PHỤ LỤC: GIÁO SƯ HOÀNG TỤY QUA NHŨNG CÂU CHUYỆN VÀ HỒI ỨC
1. MỘT THỜI TRĂN TRỞ ĐỔI MỚI
NĂM 2015
Trong buổi gặp mặt mừng Giáo sư Hoàng Tụy tròn 88 tuổi tại tòa soạn tạp chí Tia Sáng, ông đã kể lại một số trăn trở của mình trước hiện trạng đất nước và mối quan hệ của thầy với một số lãnh đạo Đảng và nhà nước trước thời Đổi Mới. Dưới đây là lược ghi chuyện kể của Giáo sư. (Tạp chí Tia Sáng.)
Vào đầu những năm 1960, hưởng ứng cuộc vận động đưa khoa học đi vào thực tế đời sống, tôi tạm gác lại việc nghiên cứu giải tích thực vốn là sở trường chuyên môn của tôi để chuyển sang nghiên cứu lý thuyết tối ưu, bắt đầu với vận trù học là môn học có nhiều ứng dụng thực tế hơn. Từ đó, trong nhiều năm, với sự ủng hộ nhiệt thành của Thủ tướng Phạm Văn Đồng, tôi ra sức gây dựng một phong trào rộng khắp ở miền Bắc, đưa vận trù học vào ứng dụng ở các cơ sở sản xuất công, nông nghiệp. Hai năm một lần, chúng tôi tổ chức hội nghị tổng kết toàn miền Bắc về ứng dụng vận trù học; ở mỗi hội nghị, Thủ tướng cùng nhiều vị Bộ trưởng đều đến dự và phát biểu. Có lúc phong trào lôi cuốn hàng nghìn người tham gia, gây sự chú ý của nhiều phóng viên quốc tế ở Hà Nội. Trong một bài phóng sự về Việt Nam đăng trên báo Pháp Le Monde, tác giả đã tường thuật một cách thú vị về các hoạt động vận trù học ở quanh vùng Hà Nội, Hải Phòng, và tỏ ý vô cùng ngạc nhiên khi thấy cả một số thành tựu vận trù học vừa mới ra đời ở Mỹ cách đó chỉ vài năm (như phương pháp PERT) mà đã được ứng dụng ở ngay đây. Lúc ấy, Việt Nam là một đất nước mà cả thế giới đều biết còn rất nghèo và lạc hậu, lại đang oằn mình dưới những trận bom ác liệt của không quân Mỹ. Để đánh giá việc ứng dụng vận trù học ở miền Bắc vào giai đoạn này thành công đến mức độ nào thì khó nói cụ thể, nhưng ít nhất nó cũng đã đem lại một hiệu quả thiết thực: trước đó nhân dân làm việc chỉ cốt đạt mục đích, bất kể đến hiệu quả, nhưng sau khi có phong trào vân trù học, mọi người đã có ý thức biết tính toán, cân nhắc lựa chọn cách làm việc và hoạt động sao cho tốn ít phương tiện, mà đạt được hiệu quả cao. Cùng với đó, dần dần, từ “vận trù” (với ý nghĩa biết tính toán, so sánh nhiều phương án hoạt động) len lỏi vào cả trong ngôn ngữ thường ngày của người dân. Đó cũng là một nét văn hóa góp phần làm giảm lãng phí, tăng năng suất lao động xã hội, ảnh hưởng rõ rệt đến sự phát triển kinh tế.
Nhưng vận trù học chỉ mới áp dụng được ở cấp xí nghiệp, tức là ở cấp kinh tế vi mô. Để tiến lên tác động vào hiệu quả quản lý cả nền kinh tế quốc dân thì cần nghiên cứu khoa học hệ thống để vận dụng vào kinh tế vĩ mô. Từ các quan sát thực trạng kinh tế xã hội lúc đó, dễ nhận thấy kiểu kinh tế kế hoạch hóa tập trung, duy ý chí, tự cung tự cấp, “ngăn sông cấm chợ” dẫn đến nhiều hệ lụy tệ hại như hiệu quả sản xuất thấp, tham nhũng, lãng phí tràn lan, lãnh đạo ngày càng quan liêu, xa dân, xa thực tế. Mặc dù tôi chỉ mới dám phát biểu những suy ngẫm đó một cách dè dặt, thận trọng, nhưng vẫn bị phản ứng, nói chung không nhận được sự đồng tình của giới quan chức hữu trách, vốn là đối tượng chủ yếu tôi muốn nhắm tới để thuyết phục.
May mắn, đến khoảng đầu thập kỷ 1970, cùng với luận điểm “cách mạng khoa học kỹ thuật là then chốt”, nhân thức của lãnh đạo về vai trò của khoa học, kỹ thuật có sự chuyển biến mạnh. Bộ Chính trị quyết định, mỗi tháng một lần mời các nhà khoa học đến trình bày về một vấn để thời sự khoa học cho toàn thể Trung ương nghe (sau đó có mở rộng ra cho cả cán bộ trung cao cấp xung quanh Trung ương). Vì đã từng khởi xướng vận trù học và đã có một số dịp phát biểu liên quan đến quản lý kinh tế, nên tôi được mời tới nói chuyện lần đầu về các vấn đề khoa học trong quản lý kinh tế xã hội.
Trong buổi nói chuyện đó, tôi nêu ra và phân tích nguyên nhân những hiện tượng tiêu cực đã nổi lên khá trầm trọng trong xã hội lúc bấy giờ như kinh tế sút kém dần, hàng hóa thiếu thốn, không đáp ứng nhu cầu tối thiểu, chợ đen phát triển, cán bộ quan chức nhũng nhiễu, lòng dân bất an. Tôi muốn chỉ ra rằng đó là hậu quả tất yếu của chế độ quản lý kinh tế tập trung, bao cấp, và để khắc phục, tôi đề nghị phải tiến tới phi tập trung hóa quản lý kinh tế. Thực ra, trong trí óc tôi lúc ấy, biện pháp phi tập trung hóa quản lý kinh tế chính là sử dụng cơ chế thị trường, song tôi không dám nói thẳng ra ý đó. Sở dĩ tôi ngại là vì trước đó vài năm, xảy ra vụ Liên Xô đưa quân đội vào Tiệp Khắc và nhà lãnh đạo Alexander Dubcek bị thay thế, nguyên do là ông này đã dám đưa ra chủ trương sử dụng cơ chế thị trường để khắc phục các yếu kém của kinh tế xã hội chủ nghĩa - một chủ trương mà toàn phe xã hội chủ nghĩa đã nhất trí lên án là phản động, trái với học thuyết chính thống về chủ nghĩa xã hội.
Mặc dù khi nói chuyện, tôi không đả động gì đến cơ chế thị trường mà chỉ mới dám nêu ra ý kiến phi tập trung hóa quản lý kinh tế thay cho kế hoạch hóa tập trung, nhưng một số Bộ trưởng cũng khá “thính”, báo ngay cho lãnh đạo Ủy ban Khoa học Nhà nước (nơi tôi công tác lúc đó) rằng tôi có quan điểm “xét lại” cần phải phê phán. Để tránh những cáo buộc do hiểu lầm, tôi viết lại bài nói chuyện và gửi đăng toàn văn trên tạp chí Tin tức Hoạt động Khoa học, giải thích rõ quan điểm khoa học vì sao nên quản lý phi tập trung hóa nền kinh tế.
Bất ngờ một tuần lễ sau, ủy ban Khoa học Nhà nước nhận được thông báo của Văn phòng Tổng bí thư, cho biết Tổng bí thư Lê Duẩn đã đọc bài của tôi và muốn trực tiếp gặp tôi để hỏi thêm, nên đã chỉ thị Uty ban Khoa học Nhà nước đưa tôi xuống Đồ Sơn để làm việc với Tổng bí thư trong mấy ngày.
Cuộc họp có cả đại diện của Ủy ban Khoa học Xã hội, một số cán bộ đầu ngành kinh tế, và Văn phòng Trung ương. Bước vào phòng họp, nhìn thấy Tổng bí thư đem đến bài báo của tôi trong Tin tức Hoạt động Khoa học với chi chít những gạch xanh, gạch đỏ, tôi bắt đầu lo lắng. Thế nhưng thật may, Tổng bí thư nói ngay rằng ông đã đọc kỹ bài này, tuy có một số vấn đề ông thấy cần trao đổi thêm nhưng căn bản ông đồng tình quan điểm nêu trong bài. Hú vía, thế là được giải thoát tội “xét lại” - một tội mà thời đó, nặng thì có thể vào tù, nhẹ cũng bị lắm rắc rối, phiền phức trong công tác và sinh hoạt.
Rồi liên tiếp trong hai ngày, Tổng bí thư chăm chú lắng nghe và hỏi han về cách quản lý phi tập trung như thế nào, và vì sao cơ chế thị trường là biện pháp thực hiện quản lý phi tập trung. Kết thúc cuộc gặp, Tổng bí thư còn bảo Ủy ban Khoa học Nhà nước lập ra một viện giao tôi phụ trách để nghiên cứu về các phương pháp khoa học trong quản lý kinh tế (viện này về sau không ra đời được vì ban Tổ chức Trung ương không thuận). Trần Quỳnh, Phó chủ nhiệm Ủy ban Khoa học Nhà nước, khi kể lại các buổi làm việc của Tổng bí thư với tôi còn cho biết thêm, Tổng bí thư bảo: “Tôi nghe các anh em Toán nói chuyện kinh tế mà thấy còn sâu sắc hơn các cán bộ kinh tế”. Sau đó, mấy vị Bộ trưởng từng phê phán tôi có quan điểm “xét lại” lần lượt cho thư ký đến mời tôi đến nói chuyện ở bộ của họ, coi như một cử chỉ làm lành.
Sự việc trên báo hiệu một sự thay đổi đáng mừng: Thứ nhất, bắt đầu có tiếng nói nêu ra những bất cập của nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung, buộc các nhà lãnh đạo phải suy nghĩ lại. Thứ hai, từ đấy trở đi, các hội nghị trung ương mở rộng bàn về kinh tế thường mời các nhà khoa học đến dự nghe và góp ý kiến.
Sau năm 1975, có một giai đoạn kinh tế hết sức khó khăn. Đó là thời kỳ ăn bo bo, khoai sắn, mì sợi thay cơm một phần mà ai nhớ lại cũng thấy hãi hùng. Khoảng năm 1979, khó khăn lên tới cực điểm. Một hôm, để chuẩn bị cho Hội nghị Trung ương 6, Tổng bí thư mời năm anh em khoa học gồm tôi, Vũ Đinh Cự, Bùi Huy Đáp và hai kỹ sư ngành cơ khí xuống Đồ Sơn để tham khảo ý kiến, giúp tìm ra kế sách vượt qua khủng hoảng. Bốn anh kia đều có chức vụ cao trong bộ máy nhà nước, chỉ riêng tôi không có chức vụ gì, cho nên các anh đều ngại, đẩy tôi ra phát biểu trước.
Vào thời kỳ đó, lý thuyết làm chủ tập thể được coi là một sáng tạo lý luận lớn của Tổng bí thư Lê Duẩn đóng góp vào học thuyết chủ nghĩa xã hội. Trong các buổi sinh hoạt chính trị, hầu như ai phát biểu gì cũng cố liên hệ tới lý thuyết đó để tăng thêm trọng lượng cho ý kiến của minh, dù nhiều khi không thích hợp. Riêng tôi và một số anh em khoa học nghĩ khác, thật sự không thấy thuyết phục.
Vì không quen nói dối để làm vừa lòng cấp trên, tôi mạnh dạn nói thẳng với Tổng bí thư rằng anh em khoa học chúng tôi chưa hiểu lý thuyết làm chủ tập thể, chưa thấy nó có ý nghĩa thiết thực cho việc xây dựng đất nước. Nghe vậy, Tổng bí thư giảng giải một hồi về làm chủ tập thể. Tôi đáp, những điều ông nói đó, chúng tôi đều đã được nghe không chỉ một lần mà nhiều lần trong các buổi thảo luận chính trị. Điều tôi vẫn thắc mắc là tại sao ta nói làm chủ tập thể là một hình thức dân chủ còn cao hơn cả dân chủ xã hội chủ nghĩa, trong khi đó ngay cả cái dân chủ tư sản mà ta thường phê phán thì trên thực tế cũng chưa đạt được như họ. Để minh họa, tôi dẫn ra một số sự việc và sẵn dịp đọc luôn cho Tổng bí thư nghe mấy cấu vè hồi ấy thường lan truyển ở vỉa hè giới trí thức: “Năng làm thì đói, biết nói thì no, biết bò thì sướng, càng bướng càng khổ …”. Hẳn là lần đầu tiên được nghe những lời ngược như vậy nên ông lặng người đi. Nhưng là người lãnh đạo có bản lĩnh, ông trấn tĩnh lại ngay và bảo: “Đúng là ta còn mất dân chủ, có nơi khá nặng, cho nên vừa rồi trong cuộc vận động làm trong sạch Đảng, tôi đã nhắc các tỉnh ủy phải chú trọng kiểm điểm kỹ chuyện này”.
Sau đấy, Tổng bí thư nêu câu hỏi: “Bây giờ làm sao chống tiêu cực?” (Hồi đó tham nhũng còn chưa quá nặng, nên chỉ được gọi nhẹ nhàng là “tiêu cực”.) Tôi trả lời: “Với cách quản lý kinh tế như ta mà không có tiêu cực mới lạ”. Bởi tiền lương không đủ sống buộc người ta phải xoay xở, mà xoay xở thì làm sao không phạm pháp, không tiêu cực. Ban đầu, chỉ có cấp dưới mới không đủ sống bằng lương, nhưng kinh tế khó khăn thì cấp trên cũng không đủ sống bằng lương. Do đó, tiêu cực lan dần lên cấp cao, mà cấp càng cao chừng nào thì càng dễ xoay xở chừng đó. Hơn nữa, vì có lý do đời sống biện minh cho nên tiêu cực dễ được xã hội thông cảm, dung thứ và cứ thế nó phát triển rộng ra, đến lúc cả những cán bộ lương cao cũng tiêu cực. Nói thật ra, với cách quản lý này của ta, gần như ai cũng phải ít nhiều phạm pháp, ít nhiều “ăn cắp”, không “ăn cắp” của dân thì “ăn cắp” của nhà nước, dưới hình thức này hay hình thức khác. Một ông lãnh đạo cấp cao nghe tới đó liền phản ứng gay gắt: “Anh nói không đúng, tôi có ăn cắp đâu và anh chắc cũng không ăn cắp, sao anh có thể nói bừa như vây?” Tôi thưa lại: “Ông là cán bộ cấp cao được nhà nước chu cấp hết mọi khoản thì dĩ nhiên cần gì tiêu cực, trừ phi quá tham. Còn tôi, vì làm khoa học thỉnh thoảng được mời ra nước ngoài làm việc nên chỉ với đồng lương một tháng ở nước ngoài cũng đủ sống cả năm trong nước”. Chỉ có thế thôi chứ chẳng có gì lạ, tôi chỉ nói đúng sự thật dù là sự thật rất khó nghe.
Ngoài vấn đề dân chủ và tiêu cực, tất nhiên, chúng tôi cũng góp ý thẳng thắn về nhiều vấn đề khác, như: nên coi trọng thật sự lợi ích vật chất, không nên chỉ nhấn mạnh một chiều tinh thần; cần bỏ “ngăn sông cấm chợ”, phải để người dân được tự do buôn bán làm ăn, v.v.. Thậm chí có người còn bạo mồm phê phán chính sách trao đổi đối với nông dân thời bao cấp là “mua như cướp, bán như cho”, 42 thật sự đã làm bần cùng hóa nông dân.
Sau cuộc gặp mấy hôm, Tổng bí thư làm việc với ông Nguyên Văn Trân (trong Ban Bí thư và đương nhiệm Viện trưởng Viện Quản lý Kinh tế Trung ương). Ông Trân nói lại, buổi làm việc của chúng tôi với Tổng bí thư ở Đồ Sơn đã có tác dụng rất tốt, góp phần làm cho Nghị quyết Hội nghị Trung ương 6 có được rất nhiều điểm mới, thay đổi hẳn nhiều nhận thức và quan điểm cũ trước đây.
Cùng thời điểm ấy, tôi chuẩn bị đi Canada theo lời mời thỉnh giảng của một số trường đại học. Thủ tướng Phạm Văn Đồng gặp tôi để dặn dò những điều cần thiết khi gặp anh em trí thức Việt kiểu bên đó. Thủ tướng cho biết, với Nghị quyết Hội nghị Trung ương 6, kỳ này chúng ta sẽ chuyển mạnh. Với trí thức Việt kiều, không nên che giấu mà cần phải cho họ biết sự thật về một số khó khăn trong nước, đồng thời nói rõ cho họ thấy quyết tâm của chúng ta.
Sang tới Montreal, tôi được anh em Việt kiều mời nói chuyện trước một cử tọa khoảng vài trăm người. Tôi nói thật với họ chuyện tham nhũng, quan liêu và những thay đổi mạnh về chính sách theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 6. Về sau, tôi được biết anh em trí thức Việt kiều rất phấn khởi vì lần đầu tiên có người từ trong nước sang mà nói thật chứ không che giấu những khó khăn trong nước, anh em tin hơn và giải tỏa được các bức xúc trước đây, khi họ chỉ được nghe một chiều, luôn luôn được bảo những tin tức về tham nhũng trong nước chỉ là tin đồn, bịa đặt hoặc phóng đại của bọn phá hoại. Anh em đều cho rằng, dù có sai lầm, bê bối nhưng một khi các nhà lãnh đạo đã nhìn thấy được sự thật và tỏ rõ quyết tâm sửa đổi thì có hy vọng sẽ sửa được và tình hình sẽ dần tốt lên.
Mấy tháng sau chuyến đi Canada, tôi được mời sang Pháp. Lần này gần sát đến ngày phải lên đường mà thủ tục vẫn chưa xong, tôi tới gặp anh Trần Đại Nghĩa, lúc ấy là Viện trưởng Viện Khoa học Quốc gia. Nghe tôi thắc mắc vì sao mãi vẫn chưa có quyết định đi Pháp, anh Nghĩa bảo tôi: “Lẽ ra tôi không được phép nói, vì đây là công văn mật, nhưng chỗ thân tình, tôi nói thật, không biết anh qua Canada nói những gì mà Sứ quán ta ở đó báo cáo về Bộ Ngoại giao kể tội anh nói xấu chế độ về bảy chính sách lớn. Vì lý do đó, người ta không duyệt để cho anh đi lần này”.
Nhờ anh Nghĩa là nhà khoa học chân chính, rất quý trọng anh em khoa học nên tôi mới được biết có cái công văn mật này. Tôi gọi điện cho anh N., thư ký riêng của Thủ tướng Phạm Văn Đồng, kể lại sự việc và nhờ anh lấy ở Bộ Ngoại giao băng ghi âm buổi nói chuyện của tôi ở Montreal (vì tôi nhớ chắc chắn buổi nói chuyện đó có ghi âm đầy đủ) để kiểm tra xem có đúng tôi nói xấu chế độ như Sứ quán đã báo cáo về nước không. Mấy hôm sau tôi được truyền đạt lại ý kiến của Thủ tướng là tôi chẳng nói gì sai phạm cả. Hóa ra, khi tôi nói chuyện với anh em Việt kiều theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 6, không che giấu sự thật, thì khi đó Sứ quán chưa nhận được thông báo về Nghị quyết Trung ương 6 nên tưởng lầm rằng tôi nói xấu chế độ. Sau đó, tôi được báo thủ tục đi Pháp đã được khai thông, tuy có trễ là vì có mấy việc phải xác minh về chuyến đi Canada của tôi.
Dù câu chuyện kết thúc tốt đẹp, song việc đã xảy ra cũng khiến tôi rất buồn. Nếu không nhờ sự can thiệp của Thủ tướng, thì biết đến bao giờ mới gỡ oan được. Mà đâu thể bất cứ việc gì, bất cứ ai cũng kêu oan được tới Thủ tướng.
Đó là nỗi khổ của anh em trí thức một thời, muốn nói thật cũng phải đắn đo suy nghĩ, nhưng ngay cả khi đắn đo suy nghĩ rồi vẫn có thể gặp khó khăn. Dù sao vẫn còn may vì thời đó có một số người lãnh đạo sáng suốt như Tổng bí thư Lê Duẩn và Thủ tướng Phạm Văn Đồng biết lắng nghe và tôn trọng trí thức.
2. VÀI KỶ NIỆM ĐÁNG NHỚ VỀ ANH TẠ QUANG BỬU
SỐ 22/2007
Tôi có những kỷ niệm khó quên với anh Tạ Quang Bửu, người đối xử thân tình và sẵn sàng giúp đỡ bất cứ ai cần đến, không câu nệ việc lớn việc nhỏ, không tính toán thời gian, công sức, kể cả tiền, nhất là đối với cán bộ khoa học. Thế nên khi anh mất, tôi đã vô cùng hụt hẫng vì khoảng trống anh để lại quá lớn. Đã gần 30 năm rồi, khoảng trống ấy vẫn chưa lấp được, tuy người trẻ, giỏi và tâm huyết ngày nay không thiếu. Đó là điều day dứt không nguôi cho những người đã cùng anh một thời ôm ấp biết bao hoài bão có phần thiếu thực tế nhưng không kém cao cả, vĩ đại.
Tôi trẻ hơn anh khoảng 15 tuổi, gần một thế hệ. Khi tôi mới vào học năm đầu tiên cao đẳng tiểu học (tương đương lớp 7 bây giờ) thì anh đã là một thầy giáo nổi tiếng uyên bác về Toán và khoa học nói chung, và còn nổi tiếng hơn về các hoạt động xã hội, đặc biệt anh là một trong các lãnh tụ hướng đạo sinh thời đó. Sau đảo chính Nhật Bản, anh trở thành lãnh tụ thanh niên, cùng với luật sư Phan Anh xây dựng trường Thanh niên Tiền tuyến Huế (1945) - một trường quân sự kỳ lạ, chỉ tồn tại mấy tháng nhưng đã góp công lớn đào tạo nhiều người sau này trở thành những tướng lĩnh tài năng trong quân đội cách mạng. Sau Cách mạng tháng Tám, anh tham gia Chính phủ kháng chiến và là người đã thay mặt nhà nước ký Hiệp định Genève lập lại hòa bình ở Đông Dương năm 1954.
Như vậy, tuy vô cùng ngưỡng mộ anh, nhưng một thời gian dài tôi chưa bao giờ được hân hạnh gần gũi anh. Những năm dạy học ở Liên khu V và sau này ở Khu học xá Trung ương, thỉnh thoảng tôi được đọc những sách anh viết rất hấp dẫn về những vấn đề khoa học hiện đại, cùng với những kỳ vọng nhiệt thành của anh đối với những nhà khoa học Việt tài năng ở nước ngoài, và chỉ thế thôi.
Cho đến năm 1959, sau khi bảo vệ luận án ở Liên Xô, tôi về nước và đến trình diện ở Ủy ban Khoa học Nhà nước thì mới được gặp anh lần đầu tiên. Lúc ấy, anh là Phó Chủ nhiệm kiêm Tổng thư ký Ủy ban, tôi không chắc gì được gặp, nhưng anh đã tiếp tôi nồng nhiệt và chân tình. Từ đó cho đến khi anh từ giã cõi đời, giữa chúng tôi đã dần dần nảy nở một mối thân tình dựa trên sự quý trọng nhau, mặc dù khoảng cách khá lớn về tuổi tác và còn lớn hơn nữa về địa vị xã hội và vị trí công tác. Một thời gian dài anh là thủ trưởng ở trên cao, còn tôi chỉ là thuộc cấp nhỏ của anh, tuy không “quèn” nhưng lại “có vấn đề” dưới con mắt một số cán bộ chính trị thời ấy đang là cấp phó của anh. Điều đáng quý là tuy biết vậy, nhưng chúng tôi không có mặc cảm gì về tôn ti trật tự, phần anh không bao giờ tỏ ra cấp trên, cũng không bao giờ đề cập “các vấn đề” của tôi mà chắc anh vẫn thường phải nghe các phó của anh báo cáo. Về phía tôi, tuy vẫn ý thức coi anh là bậc đàn anh đáng kính, nhưng không hề bị ảnh hưởng bởi quan niệm kẻ dưới người trên. Sự đối xử dân chủ, bình đẳng với cấp dưới, với người trẻ tuổi hơn, đó là điều khác biệt trong tính cách Tạ Quang Bửu, nhờ đó giữa chúng tôi mới có được mối quan hệ thân tình có vẻ vượt quá lề thói xã hội một cách khó tin như vậy.
