ình chẳng còn mặt mũi nào để gặp lại người thanh niên có lý tưởng, cô gái đoan trang, và người yêu thiên thần.
Càng nghĩ Tân càng yêu Mỹ và thương thân mình. Lý trí không thắng nổi tình yêu. Những lẽ phải vừa luận đã bị ma quỷ có sừng đem chôn đáy mộ. Tân trở lại dối lòng, dối gia đình. Tân không hài lòng Mỹ là hoa có chủ. Tân không muốn Mỹ về làm bổn phận dâu con của gia đình Điệp. Tân chẳng cam lòng làm chiếc bóng bên đường để nhìn Mỹ Điệp thành gia. Cậu giục Phượng :
- Em có lý! Phượng cần giúp anh một việc.
Phượng băn khoăn :
- Chuyện gì giúp cho anh đỡ khổ, em đều gắng.
Tân nghe tim mình đau nhói vì sự chí tình của hòn máu xẻ đôi. Tân bối rối, cậu đang ở hoàn cảnh của kẻ đắm thuyền, bám víu được gì để hy vọng sống còn đều khó bỏ qua. Còn nước còn tát. Cậu xua em thi hành một nhiệm vụ mà hậu quả chẳng có chút hy vọng mảy may :
- Em sang xem xét tình thế của chị Mỹ hộ anh!
Phượng xuống bếp hoàn tất nồi cháo cho anh, dặn dò :
- Cháo nguội, anh gắng ăn cho lại sức. Không ai thương mình bằng cơm với cháo đâu anh. Em đi đây.
Tân ôm em hôn lấy hôn để. Cậu nghẹn ngào :
- Anh hứa!
Phượng khuất sau cửa phòng. Tân tư lự. Cha con nhà mình đau yếu rề rề. Người đau lúc nào cũng gắng tự lực càng nhiều càng tốt. Kẻ mạnh luôn luôn yểm trợ càng thường càng hay. Chuyện này đã thành nếp. Do đó khi Tân ngã bệnh cậu rất ngại cha khổ, em cực. Cậu gắng ngậm đắng nuốt cay một mình. Vô thức đã tố cáo tội trạng si tình. Nếu Phượng rõ thì cha hay. Cha hay sẽ cực lòng cha. Đêm qua mình đã cung khai tội trạng đầu bù tóc rối, thân bẩn mùi hôi; mùi hương cùng mặt mày ủ ê, cha đã khổ công đem truyện Trạng Quỳnh, truyện Văn Vương để giáo đa. Hôm nay, nếu cha rõ tội si tình, mấy lời giáo đầu về ôn cố tri tân về tình yêu trong đêm rồi, sẽ thành trường thiên duyên hận vào những ngày sẽ tới.
Tân nghĩ vẩn vơ một lúc rồi chìm sâu trong cơn sốt.
Cụ Chánh có kinh nghiệm về cảnh gà trống nuôi con nên lúc nào cũng để mắt đến hai đứa con yêu. Những hoạt cảnh tự nãy giờ giữa hai anh em Tân, cụ đã rõ, đến khi Phượng luồn ngõ sau đi làm gián điệp cho Tân về Mỹ, cụ vội ra sau bếp đem bát cháo cá mà Phượng đã gia công, vào cho Tân. Thấy con đang sốt, cụ lấy chăn mỏng thay cho mền dày, nhúng khăn ướt đắp trán cho con, đoạn cụ lên nhà trên soạn thuốc giải nhiệt thì thầy Hương Quản xuất hiện. Thầy Hương Quản giáo đầu, báo cáo thời sự :
- Hôm 13-8-1945, Nhật đầu hàng Đồng minh. Ngày 25-8-1945, Bảo Đại thoái vị. Ngày 2-9-1945, Hồ Chí Minh giữ Chủ tịch Chính phủ Lâm thời. Sự kiện này làm tôi lo ngại quá anh Hai!
Cụ Chánh rối trong lòng nhưng cố giữ thản nhiên; cụ an ủi :
- Ngày Đệ Nhị Thế Chiến bùng nổ, dân chết đói vì cung cấp cho cả Nhật và Pháp. Bây giờ Nhật hàng, Bảo Đại thoái vị, Hồ Chí Minh nắm quyền, nhưng nghe đâu dường như tướng Tiêu Văn đang vận động với Việt Nam Quốc Dân đảng, Đại Việt Quốc Xã và Đông Dương Cộng sản Đảng hợp lại thành một chính phủ quốc gia liên hiệp. Việc rủi ro về mạng sống chỉ còn thuần nét chính trị thôi!
Thầy Hương Quản phàn nàn :
- Làng mình xưa nay bằng an nhất xứ. Nay, làng xóm đã bị nhiễm độc chính trị ở mọi giai tầng. Đám trẻ từ thành thị bạo động cách khác. Nhóm dân bưng biền phát kiến cách khác. Bọn bất lương thừa cơ hoành hành khắp nơi. Tôi không chịu nổi tiếng bấc tiếng chì của giới trí thức. Tôi nghe nhức nhối đầu óc về cách nói chính trị kiểu cách của công nông. Tôi ghét hành vi trộm cắp vặt vãnh, táo bạo của bọn mất dạy. Vì vậy, tôi đến đây xin vấn kế anh về cách chạy làng. Trong đám Hội Tề cũ thiếu chi người, sao lại chĩa mũi dùi riêng tôi?
Thứ đến, đêm qua tôi đi tuần thám hộ cho địa phương, ngoài chuyện thu gom truyền đơn, biểu ngữ; giàn xếp mấy vụ đánh ghen, mấy cuộc đụng độ về chính kiến, về tôn giáo; có một vụ cướp giật mà nạn nhân có liên hệ đến cháu Tân. Số là có thằng choai choai cướp được miếng cẩm thạch mẻ. Nó đem cầm thế cho mụ bán bắp nướng là em gái tôi. Nhờ thế tôi điều tra và biết được rằng, tang vật thuộc quyền của cháu Mỹ, bạn gái của Tân.
Cụ Chánh trầm ngâm, đoạn phát biểu :
- Trước nhứt, anh Hương Quản tạm giữ miếng ngọc, để tôi điều nghiên sự vụ. Nghe đâu vật này có liên hệ đến nhiều người. Cách giải quyết khá tế nhị, không thể đơn phương quyết định được.
