc này vì Zara, nhưng Thợ Làm Vườn đã biến nó thành một sự kiện xa hoa. Thậm chí cả khi đã biết lí do đằng sau nó, tôi chắc hắn vẫn tin rằng đây là một cách đong đếm chúng tôi đã hạnh phúc biết bao dưới bàn tay chăm nom của hắn, đến mức chúng tôi còn muốn tổ chức biểu diễn mua vui cho hắn. Người đàn ông này có một tài năng đáng kinh ngạc trong việc chỉ nhìn thấy những gì hắn muốn nhìn.
Hắn thậm chí còn không chú ý rằng Lorraine đã mua một bộ tóc giả để trông mụ như đang còn mái tóc dài được chăm nom cẩn thận và hắn vẫn muốn chơi đùa cùng mụ, đồ bệnh hoạn.
Và hắn đã thuyết phục được Desmond tham dự.
Tôi nghĩ hắn đã bị chưng hửng bởi phản ứng của con trai trước cái chết của Zara. Des là con trai của cha anh ta, nhưng anh ta không mang cùng một góc nhìn. Desmond không thể coi việc đó là gì khác ngoài giết người, nhưng nó vẫn không thôi thúc anh ta hành động.
Đến ngày cuối cùng của tuần đầu tiên cậu con trai câm lặng và vắng mặt, Thợ Làm Vườn đã đến phòng tôi trước bữa sáng. “Desmond có vẻ không ổn một chút nào,” hắn tuyên bố ngay khi tôi lờ mờ tỉnh táo. “Hai người cãi nhau à?”
Tôi ngáp. “Anh ta gặp khó khăn khi phải tiêu hóa chuyện đã xảy ra với Zara.”
“Nhưng Zara ổn rồi mà. Cô bé đã không còn đau đớn.” Hắn thực sự bối rối.
“Khi ông bảo ông sẽ chăm sóc cô ấy, anh ta đã nghĩ ông định đưa cô ấy đi viện.”
“Thế thì ngu ngốc quá; rồi người ta sẽ hỏi han chứ.”
“Tôi chỉ đang dịch lại thôi.”
“Phải, tất nhiên rồi. Cảm ơn em, Maya.”
Tôi chắc đã có cả tá cuộc trò chuyện cha-và-con-trai trong những tuần ấy mà tôi không hề can dự vào, nhưng Desmond xuất hiện trong buổi đọc thoại trông như chưa ngủ nhiều ngày trời. Chắc hẳn trong buổi học hôm đó, anh ta có bài thuyết trình, bởi vì anh ta đang mặc một chiếc sơ mi nghiêm chỉnh cùng cà vạt và quần kaki. Mặc dù sơ mi thì mở khuy cổ, cà vạt lỏng lẻo, hai ống tay áo đã xắn lên, nhưng trông nó vẫn trịnh trọng hơn ngày thường, và tôi có phần ghê tởm bản thân vì một ý nghĩ thoáng qua rằng chiếc sơ mi màu xanh bọt biển rất hợp với màu mắt anh ta.
Anh ta không dám nhìn thẳng vào mắt ai trong chúng tôi, đặc biệt là tôi. Tôi đã kể cho Bliss nghe phần chính trong cuộc thảo luận cuối cùng của chúng tôi trong cái đêm cả hai ngồi làm những chiếc bánh quy sôcôla chip để lừa Lorraine. Em nhún vai và bảo tôi tử tế hơn em nhiều.
Nghĩ đến chuyện mấy cái bánh đất nặn là ý tưởng của em ấy, tôi đã không tranh cãi.
Buổi đọc thoại diễn ra rất tốt đẹp. Cho đến khi đọc các dòng ghi chú của Zara, tôi chưa bao giờ chú ý nhiều tới lời thoại - một khi ông phải nghe “sống hay không sống” qua cái miệng đầy kem đánh răng, hơi khó để tập trung vào nó - nhưng đó là một vở kịch thực sự hài hước và chúng tôi còn cường điệu mỗi khi có thể. Bliss đóng vai Hermia và trong một phân cảnh hai đứa tôi cãi nhau, em đã thực sự vồ lấy tôi từ bên kia suối, khiến Thợ Làm Vườn giật mình cười ha hả.
Ngay lúc Marenka đang đọc thoại của Puck, cánh cửa trước mở toang cho thấy Avery, với cái bọc bé tí vắt trên một bên vai gã. Marenka ngừng ngay và nhìn sang tôi, cặp mắt cô ấy mở lớn bên trong chiếc mặt nạ Công trắng. Tôi đứng dậy và tới bên cô, nhìn Avery vào trong Vườn. Một lát sau, Thợ Làm Vườn và Desmond đã đứng bên cạnh chúng tôi.
