Xứ Hải Địa 1, Pháp Sư Xứ Hải Địa

Lượt đọc: 651 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
NHỮNG CHIẾN BINH TRONG SƯƠNG MÙ
image

Đảo Gont, một quả núi đơn độc nhô cao một dặm 1 trên mặt Biển Đông Bắc đầy dông bão, là một vùng đất nổi tiếng có nhiều pháp sư. Từ những thành phố nằm trong các thung lũng cao và những bến cảng nằm bên vịnh biển nhỏ hẹp, tối tăm nơi đây, rất nhiều người đảo Gont đã ra đi để trở thành pháp sư hay phù thủy phục vụ các Lãnh chúa Archipelago trong thành bang của họ, hay để tìm kiếm chuyện phiêu lưu, để lang thang làm phép từ đảo này đến đảo khác trên khắp xứ Hải Địa. Có người nói rằng trong số những pháp sư này, vị pháp sư vĩ đại nhất, và chắc chắn là nhà du hành vĩ đại nhất, là một người tên gọi Chim Cắt, lúc đương thời ông đã trở thành cả Chúa rồng lẫn Tổng pháp sư. Chuyện đời của ông được ghi chép lại trong Chiến công của Ged và trong rất nhiều bài hát, nhưng câu chuyện này sẽ kể lại quãng đời trước khi ông trở nên nổi tiếng, trước khi những bài ca ấy được sáng tác.

Ged sinh ra trong một ngôi làng hẻo lánh tên là Thập Tổng Quán 2 , nằm trên ngọn núi ở đầu Thung lũng Bắc. Phía bên dưới làng, những bãi cỏ và cánh đồng của Thung lũng trải dài xuống thành một con dốc hướng về phía biển, và các làng mạc khác nằm dọc Sông Ar; còn phía trên làng chẳng có gì khác ngoài vô số những cánh rừng mọc dày đến tận các đỉnh núi đầy đá và băng tuyết.

Khi còn nhỏ, Ged được bà mẹ đặt tên là Duny, cái tên ấy và sự sống của thằng bé là tất cả những gì bà có thể trao tặng, bởi vì bà mất khi thằng bé chưa đầy một tuổi. Cha nó, người thợ đồng của làng, là một người lầm lì ít lời, và bởi vì sáu anh trai của Duny đều lớn hơn nó nhiều và đã lần lượt rời nhà để làm ruộng, đi biển hay làm thợ rèn ở các thôn làng khác của Thung lũng Bắc, nên chẳng có ai để nuôi dưỡng thằng bé trong sự âu yếm dịu dàng. Nó lớn lên hoang dã như một cây cỏ dại mọc khỏe, một thằng bé cao lớn, nhanh nhẹn, tiếng nói oang oang hết sức kiêu hãnh và rất dễ nổi nóng. Cùng với mấy đứa trẻ khác trong làng, nó chăn dê ở những đồng cỏ thoai thoải bên trên các dòng suối đổ vào sông; và khi nó đã đủ khỏe để kéo ống bễ thì người cha liền bắt nó phụ việc ở lò rèn, với không biết bao nhiêu cái tát và roi vọt. Nhưng Duny không chịu làm lụng là bao. Nó luôn tìm cách chuồn đi; lang thang vào sâu trong rừng, bơi trong những cái vũng của Sông Ar, con sông nước rất lạnh và chảy rất xiết như mọi con sông khác của đảo Gont, hay trèo qua vách đá và con dốc thẳng đứng lên đến đỉnh núi bên trên các cánh rừng để nhìn xuống biển, vùng biển Bắc rộng mênh mông nơi không có hòn đảo nào khác nằm xa hơn đảo Perregal.

Bà mẹ quá cố của nó có một người em gái sống trong làng. Khi thằng bé còn nhỏ, người dì ấy đã làm những gì cần thiết cho nó, nhưng bà cũng có việc riêng của mình và một khi nó tự chăm lo được cho bản thân thì bà không để mắt gì đến nó nữa. Nhưng một ngày kia, khi thằng bé mới lên bảy, không được dạy dỗ và không hay biết gì về những phép thuật và quyền lực có trên đời, nó nghe thấy bà dì cất lên mấy tiếng gọi một con dê trước đó nhảy lên mái một căn lều và không chịu xuống: nhưng nó nhảy ngay xuống khi bà gọi nó bằng mấy vần thơ. Ngày hôm sau khi đang chăn đàn dê lông dài trên các bãi cỏ ở Thác Cao, Duny hét gọi chúng bằng những từ nó đã nghe được, mà không hiểu tác dụng, ý nghĩa hay bản chất thật của chúng là gì:

Noth hierth malk man

hiolk han merth han!

Nó hét to câu thơ ấy lên, và đàn dê kéo đến chỗ nó. Chúng kéo đến trong nháy mắt, cả đàn, không gây ra một tiếng động nào. Lũ dê nhìn thằng bé bằng những con ngươi thẳm tối trong đôi mắt vàng ệch của chúng.