Thứ đến, tuy bọn Hội Tề cũ của chúng ta đã hết thời và về vườn cả. Lúc hưng thời, không ai làm việc nghiêm túc và chí tình bằng anh. Làm việc cho Tây thì Tây khen. Làm việc cho làng nước thì làng nước mến. Trật tự đâu vào đó, dân chúng yên ổn làm ăn, cũng nhờ một tay của anh. Do đó, mỗi khi làng có hữu sự, đều nghĩ tới anh. Ngày xưa ăn lương, anh làm việc tích cực. Những lúc làm chùa, anh cũng hết lòng, chẳng húng hiếp ai. Sự xuất hiện của anh giữa lúc này, họ vẫn tưởng là anh còn tại chức nên chĩa mũi dùi vào anh. Cá nhân anh được lòng nhà cầm quyền, nhưng chung qui tất cả hương chức thời cũ, tuy thôi việc hoặc bị bãi nhiệm, vẫn là cái gai trước mắt các mặt trận chống Tây, nhất là Việt Minh. Họ thực sự là đoàn viên của Cộng sản. Đảng này lợi dụng giới công nông để làm cách mạng nhưng quyền và lợi đều do Đảng nắm. Thành phần của giới này khá phức tạp. Một số có mối thù cá nhân thuở trước, sẽ thừa nước đục để trả đòn. Xét ra, bọn mình khó có đất dung thân. Mình đã chọn định mệnh cho mình. Sinh nghề tử nghiệp là duyên. Hãy lấy câu sinh ký tử qui để sống cầm canh trong an vi vậy!
Vừa lúc ấy ông cựu Hội Đồng bước vào. Ông trực nhập :
- Khổ tâm quá anh giáo ạ! Mấy ông cán Cộng đang xúi tá điền ngưng đong thóc trả tôi, nhưng lại thu gom, nại thế nuôi quân. Tôi làm già. Nông dân vừa trả hụ hợ, vừa mượn oai hùm, dọa cho tôi mò tôm. Thật là bất công!
Thầy Hương Quản ngứa nghề, vấn :
- Cán bộ xuất hiện bao giờ?
Ông Hội Đồng chán ngán, đáp :
- Lúc trước thì lén lút vào đêm. Bây giờ công khai ban ngày. Nhật ngã, Pháp suy, quốc gia yếu nên họ lộng hành!
Ông Hội Đồng quay sang cụ Chánh để vấn kế :
- Anh giáo bao giờ cũng sáng nước cờ. Tôi định bỏ của, dưỡng mạng. Anh liệu có nên chăng?
Thầy Hương Quản vốn không ưa bản tính của ông Hội Đồng. Lúc hưng ông hách, lúc suy ông lộ nết hùm hóa thỏ. Thầy nghe thấy ông tỏ giọng hèn, vội buông lời châm chích :
- Anh Hội Đồng à! Anh từng ăn lộc Pháp thì giờ đây anh phải trả nợ về Lang Sa. Dầu cho anh có đào hang, trốn chui trốn nhủi thì bọn Việt Minh cũng un khói cho anh trổ ngách xuất đầu lộ diện mà thôi!
Ông Hội Đồng thành công tài chánh là do dùng cái khiên nhịn nhục đỡ phía trước, bàn tay hám lợi lùa của thiên hạ vào kho báu phía sau. Ông không giận lời trêu cay nghiệt mà lại vừa cười hì hì, vừa ngọt ngào cám cảnh :
- Anh Hương Quản quả thật sáng suốt, đã vạch rõ cho tôi cái nhân và cái quả, nhưng anh không dạy phép đỡ đòn. Vậy, tôi muốn thưa với anh giáo một việc.
Cụ Chánh tự nãy giờ ngồi nghe hai con hùm đánh võ mồm. Bây giờ bất chợt bị gõ cửa nên đành đáp lễ :
- Chẳng mấy thuở anh Hội Đồng mới nhờ cậy. Chuyện dầu trọng đại đến đâu, ta lấy lòng thành đãi nhau thì đều ổn cả!
Ông Hội Đồng lấm lét nhìn thầy Hương Quản, đoạn ngỏ ý :
- Quả đúng như vậy! Trước kia, vụ con Nguyệt, con Minh động trời như vậy mà nhờ anh giáo can gián, nhờ anh Hương Quản nới tay nên gia trung chúng tôi vượt qua đại hạn.
Thầy Hương Quản được dịp kể công. Thầy đắc ý, cao giọng :
- Anh Hội Đồng à! Phép vua thua lệ làng là ở chỗ đó. Sự đồng thuận là yếu tố hữu hiệu để giải quyết vấn đề pháp lý. Thế có đúng chăng anh giáo?
Đã bị vấn thì cố mà đáp, cụ Chánh ôn tồn phân giải :
- Chuyện cháu Nguyệt, cháu Minh là hiện tượng xử chìm xuồng! Tuy rằng sự đồng thuận phát sinh hiệu lực pháp lý bất thành văn trên phương diện dân sự tố tụng, nhưng vẫn còn tồn đọng yếu tố tội phạm về mặt hình sự tố tụng.
Thật vậy, nếu nguyên đơn trở quẻ, họ chống án thì bị cáo sẽ vác chiếu ra tòa. Cháu Minh có thể bị gán tội sát nhân bởi thai nhi chưa được giảo nghiệm trước khi bị thả trôi sông!
Chuyện Hội Tề xử chìm xuồng là vi luật, không nên tái diễn, hầu tránh tội đồng lõa, hay ít nhứt, khỏi bị khiển trách làm thiên lệch cán cân công lý!
Ông Hội Đồng tái mặt :
- Cháu bị sẩy thai mà anh giáo?
Cụ Chánh chậm rãi chỉ điểm :
- Thai nhi không được cấp báo để giảo nghiệm mà lại đem phi tang. Xác thả trôi sông. Thai nhi không được bác sĩ khám. Chỉ có bác sĩ hữu quyền mới tạo biện chứng trước tòa để thẩm định buộc hay tha!
Thầy Hương Quản áy náy :
- Làng xã có ai được thuần huấn về luật đâu anh Hai?