“Tôi mang tới một người mới cho chúng ta!” Avery tuyên bố, khuôn mặt gã nhăn nhở một nụ cười. Hắn hất cái bọc xuống, để nó rơi trên cát. “Tôi đã tìm được nó, tôi bắt nó. Nhìn đi, bố! Xem tôi tìm được gì cho chúng ta này!”
Thợ Làm Vườn mải nhìn con trai mình nên tôi quỳ xuống và kéo tấm chăn đang quấn chặt sang một bên bằng hai bàn tay run rẩy. Vài cô gái hét lên. Ôi khốn nạn thật, khốn nạn thật.
Cô bé bên trong thậm chí còn chưa tới tuổi dậy thì. Máu đã đông lại ở một bên mặt em thành từng sọc chảy từ trên thái dương xuống, làn da trắng đã bắt đầu bầm tím và các vết bầm khác, vết cào, vết hằn có thể trông thấy được qua các lỗ rách trên quần áo em khi tôi kéo nốt phần còn lại của tấm chăn ra. Thêm nhiều máu đã chảy ướt sũng hai đùi em và lớp vải quanh đó. Khốn kiếp, quần lót của em có dòng chữ Saturdays uốn lượn màu hồng và tím, loại quần mà ông biết ngay là không sản xuất cho các cô gái lớn. Một bộ phận thực sự không thích đáng trong não tôi ghi nhận rằng hôm nay mới chỉ là thứ Năm.
Cô bé còn quá nhỏ, với tứ chi khẳng khiu và dấu vết đang lớn, giống như em đột nhiên cao lên vậy. Xinh đẹp theo kiểu một bé gái, với bím tóc đuôi ngựa xộc xệch trên mái đầu gần như màu đồng, nhưng em còn quá, quá nhỏ. Tôi quấn lại tấm chăn quanh em để che chỗ máu và bế em lại gần, không thốt nên lời.
“Avery,” Thợ Làm Vườn thì thào trong cơn kinh ngạc. “Mày đã làm cái quỷ gì thế?”
Tôi tuyệt đối không muốn tham dự vào cuộc nói chuyện đó. Danelle giúp tôi đứng dậy với cô bé trong tay, đỡ lấy đầu em. “Bliss, cái váy có lưng áo của em, chúng ta lấy nó được không?”
Em gật đầu và chạy vù về phòng.
Danelle và tôi đi vội tới phòng tôi, nơi chúng tôi lột quần áo cho em bé, ném bộ quần áo đã rách nát của em vào dù giặt và lau rửa cho em. Tôi đã phải lau chỗ máu trên đùi và nhẹ nhàng xịt thêm nước vào em để rửa trong các chất dịch và mẩu da rách; Danelle còn bận nôn ọe ở bồn cầu. Cô ấy trở lại, quệt một bàn tay run rẩy ngang miệng. “Thậm chí con bé còn chưa lớn,” cô thì thầm.
Không có cả lông dưới nách, không có ngực, không có hông, đây tuyệt đối chỉ là một em bé.
Danelle bế em lên để tôi có thể gội đầu cho em. Đến lúc đó Bliss đã tới cùng chiếc váy của em ấy - thứ duy nhất có thể vừa với cô bé và che chắn cho em hoàn toàn, thậm chí nếu nó có bị rộng đôi chút - nên chúng tôi lau khô người em, mặc váy và đưa em vào giường tôi nằm.
“Giờ con bé đã ở đây, chị có nghĩ…” Ngay cả Bliss cũng không dám kết thúc ý nghĩ ấy.
Tôi lắc đầu, ngắm nghía bàn tay có vài ngón đã gãy móng của cô bé. Chắc con bé đã chống cự. “Bọn chúng không được chạm vào cô bé.”
“Maya…”
“Bọn chúng không được chạm vào cô bé.”
Một tiếng gào đau đớn vang vọng trong Vườn và chúng tôi co rúm.
Nhưng nó không phải tiếng phụ nữ nên chúng tôi không nhúc nhích.
Các cô gái khác bỏ chạy khỏi tiếng động ấy, ùa hết vào phòng tôi, cho đến khi cuối cùng tôi phải bảo hầu hết bọn họ ra về. Chúng tôi không biết khi nào thì cô bé này sẽ tỉnh lại, và em sẽ sợ hãi cũng như đau đớn và không cần tới hơn hai mươi người nhìn chằm chằm vào mình. Chỉ có Danelle và Bliss ở lại, Danelle đứng đằng sau cô bé để mặt của cô ấy sẽ không bị nhìn thấy ngay lập tức.
Chỉ có điều cái giá sách cạnh bức tường bên phải tôi không che lấp được Lyonette hoàn toàn.