Duny cười phá lên và lại hét to mấy lời ấy, những vần thơ đã trao cho nó khả năng điều khiển được lũ dê. Chúng kéo đến gần hơn, vây lấy nó và chen chúc nhau quanh nó. Đột nhiên nó thấy sợ những cặp sừng to tướng có lằn gợn của chúng, những đôi mắt kỳ dị và sự câm lặng kỳ dị của chúng. Nó cố thoát khỏi chúng và bỏ chạy. Đàn dê chạy cùng nó và giữ nguyên một vòng tròn khép chặt xung quanh nó, và cứ như thế cuối cùng cả người và dê đều lao xuống làng, đàn dê đứng sát vào nhau như thể bị một sợi thừng trói chặt xung quanh, trong khi thằng bé đứng giữa gào khóc nức nở. Dân làng chửi rủa trong nhà ra, quát mắng đàn dê và cười giễu thằng bé. Bà dì của nó cũng chạy ra, nhưng bà không cười. Bà nói một từ với đàn dê, và chúng lại bắt đầu kêu be be, gặm cỏ và đi thơ thẩn, chúng đã được giải thoát khỏi lời thần chú.

“Đi theo ta,” bà bảo Duny.

Bà dẫn nó vào căn lều của bà, nơi bà chỉ sống một mình. Bình thường bà không cho phép đứa trẻ nào đặt chân vào đó, và bọn trẻ cũng sợ nơi ấy. Đó là một căn lều thấp, nhờ nhờ tối, không có cửa sổ, thơm ngát mùi của những túm thảo mộc phơi khô treo trên xà nhà, nào là bạc hà, tỏi vàng và cỏ xạ hương, cỏ thi và trà bấc, cỏ vương diệp, cỏ lông vũ, cúc ngải và nguyệt quế. Bà xếp bằng ngồi xuống bên đống lửa, liếc mắt nhìn thằng bé qua mớ tóc đen bù rối, rồi hỏi nó đã nói gì với đàn dê, và nó có biết nghĩa của những câu thơ đó không. Khi phát hiện ra rằng thằng bé hoàn toàn không hay biết gì, vậy mà vẫn phù phép được cho đàn dê đến với nó và đi theo nó, thì bà nhận ra hẳn trong nó phải có chút quyền pháp gì đó.

Ở địa vị con trai của chị gái bà, thằng bé chẳng là gì đối với bà, nhưng giờ đây bà đã nhìn nó bằng con mắt khác. Bà khen ngợi nó và bảo bà sẽ dạy cho nó những câu thơ mà nó sẽ thích hơn, ví dụ như câu thần chú khiến con ốc sên phải chui ra khỏi vỏ, hay câu thần chú gọi con chim ưng từ trên trời xuống.

“Vâng, dì dạy cho cháu câu ấy đi!” Thằng bé nói, giờ nó đã quên bẵng nỗi sợ do lũ dê gây ra, và tự đắc hơn hẳn vì được khen.

Bà phù thủy bảo nó: “Nếu ta dạy cho cháu, cháu không được cho những đứa trẻ khác biết câu thần chú đó.”

“Cháu hứa ạ.”

Bà ta mỉm cười trước sự dại dột đầy háo hức của nó. “Tốt lắm. Nhưng ta sẽ ràng buộc lời hứa của cháu. Lưỡi của cháu sẽ phải nằm im cho đến khi ta quyết định cởi trói cho nó, và ngay cả khi ấy, dù cháu có nói được thì cháu vẫn không thể thốt ra lời thần chú ta đã dạy ở một nơi mà kẻ khác có thể nghe được. Chúng ta phải giữ kín mọi pháp thuật bí truyền của mình.”

“Được ạ,” thằng bé nói, bởi vì nó không hề muốn tiết lộ điều bí mật với lũ bạn của mình, nó thích biết những gì chúng không biết và làm được những điều chúng không thể làm.

Nó ngồi im trong khi bà dì búi lại mớ tóc không mấy khi được chải, buộc lại sợi dây lưng thắt ngang váy, và lại ngồi xếp bằng, ném những nắm lá vào đống lửa, làm khói bốc lên mù mịt, bao trùm cả căn lều tối om. Bà cất tiếng ngân nga. Giọng bà lúc lên bổng lúc xuống trầm như thể có một giọng nói khác đang lên tiếng qua bà, và tiếng ngân nga cứ tiếp tục cho đến khi thằng bé không còn biết nó thức hay ngủ, và trong suốt thời gian đó con chó đen già không bao giờ sủa của bà phù thủy ngồi cạnh thằng bé, mắt đỏ hoe vì khói. Rồi bà phù thủy nói với Duny bằng một thứ tiếng nó không hiểu, và bắt nó đọc theo những vần thơ và lời thần chú cho đến khi bùa phép nhập vào người nó và khiến nó phải im tiếng.

