Xã Hội Việt Nam Từ Thế Kỷ XVII

Lượt đọc: 829 | 2 Đánh giá: 10/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
IV. GIOVANNI HLIPPO DE MARINI

Cố Marini sinh tại Taggia, xứ Ligurie (Ý) năm 1608, mất tại Hạ Môn ngày 11 Juillet 1682. Nhập vào dòng Tên năm 1625 và sau đó sang Đông Dương. Cố ở Bắc kỳ 14 năm, có lẽ bắt đầu từ 1647. Cố có về Âu châu một chuyến nhưng năm 1674 lại sang Viễn Đông. Cố được bổ làm Trưởng giáo trường Hạ Môn và được cử làm giám mục Trung Hoa.

Quyển Relation nouvelle et curieuse des royaumes de Tunquin et de Lao do ông F. Le Comte dịch và in tại Paris năm 1666.

Những sản vật của xứ Bắc kỳ

Không nên lấy làm lạ khi ta thấy trong một xứ đất cát phì nhiêu và nguyên liệu phong phú như thế, dân sự biếng nhác và thiếu óc kỹ xảo. Thật ra (cũng) có rất ít người thích việc công thương, cam lòng rời bỏ quê hương để đi ra ngoài, quan sát những đất lạ, biết chiêu dụ người ngoại quốc đến xứ mình. Có sống trong sự thiếu thốn ta mới thấy cần có xảo nghệ, lo vượt qua nỗi cơ hàn, đi hết góc bể chân trời để thông thương và thu vét của cải. Còn dân này trong nước đã sẵn có thừa thãi mọi cái cần thiết nhất cho đời sống thì có cần gì đi ra xa để làm nguy cho tính mệnh và mang gian truân vất vả vào mình, cũng vì thế nên bây giờ ta mới biết xứ này.

... Người Đông Kinh đã khôn ngoan, khéo léo từ khi người Bồ Đào Nha, Hòa Lan và các nước lân cận đến buôn bán. Họ biết buôn không phải vì túng thiếu; nhưng vì lợi, vì tiền. Hơn nữa, họ cũng đủ lý trí để học rất mau nhũng lề lối, những mánh khóe trong nghề buôn để khỏi bị phỉnh gạt.

Trong xứ không có xa phu; không có những xe bò xe ngựa tiện lợi, cũng không có thuyền tầu để đi lại trên mặt biển: bởi vì họ sẽ bị nghi là tự ý phá sản khi đem xuất cảng những thực phẩm, những tơ mới quay hay đã dệt, hoặc những thức hàng khác để kiếm lời. Họ chỉ bán ra vài thức hàng làm bằng đủ mọi chất dùng trang hoàng hay có công dụng riêng. Hàng nhập cảng thì có nhiều thứ trong xứ đã sẵn có như gạo, lúa mì, rau, đậu, cá, cầm thú, hoa quả đủ mọi giống và đủ các mùa vải dệt bông, lụa, tơ gỗ đủ các kiểu, kim khí đủ các loại tại các mỏ trong xứ.

Từ trước đến giờ, Quốc vương không cho khai các mỏ vàng; ngài vừa mới cho phép khai 25 hay 30 mỏ bạc một phần ở tỉnh Bao, một phần ở tỉnh Cuicanghe (Cao Bằng). Cũng có vài mỏ bạc trong địa hạt Bắc trấn vừa mới đào nhưng khi nào đức vua cho phép mới được khai. Ngài giữ các mỏ kim ngân quý giá như vậy là tại ngài sợ ngoại quốc nghe thấy thì đến xin khai và chiếm mất, sợ thần dân tranh quyền làm chủ những mỏ ấy và nổi loạn chống lại ngài.

Sắt và chì thì tha hồ khai vì ngài không lo giữ gìn như vàng bạc. Ngoài các mỏ nên kể việc mò trai. Nhưng bây giờ không còn ai mò nữa vì các vua trước đã chiếm giữ lấy cả món lợi. Ai còn muốn hy sinh tính mệnh trăm nghìn lần để làm việc khó nhọc ấy?... Về việc chài lưới tôi không thấy nơi nào sẵn cá như xứ Đông Kinh; ai ai cũng có lưới để bắt cá ăn tươi hay ướp muối.

Một nguồn lợi nữa thông thường hơn, khai thác không khó nhọc và nguy hiểm vì mọc sẵn trên đất, là núi rừng có nhiều thứ cây già hơn nghìn năm không mục nát được. Như gỗ lim (người Bồ Đào gọi là Palo Ferro, nghĩa là cọc sắt để chỉ rõ tính cách gỗ nặng hơn cả gỗ mun vì chìm xuống nước mau hơn; - sắc giống như sắt gỉ; - cứng như sắt đem búa đóng đanh tốt vào, thì một người khỏe đến đâu dùng tay không cũng không nhổ lên được, dùng kim thường nhổ cũng còn khó nhọc). Gỗ lim kỵ với sắt: lim làm han và ăn sắt gỉ chóng đến nỗi những chiếc galions dùng đinh sắt đóng những xà và rường (solives) lim vào thành tàu, sắt gỉ, những phiến gỗ ấy long ra. Nếu ta không trông nom và sửa chữa ngay thì tàu có thể vỡ ra và đắm được.

Ngoài ra còn nhiều thứ gỗ cũng tốt như lim: nhà vua không cho phép đẵn nên ta không được đóng tàu chiến đẹp bằng gỗ mun. Mun không được nhiều, và tốt như mun Mozambique - Quế (calambac, calambour) mọc ở phía nam xứ Đông Kinh, ở phía bắc xứ Đàng Trong và ở phía Nam xứ này chỗ tiếp với Chiêm Thành. Quế không nhiều và tốt như quế Tích Lan. Nhưng quế nam đắt hơn và rất được người Nhật chuộng dùng. Những người này thường nói giá Chúa Nguyễn gửi sang Nhật bán thanh quế nặng 30 livers ngài giữ trong cung thì sẽ có nhiều người đem vàng cân đánh đổi. Quế đắt thế nên có nhiều người đi kiếm. Nhưng vua cấm ngặt ai không có phép thì không được bóc mà có phép cũng phải chở qua cung vua, Quế thơm nhưng (muốn lấy quế) phải xông vào rừng sâu đầy thú ác, nước độc khí thiêng. Thú dữ còn có bề chống giữ đề phòng; chớ nước độc khí thiêng dù có đem thuốc giải trừ rất hay, không chết ở dưới chân cấy, về đến quê nhà cũng ốm liệt giường liệt chiếu.

Rừng còn có cọp, gấu, lang, hươu, hoẵng, thỏ, lợn lòi, voi, khỉ và ít nhiều tê giác. Sừng tê giác rất được chuộng dùng ở Ấn Độ và các nước lân bang Trung Hoa. Sừng tê dùng để giải độc nên ai có của cũng cố tích trữ được một cái (?) ở trong nhà nhất là tại các miền này, các dân thường có ác tục là bỏ thuốc độc hại lẫn nhau. Cũng có kẻ nói quả quyết rằng nếu giẫm phải gai chỉ cần đem tán một ít sừng tê thành bột hòa vào với nước rồi dùng nước ấy rửa chỗ đau, thì không làm nhức buốt gì, cái gai cứ tự nhiên lòi ra rất dễ dàng và chẳng đau đớn. Các vị quan Tàu chức cao và lắm của lúc thết tiệc các bạn thân, chỉ rót rượu vào chén làm bằng sừng tê để tỏ ra rằng họ sang, để khỏi sợ say vi sừng tê có tính chất giải độc.

Cũng như ở nơi khác, dân Nam muốn thử xem sừng tê có tốt hay không, đem treo thanh kiếm bằng một sợi dây rồi cầm sừng tê để gần kiếm; nếu tay chuyển sừng đi mà kiếm quay theo thi sừng tốt, nếu kiếm đứng yên thì sừng không có giá trị gì cả. Cũng có kẻ không thử thế, chỉ xem nếu trong giữa sừng có vân vàng mọc tỏa ra đến khắp ngoài rìa thi cho là sừng tốt. Nếu sừng vừa có vân vừa làm quay được thanh kiếm thì họ sẵn lòng bỏ ra mấy trăm đồng vàng mà chuốc... Người Đông Kinh, hơn người Trung Hoa còn biết dùng sừng tế làm cán gươm, chuôi dao để phòng hơi độc của thuốc giải độc mà luôn luôn họ giắt trong người.

Họ cũng nuôi dê, bò, trâu, ngựa nhiều nhưng còm, bé như ngựa Ba Lan. Ngựa mua ở các xứ lân cận vào đẹp lớn tốt hơn nhưng đã bị thiến rồi; Quốc chủ các nước này một là muốn giữ lợi, hai là sợ bán ngựa giống cho một nước một ngày kia có thể trở nên thù địch của mình, nên không muốn giống ngựa của mình có ở nước khác. Ngựa không bịt móng vì đất ở vùng quê không có đá không hại chân. Họ cũng không dùng đinh thúc ngựa nhưng cầm roi lông. Họ cho rằng cưỡi ngựa mà ngựa không có nhạc đeo, thì người cưỡi ngựa thành lố bịch, cưỡi như thế cũng không khác cưỡi bò.

Nhưng trong lúc để tang vua hay các thân quyến của vua, ai cưỡi ngựa có nhạc thì sẽ bị phạt một món tiền to.

Phong tục và tính nết người Bắc kỳ

Khí hậu lành và tốt, đất cát phì nhiêu của xứ này đáng lẽ làm cho người dân có tính tinh khoáng đạt thì hình như chỉ làm cho người họ lớn và khỏe mà thôi... Sự đè nén biến họ thành những người rụt rè sợ hãi quá đáng. Cũng như dân Ý, họ có người to, tầm thước và nhỏ. Nhưng thân hình họ cân đối, tính nết thuần thục, nét mặt đều đặn dễ trông. Người thành thị da trắng hơn là nâu; người nhà quê da vàng xanh. Họ làm việc không biết mệt nhưng không chịu được sự đói túng, quan tâm đến sự vật hiện tại (mà họ cầm giữ được; đến những chuyện nhãn tiền làm họ say mê) hơn là chuyện tương lai không ảnh hưởng gì đến thần trí họ và họ cho là xa quá, không thực hành được, Đấy là xu hướng của họ. Đấy là duyên cớ làm cho họ cẩn thận và giữ gìn trong những công chuyện có dính dáng đến quyền lợi của họ. Còn đối với những việc gì không liên can đến họ thì họ là hiện thân của sự nặng nề và sự lười biếng. Vì thế cho nên khi nào có việc công ích phải làm thì nhà vua giao phó cho những viên đốc công mẫn cán và nghiêm khắc, luôn luôn đốc thúc dân phu, mắt không dời họ lúc nào và không để họ nghỉ ngơi chốc lát.

Họ rất thông mình và có trí nhớ rất tốt, có lẽ không dân tộc nào hơn được; họ học rất dễ và dễ nhớ những điều mà người ta dạy họ.

Bản tính họ tốt, nhũn nhặn; miễn là ta tỏ tình yêu mến họ là họ đem lòng tốt trao cho ta một nụ cười, một lời nói tử tế, một sự giúp đỡ cỏn con và chút ít chứng cớ của lòng ta đối với họ là hoàn toàn thu phục được họ ngay. Họ thăm nom và chiêu đãi những người ngoại quốc, ước ao được xem những vật kỳ lạ và khi đã được xem rồi đòi xin cho kỳ được. Dáng điệu họ lễ phép; lời nói lại ôn tồn; nên khi muốn tỏ lòng biết ơn ai đã giúp đỡ, họ tỏ vẻ vui mừng và hết sức trả ơn, dù công việc có khó khăn nguy hiểm đến đâu cũng mặc.

Đàn bà hạ lưu, rất hám lợi, hăng hái theo đuổi lợi lộc, nên một công chuyện gì đã bất tiện và không hợp đối với đàn ông rồi, thì khi vào tay đàn bà trở nên bại hoại và nguy hiểm.

Họ say mê việc buôn bán, luôn luôn bàn về việc bán, mua, lâu dần thành hư thân và trơ tráo. Họ mất hết cả mực thước, điều độ và cho rằng có một công lệ đem áp dụng được vào các hàng hóa cũng như vào người. Họ chở thuyền và chở bất cứ cái gì, chở đò sang ngang cho bất cứ ai, lúc có chồng tại thuyền hay chồng đi vắng cũng vậy. Trong những trường hợp này và phải luôn luôn giao thiệp như vậy, người đàn bà có suy nghĩ không? Có lo giữ gìn danh giá không? Và có thể tránh được sự sa ngã không? Đã có người hư hỏng vì tham món tiền nhỏ, hư hỏng cả những khi không có ai yêu cầu vì họ hy vọng sẽ được chút lợi nhỏ. Thảng hoặc có người bị chồng bắt được đã ở nhà người đàn ông khác trong ít lâu, thì có khi người chồng cũng không đau đớn, vợ chồng vì thế cũng không bất hòa, người chồng mong được chút lợi ghê tởm và khốn nạn để cùng chung hưởng với vợ.