Bliss kéo tấm rèm che nhà vệ sinh của tôi hết mức có thể, nhấc phần vải bên dưới lên và nhét nó giữa vài cuốn sách để làm cái chặn. Nếu ông biết có gì đó ở đấy thì ông vẫn sẽ trông thấy tóc chị, đường cong ở sống lưng chị, nhưng nếu chỉ vô tình liếc qua thì không.
Và chúng tôi chờ đợi.
Bliss chạy ù đi để lấy vài chai nước, cũng như cướp mấy viên aspirin ở chỗ Lorraine. Aspirin không tốt về lâu về dài - để chống các cơn đau đầu do thuốc thì rất tốt, nhưng đó không phải thứ mà cô bé sẽ có - dù sao thì có còn hơn không.
Rồi Thợ Làm Vườn xuất hiện trên ngưỡng cửa phòng tôi. Hắn liếc sang bức tường và cách sắp đặt tấm rèm, rồi nhìn em bé trên giường, và gật đầu, thò tay vào túi. Hắn lôi ra một chiếc điều khiển nhỏ, và sau khoảng một hai phút chọc ngoáy nó, các bức tường ở cả hai bên hạ xuống, chỉ để lại cửa chính mở. “Cô bé thế nào rồi?”
“Bất tỉnh,” tôi nói ngắn gọn. “Con bé đã bị hiếp, nó bị đánh rất mạnh vào đầu, còn cả đống các vết thương khác nữa.”
“Có cái gì cho thấy tên cô bé? Hay cô bé từ đâu tới không?”
“Không.” Tôi đưa tay em cho Bliss để có thể băng qua phòng, đứng ngay bên cạnh gã đàn ông nhợt nhạt, đột nhiên có vẻ kiệt sức. “Không ai chạm vào con bé.”
“Maya…”
“Không, không ai chạm vào nó hết. Không cánh, không sex, không gì hết. Nó chỉ là một đứa bé.”
Trước sự kinh ngạc của tôi, hắn đã thực sự gật đầu. “Tôi để con bé cho em chăm sóc.”
Danelle hắng giọng. “Thưa ông? Con bé còn chưa thực sự tỉnh lại; chẳng lẽ không thể đưa nó đến đâu đó ư? Bỏ lại ở một bệnh viện hay gì đó? Nó sẽ không biết gì cả đâu.”
“Tôi không thể tin là nó chưa nhìn thấy Avery,” hắn nặng nề nói. “Cô bé phải ở lại thôi.”
Danelle cắn môi và nhìn đi nơi khác, hai bàn tay vuốt tóc cô bé.
“Tôi nghĩ tốt nhất ông nên đi,” tôi nói thẳng với hắn. “Chúng tôi không biết khi nào con bé sẽ tỉnh lại. Tốt nhất không nên có người đàn ông nào hiện diện.”
“Tất nhiên rồi, phải. Em sẽ nói cho tôi biết nếu… nếu cô bé cần gì chứ?”
“Nó cần mẹ và sự trinh trắng của nó,” Bliss quát lên. “Nó cần được an toàn ở nhà.”
“Bliss.”
Em khịt mũi, nhưng câm lặng trước giọng cảnh cáo của hắn.
“Báo tôi biết nhé,” hắn lại nói, và tôi gật đầu. Tôi không buồn nhìn hắn ra về.
Hắn đi chưa lâu thì Desmond đến, cái nhìn đau đớn trong mắt anh ta càng hiện rõ hơn. “Con bé sẽ ổn chứ?”
“Không,” tôi cứng nhắc nói. “Nhưng tôi nghĩ nó sẽ sống.”
“Tiếng hét kia? Bố đã đánh Avery à?”
“Phải, bởi vì việc ấy sẽ làm con bé cảm thấy khá hơn rất nhiều,” Bliss nhẹ giọng nói. “Đi chết đi.”
“Anh ta đã làm gì con bé?”
“Thế anh nghĩ hắn làm gì? Bắt tay nó chắc?”
“Desmond.” Tôi không nói tiếp cho đến khi anh ta phải nhìn sang mình, gặp ánh mắt mình. “Đây là bản chất của anh trai anh, nhưng nó là việc mà cả ba người nhà anh đã làm nên ngay lúc này anh cần phải biến khỏi đây. Tôi biết lúc này anh đang than thân trách phận và tự khinh bỉ, nhưng tôi sẽ không chấp nhận bất kì gã đàn ông nào lởn vởn quanh đứa bé này. Anh cần phải đi.”
“Tôi không phải người đã làm hại con bé!”