“Nói đi!” Bà ta ra lệnh, thử xem bùa chú có hiệu nghiệm không.

Thằng bé không thể cất nên lời, nhưng nó phá lên cười.

Khi ấy bà dì thấy hơi sợ trước sức mạnh của thằng bé, bởi vì đây là bùa phép mạnh nhất mà bà ta biết cách thực hiện: bà ta đã không chỉ tìm cách điều khiển giọng nói và sự im lặng của nó, mà đồng thời còn muốn trói buộc nó, bắt nó phải phục vụ, giúp bà ta làm phép. Thế nhưng dù thằng bé đã bị lời thần chú trói buộc, nó vẫn cười được. Bà ta không nói gì. Bà ta đổ nước sạch vào đống lửa cho đến khi khói tan hết, rồi đưa nước cho thằng bé uống, và khi không khí trong lều đã trở nên thoáng đãng và thằng bé lại nói được, bà liền dạy cho nó tên thật của con chim ưng, để khi nó cất tiếng gọi thì con chim ưng phải đến.

Đó là bước đầu tiên của Duny trên con đường mà nó sẽ đi suốt cả cuộc đời, con đường pháp thuật, con đường cuối cùng đã dẫn nó săn lùng một bóng đen qua đất liền và biển cả cho đến tận những bờ biển tăm tối của vùng tử địa. Nhưng trong những bước đi đầu tiên ấy, con đường đó có vẻ thật sáng sủa và thênh thang biết bao.

Khi Duny thấy mỗi lần được nó triệu tập bằng tên, những con chim ưng hoang dã đang sải cánh trong gió lại lao xuống đậu lên cổ tay nó tựa một tia chớp, cánh đập mạnh như tiếng sấm, chẳng khác nào con chim săn mồi của một ông hoàng, thì nó khao khát được biết thêm những cái tên khác và nó đến tìm bà dì, van nài bà dạy cho tên của chim cắt, chim ưng biển và đại bàng. Để có được những từ ngữ quyền năng ấy, nó đã làm tất cả những gì bà phù thủy sai bảo và học tất cả những gì bà dạy, mặc dù không phải điều nào nó học được cũng là điều hay, không phải việc nào nó làm cũng dễ dàng. Ở đảo Gont có một câu tục ngữ, Yếu kém như phép thuật của đàn bà , và lại có một câu khác, Xấu xa như phép thuật của đàn bà . Bà phù thủy của làng Thập Tổng Quán không phải một mụ phù thủy hắc ám, bà ta cũng không bao giờ dám đụng vào các bùa chú cao cường hay Quyền Pháp Cổ; nhưng là một người đàn bà dốt nát giữa đám dân làng dốt nát, bà ta thường dùng pháp thuật của mình cho những mục đích vớ vẩn và đáng ngờ. Bà ta không biết gì về sự Cân Bằng và Quy Luật mà các pháp sư đích thực biết và tuân theo, những điều khiến họ không bao giờ sử dụng phép thuật trừ phi thật cần thiết. Bà ta có thần chú cho mọi trường hợp khẩn cấp và lúc nào cũng tạo ra các bùa phép mới. Phần lớn hiểu biết của bà ta chỉ là bịp bợm và nhảm nhí, bà ta cũng chẳng thể phân biệt được câu thần chú thật với câu thần chú giả. Bà ta biết rất nhiều lời nguyền, và có lẽ giỏi gây bệnh hơn là chữa bệnh. Giống như bất kỳ bà phù thủy làng nào khác, bà ta biết chế biến một liều thuốc tình ái, nhưng cũng biết chế biến cả các thứ biệt dược khác khủng khiếp hơn để phục vụ cho lòng ghen ghét và hằn thù của con người. Tuy nhiên, bà ta không bắt chú bé học việc của mình phải tham gia vào những việc đó, và bà ta hết lòng dạy cho nó mọi hiểu biết chân thực của mình.

Mới đầu thằng bé chỉ thích thú một cách trẻ con vì pháp thuật cho nó quyền năng để điều khiển chim chóc và muông thú, cũng như tri thức về chúng. Và quả là nó đã giữ được niềm vui thích ấy suốt cả đời mình. Lũ trẻ trong làng, thường thấy nó chạy nhảy trên các cao nguyên với một con chim săn mồi bên cạnh, liền đặt cho nó cái tên Chim Cắt, và thế là nó có được cái tên mà sau này nó sẽ dùng làm bí danh, khi buộc phải giữ kín tên thật của mình.