Nhưng ta chớ nên vội kết luận rằng tất cả đàn bà hạ lưu đều trụy lạc cả đâu. Chỉ những nơi nào đông người, có thuyền buôn ngoại quốc đến đậu họ mới hư hỏng thôi. Còn trong các thành thị và các làng, người (Đàng Ngoài) sống giản dị, lương thiện hơn và những chuyện tầm bậy của những kẻ dại dột thiếu hạnh kiểm không thể làm lu mờ và làm phật ý những bà mặc y phục giản dị cốt ý gìn giữ danh tiết hơn cả những đàn bà Âu châu và Đông phương. Có lẽ ta có thể trách họ để hở chân đi đất nhưng phong tục ở đây như thế, hai nữa là đất đồng bằng mềm, dễ đi không có đá.

Trừ mặt và hai bàn tay để hở, họ bận một cái áo rộng, gần giống kiểu áo thầy tu, trên cổ rất hẹp, dài từ trên vai xuống hai bàn chân; đầu đội nón không đeo mạng; vành nón rất rộng tựa như dù che nắng làm bằng lá một thứ cây mọc trong xứ, tờ nọ xếp lên tờ kia rất khéo và khâu liền với nhau bằng một thứ dây lấy ở một cây thân gai như cây sậy. Nón bán khá đắt nhưng không có gì nhẹ hơn, tiện hơn để che nắng, hơn cả dù vì dù còn phải cầm tay chớ nón đã có quai rất đẹp cũng làm bằng dây (khâu nón) buộc từ hai bên thanh xuống cằm để cho nón khỏi rơi dù có gió mạnh.

Ngày tết đàn bà ăn mặc rất đẹp, tai đeo “hoa” rất đắt và rất quý; cổ đeo nhiều chuỗi ngọc trai rất xinh; tay đeo vòng bằng vàng trá [18] hay san hô; nhưng ngón tay thì không bao giờ mang nhẫn. Áo bằng vải rất mịn hàng bougran, bông hay lụa “lin”, và một thứ hàng nữa gọi là Bo (vải bố?) mua ở Trung Hoa sang và cũng mịn như những vải tốt nhất ở Hòa Lan. Thường thường họ mặc áo mỏng vì quanh năm nóng bức trừ vài ngày rét buốt thôi. Họ không có lệ đánh phấn nhưng họ nhuộm răng hết sức đen (đàn ông cũng vậy) vì răng càng đen càng quý. Ngày xưa hồi còn nội thuộc nước Tàu, đàn ông và đàn bà còn bới tóc ngược, chải có thứ tự và bện bằng lông đuôi ngựa, trên trùm chiếc mão; nhưng từ ngày họ được tự do, muốn tỏ rằng họ đã thoát ly và khác ý kiến với người Trung Hoa, họ để tóc dài, phủ xuống vai, không chải. Tóc càng đen, không buộc, dài và để hỗn độn bao nhiêu lại càng được chuộng. Những đào kép hát, hát bội thường để tóc như vậy, nhất là đào hát.

Đào nương rất nhiều và tập hát rất cẩn thận tuy không bao giờ họ hát hết bài. Ca nhạc thường réo rắt ban đêm và các ca nương thường làm bọn đàn ông mất ngủ... Người Âu châu nào biết và hiểu tiếng, lại được tường âm nhạc bản xứ chắc sẽ thích lời nói, giọng ca, điệu hát hơn là bọn nữ nhạc của bên ta và chắc sẽ được khen là một người xét đoán vô tình và không có dục vọng. Muốn được tiếng là tốt giọng và hát hay, họ giữ gìn giọng hát cẩn thận đến nỗi đã hẹn hát với ai, trong thời kỳ luyện tập, họ kiêng kỵ không đi lại với chồng hay nhân ngãi, nhịn không ăn thịt vì sợ thịt làm sai, hỏng mất tiếng. Nhưng họ rất chuộng một thứ ếch, thịt ăn làm trong được giọng.

Họ kiếm được rất lắm tiền chỉ nhờ về nghề hát. Nếu được đức vua nghe thấy giọng ca và nếu họ làm được ngài vừa ý thì họ sẽ được tuyển vào đội nữ nhạc của vua. Nếu họ có nhan sắc, ngoài giọng hát hay, họ sẽ được tuyển vào cung; nếu họ sinh được con trai thì chẳng những họ sẽ được kính trọng hơn, được thêm bổng lộc mà cậu con lại có hy vọng được lên làm vua, như những ông hoàng khác...

Đàn ông không tốn tiền quần áo. Bọn dân dã suốt năm đi đất và dùng một miếng vải che chỗ mà lễ nhượng bắt họ phải giấu kín. Mùa hè dài. Suốt năm nóng (trừ vài ngày gió bấc thổi hết sức lạnh) nên họ hết sức đảm sự may mặc. Tuy vậy quần áo họ vẫn có vẻ trang nghiêm và bệ vệ. Người giàu có hoặc có ít nhiều quyền thế được tôn trọng mặc một chiếc áo lụa dài đến đầu gối (khác với bọn cùng dân mặc áo vải), ở trên phủ một chiếc áo dài nửa giống như áo ta mặc trong phòng ngủ, chấm đến cổ chân, tay rộng nửa sải và dài như áo. Áo không mở như áo khách, vạt phải đè lên vạt trái, nhưng vạt trái đặt lên vạt phải. Lại khác với người Trung Hoa dùng dải lụa buộc vạt phải lên sườn trái để lúc đi áo khỏi tỏa ra làm khó coi và trái với lễ độ, người Bắc kỳ buộc vạt áo cao lên bên trên háng chừng bốn ngón tay, như thế áo kín hơn và đúng hơn. Có thắt lưng họ cũng buộc chếp cho áo thành ba bốn nếp dài ở dưới, để phân biệt các người với nhau. Nhưng khi nào họ phải vào chầu hay dự vào các cuộc hội hè, họ mới chếp áo mà thôi.

Áo các sư rộng hơn, may bằng vải hay lụa quý hơn. Mũ ni hình tròn, cao hai ba ngón tay, ở đằng sau có miếng vải cùng một thứ hàng, cùng một màu với mủ và che kín nửa vai, áo cà sa màu tím, hạt dẻ nhạt và sẫm phơn phớt hoa đào hay đen bóng; cũng có cái màu xanh, vàng hay đỏ hung.

Cũng có nhà sư mặc một thứ áo ngắn trên có nhiều đường thêu đối nhau lồng hột thủy tinh hay pha lê ngũ sắc, óng ánh rất đẹp trong những dịp lễ lớn.

Người Bắc kỳ chỉ dám ăn mặc ở kinh kỳ, còn ở các tỉnh, và các làng khác, tuy họ không thiếu gì áo đẹp, họ ăn mặc tồi tàn để cho người khác khỏi biết rằng họ giàu có và sung sướng để tránh cho quân gian phi khỏi đến cướp phá, cho bọn quan lại khỏi đến sách nhiễu lợi dụng, bắt chịu thuế má cao, đóng góp nặng.

Nhà cửa của người Bắc kỳ

Nhà cửa của người Đàng Ngoài và lối họ xây dựng nhà cửa rất giản dị, không được suy nghĩ kỹ càng và không theo một chủ ý gì cả. Bởi thế họ không cần gọi đến các kiến trúc sư, đến các ông thợ cả vì theo tôi không cần tinh khôn lắm mới dựng được cho mình một mái nhà, những cái nhà, những cái lều như thế. Làm gì có những sự chạm trổ tinh vi, những gian nhà đẹp như những lâu đài. Mọi vật đều làm bằng gỗ và rơm. Bọn cùng dân cam lòng dựng bốn cái cột hình tròn, được bào đục ít nhiều, lên trên những khối đá tròn và rộng nhiều hay ít dùng làm trụ đỡ vì không thể chôn chân cột xuống đất trừ phi cột ấy làm bằng một thứ gỗ rất hiếm và đắt không mục ngay ở dưới đất. Họ đặt lên trên bốn cái cột đó nhiều miếng gỗ khác; khi nào những người dân túng thiếu này muốn làm nhiều gian nhà, họ dựng thêm nhiều cột, vách, ván hay tre, trát bằng một thứ bột rất nhuyễn màu thiên thanh nhạt. Nền bằng đất nện kỹ, mái lợp rơm hay rạ. Nhà làm cách xa nhau, chung quanh có hàng rào sậy, có vườn, có ao thả cá, cá là món ăn thường của người nghèo: trước khi vào nhà, họ ra ao rửa chân. Nhưng tôi ngạc nhiên hơn cả khi tôi thấy không có một nhà tu khắc khổ nào có đồ đạc giản tiện hơn những giường chõng của người Đàng Ngoài nghèo túng này, giường đặt cách mặt đất chừng hai thước chỉ gồm có một lớp gỗ dài bốn thước lắp với bốn mảnh gỗ, trên đặt giát tre hay một lần lưới đan bằng dây; trên nữa trải chiếu; họ nằm ngủ chẳng có đệm, chẳng có chăn trải giường, có mền đắp.

Nhà những người giàu có, quan tư cũng ngang mực với đất; nên đến cửa thì ta bước vào nhà ngay. Những nhà nào rộng, xây dựng có ngăn nắp và làm bằng vật liệu tốt hơn những nhà của thường dân, trước mặt nhà lối cửa vào có sân rộng nhiều hay ít đủ chứa những người đến nhờ vả hay kêu xin điều gì. Có hành lang lợp và làm theo hình bán nguyệt chạy quanh nhà. Những khung hình tò vò này đặt lên những cột gỗ to rất tốt đặt đối nhau rất đều. Ở hành lang, ta vào một gian rộng rồi sau cùng vào nhiều gian hay phòng, cái nọ có vách cách cái kia. Những thực phẩm chứa trong những cái thúng cát, trát trong và ngoài bằng một thứ thuốc làm cho thức ăn lâu hỏng (?). Vì nước sông một năm dâng cao một hai lần, nhà cửa thường bị lụt; để dự phòng, dân gian làm những lầu cao bằng cột, có nhiều thanh gỗ đặt chéo nối liên cột nọ với cột kia, trên nóc cột đặt nhiều tấm ván, lúc lụt họ rút lên ở trên ấy, như lên trên một sân khấu hay trên một cái sàn chắc để nhìn được khắp đồng ruộng chung quanh. Hoặc họ đã có sẵn những thuyền con để dùng trong những dịp này.

Cửa vào nhà thường dân thấp và bé để bọn trộm cướp khó mang đi những đồ vật chúng lấy được. Cửa ngõ nhà quan thì rộng hơn vì các ngài không sợ gì trộm cướp (chính chúng lại sợ các ngài) và có lính canh giữ luôn luôn. Tuy vậy những nhà quan cũng không có những tấm thảm hay những thứ hàng quý giá; chỉ có những thứ chiếu nhỏ bằng cói rất đẹp; nhuộm màu khác nhau, trên có nhiều hình đẹp; của cải để cả vào thóc gạo, người nào có nhiều thưng gạo nhất được coi là giàu có nhất, thành thử khi ta nói ai có nhiều lúa thóc chính ta muốn bảo rằng người ấy rất giàu có sung túc.

Trong xứ không có đường to, không có phố lát đá và chia ra từng đoạn như bên ta, nhưng nhà cửa cách nhau và rải rác khắp đồng ruộng như tôi đã nói ở trên; một số đông nhà họp lại thành một làng trong có một nhà công cộng (đình), tựa như nhà thì sảnh bên ta; có những thuộc viên về tư pháp giống như Viện Bailly và một pháp viện để phân xử những sự xích mích giữa dân làng.

Kiến trúc các đình chùa được suy nghiệm cẩn thận hơn và không đơn sơ như nhà ở. Theo những thần tự mà tôi được biết thì những nơi này đều (làm trên nền cao) có bậc đá, mái lợp ngói, tường gạch có chạm trổ lên gỗ, trên tường gạch có phủ một lớp men rất đẹp và rất lóng lánh chứng rằng dân tộc này có xu hướng về tôn giáo. Ban thờ ở trong cùng đối với cửa vào, xây giống như ban thờ trong nhà thờ của ta, có lối đi chung quanh, các sư nam và sư nữ sống thành giáo đoàn với nhau như các tu nữ bên ta, có nhà tu ở ngay đấy săn sóc một cách đặc biệt và luôn luôn canh giữ điện thờ.