Cụ Chánh nghiêm giọng :
- Chính tôi cũng chẳng sành, nhưng lấy lương tâm để luận khi được hỏi đến. Chuyện này xin dành lại cho giới chức có thẩm quyền và chuyên nghiệp thôi. Nơi thâm sơn cùng cốc có lắm chuyện tai hại bằng trời mà cũng triệt tiêu! Dân vi quí, xã tắc thứ chi, quân vi khinh, chỉ là sáo ngữ mà thôi!
Ông Hội Đồng lại chuyển mục :
- Thưa anh giáo! Tôi cũng xin anh niệm tình bỏ qua chuyện thằng Côn xúc phạm cháu Tân đêm qua!
Cụ Chánh mỉm cười :
- Đó là chuyện con trẻ. Có sức chơi, có sức chịu là luật giang hồ. Tôi dạy con tại gia chưa đủ, Côn là thầy để dạy Tân học lấy đắng cay, vinh nhục. Anh Hội Đồng đáp nghĩa như vậy thật là vạn đội!
Vừa lúc ấy, cựu Hương Cả bước vào. Thầy Hương Quản niềm nở đón. Ông Hội Đồng và ông Cả lườm nhau. Cụ Chánh đưa ông Cả vào phân ngôi chủ khách xong. Cụ đến bàn thờ lấy chai rượu Martini et Rossi cùng hộp lạc rang và mấy cái cốc nhỏ, bày lên bàn. Cụ phân trần :
- Lâu lắm rồng mới đến nhà tôm đông đủ như thế này. Tuy đơn chiếc, tôi cũng thết khách những gì trong nhà có sẵn để tỏ thảo tình.
Nói đoạn cụ rót rượu mời. Sau đó cụ mở lời :
- Có chuyện chi đến anh Cả phải nhọc lòng quá bộ?
Ông Hương Cả nốc rượu, đánh khà khoái trá :
- Vụ con Nguyệt lại tái diễn!
Ông Cả chưa lọn ý, cựu Hương Thân xuất hiện, ông cất tiếng :
- Xin chào làng nước!
Ông Hương Thân tiếp lời ông Cả, bóp méo sự thật :
- Con Nguyệt và thằng Tính nghe lời con Mỹ tổ chức phục kích cháu Tân để tìm nguồn gốc của miếng ngọc gia truyền, kéo theo là trận tái phục kích của cháu Hổ và Côn. Bầy trẻ làm bậy, cha mẹ gánh phiền!
Ông Cả tiếp lời nói ngoa của ông Hương Thân :
- Phải! Tử bất giáo phụ chi quá! May là đủ mặt bạn bè, khỏi cực lòng đi đến từng nhà để giải hòa. Cả bọn chúng tôi sơ xuất trong việc con cái nên động đến quí tử của gia sư. Tôi đề nghị nâng ly giảng hòa.
Mấy cái đầu bạc gật gù gật gưỡng, nhậu!
Ông Hương Thân bản tính ồn ào, quên lẽ cẩn tắc bất cập. Ông đem chuyện trẻ con đổ vạ cho làng :
- Phong Trào Thanh Niên Cách Mạng càng làm tới. Họ rình rập ngày đêm, hết rỉ tai lại đem cờ xí, truyền đơn, biểu ngữ kết bè thả trôi sông để tuyên truyền chống Pháp, diệt cường hào ác bá. Mặt khác, Tây lùng sục, nghi nan dân tình, công chức. Đồng thời Đại Việt Dân Chính, Dân Chủ Đảng, Đại Việt Quốc gia Liên Minh, Đại Việt Quốc Dân đảng cùng các giáo phái Cao Đài, Hòa Hảo tổ chức giành quyền tự chủ.
Thầy Hương Quản góp ý, lờ đi chuyện con nít :
- Cuộc chiến bùng nổ, Việt Pháp đang ghìm nhau. Đảng phái, dân chúng nổi dậy đòi quyền sống. Cá nhân chúng mình ở thế gọng kìm, tôi ngại lắm!
Ông Hương Thân bạo mồm, hù thầy Hương Quản :
- Anh Hương Quản lo là phải! Anh ân oán giang hồ hơi nhiều!
Thầy Hương Quản giọng rầu rầu, kể lể sự tình :
- Ăn cơm chúa phải múa tối ngày! Sinh nghề tử nghiệp oan trái! Hương Quản nào chứ Hương Quản này có bao giờ hống hách với dân đâu! Mình da vàng mà! Đâu phải ai làm việc cho Pháp đều là Việt gian cả! Đâu phải ai theo cách mạng cũng thuần yêu dân, yêu nước đâu! Sao gọi là ân oán giang hồ?
Ông Cả gật gù :
- Tây, Ta, chí sĩ đều có kẻ phá giới, nhảy rào cả! Guồng máy vô tình lắm. Trục nhỏ cưỡng lại vòng lớn sẽ bị nghiền nát. Anh có than thân cũng vô ích!
Ông Hương Thân thở dài, chống chế :
- Bao giờ mới có một guồng máy tốt? Cơ khổ! Tôi là người Minh Hương, thấy Cách Mạng 1789, Cách Mạng 1911 dựa vào nhân bản nên thờ Tôn Văn, treo cờ Thanh Thiên Bạch Nhựt, nào có nghĩa tôi xé rào đâu anh Cả?
Ông Hội Đồng ngứa mồm, gài ông Hương Thân :
- Anh treo cờ Thanh Thiên Bạch Nhựt và hình Tôn Văn? Vậy anh có biết nguyên nhân, hậu quả của việc mình làm không?
Ông Hương Thân tự ái, quên cả giữ gìn, vội dài dòng :
- Tôn Dật Tiên là ông tổ của cuộc Cách Mạng ở Trung quốc. Ông được xem là quốc phụ của dân Hán, vì đã đưa họ thoát vòng hệ lụy của tập đoàn phong kiến Mãn Thanh, tránh được sự thôn tính của liệt cường Âu châu.
Tôn Văn sinh tại xã Tuý Hương, huyện Hương Sơn, tỉnh Quảng Đông. Cha là Tôn Đạo Truyền, làm nghề thợ may ở Ma Cao.
Lúc thiếu thời, ông học trường Công giáo ở Honolulu. Ông đỗ y khoa tại Ma Cao, đổi tên là Tôn Dật Tiên.