Hồi đó Việt Nam vừa từ chiến tranh bước ra, mới bắt đầu xây dựng khoa học, cái gì cũng bỡ ngỡ. Cho nên thật là quý giá có được những nhà lãnh đạo khoa học như anh, không chỉ có hiểu biết khoa học rộng mà còn có tầm nhìn rất xa và nhất là biết thật thà quý trọng con người lao động khoa học.
Tuy anh Tạ Quang Bửu và một số anh cùng thế hệ đều là những nhà khoa học được đào tạo ở phương Tây nhưng cũng đã lâu rồi, từ thời Thế chiến II hay trước nữa, mà từ bấy đến giờ, trong lúc Việt Nam bận kháng chiến chống Pháp, tình hình khoa học và đại học trên thế giới đã có quá nhiều thay đổi sâu sắc. Vào thời ấy, miền Bắc bị cô lập hoàn toàn với phương Tây, nhưng khoa học Liên Xô đang thời cực thịnh, Đại học Quốc gia Moscow và riêng khoa Toán cơ ở đó chiếm vị trí hàng đầu thế giới, với một mật độ tên tuổi khoa học lẫy lừng ít có ngay cả ở các đại học lớn phương Tây. Hơn nữa, tình trạng học phiệt thời Leusenko đã qua rồi, xu hướng dân chủ hóa xã hội đang phát triển sau việc phê phán mạnh mẽ sùng bái cá nhân Stalin, nên nói chung không khí học thuật ở Liên Xô thời đó khá lành mạnh. Anh Bửu đánh giá đúng tình hình này từ sớm nên đã có ý thức tận dụng mọi chuyến công tác ra nước ngoài (chuyến đi Pháp vào khoảng thời gian năm 1945, 1946, và những chuyến công tác chính thức ở Liên Xô và các nước Đông Âu), cho đến cả thư từ trao đổi với nghiên cứu sinh Việt Nam đang học ở Liên Xô (tuy khi đó còn ít), để xây dựng những kênh liên lạc cá nhân nhưng hữu hiệu với giới khoa học ở nước ngoài, qua đó theo dõi và kịp thời cập nhật thông tin về tình hình tổng quát cũng như các xu hướng chính của khoa học và công nghệ thế giới. Như những nhà khoa học từng trải, anh hiểu rằng trong hoạt động khoa học, những kênh liên lạc không chính thức (nhưng chân tình) với bạn bè đồng nghiệp có giá trị gấp nhiều lần những quan hệ nhà nước chính thức (và cũng lắm khi hình thức).
Chính quan niệm đúng đắn đó đã giúp nhiều cho công tác lãnh đạo khoa học của anh. Dù ở cương vị Tổng thư ký Ủy ban Khoa học hay Bộ trưởng Đại học, anh Bửu luôn là một nhà lãnh đạo có đầu óc chiến lược, biết nhìn xa trông rộng. Với khả năng giao tiếp tuyệt vời, anh có rất nhiều bạn bè trong giới bác học ở các nước, về nhiều ngành khác nhau chứ không chỉ về Toán vốn là sở trường của mình.
Tôi đã có lần chứng kiến khả năng xử trí mềm dẻo khôn khéo của anh trong dịp đón tiếp Alexander Grothendieck (huy chương Fields năm 1966), một nhà toán học thiên tài, nhưng tính tình khá bất thường. Nguyên từ lâu Grothendieck đã kịch liệt phản đối cuộc chiến tranh leo thang của Mỹ tại Việt Nam nên năm 1968, để biểu lộ sự phẫn nộ đối với cuộc chiến tranh ấy và bày tỏ cảm tình với nhân dân Việt Nam, ông đã ngỏ lời tặng toàn bộ số tiền thưởng của huy chương Fields cùng mong muốn sang thăm và giúp đỡ giảng dạy bốn tuần ở Đại học Hà Nội, mặc dù lúc đó Mỹ đang ném bom ác liệt miền Bắc. Vừa đến Hà Nội, Grothendieck đề nghị được gặp ngay một gia đình ở đây để trao gói quà do một người bạn Việt Nam nhờ ông chuyển giúp. Dễ hiểu, vì lý do an ninh khắt khe thời chiến, yêu cầu đó của ông bị từ chối. Thế là ông nổi giận đùng đùng, và để phản đối, tối đó ông thẳng thừng không đến dự buổi tiếp đãi đầu tiên của Bộ trưởng Đại học dành cho ông ở khách sạn. Chờ mãi không thấy ông đến, cuối cùng buổi tiếp và chiêu đãi thất bại. Mọi người lo lắng cho buổi giảng khai mạc ngày mai của ông, đã được loan báo và chắc chắn sẽ có rất đông người đến nghe. Thế nhưng khi giới thiệu khai mạc buổi giảng đó, anh Bửu vẫn không tiếc lời ca ngợi và cảm ơn ông, sau đó chủ với khách chuyện trò vui vẻ, tự nhiên như không. Càng về sau khách và chủ càng tỏ ra thông cảm và quý mến nhau hơn. Sau này khi về Paris, trước một cử tọa đông kỷ lục, Grothendieck đã kể lại chuyến đi Việt Nam với rất nhiều thiện cảm và ngưỡng mộ đối với nhân dân Việt Nam và đặc biệt đối với ông Bộ trưởng Đại học.
Sau Grothendieck đến lượt Laurent Schwartz thăm Việt Nam và lần này anh Bửu đã kết thân thật sự với nhà toán học lỗi lạc này (huy chương Fields năm 1950, thầy của Grothendieck), cũng là người đã luôn luôn sát cánh với nhân dân Việt Nam trong suốt hành trình Việt Nam chiến đấu giành độc lập. Một nhân vật khác cũng nên nhắc đến ở đây từng có ấn tượng sâu sắc về anh Tạ Quang Bửu là nhà ngôn ngữ học Mỹ Noam Chomsky khi ông sang thăm và nói chuyện ở Hà Nội. Giữa lúc người phiên dịch đang lúng túng thì trước sự ngạc nhiên vô cùng của Chomsky, vị Bộ trưởng Đại học bình tĩnh bước lên tự làm nhiệm vụ phiên dịch trực tiếp, và làm việc này xuất sắc đến mức tạo thêm nhiều hứng thú bất ngờ cho buổi trình bày khoa học vốn có vẻ khô khan, khó hiểu ban đầu.
Anh Bửu đã từng được Laurent Schwartz nhận xét rất nghiêm túc là một trong những Bộ trưởng Đại học xuất sắc nhất mà ông từng được biết. Dĩ nhiên đó là dựa trên trình độ năng lực khoa học vượt trội đối với nhiệm vụ, nhưng tôi nghĩ trước hết là nhờ năng lực ấy đi đôi với cái tâm thật sự trong sáng, tâm lòng rộng mở, thương yêu bao dung đối với mọi người, nhất là người yêu thế và người trẻ, biết sống tử tế, có nguyên tắc, có trách nhiệm, không hẹp hòi cực đoan nhưng cũng không ba phải, luôn hướng tới gần như say mê cái mới, cái đẹp, cái chân thật, cái cao cả, cho nên tư duy năng động, uyển chuyển, không xơ cứng, luôn hiện đại. Không phải anh không có thiếu sót nhầm lẫn, nhưng điều đáng quý là anh dễ nhận ra sai lầm của mình, và khi đó không trốn tránh trách nhiệm, không đổ lỗi cho người khác. Chính nhờ thế mà dù phải lãnh đạo đại học trong một giai đoạn khó khăn, khi những người bên cạnh anh và ở cấp cao hơn anh đã có người có chiều hướng ngả theo tư duy cực đoan dưới danh nghĩa chống xét lại, mà anh vẫn kiên trì thực hiện thành công một số chính sách, biện pháp quản lý bảo đảm công bằng, dân chủ, nghiêm minh. Rất tiếc, cuối cùng bản thân anh phải trả giá cho những gì tốt đẹp, đúng đắn, nhân văn mà anh đã làm cho giáo dục đại học. Mãi đến gần đây, khi hội nhập quốc tế, mới thấy rõ đại học đã xuống cấp thảm hại, một phần vì cái giá đó.
Trở lại những kỷ niệm khó quên của tôi với anh Tạ Quang Bửu, tôi không thể không nhắc đến thời tôi cùng với anh Lê Văn Thiêm đã mong muốn mang những kinh nghiệm xây dựng học thuật ở Liên Xô về ứng dụng trong nước. Anh Bửu trên cương vị của mình đã hết lòng ủng hộ những ý tưởng và chủ trương của chúng tôi. Từ những việc như tổ chức các seminar khoa học, hội nghị khoa học, tổ chức phản biện và bảo vệ luận án (chính cái từ “phản biện” mà ngày nay được dùng rộng rãi trong xã hội đã xuất hiện đầu tiên trong hoàn cảnh này), biên soạn và xuất bản tạp chí khoa học để trao đổi quốc tế, thành lập Hội Toán học, tổ chức những buổi nói chuyên khoa học cho công chúng rộng rãi, cho đến việc mở các lớp bồi dưỡng kiến thức hiện đại cho thầy giáo toán, mở các lớp chuyên toán, tham gia Olympic Toán quốc tế, v.v. tất cả những ý kiến đề nghị của chúng tôi đều được sự hưởng ứng và ủng hộ nhiệt thành của anh, nhờ đó trong một thời gian ngắn, không khí học thuật sôi nổi từ ngành Toán đã lan rộng nhanh chóng sang các ngành khác. Tôi còn nhớ thời đó cứ vài ba tuần lễ có một buổi nói chuyện khoa học ở trụ sở số 39 Trần Hưng Đạo, thường vào buổi tối mà người nghe vẫn rất đông, ngồi kín cả phòng. Những bài giảng chuyên để cho cán bộ giảng dạy đại học và các buổi giảng toán cho học sinh phổ thông cũng vậy. Hằng tuần vào tối thứ năm, tôi giảng chuyên để về Lý thuyết Độ đo, một bộ môn rất trừu tượng, mà sau mấy tháng số người dự (phần lớn là cán bộ giảng dạy toán ở đại học) vẫn đông đủ gần như buổi đầu tiên. Trong mấy chục năm tôi chưa thấy có thời kỳ nào đời sống học thuật hào hứng như những năm 1959-1964 khi anh Bửu, làm Tổng thư ký Ủy ban Khoa học.
Sau thời kỳ Nhân văn - Giai phẩm, đã có cuộc vận động trong giới trí thức đại học từ bỏ tháp ngà, đi vào thực tế để tìm cách đưa kiến thức ra ứng dụng. Qua sách báo tiếng Nga, tôi được biết một ngành học ứng dụng có tên “operations research” (vận trù học) ra đời ở Mỹ, Anh trong Thế chiến II để phân tích tìm ra phương án tối ưu (đạt hiệu quả cao nhất) cho từng tác vụ cụ thể. Ngành học này sử dụng kết hợp thống kê với lý thuyết tối ưu, đặc biệt là lý thuyết “linear programming” (quy hoạch tuyến tính), sau chiến tranh đã có nhiều ứng dụng thành công trong kinh tế và đời sống. Vừa lúc đó, tin tức từ Trung Quốc cho hay, dưới sự lãnh đạo của nhà toán học lừng danh Hoa La Canh, một cuộc vận động áp dụng vận trù học đang diễn ra rầm rộ khắp Trung Quốc. Thời đó quan hệ giữa Việt Nam với Trung Quốc rất tốt, nên nhân anh Bửu sắp có chuyến thăm Trung Quốc, tôi nhờ anh sang đó gặp gỡ các nhà toán học và tìm hiểu cụ thể về cuộc vận động này xem họ có những kinh nghiệm gì chúng ta có thể tham khảo, học tập. Tôi biết mỗi chuyến đi nước ngoài của anh đều rất bận rộn và phiền phức về lễ nghi, nên không dám mong đợi nhiều, chỉ mong có được vài thông tin tổng quát. Nhưng không ngờ, chuyến ấy anh mang về cho tôi một chồng tài liệu dày cộp, gồm những ghi chép rất tỉ mỉ của bản thân anh trong các buổi gặp và hỏi chuyện các bạn đồng nghiệp Trung Quốc về vận trù học, kèm theo đầy đủ các tài liệu liên quan, chủ yếu bằng tiếng Trung Quốc. Tôi thầm nghĩ nếu bản thân tôi được giao làm mỗi việc ấy trong một chuyến đi thì chắc chắn cũng không thể làm tốt hơn.
Cách đối xử thân tình với mọi người, sẵn sàng giúp đỡ bất cứ ai cần đến, không câu nệ việc lớn việc nhỏ, không tính toán thời gian, công sức, kể cả tiền, nhất là đối với cán bộ khoa học, đó là một tính cách khác biệt nữa của anh Tạ Quang Bửu. Chính nhờ sự giúp đỡ hiệu quả đó của anh mà từ những năm đầu thập kỷ 1960, một phong trào sâu rộng áp dụng vận trù học đã lôi cuốn hàng nghìn người khắp các ngành tham gia. Ảnh hưởng phong trào này đã khiến nhiều người nước ngoài không khỏi ngạc nhiên nhưng có lẽ tôi sẽ kể chi tiết về chuyện này trong một dịp khác.
3. GIÁO SƯ LÊ VĂN THIÊM - MỘT CUỘC ĐỜI ĐẶC BIỆT
SỐ 7/2008
Nhân kỷ niệm 90 năm ngày sinh của Giáo sứ Lê Văn Thiêm, tôi muốn nói thêm vài kỷ niệm về một trí thức lỗi lạc đã sống một cuộc đời rất đặc biệt, với bao nỗi thăng trầm, khi lặng lẽ ra đi đã để lại cho tất cả chúng ta, cho mỗi trí thức, cho những ai làm công tác lãnh đạo, quản lý rất nhiều bài học.
Dù không được là học trò của anh Thiêm nhưng bù lại, tôi đã may mắn được sống và làm việc gần gũi anh trong nhiều năm. Xin thuật lại đôi điều tôi được biết về cuộc đời anh qua các thời kỳ khác nhau.
Ngay từ khi tôi còn học cao đẳng tiểu học ở tuổi 15-16 và mãi sau đó nhiều năm, anh đã là thần tượng để chúng tôi hướng tới và noi theo. Năm 1946 khi từ Huế ra Hà Nội đăng ký vào trường Cao đẳng Khoa học, chúng tôi vô cùng phấn khởi nghe tin anh sẽ về làm Giám đốc.
Thế rồi tháng 12/1946 kháng chiến bùng nổ, đại học đóng cửa, tôi về Liên khu V, dạy trung học ở Quảng Ngãi, lại tiếp tục được nghe nhiều giai thoại về người thanh niên xuất chúng đang làm rạng rỡ đất nước. Giới học sinh, sinh viên, trí thức rất đỗi tự hào, và riêng với tôi, hình ảnh anh đã làm sống dậy nhiều niềm mơ ước ấp ủ từ lâu. Đặc biệt năm 1948, tin anh bảo vệ xuất sắc luận án Tiến sĩ Quốc gia Toán học ở Paris đã gieo vào tâm trí giới trẻ hiếu học thời đó một niềm phấn khởi vô biên. Niềm vui và tự hào của chúng tôi càng được nhấn lên gấp bội khi nghe anh Tạ Quang Bửu ca ngợi chàng tiến sĩ 30 tuổi đã nghiễm nhiên trở thành bậc thầy của tất cả các anh - những người hồi đó được coi là có trình độ toán học cao siêu trong cả nước. Cho nên, năm 1951, khi nghe tin anh Thiêm đã về Việt Nam, và sắp mở trường Cao đẳng Khoa học thực hành ở Việt Bắc, tôi liền xin nghỉ dạy lên đường ra Việt Bắc tìm anh để thọ giáo. Hồi ấy, đường từ Liên khu V ra Việt Bắc phải đi trên rừng, dọc theo Trường Sơn, khó khăn, hiểm trở và cũng đầy hiểm nguy, rất dễ bỏ mạng giữa rừng sâu vì sốt rét, cọp hay địch phục kích. Tôi lại mới ngoài 20, đang ở tuổi yêu, thế mà vẫn dứt áo từ biệt người yêu vừa mới hứa hôn, ra đi tìm thầy học đạo, đủ thấy tấm lòng ngưỡng mộ của tôi đối với anh Thiêm như thế nào. Có thể nói đó là quyết định khó khăn đầu tiên đã ảnh hưởng lớn đến toàn bộ cuộc sống và sự nghiệp sau này của tôi.
THỜI KỲ Ở KHU HỌC XÁ TRUNG ƯƠNG (1951-1953)
Các vị lãnh đạo cao ở Bộ Giáo dục khi nói về anh Thiêm đều coi anh là “sommité” (đỉnh cao) về khoa học trên thế giới, cho nên chế độ đối với anh rất đặc biệt. Nhờ đó công việc của anh rất thuận lợi và phát huy hiệu quả tối đa như anh mong muốn. Sau này, khi Laurent Schwartz (một trong những nhà toán học uy tín nhất của Pháp) hỏi tôi về tiểu sử anh Thiêm để thông báo với bạn bè, tôi có nói rõ với ông là hai trường Khoa học Cơ bản và Sư phạm Cao cấp do anh Thiêm sáng lập và lãnh đạo đã có vai trò đặc biệt quan trọng trong một thời gian dài đối với việc xây dựng nền đại học của Việt Nam. Điều may mắn đối với tôi là năm 1953 được ở chung phòng với anh Thiêm trong hai tháng, và nhờ vậy biết được nhiều suy tư của anh sau lớp chỉnh huấn năm 1952, về một số chuyện chung và riêng, kể cả mối tình đơn phương không được sẻ chia. Đồng thời, được sống gần anh, tôi thấy rõ anh là con người hết mực trung thực, vô cùng thiết tha với đất nước, nhân hậu, tử tế với mọi người, nhưng có một nhược điểm sau này đã gây không ít khó khăn cho anh, là anh ngây thơ tin rằng ai cũng trung thực và nhân hậu như mình. Qua một số thư từ của các đồng nghiệp Ba Lan như Kuratowski 43 trao đổi với anh, tôi cũng thấy cụ thể sự ngưỡng mộ của đồng nghiệp quốc tế đối với anh trong mấy năm sau khi các công trình của anh được công bố.
THỜI KỲ Ở ĐẠI HỌC TỔNG HỢP HÀ NỘI (1954-1969)
Năm 1954, anh Thiêm được cử ngay làm giám đốc Đại học Khoa học (cùng với các ông Đặng Thai Mai và Trần Đức Thảo làm giám đốc và phó giám đốc Đại học Văn khoa). Hồi đó, người đứng đầu một đại học được gọi là giám đốc, và có phân biệt giáo sư, giảng viên, phụ giảng; chỉ sau này, trong khoảng những năm 1960-1980, mới có chỉ thị gọi sinh viên là học sinh, giám đốc là hiệu trưởng, không phong giáo sư, phó giáo sư, mà tất cả chỉ là cán bộ giảng dạy - điều này có vẻ “dân chủ”, nhưng lại tầm thường hóa, xóa bỏ mọi chuẩn mực, một tư tưởng quản lý còn ảnh hưởng lâu dài cho đến tận ngày nay. Đến năm 1957, hai trường được cải tổ thành Đại học Tổng hợp do GS Ngụy Như Kontum làm hiệu trưởng và Đại học Sư phạm do GS Phạm Huy Thông làm hiệu trưởng. Anh Thiêm bấy giờ chỉ làm chủ nhiệm khoa toán chung cho cả hai đại học, với lý do giải thoát cho anh khỏi các nhiệm vụ hành chính để anh chuyên tâm làm khoa học. Ý tưởng rất tốt nhưng không thực tế, vì sau nhiều năm bị cách ly với thế giới và không có điều kiện làm khoa học (có thời gian anh về nông thôn ba cùng với nông dân 44 , được báo chí ca ngợi là vị tiến sĩ toán học chăn bò rất vui vẻ và có trách nhiệm!), thêm vào đó thư viện không hề có tạp chí khoa học quốc tế nào (mãi sau năm 1959 mới bắt đầu nhận được bản sao chụp của một số tạp chí quốc tế do Trung Quốc gửi tặng), và việc liên hệ với giới khoa học quốc tế bị cắt đứt (thời kỳ này cũng chưa có mấy quan hệ khoa học với các nước xã hội chủ nghĩa), việc trở lại với nghiên cứu khoa học theo trình độ quốc tế là cực kỳ khó. Đốn năm 1959, Ủy ban Khoa học Nhà nước được thành lập, anh Tạ Quang Bửu làm Tổng thư ký, anh Thiêm được bổ nhiệm là Ủy viên ủy ban Khoa học Nhà nước, điều kiện làm khoa học nghiêm túc có thuận lợi hơn. Nhưng chẳng bao lâu, từ năm 1960 trở đi, do chi viện kháng chiến ở miền Nam, kinh tế bắt đầu khó khăn, phải thực hiện chế độ tem phiếu. Để sửa chữa sai lầm cũ, anh Thiêm lại được “đề bạt” trở lại làm hiệu phó Đại học Tổng hợp. Dù có muộn màng, điều đó cũng thể hiện sự quan tâm của cấp trên đối với anh.
Nhưng sự cố xảy ra là đến năm 1963 (không rõ có mối liến hệ gì với Nghị quyết 9 đấu tranh chống xét lại hay không), giữa lúc anh Thiêm và tôi đang ra sức cố gắng làm những ứng dụng toán học thiết thực, đồng thời xây dựng nền nếp nghiên cứu khoa học, thì một loạt thư từ gửi lên cấp trên tố giác anh Thiêm và tôi (khi ấy tôi là chủ nhiệm khoa Toán, kiêm ủy viên ban Toán ở Ủy ban Khoa học Nhà nước). Dưới danh nghĩa “chính trị là thống soái”, “đường lối công nông”, với cách hiểu lệch lạc về “hồng, chuyên”, chúng tôi bị gán cho nhiều tội. Đây thật sự là những ngày tháng đau buồn. Ban ngày dạy học và chạy máy bay, ban đêm chong đèn ngồi viết kiểm điểm: nào là chèn ép công nông, chuyên môn thuần túy, thiên tài chủ nghĩa, nghiên cứu khoa học lý thuyết suông, không có cái “mũ to” nào mà chúng tôi không bị chụp lên đầu. Hậu quả là rất nhiều buổi kiểm điểm nặng nề dưới sự chủ trì của cấp trên, trong 5-6 năm liền, đã làm chúng tôi kiệt sức. Đến mức năm 1968, không chịu đựng nổi, tôi phải xin với Thủ tướng Phạm Văn Đồng chuyển qua Ủy ban Khoa học Nhà nước, và năm sau anh Thiêm cũng rời Đại học Tổng hợp để về Ủy ban Khoa học Nhà nước. Theo lời kể của chị Hồng (vợ anh Thiêm), trước đó, một vị cấp trên đến nhà dỗ ngon dỗ ngọt anh Thiêm: “Dù anh không làm gì sai, nhưng thôi, anh là cấp trên của họ, nên khoan dung, anh cứ nhận hết lỗi là yên chuyện”. Anh Thiêm nhẹ dạ nghe theo, hôm sau ra buổi họp nhận hết lỗi về mình. Ngờ đâu, cái biên bản buổi họp đó trở thành công cụ buộc tội anh. Vì thế khi anh Thiêm chuyển sang Ủy ban Khoa học Nhà nước, đáng lẽ được cử làm viện trưởng Viện Toán thì chỉ được bổ nhiệm làm phó viện trưởng.
Trước sự phi lý đó, anh Thiêm không hề có một phản ứng tiêu cực nào. Trái lại, anh càng bộc lộ rõ bản chất một công dân yêu nước hết mực, dẫu bị thiệt thòi và đối xử bất công, vẫn một lòng một dạ phục vụ. Nhân hậu, bao dung, cao thượng, nhưng anh cũng là con người nguyên tắc, luôn bảo vệ lẽ phải và chân lý, cho dù phải trả giá đắt.
