Do tiếng Đồng Bò là tên một cánh đồng ở dưới chân núi mà ra. Đây là một vùng núi rộng hàng trăm dặm vuông, nằm trùm trên địa phận ba quận Vĩnh Xương, Diên Khánh, Cam Lâm và chạy ra sát biển. Núi không cao, đỉnh cao nhất là 978 thước nằm ở giữa núi nhưng thế hiểm. Nếu dùng làm mật khu quân sự thì địch khó mà tìm ra cơ sở, mà có tìm ra đi nữa cũng không dám tấn công. Đi trên tàu bay nhìn xuống thì thấy núi non điệp điệp trùng trùng. Nhưng chỉ có một ngọn nổi danh là hòn Cầu Hùm thường kêu là Hòn Con Hin.
Núi nằm sát biển cao 643 thước, cây cối rậm rạp, đá mọc gồ ghề, lại có nhiều thú dữ. Song núi nổi danh không phải vì cảnh vật, mà nhờ câu chuyện bắt hùm của người xưa.
Nguyên ngày xưa ở Khánh Hòa có một con cọp chúa đàn sống trên vài trăm năm, to lớn dị thường và hung tợn cực độ. Cọp què một chân, nhưng lanh lẹ như chớp. Ngày ngày thường xuống đồng bằng bắt người và gia súc, tên bắn không thủng, bẫy nhử không mắc, gây đại hoạn cho đồng bào địa phương.
Khi làm trấn thủ thành Diên Khánh (1793), ông Nguyễn văn Thành tìm đủ cách để trừ nạn cho dân. Song không có kết quả. Nghe đồn bà Thiên Y A Na linh thiêng, quan trấn thủ liền mật đảo. Thiên Y liền ứng mộng bảo gài bẫy nơi dãy Hoàng Ngưu, và bày lễ tam sanh cúng tế trong ba ngày đêm, thì tất bắt được hổ. Quan trấn thủ làm theo lời mộng thì quả bắt được con hùm xám ba chân. Từ ấy nhân dân được sống yên. Để tỏ lòng tri ân, quan lập miếu thờ bà Thiên Y nơi đỉnh núi đã bắt được hùm. Và nhân câu chuyện cầu đảo mà bắt được hùm thiêng, nhân dân địa phương gọi núi là núi Cầu Hùm vậy. 15
Hòn Cầu Hùm là chủ sơn trong dãy Hoàng Ngưu. Và dãy Hoàng Ngưu nằm sát biển ở mặt đông, lại có đồng bằng cùng đường Quốc Lộ số 1, đường Hỏa xa làm ranh giới ở phía Tây, nên bên ngoài có vẻ một « Quốc gia tự trị không lệ thuộc một cường quốc nào ». Nhưng sự thật, cũng như hòn Trại Thủy đối diện, vẫn nằm trong sơn hệ vùng Cao Nguyên và vẫn liên quan mật thiết với vùng núi phía Tây Diên Khánh. Quận Diên Khánh, ngoài những ngọn núi cao trên nghìn thước (đã dẫn ở đoạn trên), còn mấy ngọn thấp rất nổi danh. Trước hết là hòn :
14) NÚI CHÚA
Núi nằm trong địa phận thôn Đại Điền Trung, phía Bắc thành Diên Khánh. Ngày xưa gọi là núi Đại An. Tên chữ là Qua Sơn tức Núi Dưa. Tục gọi là Núi Chúa. Truyền rằng nơi núi Đại An xưa kia có vườn dưa của vợ chồng ông tiều mà bà Thiên Y A Na tục gọi là bà Chúa Ngọc giáng trần và hiển thánh. 16
Tên Qua Sơn, Núi Chúa do đó mà ra. Còn Đại An là tên làng cũ của Đại Điền. Cổ nhân mượn tên làng gọi núi vậy. Xưa nay tên Núi Chúa thông dụng nhất. Núi Chúa là một thổ sơn, cao 284 thước. Dáng tròn tròn. Cây cối thưa thớt. Phía trước là đồng bằng. Phía sau, chạy dài từ Tây xuống Đông, một dãy núi đá cao và rậm. Xa trông như một nấm mộ đất chôn dưới chân hàng rào dúi trong một khoảnh vườn hoang.
Trên đỉnh có miếu thờ bà Thiên Y A Na. Miếu ngói qui mô không được rộng lớn. Cách thờ phụng cũng không được trang hoàng. Không xứng với một vị thần thượng đẳng mà các quan Tỉnh một khi đến để lỵ Khánh Hòa đều phải sang bái yết. Trước miếu, cách một sân rộng, có hai cây mã tiền, tức là cây cổ chi, sống lâu đời, thân cao tàn cả. Dưới gốc cây có hai nấm mộ đất. Người ta bảo đó là mộ của hai vợ chồng ông tiều, cha mẹ nuôi bà Chúa Ngọc.
Bà Chúa Ngọc có nhiều danh hiệu. Nơi bia cụ Phan thanh Giản ghi là A Na Diễn Bà Chúa Ngọc Thánh Phi. Trong Đại Nam Nhất Thống Chí khi thì chép theo cụ Phan, khi thì chép là Thiện Phi A Diễn Bà, khi thì chép Thiên Y A Diễn Bà, khi thì chép là Chúa Ngọc Tiên Nương (tục thường gọi là Chúa Tiên). Trong các sắc thần do vua nhà Nguyễn phong tặng thường chép là Thiên Y A Na Diễn Ngọc Phi. Ngoài đời thường gọi là Thiên Y A Na. Nhà Nguyễn Trung hưng ngay buổi đầu đã phong tặng Hồng Nhân Phổ Tế Linh Ứng Thượng Đẳng Thần, và các vua sau đời nào cũng có phong tặng. Truyền rằng Núi Chúa rất linh thiêng. Thường có hào quang chiếu sáng.
Năm Tự Đức thứ ba (1850) được ghi vào từ điển, hằng năm quan Tỉnh phải thân hành đến tế vào tháng trọng xuân. Từ ngày chế độ phong kiến bị lật đổ, lệ xuân kỳ không còn nữa. Nhưng nhân dân địa phương, vì lòng sùng thượng, vẫn không để lạnh khói hương.
Núi Chúa nếu không có bà Thiên Y A Na thì cũng bị một danh như muôn nghìn ngọn núi khác. Cổ nhân bảo :
Sơn bất tại cao, hữu tiên tắc danh.
Thủy bất tại thâm, hữu long tắc linh.
Nghĩa là :
Non chẳng tại cao, hễ có tiên thời nổi tiếng.
Nước chẳng tại sâu, hễ có rồng thời hóa linh.
Lời nói ấy đã được Núi Chúa chứng minh một cách hùng hồn vậy. Thời Pháp thuộc, Trường Xuyên lên chơi Núi Chúa có lưu lại một tuyệt rằng :
Người tiên cỡi hạc đi không lại,
Non Dưa vắng vẻ cảnh am tiên !
Theo thời hoa cỏ đua màu thắm,
Ngậm đắng riêng đôi khóm mã tiền !
Ở Diên Khánh có hai ngọn núi hữu danh, trùng tên với hai ngọn núi ở Vạn Ninh. Đó là Hòn Ngang và Hòn Dữ. Hai hòn núi Diên Khánh đối với hai hòn núi Vạn Ninh thì thấp và nhỏ thua, và danh hai hòn núi Diên Khánh chỉ phổ biến trong tỉnh. Thêm nữa hai núi Diên Khánh chỉ có tên tục chớ không có tên chữ Hoành Sơn Trấn Sơn như núi Vạn Ninh. (Hòn ở Vạn Ninh viết là Giữ tức giữ gìn, tức là trấn. Hòn ở Diên Khánh phải viết là Dữ vì do dữ tợn dữ dằng mà ra).
15) HÒN NGANG
Nằm trong địa phận thôn Đại Điền Tây. Cao 265 thước. Dài chừng vài cây số. Nằm xây mặt xuống hướng Đông. Trông giống bức bình phong hình thang. Phong cảnh không có gì đặc sắc. Có tiếng là nhờ nằm ngang ở giữa đồng trong khi các cụm núi khác nối nhau chạy theo một chiều như một đoàn cừu ngoan ngoãn.
16) HÒN DỮ
Nằm sát ranh giới Diên Khánh và Ninh Hòa, về phía Tây. Cao 904 thước. Trông ngang ngửa dữ tợn. Ở Ninh Hòa cũng như Diên Khánh, đi ngoài Quốc Lộ số 1, nhìn thấy Hòn Dữ nổi bật lên trên đám quần sơn, như một viên tướng giữa đám ba quân. Núi gọi là Hòn Dữ vì hai lẽ :
- Hình thù của núi trông to lớn dữ dằng.
- Bà Thiên Y A Na thường tới lui nơi núi và trong núi thường có ma quỉ hiện hình. Hễ ai vào núi hoặc đến gần núi mà có điều vô lễ thì bị quở phạt, nhẹ thì nhức đầu nóng lạnh, nặng thì điên cuồng hoặc học máu chết.
Núi còn có tên nữa là Hòn Sông Đôi. Vì đỉnh tách ra làm hai ngọn đứng song song trông rất cân đối 17 . Núi nhiều cây cối, phần nhiều là danh mộc, lại nhiều đá, lớp ngổn ngang, lớp chồng chất thành hố thành hang.
Truyền rằng : Trên núi có một cái sân đá bằng phẳng và rộng lớn. Đó là sân của Bà Thiên Y A Na, có quỉ thần canh giữ và cứ chiều chiều công và trĩ thay phiên nhau quét dọn sạch sẽ, không hề có tí rêu bám có chiếc lá rơi.
Cạnh sân có hai lỗ đá trông như hai họng súng thần công. Mỗi khi bà Thiên Y ngự đến thì sấm từ trong lỗ đá nổ lên ầm ầm ba tiếng vang dội tận ngàn xa. Rồi trên đầu non, hào quang bốc sáng cả bốn mặt. 18
Nơi lưng chừng núi lại có một cái hang ăn sâu vào lòng núi. Trước cửa hang có một dòng khe không nước. Ban đêm thường nghe tiếng ồ ồ như tiếng xay lúa. Và cứ mỗi buổi sáng vỏ trấu ở trong hang chảy ra khe như nước. Đến chiều hai con chim đại bằng bay đến lấy đuôi quét lấy cánh quạt, trấu bay theo gió tản mác ngoài bốn phương, nơi hang nơi khe không còn một chút mảy. 19
Nơi Hòn Dữ có nhiều cây gió, nên có trầm hương. Bởi vậy ngoài thợ rừng thường lên núi đốn danh mộc, còn có những người « ngậm ngải tìm trầm » tới lui. Những cảnh tượng kỳ quái nơi thâm sơn, chính nhờ các người thợ rừng và người đi điệu 20 đã « cho xuất giang hồ » vậy.
Hòn Dữ, Hòn Ngang, hòn Núi Chúa nằm bên hữu ngạn sông Cái Khánh Hòa. Bên tả ngạn còn mấy hòn tiếng nổi không kém Hòn Dữ và Núi Chúa, là Hòn Thị, Hòn Chuông, Hòn Phú Mỹ, Hòn Đại Đồng.
17) HÒN THỊ
Nằm trên địa phận các thôn Bình Khánh ở phía Đông, thôn Đảnh Thạnh ở phía Nam, thôn Phước Lương ở phía Tây, thôn Phò Thiện ở phía Bắc. Cao 728 thước. Khí thế trông hoành tráng hiên ngang. Trên núi có nhiều cổ thụ. Hầu hết là thị. Lắm cây to lớn, bộng có thể chứa được cả trâu. Núi do cây mà mệnh danh. Dưới chân núi về phía Đông, có một bàu sen rộng trên mười mẫu ta. Đến mùa hạ sen nở, gió đưa hương ngát khắp bốn thôn lân cận. Qua mùa thu mùa đông, sen tàn hết lá, thì thấy nước bàu phía chân núi đục ngàu ngàu, còn phía đồng bằng lại trong vắt. Cổ nhân cho là một việc lạ. 21
Hòn Thị trước kia là một ngọn núi quan trọng trong tỉnh vì liên hệ đến địa cuộc thành Diên Khánh là thủ phủ của các quan chỉ huy cao cấp địa phương. Thành Diên Khánh lấy Hòn Thị làm hữu bậc, lấy hòn Trại Thủy ở Nha Trang làm tả phụ. Và các thầy Địa bảo rằng long mạch chạy từ Hòn Thị đến hòn Trại Thủy thì hồi cố. Hai ngọn núi nầy bị phá là thành Diên Khánh bị hư, mà thành Diên Khánh hư thì tỉnh Khánh Hòa không giữ được cảnh thịnh vượng. Bởi vậy xưa kia hai hòn núi nầy rất được quan địa phương chú ý. Hòn Thị nổi danh một phần lớn do lòng tin thuật phong thủy vậy.