“Có, là anh đấy,” tôi quát. “Đáng lẽ anh đã có thể ngăn cản chuyện này! Nếu anh đến gặp cảnh sát ngay, hay để một trong số chúng tôi chạy để chúng tôi có thể tới gặp cảnh sát, Avery đã không thể tự do đi bắt cóc con bé, hãm hại nó, cưỡng hiếp nó, rồi mang nó về đây để chuyện ấy sẽ tiếp diễn với nó hết lần này đến lần khác cho đến khi cả nó cũng chết yểu. Anh đã để cho việc này xảy ra, Desmond, chủ động cho phép nó xảy ra, nên có đấy, anh cũng đã hãm hại con bé. Nếu anh không định làm bất kì điều gì để giúp nó thì anh cần tránh nó càng xa càng tốt.”
Anh ta nhìn chằm chằm vào tôi, khuôn mặt tái nhợt và kinh hoàng. Rồi anh ta quay người bỏ đi.
Làm sao một đứa trẻ lại không giá trị bằng một cái tên? Làm sao mạng sống của tất cả chúng tôi lại không bằng danh tiếng?
Bliss nhìn theo anh ta rồi vươn tay ra chạm vào tay tôi. “Chị nghĩ anh ta có quay lại không?”
Điều đó thậm chí gần với sự thật. Tôi đã mệt mỏi tới tận xương tủy. Tôi đơn giản là không còn chút năng lượng nào để nghĩ về sự vô dụng không ngừng của Desmond.
Cuối cùng cô bé cũng hồi tỉnh vào khoảng hai giờ sáng, rên rỉ khi em bắt đầu cảm nhận được vô số chỗ đau ê ẩm khắp người. Tôi ngồi lên giường và khẽ siết tay em. “Em cứ nhắm mắt lại nhé,” tôi nói khẽ, hạ giọng thật thấp và ra chiều an ủi như Lyonette đã dạy. Tôi gần như chưa từng làm việc này trước đây, nhưng em bé này cần tôi phải dịu dàng hơn, chiến đấu quyết liệt hơn cho em. Tôi nghĩ Sophia sẽ nhận ra bản năng ấy. “Chị sắp đắp một cái khăn ẩm lên mặt để giúp em bớt đau một chút.”
Danelle giũ tấm khăn và đưa nó cho tôi.
“Đau… sao?”
“Một lát nữa ta sẽ nói về chuyện đó, chị hứa. Em nuốt thuốc có được không?”
Cô bé bắt đầu khóc. “Xin đừng ép em uống thuốc! Em sẽ ngoan mà, em hứa, em sẽ không chống cự nữa!”
“Chỉ là aspirin thôi, không có gì đâu em. Chị hứa với em. Nó chỉ giúp em đỡ đau chút thôi.”
Cô bé để tôi vực em dậy đủ để đặt thuốc lên lưỡi em và uống chút nước. “Chị là ai?”
“Tên chị là Maya. Chị cũng bị bắt cóc, nhưng chị sẽ không để chúng làm đau em thêm nữa. Chúng sẽ không được chạm vào em.”
“Em muốn về nhà.”
“Chị biết,” tôi thì thầm, chỉnh lại chiếc khăn trên mắt em. “Chị biết là em muốn thế. Chị rất tiếc.”
“Em không muốn bị mù nữa, xin để em nhìn đi!”
Tôi che mắt em và lấy cái khăn ra, nhìn em chớp mắt ngăn nguồn sáng yếu ớt đến thế. Mắt em có hai màu khác nhau, một bên xanh và một bên xám, bên xanh có hai vệt màu trong đồng tử. Tôi chỉnh lại góc đặt bàn tay để em trông thấy mặt tôi mà không phải nhìn thẳng vào ngọn đèn trên đầu. “Khá hơn chưa?”
“Em đau,” cô bé khóc thút thít. Nước mắt lăn dài từ khóe mắt xuống tóc em.
“Chị biết, cưng à. Chị biết mà.”
Cô bé lăn người và úp mặt lên đùi tôi, hai cánh tay khẳng khiu vòng quanh hông tôi. “Em muốn gặp mẹ!”
“Chị biết, bé cưng.” Tôi gập người xuống với em, tóc tôi thả quanh em như một loại khiên và tôi ôm em chặt hết mức có thể mà không làm em đau. “Chị rất tiếc.” Năm nay Jillie của chị Sophia sẽ lên mười một; cô bé này có vẻ cũng tầm tuổi đó, hoặc nhỉnh hơn một năm. Nhưng nghĩ về Jillie như thế thật đau lòng. Cô bé này trông quá nhỏ và mong manh, quá khổ sở. Tôi không muốn nghĩ về Jillie bé nhỏ bạo dạn như thế.