Lễ nghi của người Bắc kỳ

Mọi việc đều được sắp đặt có quy củ, từ sự họ thù tiếp nhau đến thái độ trước mặt vua. Không có ai được vào bái vua mà mình không mặc thứ lễ phục riêng gọi là áo chầu, bằng lụa tím hay cùng là màu quan lục sẫm; mà đầu không đội mão, để tỏ lòng tôn kính. Những người không có phẩm tước, đội một chiếc mão đen cao chừng nửa thước bẻ rơi ra đằng sau. Văn quan đội theo một lối khác và bằng một chất khác, một thứ mão làm bằng lông đuôi ngựa, cao nửa thước, hình lục lăng, có thêu và trên đỉnh dẹp, khác với các mũ nói trên nhọn; chỉ có những tội nhân mới để đầu trần ra trước mặt vua. Nhưng chân thì lại khác vì nếu đi giày vào chầu tức là mắc một trọng tội: Khi vào yết kiến long nhan, không được đi giầy mang vớ, chỉ có vua và một vài bà hậu, bà phi được phép riêng của vua mới đi hài; các hoàng tử cũng phải theo luật ấy, trừ có hoàng thái tử là người sau này sẽ lên kế vị được đi giầy trong cung hay khi ngài vi hành đi thăm đồng ruộng, nhưng khi vào chầu phụ hoàng ngài cũng phải bỏ giày ra và đã có một tên quân hầu múc nước để ngài rửa chân cho sạch thêm. Người ta còn nghiêm cấm tất cả mọi người dù trời nóng bức đến thế nào, trước mặt vua cũng không được dùng quạt; quạt giấu trong tay áo, tay nọ luồn kín vào ống tay áo kia và chắp lên ngang ngực. Triều phụ và lối vào chầu vua ấy trông thật lạ lùng. Nhưng ta thấy dấu hiệu sự tùng phục và lòng tôn kính lúc họ mới đi mấy bước đầu rồi phủ phục khi họ vào đại điện là chỗ vua ban chầu: Trước nhất phải quỳ lễ bốn lễ đầu gối trái xuống trước, gối phải xuống sau, đầu dập xuống đất. Bắt đầu từ cửa điện hay tự chỗ ta đứng: tính cho đúng để đến khi làm lễ thứ tư thì ta đến đúng dưới chân vua. Xong rồi ta đứng dậy và hai bàn tay chắp lại, ngón nọ vào ngón kia, giấu kín trong ống tay áo, ta giơ tay lên ngang đầu rồi cúi nhẹ mình, ta chúc vua vạn tuế.

Nên biết là có năm lối chào khác nhau... Với vua thì nói: Tôi tấu đức vua (Tôi tấu đúc Bua). Với chúa thì nói: Tôi... chúa? (Tôi doù ciua). Với các vương thân quốc thích: Tôi... đức ông (Tôi thần đức oú).53 Với người trên thì nói: Tôi trình (Toy cieng). Với kẻ ngang hàng thì: Tôi nói (Tôi N'oy). Các quan đại thần tan chầu vội vàng rời cung điện và chạy rất mau về nhà. Không làm như thế là trái phép. Các người cưỡi ngựa, cưỡi voi, qua trước hoàng cung, cũng phải xuống đi đất. Đàn bà không phải theo những nghi tắc này, nhưng khi gặp kẻ hàng trên phải chào, thì họ dừng lại và ngồi sụp xuống đất; xong rồi họ chắp hai tay lại và cúi mình lễ, chân chạm đất năm lần; có khi nói chuyện với nhau họ cũng ngồi như thế trên chiếu, vì ở (Bắc kỳ) không có ghế chỉ dùng chiếu trải trên đất. Tại các nhà quan, có một chiếc sập cao chừng một thước trên trải chiếu, không có thảm, dùng để ngồi nói chuyện. Tiếp người ngang hàng thì họ mời cùng ngồi trên chiếc sập; tiếp thuộc hạ, họ cho ngồi xuống chiếu cặp đỏ thấp hơn bực; còn như kẻ thường thường thì cho ngồi chiếu đơn; bọn cùng đinh thì phải ngồi sệp xuống chỗ đất không trải chiếu. Khi đi chơi họ không bàn công chuyện làm ăn; chỉ khi ngồi hay lúc đứng hai tay không nhúc nhích họ mới bàn đến công việc thôi; các cố đạo cũng bắt chước cho nên lúc giảng kinh, mình không cử động, tay không đưa đẩy nhưng chắp vào tay áo đưa lên ngang ngực, chỉ có miệng lưỡi là mấp máy thôi. Họ ngạc nhiên khi thấy người Âu châu đi lại luôn và hỏi tôi duyên cớ ấy. Tôi trả lời họ rằng chúng ta bắt chước mặt trời vận chuyển luôn luôn và nước biển luôn luôn chuyển động để được trong vì nếu đứng yên thì nước biển thối hỏng mất.

Các quan nhỏ đối với các quan to cũng phải cung kính như dân, duy chỉ phải quỳ lễ thôi và lễ xong lễ thứ ba thi họ chắp tay lên trên đầu; đứng trước mặt các quan trên, họ cũng không được phe phẩy quạt.

Để tỏ lòng tôn kính khi gặp vua hay các quan cao cấp, họ để tóc xõa trên hoặc lúc ấy tóc còn đang buộc bằng dây thường hay đang bện thì họ rũ vội ra, nếu không làm như thế thì vị quan kia sai cắt liền; điều ấy là một sự nhục lớn vì người Đàng Ngoài cho mớ tóc là tiêu biểu quý nhất của sự tự do của họ. Gặp kẻ ngang hàng, họ chào: Tôi vui mừng với ông; gặp người trên, họ đưa tay trái cho người kia hình như muốn tỏ ra rằng họ cũng săn sóc đến công việc của người này, còn tay phải họ để không, để giúp dập và chống đỡ người trên đối lại với kẻ thù. Còn trong xóm nếu có ông quan to nào trùng tên với một người thì người này muốn tỏ lòng tôn trọng, theo luật nước đổi tên đi; nếu ông quan tên là Ba, thì họ kiêng không nói Ba nhưng nói Tam.

Nói tóm lại, đó là những lễ nghi, những dấu hiệu tôn kính của người Đàng Ngoài dùng lẫn với nhau và để họ tỏ cho những người họ tôn lên trên họ biết. Các vị cố lão được trọng đãi hết sức nên khi một người niên thiếu gặp bực cố lão thường nói: “Thưa cố cháu xin giúp đỡ cố".

(Trang 78 - 87)

Thành Hà Nội

Bây giờ ta sang chuyện Hoàng Thành để biết sự tráng lệ của kinh kỳ (nếu ta có thể gọi một thành phố là một đám nhà tụ tập lại, bao bọc lấy vàn mớ dân cư, không có tường lũy, không có hào hố, không có rào dậu bao bọc lấy và phân giới hạn với chung quanh?). Mặc dầu các nước ngoài gọi vắn tắt là Kinh đô (La Cour) vì vua thường đóng ở đấy. Dân bản xứ thì đặt tên là Kẻ Chợ (Ke Ció) nghĩa là chợ, chợ phiên. Bởi vì, trong xứ có sản vật gì tốt, ngoại quốc có hàng gì đem vào bán, đều đưa đến đây cả, một tháng có hai phiên chợ to, vào ngày mồng một và mười lăm của tuần tráng. Kẻ Chợ chiếm một vùng đồng bằng rất đẹp và rất phì nhiêu, rộng hàng bao nhiêu dặm và đặt trên bờ một con sông phát nguyên tự Trung Hoa. Sông bọc lấy thành thị trong một khuỷu rộng nên việc buôn bán được dễ dàng; thuyền bè luôn đi lại được trên sông; sông còn chia ra nhiều ngành, nhiều sông đào rất có ích cho việc chuyên chở các hàng hóa và làm thuận tiện việc buôn bán các tỉnh ngoài với đô thị.

Người Âu châu nào đến thăm kinh thành (hay Kẻ Chợ tùy theo lối gọi của mỗi người), sẽ thấy nhà cửa ở đấy không phải là những đầu đề để ta ca ngợi, bởi vì nhà cửa ở đây cũng không khác nhà cửa những vùng khác trong nước; muốn làm những nhà đẹp hơn, phải tiêu tốn hơn vì đào sâu 2, 3 thước đã thấy nước rồi, muốn tiện lợi mỗi nhà đào một cái chuôm thả cá hay một cái ao nhỏ không hại sức khỏe, có nước dùng để giặt quần áo, tắm rửa, tưới rau; cá câu để ăn tuy số ao chuôm ít hơn các miền khác. Nhà nào cao lắm thì có tầng gác thứ nhất, nhưng trên có làm nhiều chỗ cao, phòng khi nước lụt thì rút lên ở. Phố xá không lát đá. Dân gian thiếu chút nữa thì tồng ngồng và bao giờ cũng đi chân không như ở khắp trong xứ. Tuy có chỗ bẩn thỉu và đáng xấu hổ, ta cũng nên công nhận rằng thành này có nhiều chỗ rực rỡ lộng lẫy. Thành phố có 72 phường phố, mỗi phường rộng bằng một thành phố trung bình bên Ý Đại Lợi ta, 72 phường đầy những thợ cùng người buôn, muốn tránh sự hỗn độn và giúp ta tìm ngay được thức ta cần dùng, ở cửa mỗi phường có một tấm biển đề rõ thức hàng, tốt hay xấu, thành ra ít khi có người (cả người ngoại quốc) bị nhầm về giá hàng, về phẩm hàng tốt hay xấu, về lượng hàng bán đủ hay thiếu. Trên kia tôi đã nói là người ta chở đến đây tất cả các thứ sản vật trong xứ, của ngoại quốc, chở đến nhiều hơn bất cứ nơi nào trong nước. Vì lẽ ấy nên đức vua muốn các hàng hóa ngoại quốc đều ghé lại xứ, và ngài chỉ ưng rằng các tầu bè Trung Hoa, Nhật Bản, Cao Miên, Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha, Phi Luật Tân, Hòa Lan và các nước khác ở Đông phương muốn vào trong xứ phải ngược sông (Nhị Hà), không được đậu bến nào ngoài bến Kẻ Chợ.

(Trang 109 -112)

Hoàng cung

Nếu từ Kẻ Chợ ta sang hoàng cung thì ta sẽ thấy không phải chỉ có một cung điện đâu mà là một thành phố rất mỹ lệ và rất khang trang tuy kiến trúc điêu khắc, thảm dệt hay đồ đạc không có gì đặc sắc. Nhưng có lính canh gác, các sĩ quan, các chức nghiệp cư dân tất cả các nước đến tụ họp ở đây, trật tự, chế phục, công viên, voi ngựa, binh khí, đạn dược tích trữ ở đây, làm cho hoàng thành có vẻ dị kỳ và quá sức ta diễn tả; tuy cung thất bằng gỗ nhưng có dát vàng và có những bức thêu, những tấm chiếu rất mảnh, có nhiều hình và nhuộm nhiều màu tựa như những bức thảm đắt tiền. Ta còn thấy xây trên những cửa tò vò và những tường dày lạ lùng một cung thất là chỗ vua ở, người ta đồn của người Tàu xây hồi còn cai trị xứ này.

Nhưng để cho khỏi ra ngoài chuyện hoàng cung, ta sẽ không khó nhọc mà biết rằng cung ấy làm trên một rừng cột to và chắc, cao một từng thôi có thang leo lên; cột nhà thì đẹp đẽ và trau chuốt hơn các nhà khác. Để dựng cung, người ta đã gọi những tay kiến trúc rất thiện nghệ và những thợ cả rất lành nghề vì chỉ những người này mới được phép đặt tay vào và chăm nom các công việc của nhà vua. Còn dân gian và phu phen không bao giờ được dùng vào những việc này. Cung điện còn lại đến ngày nay xây trên một chỗ đất cao; và nếu người Đàng Ngoài muốn xây một cung nữa thì họ sẽ chọn chỗ nào có địa thế tiện lợi nhất vừa để cai trị được khắp vùng vừa để tránh lụt cho dễ.

Các gian điện rất rộng rãi; hành lang rộng và đi hun hút mãi, có những sân rộng tiện dụng cho bọn thị thần và các võ sĩ. Trong cung có nhiều viện là chỗ các cung phi ở, các bà hoàng bị coi giữ rất nghiêm ngặt. Viện có gian đẹp gian xấu, người đẹp và có tài sắc thì được ở những gian đẹp nhất và lộng lẫy nhất nhưng tất cả các viện đều thấp hơn cung vua. Các quan thị cũng ở trong khu này; các triều thần cũng vậy, các vị này đông lắm, Số các cung nhân không nhất định, ước chừng năm trăm người nhưng người nào đứng sau số một trăm bị coi như cung nữ, hoàng hậu đứng trên tất cả bọn cung nhân và rất được tôn trọng, tuy ngài không có con. Có bao nhiêu cung phi thì có bấy nhiêu quan thị để coi sóc hành vi của họ và không rời mắt khỏi họ lúc nào. Vua rất trọng đãi các quan thị, ban cho bọn họ những quyền cao, nói cho họ biết những chuyện rất can hệ và đi giao phó cả tính mệnh cho họ. Bọn “tiểu đồng” (pages) cũng đông lắm, có một viên giám đốc trông nom dạy bảo; nhờ ơn chúa, mấy đứa tớ và thầy này bây giờ thành kẻ ngoan đạo hơn là thành bọn thần, nhưng không được phép ra vào cung viện các bà phi.