Năm 1895, ông bước vào chính trường. Do ảnh hưởng Lương Khải Siêu, Khang Hữu Vi, ông thấm nhuần tư tưởng của J.J. Rousseau, Montesquieue, Voltaire, ông liên lạc với vua Quang Tự để lật đổ Tây thái hậu, nhằm phá cổ duy tân, chuyển ác lập thiện. Âm mưu bất thành, Quang Tự bị đầu độc, Tôn Dật Tiên sang Mỹ để hoạt động.
Năm 1900, Bát Quốc Liên Quân buộc Thanh triều ký nhiều hiệp ước bất bình đẳng.
Năm 1901, chính biến Mậu Tuất thất bại, ông sang Nhật, Âu để cầu viện.
Ngày 10-10-1911, Cách Mạng Tân Hợi thành công ở Vũ Xương, lan dần Hán Khẩu, Thượng Hải. Chế độ Cộng hòa ở Nam Kinh được thành hình.
Ngày 1-1-1912, Tôn Dật Tiên được công nhận làm Tổng thống lâm thời của Trung Quốc Cộng hòa. Sau đó Viên Thế Khải được Nghị hội Cách mạng bầu làm Tổng thống, Tôn Dật Tiên làm giám đốc thiết vận. Mặc dầu Quốc Dân đảng thắng thế trong cuộc bầu cử, Viên Thế Khải giải tán quốc hội, khủng bố cách mạng.
Năm 1913, cuộc đảo chính Viên Thế Khải bất thành, Tôn Dật Tiên trốn ra nước ngoài. Viên Thế Khải công bố hiến pháp, ấn định nhiệm kỳ Tổng thống là 10 năm.
Năm 1915, Nhật chiếm Sơn Đông, buộc Viên Thế Khải chấp nhận nhị thập nhất điều. Viên Thế Khải xưng vương. Dân vận động tổng khởi nghĩa, Khải buộc lòng trở lại chế độ Cộng hòa. Thất thời, Khải tự tử. Lê Nguyên Hồng lên thay.
Đệ Nhị Thế chiến bùng nổ, liệt cường đưa Trung Hoa lâm chiến với Đức. Tôn Dật Tiên gửi kháng thư cho Anh. Trung quốc bị loạn sứ quân Mãn Châu, Hoa Bắc, Hoa Nam.
Năm 1921, Cách mạng thành công tại Hoa Nam, thiết lập Đệ Nhị Cộng Hòa, Tôn Dật Tiên là Tổng thống. Lúc ấy Quốc Tế Cộng sản thành hình ở Nga, Tưởng Giới Thạch được cử sang Moscou để cầu viện. Nga cử phái bộ Borodine và Galen, trong số đó có Lý Thụy, sang vấn chính.
Tháng 6-1924, với cố vấn Nga, trường võ bị Hoàng Phố được thành lập, dưới sự điều khiển của Tưởng Giới Thạch.
Năm 1924, Bắc Kinh cử Đoàn Kỳ Thụy, Tào Côn; Nam Kinh cử Hồ Hán Dân để dự Hội nghị Thống nhất Trung quốc.
Ngày 31-12-1924, Tôn Văn đến Bắc Kinh và từ trần ngày 12-3-1925.
Ông Hội Đồng rót rượu trao cho ông Hương Thân :
- Đây là ly rượu thưởng, chúng tôi đã rõ ông là ai rồi.
Ông Hương Thân tiếp nhận. Trước khi cạn chung, ông nói :
- Xưa kia, nhà truyền giáo Tây phương biết dân Á châu thâm Khổng, bản chất cứng cỏi mà vẫn dấn thân. Tôi là loại dân cứng đầu đó. Tôi lại không đến đổi ngu để nhận thức giữa bạn và thù. Tôi rõ bạn thì ngại chi chuyện luận về cương lĩnh mình theo?
Hơn nữa, lẽ công bình đảng đã vạch rõ: tử dành cho kẻ phản, hiểm nguy ban cho kẻ anh hùng! Tôi há sợ chết mà bỏ truyền thông tư tưởng của đảng hay sao?
Nói đoạn, ông Hương Thân nốc chung rượu, hân hoan :
- Tiểu sử đảng và đảng trưởng không quan trọng bằng cương lĩnh. Cương lĩnh ích quốc lợi dân thì người mới chọn mà dâng hiến trọn đời.
Xin mời quý bạn cùng nghe.
Dân Trung Hoa biết được tư tưởng của J.J. Rousseau, Montesquieue, Voltaire qua Vạn Pháp Tinh Lý và Xã Ước Luận của Khang Hữu Vi, Lương Khải Siêu, nên không tin tưởng nền quân chủ thống trị bởi Hán tộc.
Tôn Dật Tiên đã tuyên bố tìm chân lý khó, thực hiện chân lý dễ. Giác ngộ quần chúng hiểu quyền lợi và nhiệm vụ quật cường, đó là tri nan; khi đã thông con đường để vùng dậy, đó là hành vị.
Điều sinh tồn của một dân tộc là sự tương quan giữa tư tưởng và chủ nghĩa: Chủ nghĩa là một tư tưởng, một tín ngưỡng, một lực lượng. Nhân loại khi nghiên cứu một chân lý, tư tưởng nảy sinh trước tiên, tín ngưỡng xuất hiện kế, tạo thành một sức mạnh sau đó.
Chủ nghĩa dân tộc là phương tiện sinh tồn của nhân loại. Chủ nghĩa này bị bỏ rơi, đồng thời chủ nghĩa thế giới bành trướng, dân tộc sẽ hủy diệt. Muốn phát triển chủ nghĩa dân tộc thì phải theo tiến trình: gia tộc, tông tộc, quốc gia. Đó là dục bình thiên hạ, tiên trị kỳ quốc. Muốn tu, tề, trị, bình thì cá nhân phải trung, hiếu, nhân ái, tín nghĩa, hòa bình. Đó là trung với dân, hiếu với quốc, ái dân như tử. Giữa dân và quốc, phải vô hiệu hóa chủ nghĩa đế quốc để duy trì địa vị dân tộc trên trường quốc tế, trong nhân loại.
Chủ nghĩa Dân Quyền và Nhân Sinh là đường lối gây thực lực chính trị. Chính là chúng nhân chi sự. Trị là quản lý công việc của mọi người. Như vậy, dân có quyền chăm nom công việc chính trị. Quyền là lợi khí quan trọng để bảo vệ sự sinh tồn của nhân loại, thiết lập một nền chính trị dân chủ cho Trung quốc. Uy quyền của nhân loại trải qua bốn thời kỳ: hồng hoang, thần quyền, quân quyền, dân quyền. Thời hồng hoang, người dùng sức tranh với thiên nhiên và thú, chưa biết dùng quyền. Thời thần quyền, người tranh với trời. Thời quân quyền, người tranh với người, quốc gia tranh quốc gia. Thời dân quyền, dân tranh với vua, quan; người lương tranh với kẻ ác; công lý đương đầu với cường quyền.