Em khóc cho tới lúc ngủ lại và khi em tỉnh dậy lần nữa vài tiếng sau đó, Bliss mang cho chúng tôi toàn hoa quả. “Lorraine không làm bữa sáng,” em ấy thì thầm với tôi và Danelle. “Mụ ta đã ngồi trong bếp và nhìn chằm chằm vào tường suốt đêm, theo lời Zulema và Willa.”
Tôi gật đầu và lấy một quả chuối, trở về chỗ ngồi của mình cạnh đứa trẻ. “Đây, chắc em đói lắm.”
“Không hẳn,” con bé đau đớn nói.
“Một phần là do bị sốc, nhưng em cứ cố ăn đi. Kali sẽ giúp ích cho cơ bắp của em, giúp chúng không bị căng và đau nữa.”
Cô bé thở dài run rẩy nhưng vẫn cầm quả chuối và cắn một miếng.
“Đây là chị Bliss,” tôi nói, chỉ vào người bạn bé tí của mình. “Đây là chị Danelle. Em nói cho bọn chị biết tên em được không?”
“Keely Rudolph,” cô bé trả lời. “Em sống ở Sharpsburg, Maryland.”
Biết bao nhiêu năm về trước, Guilian từng nói gì đó về Maryland.
“Keely, em nghĩ em có thể dũng cảm lên vì chị được không?”
Lệ lại dâng đầy mắt em, nhưng Chúa phù hộ cô bé, em gật đầu.
“Keely, nơi này được gọi là Vườn. Có một người đàn ông và hai con trai của hắn, những kẻ đã bắt cóc và giam chúng ta ở đây. Bọn họ đảm bảo chúng ta có thức ăn và áo mặc, có những thứ chúng ta cần, nhưng không để chúng ta đi. Chị rất tiếc vì em đã bị bắt cóc đến đây, nhưng chị không thể thay đổi điều đó. Chị không thể hứa có bao giờ em được về nhà hay gặp lại gia đình em nữa không.”
Em sụt sịt và tôi vòng một cánh tay lên vai, ôm em vào bên người mình.
“Chị biết là rất khó khăn. Chị không chỉ nói thôi đâu, chị thực sự hiểu. Nhưng chị hứa với em là chị sẽ chăm sóc em. Chị sẽ không để bọn chúng làm đau em. Những người bị giam ở đây đã tạo thành một kiểu gia đình. Đôi khi bọn chị cãi nhau, và không phải lúc nào cũng thích nhau cho lắm, nhưng bọn chị là một gia đình, và gia đình thì trông chừng cho nhau.”
Bliss dành cho tôi một nụ cười nhếch mép; dù em ấy không biết nhiều lắm, nhưng em biết đó không phải cách tôi đã được nuôi dạy.
Nhưng tôi đã được nếm thử điều đó trong căn hộ và tôi học phần còn lại ở đây. Chúng tôi là một gia đình, dù điên rồ đến đâu đi nữa thì vẫn là gia đình.
Keely ngước nhìn Danelle và rúm người vào tôi. “Tại sao chị ấy lại có hình xăm trên mặt?” Cô bé thì thào.
Danelle quỳ xuống trước giường, nắm lấy cả hai tay Keely. “Đây lại là một việc nữa mà em phải cứng rắn đối mặt,” cô ấy khẽ nói. “Em có muốn nghe ngay bây giờ không, hay muốn chờ một thời gian nữa?”
Cô bé cắn môi, nhìn sang tôi bất an.
“Là lựa chọn của em,” tôi bảo em. “Bây giờ hoặc sau này, em có thể chọn. Nếu nói điều này làm em dễ thở hơn, chị hứa với em là nó sẽ không xảy ra với em đâu.”
Với một hơi thở sâu, run rẩy, cô bé gật đầu. “Vậy thì nói luôn đi ạ.”
“Kẻ giam giữ chúng ta ấy? Bọn chị gọi hắn là Thợ Làm Vườn,” Danelle nói đơn giản. “Hắn thích nghĩ về bọn chị như những cô Bướm trong Vườn của hắn, hắn xăm cánh lên lưng bọn chị bởi việc ấy giúp hắn giả vờ. Khi mới bị bắt tới đây, chị đã nghĩ nếu chị làm cho hắn thích chị hơn bất kì ai khác, hắn sẽ để chị đi và chị có thể quay về nhà. Chị đã sai, nhưng chị không biết điều đó sớm hơn, và hắn đã xăm cặp cánh lên mặt chị để những người khác thấy hắn tưởng rằng chị hạnh phúc với những gì hắn đã làm.”
Keely lại nhìn lên tôi. “Chị cũng có cánh ạ?”
“Trên lưng, có.”
Mắt cô bé lại đảo sang Bliss, em ấy gật đầu. “Nhưng chị sẽ không để ông ta làm điều đó với em?”