Khi bà dì phù thủy luôn miệng nhắc tới vinh quang, giàu có và quyền lực vĩ đại mà một vị pháp sư có thể giành được, thằng bé liền quyết tâm học hỏi những điều có ích hơn. Nó rất nhanh trí. Bà phù thủy khen ngợi nó còn lũ trẻ trong làng bắt đầu thấy sợ nó, và chính thằng bé thì tin chắc chẳng mấy chốc mình sẽ trở thành một người vĩ đại. Và thế là nó học hết câu thần chú này đến câu thần chú khác, hết bùa phép này đến bùa phép khác với bà phù thủy cho đến năm nó mười hai tuổi và đã học được phần lớn những gì bà ta biết: không nhiều lắm, nhưng cũng đủ đối với một bà phù thủy của một ngôi làng nhỏ, và thừa đủ đối với một chú bé mười hai tuổi. Bà ta dạy nó tất cả những gì bà ta biết về thảo mộc và y thuật, cùng tất cả vốn hiểu biết về những mánh lới tìm kiếm, trói buộc, sửa chữa và khám phá. Bà ta hát cho nó nghe mọi bài ca của những người hát rong và mọi câu chuyện về các Chiến công vĩ đại; bà ta dạy cho Duny biết mọi Chân Ngữ mà bà ta đã học được từ người thầy pháp sư của mình. Và thằng bé cũng học được những trò tiêu khiển và giải trí, các bùa chú Ảo thuật từ những người điều khiển thời tiết và những kẻ diễn trò vẫn thường lang thang hết làng này đến làng khác trong vùng Thung lũng Bắc và Đông Lâm. Chính bằng một trong những phép thuật tầm thường này mà Duny đã lần đầu tiên chứng tỏ được sức mạnh vĩ đại của mình.

Vào thời đó, Đế chế Kargad vẫn còn hùng mạnh. Đó là bốn vùng đất rộng mênh mông nằm giữa Bắc Hải và Đông Hải: Karego-At, Atuan, Hur-at-Hur, Atnini. Ngôn ngữ ở đó không giống bất kỳ thứ tiếng nào ở Archipelago hay những vùng Hải Địa khác, còn người dân xứ đó là một giống người man rợ, da trắng, tóc vàng, và rất hung dữ, thích thú khi nhìn thấy máu đổ và ngửi thấy mùi làng mạc bốc cháy. Năm ngoái chúng đã tấn công quần đảo Torikle và hòn đảo Torheven hùng cường, đột kích với sức mạnh khủng khiếp trên những đoàn thuyền căng buồm đỏ. Tin tức về cuộc tấn công bay về phương Bắc đến với đảo Gont, nhưng các Lãnh chúa đảo Gont chỉ mải mê với những cuộc cướp bóc trên biển cả của họ và chẳng mấy để tâm đến tai ương của các vùng đất khác. Rồi đến lượt Spevy cũng rơi vào tay bọn Karg, bị cướp bóc và tàn phá, dân chúng bị bắt làm nô lệ, nên đến tận ngày nay nó vẫn còn là một hòn đảo hoang. Trong cơn khát khao chinh phục, bọn Karg giương buồm tới đảo Gont, tiến vào Cảng Đông với một đạo quân gồm ba mươi chiếc thuyền lớn. Chúng xông vào thành phố ấy, chiếm lấy nó, đốt rụi nó; rồi để đoàn thuyền lại cửa Sông Ar cùng một nhóm quân canh gác, chúng ngược lên Thung lũng, đi đến đâu là phá phách, cướp bóc, giết người và gia súc đến đó. Chúng chia ra thành nhiều nhóm nhỏ và mỗi nhóm này lại đi cướp phá ở bất kỳ nơi nào chúng muốn. Những người chạy thoát được đã đánh động cho các làng khác trên núi cao. Chẳng bao lâu sau, người dân làng Thập Tổng Quán nhìn thấy khói bốc lên đen kịt góc trời phía Đông, và đêm đó, khi trèo lên Thác Cao nhìn xuống, họ thấy khắp Thung lũng mù mịt khói và đỏ rực những vệt lửa, những cánh đồng sắp thu hoạch bị đốt sạch, các vườn cây ăn quả bùng cháy, quả chín bị nướng thành than trên cành cây rực lửa, trong khi những nhà kho và trang trại bị thiêu rụi nằm cháy âm ỉ.

Một số dân làng chạy lên hẻm núi và trốn vào rừng, một số khác chuẩn bị sẵn sàng để chiến đấu, cũng có kẻ chẳng làm gì mà chỉ đứng đó than khóc. Bà phù thủy nằm trong số những người đã bỏ chạy, bà trốn một mình trong một cái hang trên Đỉnh Kapperding và dùng bùa chú đóng kín miệng hang lại. Cha của Duny, ông thợ đồng, đã ở lại, bởi vì ông không đời nào chịu rời bỏ cái lò nung và cái bễ rèn nơi ông đã làm lụng suốt năm mươi năm trời. Suốt đêm đó ông miệt mài quai búa rèn những miếng kim loại còn sót lại trong xưởng thành mũi giáo, và những người khác buộc chúng vào cán cào cán cuốc vì không còn thời gian để đẽo và tra cán cho đúng cách. Trong làng không có thứ vũ khí nào khác ngoài cung tên đi săn và đoản đao, vì người dân miền núi của đảo Gont không phải những người thiện chiến; họ không giành được tiếng tăm nhờ các chiến binh mà chỉ nổi tiếng bởi những kẻ trộm dê, những tên cướp biển và các pháp sư.