Trong cung thành còn có một đạo quân hơn năm vạn người đóng trại để hộ vệ vua tùy lúc cần đến, có hơn năm trăm voi nuôi dùng vào việc chiến trận hay để phô trương, phải luyện tập luôn cho voi để giải trí cho...? (on fait faire très-souvent 1’exercice par divertissement). Ngoài ra còn có vô số bọn nô bộc để làm những việc ti tiện trong cung, không kể nhũng người có quyền chỉ huy hay đốc suất lại còn đông hơn nữa.

Cách tiếp rước sứ Tàu

Khi đức vua vi hành, trông giá ngự rất lộng lẫy và uy nghiêm vào mấy ngày trong một năm, hoặc để đi trước đón đường tiếp rước sứ thần Trung Hoa. Tất cả các quan đại thần, đoàn đi tùy giá, bên văn ban cũng như võ bị, ai nấy đeo dấu hiệu của bộ mình và có rất đông thuộc hạ mang chế phục riêng. Lại còn rất nhiều các quan khác nữa cả văn lẫn võ, mặc sức phục rất đẹp, trong số này có nhiều ông chưa được bổ vào phụng sự đức vua nhưng cũng đến chầu chực và khoe khoang được chú ý hơn những kẻ địch của mình để hòng tiến thân và thành tựu, làm tăng vẻ lộng lẫy và uy nghiêm của long giá lên.

Trang phục của bọn tiểu đồng nhất là của binh lính, bộ binh và kỵ binh hợp thành một cảnh sắc huy hoàng và rực rỡ mà ít bậc quân vương gây ra được. Mỗi một đội có một binh phục riêng áo khác màu với đội khác. Binh khí mà mỗi người mang trong những dịp này giáo trường, trường thương, tên, súng hỏa mai, yến nguyệt đao, đoản đao, thương hay siêu đao múa cả hai tay đều trơn tru và sáng nhoáng, có dát vàng, dát bạc, hay nạm ngà...

Thủy quân cũng không kém lộng lẫy. Trên kia tôi đã nói đến số, đến sự đẹp đẽ, đến đặc tính và binh khí của các thuyền chiến; nhưng nói như thế sẽ rất ít nếu tôi không nói cách dùng những thuyền ấy khi vua đồng ý với chúa, phải đem một đoàn thuyền chiến đi đón sứ Trung Hoa, và dàn thuyền ra thành thế trận trên sông để sứ Tàu giải trí. Sự tiếp rước này rất linh đình và xán lạn. Trong lúc tiếp kiến đầu tiên, vua và chúa mặc triều phục theo lối Tần và đi hia, mũi nhọn vênh lên như mũi những chiếc thuyền nhỏ và đội một thứ mão trông rất kỳ khôi. Vua và chúa quỳ lễ bốn lễ và vái một vái dài bái nhận sắc thư của vua Tàu do sứ thần mang đến và giao cho. Đi đâu sứ thần cũng ở bên phải vua và đứng làm người đại diện của hoàng đế, được các đình thần bái mạng. Lễ tiếp nghênh xong rồi thì sứ thần được thù tiếp như người thường nhưng vì ông ta là người ngoại quốc vẫn được tôn trọng như một đường quan.

Một cuộc vui được diễn ra, để nghênh tiếp sứ thần Trung Hoa là một cuộc sắp các thuyền chiến thành hàng năm chiếc một, hàng nọ cách hàng kia đều nhau, thuyền sau nối thuyền trước thành nhiều dãy dài, được trang điểm rất đẹp đẽ. Hai bên bờ sông, trên suốt một quãng dài mấy dặm, có dựng nhiều cột trên cắm cờ màu sắc khác nhau gió luôn luôn làm phấp phới. Các đội bộ binh đóng khắp nơi chỗ này gióng trống, chỗ kia đánh thanh la, có chỗ thổi sáo thổi kèn để đáp lại. Lúc sứ thần sắp đến, quân lính hoan hô vang trời, bắn một loạt súng hỏa mai và thần công để chào; lúc sứ Tàu ở dưới thuyền lên bộ, bọn thuyền thủ bỏ mái chèo tay cầm súng và đợi cho thuyền chiến bắn súng thần công xong, cũng bắn một loạt súng hỏa mai để tỏ dấu vui mừng và hoan hỉ.

Bơi chải

Nhưng khi họ phải tranh giành với nhau để xem ai bơi mau và thử tài bơi hoa điểu (vào những dịp nước lụt), đức vua ngự ra ngoài đô thành, đến một quán dịch theo hiệu lệnh của viên quan chỉ huy, các thuyền chiến đều bơi hết sức nhanh ra khỏi thủy trại, rất có thứ tự lần lượt đến chỗ đậu để các thuyền bắt đầu thi nhau chạy, cái nọ khích cái kia xem cái nào nhanh và ai bơi khéo, bơi khỏe. Bọn thuyền thủ bơi thường không có ghế ngồi, tay cầm chèo, mỗi bên mạn thuyền là hai mươi nhăm đến ba mươi người; khác với thủy thủ Âu châu, họ quay mặt về phía mũi thuyền. Theo hiệu của người hoa tiêu họ bơi có nhịp, rất đều, lúc nhanh, lúc chậm, theo tiếng gõ vào thanh gỗ đặt chéo trên một bệ cao đằng cuối thuyền là chỗ người hoa tiêu lên ngồi để hướng dẫn và điều khiển. Vui nhất là khi ta thấy một chiếc thuyền bị đuổi lại và bị các thuyền khác bỏ xa. Thôi thì tiếng kêu gào, lời chế nhạo, sự xấu hổ làm kích thích bọn trai bạn; bọn này bỏ lối chèo lúc trước, nghiến răng, mắm môi, giậm chân xuống sàn thuyền, thỉnh thoảng lại cổ vũ nhau, gập cong lưng, cúi mình có khi đầu chạm bàn tay cầm mái chèo; thu toàn lực, họ... (arranquent) vội vàng đến nỗi người như sút đi chỉ còn lại một nửa, đầu mái chèo chỉ chạm sơ xuống nước, thuyền bay hơn là trôi đến gần những người khác rồi (?), họ đứng thẳng người lên, không bơi dữ dội như thế nữa, thở một chút đề phòng lúc gần đến đích đã chọn họ còn hơi dấn lên trước nhất. Mà khi đã trông thấy, nhận thấy đích từ đằng xa rồi, thì hình như ngủ say sực tỉnh, họ đứng thẳng mắt trông đích, tay cầm chèo họ đặt tất cả hy vọng vào hai cánh tay họ làm rung chuyển mái chèo, thiếu chút nữa thì chèo gẫy; chân tay rã rời, đấu nghẹo đi, cằm tựa lên một bên vai; giá mái chèo không làm bằng một thứ gỗ mềm và sai khiến được thì nhiều chiếc đã gẫy rồi. Thuyền nào về đích đầu tiên, được thưởng và được hoan hô vang trời.

Đức vua còn đến quán dịch có hai tầng này với các triều thần mỗi khi nước lụt xem nước lên biến những cánh đồng rộng thành bể cả tai hại đến thế nào, ngài cho là một sự vui thích dị kỳ khi đứng trên lầu các này xem bao nhiêu dân đã sống bì bõm trong đồng nước, dùng bao nhiêu thuyền để cái để câu cá cái để vớt đồ, cãi nhau, đánh nhau; xem các trò vui bơi chải và tất cả các quang cảnh vừa vui vừa thảm do nạn nước gây ra.

Thủy quân

Đức vua có hai nghìn chiến thuyền không kể vô số những thuyền con nữa. Tuy vậy thủy quân của ngài cũng không được bằng các hạm đội tàu bên Âu châu về súng ống, quân lực và không bao giờ ngài bảo giữ một số tàu thuyền nhiều như thế đâu. Ngài chỉ cầm chừng vài trăm chiếc galères và frustes đậu ở bến, lúc nào cũng sẵn sàng để chiến đấu, một phần lớn của ngài, một phần của các quan đại thần và thái giám vì có chức vụ trong nước và tùy theo phẩm chất của mình mà phải giữ mỗi người mấy chiếc. Và cái nào cũng phải sửa soạn ra khỏi để phụng sự đức vua. Như thế ngài có thể lập được nhiều thủy đội mà không tốn kém lắm... Trong một cuộc đi thăm tỉnh Bắc… [19] rồi đức vua lên hành hương trên một ngôi đền (hay chùa) của một viên thái giám thân tín của ngài mới lập lên, tôi thấy suốt dọc sông chạy bên đường, trên một quãng dài trông như một rừng (cột buồm) mà số thuyền đi hộ giá ngài nhiều đến nỗi đếm không xuể, tôi đâm chán và mải ngắm một quang cảnh thích ý và vui mắt, tôi giao việc đếm thuyền cho người khác. Những chiến thuyền này dài chừng ba mươi đến ba mươi nhăm thước và rộng chừng mười bốn, mười lăm thước. Không có gì trở ra hai bên sườn như thuyền chiến Âu châu ở đằng đầu, cũng không có mũi nhọn (để đâm thủng tàu bên địch). Bánh lái giống như bánh lái đò chở trên sông, ở cuối thuyền chở không ở một bên mạn những thuyền to như thuyền rồng mỗi bên mạn có hai mươi nhăm mái chèo; thuyền bè có mười tám hoặc hai mươi chiếc thôi. Mỗi mái một người chèo; thành ra thuyền thủ chỉ có từ năm đến sáu chục người vừa chèo chống giỏi, lại vừa chinh chiến quen; đến dịp thì buông tay chèo, họ với súng lúc nào cũng để gần cạnh và họ biết cách dùng rất thắng lợi. Nhiều thuyền không dùng còi, những viên thuyền trưởng ngồi trên, trong cái phòng hay một cái đài cao đặt ở đằng lái, một tay cầm một thanh gỗ gõ vào một thanh khác cầm ở tay kia lúc mau, lúc chậm để sai khiến sức nhanh chậm của thuyền, bọn thủy thủ bơi rất đúng với mệnh lệnh của thuyền tướng. Họ phải là bọn đồng tuổi đồng sức vóc, khéo léo và thạo việc; họ đi chân đất đóng một chiếc khố nhưng mặc áo may cùng một thứ vải với mũ. Trên thuyền chỗ sang trọng nhất ở đằng lái: đấy có một khoang thuyền rất xinh xắn và cân xứng với thuyền, bên ngoài có nét chạm trổ rất đẹp mạ vàng; bên trong có dát vàng, quét sơn tinh tế và phủ những bức thêu bằng lụa; dưới sàn trải chiếu cói mảnh; chung quanh khoang có bao lơn và nhiều cột nhỏ đặt như chung quanh một dãy hành lang; có một hai khẩu thần công đặt trên giá chứa được tám cân đạn. Thuyền cũng có sân (tillac) và... (tenda) mũi thuyền và lái thuyền đều tròn và cất cao khỏi mặt nước chừng bốn năm thước có trạm nhiều hình và lá nổi, thếp vàng, sơn màu rất thanh nhã và đẹp mắt. Mạn thuyền là chỗ đặt bơi chèo cũng được trang điểm bằng những hình chạy thành hàng chung quanh thành. Họ không dùng nhựa thông hoặc mỡ bò phết thuyền, nhưng một thứ sơn thường pha giống như sáp Tây Ban Nha, khi nào ánh nắng vào, thuyền sáng nhoáng làm mắt bị chói không đương nổi. Nhưng thuyền ngự có nhiều vàng dát, bên trong khoang có ít nhiều chỗ mạ vàng; tất cả các mái chèo của những chiếc thuyền này đều mạ (? sơn) vàng. Thuyền nào cũng có mui che, vỉ phủ lên trên để che ánh nắng gay gắt; có những thứ chiếu cói to đan rất khéo, chống lên nhiều con sào và buộc vào những sào ấy bằng dây tơ. Những thuyền của các vương thân đại thần, thái giám cũng được trang hoàng ít nhiều tùy theo chủ nhân những chiếc thuyền này tiêu vào đấy nhiều hay ít. Thuyền cũng có cột và buồm nhưng tôi chỉ thấy họ dùng chèo thôi. Chính vậy bọn chân sào vì lòng tự ái không bao giờ bỏ tay chèo, tuy nhiều khi gió thuận, thổi từ đằng lái lên; họ không muốn đức vua và các thuyền rồng chịu nguy hiểm vì sức gió, chỉ khi nào họ thi bơi, họ mới giương buồm lên mà thôi.