THỜI KỲ Ở VIỆN TOÁN (1970-1980)
Chuyện anh Thiêm làm viện phó ai nghe cũng ngạc nhiên, riêng tôi mỗi khi có dịp đều tìm cách phản ảnh trực tiếp sự phi lý đó lên Thủ tướng Phạm Văn Đồng. Theo lời kể của ông Lê Khắc (Phó Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học Nhà nước), chính Thủ tướng cũng đã nhiều lần nhắc nhở Ủy ban Khoa học Nhà nước sửa sai. Nhưng vì mọi việc phụ thuộc một quy trình bí hiểm nên rốt cục trong năm năm liền sai vẫn không được sửa, cho mãi đến năm 1975, nhờ tình hình mới, anh Thiêm mới được bổ nhiệm làm viện trưởng. Nhưng anh chỉ làm viện trưởng đến năm 1980. Do trước đó chị và các cháu đã chuyển hết vào thành phố Hồ Chí Minh cho gần gia đình bên chị, nên vài năm sau, khi hết trách nhiệm lãnh đạo ở Viện Toán, anh cũng chuyển luôn công tác vào đó. Năm 1988, đột nhiên lại có quyết định cho anh nghỉ hưu, nhưng may nhờ có ý kiến phản đối lên tới Tổng bí thư mà quyết định ấy được hủy bỏ. Với một người khác, bấy nhiêu thăng trầm, bầm dập dễ làm nản lòng. Nhưng vào thành phố Hồ Chí Minh, anh Thiêm vẫn hết lòng giúp đỡ phòng Toán ứng dụng trong đó, và tham gia tích cực mọi việc, cho đến ngày sức khỏe kiệt quệ khiến anh phải từ biệt cuộc đời.
Nghe tin anh mất, tôi vội bay vào thành phố Hồ Chí Minh dự tang lễ. Điều khiến tôi hết sức day dứt trong nhiều năm là tang lễ quá đơn giản, chẳng có nghi thức gì để ghi nhận xứng đáng công lao người quá cố. Dẫu biết rằng sinh thời anh rất khiêm tốn, không thích phô trương, nhưng nhiều người không khỏi chạnh lòng. Khó hiểu nhất là hôm sau, khi tôi đến thăm chị Hồng ở nhà thì được chứng kiến người phụ trách tổ chức của cơ quan (Phân viện Khoa học Việt Nam ở thành phố Hồ Chí Minh) đến báo chị biết là cơ quan sẽ chia sẻ với gia đình một nửa chi phí tang lễ. Đau buồn và phẫn nộ, tôi vội báo cáo ngay việc này cho lãnh đạo Viên Khoa học Việt Nam ở Hà Nội để chỉ thị cho Phân viện ở thành phố Hồ Chí Minh phải thực hiện nghiêm chỉnh toàn bộ nghĩa vụ của cơ quan đối với tang lễ GS Lê Văn Thiêm. Cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng (hồi đó là Cố vấn), khi biết được chuyên này cũng rất buồn phiền. Gặng hỏi thêm ông mới hay rằng, ngoài các huân chương kháng chiến và chống Mỹ cứu nước theo chế độ chung, ngay cả một tấm huân chương Lao động hay danh hiệu Nhà giáo Nhân dân anh Thiêm cũng không có. Cho nên ông có ý kiến phải truy tặng Huân chương Độc lập hạng Nhất cho GS Lê Văn Thiêm. Ấy vậy mà cũng phải đợi thêm năm năm nữa, mãi đến năm 1996, ý kiến đó của Cố vấn mới được thực hiện.
Đó là tóm lược đôi điều tôi biết cùng những cảm nhận của tôi về cuộc đời đặc biệt của nhà trí thức đặc biệt Lê Văn Thiêm. Mặc dù, như chúng ta biết, toán học là niềm say mê lớn nhất của anh, nhưng năm 1949, giữa lúc tài năng đang nở rộ và tương lai khoa học đang rộng mở, lòng yêu nước nóng bỏng đã thúc giục GS Lê Văn Thiêm từ bỏ địa vị khoa học không ít người mơ tưởng ở châu Âu để về nước tham gia cuộc chiến đấu giành độc lập cho dân tộc. Thế mà rồi số phận đã dành cho anh biết bao cay đắng, nhọc nhằn, khi nằm xuống cũng chỉ có bạn bè thân thích tiễn đưa, vào một buổi chiểu u ám còn đọng lại trong tâm trí tôi nhiều câu hỏi chưa rõ lời giải đáp.
Nhân đây tưởng cũng nên đề cập một vấn đề đang có ý nghĩa thời sự. Nhiều người nghĩ rằng giá như anh Thiêm hồi ấy cứ tiếp tục sự nghiệp nghiên cứu ở châu Âu hay ở Mỹ thì chắc chắn, với tài năng xuất sắc của mình, anh đã có thể có nhiều cống hiến to lớn hơn cho Toán học và tên tuổi quốc tế của anh lẫy lừng hơn, đó chẳng phải có lợi cho đất nước lắm sao? Cuộc đời của anh với nhiều thăng trầm như trên cũng nêu ra thắc mắc: với phẩm chất đặc biệt như anh mà còn như thế thì liệu có mấy người còn dám yên tâm trở về quê hương? Nhưng đó là câu hỏi dành cho các vị đang gánh trọng trách với đất nước giải đáp, vì là cái nút thắt phải được giải tỏa để thu hút chất xám người Việt Nam ở nước ngoài về xây dựng đất nước. Còn đối với cộng đồng Toán học chúng tôi, việc anh Thiêm đã lựa chọn trở về quê nhà, cùng chia sẻ khó khăn gian khổ với đồng bào trong công cuộc giành độc lập, tự do cho xứ sở, và tất cả những gì anh đã cống hiến cho tổ quốc và cộng đồng Toán học Việt Nam, chỉ có thể khiến chúng tôi vô cùng biết ơn anh và tự hào về anh. Không ai trong chúng tôi nghi ngờ điều này.
Số công trình của anh Thiêm thật ra không nhiều. Nhưng nên biết rằng chỉ cần mấy kết quả của anh về bài toán ngược trong lý thuyết Nevanlinna cũng đủ để đời, vượt xa hàng chục công trình của nhiều người khác. Trong khi chúng ta đã bắt đầu nhận thức rõ sự cần thiết và tầm quan trọng của công bố quốc tế, tưởng cũng nên đề phòng xu hướng chạy theo số lượng và coi nhẹ chất lượng. Hai là, thời giữa thế kỷ XX về trước, làm được một công trình toán học có thể công bố trên các tạp chí quốc tế khó khăn hơn sau này rất nhiều.
Và để có thể đánh giá đúng mức ý nghĩa của những thành tựu khoa học của anh Thiêm giai đoạn về sau, không thể không nhắc tới hoàn cảnh khó khăn cùng những điều kiện vật chất và tinh thần vô cùng thiếu thốn mà trong đó anh đã phải vật lộn để hoạt động suốt 40 năm trời, từ lúc ở châu Âu về nước cho đến những ngày cuối cùng trước khi từ biệt chúng ta.
Đó là những vấn đề, những suy nghĩ mà cuộc đời và sự nghiệp của GS Lê Văn Thiêm nêu ra cho chúng ta sau gần 20 năm anh qua đời. Vừa khâm phục vừa xót xa, tôi kể những kỷ niệm trên để nêu lên một số bài học và bày tỏ tình cảm sâu nặng của một người đi sau đối với người con ưu tú của tổ quốc, một nhân cách tuyệt vời mà hình ảnh sẽ mãi mãi ở trong tim những người học trò, những người bạn, và cả nhiều người chỉ nghe nói đến chứ thật sự chưa từng quen biết anh. Mong sao những tài năng như Lê Văn Thiêm sau này sẽ có điều kiện thuận lợi hơn anh để cống hiến cho tổ quốc vào một giai đoạn mà chất xám, chứ không phải của cải vật chất, mới là yếu tố quyết định sự phồn vinh của đất nước.
4. GIÁO SƯ PIERRE DARRIULAT, MỘT NHÂN CÁCH KHOA HỌC LỚN, MỘT TÌNH BẠN THẮM THIẾT VỚI VIỆT NAM
SỐ 7/2016
Một buổi sáng cách đây 13 năm, tôi nhận được e-mail của một người ký tên Pierre Darriulat, một cái tên lúc đó còn xa lạ đối với tôi. Cho rằng đó là một thư rác, tôi xóa đi. Ít hôm sau tôi lại nhận được e-mail đó một lần nữa, lần này đọc kỹ mới hay rằng đó là thư nghiêm túc của một nhà khoa học Pháp đang làm việc ở Hà Nội có nhiều ý kiến muốn trao đổi với tôi về giáo dục và khoa học. Tôi được may mắn quen biết và kết thân với Darriulat từ ngày ấy.
Về sau tôi được biết Pierre Darriulat là một tên tuổi lớn trong lĩnh vực hạt nhân và vật lý thiên văn, viện sĩ thông tấn Viện Hàn lâm Khoa học Pháp từ năm 1986, Giám đốc khoa học Trung tâm Nghiên cứu Hạt nhân châu Âu (CERN) trong khoảng năm 1987-1994. Sau khi nghỉ hưu cuối năm 1999, ông sang định cư ở Hà Nội cùng vợ người Việt Nam, dành gần hết thời gian và công sức giúp đỡ xây dựng và phát triển vật lý thiên văn ở Việt Nam. Đặc biệt, với những thiết bị tự mua sắm bằng tiền túi hoặc tự tạo bằng nhiều cách, ông đã thành lập Phòng thí nghiệm Tia vũ trụ Vietnam-Auger ở Viện Khoa học và Kỹ thuật Hạt nhân Việt Nam, đặt ngay trên nóc nhà trụ sở của viện. Phòng thí nghiệm đặc sắc đó, với tên gọi Vật Lý, đã hoạt động hiệu quả trong nhiều năm như một thành viên của Dự án thí nghiệm quốc tế Pierre Auger săn tìm các tia vũ trụ năng lượng siêu cao. Đồng thời, trong khuôn khổ phòng thí nghiệm đó, ông đã tập hợp và đào tạo một nhóm các nhà khoa học trẻ trong lĩnh vực vật lý thiên văn, vật lý hạt nhân và hạt sơ cấp. Trong số các nhà khoa học trẻ được đào tạo và trưởng thành từ cái nôi này đã có năm tiến sĩ và chín thạc sĩ. Còn về kết quả nghiên cứu thì nhóm Phòng thí nghiêm Vật Lý, hợp tác với Đài thiên văn Pierre Auger, là đồng tác giả của nhiều bài báo quan trọng trong lĩnh vực nghiên cứu tia vũ trụ năng lượng siêu cao. Đặc biệt trong số đó có bài báo về phát hiện mối quan hệ giữa nguồn phát của các tia vũ trụ này với các tâm thiên hà hoạt động, đăng trên tạp chí Science, được bình chọn là một trong mười sự kiện vật lý của Hội Vật lý Mỹ năm 2007.
Năm 2008, Darriulat được trao giải thưởng danh giá André Lagarrigue, giải thưởng mang tên nhà bác học Pháp đã lãnh đạo nhóm nghiên cứu tại CERN tìm ra hạt boson Z trung hòa vào năm 1973.
Cũng như nhiều nhà khoa học lớn, ông sống giản dị, khiêm tốn, say mê nghiên cứu và hướng dẫn nghiên cứu, thương yêu chăm sóc tận tình các học trò của mình, đồng thời quan tâm thiết tha đến mọi mặt đời sống, nhất là về khoa học và giáo dục, ở đất nước mà ông đã gắn bó như một tổ quốc thứ hai. Bác Pierre, như tên gọi thân thương mà các học trò của ông thường dành cho ông, là tấm gương sáng không riêng cho giới trí thức trẻ Việt Nam mà ngay cả những người trong giới khoa học đã thành danh cũng học tập được nhiều điều từ ông.
Đáng quý nhất là người thầy ấy không chỉ hết lòng chăm lo bồi dưỡng kiến thức và kỹ năng cho học trò (dạy chữ - như cách nói của nhiều người), mà còn thiết tha lo lắng đến cả tâm hồn, cuộc sống và nhân cách của họ (dạy người - một vấn đề lớn của giáo dục Việt Nam hiện nay). Những trí thức lớn có tâm huyết với đất nước, và những nhân vật được nể trọng rộng rãi bởi những người tử tế trong xã hội, thường được ông tìm cách mời đến nói chuyện, giao lưu thân mật với nhóm học trò của ông, để giúp họ, qua những tấm gương thực tế đó, hiểu được sâu sắc nghĩa vụ của mình đối với cộng đồng, tăng ý thức tự rèn luyện thành những công dân có trách nhiệm, không bàng quan trước tình trạng nghèo nàn, lạc hậu của đất nước, biết phẫn nộ trước những bất công trong xã hội, để nung nấu quyêt tâm phấn đấu cho đất nước ngày càng tốt đẹp hơn về mọi mặt vật chất cũng như tinh thần.
Là một cộng tác viên tích cực của tạp chí Tia Sáng, GS Darriulat đã lên tiếng rất nhiều lần trên diễn đàn này để ủng hộ, cổ vũ cho những tư duy, quan điểm, thái độ đúng đắn về giáo dục, khoa học. Ông đặc biệt quan tâm đến những người trẻ, một mặt cổ vũ cho thế hệ trẻ được mạnh dạn giao phó trách nhiệm xứng đáng từ sớm, mặt khác luôn nhắc nhở họ “biết trọng trí tuệ hơn tiền bạc, quyền lực, và nhớ rằng sự giàu có của một đất nước chủ yếu là ở bàn tay và khối óc chứ không phải ở két sắt của các ngân hàng, là ở những sản phẩm làm ra hơn là những kỹ năng tiếp thị, rằng sự giàu có ấy chủ yếu nhờ những giọt mồ hôi của người lao động hơn là những quy định có khi ngớ ngẩn được đặt ra bởi những người, những cơ quan quản lý thiếu chuyên nghiệp”.
Một vấn đề quan trọng mà Darriulat thường nhắc tới khi giao lưu với thế hệ trẻ là đạo đức và văn hóa làm khoa học. Trung thực, thượng tôn sự thật, nghiêm túc và liêm khiết đến cùng là những đức tính cần thiết trong đời thường lại càng tuyệt đối cần thiết trong khoa học. Một nhà khoa học chân chính không bao giờ có thể nhân nhượng với thói gian trá, như đạo văn hay thậm chí chỉ là lập luận hồ đồ, không dựa trên những bằng chứng khoa học xác thực. Không thể vì nể nang bạn bè mà lợi dụng vị trí của mình trong bộ máy nhà nước để bênh vực, thậm chí tiếp tay những việc làm sai trái, phản khoa học, càng không thể dung túng thói gian dối như những vụ đạo văn từng gây tai tiếng lớn cho giới khoa học Việt Nam một thời trên một số diễn đàn khoa học quốc tế. Trong các cuộc tranh luận về đạo đức khoa học, Darriulat bao giờ cũng đứng bên cạnh những nhà khoa học chân chính lên án mạnh mẽ những hành động gian dối, không ngại đụng chạm những đồng sự có vai về bất cứ ở đâu, dù trong nước hay quốc tế. Như có lần ông đã lên tiếng trên diễn đàn quốc tế phê phán thẳng tay thái độ cẩu thả của một số nhà khoa học khí hậu khi đưa ra những phân tích thiếu căn cứ khoa học khách quan, tuy chỉ với mục đích tốt hưởng ứng cuộc vận động đối phó với hiện tượng biến đổi khí hậu đang ngày càng đe dọa trầm trọng cuộc sống trên Trái Đất.
Thật là may mắn cho cộng đồng khoa học, giáo dục Việt Nam có được một người bạn chân thành, tha thiết và trí tuệ như Pierre Darriulat.
5. HOÀNG TỤY, NGƯỜI BẠN LỚN CỦA TÔI
- PIERRE DARRIULAT
(TẠP CHÍ TIA SÁNG dịch) - NĂM 2019
Tôi lần đầu gặp Hoàng Tụy khoảng 16 năm trước, là năm thứ tư tôi sống ở Việt Nam. Sau vài lần gặp gỡ tại văn phòng của anh tại tầng hầm Viện Toán học, chúng tôi nhanh chóng trở thành bạn bè, cùng chia sẻ các quan điểm về việc cần nâng cao chất lượng giáo dục đại học, những thách thức mà yêu cầu đó đặt ra, và giải pháp tiếp cận vấn đề này. Kể từ đó, tình bạn của chúng tôi chưa bao giờ phai nhạt.
Tôi trẻ hơn anh Tụy mười tuổi; không quá nhiều để có thể hiểu nhau sâu sắc; không quá ít để tôi có thể lắng nghe anh với sự kính trọng dành cho một người bạn hợn tuổi. Khi tôi mới tròn tám tuổi, còn đang thụ hưởng nền hòa bình chớm nở của nước Pháp sau khi bị phát xít Đức chiếm đóng, thì anh Tụy đã 18 tuổi, phải bỏ dở việc học đại học ở Hà Nội do chiến tranh với Pháp, rồi phải di chuyển vào miền Nam; anh bắt đầu dạy Toán ở trung học, và từ đó trải qua bốn thập kỷ chiến tranh, đói kém, những nỗi đau và khổ ải mà đất nước Việt Nam từng gánh chịu.
Không lâu sau khi quen biết, anh Tụy giới thiệu tôi với anh Việt Phương. Ba người chúng tôi nhanh chóng có thói quen thỉnh thoảng gặp gỡ ăn trưa cùng nhau. Những lời tâm tình chia sẻ của họ về những gì đã trải qua sau 70 năm đã khiến tôi yêu quý Việt Nam sâu đậm. Những bữa trưa là dịp để chúng tôi trao đổi suy nghĩ về tình thế chung của đất nước, trong đó cụ thể là lĩnh vực giáo dục và khoa học. Chúng tôi cùng chung quan điểm về coi trọng các giá trị tri thức và đạo đức. Cũng từ đó tôi được họ giới thiệu tiếp cận những người bạn trí thức khác, được biết về những thảo luận và nỗ lực của họ nhằm giúp đất nước phát triển tiến bộ nhanh hơn, cho một tương lai tốt đẹp mà họ vẫn luôn hướng đến.
Qua đấy, tôi nhận thấy tiếng nói của họ không dễ được lắng nghe và thấu hiểu, không dễ để họ thuyết phục những thái độ trì trệ bảo thủ và giữ vững tinh thần cách mạng của mình, vốn luôn đòi hỏi tinh thần không ngừng quyết liệt thay đổi vi sự tiến bộ của đất nước nhằm thích ứng với thế giới cũng đang không ngừng thay đổi. Tôi vẫn không hiểu vì sao có những nhìn nhận tiêu cực về những người trí thức đã dành trọn cuộc đời vì tình yêu, sự tiến bộ và phát triển đất nước; họ thấu hiểu sâu sắc về lịch sử đất nước mà chính họ từng tham gia với vai trò là người trong cuộc, họ hiểu rất rõ đâu là cái đích tiếp theo cần hướng đến, con đường nào cần đi theo; họ có mục tiêu, kiến thức và trí tuệ để đưa ra những phân tích, tầm nhìn rất có giá trị, đáng được nghiêm túc xem xét. Luôn giữ vững những lý tưởng về độc lập, tự do và công bằng từ thuở lập quốc, họ hiểu rằng thế giới đang thay đổi: hiểu rằng thay vì áp đặt những giáo điều của ngày hôm qua vào ngày hôm nay, các quốc gia cần phải thích nghi với môi trường xã hội và địa chính trị, đồng thời tôn trọng và bảo tồn những giá trị tinh thần và đạo đức nền tảng.
Năm 2007, tôi có vinh hạnh được gặp cố Đại tướng Võ Nguyên Giáp, ông bày tỏ tha thiết mong muốn nền giáo dục nước nhà phát triển và nâng cao chất lượng. Tôi đã nghe ông chia sẻ về đề xuất thay đổi phương thức giáo dục đại học; nắm tay tôi, ông nói hãy tiếp tục đấu tranh. Với tôi, Hoàng Tụy và những người bạn trí thức của ông chính là những người kế thừa niềm mong mỏi ấy của Đại tướng.
Ít ngày trước, nói chuyện với anh Tụy về những điều tôi muốn viết ở đây, anh bảo tôi rằng điều anh tự hào là chưa bao giờ từ bỏ quyết tâm nói và viết ra những suy nghĩ của mình. Anh nói thêm rằng, sự thẳng thắn đôi khi khiến anh gặp rắc rối, nhưng chưa bao giờ anh ân hận vì điều đó. Với tôi, điều ấy thể hiện một nhân phẩm hết sức đáng kính trọng: tôi nhìn nhận Hoàng Tụy như một hình mẫu để hướng đến, song hành với tình bạn và sự yêu quý đối với anh.
Tôi dành sự ngưỡng mộ to lớn dành cho anh Tụy và những con người cùng thế hệ của anh, đã cống hiến khi đất nước Việt Nam còn non trẻ. Hy vọng của họ khi còn thanh niên về một tương lai sáng lạn, ngày nay có thể còn chưa hoàn toàn như ý nguyện, tuy nhiên cũng đã có rất nhiều kết quả tốt đẹp. Có những góc nhìn hạn chế từ ngoại quốc, bao gồm cả những Việt kiều, cũng có cả những người Việt trẻ tuổi ngày nay không thực sự hiểu về lịch sử đất nước: họ nhìn quá hẹp, chỉ thấy những gì sát với thời gian và không gian của bản thân, thiếu tầm nhìn rộng mở để có thể hiểu đất nước đủ sâu sắc. Bài học từ anh Tụy và thế hệ của anh đã dạy cho chúng ta là bài học về sự khiêm tốn và thái độ lạc quan; khích lệ chúng ta luôn nhìn về trước một cách tích cực và mang tính xây dựng, thay vì chỉ than phiền về nhiều khiếm khuyết cần sửa đổi; khích lệ chúng ta theo đuổi điều mà họ từng đấu tranh không biết mệt mỏi khi luôn giữ vững những giá trị căn bản về trí thức và đạo đức, điều làm nên nhân phẩm con người.
Khi tôi nghĩ về Hoàng Tụy, Việt Phương, Đặng Văn Việt, và số phận của họ, tôi thường nhớ đến một tiểu thuyết nổi tiếng của nhà văn Italy Tomasi di Lampedusa có tên II Gattopardo (tạm dịch: Con báo). Cuốn tiểu thuyết từng nổi tiếng vào thập kỷ 1960, khi Luchino Visconti chuyển thể thành một trong những bộ phim đẹp đẽ nhất của thế kỷ trước, với Burt Lancaster, Claudia Cardinale và Alain Delon đóng vai chính. Don Fabrizio, một vị hoàng tử thuộc tầng lớp quý tộc ở đảo Sicily, chứng kiến cuộc khởi nghĩa của những người mặc áo sơ mi đỏ do Garibaldi phát động; ông dành ánh mắt yêu thương và độ lượng cho người cháu ruột tham gia khởi nghĩa mang theo mơ ước về một ngày mai tươi đẹp hơn; ông đau buồn nhận thấy xu thế hèn kém và ích kỷ của những kẻ trọc phú, dần thay thế những phẩm giá cao quý, sự tự trọng trong truyền thống xã hội mà ông vẫn luôn tôn thờ; ông vừa bất lực, vừa phần nào hy vọng khi cháu trai mình hứa hôn với cô con gái tuyệt vời của Sedara, kẻ thối nát nắm giữ quyền lực và đầy tham vọng trong chính quyền mới; ông mê man giữa những hoài niệm, sự vỡ mộng, và sầu muộn trước vòng lặp vô tận của lịch sử; tất cả dường như thay đổi nhưng thực ra tất cả vẫn y nguyên.