Mặt trời lên kéo theo một màn sương mù trắng dày đặc, cũng như mọi buổi sáng mùa thu khác trên vùng núi của đảo. Dân làng Thập Tổng Quán đứng giữa những căn lều và ngôi nhà nằm lộn xộn dọc đường làng, sẵn sàng chờ đợi với những cung tên và mũi lao mới rèn, không biết bọn Karg còn ở xa hay đã lại gần, tất cả đều đứng im phăng phắc, tất cả đều nhìn chằm chằm vào màn sương che kín khỏi tầm mắt mọi hình thù, mọi khoảng cách, và mọi nỗi hiểm nguy.

Duny cũng ở đó cùng với họ. Suốt đêm nó làm việc bên ống bễ, kéo và đẩy hai cái ống lớn bằng da dê để quạt cho lửa trong lò rèn bốc to hơn. Giờ đây hai cánh tay nó đau nhức và mỏi nhừ vì công việc đó đến nỗi không cầm nổi cây giáo nó đã chọn. Nó không biết liệu mình có thể chiến đấu hay giúp ích được gì cho bản thân hay cho dân làng không. Tim nó thắt lại khi nghĩ rằng mình sẽ bị giết, bị xiên trên một mũi giáo của bọn Karg, khi vẫn còn là một đứa trẻ: rằng nó sẽ phải đi vào vùng đất tăm tối mà không bao giờ được biết tên của mình, cái tên thật khi đã là một người đàn ông trưởng thành. Nó nhìn xuống hai cánh tay gầy gò thấm ướt sương lạnh, và giận điên lên vì sự yếu ớt của mình, bởi nó biết rõ sức lực của bản thân. Nó có sức mạnh trong mình, nếu nó biết cách sử dụng sức mạnh đó, và nó liền lục tìm trong các bùa chú đã học được để kiếm một phương sách nào đó giúp nó và dân làng có được lợi thế, hay ít ra là một cơ hội. Nhưng để giải phóng sức mạnh trong mình thì sự cần thiết không thôi là chưa đủ: phải có cả tri thức nữa.

Vầng thái dương ấm áp trên bầu trời tỏa nắng rạng rỡ xuống đỉnh núi khiến lớp sương mù tan đi chút ít. Khi màn sương chuyển động, rẽ ra thành từng đám lớn và những dải mảnh như khói, dân làng nhìn thấy một tốp chiến binh đang đi lên núi. Chúng đội mũ và đeo giáp che ống chân bằng đồng, mặc tấm che ngực bằng da dày, mang khiên gỗ và đồng, vũ trang bằng gươm và những cây giáo dài đặc trưng của bọn Karg. Chúng tiến từ bờ sông Ar dốc đứng lên theo một hàng rời rạc, giáp trụ loảng xoảng, lông chim phất phơ, gần đến nỗi dân làng có thể nhìn thấy bộ mặt trắng của chúng và nghe thấy thứ tiếng nói kỳ lạ khi chúng hét gọi lẫn nhau. Bọn xâm lược ấy có khoảng một trăm tên, không nhiều lắm; nhưng trong làng chỉ vẻn vẹn có mười tám người cả đàn ông lẫn các cậu bé.

Đúng lúc đó thì sự cần thiết đã khiến tri thức xuất hiện: Duny, khi nhìn thấy màn sương tản ra và mỏng đi trên con đường trước mặt bọn Karg, chợt nhớ ra một câu thần chú có thể giúp được mình. Một ông già điều khiển thời tiết ở Thung lũng, muốn dụ thằng bé làm phụ việc cho mình, đã dạy cho nó một vài phép thuật. Một trong số đó được gọi là phép dệt sương mù, một câu thần chú trói buộc khiến màn sương mù tập trung lại một chỗ; với câu thần chú ấy, một người giỏi phép ảo thuật có thể biến màn sương thành những hình thù ma quái trong một lát, trước khi nó tan đi. Thằng bé không có cái tài ấy, nhưng nó có một mục đích khác, và nó đủ sức khiến bùa phép phải phục vụ mình. Rất nhanh, nó đọc to tên mọi nơi, mọi ranh giới trong làng, rồi đọc lời thần chú dệt sương mù, nhưng nó lại xen vào đó lời thần chú che giấu, và cuối cùng nó đọc to câu chú để bùa phép bắt đầu.

Hình ảnh

Nó vừa dứt lời thì người cha đã bước đến sau lưng, tát mạnh vào thái dương nó làm thằng bé ngã ngồi xuống. “Im đi, thằng ngu! Ngậm cái mồm lảm nhảm của mày lại, và nếu không chiến đấu được thì biết thân biết phận mà trốn đi!”