“Chị sẽ không cho phép hắn chạm vào em.”
Chúng tôi đưa cô bé vào Vườn đầu giờ chiều hôm đó, Bliss đã đi trước để cảnh báo các cô gái khác. Bình thường hầu hết mọi người đều tránh xa một cô gái mới cho đến khi cô ta đã hòa nhập. Keely thì khác. Dù đi một mình hay thành đôi, tỏ ra nhũn nhặn hết sức có thể, mọi cô gái trừ Sirvat đều tới chào, tự giới thiệu và có lẽ quan trọng nhất là đến để hứa rằng họ cũng sẽ giúp bảo vệ em. Tôi không có vấn đề gì với việc Sirvat tách mình ra khỏi việc đó.
Marenka quỳ xuống và để Keely lần tay theo vạch màu trắng, nâu và đen của cặp cánh trên mặt cô ấy để cô bé không còn sợ nữa. “Chị sẽ chuyển đồ đi để em ở ngay bên cạnh Maya,” cô ấy nói với Keely. “Như thế nếu em sợ hoặc không muốn ở một mình, em sẽ không cần lo bị đi lạc. Em ở ngay kế bên cô ấy thôi.”
“Cảm… cảm ơn chị.” Cô bé gắng nói.
Lorraine đã phấn chấn đủ để sắp một bữa trưa nguội lạnh cho chúng tôi, mặc dù suốt cả lúc ấy mụ cứ khóc mãi. Tôi muốn tin rằng có lẽ cuối cùng mụ đã nhận ra Thợ Làm Vườn là kẻ thế nào, rằng mụ sợ chết khiếp khi một đứa trẻ nhỏ như thế lại bị bắt, mụ hổ thẹn vì đã thèm khát và ghen tị với những cô gái đã chết như thế nào. Tôi thực sự muốn tin vào mẩu tốt lành nhỏ bé đó trong mụ. Mặc dù vậy tôi không tin. Tôi không biết tại sao mụ lại bị sốc và buồn bã đến thế, nhưng tôi không nghĩ đó là vì tình cảnh của bất kì ai ngoài mụ. Có lẽ việc mua tóc giả - hay đúng hơn, việc Bliss không hề bị trừng phạt vì cuộc tấn công - rốt cuộc đã khiến mụ hiểu rằng Thợ Làm Vườn sẽ không bao giờ yêu mụ lần nữa.
Chúng tôi mang bữa trưa lên tảng đá, nơi mặt trời còn ấm và không gian xung quanh chúng tôi mở ra. Keely vẫn chưa muốn ăn gì, nhưng cô bé ăn để làm vừa lòng chúng tôi. Rồi em trông thấy Desmond đi dạo trên lối lên và vùi mặt vào tôi. Bliss và Danelle cũng xích lại gần, bảo vệ em từ mọi phía.
Desmond không phải là mối đe dọa, nhưng anh ta vẫn là đàn ông. Tôi hiểu được thôi thúc ấy.
Anh ta dừng ở một khoảng cách an toàn, quỳ xuống trên đá và xòe rộng hai cánh tay. “Anh sẽ không làm đau em,” anh ta nói khẽ. “Anh sẽ không chạm vào em, hay thậm chí là đến gần hơn thế này.”
Tôi lắc đầu. “Tại sao anh lại ở đây?”
“Để hỏi cô bé tên em ấy là gì và em ấy từ đâu đến, để anh có thể làm việc đúng đắn.”
Tôi định trèo xuống tảng đá, nhưng hai tay Keely siết chặt quanh eo tôi. “Không sao đâu,” tôi thì thầm và ôm lại em. “Chị chỉ đi nói chuyện với anh ta thôi. Em có thể ở đây cùng Bliss và Danelle.”
“Lỡ anh ta làm đau chị thì sao?” Con bé mấp máy nói.
“Không đâu. Người này thì không. Chị sẽ quay lại ngay. Em sẽ trông thấy chị suốt lúc đó.”
Cô bé từ từ thả tôi ra và chuyển sang ôm Danelle. Bliss mềm mại và nữ tính, nhưng em ấy không thích ôm ấp.
Tôi đi qua chỗ Desmond ra tới mép ngoài cùng của tảng đá, một lát sau, anh ta đi theo tôi. Anh ta đứng cách tôi khoảng ba mươi phân gì đó, hai tay thọc sâu trong túi quần. “Anh đang làm gì vậy?”
“Làm điều đúng đắn,” anh ta trả lời. “Anh sẽ gọi cảnh sát, nhưng anh cần biết tên cô bé. Chắc hẳn người ta đã phát bản Thông báo AMBER cho cô bé rồi.”
“Tại sao lại là bây giờ? Anh đã biết về Vườn được sáu tháng rồi.”