Năm 2005, tôi mời anh Tụy đến thăm nhóm nghiên cứu Vật lý thiến văn trẻ tuổi của chúng tôi tại Viện Khoa học và Kỹ thuật Hạt nhân. Những trao đổi giữa anh và các nhà vật lý trẻ trong nhóm đã để lại ấn tượng sâu sắc trong họ, và họ bày tỏ mong muốn được học hỏi nhiều hơn nữa từ anh. Khi ấy, anh Tụy nói rằng muốn tham mưu cho Chính phủ về các vấn đề khoa học và giáo dục. Chúng tôi được nghe những phân tích sâu sắc của anh về những nhược điểm trong hệ thống giáo dục đại học ở Việt Nam cùng những khuyến nghị hợp lý để có thể khắc phục rất nhiều những tồn tại vướng mắc. Chúng tôi đề nghị anh trả lời phỏng vấn đăng trên Bản tin của chúng tôi 45 , và ngay lập tức anh lịch thiệp đồng ý.
Tôi đọc lại nội dung bài báo ấy trước khi viết những dòng này mà không tránh khỏi cảm thấy ấn tượng về sự sắc sảo trong tầm nhìn của anh về những vấn đề cần giải quyết, tính hợp lý trong các ý kiến và sự đúng đắn trong các phân tích anh đưa ra. Đồng thời, tôi phải thú thực mình cảm thấy buồn khi đọc những tài liệu ấy, nhận ra chúng ta đạt được không nhiều tiến bộ sau 13 năm qua. Ở đây, tôi xin trích lại một ít trong những nội dung mà tôi cảm thấy đến nay vẫn còn nóng hổi sau chừng ấy năm:
[…] Tóm lại, phong cách và môi trường đào tạo đại học của Việt Nam khác biệt sâu sắc với đa số, hay ít nhất là so với các đại học tiên tiến hơn trên thế giới. Có lẽ đó là lý do vì sao không có đại học Việt Nam nào nằm trong top 60 Đông Nam Á. Vấn đề là tình trạng này kéo dài qua vài thập kỷ, lâu tới mức nhiều người coi đó là chuyện bình thường và thậm chí không dám hình dung tới thay đổi thực trạng ấy. Ngày nay, có những người đang nắm giữ các vị trí cao trong hệ thống quản lý giáo dục đại học vẫn còn nghĩ rằng có thể có giáo dục đại học chất lượng cao mà không cần tới các hoạt động nghiên cứu. […] Nếu chúng ta muốn hiện đại hóa giáo dục đại học và phát triển nền khoa học thì cần gửi một số tài năng trẻ ra nước ngoài. […] Tuy nhiên, điều này đã tạo ra vấn nạn chảy máu chất xám bởi những người thành công nhất sẽ tìm được công việc hấp dẫn ở nước ngoài, hấp dẫn cả về tài chính cũng như quyền độc lập và trách nhiệm [học thuật], và đa số họ không quay về nước nữa. Trước tình trạng như vậy, làm sao chúng ta có thể phát triển nền khoa học, nghiên cứu và giáo dục ở Việt Nam? Để chấm dứt tình trạng chảy máu chất xám này đầu tiên chúng ta cần thừa nhận thất bại trong việc cung cấp cho các tài năng trẻ đầy đủ (các điều kiện cần thiết để họ có) động lực cống hiến và sự tận tâm với tổ quốc. Nguyên nhân chính là thiếu những trung tâm khoa học đủ mạnh, nơi các nhà khoa học có thể được làm việc trong môi trường học thuật tốt với đầy đủ các nguồn lực cần thiết. […] Nhược điểm chính và yêu tố tiêu cực nhất trong hê thống giáo dục Việt Nam, từ cấp mẫu giáo cho tới đại học (bao gồm cả hệ thống đào tạo thạc sĩ và tiến sĩ) là các giảng viên và nhà nghiên cứu chỉ được hưởng một mức lương ít ỏi, chỉ đáp ứng một phần tư nhu cầu, xét về chi phí sinh sống ở trong nước với một mức sống tương ứng với vị trí và vai trò của họ trong xã hội. Ba phần tư còn lại người ta buộc họ phải tự tìm kiêm ở nơi nào khác. Và tất nhiên họ vẫn tự xoay xở được bằng cách này hay cách khác. Điều đó có nghĩa là xét về tổng thể xã hội không thiếu tiền, chỉ là sai về đường lối. Chúng ta thường nghe luận điệu rằng “tất cả mọi người than phiền rằng lương thấp, nhưng họ vẫn đang sống khỏe đấy thôi” như một sự bào chữa cho tình trạng hiện nay. Cách quản lý như vậy thật thiếu trách nhiệm, và nhiều người cho rằng nó chỉ là cách để che đậy cho nạn tham nhũng. Khi người ta phải chấp nhận mức lương còm cõi phi lý như vậy trong vài thập kỷ, tất yếu sẽ sinh ra nhiều thói quen xấu cùng những vị quan chức lừa dối. […] Chúng ta đã chứng kiến trong quá khứ nhiều ý tưởng tốt được chấp thuận bởi các nhà lãnh đạo cấp cao, nhưng thất bại thê thảm khi trách nhiệm thực hiện được giao vào tay các cơ quan yếu kém.
Bảy năm trước, chúng tôi đã mời Hoàng Tụy và Việt Phương cùng ăn trưa ở một nhà hàng gần nơi làm việc. Nguyễn Thị Thảo, một nhà nghiên cứu trẻ trong nghiên cứu Vật lý thiên văn, có để cập một phần nội dung cuộc trao đổi tại sự kiện này ở một bài viết đăng trên Bản tin của chúng tôi 46 , ngày nay vẫn có thể được đọc trên Internet. Trong đó phản ánh quan điểm của anh Tụy về sự cần thiết cải thiện chất lượng giáo dục.
Có lẽ Thảo đã tìm thấy đúng ngôn từ để tóm lược ấn tượng chung về chuyến thăm của anh Tụy và anh Việt Phương:
Sức trẻ trong ngôn từ và trong trái tim của họ, sự sáng rõ trong cách nhìn nhận về thế giới xung quanh thật tương phản với tuổi tác của họ. Chúng tôi sẽ không bao giờ quên thông điệp mà họ gửi gắm: liêm chính, sáng tạo, tự do, dân chủ.
Quả thực anh Tụy luôn giữ trong mình năng lực hòa đồng cùng trẻ thơ, điều mà nhiều người lớn trong chúng ta đã mất đi; anh luôn giữ sự tươi mới trong tình cảm và sự sáng suốt trong cách nhìn nhận, vốn là những ưu điểm thường chỉ có ở người trẻ tuổi. Khi những phẩm chất ấy hòa trộn cùng trí tuệ tích lũy qua tuổi tác, những trải nghiệm từ một giai đoạn đáng nhớ trong lịch sử Việt Nam mà anh được chứng kiến qua nhiều năm, tất cắ đã tạo nên ở anh một con người hết mực đáng yêu quý.
Nguyên văn bài viết của Pierre Darriulat
HOANG TUY, MY ELDER FRIEND
I first met Hoang Tuy some sixteen years ago; I was in my fourth Vietnamese year; I met him several times in his office in the basement of the Institute of Mathematics and we immediately became friends, sharing the same views on the need for Viet Nam to improve the quality of its higher education, the same views on the difficult challenge that it represents, the same views on how to approach the problem. Since that time, our friendship has never failed.
I am ten years younger than Tuy; short enough a time for US to understand each other in depth; but long enough a time for me to listen to him with the respect one owes to an elder friend. I was barely eight years old, enjoying the recent peace in a France that had just been freed from the German occupation, when he was eighteen years old, having to interrupt his university studies in Ha Noi because of the French war and to move to the South; he then started teaching mathematics in high school and entered the four decades of wars, starvation, pain and torment that Viet Nam was going to endure.
Soon after we met, Tuy introduced me to Viet Phuong and the three of US got rapidly in the habit of sharing a lunch once in a while. By sharing with me what they have gone through over the past seven decades, they have made me love their country deep in my heart. These lunches were the occasion for US to exchange views on the situation of the country in general and of education and research in particular. The intellectual and moral values to which we attached importance were the same. It was also for me the occasion to learn about the state of mind in Vietnamese intellectual circles, to become familiar with the ideas expressed by people such as Nguyen Ngoc or Chu Hao, to whom they introduced me. It was also the occasion to learn about the debates in the Institute of Development Studies that Hoang Tuy had contributed to create and was chairing. It had to be dissolved two years after its foundation for being accused of making statements that were not in conformity with the Party line. I still do not understand such opposition to intellectuals who devote their life to the love of their country and to making it progress and develop; their in-depth understanding of its recent history, of which they have been actors, places them in a privileged position to know where to go next, which road to follow; their objectivity, their knowledge and their wisdom makes their analyses and their vision of the future highly respectable and worth of serious consideration; while true to the ideal of independence, freedom and justice that governed the birth of the nation, they understand that the world is changing: they know that instead of making the doctrine of yesterday become a rigid dogma, nations need to adapt its letter to the current social and geopolitical environment while respecting and preserving its spirit and the moral values on which it rests. In 2007, I had the honour to meet General Giap, who was eager to see education develop and its level improve in quality. I had listened to him plead for a change of style in Vietnamese universities; having taken my hand in his, he had told me to keep fighting. To me, Hoang Tuy and the circle of intellectuals to whom he was close were the heirs of his legacy.
A few days ago, chatting with Tuy about what I intended to write in the present lines, he told me that his pride was to have never departed from his determination to say and write what he thinks. He added that such frankness had been, in occasions, causing him some trouble but that he never regretted it. To me, such demonstration of human dignity is calling for utmost respect: I see Hoang Tuy as a model to be followed at the same time as I have for him friendship and tenderness.
The admiration that I have for Tuy and those of his generation who have contributed to the early years of the young Vietnamese nation is immense. The hopes they had, when they were young, for brighter tomorrows may have been partly deceived, but so much has been accomplished. Foreigners, including many Viet Kieus, who look at todays Vietnam from far away, and young Vietnamese ignorant of the recent history of their country, as unfortunately quite a few are, wear blinkers: they are short-sighted, they only see what is close to them in time and in space; they lack the broad vision that is required to understand the country in depth. The lesson that Tuy and his friends teach us is a lesson of humility and optimism; an encouragement at looking always forward in a positive and constructive way rather than complaining about the many flaws that still need to be taken care of; an encouragement at pursuing what they have been tirelessly fighting for, while staying always true to the basic values of intellectual and moral rigour that make human dignity.
When I think of Hoang Tuy, of Viet Phuong, of Dang Van Viet and of their destiny, I often remember a famous novel by Tomasi di Lampedusa: Il Gattopardo, The Leopard in English. The novel became famous in the mid-sixties when Luchino Visconti based on it one of the most beautiful movies of the past century, with Burt Lancaster, Claudia Cardinale and Alain Delon in the leading roles. Don Fabrizio, a Prince of the Sicilian aristocracy, witnesses the insurrection of Garibaldis red shirts, the ruling class abdicating their privileges and power to the middle class; he sees with tenderness and indulgence his nephew join the insurgents, animated by the romantic dream of a brighter tomorrow; he sees with sorrow and sadness the mediocrity and selfishness of some of the nouveaux riches replacing the tradition of nobleness and the sense of honour that had been his creed all along; he sees with a mixture of resignation and hopeful optimism his nephew getting engaged with the marvellous daughter of Sedara, a corrupted and ambitious dignitary of the new regime; and he muses with nostalgia, disenchantment and melancholy on the eternal return of history; all seems to be changing but in fact it all remains the same.
In 2005, I had invited Tuy to visit our young astrophysics research team at the Institute of Nuclear Science and Technology that was hosting US. His exchanges with my young colleagues left a deep impression on them and they expressed the desire to learn more from him. At that time, he had been implied in advising the Government on matters of science and education and we had heard of his deep and thoughtful analysis of the weaknesses of the Vietnamese university system and of his pertinent recommendations aiming at overcoming the many obstacles. We asked him whether he would accept to answer a few questions for US, we would then publish the interview in our Newsletter, and he immediately and very kindly agreed. I have read it again before writing these few lines and I have been impressed by the acuity of the vision he had of the problems that need to be solved, by the pertinence of his comments and by the rightness of his analysis. At the same time, I must confess how depressing it is, when reading such documents, to note how little progress has been accomplished in more than thirteen years. The interview can be accessed on the web1 and here I quote only a few sentences that I find still very much inspiring thirteen years after they were stated:
[…] In short, the style and atmosphere of university training differs deeply from what it is in most, at least in the better, universities around the world. This is probably why there is not a single Vietnamese university in the regional (South East Asia) list of the top 60s. The problem is that this situation has now been lasting for decades. It has been like that for such a long time that many people consider it normal and do not even imagine that it might change. Today, in particular, several persons holding important responsibilities in the university system still think that an education of high quality is possible without research activities.
[…] If we want to modernize our universities and develop science, it is necessary to send a number of young talents abroad. […] However, this has generated a disastrous brain drain: those who are the most successful are offered attractive jobs abroad, both financially and in terms of independence and responsibility, and most of them do not return to the country Under such conditions how could science, research and education, develop in Vietnam? In order to stop such a brain drain we must first recognize our failure to give our young talents sufficient motivation and loyalty to the country. The main reason is the absence of science centres of high enough a level, where they could do research in a good intellectual environment and with sufficient resources.
[…] The main weakness and the most negative factor in Vietnamese education and science, from kindergarten to university (including master and PhD training), is that teachers and researchers receive a salary that covers only one quarter of their needs, taking in due account the cost of living in the country and the standard of living that fits their position and role in the society. The remaining three quarters have to be found elsewhere. And of course they usually are. This means that it is not the money that is lacking but the way in which it is handled. We often hear “everybody is complaining about low salaries, but they are still properly living” being used as an argument to preserve the present situation. This kind of management is so irresponsible that many suspect that the only reason for its being preserved is the need to hide corruption. Having had such an insane salary policy for decades, many bad habits have developed, some officers have become deceitful.
[…] We have seen in the past may good ideas that had been accepted higher up, fail badly once incompetent bodies had been entrusted with their realisation.
Seven years ago, we invited Hoang Tuy and Viet Phuong to spend some time with US before sharing a lunch at a nearby restaurant. Nguyen Thi Thao, a young member of our research team, reported about the event in an issue of our Newsletter that starts with a quotation of Hoang Tuy:
Our wage policy has no equivalent in the world. It despises those who are devoting themselves in the shadow to teaching and to growing fruits that others will harvest. Strange paradox of a country, which thinks nothing of its teachers and which, according to tradition, is supposed to praise teaching and highly respect knowledge. The account by Thao of Tuy’s and Viet Phuong’s visit can be read on the web 47 . She says how Tuy was talking about the need for a better education: Past and present were intertwining in his words, with morality and integrity as a leitmotiv, illustrated by many examples. He told US how essential it was for US, young scientists, to adhere to strict intellectual and moral rigour. The conversation was jumping over generations, mixing white and black hairs, united on the front offightingfor a better education. Happiness was radiating from our smiling faces. And Thao finds the right words to summarize the impression the visit had left on them:
The youth in their words and in their hearts and the lucidity with which they were looking at the world around them were contrasting with their old age. We shall never forget the message that they handed down to us: integrity, creativity, freedom, democracy.
Indeed, Tuy has kept in him this ability at marvelling which children have but which so many adults have lost; he has kept in him the freshness of emotions and the purity of judgement that are the assets of the youth. When blended with the wisdom of age and the experience of the outstanding chapter of Vietnamese history that he has been witnessing over so many years, they make him the most lovable of men.
6. GIÁO SƯ HOÀNG TỤY TRẺ MÃI VỚI KHOA HỌC VÀ GIÁO DỤC
- HÀ HUY KHOÁI - XUÂN 2000
Giáo sư Hoàng Tụy đã viết hơn 100 công trình trên các tạp chí quốc tế. Giáo sư đã được Đại học Công nghệ Linkoping (Thụy Điển) tặng danh hiệu “Tiến sĩ danh dự”, đã được nhà nước tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh đợt I năm 1996. Tưởng thế cũng đã là đủ cho một cuộc đời, một sự nghiệp. Nhưng không, với ông thì đóng góp bao nhiêu cho khoa học, cho đất nước vẫn là chưa đủ. Ông vẫn tiếp tục viết, tiếp tục sáng tạo, số bài đăng trên các tạp chí quốc tế mỗi năm của ông vẫn đứng hàng đầu Việt Nam.
Năm 1990 tạp chí The Mathematical Intelligencer, một trong những tờ tạp chí nổi tiếng nhất trong giới Toán học quốc tế, đăng bài phỏng vấn GS Hoàng Tụy. Một tấm bản đồ Việt Nam được in nổi bật, trên đó đánh dấu một con đường nối liền Quảng Ngãi với vùng cực bắc, sát biên giới Trung Quốc. Đó là con đường mà ông đã đi khi rời Liên khu V để lên chiến khu Việt Bắc. Đó cũng chính là con đường dẫn ông đến với Toán học. Mà có lẽ không chỉ riêng ông, cả nền Toán học Việt Nam đã đi đến với Toán học thế giới trên một con đường như thế, qua chiến tranh, qua rừng sâu, qua khó khăn, thiếu thốn, và đôi khi cả hiểm nguy. Con đường đưa Giáo sư từ một cậu học trò nghèo ở Quảng Nam lên đến những sáng tạo ở đỉnh cao Toán học có cái gì đó thật là Việt Nam, con đường của ý chí tự lực tự cường, của sự say mê và quyết tâm, của sự khát khao làm được một cái gì đó có ích cho đất nước.
GS Hoàng Tụy sinh năm 1927 ở Quảng Nam, trong một gia đình nghèo của một dòng họ giàu truyền thống Nho học và yêu nước, dòng họ đã sinh ra Hoàng Diệu, vị Tổng đốc đã tuẫn tiết khi thành Hà Nội thất thủ năm 1882. Năm 15 tuổi, ông phải nghỉ học một năm vì ốm nặng. Song, tai họa đó có lẽ lại là điều may mắn cho ông. Vì không thể theo học trường công, Giáo sư phải học ở một trường tư thục, mà chủ yếu là phải tự học. Nhờ thế, ông đã học xong trước chương trình và thi tốt nghiệp sớm được một năm! Sau khi nhận được bằng Tú tài phần I, việc học của ông lại bị gián đoạn vào những tháng đầu sau Cách mạng tháng Tám 1945. Trở lại Huế tháng 2/1946, chỉ trong vòng ba tháng, ông đã tự học và đỗ đầu trong kỳ thi lấy bằng Tú tài phần II. Ngay từ thời đó và cho đến tận bây giờ, ý chí và khả năng tự học phi thường của ông vẫn làm người ta phải ngạc nhiên.
Mùa hè năm 1946, Giáo sư đi dạy tư kiếm tiền để ra Hà Nội học đại học. Nhưng rồi được vài tháng thì việc học lại gián đoạn, khi cuộc kháng chiến toàn quốc bùng nổ tháng 12/1946. Ông trở về quê, làm giáo viên trung học ở vùng tự do Liên khu V. Chính trong thời gian này, ông đã viết cuốn sách giáo khoa Hình học nổi tiếng. Theo ý kiến một số nhà toán học nước ngoài, đây rất có thể là cuốn sách Toán đầu tiên trên thế giới được xuất bản bởi một chính phủ đang kháng chiến! Người ta kể lại rằng, vào thời đó, trong hành trang phải rút đến mức gọn nhẹ nhất của nhiều người vẫn có hai cuốn sách được mang theo là Thơ Tố Hữu của nhà thơ Tố Hữu và Hình học của GS Hoàng Tụy!
Năm 1949, khi Chính phủ mở một số lớp Toán trình độ đại học ở vùng tự do, Giáo sư quyết định dự thi. Cách tổ chức thi trong kháng chiến cũng thật đặc biệt. Bài ra được giao liên theo những con đường trong rừng chuyển tận tay cho các thí sinh khắp trong nước, và bài làm lại được họ chuyển đi. Mỗi bức thư như thế từ miền Trung ra miền Bắc thường mất chừng ba tháng. Vậy mà kì thi vẫn được tiến hành nghiêm túc, chặt chẽ. Khi hay tin trúng tuyển, không chỉ riêng ông mà cả huyện đều cảm thấy vinh dự!
Tuy thi đỗ năm 1949 nhưng mãi đến năm 1951, Giáo sư mới lên đường rời quê hương ra Bắc. Đó là lúc ông phải tạm biệt người vợ mới cưới để đi theo một niềm say mê lớn suốt cuộc đời: Toán học. Một lý do đặc biệt thôi thúc ông lên đường là tin Giáo sư Lê Văn Thiêm đã từ châu Âu trở về Việt Bắc. Hồi đó, GS Lê Vân Thiêm, người Việt Nam đầu tiên có những công trình đăng trên tạp chí toán học quốc tế, người đã từ bỏ chức giáo sư ở một trường đại học châu Âu để về nước tham gia kháng chiến, đang là thần tượng của nhiều trí thức trẻ Việt Nam.
Ròng rã mấy tháng trời, khi phải lặn lội trong những con đường rừng, đối mặt với sự rình rập thường xuyên của những mối nguy hiểm đến từ giặc Pháp, sốt rét rừng và hổ dữ, khi phải nghỉ lại ở Nghệ An để dạy học kiếm tiền cho chặng đường đi tiếp theo, cuối cùng thì Giáo sư Hoàng Tụy đã đến được chiến khu Việt Bắc. Nhưng khi đến nơi, thay cho việc vào học thì ông lại được cử đi dạy! Ấy là vì những gì ông tự học được đã vượt quá chương trình đại học vài năm đầu tiên. Ông đã nhanh chóng nổi tiếng là một trong những thầy giáo dạy Toán giỏi nhất ở vùng tự do. Trong thời gian này, ông đã viết nhiều bài quan trọng góp phần xây dựng nền giáo dục non trẻ của nước Việt Nam mới. Năm 1955, khi mới tròn 28 tuổi, ông đã được Chính phủ cử làm Trưởng ban Cải cách Hệ thống các trường trung học. Lòng thiết tha với sự nghiệp giáo dục của đất nước, cho đến tận bây giờ, vẫn là một trong những điều nổi bật ở con người ông.
Tháng 9/1957, GS Hoàng Tụy được cử đi Moscow để thực tập nâng cao trình độ trong thời hạn một năm. Lần đầu tiên được bước trong những hành lang của trường Đại học Lomonosov nổi tiếng, được trực tiếp nghe những bài giảng của các nhà toán học đã trở thành kinh điển như Andrej Nikolaevich Kolmogorov, Lev Pontryagin, lòng ông tràn đầy hạnh phúc. Thế nhưng buổi gặp đầu tiên với các thầy giáo hướng dẫn thì không phải là dễ dàng. Các giáo sư nổi tiếng Dmitrii Evgenevich Menshov và Georgiy Evgen’evich Shilov, những người hướng dẫn của ông, nhìn anh học trò gần như vừa bước ra từ rừng Việt Bắc với ánh mắt nghi ngại. Để thử trình độ, họ giao cho ông một số bài tập. Có những bài ông làm được ngay, nhưng có những bài thật là khó. Sau một tuần miệt mài, ông mang lại cho thầy giáo xem lời giải, và chính họ cũng thấy bất ngờ vì lời giải của ông. Hóa ra đó không phải là một “bài tập” bình thường, mà là một trong những kết quả mà Shilov vừa thu được trong một công trình mới hoàn thành. GS Hoàng Tụy đã cho một cách chứng minh mới kết quả này. Dĩ nhiên là các thầy giáo không chờ đợi nhiều hơn ở một học trò vừa bước vào nghề, và họ vui vẻ nhận lời hướng dẫn ông. Chỉ trong vòng hơn một năm, ông đã thu được những kết quả có giá trị: công bố năm công trình nghiên cứu ở các tạp chí toán học lớn nhất của Liên Xô. Ông được phép ở lại thêm một thời gian để làm thủ tục bảo vệ luận án Phó Tiến sĩ, và ông đã bảo vệ thành công vào tháng 4/1959, tức là chỉ một năm rưỡi sau khi đặt chân đến đất Nga. Thật đáng ngạc nhiên, khi một người gần như hoàn toàn tự học lại có thể thành công nhanh đến thế. Nhưng đó chính là phẩm chất, là ý chí Hoàng Tụy, một người không bao giờ chịu lùi bước trước khó khăn.