Thầy Hương Quản nhìn cụ Chánh với sắc diện vui mừng :
- Anh Hương Thân có con mắt tinh đời. Chúng mình tuy làm việc cho Tây mà đích thực đều là công bộc vì đồng tiền. Tôi đang lo sốt vó để tìm con đường chọi lại mọi áp lực chính trị. Anh ấy đã lái chí hướng của tôi.
Chúng ta sẽ gặp nhau có ngày.
Ông Hương Cả móc họng ông Hội Đồng vì thù xưa :
- Anh Hương Quản đã tìm được đường thoái, còn anh Hội Đồng nên thức thời một chút. Mê bơ sữa quá, nhắm mắt ôm chân Tây, có ngày Việt Minh họ cắt đầu treo gốc cẩm để hù trẻ đó!
Ông Hội Đồng trả đũa. Ông cười hì hì, phản pháo :
- Tôi mất đầu. Thiên hạ nhìn cơ thể béo tốt cũng phán một câu thương tiếc: “Kẻ giàu sang sao không sống lâu để hưởng”. Nhưng có người, ngoài liêm khiết, trong mãi lọc lừa của dân đến ốm go gầy mòn. Khi họ làm thằng chổng trôi sông, thiên hạ bảo: “Hắn phì nhiêu giả tạo!”
Ông Cả lườm :
- Anh gài anh Hương Thân móc cả ruột gan ra để trình làng. Anh muốn gì ở tôi mà móc ngoéo vậy?
Ông Hội Đồng bưng chung rượu nốc cạn. Đoạn ông cười hì hì, đáp :
- Tôi đâu nêu đích danh Cả, sao Cả ra miệng? Tôi chỉ đề cập đến rể con của họ, gây khó cho cha vợ thôi!
Ông Hương Cả sừng sộ :
- Anh nói trắng trợn như vậy còn trả treo làm gì?
Ông Hội Đồng phân trần :
- Thằng Tính, rể tương lai của anh, nó ve vãn thằng Hổ, thằng Côn con tôi, thằng Lương con anh Hương Hào, thằng Tân con anh giáo nhập Thiên Địa hội. Bộ nó muốn bầy trẻ bỏ học hay sao?
Ông Hương Thân đỡ lời :
- Anh Hội Đồng cho phép tôi phát biểu. Thằng Tính là con trai tôi, tôi đã ảnh hưởng nó. Tâm địa của nó thường theo đuổi ý tưởng tha nhân. Gặp ai nó cũng mời gọi thương nước yêu nòi. Tình cảm không đủ hiệu lực lôi cuốn người hơn lý tưởng họ hằng mong. Con tôi có tâm địa nhưng thiếu khôn ngoan nên đã gây phiền bạn bè và cô bác, xin...
Thầy Hương Quản vội cướp lời :
- Anh Hương Thân lịch sự thái quá! Chuyện này cũng tương tự như kẻ bán có quyền quảng cáo, người mua tự do lựa chọn và quyết định. Như vậy, kẻ trách cứ, người xin lỗi, đều làm chuyện thừa thãi cả! Không ai có thể độc quyền yêu nước, nhưng người có lòng cũng chẳng nên làm ngơ khi quốc nạn. Sợ con thất học mà để mất nước, mất dân, dốt lại hoàn dốt. Trí thức lại thua thằng mù chữ như tôi hay sao?
Ông Hội Đồng tõn tè, lái sang chuyện khác :
- Thực ra tôi đang cùng đường nên mới sang đây vấn kế anh giáo, không ngờ gặp được anh Hương Thân, người mà tôi hằng ái mộ. Bầy trẻ nhà tôi mách rằng anh ấy là người của Thiên Địa hội. Tôi muốn nhờ quới nhơn tiến cử, nhưng e quá đường đột nên đưa đà nói chuyện chủ nghĩa Tam Dân để tìm chính quả.
Anh Hương Thân à! Nếu anh có lòng tha nhân xin anh trình bày nốt lai lịch và chủ trương để tôi thông suốt mà theo!
Ông Hương Thân từ tốn :
- Anh Hội Đồng có thiện ý như thế, tôi chẳng tiếc công. Việc vào Đảng cũng khá tế nhị, xin anh về suy cạn rồi tôi sẽ tiến cử đến kẻ có thẩm quyền nói hết, nói tất.
Thầy Hương Quản gật gù :
- Chúng ta quấy rầy gia chủ hơi nhiều, chuẩn bị nhổ neo là vừa. Nào! Dô! Dô!
Tất cả cử tọa đều hưởng ứng. Riêng ông Hội Đồng chỉ nâng ly và phẩm bình lời nói ngọng của thầy Hương Quản :
- Ông thần lưu linh mà đọc ám tả thì trò nhỏ đành cắn bút chào thua! Vô thì vô!
Ông nốc cạn và đánh khà một tiếng có vẻ khoái trí.
Ông Hương Cả nhớ hận cũ nên đỡ đòn cho thầy Hương Quản :
- Người dốt chữ nghĩa có thiện chí thì còn hy vọng hay chữ, chứ kẻ dốt nhân cách, có căng nọc đét đít, tính mất nết cũng tồn căn!
Ông Hương Thân giảng hòa :
- Chúng mình là kẻ đồng hội đồng thuyền, trống đánh xuôi kèn thổi ngược mãi, chìm xuồng thì chết cả!
Ông Hội Đồng cười hì hì :
- Ngày xưa háo thắng, háo danh, háo sắc, háo tiền tài nên tôi làm bậy hơi nhiều, anh Hương Cả dạy cũng phải lời. Xét cho cùng, bầy trẻ bây giờ khá giác ngộ nên nhìn gương mà bọn già chúng mình đáng ngả mũ chào. Tôi dù có lì như trâu, roi đòn thời gian giáng xuống lương tâm đau lắm, đâu cần phải bị căng nọc, chịu ăn roi mới chừa! Những gì tôi xúc phạm tới bạn bè ngày trước, cũng xin niệm tình bỏ qua. Tôi cũng như nhân vật trong Crime et châtiment, tôi mãi chờ punition từng phút, từng giờ, việc mà tôi đã phá gia cang của anh Hương Cả. Do đó anh Cả có ra tay giết tôi chết, tôi cũng cam đành hơn là nghe anh than khéo!