18) HÒN CHUÔNG
Đây là một « chồi » nhỏ trong nhánh núi cao rậm ở ranh giới Diên Khánh và Cam Lâm. Trước mặt là đồng bằng. Hòn Chuông thuộc địa phận thôn Khánh Phước. Cao 192 thước. Hình tương tự một quả đại hồng chung úp sấp. Trên đỉnh có một miệng hang ăn sâu vào lòng núi trông như một cái giếng không đáy. Dưới chân núi có một vực sâu tục gọi là Lỗ Bún. Lỗ Bún nằm về mé chân núi phía Nam. Mé chân núi phía Đông Bắc lại có một suối nước nóng. Nước nóng bốc hơi, nhưng hai bên bờ cỏ rau mọc xanh tốt. Song nếu bức một nắm rau hay cỏ nhúng vào nước thì xào ngay. Truyền rằng Hòn Chuông là trạm nghỉ chân của Thiên Y A Na khi Bà ở Núi Chúa vào Nam hay ở Nam trở về Núi Chúa. Mỗi khi Bà ghé vào thì trong núi phát hào quang và nghe tiếng chuông ngân vừa trong vừa dài như tiếng vàng tiếng ngọc. Vì vậy nên người địa phương gọi Hòn Chuông là Vại Bà. Và núi mệnh danh là Hòn Chuông chẳng những do hình thù giống quả đại hồng chung, mà còn do tiếng chuông ngân mỗi khi Bà ghé lại.
19) NÚI PHÚ MỸ
Tục gọi là Núi Đồng Cọ. Mượn tên cánh đồng nằm dưới chân núi thuộc thôn Mỹ Lộc, xã Diên Lộc. Tên Phú Mỹ ít người biết. Núi trùng trùng điệp điệp. Cao độ bao nhiêu không được rõ. Chắc là dưới nghìn thước. Song cây cao rừng rậm, nên lúc nào cũng có mây vầng và mùa nào cũng có mưa, nhất là buổi chiều không mấy khi tạnh. Đứng ngoài đồng trông vào thường thường chỉ thấy một màu trắng. Vì trên núi thường có mưa và thường mưa nhiều, nên phương ngôn có câu : « Mưa Đồng Cọ ». 22
20) NÚI ĐẠI ĐỒNG
Cùng nằm trong một dãy với núi Đồng Cọ. Dưới chân núi có một cánh đồng rộng mênh mông tục gọi là Đồng Lớn. Tên Đại Đồng do tiếng Đồng Lớn mà ra, và cũng như tên Phú Mỹ, ít được phổ biến. Nói đến núi, người phương xa cũng như người sở tại đều mượn tên đồng : Núi Đồng Lớn.
Đồng Lớn ở trên Đồng Cọ, thuộc thôn Phước Lương. Đại Nam Nhất Thống Chí chép rằng xưa kia là chiến trường, oan khí không tan hóa làm ác quỉ. Truyền rằng quỉ hiện cả ban ngày, khi dưới đồng khi trên núi. Cho nên qua lại trong vùng không mấy ai dám đi một mình. Cũng như Đồng Cọ, núi Đồng Lớn có nhiều danh mộc. Song núi nổi danh không phải vì gỗ tốt mà vì nhiều ma. Những thợ rừng thường bị ma quấy quá. « Tiếng lành đồn xa, tiếng dữ đồn ba ngày đường ». Vì vậy tục ngạn có câu : Ma « Đồng Lớn ». Những đặc điểm về Ma và về Mưa của Đồng Lớn Đồng Cọ đã cùng những đặc điểm của một số núi Ninh Hòa, Vạn Ninh, hợp thành một bài vè ý vị :
Mây Hòn Hèo
Heo Đất Đỏ
Mưa Đồng Cọ
Gió Tu Hoa
Cọp Ổ Gà
Ma Đồng Lớn.
Nhờ bài vè mà tên tuổi các hòn núi kia được truyền sâu và truyền xa hơn cả các danh sơn được liệt vào từ điển thời Phong Kiến. Trong vùng núi thuộc quận Cam Lâm, có một ngọn cao trên dưới 1.500 thước, nhưng không mang tên Thượng như các ngọn núi cao khác ở chung quanh. Đó là Hòn Bà. 23
21) HÒN BÀ
Tên chữ là Bích Sơn tức là Núi Vách. Đó là do hình thế của núi mà đặt tên. Vì Hòn Bà là vị « nữ vương » trong đám quần sơn của vùng. Đám quần sơn nầy lại nối kết thành một bức trường thành bàn bàn khúc khúc, chạy từ Bắc vào Nam. Hòn Bà đứng chính giữa, nổi bật lên trên tất cả các ngọn núi cao, trên đỉnh thường thường có mây hoặc mù bao trắng.
Bích Sơn là tên cả dãy núi mà Hòn Bà là Đại Biểu. Còn Hòn Bà là tên của người địa phương đặt ra do lòng tín ngưỡng.
Ở Ninh Hòa cũng có Hòn Bà. Nhưng núi Ninh Hòa gọi là Hòn Bà là vì trên núi có miếu thờ Bà Thiên Y A Na. Còn ở Cam Lâm gọi là Hòn Bà là vì đó là Hành Cung của Bà Thiên Y vậy. Truyền rằng mỗi lần Bà giá lâm thì thấy một đạo hào quang dài như một cây lụa xổ bay xuống núi, rồi nghe ba tiếng sấm nổ vang rừng. Nhiều khi không thấy ánh sáng đáp xuống núi, cũng không nghe tiếng sấm dậy, nhưng từ trong núi lại có ánh hào quang phát ra chói sáng hàng trăm dặm. Những lúc ấy biết rằng có Bà ngự nơi núi, người địa phương đốt hương đốt trầm làm lễ. Ngự giá thường qua lại những đêm trăng trong gió mát.
Tiếng đồn như thế, nhưng từ đệ nhất thế chiến (1914-1918) trở về trước, không một người Trung Châu nào dám lên đến Hòn Bà để thưởng ngoạn và tìm cho biết thực hư. Bởi vì không có đường đi. Núi lại nhiều đá, lớp chồng chất lên nhau, lớp đứng sừng sững như vách. Thêm cây cối rậm rạp, thú dữ đầy rừng. Xét thấy không có lợi gì cho bản thân, ai dại gì mà dấn thân vào nơi nguy hiểm.
Mãi năm 1914, vì cần nơi thí nghiệm giống quinquina, Bác sĩ Yersin và nhà vạn vật học Kremfp mới tìm cách lên đến tột đỉnh.
Sau khi nhận thấy Hòn Bà thích hợp với giống quinquina (chỉ sống trên núi cao trên dưới 1500 thước ở miền nhiệt đới), Bác sỹ bèn mở trại mở vườn thí nghiệm. Ngoài ra Bác sỹ lại còn đặt một phòng xem thiên văn và một trạm vô tuyến điện. Tất cả đều ở trên đầu núi cao trên dưới 1.500 thước so với mặt biển.
Lúc bấy giờ Hòn Bà hoàn toàn chìm sâu trong sương khói trong đá cây. Chỉ cách Nha Trang 50 cây số, cách sở Suối Dầu 30 cây số, nhưng đường liên lạc thật là thiên nan vạn nan. Để lên xuống được phần dễ dàng, Bác sỹ lo trổ một con đường nhỏ từ Suối Dầu đến chân núi, và từ chân núi lên tới đỉnh. Nhờ giải thưởng của Viện Hàn Lâm Khoa Học (Académie des Sciences) đã cấp đúng lúc và sức ủng hộ của người Thượng địa phương, Bác sỹ đã hoàn thành công tác trong năm 1917. 24
Sau đó Chánh phủ Pháp mới mở rộng khúc đường từ Suối Dầu đến chân Hòn Bà. Xe ô tô qua lại được dễ dàng (nay là hương lộ số 4). Từ ấy người đến viếng Hòn Bà mỗi ngày mỗi thêm đông. Nhưng đến chân Hòn Bà rồi còn phải leo bộ ngót sáu giờ đồng hồ nữa mới tới đỉnh. Đường đi vất vả. Song khi đến nơi rồi thì thân tâm tự nhiên thấy khoan khoái. Vì khí hậu trong mát không kém Đà Lạt, phong cảnh lại thanh lệ thâm u. Không một mảy may trần cấu. Nóng không quá 26 độ. Lạnh không dưới 6 độ rưỡi.
Mưa rất thường. Cho nên cây cao rừng rậm. Phần nhiều là sồi (chêne), phong (érable), và tô hạp (liquidambar). Chỉ có một số ít tòng và bá. Nhưng cây nào cũng cao lớn hơn mọi thứ cây chung quanh. Và cây nào thân cũng nổi u nổi gân, cành cũng rắn rỏi khúc khuỷu. Hình thù trông rất cổ quái. Những bức tranh lão tùng của người đời Tống nhìn không khoái mục khoái tâm bằng. Chen cùng đám cổ thụ, đá là đá ! Lớp to lớp nhỏ, lớp đứng lớp nằm chồng chất, ngổn ngang. Và tảng nào cũng đóng rêu xanh rêu xám.
Trên cành cây cổ thụ, phong lan bám đầy. Trong các khoảnh vườn ương và chung quanh trại của Bác sỹ Yersin, hoa hường cùng dâu tây (fraisier) trồng từng luống từng đám. Mùa xuân mùa hạ, lan nở hường nở, trăm hình nghìn sắc. Và mùi hoa theo gió trộn cùng mùi hương tô hạp, bay ngào ngạt khắp rừng sâu.
Tuy cây đá rậm rạp, Hòn Bà không có thú lớn, Voi, cọp, beo… không hề thấy bóng. Heo rừng chỉ đi ngang qua chớ không mấy khi dừng bước. Nai và sóc ở các thung lũng chung quanh rất nhiều, nhưng không mấy khi tới lui nơi Hòn Bà. Ruồi mòng, sâu bọ cũng không có. Thêm một điểm nữa : Miền rừng núi Cam Ranh là những nơi « bào chế bệnh sốt rét » của tỉnh Khánh Hòa, nhưng ở Hòn Bà muỗi rất ít và tuyệt nhiên không có giống anophèle.
Trái lại Hòn Bà có rất nhiều chim và khỉ. Thường thường trong rừng già chim chóc ít tụ tập. Nhưng ở đây nhiều phi thường ! Nhiều đến nỗi có thể tin rằng số chim chỉ em em số lá ! Nhiều giống chim lạ không hề thấy nơi bình nguyên. Lại đủ cỡ đủ màu. Lớn nhất bằng bắp vế, nhỏ nhất bằng ngón tay cái, ngón tay út. Con thì xanh, con thì vàng, con thì xám, con thì nâu, con thì trắng tuyết, con thì rằn ri… con thì như trái ớt chín, con thì như lá chuối non… Bay nhảy suốt ngày, tiếng kêu tiếng hót khắp nơi. Những con chim tí hon len lỏi trong những khóm hoa hường, trong những cụm phong lan, để tìm sâu, hút mật… thái độ hiền lành nhưng nhí nhảnh, trông hết sức dễ thương. Chim lớn phần nhiều không thích hoa bằng thích trái. Những đám dâu tây được chúng chiếu cố hết sức. Mùa trái chín chủ nhân ít khi được hưởng thỏa thuê. Hột theo mỏ, theo phân của chúng, gieo vãi khắp nơi. Và nhờ thổ nghi, không cần săn sóc bón tưới, tới đâu cũng mọc dễ dàng và sanh hoa kết quả rất thạnh. Còn khỉ thì từng đoàn từng đội ! Mỗi buổi sáng, hễ mặt trời hé bóng là chúng thức dậy. Tiếng kêu chí chóe vang dội cả rừng. Rồi kéo nhau đi tìm miếng ăn. Đến chiều kéo về, lố nhố lao nhao khắp cả cành cao cành thấp. Cho nên cảnh Hòn Bà không đến nỗi cô liêu.