Duny đứng dậy. Giờ nó có thể nghe thấy tiếng bọn Karg ở cuối làng, ngay chỗ cây thủy tùng cổ thụ cạnh sân của người thợ thuộc da. Giọng chúng vang lên rõ ràng, vũ khí và áo giáp của chúng kêu loảng xoảng, nhưng họ không nhìn thấy chúng đâu cả. Lớp sương mù đã khép kín quanh ngôi làng thành một tấm màn dày đặc, che ánh sáng mặt trời và làm cảnh vật xung quanh mờ đi cho đến khi giơ tay lên trước mặt cũng không thấy rõ.

“Con đã che giấu được tất cả chúng ta,” Duny nói, ủ rũ, vì đầu vẫn đau sau cái tát của người cha, và sức lực cạn kiệt do câu thần chú kép. “Con sẽ cố giữ màn sương mù lâu hết mức có thể. Cha gọi những người khác lại và dẫn họ lên Thác Cao đi.”

Ông thợ đồng trố mắt nhìn đứa con trai đang đứng như một bóng ma giữa đám sương mù ẩm ướt kỳ quái. Phải mất một phút ông mới hiểu được Duny định nói gì, nhưng khi đã hiểu rồi thì ông chạy đi ngay lập tức, lặng lẽ lao đến mọi hàng rào, mọi ngóc ngách trong ngôi làng, tìm những người khác và bảo cho họ biết phải làm gì. Một quầng đỏ mờ mờ bỗng bùng lên qua màn sương xám, khi bọn Karg đốt một mái nhà bằng rạ. Chúng vẫn chưa vào làng mà đứng ở con dốc thấp cuối làng đợi cho đến lúc màn sương tan đi, để lộ ra con mồi và của cải cho chúng cướp bóc.

Ông thợ thuộc da, vừa bị đốt mất ngôi nhà, sai hai thằng bé nhảy ra ngay dưới mũi bọn Karg, tiêu ghẹo và khiêu khích chúng, rồi lại biến đi ngay chẳng khác nào khói tan vào với khói. Trong khi đó thì cánh đàn ông, luồn lách qua các hàng rào và chạy từ nhà này sang nhà khác, tiến tới áp sát phía bên kia bọn Karg và phóng một loạt tên và giáo vào những tên chiến binh đang đứng túm tụm với nhau. Một tên Karg ngã xuống quằn quại với một mũi giáo mới rèn vẫn còn ấm xuyên qua người. Những tên khác cũng bị trúng tên, và nổi điên lên. Chúng liền xông tới để chém những kẻ tấn công yếu ớt này, nhưng chúng chỉ thấy quanh mình một màn sương mù đầy tiếng nói. Chúng đi theo những giọng nói ấy và đâm những mũi giáo lớn gắn lông chim vấy máu vào màn sương. Chúng hò la chạy dọc theo con đường làng mà không hề biết là mình đã chạy xuyên thẳng qua làng, bởi vì những căn lều và những ngôi nhà trống huếch trống hoác cứ lờ mờ hiện ra rồi lại tan biến trong màn sương xám xịt xoắn xuýt. Dân làng chạy tứ tán khắp nơi, phần lớn đều đi đúng đường vì họ biết rõ địa hình trong làng nhưng vài đứa trẻ và mấy ông già chậm chân hơn. Bọn Karg, khi nhìn thấy họ, liền dùng giáo xọc vào họ hay lấy gươm chém họ, và gầm lên tiếng kêu xung trận của chúng, vốn là tên của hai vị Thần huynh đệ da trắng xứ Atuan:

“Wuluah! Atwah!”

Vài tên trong bọn dừng lại khi cảm thấy mặt đất dưới chân trở nên gập ghềnh, nhưng những tên khác vẫn đi tiếp, tìm kiếm ngôi làng ma, mò theo những bóng mờ chập chờn cứ biến ra khỏi tầm với mỗi khi chúng lại gần. Toàn bộ lớp sương đã sống dậy với những hình thù nhập nhoạng luồn bên nọ, lách bên kia, rồi lại biến mất. Một nhóm chiến binh Karg đuổi theo những bóng ma đến tận Thác Cao tới rìa vách đá trên các nhánh suối của sông Ar, ở đó những hình thù chúng đang săn đuổi bỗng nhảy vào không khí và tan biến trong màn sương đang mờ dần trong khi những tên chiến binh gào thét ngã qua lớp sương, qua ánh mặt trời bất chợt bừng lên và lao xuống vách núi dốc đứng cao hàng chục thước rơi thẳng vào những cái vũng nông nằm giữa lớp đá bên dưới. Những tên chạy theo sau không bị ngã thì chỉ dám đứng lại bên vách núi, dỏng tai nghe ngóng.