Bọn nhỏ đã trưởng thành, nó đã biết cả và thông cảm tha thứ cho nhau, đùm bọc nhau. Còn tôi, tôi không dám xin anh Cả tha thứ. Anh có hành hạ cách gì tôi cũng cam!
Ông Hương Cả đứng dậy, cặp nách chiếc dù có cán cù ngoéo, chậm chậm bước ra, nghiêng chào bè bạn. Khi đi ngang qua ông Hội Đồng, ông Cả vịn vai người bạn già lắc nhẹ, rồi câm lặng quay đi. Ông Hội Đồng xúc động quên cả chào giã từ, ông lầm lũi trốn chạy. Thầy Hương Quản lắc đầu, đoạn bắt tay gia chủ rồi lui ra.
Đợi tất cả mọi người đi xa, ông Hương Thân bảo khẽ cùng cụ Chánh :
- Mỹ về nhà đã gặp ý trung nhân của cháu, chuyện đã vỡ lẽ nhìn gà hóa cuốc, cháu rất ngại về lời xúc phạm đến ân sư và quí tử của thầy. Tử bất giáo phụ chi quá, tôi đích thân sang đây để xin anh giáo niệm tình thứ lỗi cho chúng tôi nhờ!
Cụ Chánh ôn tồn :
- Chuyện mấy đứa nhỏ nhà ta trêu nhau trong đêm đã đưa đến một cuộc gặp gỡ đầy ý nghĩa. Nó giúp ta rõ chính kiến của nhau, giải quyết những uẩn khúc tưởng chừng vô vọng, tạo nên thân tình để nương nhau theo con đường gần dân, cận nước. Đó là điều đáng lưu ý, còn mối tình con của đôi trẻ thì, hữu duyên thiên lý năng tương ngộ, vô duyên đối diện bất tương phùng. Dù chúng mình gắng cưỡng lý cũng chẳng thành gia. Đem lỗi, phải mà đong, vong tình càng nặng!
Ông Hương Thân nặng nghĩa, đuối lý, đành kính cẩn chia tay.
Khách vừa lui. Cụ Chánh khép cửa, vội lui vào buồng thăm con. Bát cháo nguội lạnh, nhìn con nằm co ro, nước mắt hoen mi. Cụ xúc động than khe khẽ: “Thuyền quyên chuyển bến hẹn hò; xác xơ đầu bạc, gầy gò tóc xanh! Tình sử nhà ta lại tái diễn nữa rồi! Vết xe cha đi, rong chưa mờ, chân mềm con trẻ lại vương rêu! Rõ là nghiệp chướng!”
Phượng đẩy cửa bước vào. Cụ Chánh ra dấu đến kề, cụ khẽ vấn :
- Con bồ câu trắng của cha đem hung tin về đó chăng?
Phượng tròn xoe đôi mắt :
- Sao cha biết?
Cụ Chánh xoa đầu con gái cưng :
- Ông Hương Thân, cha của đôi uyên ương vừa thông tri lúc nãy!
Tân trở mình. Cụ Chánh sờ đầu con, cụ bảo :
- Trán nóng hầm! Cơn sốt đang hành đây!
Cụ Chánh quay sang Phượng, cụ chỉ thị :
- Con đem hâm nóng bát cháo, đoạn đến bàn thờ lấy gói thối nhiệt tán cho anh con uống trừ căn!
Cụ Chánh đánh thức Tân và thay quần áo sạch cho con. Tân cố gắng ngăn cảm xúc, nhưng mắt hoen mi đã tố giác cậu khóc thầm trong cơn mê.
Cụ Chánh an ủi :
- Cảm người, thương cha, mến em cứ khóc cho hả. Đấy là lối thoát. Đừng nén cơn đau, ẩn ức tích tụ thì càng nguy! Tuy nhiên nên nhớ rằng, làm trai cho đáng nên trai, xuống đông đông tĩnh, lên đoài đoài tan!
Tân ôm vai cha, cậu thều thào :
- Dù sao con cũng là nam nhi, sự bi lụy chỉ lộ trong lúc mê hoảng thôi cha ạ. Khi thức giấc, can đảm chịu đựng cũng có thừa! Cha không phải bận tâm.
Cụ Chánh gật gù :
- Thế là tốt! Hãy xem lỡ mối duyên đầu là cái khiên dùng để chống giặc tình, hầu đạt vương hậu tương lai. Không nên bi sầu theo kiểu xe tang theo ngựa trắng!
Phượng đã dọn thuốc và cháo sẵn sàng cho anh. Cụ Chánh khuyên Tân :
- Cha biết con không thèm ăn. Tuy nhiên từ đêm qua không có cơm cháo gì cả. Hãy cố ăn cho chắc dạ để thuốc vào không hành bao tử.
Cụ Chánh quay sang bảo Phượng :
- Phượng! Con đem bức thư cha gửi cho chú Tăng Hưng, cha của A Phùng, nhờ cậu Sáu lơ xe đò Phước Hiệp trao hộ!
Phượng tò mò và lo âu :
- Cha định đưa anh Hai lên tỉnh dưỡng bệnh?
Cụ Chánh kiên nhẫn trả lời con cưng :
- Cha muốn liên lạc với cha của con Phụng?
Phượng vỗ trán, chau mày :
- Phụng nào vậy cha?
Cụ Chánh nhướng mày :
- Còn phải hỏi! Nhà mình quen thân với mấy Phụng, hả con?
Phượng sực nhớ, cô phì cười :
- Tí nữa thì quên! Chị Phụng, người tình không chân dung của anh Hai!
Cụ Chánh trêu :
- Sao lại không chân dung?
Phụng tếu :
- Chân dung của chị Phụng bị chị Mỹ áng mất rồi!
Cụ Chánh ra ám hiệu bảo Phượng đừng đá động đến Mỹ. Cụ chuyển đề :
- Con lý sự mãi, trễ mất chuyến xe thì hỏng.