Đứng nơi sở thí nghiệm của Bác sỹ Yersin trông ra bốn mặt thì vọng cảnh bao la. Phía đông, trên mặt biển màu thủy ngân, chân trời chạy dài từ mũi Varella đến mũi Padaran. Những ngọn núi ở phía Nam phía Bắc cùng những ngọn ở phía Đông, tuôn lài lài màu lục xuống các thung lũng và xuống tận đồng bằng duyên hải mà hoa màu và cát trắng đã chia thành bàn cờ. Ban đêm dưới ánh trăng vằng vặc, sóng xanh của cây rừng nhịp nhàng theo sóng bạc của nước biển, mông lung phiếu diếu, trông nửa thực nửa hư. Và tiết mùa thu mùa đông, nhiều khi vùng núi Cam Lâm chìm ngập trong biển mây trắng, chỉ có đỉnh Hòn Bà và đôi ba đỉnh nữa nổi lên trên mặt sóng chờn vờn 25 . Phong quang tuyệt mỹ.
Nhưng Hòn Bà được nổi danh không phải vì cảnh trí, vì khí hậu, vì sự nghiệp của Bác sỹ Yersin, mà chính vì tương truyền Bà Thiên Y A Na thường tới lui vậy.
Khánh Hòa còn nhiều ngọn núi có lắm kỳ nham quái thạch, lắm u cốc thanh tuyền… Nhưng vì ở những nơi hẻo lánh xa xôi, khó nỗi tới lui thăm viếng, nên danh bị mai một, đời không nhắc nhở đến mà sách vở cũng không. Duy có một dãy nằm trong nơi đô hội, đồng bào Nha Trang, Trường Đông, Trường Tây ngày nào cũng ghé mắt, khách du lịch thường in gót chân, nhưng không mấy ai biết tên. Kẻ thì kêu núi Chụt, người thì kêu núi Cầu Đá, Cửa Bé. Đó là dãy núi chạy sát biển, từ Trường Đông đến Trường Tây, tức từ Cửa Bé đến Cầu Đá. Tên ghi trong « Sơn thế bộ » của dãy núi đó là :
22) CẢNH LONG SƠN
Cảnh là bờ cõi. Long là tốt thạnh. Không hiểu cổ nhân thủ nghĩa như sao, có người hỏi cụ cử Phan Bá Vỹ làm ký lục Tòa Sứ Nha Trang thời Tiền Chiến, cụ đáp : « Có lẽ ông cha chúng biết trước rằng thế nào vua ta cùng các quan bảo hộ cũng đến cất dinh thư để làm nơi thừa lương, nên mới đặt tên núi như thế ». Một câu trào lộng, nhưng vẫn nói lên được một cạnh khía của Cảnh Long Sơn : Trên đầu núi về phía Cầu Đá có lầu Bảo Đại và nhiều dinh thự của người Pháp xây thời Pháp thuộc. Hiện nay là nơi nghỉ mát của các vị lãnh đạo cao cấp ở Trung Ương.
Hình núi chạy dài theo bờ biển, giống như một con rồng xanh. Cổ nhân gọi là « Thanh long hý thủy » (Rồng xanh giỡn nước). Một con đường từ Nha Trang chạy xuống Chụt rồi chạy qua Cầu Đá, cắt « đầu rồng » ra khỏi « mình rồng ». Đầu rồng ở phía Cầu Đá là nơi có dinh thự khang trang dành riêng cho các nhà quyền quí, thời Cộng Hòa cũng như thời Thực dân Phong Kiến. Mình Rồng từ Chụt Cầu Đá chạy đến Cửa Bé là của chung của hai làng Trường Đông Trường Tây.
Tiếp theo con đường Nha Trang Cầu Đá, một con đường piste chạy vòng theo sườn phía Đông cho đến Cửa Bé, rồi từ Cửa Bé chạy vòng lên sườn phía Tây để xuống đất bằng trở về Chụt. Con đường nầy có thể gọi là « đường vòng mỹ cảnh ». Ngoạn mục nhất là đoạn đường chạy phía biển. Nằm trên lưng chừng núi, đường khi lên khi xuống, uốn éo quanh co, như một con rắn bò quanh hòn non bộ. Trên cao là cây đá, dáng nghèo nàn nhưng tình thắm đượm, đối với anh chị em bình dân cũng như hàng trưởng giả, luôn luôn niềm nở tươi cười. Ngó xuống thấp thì biển xanh lặc lìa, với những cù lao chân trơ sóng bạc, với những cánh buồm, những bầy én phơi phới nhẹ nhàng, với ngọn gió không bợn trần hiêu và chỉ thổi vừa đủ mát. Phong cảnh tuy chưa phải là tiên song cũng có thể làm vơi bớt nỗi phiền nơi lòng người bị đảo điên vì danh lợi.
Khi nước nhà bình trị, nếu những dinh thự nguy nga tráng lệ phía Cầu Đá mở rộng cửa đón khách bốn phương, không phân biệt giai cấp, thì núi Cảnh Long nhất định sẽ trở nên thạnh vượng bậc nhất bạc nhì ở miền duyên hải Trung phần như tên đã báo trước.
Đ) ĐÈO
Những ngọn núi thượng dẫn hầu hết đều chạy theo hướng Bắc Nam. Nên mặc dù điệp điệp trùng trùng vẫn không làm cho bước đường vô ra bị cản trở. Ngoài ra, Khánh Hòa còn vô số núi khác không biết tên, mặc dù có thấy mặt. Và có một số không theo hướng Nam Bắc, mà chạy từ Tây xuống Đông, chia Khánh Hòa ra làm nhiều khu vực, và làm cho con đường Quốc lộ số 1 phải vượt qua nhiều dốc nhiều đèo khúc khuỷu quanh co. Qua khỏi Đèo Cả, đi vào chừng ba bốn cây số thì tới :
1) ĐÈO CỔ MÃ
Tên Chữ là Mã Cảnh, hình giống cổ ngựa, thấp và ngắn lại rộng rãi, nên dễ đi. Nhưng đèo chạy sát biển. Phong cảnh trông cũng khá quyến rũ. Cho nên có lắm ông tài xế có tâm hồn thi sĩ, đôi khi cao hứng thích đưa hành khách xuống biển cỡi cá kình du tiên. Bởi vậy đèo không hiểm trở thành nguy ! Vào khỏi Vạn Giã chừng bảy cây số, tới :
2) ĐÈO DỐC THỊ
Tức là Đèo Xuân Tự, chạy qua núi Phiên Lê. Đó là nơi nhà anh hùng Trần Đường đóng nghĩa quân Cần Vương chống Pháp. Đèo thấp nhưng hiểm hóc khó qua, cùng hòn Bồ Đà làm thế « răng môi » rất khăn khít. Đó là cảnh trí ngày trước. Từ ngày đường Quốc Lộ số 1 khai thông thì Dốc Thị chỉ còn là một cái dốc thấp thỏi dễ qua. Vào gần tới quận lỵ Ninh Hòa, thì có một đèo nhỏ nữa là :
3) ĐÈO BÁNH ÍT
Tức là Đèo Hà Thanh. Đây cũng chỉ là một cái dốc. Hành khách qua lại nhiều khi không để ý đến, vì không có gì đặc biệt. Nhưng vì đèo ở gần núi Ổ Gà, nên ngày xưa cọp thường ra « làm thân » với hành khách. Cọp Khánh Hòa tuy có tiếng « cắn cơm không bể » nhưng người nhát gan vẫn không dám đi qua đèo Bánh Ít một mình, nhất là lúc mặt trời sắp về non. Và hầu mong chúa sơn lâm phù hộ, người địa phương lập nơi đèo một miếu nhỏ, gọi là miếu ông Hổ. Vào khỏi Ninh Hòa chừng chín cây số đến.
4) ĐÈO RUỘT TƯỢNG
Đèo cao không đến 40 thước, nhưng quanh co nhiều vòng trên vài cây số, và chạy sát mé biển, gành đứng sóng to, nên trông rất dễ sợ. Đèo ngắn và thấp thua đèo Cả đến mấy lần, đường lại rộng rãi. Nhưng ở đây lại thường xảy ra nạn ô-tô. Hai bên đầu đèo và ở lưng đèo, có miếu thờ những người ngộ nạn. Hành khách đi ngang thường xuống xe thắp hương để cầu vong linh phù hộ. Những miếu thờ ấy ngoài « nhiệm vụ thiêng liêng » làm cho hành khách qua đèo vững dạ, còn có « sứ mệnh » cảnh giác các vị tài xế hay bỏ quên lương tâm nhà nghề ở nhà cùng vợ con. Đèo Ruột Tượng là ranh giới của Ninh Hòa và Vĩnh Xương.
Tên đèo là do hình thế mà đặt. Gọi là Ruột Tượng là vì quanh co nhiều vòng như khúc ruột và rộng lớn như « ruột voi ». Cũng như đèo Cổ Mã trông giống cổ con ngựa mà đầu nằm ngoài mé biển (Hòn Giôm) vai dính vào dãy núi phía Tây (Núi Xà, Núi Gian Nan). Nhưng có người bảo rằng tên đèo là Rọ Tượng chớ không phải Ruột Tượng, vì dáng đèo trông có vẻ lúng túng chật chội như rọ bó voi. 26
Phi thị thị phi, không biết bằng vào đâu để biện bạch. Thời Pháp thuộc, vì tranh phải trái về Rọ và Ruột mà hai ông bạn đồng nghiệp ở tòa sứ Nha Trang đã biến « tượng thành khuyển » và cho lỗ mũi nhau « ăn trầu ». Định Phong thấy vậy có mấy câu nửa bông đùa nửa chê trách :
Chuyện đời đương rọ nhốt voi,
Lênh bênh bá xáo mặn mòi gì tranh ?!
Giật mình tiếng khuyển sủa canh,
Đìu hiu thương bóng non xanh lọt rèm !
Chữ rằng « tốt lá tốt nem »,
Hỡi ai, máu chảy ruột mềm hay chăng ?
Từ đèo Ruột Tượng đi vào chừng 16, 17 cây số thì đến đèo cuối cùng là :
5) ĐÈO RÙ RỲ
Đèo cao 84 thước, ngắn chừng một cây số, uốn chữ Chi, chỗ khúc quanh rất gấp, nên trông thì đẹp mắt, song rất nguy hiểm cho xe cộ khi xuống cũng như khi lên. Vì vậy có câu ca rằng :
Rù Rỳ đường uốn chữ chi,
Anh lên đèo cho khéo,
Kẻo nữa có đi không về.
Đó, câu vợ mấy ông tài xế dặn chồng lúc đưa lên xe.
Hỏi tại sao lại đặt tên Rù Rỳ. Có người đáp rằng vì trên núi có nhiều giống cây rù rỳ. Đó có lẽ là cảnh ngày xưa, chớ hiện nay không thấy rù rỳ đâu cả. Đèo Rù Rỳ chẳng những là đèo cuối cùng của Khánh Hòa mà cũng là đèo cuối cùng của miền Nam Trung Việt. Từ Rù Rỳ trở vào tới Nam Bộ, con đường Quốc Lộ số 1 chạy trên đồng bằng, núi đứng vẹt ra hai bên như những toán quân đứng dàn hầu hai bên cổng vào một công đường khi có đại lễ. Núi Đèo tỉnh Khánh Hòa tuy hiểm trở, nhưng trông có vẻ hiền hòa khiêm tốn, chớ không ngạo nghễ nghênh ngang. Đó là một đặc điểm của núi non Khánh Hòa. Một đặc điểm thứ hai nữa là trên núi luôn luôn có nước khe nước suối, cho nên cây cối rậm rạp xanh tươi quanh năm, và quanh năm nước sông không bao giờ cạn vì nắng.