Nỗi sợ bắt đầu len lỏi vào tim bọn Karg và trong màn sương quái lạ, chúng tìm kiếm lẫn nhau chứ không tìm dân làng nữa. Chúng tụm lại bên sườn núi, thế nhưng quanh chúng vẫn còn những hình thù ma quái, còn cả các hình bóng khác chạy tới đâm sau lưng chúng bằng dao hoặc giáo rồi lại biến mất. Bọn Karg, tất cả chúng bắt đầu chạy xuống dốc, liên tục vấp ngã, không kêu nổi một tiếng, cho tới khi bất thình lình chúng thoát được khỏi màn sương xám mù mịt và lại nhìn thấy dòng sông và các hẻm núi phía bên dưới làng, nằm lồ lộ sáng rõ dưới ánh mặt trời buổi sớm. Đến lúc ấy chúng mới thôi chạy, tập trung lại, và ngoái nhìn về sau lưng. Một bức tường sương xám liên tục chuyển động chắn ngang đường, che kín tất cả những gì nằm sau nó. Từ trong màn sương, hai ba tên bị tụt lại loạng choạng lao ra, những chiếc giáo dài rung lên sau lưng. Không tên Karg nào dám nhìn lại nữa. Chúng vội vã xuống núi, rời xa khỏi cái nơi bị phù phép ấy.

Xa hơn bên dưới vùng Thung lũng Bắc, những tên chiến binh ấy đã được chiến đấu no nê. Các thành bang vùng Đông Lâm, từ Ovark cho đến tận bờ biển, đã tập hợp binh lính lại và phái họ đến chặn đánh những kẻ xâm lược đảo Gont. Từng đạo quân lũ lượt kéo từ trên núi xuống, và suốt cả ngày hôm đó cũng như ngày hôm sau bọn Karg bị dồn về các bãi biển trên Cảng Đông để rồi nhận ra đoàn thuyền chúng để lại đây đã bị thiêu rụi; vậy là chúng phải quay lưng về phía biển mà chiến đấu tới khi tất cả bọn chúng đều bị tiêu diệt hết, và các bãi cát ở cửa Sông Ar nâu thẫm máu của chúng cho đến tận lúc thủy triều lên.

Nhưng sáng hôm đó ở làng Thập Tổng Quán và trên Thác Cao, màn sương xám ẩm ướt vương lại một hồi lâu, rồi đột nhiên nó bị thổi bay tan tác và biến mất. Dân làng đứng trong ban mai rạng rỡ và lộng gió, ngơ ngác nhìn chung quanh. Chỗ này một tên Karg bị giết nằm với mái tóc vàng dài đầy máu; còn chỗ kia người thợ thuộc da của làng cũng nằm xuống, hy sinh trong chiến trận như một vị quốc vương.

Trong ngôi làng dưới kia, căn nhà bị đốt vẫn đang cháy. Họ vội chạy đến dập lửa, vì họ đã thắng trận. Trên đường làng, gần cây thủy tùng cổ thụ, họ tìm thấy Duny, thằng bé con ông thợ đồng, đang đứng một mình, không bị thương tích gì, nhưng câm lặng và đờ đẫn như bị một đòn choáng váng. Họ đều biết về việc nó đã làm, và vậy là họ đưa nó về nhà rồi đi gọi bà phù thủy rời khỏi hang núi để chữa trị cho chú bé đã cứu mạng sống và cứu cả tài sản của họ; cả làng chỉ có bốn người bị bọn Karg giết, và chỉ có một ngôi nhà bị đốt.

Thằng bé không bị một vết thương nào, nhưng nó không nói nổi một lời, không ăn, không ngủ; dường như nó không nghe được những gì người ta nói, không nhìn thấy những người đến thăm. Không một pháp sư nào quanh đó có đủ pháp thuật để chữa khỏi cho nó. Bà dì của nó nói: “Nó đã dùng quá sức của mình,” nhưng bà ta cũng không có cách nào để giúp nó.

Trong khi nó nằm câm lặng và mê man như thế thì câu chuyện về chú bé dệt sương mù và tạo nên những bóng ma đuổi bọn chiến binh người Karg đã được truyền tai nhau xuống khắp Thung lũng Bắc và vùng Đông Lâm, lên miền núi và đến tận cả Đại Cảng của đảo Gont. Vậy là vào ngày thứ năm sau khi bọn Karg đại bại ở cửa Sông Ar, một người lạ đi đến làng Thập Tổng Quán, một người đàn ông không trẻ cũng không già, chỉ mặc một chiếc áo choàng, để đầu trần, nhẹ nhàng cầm một cây quyền trượng bằng gỗ sồi cao ngang đầu ông. Ông không đi lên theo đường Sông Ar như những người khác mà lại bước xuống từ những cánh rừng bên vách núi cao. Cánh phụ nữ trong làng nhận ra ngay ông là một pháp sư, và khi ông bảo với họ ông còn là một lương y trị bách bệnh, thì họ dẫn ông đến thẳng nhà người thợ đồng. Người lạ mặt không cho ai ở lại ngoài cha và dì thằng bé, rồi cúi xuống bên cái giường con nơi Duny đang nằm nhìn trân trân vào bóng tối, và không làm gì khác ngoài đặt tay lên trán thằng bé và chạm nhẹ vào môi nó.