Phượng nhoẻn miệng cười, nhanh chân đến bàn, nhặt thư cha, biến dạng.
Đợi em đi khỏi, Tân tò mò hỏi cha :
- Chú Tăng Hưng, chú Hương Thân, cha của Điệp và Phụng là người của Nghĩa Hòa Đoàn phải không cha?
Cụ Chánh trầm ngâm, đoạn ngước nhìn Tân đặt vấn đề :
- Tại sao con hỏi thế?
Tân giải bày :
- Thân với A Phùng nên con rõ chú Tăng Hưng. Con nghe các chú, các bác và cha bàn lúc nãy. Con hiểu được chí hướng của chú Hương Thân. Cha lại nhờ chú Tăng Hưng trao thơ cho cha của Điệp và Phụng, nên con suy diễn thế ấy!
Cụ Chánh gật gù :
- Con luận gần đúng nhưng có chút khác biệt. Cha của Phụng và Điệp là người của Quốc Dân đảng. Hai người ấy thân nhau vì chung thù chống Pháp mà thôi.
Tân ngần ngừ, đoạn nhìn cha e dè :
- Vậy cha là người của Quốc Dân đảng?
Cụ Chánh ngó lên trần :
- Chuyện cha trao cho anh Thuận, cha của Điệp và Phụng là muốn kết thông, vì Phụng là cô gái khá vẹn toàn!
Tân mạn phép ngăn lời cha :
- Xin phép cha cho con thưa. Con đã rõ chú Thuận là người của Quốc Dân đảng vì Phụng cùng chí hướng với chú ấy, và rõ Điệp lại theo Nghĩa Hòa Đoàn, do chính miệng của anh ấy nói. Do đó nên con mới dám hỏi ý của cha.
Cụ Chánh nhìn thẳng đứa con yêu, nghiêm nghị phát biểu cảm tưởng :
- Con nay đã trưởng thành, dù cha nói thật đời tư của cha, chí hướng của cha cũng vô hại. Phải. Cha là một hội viên thông thường của Quốc Dân đảng. Kẻ sĩ trong cơn tao loạn nên kề vai với người cùng lý tưởng để gánh vác việc nước dù lớn hay nhỏ, ở lãnh vực nào cũng được, miễn ích quốc lợi dân là điều nên làm.
Cha như thế, con thì sao?
Tân không khẳng định vội lập trường, cậu dài dòng trưng bằng :
- Cao trào chống Pháp đang lên, cứu cánh đồng nhứt, nhưng phương tiện đa diện, hóa ra đa đảng, đa phái, có hơi xung khắc nhau. Dân gian chia nhau trăm hướng, gia đình xé lẻ nhiều phương. Theo chỗ con biết, gia đình chú Hương Thân, Tính và Mỹ cùng cha hoạt động cho Nghĩa Hưng Đoàn. Nhà chú Thuận, Phụng cùng cha là hội viên của Quốc Dân đảng, Điệp hợp tác cùng chú Hương Thân. Bác Hội Đồng lừng khừng, Hổ yểm trợ Quốc Dân đảng, Côn làm việc cho Tây. Chú Hương Quản nghiêng về Nghĩa Hòa Đoàn, các con là Thiện và Ngôn theo Cao Trào Thanh Niên Cách Mạng. Chú Hương Hào và Lương lại bất nhất.
Trong cụm bạn bè ở cái quận nhỏ như thế, mới hôm nào chung lối trong mái trường. Nay đi học xa, tiêm nhiễm nhiều khuynh hướng chính trị khác nhau nên đã bắt đầu nhìn nhau bằng tia mắt tị hiềm, vì đảng phái, độc quyền yêu nước, nên ý nghĩa đoàn kết chống ngoại bang bị thiên lệch đôi chút.
Cụ Chánh thăm dò con lần nữa :
- Bạn bè của con đã thế, còn con thì sao?
Tân thẳng thắn trình bày :
- Tiên khởi, đảng phái nào cũng đề cao bởi dân, vì dân, do dân, bằng nhiều hình thức. Lúc cùng khốn, chủ trương dân vi quí, xã tắc thứ chi, quân vi khinh, được đảng trưởng, nhà lãnh đạo đem chia đều trong tâm khảm của đoàn viên. Để hoàn chỉnh cứu cánh bài phong, chống thực, đảng nào cũng dùng phương tiện kỷ luật hoặc từ tốn hoặc sắt đá để giữ kẻ dưới trướng. Cái tự do quí giá của cá nhân bị tạm cắt xén một phần hoặc toàn phần. Hiện tượng guồng máy bắt đầu. Chiến đấu càng gian khổ, guồng máy càng tinh vi. Khó khăn càng chồng chất, guồng máy càng đanh thép. Ý nghĩ quân vi quí, xã tắc thứ chi, dân vi khinh nở nhụy, khai hoa vào ngày vinh quang đạt thành sở nguyện. Nếu may, kẻ lãnh đạo lấy đảng phái làm lực lượng cân bằng quốc chính. Tự do của thuộc cấp, của dân, tuy đã mất nhưng còn được sống trong trật tự, an ninh. Nếu rủi gặp kẻ lãnh đạo có tham vọng cá nhân, có đầu óc đảng phái, tập đoàn chiến đấu trở thành guồng máy kềm kẹp trực tiếp đảng viên và gián tiếp quần chúng. Hậu bị đã trở thành bởi đảng, vì đảng, do đảng. Quyền lợi của dân bị đe doạ, tự do ban đầu của dân bị đánh tráo! Tất cả hậu chung đều đảo ngược với duyên khởi!
Cụ Chánh gặng hỏi :
- Con nhìn đảng phái dưới lăng kính khá bi quan!
Tân khai triển :
- Phe đảng luôn luôn dùng tôn chỉ siêu việt, cương lĩnh hào nhoáng để thuyết phục người, dùng kỷ luật uyển chuyển, tinh vi để giữ người, dùng địa vị để mua chuộc sự trung thành. Nhưng dân, là thành phần đa số, họ không cần những thứ ấy. Quan niệm của họ rất đơn giản: tay làm, hàm nhai; đừng ai cướp cơm, đừng ai quấy rầy họ là họ vui!
Cụ Chánh ngăn :
- Quan niệm an thân? Thụ động?