III. SÔNG NGÒI
Khánh Hòa có nhiều sông. Song tất cả đều phát nguyên trong nội thổ, tại vùng núi phía Tây, và chảy xuống biển phía Đông, nên không có trường xuyên đại giang tuôn ngàn vượt núi, cuốn mây khói cuồn cuộn theo dòng.Có hai con sông đáng kể, từ Bắc vào Nam, là con sông Dinh và con sông Cù. Đó là hai « sợi tim » của phủ Bình Khang và phủ Diên Khánh ngày trước, hai « cuốn phim » đã quay bao nhiêu cảnh « cồn dâu bãi biển » đã xảy ra trên đất Khánh Hòa.
A) SÔNG DINH
Trong Đại Nam Nhất Thống Chí ghi là sông Vĩnh Phú xưa gọi là Vĩnh An. Đó là con sông chảy ngang qua quận lỵ Ninh Hòa. Nên cũng thường gọi là sông Ninh Hòa. Vĩnh An, Vĩnh Phú, Vĩnh Hòa là tên đất mượn đặt cho sông vì sông chạy qua địa phận. Còn tên sông Dinh do đâu mà ra ?
Nguyên từ khi đất Kaut Hara của Chiêm Thành về ta, cơ quan cai trị đều đóng ở Bình Khang, cho đến đời nhà Nguyễn Trung hưng mới dời vào Diên Khánh. Dinh quan trấn thủ đóng trong vùng Ninh Hòa hiện tại. Nhân sông chạy qua trước dinh, người địa phương mới gọi là sông Dinh cho gọn.
Sông Dinh có nhiều nguồn, nhưng chỉ ba ngọn chính :
- Một từ hòn Mẫu Tử ở Khánh Dương chảy xuống, tục gọi là sông Cái.
- Một từ hòn Đại Đa Đa quận Vạn Ninh chảy vào nhập cùng sông Cái tại vùng Xuân Hòa, tục gọi là sông Cây Sao.
- Một từ biên giới Phú Yên chảy qua vùng Đá Bàn ở Vạn Ninh, tục gọi sông Đá Bàn chảy vào giáp sông Cái tại vùng Vĩnh Phú.
Từ Vĩnh Phú trở xuống, sông mới gọi là sông Vĩnh Phú, sông Ninh Hòa, hay sông Dinh.
Sông Dinh chảy ra cửa Hà Liên, vũng Nha Phu. Sông Dinh không được sâu cũng không được rộng. Thuyền trọng tải chỉ có thể lên xuống được nơi khúc sông gần biển, dưới Ninh Hòa. Còn từ Ninh Hòa trở lên, đường giao thông chỉ thuận tiện về mùa mưa nước lớn. Trên dòng sông Dinh không có gì đặc sắc. Nhưng nước sông Dinh vẫn gây nguồn hứng cho khách phong tao. Trường Xuyên có bài ca « tự lân hoàn tự tiếu » bắt nguồn từ ngọn sông Dinh :
Sông Dinh có ba ngọn nguồn,
Nhớ em, anh băng ngàn vượt suối,
Nhưng không biết đường đến thăm em !
Ghé vô chợ Ninh Hòa,
Mua một xâu nem,
Một chai rượu trắng,
Anh uống cho say mèm,
Để quên nỗi nhớ Nhung.
Rượu không say, anh nghĩ lại ngại ngùng :
Con gái mười hai bến nước,
Biết em thủy chung bến nào ?
B) SÔNG CÙ
Tức là sông Nha Trang. Đại Nam Nhất Thống Chí chép là sông Phú Lộc. Sông dài chừng 60 cây số, chảy qua hai quận Diên Khánh và Vĩnh Xương. Sông có nhiều nguồn. Nguồn thì chính Tây chảy xuống, như nguồn Gia Lai, Nguồn sông Máu 27 . Nguồn thì từ Tây Bắc chảy vô, như nguồn Gia Toui. Nguồn thì từ Tây Nam chảy ra như nguồn Gia Lê, v.v… Các nguồn hầu hết đều gặp nhau tại Thạch Trại, quận Diên Khánh. Hình giống như một cây quạt sè. Tại Thạch Trại nước các nguồn nhập lại, chảy về Đông, thành con sông Cái, tức sông Cù, tức sông Nha Trang. Sông Cái khúc thượng lưu, nước chảy rất mạnh, vì lòng sông bị núi chèn ép ở hai bên, đã hẹp lại dốc.
Từ Thạch Trại, sông Cái chạy quanh co chừng vài chục cây số thì đến Giang Ché. Ở đây sông Cái tiếp nhận nước Sông Khế 28 từ vùng Du Hoài, phía Tây Nam chảy ra. Xuống dưới Giang Ché chừng vài ba cây số thì tiếp nhánh thứ hai gọi là Sông Giang từ vùng núi tỉnh Darlac, phía Tây Bắc, chảy vào. Đến Sãi Me, cách khẩu Sông Giang chừng ba bốn cây số, thì tiếp nhánh thứ ba từ vùng núi Hòn Bà quận Cam Lâm, chảy ra, gọi là sông Cầu 29 . Từ Giang Ché trở xuống, nhờ ba nhánh sông nầy mà sông Cái có nhiều nước, và lòng sông mở rộng lần lần. Và từ khẩu Sông Cầu xuống chừng bảy tám cây số, thì tiếp nhánh thứ tư từ vùng núi Khánh Dương chảy vào. Nhánh nầy gọi là sông Chò, giao thủy tại Khánh Xuân, cuối Đồng Trăng.
Bốn nhánh sông sắp xếp với nhau một cách lý thú. Vào sông Cái như chân bước, cứ một nhánh ở tả ngạn thì nhánh tiếp theo ở hữu ngạn, một nhánh ở hữu ngạn thì nhánh tiếp theo ở tả ngạn. Thành thử tuy có nhiều sông con, sông Cái không « mang tiếng thiên vị », và những bạn lên nguồn tìm gỗ quí, nếu lắng tai « cao sơn lưu thủy » tất nghe trong tiếng nước chảy, câu ngâm :
Ta nằm ở giữa cân trời đất,
Khối ngọc không nghiêng một hướng nào. 30
Đến khẩu sông Chò là chấm dứt khúc thượng lưu của Sông Cái. Nơi đây có một cái vực rộng trên vài mẫu và sâu đến sáu sải. Nước xanh lặc lìa. Trong vực có nhiều cua đinh. Lắm con to lớn, đầu bằng đầu người và mai rộng như chiếc nong. Truyền rằng trong vực có hai con cá bạc má lớn bằng chiếc ghe bầu, và một con cá kẽm to như một con trâu cầm bầy sung sức. Những con vật nầy mỗi khi nổi lên thì sóng dậy cuồn cuộn. Vịnh vực Từ Mẫu, cụ tú Phan duy Thuần quận Diên Khánh có câu :
Sông Cái vực nầy sâu sáu sải,
Có khi cá nổi lớn vô song.
Và Thi nại Thị có câu :
Cá nằm đáy nước chờ phong hội.
Chẳng hóa rồng thiêng cũng hóa bằng.
Từ vực Từ Mẫu trở xuống, Sông Cái hết bị núi non chèn ép, thong dong chảy giữa đồng bằng. Hai bên bờ ruộng nương, nhà cửa với bóng tre bóng dừa xanh mát, in bóng trên dòng xanh. Và chảy quanh co chừng mười một mười hai cây số, đến thôn Trường Lạc tại Hà Dừa, lại gặp con sông Suối Dầu, từ Cam Lâm chảy ra.
Sông Suối Dầu phát nguyên tại Hòn Bà, quận Cam Lâm, và chảy xiêng xiêng ra hướng Đông Bắc. Đến thôn Thủy Xương, xã Suối Hiệp thì chia làm hai phái. Một chảy xuống đông về Cửa Bé. Một chảy ra Sông Cái để theo về Cửa Lớn Nha Trang. Sông Suối Dầu là phụ lưu cuối cùng của Sông Cái. Từ khẩu sông Suối Dầu, Sông Cái chạy qua sau lưng thành Diên Khánh để chảy xuống Vĩnh Xương. Đến thôn Xuân Lạc thuộc Vĩnh Xương, Sông Cái chia làm hai phái :
- Một phái chảy xuống Đông Nam, qua đồng ruộng, qua bãi Cát, men men theo chân núi Đồng Bò chạy xuống thôn Trường Đông và rót vào cửa Tiểu Cù Huân, tức Cửa Bé. Phái nầy bị lấp nơi phân lưu. Còn dòng nước thì nhiều nơi trở thành đồng bằng, đôi nơi đọng lại thành bàu thành ao. Những khi mưa lụt, nước nhớ đường cũ từ Sông Cái tràn vào, vạch lại dòng sông xưa một cách rõ rệt.
- Phái thứ hai chảy xiêng xiêng xuống hướng Đông Bắc. Đây là phái chính. Và hiện thời là con Sông Cái, vì phía Nam trên thực tế không còn hiện hữu một cách thường xuyên.
Từ Xuân Lạc chảy đến Ngọc Hội, sông lại chia làm hai chi :
- Một chi chảy vào Phương Sài, gọi là Ngư Trường (tên cổ nhân mượn bến Trường Cá tại Phường Củi mà đặt), rồi chảy xuống Hà Ra. Nơi đây nước xoáy thành một đầm rộng chừng một mẫu, tên chữ là Cù Đàm, tên thường là đầm Xương Huân. Nước sông một nửa chảy vào đầm, một nửa chảy xuống Xóm Cồn để ra cửa Đại Cù Huân, tức Cửa Lớn Nha Trang.
- Chi thứ hai, rộng và sâu hơn, chảy xuống Xóm Bóng thuộc thôn Cù Lao, rồi cũng chảy ra cửa Nha Trang như chi kia.
Hai chi giáp nhau trước khi ra cửa, và cùng nhau ôm kín một cồn đất phù sa tục gọi là Cồn Dê, có nhà cửa đông đúc và vườn dừa bát ngát xanh.
Từ Ngọc Hội trở lên là Trung lưu sông Nha Trang. Từ Ngọc Hội trở xuống là hạ lưu. Trong khúc hạ lưu có ba cầu dài :
- Cầu hỏa xa ở Ngọc Hội.
- Cầu Hà Ra ở trên đường Quốc Lộ số 1 phía Nam thành phố Nha Trang.
- Cầu Xóm Bóng bắc ngang qua cửa sông Nha Trang, trên đường Quốc Lộ số 1.
Cửa sông rộng nhưng không được sâu lắm. Lại có nhiều đống đá cao lớn mọc ở giữa, có phần bất tiện cho việc lưu thông. Những đá ấy gọi là Đá Chữ 31 , trông giống bầy trâu nước khổng lồ nổi lên mặt sóng nằm phơi lông.
Khách làng thơ bảo với nhau rằng đó là những giọt mực « rảy bút » của Hóa Công làm rơi, khi vừa vẽ xong con sông Nha Trang vậy.
Tên Nha Trang, trên thực tế, chỉ dùng để gọi khúc sông từ Ngọc Hội chảy xuống biển. Sông qua thôn nào thì mang tên thôn ấy. Nhưng trong sách xưa, như Đại Nam Nhất Thống Chí, thường gọi là Sông Phú Lộc, vì sông chảy qua làng Phú Lộc, mà làng Phú Lộc trước kia là một làng có nhiều nhân vật hữu danh và thịnh vượng nhất vùng Vĩnh Xương Diên Khánh. Sách địa lý ngày nay thường dùng tên Nha Trang mà gọi sông. Anh chị em bình dân thì gọi là Sông Cái. Còn khách hàn mặc thì gọi là Cù Giang, tức Sông Cù. Theo các vị cố lão ở Khánh Hòa thì Nha Trang là tên kỳ cựu của con sông. Nha Trang do tiếng thổ âm của người Chiêm Thành mà đọc trại ra. Tiếng đó là Ea Tran hay Yjatran. Ea hay Yja là nước là sông. Tran là lau lách. Gọi như vậy là vì xưa kia, hai bên sông lau lách mọc đầy. Câu thơ được truyền tụng ở Khánh Hòa :
Lưỡng ngạn vi lô trường đáo hải,
兩岸葦蘆長到海
Tứ biên hoàng diệp dục vi thu.