Mặc dù rất ham mê lý thuyết hàm số thực, lĩnh vực mà ông đã có những đóng góp đáng kể và nhờ những đóng góp đó, đã bảo vệ thành công luận án Phó Tiến sĩ, ông quyết định rời bỏ nó. Nguyên nhân của quyết định đó thật rõ ràng: lĩnh vực nghiên cứu đó mặc dù rất quan trọng đối với Toán học, nhưng lại hầu như chưa tìm thấy ứng dụng nào trong thực tiễn. Ông trăn trở để tìm kiếm một lĩnh vực nào đó khả dĩ cần thiết trước mắt và lâu dài cho thực tế Việt Nam, đất nước đang phải đối diện với những khó khăn thiếu thốn hằng ngày. Và ông đã chọn cho mình một hướng nghiên cứu mới: vận trù học. Đó là bộ môn Toán học, mà nói một cách nôm na, nghiên cứu các phương pháp tiến hành công việc sao cho hiệu quả nhất: hoặc là để tiết kiệm nhất (về thời gian, chi phí, đường đi,…), hoặc để đạt được nhiều sản phẩm nhất. Thuật ngữ “vận trù học” hồi đó còn chưa có trong tiếng Việt. Chính GS Hoàng Tụy là người đã đưa từ đó vào ngôn ngữ Việt Nam. Cho đến ngày nay thì không chỉ các nhà toán học, mà hình như ai trong đời mình cũng đã từng có lần dùng chữ “vận trù” trong khi bàn bạc công chuyện hằng ngày. Có lẽ đóng góp to lớn của ông không chỉ là những định lý, kết quả khoa học mà ông đạt được trong lĩnh vực này, mà quan trọng hơn là ở chỗ, ông đã góp phần làm cho mọi người phải nghĩ đến cách làm cho công việc của mình trở nên “vận trù” hơn! Từ một thuật ngữ khó hiểu trong tiếng Hán, “vận trù” đã trở thành tiếng Việt. Chủ tịch Hồ Chí Minh, trong lần gặp gỡ và giao cho ông nhiệm vụ nghiên cứu cách tổ chức bán hàng thế nào để thuận lợi hơn cho dân, đã bảo ông tìm một từ dễ hiểu hơn từ “vận trù”. Nhưng rồi ông cũng không tìm được từ nào thích hợp hơn. Bây giờ thì “vận trù” đã trở thành một từ dễ hiểu.
Chính trong ngành khoa học mà GS Hoàng Tụy đã tìm đến chỉ vì hy vọng nó có thể giúp ích cho thực tiễn Việt Nam, ông đã đạt được những thành tựu rực rỡ nhất của mình. Công trình nghiên cứu về “quy hoạch lõm” năm 1964 đã trở thành kinh điển, và là công trình mở đầu cho một hướng nghiên cứu mới trong vận trù học. Trước ông, người ta chỉ nghiên cứu cực tiểu hóa các “hàm lồi”, không phải vì trong thực tiễn chỉ gặp những hàm như vậy, mà chỉ vì, đối với các hàm lồi, ta đã có những công cụ Toán học để giải quyết. Khi bắt tay vào nghiên cứu vận trù học, GS Hoàng Tụy nhận thấy rằng, thực ra, các bài toán cần giải quyết trong cuộc sống thường lại không phải là hàm lồi, mà là hàm lõm. Thế là ông tìm cách xây dựng một lý thuyết mới, cho phép tìm cực tiểu các hàm lõm. Ngày nay, khi nhắc đến GS Hoàng Tụy là người ta nhắc đến quy hoạch lõm, và nhắc đến quy hoạch lõm thì phải nhắc đến ông. Những người làm khoa học đều biết rằng, ghi được một dấu ấn như vậy trong khoa học là điều hết sức khó khăn. Thuật ngữ khoa học thế giới về ngành này đã có thêm một từ mới “nhát cắt Tụy” (“Tuy’s cut”). Chính công trình nghiên cứu của ông đã thúc đẩy việc hình thành một chuyên ngành mới trong toán học: lý thuyết tối ưu toàn cục. Nhiều nhà toán học nước ngoài coi ông là “cha đẻ của tối ưu toàn cục”. Đóng góp to lớn của ông trong Toán học đã được thừa nhận rộng rãi: ông thường được mời làm báo cáo chính trong nhiều hội nghị quốc tế, tham gia ban biên tập của nhiều tạp chí toán học quốc tế. Đặc biệt, để ghi nhận công lao của ông trong Toán học, năm 1995, trường Đại học Công nghệ Linkoping (Thụy Điển) đã tặng Ông danh hiệu cao quý “Tiến sĩ danh dự”. Có lẽ Ông là nhà khoa học Việt Nam đầu tiên nhận được danh hiệu cao quý đó của một trường đại học nước ngoài.
Nói đến GS Hoàng Tụy, không thể không nói đến tư cách là một nhà giáo. Những ai đã từng được may mắn nghe các bài giảng của ông đều không thể nào quên ngọn lửa tình yêu Toán học mà ông luôn biết cách truyền cho họ với một niềm say mê lớn. Tôi còn nhớ, vào năm 1966, khi khoa Toán trường Đại học Tổng hợp Hà Nội sơ tán lên vùng rừng núi Đại Từ, Thái Nguyên, các bài giảng của thầy Tụy bao giờ cũng là các bài giảng lôi cuốn sinh viên nhất. Có hôm, khi giảng về lý thuyết tập hợp và những nghịch lý của nó, thầy Tụy say sưa đến nỗi quên nghỉ giải lao, và chúng tôi cũng chỉ nhận ra cái đói (triền miên của thời sinh viên sơ tán) sau bài giảng kéo dài hai tiếng của thầy! Các bài giảng của thầy Tụy thành công có lẽ không chỉ vì thầy trình bày bao giờ cũng rõ ràng, sâu sắc, biến mọi điều phức tạp thành dễ hiểu, mà chính là vì lòng say mê Toán học của thầy đã truyền sang cho học sinh. Học với GS Hoàng Tụy, tôi nhận ra rằng, cái khó nhất, và là cái chủ yếu nhất trong giảng dạy chính là ở chỗ đó. Rất có thể ông không tự mình nhận thấy là đã lôi cuốn học sinh theo niềm say mê của mình, bởi lẽ, với ông đó là điều thật tự nhiên. Cả khi không đứng trên bục giảng, ông vẫn luôn là một thầy giáo tận tụy với lớp trẻ. Tôi còn nhớ, những năm Viện Toán học mới thành lập, trình độ ngoại ngữ của cán bộ còn non, ông đã dành rất nhiều thời gian chữa cho họ những lỗi chính tả, ngữ pháp tiếng Anh, tiếng Pháp, giúp họ hoàn chỉnh các bài nghiên cứu trước khi gửi ra nước ngoài. Và chính ông cũng không ngại ngần khi học tập lớp trẻ. Có lần vào năm 1981, khi chuẩn bị làm một báo cáo ở Viện Toán học Tính toán Moscow, ông đã nhờ một nghiên cứu sinh trẻ đi theo để nếu cần thì giúp ông về tiếng Nga, vì ông ngại rằng lâu ngày không dùng tiếng Nga, có thể bị lúng túng. Khi ra về, anh bạn trẻ đã kể lại là không thể giúp ông gì hơn, vì ông đã làm một báo cáo bằng tiếng Nga quá hoàn hảo. Là một nhà giáo mẫu mực, ông không bao giờ chấp nhận sự hời hợt, cẩu thả. Các bài viết qua tay ông đều phải chữa đi chữa lại nhiều lần. Ông nghiêm khắc với chính mình, và cũng dạy cho lớp trẻ biết nghiêm khắc với bản thân họ.
Là người suốt đời gắn bó với sự nghiệp giáo dục, GS Hoàng Tụy thường trăn trở với những vấn đề đặt ra cho giáo dục hiện nay. Nhiều bài viết của ông về các vấn đề giáo dục trên các báo đã gây những tiếng vang lớn. Nhưng không thể thấy hết lòng thiết tha với sự nghiệp giáo dục nếu chỉ đọc các bài viết của ông. Phải trực tiếp nghe ông nói. Người ta có thể đồng ý hay không đồng ý với những quan điểm nào đó của Giáo sư, nhưng không ai không cảm động trước nhiệt tình của ông khi trình bày những quan điểm đó. Không giống như những người đang phát biểu trong cuộc họp, ông như đang giãi bày tâm sự sâu nặng của mình. Và trong cách ông nói, dường như có cả sự day dứt của một con người khi chưa hoàn thành được ước nguyện nào đó của cuộc đời mình.
7. VÀI KỶ NIỆM VỚI ANH HOÀNG TỤY
- GS, NGND NGUYÊN VĂN CHIỂN - SỐ 22/2007
Anh Hoàng Tụy cùng đi với tôi sang khu học xá Nam Ninh trong chuyến đi cuối cùng vào tháng 11/1951. Đang dạy ở trường Lê Khiết, Quảng Ngãi, nghe tin GS Lê Văn Thiêm, nhà toán học nổi tiếng đã về nước mở trường khoa học cơ bản, anh xin ra Việt Bắc để tiếp tục học Toán.
Băt đầu từ tháng 8/1951, anh mất cả tháng trời để đi qua các vùng bị tạm chiếm Quảng Nam, Thừa Thiên, Quảng Trị, Quảng Bình mới đến được vùng tự do Hà Tĩnh. Đến Thanh Hóa, cạn sạch tiền và lương thực, anh phải ở lại dạy học thêm để có tiền tiếp tục đi lên Việt Bắc. Khi ấy Hòa Bình đã được giải phóng nên đường lên Việt Bắc có phần dễ hơn. Anh đã gặp tôi vào giữa tháng 11, đưa cho tôi giấy giới thiệu của Thứ trưởng Giáo dục Nguyễn Khánh Toàn. Suốt ba tháng trời đi từ Liên khu V ra tới Việt Bắc, anh đều mang theo gạo và một cái nồi để tự nấu cơm ăn. Đoàn cuối cùng đi với tôi gồm hơn chục người, trong đó có tới ba cấp dưỡng của Tổng liên đoàn cử sang Khu học xá nên anh không phải tự nấu cơm nữa. Khi ngồi nghỉ trong một hang núi đá vôi ở Chợ Mới gần đường đi Bắc Kạn, tôi nói: Bây giờ anh không phải tự thổi cơm nữa, hãy để lại cho tôi cái nồi làm kỷ niệm. Đó là một cái nồi nhôm hình dáng khá đặc biệt không giống bất kỳ loại nồi nào ở ngoài Bắc, hình bầu dục cao, tôi đã đục lỗ ở đáy để làm chõ thổi xôi. Không hiểu sao trải qua bao năm tháng tôi còn giữ nó làm kỉ niệm! Mãi tháng 5/2007 khi Bảo tàng Bắc Ninh hỏi tôi còn giữ kỷ vật gì thời chiến tranh chống Pháp không, tôi đã tặng Bảo tàng coi như kỷ vật mà tôi còn giữ được của một thanh niên đã vượt trên 1.000km gian khổ để đi tầm sư học đạo!
Khi đến Tâm Hư là địa điểm đầu tiên của khu học xá Nam Ninh, tôi bận lo việc bố trí học tập cho các trường Sư phạm sơ cấp và trung cấp nên đã vô tình phân công anh dạy Toán cho Sư phạm trung cấp, anh không bằng lòng nhưng vẫn chấp hành. Sau đó nghe tin là anh đã mày mò tự học tiếng Nga rất nhanh, chỉ sau ba tháng đã đọc được sách Toàn bằng tiếng Nga. Nhưng tôi cũng chỉ ở khu học xá có một năm rồi về nước. Mãi 14 năm sau, khi chuyển công tác về xây dựng khoa Địa lý-Địa chất trường Đại học Tổng hợp sơ tán ở Đại Từ, Thái Nguyên, tôi mới biết anh và anh Lê Văn Thiêm đang dạy ở khoa Toán. Ngày ấy phong trào cách mạng văn hóa từ Trung Quốc đã lan tới trường Tổng hợp. Một số phần tử cơ hội chủ nghĩa tả khuynh vốn là học trò của hai anh đã lên tiếng chống cái gọi là “thiên tài chủ nghĩa” của hai anh, và qua đó, chống Bộ trưởng Tạ Quang Bửu. Một thời gian sau hai anh phải chuyển sang Viện Khoa học Việt Nam. Tuy không gặp hai anh, tôi hoàn toàn cảm nhận được nỗi buồn của hai anh, đồng thời rất tiếc cho trường để mất hai thầy giáo là những nhà toán học hàng đầu của đất nước. Mười năm sau khi chuyển sang làm việc ở Viện Khoa học Việt Nam, tôi mới lại gặp hai anh khi đó đã xây dựng thành công Viện Toán học Việt Nam. Riêng anh Hoàng Tụy đã xây dựng được một chuyên ngành Toán học mới: tối ưu toàn cục.
Là những người đã làm việc nhiều năm trong ngành giáo dục, chúng tôi rất bức xúc trước những tiêu cực hiện nay trong nền giáo dục, đã nhiều lần lên tiếng để phân tích và mạnh dạn vạch ra những bất cập của nền giáo dục hiện nay, cũng như đề ra những giải pháp. Không chỉ nói, anh Hoàng Tụy còn hành động, và đặc biệt anh đã tập hợp được một nhóm nhà giáo có tên tuổi, giàu kinh nghiệm ở trong và ngoài nước, làm việc công phu nhiều ngày để xây dựng cả một đề án chấn hưng giáo dục được trình lên Chính phủ. Tôi không được biết số phận của đề án đó ra sao nhưng đoán rằng nó không được quan tâm như những dự án kèm theo hàng triệu đô-la khác.
Tấm gương của nhà khoa học-nhà giáo Hoàng Tụy sớm tự xác định được chí hướng, khả năng của mình rồi vượt mọi gian khổ để thực hiện bằng được ước mơ quả là một bài học quý giá cho lớp trẻ hiện nay.
8. NGHĨA TÌNH SÂU NẶNG
- TẠP CHÍ TIA SÁNG – SỐ 24/2007
Đó là cảm nhận của bạn bè, học trò thân thiết như Giáo sư, Nhà giáo Nhân dân Nguyễn Văn Chiển, nhà thơ Lê Đạt, Việt Phương, nhà văn Nguyên Ngọc, Giáo sư Phạm Duy Hiển, Giáo sư Hà Huy Khoái, Giáo sư Phan Đình Diệu trong buổi gặp mặt mừng Giáo sư Hoàng Tụy 80 tuổi do tạp chí Tia Sáng và báo Tuổi Trẻ phối hợp tổ chức tại tòa soạn Tia Sáng ngày 7/12/2007.
Thay mặt “chủ nhà”, Phó Tổng biên tập Hoàng Thu Hà bày tỏ lòng biết ơn về sự ưu ái, quan tâm đặc biệt của Giáo sư Hoàng Tụy dành cho Tia Sáng từ những ngày mới lập nghiệp. Những bài viết sâu sắc, những kiến nghị tâm huyết về phát triển khoa học và giáo dục của Giáo sư được đông đảo bạn đọc trong và ngoài nước đồng tình, đã góp phần quan trọng tạo nên diện mạo và uy tín của Tia Sáng. Không những thế, dũng khí, sự kiên định, nhất quán trong quan điểm của Giáo sư trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội thực sự là một tâm gương về nhân cách, đạo đức mà những người làm báo Tia Sáng noi theo. Còn nhà báo Huỳnh Sơn Phước, Phó Tổng biên tập báo Tuổi Trẻ thì khẳng định: “Trí tuệ và bản lĩnh của Giáo sư Hoàng Tụy là chỗ dựa để Tuổi Trẻ có thể thẳng thắn để cập đến nhiều vấn đề mà xã hội bức xúc, quan tâm về khoa học và giáo dục nước nhà. Dũng khí và sự nghiệp khoa học của Giáo sư là ‘tài sản’ tinh thần lớn của tờ báo và của lớp trẻ”.
GS, NGND Nguyễn Văn Chiển, người mà trong một bài viết đã gọi GS Hoàng Tụy “là một sĩ phu thời nay”, kể lại những ngày thật nặng nề khi có tới 130 cuộc họp ở trường Đại học Tổng hợp cách đầy hơn nửa thế kỷ lên án GS Hoàng Tụy “thiếu tính giai cấp” trong việc đào tạo người tài. Ông tặng người bạn thân thiết của mình bài thơ:
Mừng nhà Toán học tuổi tám mươi Mặc cho thế sự cứ trêu ngươi Một lòng son sắc không hề nguội Chúc anh thọ mãi quá mười mươi.
Nhà thơ Việt Phương, một người bạn tâm giao của GS Hoàng Tụy quan niệm: “Người trí thức có năm điều: quý về tấm lòng; phục về tài năng; tin về chính trị; trọng về văn hoá; yêu về phong cách - thì GS Hoàng Tụy là một trong những người xứng đáng nhất”. Nhà thơ Lê Đạt cũng chia sẻ: “Anh Tụy là một trong những trí thức Việt Nam mà tôi kính trọng”.
Là “đồng tác giả” với GS Hoàng Tụy trong bài báo “hơn 100 chữ mà hai người đứng tên” phê phán lối dùng chữ sáo rỗng của nhiều quan chức cách đây gần 20 năm, GS Phan Đình Diệu bày tỏ: “Tất cả anh em làm Toán đều xem GS Hoàng Tụy là người anh lớn, không chỉ là về Toán mà còn về phong cách nghiên cứu, thái độ của người làm Toán với cuộc đời”.
Là “học trò thầy Tụy” từ khi là sinh viên năm thứ nhất, sau này lại làm cùng Viện Toán trong một thời gian dài, GS Hà Huy Khoái, nguyên Viện trưởng Viện Toán nói vui: “Việc GS Hoàng Tụy bị ‘đẩy’ về Viện Toán lại là điều may mắn cho Viện”. Cùng với GS Lê Văn Thiêm, GS Hoàng Tụy đã “định hình truyền thống vừa dân chủ, vừa nghiêm túc, hướng tới chuẩn mực quốc tế của Viện Toán. Truyền thống đó có lẽ được giữ mãi: Thầy Tụy không những dạy tôi Toán mà còn dạy tôi ý thức trách nhiệm của người trí thức. Dũng khí, nhân cách của thầy Tụy là điều tôi luôn cố noi theo”.
Với nhà văn Nguyên Ngọc, nhiều điều học được qua phẩm chất cao quý của GS Hoàng Tụy thực sự là may mắn, hạnh phúc lớn trong đời ông. “Ai cũng biết Hoàng Tụy là nhà toán học, khoa học lớn, nhà văn hóa lớn của đất nước. Song điều làm tôi rất bất ngờ đó là khía cạnh hết sức tình người, đồng nhất với dũng khí của thầy. Hôm qua, tại nhà riêng trong buổi vui cùng với học trò, thầy hai lần nhắc đến một người học trò gái tài năng mất đã lâu. Có lẽ chúng ta sẽ không bao giờ hết kinh ngạc về thầy Tụy. Đến tuổi này, thầy vẫn làm khoa học, hằng năm vẫn có công trình công bố quốc tế. Sức làm việc của thầy thật kỳ lạ”. Có lẽ chính sự kỳ lạ này khiến GS Phạm Duy Hiển từ tuổi thơ đã coi GS Hoàng Tụy là thần tượng, đến nay tóc đã bạc giống Giáo sư, ông lại tự hào khi được vài người “phê phán” là đã có cùng một số quan điểm với Giáo sư.
Trước nghĩa tình sâu nặng của bạn bè, đồng nghiệp, học trò và những người làm báo dành cho mình, GS Hoàng Tụy xúc động đáp từ: “Tôi xin cảm ơn tạp chí Tia Sáng và báo Tuổi Trẻ đã tạo cho tôi cơ hội được thẳng thắn bày tỏ quan điểm của mình đối với sự nghiệp phát triển khoa học, giáo dục của nước nhà. Tôi gửi gắm niềm tin, sự cảm phục đối với những người làm báo Tia Sáng và Tuổi Trẻ đã tôn trọng sự thật, dám nói sự thật trong những thời điểm khó khăn nhất”. Giáo sư bày tỏ sự băn khoăn, lo lắng cho tương lai của thế hệ trẻ trước những vấn nạn và tiêu cực trong nhiều lĩnh vực đời sống xã hội chậm được khắc phục, và khẳng định sẽ tiếp tục dành sức lực, tâm huyết đồng hành cùng với Tia Sáng vòi Tuổi Trẻ góp phần vào sự nghiệp phát triển khoa học và giáo dục vì sự phồn vinh của đất nước, tương lai tốt đẹp cho thế hệ trẻ.
Với bạn bè, đồng nghiệp, những người ở các cương vị khác nhau, lĩnh vực hoạt động khác nhau nhưng đều nặng lòng với đất nước, những người không chỉ đồng cảm với Giáo sư trong nhiều suy nghĩ, ý tưởng mà còn nhiều năm gắn bó, giúp đỡ Giáo sư trong đời sống và công việc, Giáo sư nói: “Có được những người bạn, đồng nghiệp như vậy thật là hạnh phúc đối với tôi”.
Đúng như nhà thơ Việt Phương nói: “Với những người có tấm lòng, có tài năng, bản lĩnh thì cuộc đời rất công bằng”. Dù đã nhận được nhiều sự tôn vinh, giải thưởng của nhà nước và cộng đồng Toán học quốc tế, nhưng chắc hẳn không có sự tôn vinh nào làm Giáo sư Hoàng Tụy vui hơn khi được biết có trên 500 bạn đọc đã gửi thư nhờ Tia Sáng và Tuổi Trẻ chuyển lời chúc mừng và sự kính trọng đến Giáo sư nhân 80 năm ngày sinh.
9. TÔI THẬT SỰ ẤN TƯỢNG VỀ ÔNG
- GS TAKETOMO MITSUI
(VIỆT ANH dịch) - SỐ 7/2008
GS Taketomo Mitsui (Đại học Nagoya, Nhật Bản) có bài viết về GS Hoàng Tụy với đầy sự khâm phục, kính trọng, đăng trên tạp chí The Optimization Research Bridge số 7, tháng 9/2002.
Lần đầu tiên tôi được nghe tên GS Hoàng Tụy, có thể là do Kyoji Saito, người đồng nghiệp thân thiết của tôi ở Kyoto nói với tôi về những thành quả nghiên cứu của ông từ hồi đầu thập niên 1980. Đến khi bắt đầu bước vào nghiên cứu lĩnh vực toán ứng dụng, Saito đưa tôi một tập công bố nghiên cứu của GS Hoàng Tụy, nhờ đó mà tôi biết rõ hơn những thành tựu lớn lao của ông trong lĩnh vực lý thuyết tối ưu - lĩnh vực có mối liên hệ gần gũi với lĩnh vực giải tích số mà tôi đang nghiên cứu. Vì vậy, tôi mong mỏi có ngày được gặp mặt ông.
May mắn là giữa năm 1987, tôi nhận được thư mời có chính chữ ký của GS Hoàng Tụy. Giáo sư thân tình mời tôi đến Hội nghị quốc tế ICOMIDC (Hội nghị về Toán học trong Máy tính) tổ chức tại thành phố Hồ Chí Minh tháng 4/1988. Tất nhiên là tôi lập tức nhận lời.
Trưa ngày 24/4/1988, tôi đã được gặp GS Hoàng Tụy trong một khách sạn ở thành phố Hồ Chí Minh. GS Hoàng Tụy nhỏ nhắn, lộ rõ vẻ thông minh. Với tư cách là người dẫn đầu cộng đồng Toán học Việt Nam, GS Hoàng Tụy rất bận bịu với việc khuyến khích, khuyên bảo những người tổ chức hội nghị. Dầu vậy, ông vẫn quan tâm tới tôi bằng việc chỉ định một đồng nghiệp trẻ lo hướng dẫn cho tôi. Thêm nữa, sau khi kết thúc hội nghị, GS Hoàng Tụy và tôi lại cùng chuyến bay ra Hà Nội. Ở đây, GS Hoàng Tụy đã bố trí cho tôi tới thăm Viện Toán và trường Đại học Bách Khoa Hà Nội. Đó là dịp tôi được gặp gỡ những đồng nghiệp Việt Nam ở rất nhiều lĩnh vực. Và cũng với sự quan tâm đó, tôi và Rudolf Gorenflo - một giáo sư ở Berlin - được đi thăm Hạ Long, một kỳ quan thiên nhiên.