(Trang 99 - 103)

Tết Nguyên đán của người Bắc kỳ

... Tôi bắt đầu nói đến Tết long trọng nhất của người Đàng Ngoài họ gọi là tết Nguyên đán. Mười lăm hôm trước khi hết năm, có phiên chợ miễn thuế (foire franche) mở khắp trong xứ ai cũng được phép đem hàng tốt hạng nhất ra bày bán; (bày bán thế mà) cũng không làm mất những phiên chợ thường. Những lái bạn ở khắp các nơi kéo đến, hy vọng bán được nhiều hàng vì họ tin chắc rằng không có ai, dù khốn nạn nghèo túng đến đâu mà không đem tiền đến mua thức gì. Quý tộc, dân dã, giàu nghèo mỗi người theo sức mình cũng muốn tiêu tiền; hàng đem đến tuy có đắt, người mua tuy có nghèo nhưng không ai là không muốn nhân dịp đầu năm trang hoàng bằng một vật gì mới và lạ. Vì suốt năm không có phiên chợ nào đẹp và lắm tiền như thế nên cuộc tụ hội của dân chúng (đông) quá sức tưởng tượng. Nhưng trên đường thì cướp bộ mà dưới thủy thì cướp sông làm cho các ngả giao thông nguy hiểm đến nỗi sự đi lại vào dịp này không được chắc chắn chút nào; một là vì các tòa án nghỉ việc, hai là vì dân chúng được buông lỏng trong vòng mười lăm ngày này, nên trộm cắp được hành động vô tội khi cái dịp mà chúng chờ xảy ra tại các chỗ hẻm, nơi chúng đứng rình; bởi vậy các lái buôn sợ mắc phải số mệnh hiểm nghèo ở tay quân súc sinh, thường tụ họp lại thành đoàn đông có khí giới hẳn hoi đi trên bộ hoặc dưới thuyền để gìn giữ lấy hàng hóa dù có phải chịu nguy hiểm đến tính mệnh; trước khi giao tranh với quân cướp họ cũng đắn đo cẩn thận và không dám liều, mạo hiểm mà không cầm chắc phần thắng vì giữa cướp với mình, không có sự tha thứ; nếu không thắng được chúng nó và không làm chúng nó thất bại thì mình đành mất xác và mất tiền của. Trong trường hợp này, điều chắc chắn nhất là có sự cẩn trọng đối với thân mình, biết nhượng bộ sức mạnh bất khả kháng khi sự này cưỡng bách ta; bỏ hành lý cho bọn cướp để giữ lấy thân là giản tiện hơn cả.

Lệ đi lễ và cách đem biếu quà cáp của người dưới đối với người trên hôm đầu năm có từ ngày xưa thì bây giờ bắt buộc và có một đạo luật rất nghiêm khắc chế định nên không ai có thể bỏ đi được. Các quan tùy theo phẩm trật của mình (có nhiều người lại tùy theo phẩm trật mình muốn đạt) mỗi năm gửi phẩm vật quý giá về dâng vua... Hạ quan gửi tặng vật về biếu thượng quan; học trò tết thầy, con cháu biếu gia trưởng, và như thế người dưới biếu người mà mình nhận là người đứng ngay hàng trên mình. Vì lễ vật nhận được rất nhiều và đủ các thứ, nên các quan có tục vào những ngày tất niên đem thết bà con và thân hữu một phấn to: còn lại thì cho lính tráng, đầy tớ để cho ai cũng có cảm tưởng là được dự vào Tết và mọi người được vui mừng sung sướng. Trong tuần chợ 15 ngày này không ai kiện cáo nhau và các nhân viên đều đóng cửa, nếu có xảy ra việc gì khẩn yếu và có ai gây ra tội đại ác thì các quan thẩm phán xét đoán qua loa kết tội rất nặng rồi đuổi nguyên bị đi để cố cho sang năm mới không còn việc gì phải xem xét giải quyết nữa. Bọn thường phạm mắc tội nhẹ không quan trọng có thể tự do ra khỏi ngục mà không bị truy cứu nữa. Những bọn phạm nhân bị hành hình trước ngày Tết, các việc hộ không bàn cãi đến nữa, để lùi lại và thôi luôn thể.

Chiều hôm ba mươi Tết, mọi người đều trồng trước nhà một cây khô, hoặc một cái sào trên ngọn buộc một cái giỏ bé (không phải một lá cờ nhỏ) chung quanh có viền giấy mã, lóng lánh như kim tuyến, cái giỏ và giấy trang kim này buộc ở trên ngọn sào có ý nghĩa là tiêu trừ tà ma ra xa chỗ nhà ở cũng như cắm bồ nhìn trên ruộng gai hay những đất mới vãi hột để đuổi chim chóc. Nếu không có cái vật đáng sợ này trấn áp ở trước cửa thì thế nào ma quỷ cũng xông vào nhà để gieo tai vạ suốt năm, thảng hoặc có ai quên không trồng nêu thì mọi người sẽ chỉ trỏ người ấy và sẽ bàn tán ầm ĩ lên rằng nhà người ấy có ma.

Cũng để trừ tà ma họ đem vôi tôi rồi quét trắng lên trên ngạch và đầu cột cửa, vẽ chi chít lên chung quanh đấy nhiều hình con mèo (?) họ gọi là ấn tín của trời và hình ảnh Thích Ca (Xaca)... Họ tin rằng những hình ấy có thể ngăn cản tà ma không vào được nhà, còn muốn khu trục những tà ma đã nhập vào nhà rồi thì trên các cột nhà họ dán những hình thù ghê gớm dưới có biên chữ rất lạ rất khó hiểu để nguyền rủa và dọa nạt tà ma và để thư phù những nhà nào bị ma quỷ ám. Các ông già bà cả ma làm thì bỏ nhà lên núi hoặc đến trú ẩn tại các đền chùa để trốn tránh “thương”, quỷ là kẻ thù của các cụ già và chỉ tìm các cụ này để vật chết.

Bọn trai trẻ thì suốt đêm đi chơi, nhảy hát chẳng sợ hãi gì cả, vào mọi nhà chúc mừng năm mới để lấy thưởng. Được tiền thì họ giữ lấy để tiêu dùng suốt trong dịp Tết.

Trong dịp này ai đi bè đi sông cũng đặt bàn thờ tiên sư ở đàng lái thuyền khấn nguyện ngài che chở cho và dâng cúng nến hương và nhiều lễ vật khác nữa.

Sau lúc giao thừa là lúc năm mới bắt đầu thì không ai được phép đóng cửa, ngõ vì ông bà ông vải hôm ấy về, họ phải sắp sẵn giường chiếu, họ cho rằng các cụ đi đường mệt lắm và cẩn phải nghỉ ngơi chút ít. Họ rất chăm nom đến các cụ, sợ rằng các cụ không thích nằm lại muốn ngồi, họ trải lên sàn nhà lau chùi rất sạch sẽ một chiếc chiếu hẹp; họ lại sắp sẵn một đôi guốc hoặc một đôi dép đế to bên cạnh một be nước để gần cửa vào để các cụ rửa chân (người Bắc kỳ thường đi đất, không có ao để rửa chân, thì ở bậc cửa có be nước họ dùng rửa chân, giữ chân sạch sẽ và trơn tru mãi đến lúc lên giường, guốc hay dép không có hai quai đa phần có dây buộc luôn chung quanh ngón chân người nào cũng dùng đi trong nhà sau khi đã rửa chân, hoặc khi đau yếu để đi lại trong phòng). Họ còn thêm vào hai cây mía để ông bà ông vải có thiếu sức thì dùng để chống mà đi... Cúng ông bà ông vải xong thì trong ba hôm tết họ không quét nhà, dù nhà bẩn thỉu và đầy rác rưởi...

Nhưng muốn xem một quang cảnh tò mò và đẹp đẽ nhất thì phải vào hoàng thành. Sáng sớm mồng một, khắp bốn góc thành phố và các vùng lân cận, ta nghe thấy ba cỗ thần công bắn báo hiệu. Đức vua, thấy hiệu súng cởi bỏ y phục ngài bận năm trước và ngày hôm qua tắm nước lạnh, tắm xong bận hoàng bào mới và rực rỡ ra thiết triều tại đại điện, các đại thần đã túc trực sẵn, các hoàng tử vào tung hô mạng trước; tiếp đến các văn quan rồi mới đến các võ thần, các đình thần triều bái xong đức vua lui vào cung để nhận lễ của hoàng hậu, các bà phi, các cung tần và các thị nữ. Hoàng hậu quỳ lễ trước rồi mới đến các người kia theo thứ bậc của mình, lễ cử hành từ lúc chưa rạng đông. Chúa Trịnh cũng cử một viên quan sang triều bái và chúc tụng vua.

Trong lúc ấy thì quân hầu sửa soạn cuộc du xuân của vua. Lúc rạng đông, vua ngự ra khỏi cung, bận bộ hoàng bào rất lộng lẫy, ngồi trên kiệu có năm mươi người khiêng, mọi người đều chú ý đến ngài lúc bấy giờ là hình thể và tiêu biểu của sự cao cả (grandeur). Số người đi tùy giá đông vô kể; quanh năm các chế phục không bao giờ đẹp hơn lúc này; các quan có ông vận phẩm phục rực rỡ ngồi voi đóng bành rất đẹp, có ông mặc quần áo lộng lẫy cưỡi ngựa. Vệ binh đội nào có cờ ấy, cờ bằng lụa mỏng hay bằng nhung, cầm binh khí nạm vàng hoặc bịt bạc sáng nhoáng bóng trơn làm cho đám này được đẹp đẽ hơn lên và đức vua ở trong đoàn bộ binh này tựa như mặt trời chói lọi và tỏa ánh sáng ra chung quanh. Ngài ngồi vừa khiêm tốn vừa nghiêm trang, đầu không cử động, mắt không liếc ngang lúc nào cũng như chăm chú đến một vật đặc biệt. Ngài ngồi uy nghi trang trọng như thế cũng phải vì đã có các quan tùy giá dò xét xem trong lúc vi hành ngài có sơ suất điều gì chăng thì khi trở về triều họ họp bàn với các quan khác rất khắc nghiệt về chuyện thanh giá của đấng quân vương và sự tôn trọng luật nước rồi đức vua sẽ phải phạt tiền; nếu lỗi nhẹ không có ảnh hưởng gì, các quan muốn giấu đi thì ngài chỉ bị tiến gián qua loa thôi.

Trong lúc vua xuất hành thì chúa đi tế trời với bộ hạ thân tín, các quân hộ vệ và các phu thần ở giữa một cánh đồng rộng. Trong khi hành lễ thì chúa tay dâng một chén rượu rất kính cẩn và cúi mình vái dài; xong rồi ngài uống chén rượu đó... Các quan đọc sớ xin trời lúc hạn thì cho mưa và khắp trong bốn mùa lúc nào họ cũng được gió hòa mưa thuận.

Chúa cũng khấn và khấn xong cũng vái một vái dài.

Tế trời xong, muốn khỏi thất lễ với đất, chúa cầm một cái cày rất đẹp, mạ vàng, cày mấy luống và cầu xin đất ban ơn cho mọi người làm cho mùa màng được tốt đẹp. Điện thờ lúc bấy giờ sáng trưng đèn, nến đặt thành hàng đối nhau bốn phía chung quanh và sực nức mùi hương, vàng xong rồi họ dâng nước cho chúa rửa tay và lắp đạn vào ba khẩu thần công bắn. Thế rồi chúa ngự về phủ; các người tùy tùng thì ai về nhà nấy cúng lễ gia tiên.

Nếu hôm ấy mưa, họ cho là điềm tốt, không kêu rên rằng bị ướt, trái lại họ vui mừng và người nào được đẫm mưa nhiều nhất tin rằng đó là tin báo trước cho họ biết năm ấy ruộng, vườn được mùa và thầu nhiều hoa lợi; nếu lúc vua xuất hành mà mưa thì toàn thể dân chúng vui mừng và hoan hô đấng quân thượng. Đức vua có bị mưa ướt cũng vui mừng vì cho đấy là điềm tốt bảo ngài còn được ở ngôi cửu ngũ (dài lâu).

... Còn một tục làm cho khắp nước và các gia đình được yên ổn và thuận hòa. Họ có lệ khi năm hết tết đến, là dàn xếp cho xong những chuyện xích mích của người nọ đối với người kia và đến giảng hòa với kẻ thù địch trước ngày Nguyên đán, hứa với nhau sẽ thành đôi bạn chân thật. Trong ba hôm tết, không ai nổi giận, nói nặng lời hay làm phiền lòng ai vì sợ rằng chính mình sẽ bị giông và đầu năm đã bắt đầu làm điều không tốt thì suốt năm sẽ gặp sự không hay. Ai cũng làm điều lành, ai cũng lên lễ chùa.