四邊黃葉欲為秋
Nghĩa là :
Trắng lợp đôi bờ lau tới biển,
Vàng bay bốn phía lá gieo thu.
Có phải là câu thơ vịnh sông Nha Trang ? Nha Trang vốn tên con sông. Khi người Pháp đánh chiếm Khánh Hòa xong, mới lấy làm tên cho thành phố hiện tại 32 . Nói tóm lại, dùng tên Nha Trang làm tên chính thức để gọi con sông Cù, tưởng đích đáng hơn tên nào hết. Tên cũ nay làm mới lại, đã hợp tình hợp lý, mà còn làm cho người phương xa dễ phân biệt với các con sông khác, và khó lẫn lộn về vị trí Bắc Nam.
Sông Nha Trang không sâu, cũng không được rộng. Mùa mưa thì nước sông lai láng. Đứng bờ bên nầy trông sang bờ bên kia thì « con ngựa trông nhỏ còn bằng con dê ». Đến mùa nắng thì lòng sông, chỗ sâu nhất độ hai thước là cùng, còn thường thường thì từ một thước rưỡi trở xuống. Bề rộng của lòng sông, kể cả bãi cát ở hai bên, thì nơi rộng nhất không quá 500 thước và nơi hẹp nhất cũng từ 300 thước trở xuống, 200 thước trở lên. Đó là nói về khúc sông từ vực Từ Mẫu đến biển. Còn trên khúc thượng lưu thì hẹp hơn nhiều. Vì lòng sông cạn nên thuyền trọng tải chỉ lên xuống được dễ dàng trong mùa mưa. Đó là hiện trạng ngày nay.
Xưa kia, sông Nha Trang vừa sâu vừa rộng. Cửa sông mở từ Xóm Bóng sang thấu Hà Ra. Giữa sông không có nổng Cồn Dê. Từ Ngọc Hội nước chảy thẳng xuống biển chớ không phân lưu như hiện nay. Bến Trường Cá ở Phường Củi ăn sâu vào tận chân núi Trại Thủy chùa Hải Đức và núi Gành chùa Kim Sơn. Nước lênh láng như biển. Mùa nắng cũng như mùa mưa, không lúc nào, không khúc nào có thể lội qua được.
Vì vậy nên chiến thuyền của nhà Tây Sơn và nhà Nguyễn mới có thể lên xuống thành Diên Khánh, và bến Trường Cá mới dùng làm nơi tranh hùng tranh bá của hai nhà « đồng tánh bất đồng tông ». Giữa hai nhà có ba trận đánh lớn trên sông Nha Trang :
- Năm Quí Sửu (1793), chiến thuyền của Nguyễn Ánh kéo lên Diên Khánh, bị quân Tây sơn chận đánh tại Trường Cá. Hai bên kịch chiến, máu chảy đỏ sông !
- Năm Ất Mão (1795) tướng Tây Sơn là Trần quang Diệu đem thủy binh và bộ binh vào đánh Diên Khánh. Thủy binh của họ Trần bị Võ Tánh chận đánh tại Trường Cá. Trận nầy ác liệt gấp mấy mươi lần trận Quí Sửu. Quân Tây Sơn đã thiện thủy chiến, lại đồng tâm quyết tử, nên quân nhà Nguyễn chống không nổi, bị tiêu diệt, xác chết và ván thuyền hư chận đứng cả nước sông. Võ Tánh thất kinh rút tàn quân chạy vào thành cố thủ.
Trần quang Diệu vây chặt thành. Nguyễn Ánh hay tin đem thủy binh ra cứu. Nhưng không lên nổi Diên Khánh, phải đóng quân chận nơi cửa sông Nha Trang, và các nơi núi non hiểm yếu. Sau đó Trần quang Diệu có việc phải về Phú Xuân. Đi đường núi bất tiện phải mở đường ở mặt biển. Thế là một trận đánh thứ ba xảy ra. Nhưng không kịch liệt bằng hai trận trước. Bởi Nguyễn Ánh biết Trần quang Diệu hùng mãnh không thể thắng nổi, thêm nữa mục đích xuất quân chỉ để giải vây cho Võ Tánh, mà địch tự nhiên rút lui thì còn chận lại làm chi. Do đó mà hai bên đều ít hao binh tổn tướng. Những sự kiện lịch sử nầy tuy sử nhà Nguyễn không chép rõ. Nhưng đã khắc sâu vào bia miệng người địa phương. Nên trải qua 170 năm mưa nắng, rêu dẫu mờ mà nét vẫn không mờ. Vịnh sông Nha Trang, Cổ Bàn Nhân có câu :
Trường Cá mây lồng tranh Hán Sở,
Cồn Dê cỏ phủ lớp tang thương.
Và gần đây một du khách ở Qui Nhơn vào chơi Nha Trang, nghe kể chuyện hai nhà Nguyễn tương tranh trên sông Cù, ngẫu chiếm hai câu trào lộng ngậm đủ tình, cảnh, cổ, kim :
Trường Cá nước chìm hai họ Nguyễn,
Sông Cù cát nổi một cồn Dê !
Phần nhiều khách du quan viếng sông Nha Trang, chỉ viếng khúc hạ lưu và trung lưu, chớ không mấy ai có gan lên đến thượng lưu để xem những thác nước là nơi chứa đựng nhiều nhất kỳ thú của sông. Sông Nha Trang có rất nhiều thác. Từ khẩu sông Chò trở lên thì có :
- Thác Đồng Trăng ở nơi giao thủy Sông Chò và Sông Cái.
- Thác Ông Hào cách thác Đồng Trăng chừng một cây số.
- Thác Đá Lửa
- Thác Nhét
- Thác Mòng
- Thác Võng
Những thác nầy đều nằm trong địa phận Đồng Trăng và cách nhau chỉ trên dưới một cây số. Và những người lên nguồn, đến Bàn Giáp gần Thác Võng thì phải bày lễ vật cúng quỉ thần rồi mới dám tiếp tục đi. Có lẽ nơi đây là ranh giới làng nước của « kẻ khuất mặt », và lễ cúng kia là lễ bàn giao. Qua khơi thác Võng thì đến :
- Thác Dằng Xay
- Thác Tham Dự
- Thác Ngựa
- Thác Hông Tượng
- Thác Trâu Đụng
- Thác Giang Ché
- Thác Trâu Á
- Thác Nai
- Thác Rùa
- Thác Hòm, v.v…
Những người lên nguồn làm súc gỗ, lên đến Thác Hòm mà thôi. Trên nguồn còn lắm thác nhưng ít người lên đến nên không có tên. Và hầu hết những thác thượng dẫn không cao như những thác Camly, Gougah, Ankrouet, Prenn… ở Dalat. Thác nào cao lắm cũng trên dưới vài thước mà thôi. Nhưng nhiều thác rất nguy hiểm. Cho nên ghe bè lên xuống phải hết sức cẩn thận và tay chèo chống phải hết sức thạo nghề thì mới tránh khỏi tai nạn. Có những điểm đặc biệt đáng lưu ý, là những thác sau đây kể từ nguồn trở xuống :
1) THÁC HÒM
Ở trên nguồn Gia Toui. Nước trên các khe các suối chảy dồn xuống một hồ rộng. Cuối hồ một đập đá thiên nhiên nằm chận ngang dòng nước chảy. Do đó nước hồ luôn luôn lênh láng và sâu không biết bao nhiêu. Dưới đập đá có một lỗ cống bồng bềnh. Nước hồ theo lỗ cống chảy qua bên kia đập đá và tuôn xuống một vực sâu, tiếng vang ầm ầm. Thợ rừng làm súc gỗ xong kết bè thả xuống hồ rồi trèo qua đập đá sang bên kia đợi. Bè gỗ chui vào lỗ cống thường bị nước đánh rã, và súc gỗ thường bị mắc kẹt trong hang. Phần trôi ra ngoài mười phần chỉ còn độ ba bốn. Rất ít khi bè ra được, nguyên. Vì nước thác chảy luồn qua cống đập đá bốn bên bịt bùng, nên gọi là Thác Hòm.
2) THÁC RÙA
Gọi như thế vì giữa thác có nhiều đá hình tròn tròn trong giống mai rùa. Những đá ấy lớp chìm lớp nổi. Bè đi vô ý bị va vào tất nguy.
3) THÁC NAI
Giữa thác có một hòn đá hình thù giống một con nai mới lú sừng. Thác Nai hiền như nai. Nếu không có hình đá trông xinh xinh thì không mấy ai để ý. Thác Nai, Thác Rùa, Thác Hòm ở trên Thạch Trại, là những thác hữu danh thuộc về nguồn. Từ Thạch Trại trở xuống, những thác được để ý nhất là :
4) THÁC TRÂU Á
Trâu Á là trâu húc nhau. Gọi như vậy là vì nơi thác có hai tảng đá to lớn hình giống hai con trâu giao đầu lại với nhau, như đương húc lộn. Hình trâu có đủ đầu đủ sừng, một phần chìm dưới nước, một phần nổi lên trên. Bè phải len chính giữa hai đầu trâu mà đi. Lắm khi bị vướng vào sừng xảy ra tai nạn. Thời Tiền Chiến sừng trâu bị sét đánh gãy, nên sự qua lại ít nguy hiểm hơn xưa.
5) THÁC GIANG CHÉ
Thác ở gần khẩu sông Khê. Ở giữa thác có một tảng đá nổi cao, hình giống như một cái ché cổ. Ché bị sét đánh sứt hết một phía miệng. Thác Giang Ché không nguy hiểm. Và ngoài cái ché trời sanh rồi trời đánh, không có chi đặc biệt.
6) THÁC TRÂU ĐỤNG
Cảnh tượng khác thác Trâu Á. Trâu ở thác Trâu Á đứng hai bên sông. Trâu ở thác Trâu Đụng lại nằm ở giữa dòng. Và có ba con. Trâu mẹ nằm giữa, hai trâu nghé nằm hai bên. Bè ở trên theo sức nước xuôi xuống, nếu lỡ tay sào, thì nhất định bị đụng vào đá, không đụng vào tảng nầy cũng đụng vào tảng kia. Mà một khi đụng vào thì hoặc chìm hoặc vỡ, chớ khó mà « bình yên ». Cho nên tay sào thật giỏi mới dám qua thác Trâu Đụng.
7) THÁC HÔNG TƯỢNG
Gọi tắt là thác Hông. Gọi thế là vì nước thác xối thẳng vào hông núi rồi mới quay trở lại xuôi theo dòng sông. Bè trôi xuống, nếu chống đỡ không khéo, bị tột vào hông núi, thì dội ngược lại và chìm ngay. Hông núi vừa to vừa mốc như da voi, nên gọi là Hông Tượng.
8) THÁC NGỰA
Thường gọi là thác Ngựa Lồng. Thác dài đến trên dưới 300 thước. Không dốc nhưng có nhiều đá mọc ngầm dưới nước. Có ba tảng cao nhất, chỏm lên gần sát mặt nước. Nằm theo hàng dọc. Nước chảy xuống bị sức cản, bắn bọt tung tóe. Trông dạng nước chảy qua ba tảng đá ấy, lên cao rồi xuống thấp, giống như kiều ngựa. Cho nên ba tảng đá mang tên là Kiều Nhất (tảng ở trên hết), Kiều Nhì (tảng ở giữa), Kiều Ba (tảng cuối). Sức nước qua thác Ngựa rất mạnh. Dòng nước chảy cuồn cuộn trông hung hăng như ngựa lồng. Do đó mà mệnh danh là thác Ngựa Lồng. 33
9) THÁC THAM DỰ
Cũng gọi là thác Sông Cầu vì nằm nơi giao thủy Sông Cầu và Sông Cái. Giữa thác nổi lên một cồn cát. Nước chảy chung quanh cồn giống như hai tay ôm choàng một thúng cát. Cánh phía Bắc cạn. Ghe bè đi bên cánh phía Nam. Thác không nguy hiểm.