Tháng 9 năm đó, sau khi kết thúc Hội nghị Quốc tế lần thứ 13 về Quy hoạch Toán học (Mathematical Programming) ở Tokyo, GS Hoàng Tụy đến Nagoya và nghỉ ở nhà tôi gần nửa tháng. Trong quãng thời gian đó, tôi với ông thảo luận với nhau rất lâu về nhiều vấn đề. Tôi cũng giới thiệu với ông các đồng nghiệp của tôi, những người rất gần với lĩnh vực tối ưu. Đó là lần đầu tiên GS Hoàng Tụy đến Nhật Bản, điều đó có nghĩa là tôi cũng có chút công sức trong việc phát triển mối liên hệ giữa ông với các đồng nghiệp Nhật Bản. Từ đó, GS Hoàng Tụy đã vài lần tới thăm Nhật Bản, và lần nào tồi cũng vui mừng được gặp ông, để nghe ông nói và thảo luận về nhiều vấn đề, từ nghiên cứu học thuật, hệ thống giáo dục đến cộng đồng toán ứng dụng, v.v.. Qua những thảo luận đó, tôi nhận thấy GS Hoàng Tụy không chỉ là nhà Toán học đầy kinh nghiệm mà còn là một nhà khoa học với tầm nhìn quốc tế.
Tôi muốn nói đến vài mẩu chuyện thú vị về GS Hoàng Tụy. Năm 1990, chiếc máy xử lý văn bản (word-processor) của Viện Toán mà GS Hoàng Tụy mang về từ Tokyo bị trục trặc (một bảng mạch điện tử nào đó bị hỏng). Ông hỏi tôi liệu tôi có thể tìm được đồ thay thế ở Nhật Bản không. Tôi cố tìm đúng loại ông cần và gửi đi Hà Nội. Không may, loại bảng mạch mà tôi xác định đó không đúng. Tôi biết điều đó qua e-mail của Giáo sư gửi từ thành phố Graz: “Một chuyên gia điện tử mà tôi nhờ giúp, sau khi kiểm tra kỹ lưỡng, nói với tôi rằng phần đầu của bảng mạch cao hơn cái cũ một chút nên không lắp vừa với máy”. Mẩu chuyện cho thấy GS Hoàng Tụy rất nhiệt tình học hỏi công nghệ hiện đại, cho dù chỉ với chiếc máy xử lý văn bản.
Lần gặp ông gần đây nhất ở Hà Nội là khi tôi dự một hội nghị quốc tế (DEAA 2001). Ở hành lang khách sạn tôi ở, ông xuất hiện với nụ cười và vẻ điềm tĩnh như thường lệ. Tôi biết ông đã ngoài 70, nhưng ông vẫn hoạt bát và nói với tôi chi tiết về kế hoạch tương lai. Tôi thực sự ấn tượng về ông - người có uy tín lớn trong cộng đồng toán học Việt Nam, châu Á và thế giới bằng tài năng xuất chúng cũng như nhân cách cao đẹp của mình. Tôi cầu mong cho ông sức khỏe và trường thọ.
10. NHỮNG HỒI ỨC VỀ TOÁN HỌC CỦA MỘT ĐẤT NƯỚC THỜI ĐANG BỊ CẤM VẬN
- (GS NGÔ VIỆT TRUNG dịch) - SỐ 24/2007
Nhân 80 năm ngày sinh của Giáo sư Hoàng Tụy, tạp chí Tia Sáng xin giới thiệu với bạn đọc bài phỏng vấn GS Hoàng Tụy được thực hiện năm 1989 bởi GS Neal Koblitz, Đại học Washington (Mỹ), và được công bố trong số 3 tập 12 năm 1990 của tạp chí The Mathematical Intelligencer rất nổi tiếng trong giới toán học quốc tế. Theo GS Ngô Việt Trung, Viện trưởng Viện Toán, ông có may mắn làm việc cùng cơ quan với GS Hoàng Tụy ngay từ lúc chập chững làm nghiên cứu và đã học được rất nhiều điều từ nhân cách, nghị lực và phương pháp làm việc của Giáo sư. Để tỏ lòng biết ơn GS Hoàng Tụy, ông đã dịch bài trả lời phỏng vấn này.
Koblitz: Thưa GS Hoàng Tụy, xin ông bắt đầu bằng việc kể một chút về nguồn gốc gia đình và những năm thơ ấu.
GS Hoàng Tụy: Tôi sinh năm 1927 tại làng Xuân Đài, nay thuộc xã Điện Quang, khoảng 20 km về phía nam Đà Nẵng. Cha tôi, ông mất lúc tôi mới bốn tuổi, đã đỗ kỳ thi tiếng Nho kiểu cổ và là một quan lại nhỏ của triều đình cũ. Những năm 1920, chế độ hiện đại của Pháp đang trong quá trình hình thành ở Việt Nam. Mặc dù cha tôi có địa vị xã hội nhưng gia đình tôi nghèo. Các anh tôi phải đi làm từ lúc rất trẻ.
Gia đình tôi có truyền thống bất hợp tác với chính quyền thực dân. Một trong những tiền bối của tôi là ông Hoàng Diệu, tổng đốc thành Hà Nội vào những năm 1880. Ông đã anh dũng chống quân Pháp để bảo vệ thành Hà Nội nhưng thành phố đã thất thủ. Cho rằng mình phải chịu trách nhiệm vê việc đó, ông đã tự vẫn để khỏi phải rơi vào tay kẻ thù. Sự kháng cự và tự vẫn của ông được coi là những hành động yêu nước vĩ đại. Năm 1945, khi cách mạng giành lại Hà Nội từ tay quân Pháp, Hà Nội đã được đổi tên là thành Hoàng Diệu trong một thời gian.
Thế hệ chúng tôi tiếp tục truyền thống kháng chiến đó. Nhưng chúng tôi hầu như không làm được gì trong nhiều năm. Một người anh của tôi bị đuổi khỏi trường mỹ thuật khi đang học để trở thành họa sĩ vì tham gia các cuộc bãi khóa. Anh cả của tôi là giáo viên trung học - một nghề được coi là danh giá trong xã hội Việt Nam khi đó - bị đuổi việc do hoạt động chống chế độ thuộc địa. Gia đình tôi có truyền thống văn hóa và yêu nước được truyền từ đời này sang đời khác.
Ông bắt đầu quan tâm đến Toán học như thế nào?
Khi còn là đứa trẻ đi học trường làng, tôi đã học giỏi hai môn Văn và Toán. Sau đấy tôi đến Huế, nơi anh tôi làm giáo viên trung học, và vào học trường Lycée 48 ở đó, một trong ba trường tốt nhất ở Việt Nam thời kỳ đấy. Không may là các giáo viên dạy môn Văn của tôi rất dở, còn các giáo viên dạy môn Toán thì rất giỏi.
Đó là những năm diễn ra Thế chiến II. Việc học của ông có bị gián đoạn không?
Có, điểm học của tôi không tốt lắm do tôi bị ốm. Năm 15 tuổi, tôi phải nghỉ học một năm vì bị bệnh hô hấp và liệt một phần. Tôi bị liệt mất ba tháng và sợ không chữa được. Thế nhưng sau đó tôi được chữa khỏi bởi một thầy châm cứu lành nghề.
Đó là năm 1942. Pháp và Nhật Bản đang chiếm đóng Việt Nam còn máy bay Mỹ ném bom thường xuyên, ngay cả ở làng tôi vì nó nằm giữa hai con sông gần hai chiếc cầu trên tuyến đường sắt xuyên Đông Dương. Gần như ngày nào chúng tôi cũng phải chạy vào hầm trú ẩn. Sau khi bỏ học một năm, tôi chuyển từ trường Lyceé sang trường tư thục mà ở đó tôi có thể nhảy cóc hai lớp và tốt nghiệp sớm một năm vào năm 1946.
Cách mạng ảnh hưởng thế nào tôi kế hoạch của ông?
Đấy là thời kỳ cách mạng. Sau khi nhận bằng trung học bậc I, tôi trở về làng tham gia cách mạng. Lúc đó tôi 18 tuổi và tôi biết rằng có nguy cơ là tôi không thể tốt nghiệp trung học bậc II.
Để nhận được bằng này phải trải qua hai phần của một kỳ thi khó được tổ chức hai lần một năm vào tháng 5 và tháng 9. Sau khi trở lại Huế vào tháng 2/1946, tôi chỉ có ba tháng để chuẩn bị cho kỳ thi tháng 5 và chỉ mong qua được một phần thi. Nhưng kết quả thi của tôi đứng nhất lớp nên tôi quyết định thi ngay phần hai mặc dù không chuẩn bị gì cho nó. Tôi ngạc nhiên khi biết mình đạt điểm cao nhất trong cả kỳ thi. Vậy là tôi nhận bằng tốt nghiệp, có thời gian nghỉ ngơi đôi chút rồi đi làm kiếm tiền để ra Hà Nội.
Ông có vào thẳng đại học không?
Mùa hè năm 1946, tôi kiếm tiền bằng cách dạy tư để có thể đi. Cuối tháng 9 tôi đi tàu từ Huế ra Hà Nội để vào trường đại học. Lúc đó tôi đã nghe về Lê Văn Thiêm, người sau này đã sáng lập ra các cơ sở Toán học ở Việt Nam, và tôi muốn học với anh Thiêm. Có tin đồn rằng năm đó anh sẽ từ châu Âu trở về Việt Nam để làm hiệu trưởng trường Đại học Hà Nội. Trường theo hệ thống Pháp, và tôi theo chương trình toán của khoa Khoa học Cơ bản.
Hai tháng sau đó, vào tháng 12/1946, chiến tranh nổ ra, Hà Nội thất thủ, và trường đại học đóng cửa.
Thế ông làm gì?
Tôi dùng số tiền còn lại mua sách Toán để tự học tiếp. Sau đó tôi quay về làng tôi ở phía nam Đà Nẵng.
Đầu năm 1947 tình hình ở Việt Nam trở nên phức tạp. Sau Thế chiến II, theo thỏa thuận của phe Đồng Minh, quân đội Tưởng Giới Thạch chiếm đóng miền Bắc (kéo dài đến phía nam Đà Nẵng), còn quân Anh thì chiếm miền Nam. Mục đích của họ là giải giáp quân đội Nhật Bản như Pháp đã thỏa thuận để thay thế quân Tưởng và quân Anh. Do đó, quân Pháp đã có mặt ở nhiều thành phố kể cả Đà Nẵng khi chúng tôi tổ chức bảo vệ nền độc lập. Tình hình quân đội chúng tôi rất không thuận lợi. Quân đội Việt Nam kháng cự lại quân Pháp trong vòng hai, ba tháng rồi rút lui. Tôi phải nói rằng chúng tôi rút lui khá lộn xộn bởi vì bị bất ngờ trước quy mô tấn công của quân Pháp. Khi quân đội rút khỏi thành phố thì nhiều người dân cũng đi sơ tán theo, để lại đồng bằng để lên vùng núi. Thật kinh khủng. Chúng tôi đốt sạch để kẻ thù không còn gì để dùng.
Ông đi đâu? Ông có sống cùng gia đình không?
Tôi sống với mẹ và anh em trong miền núi phía tây tỉnh nhà khoảng hai tuần. Sau đó, mọi người chuyển đến một vùng cách đó 100km về phía nam, và tôi đi dạy ở một trường trung học tỉnh Quảng Ngãi. Thời đó Quảng Ngãi có trường trung học tốt nhất ở vùng tự do của chúng tôi (được gọi là Liên khu V). Tôi dạy Toán ở đó từ năm 1947 đến năm 1951.
Chính trong thời kỳ này ông viết sách giáo khoa?
Đúng thế, cuốn sách được một nhà xuất bản in năm 1949. Đó chỉ là một cuốn sách hình học sơ cấp cho các trường trung học, nhưng nó có thể là cuốn sách Toán học đầu tiên do chính phủ kháng chiến xuất bản.
Tôi thích thú khi thấy một cuốn truyện nổi tiếng gần đây có nhắc đến cuốn sách hình học của tôi. Chắc anh cũng biết năm 1954 nước tôi bị chia cắt tại Vĩ tuyến 17. Thời kỳ này một số vùng ở Việt Nam đã được giải phóng, nhưng vì Hiệp định Genève 1954 nến bộ đội và giáo viên của các vùng giải phóng đã ra miền Bắc. Không may là nhiều học sinh không đi cùng được với giáo viên và họ phải tìm cách tiếp tục tự học. Theo cuốn truyện nổi tiếng này thì có hai cuốn sách được học sinh khen nhiều nhất là một tập thơ của Tố Hữu, một nhà thơ Việt Nam đương đại, và cuốn sách của tôi.
Năm 1948, trường trung học nơi tôi dạy bị thiêu hủy hoàn toàn trong một cuộc bỏ bom nửa tiếng đồng hồ bởi máy bay Pháp. Đã có 17 học sinh và một nữ giáo viên bạn tôi thiệt mạng lần đó.
Tại sao Pháp lại bỏ bom trường học?
Thời kỳ này quân Pháp rất dã man. Chúng bỏ bom mọi thứ. Ngay cả một người đi đường cũng bị tấn công. Chúng tôi đã nghĩ rằng do ai cũng biết rõ chúng tôi là một trường trung học nên chúng tôi không cần ngụy trang. Sau trận bom, chúng tôi trở nên thận trọng hơn, và chúng tôi chuyển các lớp học sang các làng khác và ngụy trang chúng.
Khi nào ông quyết định rời miền Nam?
Năm 1949, sau khi Hà Nội bị chiếm đóng và trường đại học đóng cửa, một vài lớp đại học Toán được thành lập tại các vùng giải phóng ở miền núi khoảng 200-300km về phía bắc gần biên giới với Trung Quốc. Thêm vào đó có hai đại học đại cương được thành lập ở các vùng tự do: một bởi GS Nguyên Thúc Hào ở Chiến khu IV và một bởi GS Nguyễn Xiên ở vùng Đông Bắc.
Trí thức Việt Minh tổ chức một cuộc thi dưới sự quản lý của Bộ Giáo dục. Tôi là một trong hai người đại diện cho vùng của tôi ở phía nam. Cuộc thi kéo dài và phức tạp vì các đề bài và bài làm của chúng tôi được chuyển đi theo đường mòn trên núi (sau này được gọi là đường mòn Hồ chí Minh) bởi các giao liên kháng chiến. Thông thường phải cần đến khoảng ba tháng để nhận được thư từ miền Bắc gửi vào. Nhưng tôi phải nói rằng phương thức này hoàn toàn tin cậy, không có gì bị thất lạc hoặc đưa nhầm. Thật vậy, bưu điện Việt Minh thời đó làm việc hiệu quả hơn rất nhiều bưu điện Việt Nam ngày nay.
Sau khi gửi bài làm đi, tôi phải đợi tám tháng mới biết kết quả. Để bài kiểm tra Toán đại cương của đại học năm thứ nhất, chủ yếu là giải tích và cơ học. Bất chấp điều kiện thiếu thốn, cuộc thi được thực hiện rất nghiêm ngặt. Hội đồng thi vùng tôi được thành lập trực tiếp bởi Ủy ban Việt Minh Liên khu V. Do đó, cuộc thi có thanh thế cao, và mọi người đã rất hân hoan khi nhận được tin là tôi thi đỗ.
Ông ra Bắc ngay sau khi biết tin?
Không, đó là cuối năm 1949. Tôi còn dạy học thêm hai năm nữa. Năm 1951, tôi biết chắc rằng Lê Văn Thiêm đã quay trở về Việt Nam và đang làm việc trong vùng giải phóng ở miền Bắc. Khi đó tôi xin phép ra Bắc và được chấp thuận.
Ông đi ra Bắc như thế nào?
Chỉ có một con đường đi bộ xuyên núi. Thời kỳ này, đường mòn Hồ Chí Minh vẫn là một đường mòn theo đúng nghĩa, một đường mòn cho đi bộ rất hẹp. Nhưng nó được tổ chức rất tốt. Cứ khoảng 30km có một trạm nghỉ qua đêm và có giao liên đưa chúng tôi đến trạm tiếp theo. Tất nhiên là cũng có những hiểm nguy.
Cái gì là mối nguy hiểm chính?
Có ba thứ: quân Pháp, bệnh sốt rét và cọp.
Ông đi bộ ra Bắc mất bao lâu?
Chuyến đi kéo dài ba tháng. Đoạn đầu ở vùng gần Đà Nẵng còn tương đối dễ bởi vì chúng tôi đi trên đồng bằng, theo các con đường về ban đêm. Thành phố và làng mạc đều không có người ở do Pháp bỏ bom, nhưng không bị chiếm đóng.
Tiếp theo về phía bắc thì quân Pháp chiếm đóng tất cả vùng phía dưới và chúng tôi phải đi trên núi. Đây là quãng đường gian khổ nhất của chuyến đi - trên vùng núi của tỉnh Bình Trị Thiên hiện nay 49 . Chúng tôi chỉ mang theo gạo và muối để ăn. Khi tôi ra đi, tôi mang theo những cuốn sách Toán bỏ đi bìa và cắt lề để chúng nhẹ hơn cho chuyến đi ra Bắc.
Khi đến Liên khu IV gần Hà Tĩnh, tôi đã ở lại dạy tư hai tháng nhằm kiếm tiền để tiếp tục đi. Thật thú vị khi nhớ lại trong thời gian chiến tranh vẫn có những trường học hoạt động trong khắp các vùng tự do. Tôi dạy học vào kỳ nghỉ hè - từ tháng 7 đến tháng 9/1951 - thời gian mà học sinh trung học thích học thêm. Các lớp học tư nhỏ này được tổ chức trong những căn phòng có bảng đen, và mỗi học sinh tự đem theo một chiếc ghế nhỏ cho mình.
Sau thời gian dạy học ở Liên khu IV, tôi đã hoàn tất chuyến đi chỉ trong vòng một tháng bằng cách đi vòng qua vùng Hà Nội bị chiếm đóng, rồi cuối cùng đến được trường đại học tự do ở phía Bắc.
Khi ra đến đất Bắc, ông có vào học ngay không?
Không. Sau chuyến đi đầy khó nhọc, khi đến nơi tôi mới biết rằng trường chỉ mới có những lớp dưới đại học. Do tôi đã học qua những lớp này nên thay vì đi học, tôi bắt đầu dạy ở trường trung học và tiếp tục tự nghiên cứu. Vào thời gian đó tôi gặp anh Lê Văn Thiêm.
Ông ấy là một trong những lý do chính để ông ra Bắc?
Đúng vậy, Lê Văn Thiêm là một thần tượng cho giới trẻ lúc đó, là người Việt Nam đầu tiên trở về nước với học vị tiến sĩ Toán học của Pháp. Đầu tiên, năm 1949, anh Thiêm trở về vùng cực nam miền Nam. Một vài tháng sau đó anh làm một chuyến trường chinh ra Bắc để chuẩn bị thành lập trường đại học. Chính quyền Việt Minh cho anh một đội bảo vệ và cần vụ.
Có phải việc đào tạo đại học được tiến hành ở tất cả miền Bắc không?
Không, như tôi đã nói ở trước, lúc này Nguyễn Thúc Hào, một thầy giáo trung học của tôi, đang dạy những lớp nâng cấp ở một vùng giữa Hà Nội và Huế trong Liên khu IV. Nguyễn Xiển cũng dạy các lớp như vậy ở vùng phía tây Hà Nội cho đến năm 1950, khi ông đồng ý tham gia cùng với anh Lê Văn Thiêm. Sau đấy, từ năm 1950 đến năm 1954, trung tâm chủ yếu của đào tạo đại học là vùng cực Bắc, chỉ cách biên giới Trung Quốc vài cây số, nơi mà máy bay địch không dám bén mảng vì Pháp sợ dính dáng với họ.
Ông ở lại vùng biên giới suốt thời gian đó?
Không, có ba lần tôi rời nơi đó vì tôi phải dự hội nghị của Bộ Giáo dục thảo luận về việc nâng cao chất lượng giáo dục trung học trong vùng giải phóng. Vì có tiếng là giáo viên giỏi nên tôi phải viết nhiều báo cáo về vấn đề này. Các hội nghị này ở khá xa, hoặc ở phía nam tỉnh Hà Tuyên 50 hay ở phía bắc tỉnh Bắc Thái 51 . Chúng được tổ chức gần trụ sở chính quyền Việt Minh. Nhưng chúng tôi không bao giờ biết được địa điểm chính xác. Chúng tôi chỉ được báo địa chỉ một nơi cần đến, sau đó giao liên dẫn chúng tôi đi một quãng đường lòng vòng để đến Bộ Giáo dục, mà nơi này cũng thay đổi thường xuyên. Chúng tôi đi bằng xe đạp đã được bỏ bớt một số bộ phận để đẩy xe lên dốc dễ hơn. Chúng tôi thậm chí còn bỏ cả phanh. Khi xuống dốc, chúng tôi dùng que chèn nan hoa để giảm tốc độ. Bằng cách này, chúng tôi đi được 100-200km để đến dự hội nghị chỉ trong vòng đôi ba ngày.
Học Toán ở phía Bắc liệu có ích lợi gì hơn so với ở quê ông không?
Ồ, có chứ. Ngoài sự hiện diện của anh Lê Văn Thiêm, ở đó còn có nhiều sách tốt hơn. Trước đó tôi chỉ được đọc những cuốn sách Pháp cũ, của Ernest Vessiot, Paul Montel, Georges Papelier và Edouard Goursat. Giờ tôi có thể mua sách Nga mới hơn ở các cửa hàng sách trong vùng tự do.
Ông biết tiếng Nga trước đó?
Không, tôi phải tự học. Tôi tìm được một cuốn sách rất cũ tên là “Học tiếng Nga trong ba tháng”, chủ yếu dành cho doanh nhân, mà nhờ nó tôi học được các quy tắc ngữ pháp và một ít từ. Rồi tôi bắt tay ngay lập tức vào việc đọc cuốn “Lý thuyết Hàm thực Một biến” của Isidor P. Natanson. Một, hai trang đầu tôi hầu như phải tra từng từ một, sau đó tôi tra ít dần, ít dần cho đến khi tôi có thể đọc thành thạo.
Sách của Natanson là cuốn sách tiếng Nga đầu tiên tôi đọc. Tôi phải nói rằng đó là một cuốn sách tuyệt vời. Tôi say sưa với lý thuyết độ đo, tích phân Lebesgue, và nhiều thứ khác. Cuốn sách đã có ảnh hưởng rất lớn tới chuyên ngành Toán học ban đầu của tôi.
Ông thu xếp việc học hành thế nào?
Từ năm 1951 đến năm 1955, tôi theo đúng chương trình Toán đại học của Liên Xô, tự đọc hết cuốn sách này đến cuốn sách khác. Năm 1955, Hà Nội được giải phóng và trường đại học lại mở. Lê Văn Thiêm trở thành Hiệu trưởng. Tháng 9 năm đó tôi bắt đầu giảng dạy tại trường Đại học Hà Nội.
Khi đó, tôi nổi tiếng là một trong những giáo viên trung học giỏi nhất ở vùng tự do. Ngoài ra, tôi đọc rất nhiều về giáo dục trung học ở các nước, đặc biệt là ở Liên Xô. Vậy nên năm 1955, tôi được chính quyền mới bổ nhiệm làm Chủ tịch Ủy ban Cải cách Giáo dục Trung học, mặc dù lúc đó tôi mới 27 tuổi và các thành viên khác trong ủy ban lớn tuổi hơn tôi nhiều. Hai năm sau, vào tháng 9/1957 tôi đến Moscow học tiếp. Đấy là chuyến đi đầu tiên của tôi ra nước ngoài.
Ông theo học chương trình tiến sĩ hệ chính quy?
Không, lúc đầu tôi được sang một năm để làm thực tập sinh ở khoa Toán cơ Trường Đại học Tổng hợp Quốc gia Moscow. Tôi chọn môn giải tích thực và được phần hai giáo viên hướng dẫn là Dmitrii Evgenevich Menshov và Georgiy Evgen’evich Shilov.