Duny chậm rãi ngồi dậy nhìn quanh mình. Một lát sau nó đã nói được, rồi dần dần lấy lại sức và biết đói. Họ cho nó một ít thức ăn và nước uống, rồi nó lại nằm xuống, cặp mắt sẫm màu đầy kinh ngạc không rời khỏi người lạ mặt.

Ông thợ đồng nói với người lạ ấy: “Ngài không phải người bình thường.”

“Thằng bé này cũng sẽ không trở thành một người bình thường,” người lạ đáp lại. “Câu chuyện về chiến công với màn sương mù của nó đã truyền tới tận quê hương Re Albi của tôi. Tôi đến đây để trao cho nó tên thật của nó, nếu như người ta đã nói đúng khi bảo rằng nó vẫn chưa được làm lễ trưởng thành.”

Bà phù thủy thì thào với ông thợ đồng: “Anh này, đây hẳn là vị Pháp sư của Re Albi, Ogion Câm Lặng, người đã chế ngự cơn động đất...”

“Thưa ngài,” ông thợ đồng, người không bao giờ để mình bị đe dọa bởi một danh tính vĩ đại, nói, “tháng tới con trai tôi sẽ tròn mười ba tuổi, nhưng chúng tôi định hoãn lễ Trưởng thành của nó tới ngày hội Hồi Dương mùa đông này.”

“Hãy để cho nó được đặt tên càng sớm càng tốt,” vị pháp sư nói, “bởi vì nó cần cái tên ấy. Giờ tôi còn công chuyện khác, nhưng tôi sẽ quay lại đây vào ngày mà ông lựa chọn. Nếu ông bằng lòng thì sau đó tôi sẽ đem nó theo. Và nếu nó chứng tỏ được năng lực của mình thì tôi sẽ giữ nó lại làm phụ việc, hoặc lo cho nó được dạy dỗ một cách xứng đáng với khả năng của nó. Bởi vì để cho trí óc của một pháp sư bẩm sinh nằm trong cảnh dốt nát tối tăm là một điều hết sức nguy hiểm.”

Ogion nói hết sức nhẹ nhàng, nhưng cũng rất kiên quyết, và ngay cả người thợ đồng cứng rắn cũng phải đồng ý với mọi điều ông nói.

Vào ngày thằng bé tròn mười ba tuổi, một ngày tuyệt đẹp trong tiết thu sớm khi những chiếc lá rực rỡ sắc màu vẫn còn nằm trên cây, Ogion quay trở lại làng sau chuyến du hành khắp Núi Gont, và lễ Trưởng thành được tổ chức. Bà phù thủy lấy lại cái tên Duny mà mẹ thằng bé đã đặt khi nó mới chào đời. Không tên và trần trụi, thằng bé bước xuống dòng nước lạnh ngắt nơi những nhánh suối Ar dâng lên giữa các tảng đá bên dưới vách núi cao. Khi nó bước xuống nước, mây che lấp mặt trời và bóng tối kéo tới hòa lẫn vào làn nước trong cái vũng xung quanh nó. Nó băng tới phía bờ xa, run rẩy vì lạnh nhưng bước chậm rãi, người vươn thẳng, trong khi lội qua làn nước buốt giá ấy. Khi nó lên đến bờ, Ogion đang đứng đợi liền vươn tay ra, nắm lấy cánh tay thằng bé và thì thầm cho nó biết cái tên thật của mình: Ged.

Vậy là thằng bé đã được đặt tên bởi một vị pháp sư hết sức thông thái.

Khi ngày hội vẫn còn lâu mới đến lúc kết thúc, khi tất cả dân làng vẫn còn đang ăn mừng với vô số món ăn và rượu bia, và một người hát rong từ Thung lũng lên đang hát bài ca Chiến công của các Chúa rồng , thì vị pháp sư khẽ nói với Ged: “Đi thôi, chàng trai. Hãy tạm biệt người thân của con và để họ tiếp tục ăn mừng.”

Ged đem theo tất cả những gì mình có: một con dao đồng sắc bén mà người cha đã rèn cho cậu, một chiếc áo choàng da mà bà vợ góa của ông thợ thuộc da đã cắt bớt cho vừa, và một cành gỗ tổng quán mà người dì đã phù phép cho; đó là tất cả của cải cậu có ngoại trừ bộ quần áo mặc trên người. Cậu tạm biệt họ, tất cả những người cậu quen biết trên đời, và nhìn một lần cuối ngôi làng nằm túm tụm lộn xộn dưới mỏm núi, bên trên những nhánh suối đổ ra sông. Rồi cậu ra đi với người thầy mới, xuyên qua những cánh rừng thoai thoải của đảo núi, xuyên qua những vòm lá và những bóng râm của mùa thu rạng rỡ.

« Lùi
Tiến »