Dân bên lương còn có lệ, sau ba ngày tết, vào đám suốt tháng Giêng, mỗi một làng cử ra tám người trông nom việc đình đám để không có điều gì thiếu sót và mọi việc được chu tất, không hỗn độn. Công việc của những người có chức vụ ấy là đem bổ các gia trưởng trong làng phần họ phải đóng góp hoặc bằng đồ vật, hoặc bằng bạc tiền. Mọi người đêcu vui lòng đóng góp, kẻ cúng con bò, kẻ nộp con trâu, có người con dê hoặc gà qué gia súc họ đã nuôi béo để cúng thần. Lễ cử ở đình đúng ngày đúng giờ đã ấn định, mọi người đều đến hội họp đông đủ và trước ban thờ thành hoàng, tám ông tế đám phải quỳ lễ trước tiên.

Những cuộc giải trí của dân chúng lúc đầu năm

Có nhiều cuộc thi tài khéo, khó đến nỗi mắt tinh cũng bị nhầm. Có kẻ thử sức khỏe đánh vật; có kẻ thách đi mau chạy nhanh.

Nhưng đàn bà cũng có một cuộc thi riêng thích hợp với phận sự và công việc của họ hơn là thi vo gạo, nấu cơm khéo và nhanh; củi phải đi kiếm tại một chỗ cách nơi ấy một phần tư dặm, nước cũng phải đến gánh tại một cái giếng (nhất định) rồi quảy củi, nước về, nhóm bếp, đặt nồi, tra gạo; cơm chín, dỡ vào một cái đĩa đặt lên bàn để ban giám khảo đi nếm xem cơm bàn nào nấu vừa và chín khéo có giải thưởng, nhưng giải thưởng không được quý trọng bằng vinh dự đã thắng kẻ cùng dự thi.

Cũng có kẻ đấu thương, bắn súng, nạp thuốc không, có kẻ múa gươm, tre mộc. Nhưng còn một trò chơi rất vui thích vừa cần sức khỏe, vừa cần tài hay; ai thắng tất cả địch thủ được thưởng một tấm lụa; ấy là trò đánh đu...

(Hôm mồng ba) các nhà sư cũng có dự vào đám rước riêng, rất rực rỡ và long trọng. Vị sư trưởng mặc áo riêng màu đen bóng nhoáng; đầu đội mũ, ngồi trên một cái kiệu có phu mặc quần áo kiểu nhà chùa khiêng. Các sư đi theo liền sau ngài, bận áo cà sa tốt và đẹp; cổ đeo tràng hạt bằng thủy tinh nhiều màu lóng lánh. Trước hôm ấy, có một đạo binh rất nhiều quân lính đến đóng giữa một cánh đồng rộng, đóng đầy cho đến khi lễ xong. Khắp mọi phía có thiết lập nhiều hương án thờ các tướng sĩ đã vì nước bỏ mình và đã đem lại sự tự do cho xứ sở; để thờ cả hình ảnh những tướng giặc có tiếng tăm ngày xưa đã hùng cứ và thống trị các vùng trong xứ. Sáng ba mươi tết người ta dẫn ra đấy những súc vật đã nuôi béo và sẽ mổ để tế thần. Vị sư trưởng đi kiệu ra đấy; các sư đi hàng đôi theo sau; rồi mới đến các quan cưỡi ngựa hoặc ngồi voi, bận triều phục rực rỡ. Quân lính kéo đến rất có thứ tự. Khi mọi người đã đến đông đủ, thì có tin về báo đức vua. Loan giá liền rời khỏi điện, có tất cả đình thần đi theo. Đạo ngự ra đến nơi thì dân chúng hoan hô vang trời; các pháp sư và các quan liền bắt đầu khấn khứa ngay, vua lễ bốn lễ cúng vong linh các tướng quân và các tướng giặc anh dũng. Ngài cầm một cái cung và năm mũi tên bắn các nghịch vương nhà Mạc; xong rồi, họ đốt hương, trầm và dâng lễ cúng; khấn các bậc anh hùng đã quá cố che chở cho nhà nước được bình yên và làm cho tên nào có lòng bội phản, còn sống hoặc đã chết rồi, tiệt đi và không có cách bén mảng đến gần biên thùy nữa. Lễ xong thì bắn súng thần công và ba loạt súng trường. Xong rồi thì quân lính tản mát ra khắp cánh đồng ngồi ăn uống tự nhiên không suy nghĩ xem thịt các vật tế thần có ngon, có chín và có dặm không. Họ ăn uống rất ngon lành, xong rồi ai về nhà nấy, nghỉ ngơi chờ cho rã rượu hoặc đánh bạc vui chơi hết cả buổi chiều. Thế là hết tết và ngày hôm sau các nha, ty lại mở cửa làm việc. Cuối năm trước, ấn tín các sở đã đem khóa cất một nơi; muốn các nha, ty lại mở cửa thì ấn tín phải giao trả viên quan coi giữ.

Hình phạt

Luật pháp cấm người chồng bắt được vợ mình trong nhà người đàn ông khác đang thông gian với vợ mình, không được giết người đàn bà; nhưng không cấm người chồng cắt tóc vợ rồi dẫn nó lên quan: quan bắt người dâm phụ thú nhận tội rồi cho đem vứt vào chuồng voi đã được rèn luyện thành đao phủ thủ. Voi dùng vòi quấn lấy người ấy, giơ lên cao quấn thật chặt rồi quật xuống đất dữ dội đến nỗi người đàn bà nghẹt thở, quằn quại, giãy giụa rồi chết đi; nếu thấy chưa chết, voi lấy chân giày đến khi nào người ấy nát ra thành nghìn mảnh.

Tại các tỉnh không có nhà ngục, nhưng trong nhà quan tỉnh cũng có đủ dụng cụ để cầm giữ tra khảo: xiềng, xích, khóa tay và những dụng cụ bằng sắt khác nữa. Nhưng hình phạt thông dụng nhất là gông; gông làm bằng hai thanh gỗ to và dài như một cái thang, có hai miếng gỗ ngang nối thanh nọ với thanh kia, hai miếng gỗ ngang đặt như hai bực thang kẹp đầu vào giữa không thể nào kéo ra được; phạm nhân phải đeo gông đến ngày tuyên án. Nhưng ở Kẻ chợ thì có nhiều ngục thất cho cả việc hình lẫn cả việc hộ. Ở các ngục này (chứa những phạm nhân can án vào việc hộ?) người ta có thể đi lại và giải buồn được; nhưng những ngục hình... làm dưới đất, không có cửa... chỉ có ánh sáng một ngón nến viên ngục đốt thắp cho và bắt tội nhân đến hạn phải trả tiền; nếu người khốn nạn này không có tiền thì ngục tốt không ái ngại, đánh cho máu me đầm đìa, thừa sống thiếu chết, tội nhân không có ai để nói chuyện và than khổ bao giờ... Chỉ có thân quyến mới được phép nói chuyện với tội nhân thôi, đến báo cho người này biết bản án tử hình và tụ họp lại để dẫn ra pháp trường. Ra đến nơi, tội nhân đã thấy có một bữa ăn sắp sẵn; hình như không cho rằng cái chết rất gần, giờ chết chưa chắc đã đến và hắn ta vài phút nữa sẽ bỏ cõi đời, hắn ta ăn bữa cuối cùng và ngào ngốn thịt thà bày hâu hắn. Đến giờ hành hình, đao phủ thủ hoặc một tên lính nào đấy bảo hắn là đến lúc phải tuân vương mệnh; cứ ngồi sệp xuống đất chẳng xê xích đi đâu, hắn đưa tay cho người ta trói gập ra đằng sau. Xong rồi người ta búi tóc hắn lên đỉnh đầu và chẳng cần theo một nghi thức gì khác, đao phủ thủ cầm đao đến gần và hạ thủ. Các thân vương quý tộc không bị chém đầu như bọn thường dân, lưu huyết là một điều nhục nhã đối với tôn tộc, người hoàng phái, quý phái. Vì thế nên các quốc thích chỉ dùng một cái gậy bằng gỗ hoàng đàn dài ba thước, to vừa phải phang một gậy vào đầu cho chết, còn người quý phái nào bị tử hình thì chỉ bị thắt cổ hay treo cổ chết thôi: Một lối chết danh giá nhất, ít nhục nhã nhất... Bọn trộm cướp trước khi chết bị đem bêu ba ngày giữa một công viên cho công chúng sỉ vả, trên một chiếc xe bò dưới ánh nắng gay gắt của mặt trời, chẳng có gì che phủ cả, cách hình phạt này nhục nhã nhất đối với tội nhân và rất có công hiệu đối với quần chúng...

Một quốc thích nào đã làm loạn hoặc xui dân làm loạn thì bị kẹp cổ vào hai chiếc gậy gỗ như vào giữa hai bậc thang rồi những kẻ đứng ra hành hình bóp hết sức chặt làm cho phạm nhân nghẹt thở và chết. Muốn thử xem phạm nhân đã chết chưa, người ta đốt hai chiếc đèn, đem hai bàn chân kề sát vào ngọn lửa; nếu tội nhân hơi còn một chút cảm giác thì hai đao phủ kẹp cho đến khi người ấy chết hẳn không cử động được nữa.

Lính đào ngũ bị xẻo mũi; quan binh đào ngũ bị chặt thêm hai bàn chân. Bọn du côn hay sinh sự cãi nhau, đánh nhau bị chặt một, một nửa hay tất cả các ngón tay.

Nhân dịp này tôi kể một câu chuyện mới xảy ra lúc tiên đế sinh ra đức vua đang tại vị thăng hà. Đức Kim thượng ban chiếu muốn rút nửa lương các võ quan và quân lính. Sự cải cách này không làm vừa ý một quan Thái giám có đạo Gia tô, tên là Antoine, cận thần của tiên đế và đứng vào hàng thứ hai các triều thần, được tiên đế biệt đãi vì tài năng và đức tính; viên thái giám này phẫn nộ đến nỗi dám cầm xé tờ chiếu trước mặt nhiều người. Nhiều viên cố vấn được cắt ra để xét tội khi quân, một phần vì ghen ghét địa vị cao sang của viên thái giám, một phần ghét viên ấy có đạo Gia tô, quyết nghị xin chặt một tay viên thái giám. Thiếu quân muốn tha thứ; ban rằng từ lúc tiên đế thăng hà, hình án này là hình án đầu tiên, ngài không muốn trừng phạt một tín thần của tiên đế, một đại thần lương đống của ngài; hơn nữa tiên đế khuyên ngài trong mọi việc nên có độ lượng quảng đại, khoan hồng hơn là nghiêm khắc. Nhưng các quan biết rõ ý vua nhất định xin thi hành bản án và tâu rằng nếu bắt đầu dung túng những kẻ khinh nhờn phép vua tức là một việc nguy hại đến thanh danh của ngài khi dân chúng đã cảm mến ngài và tin rằng ngài là một vị vua công bình chính trực nhất, hơn nữa đem trừng phạt một vị đại thần, ngài càng làm vững chắc uy danh. Sau cùng đức vua cũng không chịu nhận rằng tội ấy đáng phạt, nhưng bảo các quan nể ngài, phạt rút nhẹ đi một nửa. Viên thái giám tưởng chuyện đến lúc này có thể đút lót các án quan, xin đưa cứ mỗi ngón tay là một trăm đồng vàng. Nhưng các quan trót đã xin vua nghiêm phạt lại muốn tỏ rằng mình không vị lợi, cứ y án; và Thái giám Antoine bị chặt đứt nửa bàn tay...

Sát nhân phải giả tử. Không những phải thường mạng lại còn phải nộp cho ngân khố số tiền thuế người chết phải đóng từ năm hai mươi đến năm sáu mươi: tội nhân không có thì họ hàng phải đóng thay; nếu hắn không có bà con, hoặc họ hàng hắn cùng vô sở xuất thì làng mạc phải chịu. Cũng có khi vua giao kẻ sát nhân cho gia đình người bị giết để cho bọn này tự trả thù lấy bằng các thứ hình phạt cho hả cơn giận. Cách đây không lâu đã có người muốn báo thù cho một thân nhân bị chết đã chém bằng búa và băm kẻ sát nhân ra làm nhiều mảnh từ chân lên đến đâu, để hắn chết dần. Cũng có khi nguyên đơn rút đơn kiện ra thì sát nhân không bị tử hình nhưng được chịu một hình phạt nhẹ hơn tùy từng trường hợp. Những kẻ gian tham trộm cướp không bị tội chết vì thế nên bọn bất lương rất nhiều; nhưng khi có chứng cớ thì họ bị nghiêm phạt, quan cũng vậy. Những người bình sinh là người can đảm mà mắc tội tử hình thì chẳng những được vua tha tội chết cho mà lại còn được trọng dụng trong quân đội.