10) THÁC DẰNG XAY
Mệnh danh như thế là vì thác chảy theo hình cánh chỏ, trông giống như dằng xay xay lúa. Nước chảy rất mạnh. Nơi nghẹo cánh chỏ có một cồn cát. Nước chảy xuống dội mạnh vào nghẹo cánh chỏ bị dội trở lại, một phần theo dòng sông chảy xuôi, một phần chạy vòng quanh cồn cát như kiểu xay lúa. Đó là một điểm nữa làm cho thác lấy tên là Dằng Xay chớ không lấy tên Cánh Chỏ hay chữ Chi. Bè ghe khi xuống gần đến khúc nghẹo dằng xay, thì các tay sào phải sẵn sàng giơ ra theo chiều hướng thuận tiện để chống vào vách đá cho ghe bè theo đúng đường trôi xuôi. Nếu lỡ tay thì thế nào cũng bị va vào vách đá. Mà một khi bị va thì không vỡ cũng chìm, hoặc bị đẩy lọt vào giữa phần nước bị dội và bị nước cuốn chạy vòng quanh cồn cát, phải tốn nhiều công sức mới ra khỏi vòng xà quây.
11) THÁC VÕNG
Cảnh tượng có phần kỳ quái. Đá chồng thành một đập thiên nhiên, từ bờ phía hữu chạy xiêng xiêng ra đến hai phần ba sông. Nước đương xuống thác đã mạnh lại còn bị đập đá cản lại thành mạnh thêm. Đã vậy tại chỗ nước chảy lại có một dây rừng giăng ngang qua từ bờ phía tả đến đập đá như một cái võng đưa em. Dây ấy là một dây sống, lớn bằng bắp vế và giăng sà sà trên mặt nước. Nước thác chảy đánh tung dây lên cao. Dây tung lên rồi rớt xuống. Rớt xuống lại bị đánh tung lên. Cứ tung lên rớt xuống như dây của trẻ em tung để cùng nhảy với nhau. Ghe bè lên xuống, phải canh cho đúng lúc dây tung lên để lướt nhanh qua thác. Nếu qua không kịp thì bị dây quất xuống, ghe bè không vỡ cũng chìm, còn người không hộc máu chết tại chỗ, khi về nhà cũng bị sưng mình mẩy mà chết. Tai nạn xảy ra luôn. Người địa phương tin là dây thiêng, không ai dám xúc phạm.
Một nho sinh quyết liều chết để cởi ách cho đồng bào. Chàng mài một lưỡi rựa thật bén, rồi đến chặt đứt hai đầu dây. Nhựa cây như huyết heo tuôn đỏ cả mặt nước. Thấy vậy kẻ mê tín càng tin rằng đó là huyết của cây thành tinh, và chắc thế nào nho sinh cũng bị yêu ma bắt chết. Chàng nho sinh sau khi về nhà, kẻ thì đồn rằng bị hộc máu chết, người thì cười bảo « chàng bị Diêm Vương đòi hỏi tội lúc tuổi đã quá cao ». Không biết lời nào phải. Chỉ biết rằng nhờ lòng nghĩa hiệp của chàng nho sinh mà võng tinh không còn và ghe bè qua thác được dễ dàng, yên ổn. Một nhà nho nghe chuyện nho sinh, đắc ý vỗ đùi ngâm :
Trên đời chẳng có nhà Nho,
Thời nơi Thác Võng mối lo mãi còn.
Cho hay giấy trắng lòng son,
Nghìn thu tô điểm nước non thêm tình. 34
12) THÁC NHÉT
Giữa thác có nhiều đá nằm như thúng úp. Dưới thác có một lỗ to lớn lõm sâu vào vách núi, tục gọi là Lỗ Đoi. Nước thác chảy rất mạnh, và bị đá chận thành có nhiều nơi chảy vòng nong theo kẽ đá. Ghe bè xuống thác, nếu không cẩn thận thường bị nước tống vào kẹt đá hoặc vào Lỗ Đoi, mắc cứng như bị nhét. Vì vậy mà thác mệnh danh là Thác Nhét.
Để qua thác được bình an, mỗi khi đi ngang qua Lỗ Đoi, người cầm sào lấy sào thọc vào lỗ mấy cái. Đó là tục lệ xưa nay. Các nhà văn nhà thơ thấy vậy cũng đặt cho Thác Nhét một mỹ hiệu là « Mỹ Nhân quan ». Và những khách anh hùng muốn được « dị quá » phải « tùng tục ». 35
Đến viếng Lỗ Đoi, du khách không khỏi liên tưởng đến hồ Lỗ Đĩ và miếu Lỗ Lườn ở Vạn Ninh. Có lẽ đó là tục thờ Lingam và Yoni của người 36 Chàm còn truyền lại. Lỗ Đoi cũng là một đề tài của khách ngâm vịnh. Được truyền tụng là bài của cụ tú Phan duy Tuần họa vận bài của cụ Đông Giả :
Trèo lên thì dễ, xuống mà coi,
Ghe nhét nhiều lần tại Lỗ Đoi.
Nước chảy vòng nong gành rậm rịt,
Đá hàng úp thúng lạch thoi loi.
Hiểm sâu quen thói chôn đồ đạc,
Lăn lóc cam phần ngủ bãi doi.
Ai bảo rằng linh ? Dâm tợ đĩ !
Bao nhiêu sào chọt với dầm moi. 37
Nhà thơ trào phúng Định Phong lại nhập cả ba cảnh vào mấy vần, nghe cũng ngộ nghĩnh :
Phải chăng vì giống vì nòi,
Trời sanh Lỗ Đĩ Lỗ Đoi Lỗ Lườn.
Làm trai đầu cuống chưa tường,
Muốn xem tận mặt tìm đường đến xem.
Khỏi cần hỏi chị hỏi em,
Chẳng lo mất gạo nõ thèm giả đui…
Lượng xuân vốn chẳng hẹp hòi,
Chứa chan tình nghĩa mặn mòi ái ân.
Còn các thác khác, không có gì đặc biệt.
Và các thác kể trên, hầu hết nguy hiểm. Nhưng nguy hiểm nhất vẫn là Ngựa Lồng, Trâu Đụng và Dằng Xay. Cho nên ca dao địa phương có câu :
Ngựa Lồng Trâu Đụng Dằng Xay,
Khỏi ba thác ấy khoanh tay mà ngồi.
Đó là nói việc đi xuống. Chớ đi lên thì ai cũng ngán Thác Ngựa, vì quá dài. Trường Xuyên thời Tiền Chiến đã mượn Thác Ngựa để gởi chút lòng nhắn cùng người « đồng hội đồng thuyền » :
Anh muốn tìm nguồn trong,
Nên đi ngược dòng Sông Cái ?
Hay bị bùa bị ngải,
Nên anh bỏ bãi lên nguồn ?
Thuyền anh dù thuận gió đi luôn,
Đến đầu Thác Ngựa cũng phải cuốn buồm trở lui.
Thề xưa lời đã nặng lời,
Anh cố xa em đi nữa,
Chẳng phải ý trời thời cũng khó xa.
Anh đi em ở lại nhà,
Biển sâu lặn lội,
Em nuôi mẹ già thay anh.
Trên các nhánh sông, nhánh nào cũng có nhiều thác. Song có tiếng nhất là Thác Giang Lo, vì rất nguy hiểm.
13) THÁC GIANG LO
Nằm trên Sông Giang. Cao đến hai thước và đứng sững như vách. Cách chân thác chừng mười lăm hai mươi thước lại có một hòn đá to lớn nằm ló đầu lên mặt nước. Bè ghe xuống thác thường bị tột vào đá vỡ tan. Cho nên những tay sào đi trên Sông Cái, dù tài giỏi đến đâu cũng không dám đi trên Sông Giang.
Ghe đi trên Sông Giang, hễ gần đến Thác Giang Lo thì phải lo cất hết hàng hóa xuống để cho ghe qua thác rồi mới chất trở lên. Còn bè thì người chống phải ngồi bám vào bè cho thật chặt và ngọn sào phải để sẵn một bên. Bè xuống khỏi thác thì chìm sâu lút đầu người. Đến khi nổi lên thì tay sào phải sẵn sàng để chống vào đá, cho bè thuận theo dòng nước mà xuôi.
Người ta bảo rằng : « Vì đi trên Sông Giang, đến thác nầy ai nấy đều lo sợ, cho nên gọi là Thác Giang Lo ». Nhưng sự thiệt thì Giang Lo là tiếng Thượng, đọc và viết theo tiếng Kinh. Còn các thác khác cũng có nhiều cảnh lạ, nhưng khó mà đi đến, nên du khách tạm dừng chân nơi Giang Lo, để lấy sức trở lui xuống Sông Cái.
Từ nguồn chí biển, Sông Cái là tức sông Nha Trang, vượt qua nào núi nào rừng, vào ruộng nương thôn ấp. Nếu sẵn tài Tống Địch, thì thế nào cũng có ít nhất là tám cảnh Tiêu Tương. 38
Trong khi chờ mộng Giang Yêm 39 , thì xin giới thiệu « thực chất » của sông Nha Trang, để khi mộng thành thì được « văn chất bân bân » cho khoái tâm khoái khẩu :
Sông Nha Trang có nhiều cá. Nhưng có một giống cá mà các bà nội trợ nặng tình Mạnh Quang thường mua về để « cử án » 40 . Đó là cá Đục. Thứ cá nầy không phải riêng sông Nha Trang mới có. Song cá đục Nha Trang đặc biệt hơn cá các sông khác là thịt đã ngọt lại thơm.
Nhân vị đặc biệt ấy mà thời Nhật Pháp tranh quyền trên lãnh thổ Việt Nam (1940-1944), một người trong Việt Nam Ái Quốc Đảng ở Nha Trang 41 đã mượn con cá Đục để gởi tâm sự cùng bạn đồng chí :
Sông Nha Trang,
Cát vàng nước lục,
Thảnh thơi con cá đục
Lội dọc lội ngang,
Đã nguyền cùng em giữ dạ đá vàng,
Quí chi tách cà phê đen, ly sữa bò trắng,
Anh nỡ phụ phàng nước non ?
Đó, Sông Nha Trang, tức Cù Giang, tức Sông Cái, mới ngó qua tưởng không có gì đặc sắc. Nhưng nếu rõ được ngọn nguồn lạch sông, thì hưởng được không biết bao nhiêu thú vị, thú vị về phong cảnh, về lịch sử, về truyền thuyết… mà muốn hưởng được trọn phải chịu khó đến tận nơi.
C) CÁC CON SÔNG NHỎ ĐÁNG KỂ
Ngoài hai con sông lớn thượng dẫn, Khánh Hòa còn một số sông nhỏ. Đáng để ý là những sông sau đây :
1) SÔNG TÔ HA
Phát nguyên ở các núi nơi ranh giới Phú Khánh. Chảy qua Tu Bông rồi chảy xuống vũng Trâu Nằm thuộc vịnh Vân Phong. Trên thượng lưu có đập ngăn nước gọi Đập Sổ.
2) SÔNG BÌNH SƠN
Đây là một cái suối thường gọi là suối Bình Trung. Phát nguyên từ hòn Giúp, chảy qua Từ Chánh, Trung Dõng, Bình Trung rồi chảy xuống cửa Giã, vịnh Vân Phong.