Tôi nghĩ rằng khi mới gặp, hai người đều nghi ngờ trình độ của tôi. Hai ông hỏi tôi hàng loạt câu hỏi, một số tôi có thể trả lời ngay, một số thì quá khó. Tôi nhớ một trong những câu hỏi khó như sau: Cho một tập A [1,0] có độ đo Lebesgue dương. Chứng minh rằng tập {x+y| x,y A] chứa một đoạn thẳng. Shilov cho tôi một tuần để tìm lời giải và tôi may mắn đã làm được. Sau đó tôi mới biết đây là một mệnh đề trong một bài báo mới của ông. Cách chứng minh của tôi khác với Shilov. Ông rõ ràng có ấn tượng tốt và sau đó tin tưởng khả năng của tôi. Năm đó, ông mời tôi đến nhà nhân dịp Giao thừa, ngày lễ gia đình lớn nhất ở Liên Xô.
Việc học của ông tiến triển thế nào?
Sau một năm, tôi viết xong luận văn tiến sĩ về giải tích thực dưới sự hướng dẫn của Menshov. Đáng nhẽ tôi phải quay trở về Việt Nam ngay thì tôi lại được phép ở lại thêm vài tháng để hoàn thành các thủ tục, trước hết là để chuyển từ chương trình thực tập sinh lên chương trình nghiên cứu sinh, rồi sau đó là công bố các kết quả nghiên cứu của mình và bảo vệ luận án. Tôi nhận học vị của mình tháng 4/1959.
Sau khi nhận học vị tiến sĩ ở Moscow, ông có quay về Hà Nội không?
Có, tôi đã trở thành Chủ nhiệm khoa Toán Đại học Tổng hợp Hà Nội. Từ năm 1959, tôi luôn sống ở Hà Nội, trừ những chuyến đi nước ngoài.
Mối quan tâm đến Toán học của ông có thay đổi sau khi trở về Hà Nội không?
Tôi bắt đầu sự nghiệp của mình trong giải tích thực và đã công bố năm bài báo về lĩnh vực này trong các tạp chí của Liên Xô. Nhưng rồi tôi nhận ra rằng lĩnh vực đó không thật hữu ích cho đất nước mình. Tất nhiên, đấy là một lý thuyết đẹp nhưng hơi lý thuyết quá và hơi xa thực tế (ít nhất điều này đúng với thời điểm đó nhưng nay dường như đang thay đổi).
Năm 1961, tôi bắt đầu quan tâm nghiên cứu vận trù học. Năm 1962, tôi gửi bài báo đầu tiên về toán quy hoạch cho Leonid Vitaliyevich Kantorovich và ngay năm đó đến thăm ông ấy ở Novosibia mấy tuần.
Đấy là lúc vận trù học được đưa vào Việt Nam lần đầu tiên?
Đúng, năm 1961, tôi nghe nói các nhà toán học Trung Quốc bắt đầu nghiên cứu lĩnh vực này. Ngay cả nhà lý thuyết số, đại số và lý thuyết hàm nổi tiếng Hoa La Canh (Hua Luogeng) cũng tích cực quảng bá ngành này. Thế nên, khi Tạ Quang Bửu, Bộ trưởng Bộ Đại học khi đó và cũng là một nhà toán học, đi thăm Trung Quốc, tôi đề nghị ông tìm kiếm thông tin về ứng dụng vận trù học. Khi ông trở về, tôi bắt tay ngay vào làm việc thực sự theo hướng này.
Ông đã đến Trung Quốc chưa?
Chuyến đi Trung Quốc đầu tiên của tôi (không tính những lần quá cảnh bằng tàu hỏa khi đi Moscow) là vào năm 1963, khi tôi được mời đi báo cáo một tháng tại Viện Toán học thuộc Viện Hàn lâm Khoa học Trung Quốc, tại Khoa toán trường Đại học Tổng hợp Bắc Kinh và nhiều trường đại học khác. Tôi sang lại Trung Quốc năm 1964, ở đó ba tuần. Trong những chuyến đi đó tôi đã gặp những nhà toán học xuất sắc như Hoa La Canh, Ngô Tấn Mưu (Vu Tsin Muo), Trình Dân Đức (M. T. Cheng), Cốc Siêu Hào (Gu chaohao), Hồ Quốc Định (Hu Guoding) và một người phụ nữ trẻ tên là Gui Xiangyun, người sau này đóng một vai trò nổi bật trong ngành vận trù học của Trung Quốc. (Lần đầu tiên tôi gặp Cốc Siêu Hào và Hồ Quốc Định là ở Moscow). Thế nhưng tôi đã mất toàn bộ liên lạc với họ trong cuộc Cách mạng Văn hóa ở Trung Quốc.
Từ năm 1964, chiến tranh chống Mỹ ở Việt Nam rất căng thẳng. Điều này ảnh hưởng như thế nào tới đời sống Toán học ở Hà Nội?
Tháng 5/1965, để tránh những cuộc ném bom, trường Đại học Tổng Hợp được sơ tán lên miền núi cách Hà Nội khoảng 170km về phía tây bắc, gần thành phố Thái Nguyên. Khi đó tôi là Chủ nhiệm khoa Toán Lý. Chúng tôi có khoảng 250 sinh viên phân khoa Toán.
Cuộc sống nơi sơ tán như thế nào? Có đói không, có bệnh sốt rét và các bệnh nhiệt đới khác không?
Không có bệnh sốt rét. Bệnh này đã bị thanh toán ở miền Bắc Việt Nam nhờ các chiến dịch chống sốt rét những năm 1955-1959. Mối nguy hiểm chính là những cuộc ném bom. Máy bay Mỹ có thể xuất hiện bất kỳ lúc nào. Các lớp học của chúng tôi được dựng bằng tre ở xa nhau, ẩn dưới những tán cây. Hầm trú ẩn đào ngay bên cạnh bàn học dưới chân để chúng tôi có thể nhảy xuống ngay lập tức.
Trường đại học trong rừng có bị trúng bom không?
Không, nhưng có vài quả bom được ném xuống rất gần. Có lần một phi công Mỹ đã bị bắt ở ngay gần chỗ chúng tôi.
Khoảng thời gian này ông có làm toán được không?
Có, tinh thần chúng tôi rất cao nên chúng tôi tổ chức seminar thường xuyên suốt thời kỳ này. Hội Toán học do anh Lê Văn Thiêm sáng lập năm 1965 (tôi là Tổng thư ký) tổ chức các seminar chung về tối ưu, xác suất, giải tích hàm, đại số giải tích số. Tham gia có người của Đại học Tổng hợp, Đại học Sư phạm và Đại học Bách khoa (Viện Toán học mãi đến năm 1970 mới thành lập). Do ba trường sơ tán ở ba phía khác nhau của Hà Nội nên chúng tôi tổ chức seminar ở Hà Nội. Chúng tôi gặp nhau hai lần một tháng. Tôi phải nói rằng mọi người rất nhiệt tình tham gia. Nhiều người chúng tôi nhân cơ hội đó về thăm gia đình.
Đó là thời điểm nhà toán học Pháp nổi tiếng Alexandre Grothendieck thăm Việt Nam phải không?
Đúng, ông đến thăm vào tháng 11/1967. Trong vài ngày đầu, chúng tôi tổ chức cho ông giảng bài ở Hà Nội. Nhưng có hôm tên lửa bắn vào cách giảng đường chỉ khoảng 100-200m. Thế là Bộ trưởng Bộ Đại học Tạ Quang Bửu ra lệnh cho chúng tôi phải sơ tán. Tôi nhớ là Grothendieck vui thích khi biết tin chúng tôi sẽ đi sơ tán và coi tình huống bất bình thường đó như một cuộc phiêu lưu.
Thế rồi Grothendieck tiếp tục giảng bài trong rừng Thái Nguyên?
Đúng vậy. Ông giảng một giáo trình ngắn về lý thuyết phạm trù, đại số đồng điều, và hình học đại số với Đoàn Quỳnh là người phiên dịch chính từ tiếng Pháp sang tiếng Việt. Grothendieck giảng bốn tiếng buổi sáng, và sau đó thảo luận toàn bộ buổi chiều. Thế mà ông vẫn kêu là chưa làm việc hết công suất.
Trường đại học ở trong rừng bao lâu?
Trường đi sơ tán bốn năm, mở lại ở Hà Nội tháng 9/1969. Sau đấy, vào năm 1972-1973 lại có một đợt sơ tán nữa, lần này ở một địa điểm khác gần Hà Nội hơn. Khi đó tôi không còn làm việc ở trường Đại học Tổng hợp Hà Nội nữa.
Ông rời trường đại học khi nào?
Vào giữa năm 1968 tôi được mời làm Trưởng ban Ban Toán mới được thành lập ở Ủy ban Khoa học và Kỹ thuật Nhà nước.
Có phải đó là lúc Viện Toán học được thành lập?
Đúng vậy, ngay sau đó. Viện được quyết định thành lập năm 1969, và bắt đầu hoạt động vào năm 1970 dưới sự lãnh đạo của anh Lê Văn Thiêm. Vào lúc đó viện chỉ có 20 cán bộ và nằm trong tòa nhà của Ủy ban.
Viện Toán cũng đi sơ tán khi bị đánh bom?
Vâng đúng thế. Bắt đầu từ giữa năm 1972, chúng tôi bố trí viện ở một chỗ cách Hà Nội khoảng 50-60km. Hai, ba tháng sau Hiệp định hòa bình được ký kết ngày 27/1/1973 viện Toán mới trở về Hà Nội.
Khi nào thì Viện Toán chuyển đến chỗ hiện nay, trong khuôn viên Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam?
Năm 1982. Trước đó, từ năm 1975 đến năm 1982, Viện đóng ở một khu chật hẹp trên đường Đội Cấn rất đơn sơ. Đích thân Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã thu xếp việc xây dựng một ngôi nhà cho Viện Toán ở Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam.
Mối quan tâm cá nhân của Thủ tướng Phạm Văn Đồng đến Viện Toán như thế nào? Lần đầu tiên ông gặp Thủ tướng là khi nào?
Tôi biết sơ qua về Thủ tướng từ những năm 1940, khi ông nhiều lần đến thăm trường học của tôi ở Quảng Ngãi. Ông là đại diện của chính quyền trung ương Việt Nam ở Liên khu V và Liên khu VI. Sau năm 1960, tôi quen ông hơn. Ngay sau khi chiến tranh kết thúc năm 1975, ông đến Moscow và có đi thăm viện của Kantorovich (ông này đã chuyển từ Novosibia đến Moscow). Kantorovich tặng Thủ tướng Phạm Văn Đồng cuốn sách của mình về các phương pháp tối ưu trong kinh tế. Khi về Hà Nội, Thủ tướng yêu cầu tôi đọc và báo cáo về cuốn sách. Thời điểm đó rất thuận lợi với tôi. Một số đồng nghiệp Pháp biết tôi nằm trong ban chương trình của một hội nghị được tổ chức ở Budapest (Hungary) vào tháng 8/1976, đã nhân dịp đó mời tôi sang Pháp. Thế nhưng tôi chỉ nhận được giấy mời trước có một tháng, và thời kỳ đó có rất nhiều trở ngại hành chính đối với việc làm thủ tục đi nước ngoài, nhất là sang các nước phương Tây.
Ông có thể cho biết nguyên do tại sao?
Dĩ nhiên là có những khó khăn về tài chính khi sang phương Tây. Ngay cả khi bên mời trả tiền cho tất cả chi phí đi lại và ăn ở thì cũng vẫn cứ khó. Trong chiến tranh và trong những năm ngay sau khi kết thúc chiến tranh, các nước phương Tây bị coi như rất xa lạ và nguy hiểm. Quan niệm đó may mắn đã thay đổi, và ngày nay chúng tôi không gặp khó khăn gì khi xin phép cho nghiên cứu sinh và các nhà toán học đi sang phương Tây nếu như bên mời chịu các khoản chi phí cho chuyến đi.
Thế ông thu xếp việc đi Pháp năm 1976 như thế nào?
Đấy là lúc tôi đến gặp Thủ tướng Phạm Văn Đồng để báo cáo về cuốn sách của Kantorovich. Sau khi báo cáo xong, tôi trình bày với Thủ tướng về lời mời đi Pháp và hỏi tôi có thể đi được không. Ông trả lời: “Được, không có vấn đề gì”, và với sự ủng hộ của Thủ tướng tôi đã làm xong mọi thủ tục chỉ trong có một tuần, một thời gian kỷ lục. Chuyến đi Pháp năm 1976 là chuyến đi đầu tiên của tôi sang một nước phương Tây. (Sau đó, năm 1979 tôi đi Canada dự hội nghị Montreal về toán quy hoạch, và năm 1981 tôi sang Mỹ lần đầu).
Tôi có thể nói rằng trong Chính phủ, Thủ tướng Phạm Văn Đồng là người có ảnh hưởng và kiên định ủng hộ sự nghiệp phát triển Toán học nhất. Năm 1980, ông đến thăm chúng tôi ở phố Đội Cấn. Khi nhìn thấy cơ sở chúng tôi nghèo nàn như thế nào - điều kiện làm việc của tất cả các viện đều xấu, nhưng của chúng tôi còn xấu hơn - Thủ tướng hứa sẽ làm một việc gì đó để cải thiện tình hình. Sau này chúng tôi biết rằng ông đã đề nghị Bộ trưởng Bộ Xây dựng xây một cái nhà cho Toán học càng sớm càng tốt. Ngôi nhà được xây dựng rất nhanh thời đó - chỉ trong một năm - và bây giờ nó là trụ sở của Viện Toán.
Ông đã từng gặp Chủ tịch Hồ Chí Minh chưa?
Hai lần. Năm 1956, Chủ tịch Hồ Chí Minh đến thăm Đại học Hà Nội và dự một số lớp học. Sau khi xem tôi giảng bài, Người đã bắt tay tôi và hỏi một số câu. Lần thứ hai vào tháng 8/1969, chỉ một tháng trước khi Người mất. Khi đó có vấn đề lớn về việc xếp hàng mua bia. Thực ra, nhìn chung ở cửa hàng nào cũng phải xếp hàng dài để mua khẩu phần gạo, quần áo và các thứ hàng khác, bởi vì việc sản xuất không đáp ứng được nhu cầu. Nhưng việc xếp hàng tại các quầy bia được quan tâm đặc biệt do thường xảy ra tranh chấp, kể cả đánh nhau làm mất trật tự công cộng.
Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng cần có một cách tiếp cận khoa học nhằm làm giảm việc xếp hàng. Vì vậy, Người để nghị Ủy ban Khoa học và Kỹ thuật Nhà nước xem xét việc này. Do không thể tăng sản lượng bia, nên vấn đề thuần túy nằm trong khâu tổ chức, và do đó là một vấn đề điều khiển tối ưu. Vậy là tôi đã chủ trì nhóm nghiên cứu vấn đề này.
Lần gặp gỡ đầu tiên của chúng tôi với chính phủ bị lùi lại do Người ốm. Vài ngày sau, tôi nhận được điện báo đến Văn phòng Thủ tướng Phạm Văn Đồng. Tôi không biết tại sao tôi bị triệu tập, và tôi đoán rằng có thể họ muốn thảo luận về Viện Toán học mới được thành lập. Tôi nhớ rằng xe của tôi đến nơi muộn, và khi tôi bước vào văn phòng của Thủ tướng đã thấy nhiều thành viên cao cấp chính phủ. Thủ tướng Phạm Văn Đồng bảo tôi: “Ô, tôi thấy anh đến chậm. Nếu đó là cách anh làm vận trù học, thì chương trình này sẽ trở nên vô tích sự”. Tôi xin lỗi và được mời ngồi cạnh Thủ tướng. Chỉ lúc đó tôi mới thấy Chủ tịch Hồ Chí Minh trong số những người ngồi quanh bàn.
Chủ tịch Hồ Chí Minh lúc đó đã 79 tuổi. Chủ tịch tham dự cuộc thảo luận như thế nào?
Tôi thấy Người rất yếu, nhưng hoàn toàn minh mẫn. Chủ tịch Hồ Chí Minh đưa ra nhiều câu hỏi và không hài lòng với việc xếp hàng mua bia. Tôi nhớ câu đầu tiên Người hỏi tôi là: “Cháu có thể tìm một từ đơn giản hơn ‘vận trù’ không? Bản thân bác chưa bao giờ gặp từ này trong tiếng Việt”.
Ông đã nghĩ ra thuật ngữ đó?
Tôi dịch từ tiếng Trung. Anh phải biết rằng vận trù học là một ngành khoa học mới - nó được đưa vào Việt Nam năm 1961. Có một khoảng thời gian dài tôi không thể tìm thấy cho nó một từ hợp nghĩa trong tiếng Việt. Sau đấy, tôi quyết định dựa theo từ mà các đồng nghiệp Trung Quốc sử dụng. Điều này hoàn toàn tự nhiên vì tiếng Trung đóng một vai trò quan trọng trong tiếng Việt, gần giống như tiếng Latin trong tiếng Pháp và tiếng Anh.
Nhưng Chủ tịch Hồ Chí Minh nghĩ rằng thuật ngữ đó tối nghĩa?
Vâng, Người muốn biết tại sao tôi lại chọn nó. Sau đó, khi tôi đến chào từ biệt, Người hỏi tôi có biết nguồn gốc từ đó không. Tôi không trả lời được, và Chủ tịch Hồ Chí Minh liền kể cho tôi nghe xuất xứ của từ “vận trù” trong văn học Trung Hoa cổ điển. Nó được dùng trong một tác phẩm nổi tiếng để mô tả một dạng nghệ thuật phức tạp nào đấy mà nghệ thuật này có lẽ giống với vận trù học. Chủ tịch Hồ Chí Minh thông thạo văn học Trung Hoa - Người còn làm thơ băng chữ Hán 0 và do đó Người có thể giảng cho tôi nguồn gốc từ vận trù mà tôi đem vào tiếng Việt.
Ngẫu nhiên là trong những năm 1970, từ “vận trù” xuất hiện nhiều trong đời thường. Nó trở thành một từ mốt để nói về việc tìm một lời giải tối ưu cho bất kỳ một cái gì.
Ông có thường chịu trách nhiệm nghĩ ra các từ ngữ Toán học mới trong tiếng Việt không?
Tôi có tham gia việc này. Trong những năm 1959-1961, là một thành viên của Hội đồng Từ ngữ Khoa học, tôi đã giúp cho ra đời cuốn từ điển Việt-Anh-Nga đầu tiên về từ ngữ khoa học mà chứa những khái niệm Toán học đương đại. Nhưng người chịu trách nhiệm chính trong việc xây dựng các từ ngữ khoa học là nhà toán học Hoàng Xuân Hãn, người đã di cư sang Pháp sau khi Pháp chiếm Hà Nội và đã từng là một giáo viên trung học của anh Lê Văn Thiêm. Ngoài việc là một nhà toán học, Hoàng Xuân Hãn còn là một chuyên gia uyên bác về văn học Việt Nam và văn học Trung Hoa. Ở Pháp, ông chuyển mối quan tâm nghiên cứu từ Toán học sang Văn học. Ông ấy bắt đầu xây dựng từ ngữ khoa học từ đầu những năm 1940 cùng với các giáo sư Nguyễn Xiển và Nguyễn Thúc Hào.
Quay trở lại câu chuyện dùng vận trù học để làm giảm việc xếp hàng mua bia, Hội đồng của ông có làm được điều gì không?
Có, hai, ba tháng sau đấy chúng tôi đề xuất một số kiến nghị cho Thủ tướng Phạm Văn Đồng (Chủ tịch Hồ Chí Minh mất tháng 9/1969). Những kiến nghị của chúng tôi đã được đưa vào thực tiễn và chúng đã góp phần cải thiện tình hình một vài năm sau đó. Nhưng các cuộc ném bom lại tiếp tục đã làm nảy sinh những trở ngại rất lớn về mặt tổ chức, và mọi thứ lại quay trở lại thời kỳ đầu.
Khi ông nói về mối quan hệ của ông với các nhà lãnh đạo và về tầm quan trọng của Toấn học đối với chính phủ Việt Nam ngay từ thời kỳ Việt Minh, người ta có cảm tưởng rằng Toán học có một vị trí đặc biệt trong khoa học ở Việt Nam. Những nhà toán học nào đã đóng góp cho vị trí đó của Toán học ở Việt Nam? Họ còn sống không?
Tháng 5/1986, tôi tổ chức một hội nghị ở Hà Nội với sự tham gia của nhiều thế hệ các nhà toán học. Chúng tôi biết Tạ Quang Bửu đang ốm nặng (ông ấy mất ba tháng sau), và đây là dịp để tôn vinh ông và cũng để tập hợp lại lần cuối cùng tất cả các thế hệ toán học ở Việt Nam từ người trẻ nhất đến người già nhất.
Mặc dù Tạ Quang Bửu không có một đóng góp nghiên cứu nào đáng kể trong Toán học, ông có mối quan tâm và hiểu biết sâu sắc về nhiều lĩnh vực Toán và Vật lý. Ông là Tổng thư ký đầu tiên của Ủy ban Khoa học và Kỹ thuật Nhà nước, và ông là một Bộ trưởng Bộ Đại học xuất sắc. Ông ấy có quan hệ gần gũi với Thủ tướng Phạm Văn Đồng, và quan hệ của ông ấy với Laurent Schwartz đã phần nào làm nên mối quan hệ sớm sủa của Toán học Việt Nam với Pháp.
Rất nhiều nhân vật quan trọng đối với sự phát triển Toán học ở Việt Nam cũng có mặt: Lê Văn Thiêm, người có một vai trò quyết định và là thần tượng của thế hệ tôi khi chúng tôi còn trẻ. Nguyễn Thúc Hào, người đã dạy tôi khi ở cấp trung học, đã điều hành các lớp học đại học ở Liên khu IV và nhiều người khác nữa.
Giáo sư có thể tóm tắt ưu khuyết điểm Toán học Việt Nam hiện nay, đặc biệt ở Viện Toán học?
Trước tiên, Toán học Việt Nam có truyền thống trong giải tích, kể cả giải tích cổ điển, giải tích hàm, phương trình đạo hàm riêng, giải tích lồi và phi tuyến, và tất nhiên là giải tích phức, lĩnh vực của anh Lê Văn Thiêm. Là một cựu học trò của Rolf Nevanlinna, Lê Văn Thiêm nổi tiếng về một phương pháp tiên phong giải bài toán ngược trong lý thuyết hàm chỉnh hình, và ông đã xây dựng một nhóm nghiên cứu giải tích phức ở Việt Nam.
Nhóm lý thuyết tối ưu là một trong những nhóm mạnh nhất ở Viện Toán có những mối quan hệ tốt với nước ngoài, và nhiều bài báo trên các tạp chí quốc tế. Công trình của chúng tôi liên quan nhiều đến giải tích phi tuyến. Viện Toán học Việt Nam cũng có nhiều nhà nghiên cứu về đại số và hình học đại số, kể cả tôpô đại số và lý thuyết kỳ dị. Trong lý thuyết xác suất, chúng tôi có một số chuyên gia giỏi, nhưng họ làm việc cách ly và không làm thành một nhóm mạnh.
Điểm yếu nhất của chúng tôi là toán ứng dụng, đặc biệt trong những lĩnh vực phụ thuộc vào thiết bị, hạ tầng cơ sở và một nền công nghiệp cao, những cái không có ở Việt Nam.
Nhưng ông đã chuyển từ giải tích thực sang vận trù học với một niềm tin là nó có thể áp dụng ở Việt Nam. Ông có thất vọng về việc ứng dụng những công trình của ông trong điều kiện Việt Nam không?
Từ những ngày đầu chúng tôi đã cố gắng dùng Toán học để giải các bài toán thực tế. Những năm 1961-1962, bản thân tôi đã nghiên cứu một vấn đề giao thông - quy hoạch lại việc bố trí xe vận tải nhằm làm giảm quãng đường xe đi không tải.
Sau này tôi mới biết rằng chúng tôi đã thử giải bài toán ứng dụng này trước các nhà toán học Xô Viết. Tuy nhiên, một khi họ đã bắt đầu nghiên cứu khoảng năm 1963, họ đạt được những kết quả tốt hơn rất nhiều so với chúng tôi. Khi chiến tranh xảy ra ở Việt Nam, mọi tiến triển trong việc ứng dụng vận trù học vào thực tế đã dừng lại.