Huyện quan hay xã quan được phân xử những tội nhẹ và kết án khi số tiền bồi thường không quá giá một con trâu hay một con bò; đền bằng thóc gạo cũng được nhưng phải trả ngay vì cứ để lần lữa thì lãi mỗi ngày một nặng.

Bằng chứng không đủ cũng có cách thẩm vấn nhưng không có lệ đem treo. Tội nặng thì phạm nhân bị tra tấn rất độc ác, sắt đem nung đỏ rồi ép lên mạng mỡ và bụng, nhưng có người gan không chịu cung khai gì cả.

Tang lễ Thanh Đô vương Trịnh Tráng

Thanh Đô vương Trịnh Tráng mất hôm 26 tháng Năm dương lịch năm 1657, thọ 82 tuổi và cầm quyền chính được 37 năm. Được tin phụ vương mất, thế tử là Tạc (Tây vương) và các vương tử em ngài liền thay đồ tang và sang ngay vương phủ. Trong chính điện ngày thường vẫn cử hành những lễ lớn, thi hài Thanh Đô vương [20] đặt trên một cái giá bằng gỗ thơm và quý, giống hình cái ngai bình nhật ngài vẫn ngự, kiểu rất hoa mỹ tráng lệ; giá lót dạ vàng, hai đầu không buông thông xuống đất nhưng kéo lên che kín cả thi thể ngài. Thế tử và các vương đệ, các vương điệt và các người thân thích của Trịnh phủ, ăn mặc sô gai, đầu đội một vòng chạc gai, quỳ lễ khóc bên cạnh giá, nhắc lại những công ơn mà lúc sống ngài ban cho mọi người, vương phi bận áo tang màu trắng và mình phủ một tấm mạng giai, chờ một đại quan đến cạo đầu cho thế tử, các vương tử và các vương thân; lễ thế phát cử hành theo lệnh của vương phi, có ý nghĩa là để biểu lộ lòng kính mến và sự đau thương của con cháu đối với chúa. Nghi lễ hôm đầu chỉ có thế.

Sáng hôm 28 mặt trời vừa mọc, thế tử cùng các vương tử và các vương thân, vẫn mặc tang phục ngày hôm trước [21] sang vương phủ để rước linh cữu chúa từ đại điện sang một gian điện khác. Linh cữu đặt trên một chiếc bàn thếp vàng, bàn phủ đầy hoa thơm; hương thơm của hoa lẫn với hương thoi đốt làm sực nức gian phòng đầy ánh sáng của bao nhiêu đèn bạch lạp. Các hiếu chủ chờ đến đầu giờ thứ hăm ba (giờ Tý) đã được các nhà chiêm tinh học chọn và cho là tốt bắt đầu rước linh cữu vào tỉnh Thanh Hóa là nơi nhà chúa phát tích và đã được chọn làm lăng tẩm của Trịnh gia.

Ba vị đại thần cao vào bực nhất được cử ra để hộ tống linh cữu trong bốn ngày đường cách kinh đô; ba quan khâm mạng, trước khi nhận cái vinh dự mà (tiên) chúa ban cho, hứa trước các triều quan sẽ hết sức làm để tỏ lòng tôn kính tiên chúa, để khỏi phụ lòng hiếu kính của tân chúa và các vương đệ ngài; để cho tang lễ, nếu không xứng được với công nghiệp của tiên chúa thì cũng tỏ rõ được sự tận tâm, lòng kính cẩn và ý tôn trọng của họ đối với một bực chúa có nhân từ và độ lượng. Ba ông ấy còn tuyên thệ là hết sức giữ kín không cho ai biết chỗ họ phải đem an táng tiên chúa. Lễ tuyên thệ vừa xong thì một hồi trống rung để báo hiệu đám tang bắt đầu đi. Đám dài lắm, gần một dặm đường từ vương phủ ra đến sông (elle occupait pres d’une lieue de chemin qu’il y a du Palais à la rivière). Cấm binh đi đầu, người nào mình cũng mặc một chiếc áo chùng bằng vải tốt màu lam sẫm, đầu cũng đội một cái mũ cùng một thứ vải, cùng một thứ màu với áo. Một vạn rưỡi lính, vác súng hoặc cầm kích đứng thành hàng hai bên dọc đường - đường rất rộng - như hàng rào để giữ trật tự vì dân gian đi xem đông lắm. Một cơ lính mặc áo trắng tay cầm gậy sơn đến đóng ở các đầu phố không cho người qua lại chỉ trừ những vị có quyền hành thôi.

Trong đám rước trước nhất ta thấy ở trong vương phủ ra, một cái cột đường kính đo được sáu gang (palmes) và cao sáu mươi gang, trên đỉnh có đặt ba quả cầu. Thân cột phủ một lần lụa quý, có chữ vàng chữ bạc, thuật sự nghiệp của Thanh Đô vương. Cột đặt lên trên mấy bánh xe có người điều khiển; muốn cho cột khỏi nghiêng về một bên nào hoặc đổ ngã, có nhiều người có tiếng là thành thuộc, tay cầm dây, có lúc thả chùng, có lúc căng thẳng làm cho cột được thăng bằng hình như đặt trên một cái bệ chắc đứng im chớ không phải đặt trên một cái xe đang tiến nữa.

Sau chiếc cột ấy, có một chiếc xe nữa gần toàn bằng vàng, trên có đắp hình nổi một thành thị có tường xây bốn chung quanh có nhiều đường rộng và pháo đài vây bọc. Rồi đến một cái xe thứ ba trên đặt một chiếc ngai vừa đẹp và sang vừa đắt tiền và lộng lẫy bằng vàng và bằng ngà; trên ngai đặt vương miện của tiên chúa. Các bảo vật trên đấy đều để hở cho dân chúng xem. Phường bát âm có nhiều nhạc khí không hát, nhưng hòa theo lời than vãn và tiếng thở dài của tang quyến và những người thương khóc Thanh Đô vương. Sau phường bát âm là các quan và các thân vương, mặc áo tang màu trắng thô, cứng như áo ráp thầy tu (cilice) may không phải bằng vải, nhưng bằng vỏ và lá cây bọn dân quê nghèo vẫn thường dùng. Bọn thái giám và các võ quan cao thấp của chúa được đi gần nhà táng phủ trên áo quan và có người khiêng cho đến lúc hạ huyệt. Các quan và các thân vương khác đi liền trước “đòn” (brancard). Thế tử và các vương đệ đi sau “đòn” vẫn mặc thứ quần áo tôi đã tả trên kia, đi chân đất, đầu đeo tóc giả và cắm râu giả, màu trắng, tay chống gậy, đi lom khom như các cụ già cao niên, yếu ớt khổ sở và không có người nương tựa, hình như để tỏ rằng tiên chúa mất đi tức là họ mất hết cả hy vọng và họ không nhờ cậy được vào ai nữa. Số những đàn ông các quan, người nhà của chúa, đi đưa đám không dưới một nghìn; các công chúa, các phu nhân trong vương phủ, vào số tám chín trăm người, trùm thứ mạng và mặc thứ áo tôi đã nói ở trên, đi theo liền sau đấy. Cuối cùng là bốn nghìn thân binh mang khí giới. Ra đến bờ sông thì mọi người đứng lại nghỉ cho hết mệt.

Thuyền rồng của chúa đã bỏ neo sẵn và được trần thiết long trọng hơn mọi ngày; áo quan mang xuống thuyền thì một loạt súng thần công và súng trường bắn. Mui thuyền lợp bằng vải dệt bằng vàng, sàn thuyền phủ thảm Ba Tư đắt tiền và quý giá; bọn phu thuyền mặc những thứ hàng dị kỳ và lộng lẫy. Hai chiếc thuyền khác, từ mũi đến lái, thếp vàng cả bên trong lẫn bên ngoài ghé sát vào bờ để chở chiếc thứ nhất cảnh thành thị đắp nổi; chiếc thứ hai, cái nhà táng.

Sửa soạn xong thì có hiệu cho thuyền nhổ neo; ai có phận sự trên thuyền đều lên chỗ mình làm và cầm lấy mái chèo bơi; bắt đầu bơi từ từ và đúng dịp để cho thế tử và các vương đệ được tròn lòng hiếu thảo với tiên vương. Đợi cho thuyền đi đến chỗ khuỷu sống khuất đi, thế tử và các vương đệ mới trở về phủ. Thế tử cùng em ngài lúc trước đã phải giẫm chân xuống nước và xuống bùn rất lâu khi đó buồn rầu lặng lẽ trở về cung. Ngài không nói năng với các em và các quan đi đưa về, người nào mặt cũng rầu rầu.

Dân gian phải để tang chúa 27 bữa, trong thời kỳ này không ai được mở tiệc ăn uống, cưới xin hay kiện tụng. Nhà chúa còn ban lệnh trong hạn ba năm không được vào đám hội hè gì long trọng, cấm ngặt đờn ca, múa hát, diễn kịch hoặc cuộc vui tương tự.

Nhưng đám ma đưa như thế chưa phải là đã hết; đấy mới phác họa một điều dự định lớn lao người ta hoãn lại để đến khi đem thực hành được thêm phần long trọng. Bao nhiêu thợ khéo đều làm; chi phí có tốn kém lạ lùng thì đã có dân gian vui lòng đóng góp thêm vào để làm cho đám ma tiên chúa được thêm phần rực rỡ. Sau đây tôi sẽ nói rõ ràng.

Tây vương Trịnh Tạc và các gia thần tin rằng có nhiều lý lẽ bắt buộc ngài còn phải làm cho đám ma của tiên chúa được lộng lẫy và tráng lệ hơn lúc đầu. Muốn làm hiển danh phụ vương và hy vọng rằng sau này còn có những cuộc vinh diệu hơn và nhiều sự diễn tả rực rỡ hơn. Trước hết ngài chọn một chỗ có bề thế và vị trí xứng đáng với tang lễ tiên vương; ấy là một hòn đảo nổi ở giữa sông, dài ba lý từ bắc đến nam, rộng hơn một lý, chu vi được chừng bảy, tám lý, rất đẹp đẽ và thuận tiện. Ngài cho vạch lên cát đồ án những đài kỷ niệm sẽ phải dùng nhiều thợ đủ các nghệ và đủ tài khéo dựng lên đấy mà không bỏ hẳn ý kiến lúc ban đầu là xây dựng cả một thành phố mới, một triều đình mới có đủ vật dụng của một kinh đô. Việc xây dựng đến 28 tháng Chạp dương lịch xong, bọn thợ thuyền không thích gì hơn là được cái vinh dự đã đem tài hay nghệ khéo giúp chúa. Rồi người ta xem lịch chọn ngày hành lễ, muốn cho dân gian khỏi mất dịp xem từ một quang cảnh tráng lệ và mới lạ như thế này, từ hôm trước người ta đã cho phép dân gian vào dạo chơi và xem xét cẩn thận công cuộc trọng đại này. Thành quách hình vuông, xây trên cát, theo bờ con sông bao bọc lấy hòn đảo chung quanh. Về phía Nam, có một cái cột cao lạ lùng đặt trên những cái bệ lớn vô kể; bệ có phủ vàng quỳ, đỉnh cột có đặt ba quả cầu cũng bằng vàng, thân cột cũng có quấn vải dệt bằng vàng và treo nhiều cờ, biển bằng gấm, vóc đắt tiền gió thổi làm phấp phới luôn luôn; trên mặt các cờ biển này có đính những dòng chữ bằng vàng, bạc ca tụng công danh và sự nghiệp tiên vương. Hai bên cột có tượng 2 vịt bầu cao lớn mang cung tên. Cách đấy ít nhiều, đi lên phía bắc, có một con đường rộng trên có nhiều đội kỵ binh dàn thành thế trận và nhiều tàu tượng có đóng bành đẹp và trên lưng có đặt những đài thếp vàng trong có quân sĩ mang khí giới và mặc những binh phục đắt tiền và lạ mắt, ở khu trung ương, có dựng 21 cái tháp vào 3 chỗ khác nhau, tháp giữa cao nhất, to nhất, được chạm trổ, nạm vàng dát bạc nhiều nhất, tháp này hình vuông và ít ra cũng cao 12 sải, mỗi mặt rộng 2 sải rưỡi. Tháp đứng được là có nhiều xà bắt vào nhau; những xà này có dán giấy sơn và cắt ra từng mảnh thành nhiều hình đặt cân đối với nhau rất đẹp, mỗi một tháp cao 7 từng, mặt nào cũng có cửa rộng soi sáng bên trong có bày rất nhiều tượng các tướng sĩ thuộc hạ của chúa bấy giờ, tướng nào cũng mặc sắc phục đẹp và xếp theo chức tước của người thực. Lên quá vùng tháp này, ta thấy hai lâu đài làm ngạc nhiên khách đi xem và có trang hoàng bằng những hình nổi. Tòa lâu đài quý giá nhất và tráng lệ nhất hơn tòa lâu đài kia nhiều vì mái và tường có phủ gấm ở đâu bốn góc và nóc có chồng năm quả cầu bằng vàng lúc có mặt trời làm mắt chói lòa không chịu nổi. Lâu đài thứ hai tuy bé hơn và không đẹp bằng nhưng cũng không thua về kiến trúc và mỹ thuật; các hình bằng giấy trang kim, các hình bằng vải nhuộm đủ các màu trước hết đem cắt ra thành nhiều dải, dải ấy cắt ra thành nhiều mảnh, sau lại cho những thợ chuyên môn chắp vá khâu lại thành những hình đẹp và làm lạ mắt khách đi xem đến nỗi họ không rời bước đi được và tưởng rằng không có gì đẹp đáng xem hơn. Muốn từ các xóm ngoài này vào thành chính đã có ba cửa to; thành có chừng dưới bốn trăm nhà bằng gỗ, có cái sơn màu, có cái thếp vàng, xếp rất cân xứng và khéo léo (proportion et grâce) làm ta tưởng giá đem sang Âu châu thì quy mô và kiến trúc này còn được quý chuộng hơn, vì dân bên này không hiểu thế nào là cân đối. Nhà không làm liên tiếp nhau, nhưng cách nhau; (ở khu giữa) các nhà đối diện nhau và cách đều nhau để chừa ra ở giữa một khu trống làm con đường chính cuối đường, cung thành hiện ra thành một cảnh làm người ta say mê ít khi được thấy. Những nhà khác dựng lên khắp chỗ bao bọc lấy nhiều con đường ngoằn ngoèo và dùng làm những khu phụ thuộc của cung thành. Bên trong, mỗi nhà đều căng toàn lụa nguyên tấm hoặc lụa có điểm hoa vàng. Gian nào cũng có hành lang chạy chung quanh, và hành lang có bao lơn bằng đồng, giống những đồng tiền lưu hành trong xứ và giống những đồng tiền demi bajoques bên Ý Đại Lợi ta. Nhà của trưởng tử [22] tên là Tho còn sang hơn những nhà này vì ngài muốn bao lơn không những chỉ có đồng nhưng ở giữa còn đeo thêm nhiều vòng bạc và trên đầu có đặt nhiều hòn tròn bằng bạc; sự xa phí này, không những chỉ làm cho nhà xán lạn và tráng lệ hơn lại còn tỏ ra rằng chủ nhân hào phóng và nhân công tài khéo vì ông này, muốn cho nhà khỏi gió mưa, còn dùng bạc lợp lên cả mái (nếu nhà không dựng lên nhiều cột lớn thì không bao giờ chịu nổi một sức nặng quá chừng thế được).