Tân phúc :
- Thưa không! Dân hưởng ít, đóng góp nhiều. Đảng phái làm họ vui, họ hỗ trợ tích cực để giữ vững hòa khí. Đảng phái làm họ buồn, họ lánh xa để đảng khác lấn lướt, hủy diệt giúp họ. Đảng phái làm họ giận, họ nổi điên. Chính quyền làm họ mất lẽ sống, họ vùng lên tỏ thái độ.
Từ ngàn xưa, giải quyết loạn nước, chống ngoại xâm, chỉ có dân, không có đảng, nên ý chí đồng nhất là sức mạnh làm nên lịch sử non nước trường tồn. Cá nhân Lê Lợi, Trưng, Triệu... xuất hiện kịp lúc, giải quyết kịp thời. Thượng minh, hạ chính, nội an, ngoại bình, một tấc đất không mất, một vinh dự không nhơ.
Điều quan trọng hơn cả, một cá nhân làm sai dễ sửa hơn một đảng phái làm xằng. Một lãnh tụ độc tài dễ lật hơn một đảng chuyên quyền. Họa nước, hoạn dân tùy thuộc rất sâu xa giữa cá nhân và đảng phái!
Cụ Chánh nhóng ý :
- Con không thích gánh vác? Làm trai cho đáng nên trai cơ mà?
Tân ôn tồn thưa :
- Thưa cha, bàn tay năm ngón, kích thước, sở dụng khác nhau, ngón út không so ngón cái. Anh hùng trong thiên hạ tài trí, sở chiêu cách biệt. Đo thất phu không sánh hiền nhân.
Kẻ cơ hội nắm quyền, thất phu tài thô, trí thiển dễ đưa dân, nước đến tai ương. Thời thế tạo anh hùng không vinh, không vững.
Trong tao loạn, hiền nhân chẳng ngại gian nguy, lấy tài trí để trị bình, vận nước dễ đạt, dễ an. Anh hùng tạo thời thế, danh vang, bền đỗ.
Nói chung, kẻ kém biết lùi phía sau để nhượng vị, biết tiến phía trước để phù thế, là người quân tử. Kẻ giỏi biết dấn thân trước đại sự, biết chia gian khổ, biết ban ân huệ của đất trời cho người chung hướng, tha thứ đối phương, tác tạo ấm no cho dân, đấy là bậc trượng phu.
Dù giỏi hay kém, khi gặp biến, đều chung lưng hành hiệp, không cần ràng buộc bởi phe phái, tùy thời cơ ứng khởi, tùy lực lượng ra tay, thì khó bảo là người không thích gánh vác việc ngoài, không xứng danh trai!
Cụ Chánh bắt bí :
- Thế thì hiện tượng đảng phái, con sẽ giải thích ra sao?
Tân rõ ý cha trắc nghiệm đời sống của cậu với đời sau này. Cậu đặt điều kiện :
- Đảng phái đều tốt cả, nếu chung chí hướng, chung gian khổ, chung phúc lợi, nhưng quyền lợi của toàn dân phải thượng tôn triệt để, phải vun bồi tận lực, vinh nước phải vang danh.
Cụ Chánh đẩy Tân đến chân trời xa :
- Nếu những lý tưởng đó đều đạt, con sẽ là hội viên của đảng phái nào?
Tân ôn tồn :
- Con vẫn tôn trọng, nhưng vẫn ngoài đảng!
Cụ Chánh vạch rõ lợi hại :
- Kẻ độc lập dễ bị thiệt thòi.
Tân giữ vững lập trường :
- Con thích quan niệm của thằng Bờm! Con trọng nếp sống của người Bohémien! Con thích tự do, tuy không được libre comme le vent, vì quyền tự do của kẻ khác, nhưng dù sao sự thơ thới giúp con yêu đời. Dĩ nhiên giá tự do phải chấp nhận điều bất trắc.
Cụ Chánh gật gù, mỉm cười không nói.
Tân rõ sự tế nhị của cha, cậu thêm :
- Thưa cha! Thế độc lập, thế tự do là thế hòa để sống khách quan hơn, nó không có ý nghĩa bất hợp tác với xã hội, với cộng đồng mà là thái độ tương nhượng, tiến thủ sao cho hợp qui cách giữa người và ta, trong tinh thần biết tự chủ.
Cha của con là người sáng suốt, là đảng viên của một đảng tốt. Con là dân biết phù đảng tốt, lánh đảng xấu. Cha nhập đảng vì lòng yêu nước, con thương cha, tức con thương nước. Cha tu, tề nghiêm chỉnh, ắt cha trị bình không khó, tuy nhiên cha không tham, chỉ đóng góp theo thời. Con chính kiến không sáng, tài cán tầm thường, thân tu chưa trọn, thất tình lục dục đầy căn, gia ắt tề không vẹn, quốc chỉ phục chứ không có khả năng bình.
Con hiện đang cố tu tâm dưỡng tánh, xin cha đem truyện xưa tích cũ mà điểm khuyết cho con nhờ!
Cụ Chánh cười hiền hòa :
- Cha tôn trọng ý của con. Trong lúc nghỉ hè, cha con ta đều an nhàn, con đang bị tiếng sét ái tình làm điên đảo. Dạy con, không gì hay bằng lấy điển tích mà soi. Còn sáng hay mù là do con nhận xét. Cha điểm khuyết cho thêm phần hứng thú.
Theo chiều hướng đó, cha nhớ đâu thuật đó. Con cố nắm ý cốt truyện, đoạn luận cho cha nghe. Vậy cha bắt đầu:
“Diệp Sinh, nửa đời luân lạc, thi mãi không đậu, sau theo quan đỡ đầu về dinh, kèm thí sinh, cả hai đều đỗ đạt cùng khóa. Nhân đi phó nhậm, tiện đường, Sinh ghé thăm quê. Vợ nhà thoạt thấy chồng, kinh hãi quỳ thưa: Nhà nghèo, xác liệm chưa chôn, xin chàng niệm tình đừng hiện hình qui trách!
Nghe đến đấy, thi thể Diệp Sinh chỉ còn là đống áo mão tại hiện trường.
Bấy giờ mới rõ lại, lúc vị quan mời Diệp Sinh về kinh, chàng đang đau nặng, hồn rời xác theo người cho vẹn ước mơ!”
Cụ Chánh dứt lời. Tân diễn ý :
- Thế mới biết cái tinh anh của một người bất đắc chí mạnh mẽ vô cùng!