Công việc nghiên cứu tối ưu của ông đã tiến triển nhanh như thế nào?
Năm 1964, khi tôi trở lại viện của Kantorovich, tôi đã có thể báo cáo về những kết quả quan trọng hơn rất nhiều về cực tiểu lõm. Đó là công trình đầu tiên của tôi có ảnh hưởng quan trọng đến chuyên ngành và đem lại cho tôi uy tín quốc tế.
Thế nào là cực tiểu lõm và tầm quan trọng của nó?
Vâng. Trước kia, mọi người nghiên cứu rất nhiều bài toán cực tiểu một ham lồi trên một tập lồi. Ở đấy chỉ cần sử dụng các điều kiện địa phương và do đó có thể áp dụng các kỹ thuật giải tích thông thường. Việc nghiên cứu bài toán vận tải đã cho tôi thấy tầm quan trọng của bài toán lõm tương tự, nhưng bài toán này khó hơn.
Ta hãy xét một minh họa đơn giản. Sử dụng các phương pháp trước đó về bài toán vận tải, người ta phải giả thiết chi phí là một hàm lồi theo quãng đường, có nghĩa là chi phí trên từng cây số tăng lên cùng với quãng đường đã đi. Điều này thuận tiện về mặt Toán học, nhưng không phản ánh thực tế. Trong thực tiễn, có một chi phí cố định và một chi phí phụ giảm theo quãng đường.
Nhưng cực tiểu lõm khó nghiên cứu hơn?
Đúng thế. Ngày nay chúng ta gọi đấy là một bài toán khó NP. Những năm đầu 1960 chúng ta chưa có những khái niệm chính xác như vậy. Nhưng George Dantzig và những người khác đã thấy đấy là một bài toán thực sự khó.
Ông giải quyết bài toán này như thế nào?
Tôi đề xuất một dạng nhát cắt mới. Các nhát cắt được Ralph E. Gomory đưa ra trong quy hoạch nguyên trong những năm 1950 và sau đó, chúng cũng được sử dụng trong quy hoạch lồi. Năm 1964, tôi đề xuất một dạng cắt mới cho phép xây dựng một thuật toán cực tiểu lõm.
Nhưng ông đã nói là ông không tiếp tục được việc nghiên cứu mặt ứng dụng của công trình này?
Vâng, rất tiếc là như vậy. Sau khi tôi đưa ra dạng cắt này và xây dựng một phương pháp giải bài toán cực tiểu lõm, bước tiếp theo là việc thử nghiệm các thuật toán trên máy tính và tìm cách cải tiến chúng. Nhưng chúng tôi không có những khả năng này ở Việt Nam. Ngay sau đấy, chúng tôi đi sơ tán, và tôi phải đưa ra khỏi đầu mọi ý tưởng lập trình thuật toán. Như một điều tất yếu, tôi nghiên cứu các khía cạnh trừu tượng hơn, cụ thể là lý thuyết tổng quát. Vì vậy, những kết quả tiếp theo của tôi là về các bất phương trình lồi và định lý Hahn-Banach. Một trong những kết quả này có lúc còn được gọi là “điều kiện không tương thích của Tụy”.
Phải tốn bao lâu thì phương Tây mới biết đến công trình của ông?
Trong những năm đó tôi hầu như không có quan hệ với phương Tây. Mãi đến năm 1972 khi tôi gặp Victor Klee lần đầu tiên ở Warsaw, ông ta cho tôi biết rằng nhiều người bên Mỹ quan tâm đến bài báo năm 1964 của tôi.
Rất nhiều năm, nhát cắt của tôi được biết đến dưới cái tên “Nhát cắt Tui”. Lý do viết vần sai tên tôi nằm ở chỗ bài báo của tôi công bố bằng tiếng Nga với tên tôi là “Tyu” theo chữ Nga. Nó được dịch sang tiếng Anh theo cách phiên dịch của Hội Toán học Mỹ như thể tôi là một nhà toán học Liên Xô. Người đầu tiên sửa chữa lỗi này là Egon Balas, một người Rumani nhập cư sang Mỹ, hiện đang làm việc ở Đại học Carnegie Mellon ở Pittsburgh. Trong một bài báo năm 1971, ông ta nói tôi là một nhà toán học Bắc Việt Nam và lần đầu tiên viết đúng tên tôi.
Ông đi nước ngoài được bao nhiêu lần trong những năm chiến tranh?
Năm 1966, tôi dự Đại hội Toán học Thế giới ở Moscow. Năm sau, tôi đến Liên Xô một thời gian ngắn với tư cách thành viên một phái đoàn của Ủy ban Nhà nước về khoa học và công nghệ. Nhưng dịp đi nước ngoài tiếp theo xảy ra vào mãi năm 1972, khi Jerzy Los mời tôi đến Ba Lan ba tháng. Ông ta tổ chức một học kỳ về toán kinh tế giống như những chương trình về các ngành Toán học khác được tổ chức sau này ở Trung tâm Banach.
Trong chuyến đi Ba Lan đó, lần đầu tiên tôi báo cáo bằng tiếng Anh. Khi đấy tôi có ít kinh nghiệm với ngôn ngữ này. Tôi nhớ rằng sau buổi báo cáo bằng tiếng Anh đầu tiên, một thính giả đến nói với tôi rằng: “Qua báo cáo tôi có thể đoán ông nói tiếng Pháp rất tốt”.
Mối quan hệ với các nhà toán học phương Tây phát triển như thế nào? Bao nhiêu người đã đến thăm Việt Nam?
Trong chiến tranh, chúng tôi chỉ có một số ít khách. Ngoài Grothendieck có Davis Chandler từ Canada, và Laurent Schwartz, André Martineau, Bernard Malgrange và Alain Chenciner từ Pháp. Vào những năm 1970 và đầu những năm 1980, có nhiều nhà toán học đến từ Pháp như Luc C. Tartar, Jean-Pierre Puel, Didier Dacunha-Castelle, Yvette Amice, và những Việt kiều như Frédéric Phạm, Lê Dũng Tráng và Bùi Trọng Liễu. Nhà thống kê Klaus Krickeberg có mối liên hệ thường xuyên với Viện Toán: ông ấy học cả ngôn ngữ chúng tôi và giảng bài bằng tiếng Việt. Pierre Cartier đã đến thăm chúng tôi nhiều lần. Chúng tôi cũng có khách từ những nước khác như Jan-Erik Bjork từ Thụy Điển và Kyoji Saito từ Nhật Bản. Nhưng theo truyền thống, trong các nước phương Tây chúng tôi có mối quan hệ chặt chẽ nhất với Pháp. Tuy nhiên, những năm gần đây, mối quan hệ với Pháp có vẻ giảm đi một chút. Một phần có thể vì lý do tài chính. Bên cạnh đó, một vài người ở cả Pháp và Việt Nam cảm thấy Toán học bây giờ đang ở trong tình trạng tốt và nên quan tâm hơn đến những ngành khác, đặc biệt là khoa học ứng dụng. Tôi còn có cảm tưởng rằng chính phủ Pháp đã chuyển mối quan tâm của họ sang các nước châu Phi nhiều hơn.
Nhưng một vài năm gần đây, mối quan hệ của chúng tôi với một số nước khác như Tây Đức và Nhật Bản đã tăng lên đáng kể. Chúng tôi cũng thiết lập những mối quan hệ chặt chẽ hơn với các nhà toán học ở Mỹ, Thụy Điển, Anh và Italy. Chẳng hạn như chúng tôi thường xuyên trao đổi tạp chí với Hội Toán học Italy.
Có vẻ như có các nhà toán học trẻ Việt Nam đi thăm phương Tây và Nhật Bản nhiều hơn trước đây, điều này có đúng không?
Đúng thế, chúng tôi tự hào về việc nhiều nhà nghiên cứu trẻ của chúng tôi nhận được học bổng nghiên cứu ở nước ngoài. Ví dụ như trong hai năm gần đây có 8-10 người được học bổng Humboldt sang nghiên cứu tại Đức, và Hội đồng Hỗ trợ Khoa học Nhật Bản đã trao cho chúng tôi nhiều học bổng. Tại Viện Toán học, chúng tôi luôn tìm cách tận dụng các cơ hội của những đơn vị như vây. Ở đây không có những thỏa thuận đặc biệt, không có những hiệp định song phương với Việt Nam. Các học bổng đều có tính cạnh tranh cao, và người của chúng tôi phải làm đơn xin như những người khác. Như vậy, đây thực sự là một sự hợp tác hơn là một sự giúp đỡ một chiều. Chúng tôi cảm thấy rằng chúng tôi cũng đóng góp cho cộng đồng Toán học quốc tế cùng lúc với sự giúp đỡ của họ.
Tất nhiên là những sự giúp đỡ như vậy sẽ tiếp tục cần thiết trong nhiều năm, và chúng tôi luôn luôn chào đón những thỏa thuận đặc biệt với các chính phủ và cơ quan khác nhau của các nước phát triển, đặc biệt là từ Liên Xô và các nước Đông Âu. Nhưng việc tăng cường sử dụng các kênh trao đổi thông thường với phương Tây và Nhật Bản như học bổng tiến sĩ, giáo sư thỉnh giảng, là một sự phát triển đáng khích lệ. Tôi rất hài lòng khi thấy nhiều đồng nghiệp trẻ của tôi đã trở thành những nhà toán học có tên tuổi với những mối quan hệ quốc tế thông thường. Điều này cũng giúp giảm bớt những vấn đề vật chất đang đè nặng lên Viện Toán. Chẳng hạn, nếu một thành viên đi nước ngoài, anh ta có lương và có thể tiết kiệm được một khoản tiền tương đối. Cái này giúp giải quyết việc chi tiêu trong gia đình khi trở về, và do đó anh ta có thể sống mà không cần đi làm thêm. Ngoài ra, một phần nhỏ tiền tiết kiệm được ở nước ngoài thường được biếu cho Viện.
Một loại thuế?
Không phải, đây không giống như thuế nhà nước. Nó không chính thức mà gần như mang tính chất tự nguyện thuần tuý. Tôi có thể hài lòng nói rằng phần lớn các đồng nghiệp ở viện chúng tôi đều sẵn sàng đóng góp. Tất cả chúng tôi hiểu rằng sự hỗ trợ tài chính của nhà nước không đủ để duy trì ngay cả sự hoạt động bình thường của Viện, chứ chưa nói đến những nhu cầu ngày càng tăng của chúng tôi.
Ví dụ như chúng tôi mới mua hai máy tính cá nhân và một máy photocopy từ Thái Lan (máy photocopy đầu tiên của chúng tôi do ông Edward Cooperman, Chủ tịch Ủy ban Mỹ về Hợp tác Khoa học với Việt Nam, trao tặng), và chúng tôi cần tiếp tục mua mực in, phụ kiện và phụ tùng thay thế. Điều này sẽ không thực hiện được nếu không có sự đóng góp của các cán bộ của Viện trở về từ những chuyến đi công tác nước ngoài.
Trong mười năm, Ủy ban Mỹ về Hợp tác Khoa học với Việt Nam thu xếp cho các nhà khoa học Việt Nam sang thăm Mỹ - có khoảng 200 chuyến đi như vậy - chưa từng có một trường hợp nào mà một nhà khoa học quyết định không quay trở về. Khi kể chuyện này cho người các nước đang phát triển khác, họ đều ngạc nhiên, đặc biệt nếu họ để ý đến sự khác biệt khổng lồ về điều kiện vật chất giữa những nhà khoa học Mỹ và Việt Nam. Tại sao không có sự đào ngũ của những người được đi?
Phần lớn các nhà khoa học Việt Nam cho rằng việc đi nước ngoài là cần thiết cho nghiên cứu của họ. Nhưng cái gì chúng tôi có thể làm tốt nhất luôn luôn ở trong nước. Tất nhiên chúng tôi vui mừng khi có khả năng ở nước ngoài một thời gian dài. Nhưng mặt khác, trong quan hệ con người, chúng tôi chỉ thật sự hạnh phúc khi ở Việt Nam.
Về hợp tác quốc tế, mối liên lạc với các nước Đông Nam Á và với Ấn Độ có quy mô như thế nào?
Chúng tôi đang tìm cách phát triển mối quan hệ với Ấn Độ và các nước láng giềng. Ở đây có một tình huống mâu thuẫn. Một mặt tất yếu là nên phát triển sự hợp tác với các nước láng giềng trước tiên. Tuy nhiên, phần lớn các nước này đều rất nghèo và rất khó tìm tài trợ cho các hoạt động chung.
Chúng tôi có một số quan hệ với Singapore. Năm 1978, khi tôi gặp Lý Bỉnh Di (Lee Peng Yee), chúng tôi thống nhất là nên phát triển sự hợp tác. Cách đây vài năm, một nhà toán học trẻ của Viện Toán đã sang thăm Singapore. Năm 1979, có một hội nghị của các nhà toán học Đông Nam Á ở Singapore. Nó được tài trợ bởi Hội Toán học Đông Nam Á và chính phủ Pháp, và Laurent Schwartz đã thu xếp với Đại sứ quán Pháp tài trợ sự tham dự của Việt Nam.
Nhìn chung, dịp duy nhất chúng tôi gặp các nhà toán học trong vùng là ở các hội nghị quốc tế. Tôi phải nói rằng tôi không lạc quan lắm về việc cải thiện tình hình này trong những năm tới. Ở đây tôi không quan tâm đến khía cạnh chính trị mà về khía cạnh tài chính: không chỉ có chính phủ Việt Nam mà chính phủ các nước láng giềng cũng không sẵn sàng chi tiền cho sự hợp tác này. Ở các nước phát triển tồn tại các điều kiện thuận lợi hơn rất nhiều: nêu họ mời chúng tôi, họ trả tiền đi lại và mọi chi tiêu. Trong một vài trường hợp - đặc biệt ở Đức, Pháp và Nhật Bản - chính phủ còn hỗ trợ tiền đi lại cho các nhà toán học của họ đến Việt Nam.
Ngay cả đối với Ấn Độ, chúng tôi cũng gặp khó khăn. Hai nước chúng tôi có hợp tác trong ứng dụng khoa học-nông nghiệp và y học nhưng rất ít trong các lĩnh vực lý thuyết. Mới có hai nhà toán học của chúng tôi đến Ấn Độ, nhưng không có nhà toán học Ấn Độ nào đến Việt Nam.
Các khó khăn thực tiễn có phải là duy nhất không? Có thể các nhà toán học ở cảc nước đang phát triển như Việt Nam và Ấn Độ không biết hoặc không quan tâm đến công việc của nhau và coi mối quan hệ với các nước phát triển có thanh thế và giá trị hơn?
Đúng là một nhà toán học ở một nước đang phát triển thường coi trọng việc cộng tác với các nước phát triển. Ví dụ như nếu viện của anh ta có tiền để mời ai đó thì anh ta sẽ thích mời một người phương Tay, bởi vì một người khách như vậy có thể giúp mở rộng sự hợp tác với một nước phát triển. Vì vây, để phát triển mối quan hệ của chúng tôi với những nước như Ấn Độ, cần có những nỗ lực đặc biệt. Nếu không có một nguồn tài trợ kinh phí thì quá trình hợp tác sẽ tiến triển rất chậm.
Việt Nam có thể mời chào cái gì cho các nước trong vùng?
Trong nhiều lĩnh vực Toán học, ví dụ như trong tối ưu, chúng tôi có một nhóm ở Hà Nội mà theo tôi là mạnh nhất ở châu Á. Chúng tôi có thể đào tạo các ngành này cho nghiên cứu sinh trong vùng. Một khoản tiền tương đối nhỏ, chẳng hạn 200 đô-la mỗi tháng, đủ cho một sinh viên nước ngoài chi tiêu ở Việt Nam. Đồng thời, chúng tôi cũng có thể gửi sinh viên đến các nước xung quanh để được đào tạo về các ngành ứng dụng như là thống kê hay lập trình.
Chúng tôi cũng có thể trao đổi giáo sư thỉnh giảng với các nước trong vùng. Tuy nhiên, tôi nghĩ việc trao đổi sinh viên theo quy mô lớn có khả năng thực thi hơn.
11. GIÁO SƯ HOÀNG TỤY: “TẤM LÒNG CỦA TÔI VỚI KHOA HỌC, VỚI ĐẤT NƯỚC TỪ THUỞ THIẾU THỜI ĐẾN BÂY GIỜ KHÔNG LÚC NÀO VƠI”
- TẠP CHÍ TIA SÁNG - SỐ 24/2017
Tại buổi lễ mừng sinh nhật lần thứ 90 của Giáo sư Hoàng Tụy tại Viện Toán học (Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam) diễn ra vào ngày 14/12/2017 trong khuôn khổ hội thảo quốc tế “Các thuật toán tối ưu và một số vấn đề liên quan”, với sự tham dự của Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc, Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ Chu Ngọc Anh, Chủ tịch Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam Châu Văn Minh, cùng đông đảo đồng nghiệp trong và ngoài nước, GS Hoàng Tụy đã phát biểu một cách khiêm nhường: “..những đóng góp khoa học của tôi rất khiêm tốn, chỉ có tấm lòng của tôi với khoa học, với đất nước từ thuở thiếu thời đến bây giờ không lúc nào vơi”. Song, theo đánh giá của cộng đồng Toán học, cuộc đời và sự nghiệp của GS Hoàng Tụy chính là tấm gương sáng cho các thế hệ làm Toán nói riêng và các thế hệ làm khoa học Việt Nam nói chung noi theo.
NGƯỜI MỞ ĐƯỜNG
Hiếm có nhà khoa học trong nước và nước ngoài nào ở tuổi 90 vẫn có công bố quốc tế như GS Hoàng Tụy. Kể từ năm 1959, khi công bố những bài báo đầu tiên về lý thuyết hàm thực trong báo cáo của Viện Hàn lâm Khoa học Liên Xô, đến năm 2017, GS Hoàng Tụy đã có 171 công trình xuất bản trên các tạp chí toán học hàng đầu như Mathematical Programming, JOGO, Optimization, Math. Operation Research, JOTA, SIAM J. Optim, v.v.. Trong lĩnh vực về thuật toán tối ưu, bài báo “Concave programming under linear constraints” đăng trên Soviet Math 5 (1964), 1437-1440, được giới chuyên môn về tối ưu hóa trên thế giới coi là công trình đánh dấu sự ra đời của lý thuyết tối ưu toàn cục tất định, trong đó Giáo sư đã đề xuất phương pháp cắt (nhát cắt Tụy - Tuy’s cut) để giải bài toán quy hoạch lõm: tìm nghiệm cực tiểu x * của một hàm lõm f trên tập lồi đa diện D. Theo số liệu từ Mathematical Reviews thì công trình về tối ưu toàn cục của Giáo sư đã có 1071 lần được trích dẫn và 827 người trích dẫn.
Bên cạnh các bài báo, Giáo sư còn có ba chuyên khảo rất cơ bản về lĩnh vực tối ưu hóa do một số nhà xuất bản nổi tiếng trên thế giới như Springer, Kluwer phát hành, trong đó Global Optimization - deterministic approaches đã trở thành cuốn sách kinh điển và được tái bản nhiều lần. Theo đánh giá của nhiều nhà toán học, các công trình nghiên cứu của ông chứa đựng nhiều đóng góp khoa học mang giá trị học thuật sâu sắc, có vai trò đặt nền móng hoặc định hướng hay mở đường cho các nghiên cứu tiếp theo, đồng thời có tầm ảnh hưởng lớn trong lĩnh vực tối ưu toàn cục.
Nhận định này không phải là những đánh giá nội bộ của “người nhà”. GS Taketomo Mitsui (Nhật Bản), một trong những nhà toán học từng làm việc với GS Hoàng Tụy, đã nhân xét, “Giáo sư Hoàng Tụy không chỉ là nhà toán học đầy kinh nghiệm mà còn là một nhà khoa học với tầm nhìn quốc tế” 52 .
Với sự phát triển của Toán học Việt Nam, GS Hoàng Tụy cũng đóng một vai trò đặc biệt. Ông đã cùng với GS Lê Văn Thiêm xây dựng nền Toán học Việt Nam như ngày nay. Trong buổi lễ kỷ niệm Viện Toán học tròn 45 tuổi vào tháng 4/2015, GS Hoàng Tụy đã phát biểu quan điểm của ông: “Xây dựng Viện Toán học thành một viện đàng hoàng, làm ứng dụng thật đàng hoàng trên cơ sở chuyên môn của mình. Viện lấy hội nhập quốc tế làm thước đo trình độ, không say sưa với những nghiên cứu ngoài lề khoa học”.
Ghi nhận những đóng góp đó của Giáo sư, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc đã nhấn mạnh đến đóng góp “góp phần dẫn dắt Viện trở thành trụ cột của nền Toán học Việt Nam cũng như đem lại uy tín quốc tế” và gọi công lao đó là “khai sơn phá thạch”. Thủ tướng cũng nhắc đến vai trò quan trọng của GS Hoàng Tụy trong việc khởi xướng và thúc đẩy ứng dụng Toán học vào đời sống kinh tế xã hội đất nước, như vận trù học vào những năm 1960, 1970, áp dụng lý thuyết Toán học vào quản lý kinh tế vào những năm 1980. Đó là tinh thần không tách rời giữa lý thuyết toán học trừu tượng với các bài toán thực tiễn.
TẤM GƯƠNG CỦA NHIỀU THẾ HỆ LÀM KHOA HỌC
Trong cuộc đời làm nghiên cứu của mình, GS Hoàng Tụy đã trở thành “tấm gương sáng cho các thế hệ làm Toán và nghiên cứu khoa học Việt Nam về tinh thần làm việc khoa học kiên trì, sáng tạo, tự lực, không ngừng học tập; tác phong sư phạm mẫu mực, phương pháp nghiên cứu khoa học tỉ mỉ, chính xác và tinh thần làm việc trung thực”. (Trích tham luận của GS Nguyễn Khoa Sơn - nguyên Phó Viện trưởng Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam.)
Khi đã cao tuổi, GS Hoàng Tụy vẫn không ngừng nghiên cứu. Vào những năm 2000, ở tuổi thất thập, Giáo sư còn xuất bản công trình nghiên cứu có vai trò đặt nền móng cho hướng phát triển mới của toán tối ưu về lý thuyết tối ưu đơn điệu. GS Phùng Hồ Hải cho biết: “Ít người biết rằng vào tháng 11/2017, trước khi sang tuổi 90, GS Hoàng Tụy vừa có công bố mới trên tạp chí Optimization Letters của nhà xuất bản Springer”.
Luôn cập nhật kiến thức chuyên ngành và quan tâm đến thế hệ trẻ Viện Toán học, GS Hoàng Tụy vẫn đều đặn tham gia các buổi seminar học thuật với Viện vào thứ ba hằng tuần, mặc dù có những thời điểm tưởng chừng không thể có mặt vì lý do sức khỏe.
Trong quá trình nghiên cứu, dù ở cương vị nào, GS Hoàng Tụy vẫn luôn có những ý kiến đóng góp, kiến nghị sâu sắc về khoa học và giáo dục với lãnh đạo đất nước, xuất phát từ “tấm lòng của tôi với khoa học, với đất nước từ thuở thiếu thời đến bây giờ không lúc nào vơi”, như lời bộc bạch của Giáo sư tại buổi sinh nhật. Giáo sư cho rằng, điều khiến ông “tự thấy hài lòng vì đã làm hết sức mình, còn kết quả [đạt được] thì cũng chừng nào thôi, nhưng có điều tôi không ân hận, đó là luôn luôn hết sức thiết tha với khoa học và làm khoa học một cách khiêm tốn, trung thực từ lúc bắt đầu đến nay”.
Cũng với tâm thế đó, trong buổi làm việc với Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc, Bộ trưởng Chu Ngọc Anh và Viện Toán học diễn ra ngay sau lễ mừng sinh nhật, GS Hoàng Tụy đã nêu quan điểm của mình về sự cần thiết của những chính sách thúc đẩy sự phát triển của khoa học Việt Nam nói chung và ngành Toán nói riêng để tránh nguy cơ bị tụt hậu. “Nếu chủ quan, chúng ta có thể bị vượt qua trong một ngày không xa”, Giáo sư nói.