3) SÔNG VẠN GIÃ
Tục gọi là sông Hâu. Có hai nguồn : một từ vùng núi Tam Phong ngoài ranh giới Phú Khánh chảy vào ; một từ Hòn Chảo chảy xuống, qua Hiền Lương, rồi cùng nhánh kia hợp lại chảy xuống Cửa Giã, vịnh Vân Phong. Sông nầy nằm phía trong Vạn Giã. Quận NINH HÒA có một con sông nhỏ, bên cạnh Sông Dinh. Đó là :
4) SÔNG CẦU LẤM
Tên chữ là Ngọc Sơn, phát nguyên từ Hòn Bà : Có hai phụ lưu là hai thắng cảnh của Khánh Hòa. Suối Cát và Suối Đá Chẻ 42 . Sông chảy xuống vũng Nha Phu. Quận VĨNH XƯƠNG có :
5) SÔNG PHÚ HỮU
Do nước Ba Hồ, một thắng cảnh của Khánh Hòa 43 chảy ra rồi chảy xuống vịnh Nha Phu.
6) SÔNG ĐỒNG BÒ
Đây là nhánh Nam phái cũ của sông Nha Trang. Ngọn nước bị lấp, dòng nước nhiều khúc cạn thành đồng bằng, nhiều khúc còn đọng thành bàu, chỉ khi mưa lụt mới thấy lại dạng sông cũ. Mùa nắng sông nhờ nước ở Suối Dầu do một suối nhỏ, tục gọi là sông Dinh, chảy xuống Đồng Bò, đến Trường Đông, để ra Cửa Bé. Do đó mà sông cũng thường gọi là Sông Trường Đông hay Sông Cửa Bé. Ở quận Diên Khánh, có một con sông vừa nhỏ vừa cạn, không có gì đặc biệt, thế mà nổi danh, vì hành khách đi trên đường Quốc Lộ phải đi ngang qua một cái cầu bắc trên sông và mang tên sông. Đó là :
7) SÔNG CẠN
Một nhánh nhỏ của Sông Cái tức sông Nha Trang.
Trong Đại Nam Nhất Thống Chí gọi là Hạc Giang 44 và chép rằng sông nầy do mương ngòi trong các đồng ruộng chảy dồn lại chớ không có nguồn.
Sự thật thì « nguồn » ở tại bờ sông cái phía Nam, cách đầu cầu Chợ Thành qua Phú Lộc chừng trăm thước. Nhưng nước ở sông Cái chỉ khi nhiều lắm mới tràn vào Sông Cạn. Ngoài nước Sông Cái, Sông Cạn còn nhận nước các đồng ruộng, như Đại Nam đã chép, nhiều nhất là nước Cầu Lùng. Cầu Lùng ở phía Nam thành Diên Khánh, trên con đường Quốc Lộ số 1. Tại bến xe Thành đi vào thì tới Cầu Lùng rồi tới cầu Sông Dinh. Dưới Cầu Lùng có một lỗ nước rộng lớn và rất sâu, mùa hạ nắng mấy cũng không cạn. Cũng có thể gọi vũng Cầu Lùng là « ngọn nguồn » thứ hai của Sông Cạn.
Sông Cạn chảy qua Phước Thạnh, Võ Kiện, Võ Cạnh, xuống Phú Vinh để cùng các mương rãnh dồn nước chảy vào Cửa Bé những lúc trời mưa to. Phong cảnh của con sông cũng như của cầu Sông Cạn, không có gì ngoạn mục. Nhưng cầu Sông Cạn là một cầu lịch sử.
Năm Bính Tuất (1886) dưới triều Đồng Khánh hai nhà lãnh đạo nghĩa binh Cần Vương là Trịnh Phong và Nguyễn Khanh tuẫn quốc nơi gò bên cầu 45 . Và 24 năm sau đến lượt chí sỹ Trần quí Cáp.
Nguyên cuối triều Thành Thái đầu triều Duy Tân, cụ Trần quí Cáp, hiệu Thái Xuyên, người làng Bất Nhị, huyện Diên Phước, tỉnh Quảng Nam, đậu Tiến Sỹ, vào ngồi giáo thọ huyện Tân Định, tỉnh Khánh Hòa. Cụ là một nhà chí sĩ cùng các cụ Phan bội Châu, Phan châu Trinh, Huỳnh thúc Kháng là chỗ thâm giao. Khi ngồi giáo thọ Tân Định, Trần chí sỹ ngấm ngầm tuyên truyền chống nào khoa cử, bài trừ hủ tục, hô hào chấn hưng công thương… Biết rằng chí sỹ là một nhà cách mạng nguy hiểm, bọn thực dân và bọn quan An Nam, tay sai của chúng, luôn luôn theo dõi. Để tránh sự dòm giỏ ngó treo của bọn chó săn, các thơ từ của chí sỹ, thơ nhà cũng như thơ ngoài, đều gởi cho quan huyện Tân Định. Quan huyện Tân Định lúc bấy giờ là cụ Tấn Sỹ Hồ Sỹ Tạo, người Hòa Cư, phủ An Nhơn, tỉnh Bình Định, bạn đồng khoa cùng chí sĩ. Nhờ vậy mà chữ thánh hiền không bị mắt cú vọ rây nhơ.
Năm Mậu Thân (1908) ở Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định nổi phong trào « xin xâu xin thuế ». Đồng bào hớt tóc ngắn kéo nhau đến Tỉnh yêu cầu Chánh phủ giảm bớt xâu thuế. Phong trào rất sôi nổi. Để trấn an nhân tâm bọn thực dân phong kiến, sau khi thấy bắn giết không đi tới đâu, bèn hứa hẹn thỏa mãn lời yêu cầu. Đồng bào giải tán, chúng lùng bắt những người cầm đầu, lớp bỏ tù lớp xử tử. Trong khi phong trào đương sôi nổi, gia đình cụ Trần gởi thư vào nói rõ tình hình và thỉnh ý cụ. Theo thường lệ, thư gởi cho quan huyện Tân Định. Chẳng may lúc bấy giờ cụ Hồ Sỹ Tạo về Bình Định linh gian cho bà cụ thân sinh. Quyền tri huyện là Phan bá Hoành mở thư ra xem, liền đem trình cho Tỉnh để lập công hầu mong được thực thụ chức tri huyện Tân Định. Quan tỉnh Khánh Hòa lúc bấy giờ là Phạm ngọc Quát làm Tuần Vũ và Nguyễn Mại làm án sát. Gặp được dịp tỏ lòng trung thành cùng chủ, Phạm ngọc Quát cùng Nguyễn Mại, một mặt tư Sứ và Bộ, một mặt bắt tống lao nhà chí sỹ. Cụ Hồ Sỹ Tạo đương ở nhà cư tang cũng bị liên lụy. Hai cụ bị kết án tử hình về tội mưu đồ phản loạn. Cụ Trần bị xử lăng trì. Cụ Hồ bị trảm quyết. Triều đình Huế xét « không có gì nặng » giảm án cụ Trần xuống trảm quyết và cụ Hồ khổ sai chung thân ! Cụ Hồ bị nhốt ở ngục Bình Định. Trong ngục cụ có câu :
Thảo mẹ ba năm lòng cỏ thẹn,
Chăn dân tám tháng vận cầm rơi.
Cụ Trần bị hành quyết tại cầu sông Cạn. Cụ bước ra pháp trường với thái độ thản nhiên. Cụ lấy chiếc khăn nhiễu bịt đầu đưa cho tên đao phủ : « Sự nghiệp của tôi chỉ có chừng nớ. Chú cầm lấy và chém tôi một đao cho mát ». Trời đương nắng bỗng kéo mây và gió lạnh thổi ! Đồng bào không cầm lòng được, khóc rống ! Bọn thực dân cũng tỏ vẻ bùi ngùi. Riêng bọn quan An Nam, tay sai của chúng, lấy làm đắc ý vì đã tỏ được lòng khuyển mã cùng quan thầy lại trừ được cái đinh chính nghĩa ở trước đôi mắt tà nịnh. Chúng lại còn buộc gia đình phải mai táng cụ Trần tại Khánh Hòa ! Mãi mười lăm năm sau, trung cốt mới được đưa về cố thổ. Người có tâm trong nước, ai cũng căm giận phường gian nịnh, vì danh lợi mà bán tâm hồn cho giặc, phản quốc phản dân.
Và người Khánh Hòa in sâu cảnh tượng thương tâm vào lòng vào não. Cho nên mùa xuân năm Ất Mão, sau khi Nhật lật đổ Pháp (1945), nhân trong thành phố Nha Trang có mấy con đường mới cần đặt tên, các thân hào nhân sỹ Khánh Hòa liền đề nghị đặt tên Trần quí Cáp cho con đường chạy trước mặt nhà của hậu duệ Phạm ngọc Quát, để kẻ qua người lại lấy đó mà làm gương. Và các ông già bà cả đã chứng kiến thảm cảnh năm Mậu Thân (1908) còn sống sót đến nay, hễ nhắc đến chuyện xưa đều không cầm được nước mắt !
Còn con sông Cạn đến mùa nắng thì nước khô. Nhưng nơi cầu, nước không bao giờ ráo. Phải chăng đó là giọt lệ khóc anh hùng tích tụ, dòng hận của khách « quốc thù vị báo » còn lưu ? Từ Nha Trang đi lên, trước khi đến Chợ Thành Diên Khánh thì phải qua cầu sông Cạn. Qua cầu sông Cạn, nghĩ đến chuyện chí sỹ Trần quí Cáp, đến hai vị anh hùng họ Trịnh họ Nguyễn, người hữu tâm không thể hững hờ đi qua.
Khánh Hòa còn một ít sông con khác, nhưng không đáng kể. Có một điểm đáng lưu ý là sông Khánh Hòa, mặc dù phát nguyên ở nội địa, sông nhỏ cũng như sông lớn, mùa nắng, cạn thì có cạn chớ ít khi khô rốc. Vì núi nhiều cây, trời thường mưa, khe suối luôn luôn trữ nước. Cho nên có câu :
Sông không khô nhờ nguồn trữ nước,
Con cháu sang giàu nhờ phước cha ông.
IV. ĐỒNG BẰNG
Tỉnh Khánh Hòa, núi rừng chiếm hết 15/16 diện tích. Đồng bằng chỉ còn 1/16 tức 33.950 ha. Đất đã khai hiện nay trên 32.000 mẫu tây.
Từ Gia Long đến Tự Đức ruộng đất Khánh Hòa, theo bộ thuế điền thổ, gần 12.600 mẫu ta, tức 6.800 mẫu tây. Năm Thành Thái thứ 10 (1898) số ruộng đất lên được gần 29.155 mẫu, năm thứ 11 (1899) lên 30.828 mẫu dư, đến năm thứ 18 (1906) lại lên đến 31.260 mẫu ta tức 15.630 mẫu tây. Đem so với diện tích trồng tỉa hiện thời thì nay ruộng đất rộng gấp đôi xưa.
Đó là theo giấy tờ. Trên thực tế thì từ trước đến giờ, ruộng đất Khánh Hòa, trừ những đồn điền của người Pháp mới khai khẩn thời Pháp thuộc, không tăng cũng không giảm. Diện tích ghi trong bộ thuế điền thổ không đúng sự thật. Từ đời Thành Thái trở xuống thuế má luôn luôn tăng. Để đủ số thuế Nhà Nước ấn định cho mỗi tỉnh, Chánh quyền địa phương không gia tăng giá biểu mà lại gia tăng diện tích trồng tỉa, mặc dù trên thực tế ruộng đất không hề tăng một tấc nào. Cho nên từ Thành Thái thứ 10 đến thứ 18 mà diện tích tăng gấp bốn lần !
Con số 32.100 mẫu tây cũng là con số trong sổ bộ hiện thời. Có sai chăng cũng chỉ sai chút ít thôi. Ruộng đất Khánh Hòa đã hẹp mà còn bị núi đồi chia cắt từng vùng, từng khoảnh, thành thử ít nơi có cảnh « cò bay thẳng cánh », có cảnh « lúa ngập ngút mây ». Nhiều ruộng đất nhất và ruộng đất tốt nhất là Ninh Hòa, thứ đến Diên Khánh. Vạn Ninh, Vĩnh Xương và Cam Lâm, đất trồng tỉa không được nhiều bằng hai quận kia. Còn Khánh Dương thì đất núi chỉ thích hợp với cỏ và tranh săng. Ruộng rất ít.