“Cô bé bao nhiêu tuổi?”
Tôi liếc qua vai nhìn em. “Em ấy và các bạn đang chơi ở trung tâm thương mại để kỉ niệm sinh nhật lần thứ mười hai của em.”
Anh ta chửi thề và nhìn chằm chằm xuống chân, mũi giày của anh ta đang chìa ra ngoài gờ đá một chút. “Anh đã gắng hết sức tự thuyết phục mình rằng những gì bố anh kể là đúng, rằng thậm chí nếu các em không tự nguyện ở đây thì ít nhất cũng đến từ một nơi mà ông ấy phải giải cứu các em.”
Ấy vậy mà trước mặt đứa bé mười hai tuổi này, anh ta vẫn đang tự lừa dối mình.
“Có thể là từ đường phố hay các gia đình xấu xa,” anh ta nói tiếp. “Một thứ gì đó khiến nơi này trở nên tốt đẹp hơn đôi chút, nhưng anh không thể… anh biết Avery mới là người bắt cóc cô bé, không phải bố, nhưng việc này phải dừng lại. Em nói đúng: Anh là một thằng hèn. Và anh ích kỷ, vì anh không muốn tổn thương gia đình mình, và anh không muốn đi tù, nhưng cô bé ấy…” Anh ta ngừng lời, hổn hển vì sức nặng từ những lời nói của mình và cảm xúc hỗn độn đằng sau chúng. “Anh cứ tự nhủ mãi rằng anh cần phải học cách dũng cảm hơn, và Chúa ơi, một việc mới ngu ngốc làm sao. Em không cần học cách dũng cảm. Em chỉ cần làm điều gì đúng, kể cả khi nó làm em sợ. Vì thế anh sẽ gọi cảnh sát và báo hết những cái tên anh biết và kể với họ về Vườn.”
“Anh thực sự sẽ gọi ư?” Tôi hỏi.
Anh ta lườm tôi giận dữ.
“Phải, tôi đang hỏi, bởi vì tôi không thể bảo với em ấy rằng người trợ giúp đang đến nếu anh lại lùi bước hoặc vùi đầu trong cát. Anh có làm việc này thật không?”
Anh ta hít một hơi dài. “Có, anh sẽ làm thật.”
Tôi đưa tay ra và khẽ chạm vào má anh ta để đưa mắt anh tới gặp mắt tôi. “Tên cô bé là Keely Rudolph và em ấy sống ở Sharpsburg.”
“Cảm ơn em.” Anh ta quay người định bỏ đi, rồi dừng bước, quay lại và kéo tôi vào một nụ hôn nồng cháy.
Rồi bỏ đi mà không nói thêm lời nào.
Tôi quay lại tảng đá. “Chúng ta cần ở trong phòng tôi hết hôm nay,” tôi bảo các cô gái. “Cứ đi trước đi, tôi sẽ đi bảo những người khác.”
“Chị có nghĩ anh ta thực sự làm vậy không?” Bliss hỏi.
“Chị nghĩ cuối cùng anh ta sẽ thử và Chúa giúp anh ta nếu không làm được. Đi nhanh đi.”
Việc của tôi giống như chơi trò trốn tìm cuối cùng, lần theo từng cô gái và bảo họ ở yên trong phòng. Tôi không quan tâm nếu họ ở lại phòng mình, chỉ cần tránh xa Vườn, bởi vì ngay khi Thợ Làm Vườn biết về cuộc gọi đó, các bức tường sẽ hạ xuống và tôi thậm chí không muốn nghĩ đến chuyện gì sẽ xảy ra với bất kì cô gái nào hắn tìm được bên ngoài tường. Mỗi lời nói ra đều là tiếng thì thầm vì tôi không biết các micro ở đây mạnh đến đâu và liệu Thợ Làm Vườn có nghe nói về ý định của con trai mình chưa.
Tôi tìm thấy Eleni và Isra trong hang, Tereza trong phòng nhạc, Marenka trong căn phòng sẽ không còn là của cô ấy, cùng Ravenna và Nazira đang giúp cô thu dọn mấy món đồ thêu. Willa và Zulema đang ở trong bếp nhìn Lorraine khóc to đến nỗi lệch cả tóc giả, Pia đang ngồi cạnh ao để nghiên cứu những cảm biến mực nước. Từng người một, tôi tìm được họ và truyền tin, họ vội vã bước đi.
Sirvat là người cuối cùng tôi tìm được, cả phần trước người cô ta đang ấn vào bể kính trưng bày Zara. Những chiếc cánh tinh tế màu đen, trắng và vàng cam của một chú Pearl Crescent lấp đầy lưng cô, mắt cô nhắm tịt lại trong lúc đứng bất động.