Người ta còn khen ngợi một tòa nhà nữa do một viên thái giám dựng lên gần tòa nhà nói trên, trong có giăng gấm, vóc mua bên Tàu thêu hoa và hình vàng, quý giá và dệt kỹ người Đàng Ngoài chưa bao giờ được thấy. Ở ngay lối vào nhà nào cũng có những buồng ngăn hoặc gian dài bịt kín trong có chứa chừng ba bốn trăm bao gạo, mỗi bao nặng từ một trăm đến trăm hai mươi cân ta. Các quan trấn thủ các tỉnh gửi về dâng các phẩm vật: hoặc ngựa đã thuần thục có yên cương, hoặc rất nhiều bò, trâu; các quan trọng nhậm miền thượng du gửi về dâng sơn dương, hươu nai, hoặc hổ, lang chó hoặc mèo rừng còn sống, không kể các giống chim rất quý; đã bắt được các súc vật này đều đem nhốt vào một chỗ, trong cung thành mới, mỗi loại vào một nơi.

Cuối cùng thì đến tòa đại điện mà thế tử dựng lên để thờ tiên vương giữa một công viên rộng để chứa số dân gian ở khắp các nơi về xem một quang cảnh rất hiếm và rất lạ. Tuy vậy tòa cung điện này cũng không rộng bằng tòa cung điện mà sinh thời tiến vương vẫn ngự, tuy hai tòa cũng một kiểu và chỉ có khác nhau về to rộng. Vào bên trong các cửa chạy dài chung quanh thành hành lang có rất nhiều cột, nhiều nhưng không hỗn độn, trên có nhiều biển hiệu và câu đối bằng chữ nho.

Gần cung, có một cái bệ phủ vàng, trên có rải nhiều hoa và đốt nhiều hương lúc nào cũng nghi ngút. Trên bệ có đặt một cái ngai, toàn bằng vàng và bằng ngà. Áo bào kiểu rất hiếm và lạ, khéo hơn kiểu point d’Espagne [23] và các y phục kỳ lạ nhất bên Âu châu, được đem đặt lên trên bệ, tỏa xuống cả đến chân ngai; có cả chiếc mũ miện đặt lên chỗ cao nhất chiếc ngai. Chỗ ấy có hai chữ đại tự tỏ rõ ý kiến của thế tử đối với tiên vương có nghĩa là “luôn luôn có mặt” (tanquam presenti).

Bây giờ chỉ còn xem đoạn cuối của tang lễ, những nghi lễ cử hành và những vai trò có mặt trong đoạn này.

Các việc đã cắt đặt theo thứ tự đã định và tôi đã nói ở trên; để cử hành nghi lễ cuối cùng trong tang lễ, ba vạn rưỡi người mặc tang phục, đi hàng năm từ vương phủ đi ra, hồi đêm 29 tháng Chạp, kẻ bồng súng người cầm thương, tiến về phía thành phố mới dựng. Đến nơi thì họ chia ra làm nhiều đội, đứng vòng chung quanh thành và giữ trật tự trong đám dân gian từ khắp nơi đến xem. Sáng hôm sau, Tây vương cùng bốn vương đệ, đi dưới hai mươi bốn chiếc tàn bằng lụa quý có dệt vàng, qua một cái cầu mới dựng từ chỗ phủ ngài ở ngoài thành Hà Nội (trên bờ sông) sang đến bờ bên kia hòn đảo tôi đã nói ở trên. Đi theo ngài có tất cả các quan chức thân thích của Trịnh gia, tất cả các thái giám, các vương phi, công chúa và bốn nghìn vệ binh bên sườn có đeo gươm to chuôi vàng hoặc bạc.

Lúc Tây Vương sắp đến tòa đài chính đã tả trên kia, thì các vương đệ và các quan đứng lại thành hai vòng hình bán nguyệt, giãn ra để ngài tiến lên một mình giữa hai hàng lính đứng im phăng phắc. Ngài đến gõ cửa đài thì có một viên quan còn trẻ tuổi giọng rất tốt, cất tiếng buồn rầu và thê thảm lên khấn thần coi giữ đài này ứng nghiệm những lời cầu khẩn đại ý như sau đây.

“Cách đây mấy tháng, một vị chúa rất giàu, rất hiền và rất mạnh lìa bỏ cõi đời này để lên nơi bất tử. Ngài để lại tất cả đất đai cho con cháu không giữ lấy một đồng tiền nhỏ để tiếu dùng. Bây giờ có tin ngài hiện như trơ trọi đi lang thang trong một xứ lạ, không binh lính để chống giữ, không ngựa voi để tự vệ, không kẻ hầu người hạ để giữ địa vị của ngài, không lầu các nguy nga để làm nơi tĩnh dưỡng. Ta nghe thấy nói ở đây có tòa lâu đài tráng lệ nguy nga nên đến để điều đình và ngỏ rõ ý thích mua; nếu chủ nhân muốn nhượng lại cho ta thì sẽ được lợi nhiều vì đòi bao nhiêu ta cũng trả và ta còn mang ơn riêng nữa, vì giá càng đắt càng tỏ rõ ý phóng túng của ta và lòng hiếu thảo của ta đối với tiên chúa”. Viên quan trẻ tuổi đọc xong thì bên trong đài có tiếng trả lời ra to và sang sảng ai ở ngoài cũng nghe được dễ dàng cả: “Chúng tôi đang được yên vui sung sướng, lúc chúng tôi định xây dựng tòa lâu đài này để dâng một vị chúa có oai quyền to và công đức lớn. Tôi vui lòng nhường lại tòa lầu này nếu ba vị kia không phản đối”. Thế tử và các vương đệ liền ra cửa đông đài này, cho tuyên đọc lời ca trước: người ở trong cửa đông cũng trả lời như người cửa bắc; các vương tử sang cửa nam rồi sang cửa tây đến đâu cũng hỏi và cũng được trả lời như trên. Hai bên đã ổn thỏa về giá, viên quan trẻ liền hô: “Thành và cung thuộc quyền chúa sử dụng”. Tức thời các nơi đều tới bắn một loạt súng lớn và súng nhỏ, dân gian đều hò reo chào mừng tân chúa. Xong rồi tân chúa liền ngự vào cung mới vẫn có đủ các quan tùy giá theo thứ tự và những nghi tiết kể trên.

Được công nhận là chúa tể đô thị mới rồi thì khi đến cửa lớn đại cung ngài được người ta rước vào tế thất là cho sẽ cử hành tang lễ. Ngài đến quỳ giữa, hai bên có hai quan chủ lễ, nghe đọc bài văn tế kể lại sự nghiệp và công danh của tiên vương. Mọi người đứng yên, im phăng phắc, mắt và tay không đưa đẩy nhúc nhích, không dám (đằng hắng) khạc nhổ. Tân chúa, các vương tử, các quan đều vận y phục như hôm rước linh cữu tiên vương ra bến quỳ nghe đọc xong bài văn tế. Xong rồi ngài đưa mắt đầy lệ, nhìn gian điện ngài tặng tiên vương.

Vua Lê vì địa vị là vua chính danh, không thể thân đến dự lễ được, có cử một quan đại thần (le grand chancelier) đến thay, ông này thay vua dự vào đủ các lễ, lúc nào cũng đứng hàng trên và đi trước cả tân chúa.

Tây Vương và các vương đệ theo đủ mọi lệ đối với tiên vương giữa những tiếng kèn tiếng trống, tiếng chiêng và tiếng địch đinh tai nhức óc, các thân thích của nhà chúa có chức tước vào số bốn nghìn lại có thêm sáu trăm viên quan khác đều phủ phục hành lễ như các vương tử.

Cụ linh mục trưởng xứ đạo ta ở đây cũng đỉ chân đất đội mũ đen, mặc áo đen theo liền sau các ngài, quỳ gối lễ, làm đẹp lòng tân chúa lắm.

Sư trưởng và các vị sư bận áo đỏ, đầu đội mũ ni đến giữa điện đọc kinh rồi rút lui.

Sau cùng các văn quan và võ tướng lần lượt theo thứ bậc và nghi tiết vào lễ.

Tân vương, phải đứng lâu, có khi lại phải quỳ lễ, không được ngồi nghỉ phút nào, rất mệt nhọc, sắp sửa ra về thì có sứ của các chúa Bao, Ciucanghe và Aua (Thuận Hóa) đến dâng đồ phúng bằng vàng, bạc nến và tỏ lời ai điếu của các chúa họ tự coi như là phụ thuộc vào hàng chư hầu của tiên chúa: Tân vương còn phải đang ở lại để nhận lệ và đáp lễ các quan sứ.

Đến một hai giờ chiều tân vương mới ngự về phủ đủ các quan tùy giá như lúc đi.

Đến tám giờ tối (đúng vào giờ chúa về chầu trời hồi tháng Năm) thì người ta châm lửa đốt tòa thành lộng lẫy nguy nga ấy, sau khi đã cho dàn lính ra canh khắp các ngả để dân gian khỏi làm lộn xộn và để ngăn không cho một ai được bén mảng đến chỗ lửa chưa lan đến.

Lửa bắt đầu cháy ở các đài, bốn đài chính hình dung của bốn phương trời bị kéo giật đổ xuống đất, kéo đến nỗi ta tưởng tự nó sụp đổ.

Các của cải mà lửa không đốt cháy được như vàng, bạc, gấm vóc (?) quý giá, các vật dụng đắt tiền còn lại thì tân chúa chia ra nhiều phân đem phân phát cho các vệ binh, các thị thân và các binh sĩ nghèo (các ông này còn được thưởng thêm nhiều nữa).

Thường dân chỉ dùng giấy vàng giấy bạc hoặc vải thô thường thôi: còn trong đám tang Thanh Đô vương thì dùng vàng bạc thật, gấm vóc hoặc hàng thêu bằng chỉ vàng chỉ bạc. Chi phí chừng hơn một triệu trong tang lễ chúa Thánh là tên mà họ đặt cho tiên chúa Trịnh Tráng.

« Lùi
Tiến »