“Sirvat, cô đang làm cái quái gì thế?”
Cô ta mở một mắt ra nhìn tôi. “Cố tưởng tượng xem ở trong đó thì như thế nào.”
“Xét đến chuyện cô ấy đã chết, tôi không nghĩ cô ấy giúp gì được cô đâu. Cô ấy cũng không biết.”
“Cô có ngửi thấy không?”
“Mùi hoa kim ngân á?”
Cô ta lắc đầu và lùi lại khỏi bể kính. “Mùi formaldehyde. Thầy giáo sinh học của tôi từng dùng nó để bảo quản các mẫu vật giải phẫu. Chắc bọn họ phải có cả tấn trong căn phòng đó, vì từ đây đã ngửi thấy mùi mạnh như thế.”
“Đó là nơi hắn chuẩn bị chúng ta cho mấy cái bể,” tôi thở dài. “Sirvat, chúng ta cần ở nguyên trong phòng mình. Mọi chuyện sắp bung bét rồi.”
“Vì Keely à?”
“Và Desmond nữa.”
Cô ta chạm vào cánh cửa bị khóa, được bảo vệ bằng bảng mật mã. “Chúng ta luôn luôn phải thực sự cẩn trọng với formaldehyde. Kể cả khi đã được hòa tan trong cồn, nó không phải luôn ổn định đâu.”
Tôi không bao giờ cảm thấy tệ vì không gần gũi hơn với Sirvat. Cô ta là một chú vịt lạc loài.
Nhưng cô ta vẫn để tôi lôi đi và ném vào phòng cô ta. Tôi chạy trở lại mỏm đá và trèo lên một trong mấy cái cây để cố nhìn xem có chuyện gì xảy ra không, nhưng tôi thậm chí không trông thấy ngôi nhà, nói gì đến cổng trước. Thợ Làm Vườn có khá nhiều tiền và khá nhiều đất, một sự kết hợp tồi tệ khi có liên quan đến xu hướng tâm thần phản xã hội.
Đèn bỗng nhấp nháy liên hồi và tôi nhảy qua gờ đá, bị cào xước và va đập trong lúc trèo xuống các mỏm cứng và chạy qua thác nước để về được phòng mình trước khi các bức tường hạ xuống.
Bliss đưa cho tôi cái khăn. “Em chỉ vừa nhận ra, trễ mất nửa giờ, rằng có lẽ tốt hơn chúng ta nên tụ tập một chỗ nào đó ở trong Vườn. Nếu Desmond báo với cảnh sát là chúng ta ở trong nhà kính này, họ chắc sẽ đòi kiểm tra nó, đúng chưa? Nếu chúng ta ở ngoài đó, họ sẽ trông thấy chúng ta.”
“Em tin hay không thì tùy, chị đã nghĩ đến việc đó rồi.” Tôi lột bộ quần áo ướt sũng và mặc vào bộ váy tôi đã được cho khi Desmond đến, nó có lưng áo. Nó không phải là chiếc váy yêu thích của Thợ Làm Vườn vì nó chắn mất cặp cánh, nhưng vào lúc này tôi không quan tâm. Tôi muốn chạy, muốn chiến đấu, muốn làm gần như bất cứ điều gì ngoài việc ngồi trong cái phòng bé tí này và chờ đợi. Nếu hắn ta có thể thuyết phục cảnh sát ngừng điều tra hoặc thuyết phục Desmond không gọi, em nghĩ hắn sẽ làm gì với kẻ nào bất tuân tín hiệu về phòng?”
“Chết tiệt.”
“Bliss… chị sợ,” tôi thì thào. Tôi ngồi sụp xuống giường và nắm tay Keely. Em cầm lấy và cuộn tròn ôm tôi, tìm kiếm sự an ủi. “Chị ghét việc không thể nghe thấy gì.”
Marenka và tôi đã từng thử nghiệm việc gào thét đến nổ phổi trong một lần bảo dưỡng định kì. Phòng của chúng tôi ở ngay cạnh nhau mà chúng tôi còn không thể nghe thấy gì. Ngay cả các ống thông hơi cũng bị đóng khi cáBình thường (P)
c bức tường hạ xuống.
Nhiều giờ trôi qua trước khi các bức tường được kéo lên. Đầu tiên chúng tôi ở trong phòng, quá sợ hãi để đi đâu, dù căm ghét ngồi yên đến mấy. Rồi sau đó chúng tôi không thể chịu nổi nữa và đi ra Vườn để xem thế giới của mình đã thay đổi thế nào.
Có lẽ, rốt cuộc sự thay đổi này cũng tốt hơn.
“Có không?” Eddison hỏi khi rõ ràng cô gái sẽ không nói tiếp nữa.
“Không.”