Người xưa đã đặt cho những cánh đồng Khánh Hòa nhiều tên rất « thực tế » và rất « bình dân » :
- Ở Vạn Ninh có : Đồng Găng, Đồng Mốc, Đồng Đáy, Đồng Miễu, Đồng Gáo, Đồng Bà Chỉ, Đồng Lớn, Đồng Bé, Đồng Đụt…
- Ở Ninh Hòa có : Đồng Cháy ở phía Đông quận lỵ ; Đồng Nay, Đồng Chuôm ở vùng phía Tây quận lỵ.
- Ở Vĩnh Xương có : Đồng Đế ở phía Bắc thành phố Nha Trang và gần quận lỵ Vĩnh Xương ; Đồng Bò ở phía Nam thành phố Nha Trang.
- Ở Diên Khánh có : Đồng Nga, đồng Lũy, đồng Dài, ở phía Bắc ngạn Sông Cái ; Đồng Trăng, đồng Sậy, đồng Cọ, đồng Lớn… ở phía Nam ngạn.
- Ở Cam Lâm có : Đồng Lác, nay đã thuộc về thị xã Cam Ranh.
Đó là những cánh đồng thường được nhắc nhở đến. Và tên đồng đã dựa theo những đặc điểm của đồng mà đặt. Nhưng cảnh sắc đã nhiều thay đổi, nên hiện nay có nhiều cánh đồng, không hiểu tại sao lại mang tên như thế. Ví dụ : Đồng Đế, Đồng Bò, Đồng Cọ, Đồng Nga… Hỏi thăm, một ông lão cười :
Người đâu khỏi chuyện khùng khiên
Xưa đặt nay truyền chớ biết vì sao !
Hiện nay, để tiện lợi trong việc thực hiện chính sách xây dựng nông thôn, cơ quan hữu trách chia ruộng đất Khánh Hòa ra thành nhiều cánh đồng, và tên đồng gọi theo tên những thôn ấp quan trọng :
- Vạn Ninh có những đồng : Tu Bông (Tân Phước, Hội Khánh) ; Vạn Giã (Tứ Chánh, Bình Trung, Phú Cang, Quảng Hội) ; Mỹ Đồng, v.v…
- Ninh Hòa có : Đồng Xuân (Đồng Thân, Nghi Xuân) ; Vĩnh Thịnh ; Ninh Ích ; Đại Tập, Đại Mỹ ; Ninh Hòa (Hà Thanh, Vĩnh Phước, Thanh Châu) ; Tân Hưng, Trường Lộc, v.v…
- Vĩnh Xương có : Phú Hữu, Xuân Phong, Phú Vinh, v.v…
- Diên Khánh có : Tứ thôn Đại Điền (Đ.Đ Trung, Đ.Đ Nam, Tây, Đông) ; Phú Khánh, Nghiệp Thành ; Thanh Minh ; Đồng Trăng (Khánh Xuân, Xuân Lâm), v.v…
- Cam Lâm có : Hội Xương ; Vĩnh Phú, v.v…
Ruộng gần nước thì làm hai mùa. Ruộng xa nước thì làm một mùa. Ruộng rộc thì cấy ruộng gò thì gieo. Ở Trung Việt, ruộng đất Khánh Hòa đứng vào hàng ưu tú. Nhưng đối với đồng Nam Việt thì chẳng khác Việt Nam đối với Huê Kỳ. Tuy vậy, đồng Khánh Hòa thời bình vẫn đủ nuôi nhân dân Khánh Hòa. Cho nên người nông dân Khánh Hòa vẫn cao giọng hát :
Mẹ người áo gấm người yêu,
Mẹ ta áo vải ta chiều ta thương.
V. BIỂN VÀ BỜ BIỂN
Biển Khánh Hòa chạy từ Vũng Rô đến Cam Ranh, dài chừng 100 cây số đường thẳng. Có bốn Vịnh :
- Vịnh Vân Phong chạy từ chân núi Mã Cảnh đến chân phía Bắc núi Phước Hà.
- Vịnh Nha Phu chạy từ chân núi phía Nam Phước Hà đến chân đèo Rù Rỳ.
- Vịnh Cù Huân chạy từ đèo Rù Rỳ đến chân núi Cầu Hùm trong dãy Hoàng Ngưu Sơn.
- Vịnh Cam Ranh, nay thuộc về thị xã Cam Ranh.
Trong mỗi vịnh đều có vũng và cửa biển.
1) VỊNH VÂN PHONG
Rộng lớn nhưng rất kín đáo. Bán đảo Bàn Sơn dài gần 30 cây số, chạy từ đèo Cổ Mã xiêng xiêng theo hướng Đông Nam làm cánh cửa che gió Bấc. Bán đảo Phước Hà dài trên 20 cây số, cũng chạy xiêng xiêng theo hướng Đông Nam, làm cánh cửa che gió Nam. Tàu bè gặp bão thường ghé vào đụt. Trong vịnh có vũng Trâu Nằm ở Tu Bông, vũng Hòn Khói ở Ninh Hòa, đối diện nhau. Và ở gần cuối dãy Phước Hà có vũng Cây Bàn. Những vũng nầy là những nơi sinh nhai của đồng bào ngư phủ. Vịnh có hai cửa biển là cửa Vạn và cửa Giã.
- CỬA VẠN, Pháp gọi là Port Dayot ở tại Đầm Môn, dưới chân bán đảo Bàn Sơn 46 . Trước cửa có một hòn đảo lớn, tục gọi là Hòn Lớn, tên chữ là Đại Dự, đứng che. Cho nên cửa rất kín đáo. Chính nơi đây là nơi tàu bè núp bão tố. Vào ra cửa có hai lạch ở giữa Hòn Lớn và hai nhánh núi của bán đảo Bàn Sơn. Lạch phía Đông gọi là Lạch Cửa Bé, lạch phía Tây gọi là Lạch Cửa Lớn hay Lạch Cổ Cò.
- CỬA GIÃ nằm tại Vạn Giã. Nước sông Hậu chảy ra cửa nầy. Cửa Giã là nơi ghe thuyền buôn bán ra vào. Cá tôm ở các vũng phần nhiều cũng dồn về Cửa để phân phối đi các nơi. Cho nên dân cư đông đúc. Vạn Ninh thịnh vượng nhờ cửa Giã một phần, và ruộng đất một phần. Tên Vạn Giã là do tên hai cửa biển ghép lại.
2) VỊNH NHA PHU
Bề ngang gần sáu cây số, bề dài chừng vài chục cây số. Gần bằng một góc tư vịnh Vân Phong. Trong vịnh có cửa Hà Liên và cửa sông Dinh ở Ninh Hòa chảy xuống. Thuyền ghe lên xuống cửa nầy để buôn bán cùng Ninh Hòa.
3) VỊNH CÙ HUÂN
Đây là một vịnh quan trọng nhất của tỉnh Khánh Hòa. Vịnh trống trải. Gió Nam gió Bấc thổi qua đều không có sức ngăn cản. Cho nên không được thuận lợi cho tàu thuyền trong những lúc gió to sóng dữ. Trong vịnh có hai cửa biển : Cửa Lớn tức cửa Nha Trang và Cửa Bé tức cửa Trường Đông. Tuy trống trải, Cửa Lớn tức cửa Nha Trang là một hải cảng quan trọng ở Trung Việt. Tàu buôn, tàu chiến đều thả neo, không ngày nào không có. Đây vừa là một nguồn lợi cho thành phố Nha Trang vừa là một máy điều hòa không khí, vừa là một cảnh dưỡng mục dưỡng thần. Còn Cửa Bé rất có lợi cho việc chài lưới. Nhân dân ở Trường Đông đều sống nhờ Cửa Bé. Và nước mắm ngon trong tỉnh, một phần lớn do Cửa Bé mà ra. Cho nên Cửa Bé tuy nhỏ mà nổi tiếng từ xưa. Cửa Lớn tên chữ là Đại Cù Huân, Cửa Bé gọi là Tiểu Cù Huân.
4) VỊNH CAM RANH
Vừa rộng rãi vừa kín đáo, vịnh Cam Ranh là một hải cảng đứng vào hàng hải cảng tốt nhất Á Đông, về mặt quân sự cũng như về mặt thương mãi. Nhưng trước kia, nhân dân Khánh Hòa chưa được hưởng lợi, ngày nay lại cắt giao cho thị xã Cam Ranh và người Việt Nam không được tới lui nếu không có giấy phép của người Mỹ. Tuy Cam Ranh không còn hệ thuộc Khánh Hòa, nhưng nhân dân Khánh Hòa không quên Cam Ranh và không quên câu chuyện năm Ất Tỵ (1905).
Năm ấy Nhật thắng Nga. Tàu chiến của Nga chạy ngang qua phần biển Khánh Hòa, chạy vào trốn tại vịnh Cam Ranh. Nhân đi vào Nam, qua Khánh Hòa, ba nhà chí sỹ Phan châu Trinh, Trần quí Cáp, Huỳnh thúc Kháng ghé lại Cam Ranh xem tàu Nga. Đi thăm, sự thật không phải cốt để thỏa mãn tánh tò mò, mà chính để mừng chiến thắng oanh liệt của một dân tộc da vàng, để thêm phần tin tưởng ở sự thành công sau nầy của cuộc cách mạng dân tộc do những nhà chí sỹ ái quốc lãnh đạo, trong đó có hai cụ. Bọn chó săn của Pháp theo dõi, biết được. Và bọn quan An Nam, khi kết án hai cụ về tội « mưu đồ phản loạn », đã vin vào việc đi thăm tàu Nga làm một bằng cớ để múa bút tà ngụy buộc tội cho thêm nặng nề !
Đồng bào Khánh Hòa cũng không quên bãi cát Cam Ranh là nơi đày những chiến sỹ Cần Vương, sau khi phong trào đã bị tan rã (1887), và nhiều người đã vùi thây nơi cát trắng biển xanh. Sau nầy Cam Ranh dù có thay đổi hẳn bộ mặt, người Khánh Hòa nói riêng, người Việt Nam nói chung, chắc không nỡ quên những hàng lịch sử đã in sâu vào bia miệng nhân dân địa phương.
Bờ biển Khánh Hòa hình cong cong như lưỡi liềm, lưng trở vào đất, lưỡi trở ra biển. Nhưng không phải trơn liền và bằng mặt như lưỡi liềm, mà chỗ cao chỗ thấp, nơi lõm nơi lồi, đoạn thì ghềnh đá chông chênh, đoạn thì bãi cát êm dịu. Sơn mạch từ Đại Lãnh, Mã Cảnh chạy thẳng ra biển, xiêng xiêng theo hướng Đông Nam tạo thành một bán đảo. Đó là bán đảo Bàn Sơn. Bán đảo Bàn Sơn, dài gần 30 cây số. Trong nhỏ ngoài to, hình giống một chiếc chìa khóa sửa xe đạp mà răng day vào Vạn Ninh, cán trở ra Bắc. Hai « răng chìa khóa » như hai cánh tay ôm lấy Cửa Vạn mà hòn Đại Dự đứng trước làm bức bình phong.
Từ Ninh Mã, dưới chân Đèo Cổ Mã đến mũi Hòn Ngang, dài 13 cây số, bờ biển cao nhưng ngay ngắn. Qua khỏi mũi Hòn Ngang, đi vào chừng trên 3 cây số nữa thì núi nổi lên làm cho bờ biển trở nên gập ghềnh khúc khuỷu, cao thấp lõm lồi, mặt ngoài cũng như mặt trong. Từ Ninh Mã đến Vĩnh Giật phía Tây, mũi Hòn Ngang phía Đông, là cán chìa khóa. Từ Vĩnh Giật Hòn Ngang đến Khải Lương, là răng chìa khóa. Trong khoảng răng chìa khóa có nhiều mũi đá, ngoài mũi Hòn Ngang, như mũi Đá Chôn, mũi Đôi, Mũi Hòn Chò, mũi Cột Buồm, ở phía Đông bán đảo. Mũi Gành ở cuối bán đảo về phía Nam, mũi Nai Ba Kèn ở phía Nam Cửa Vạn, mũi Cổ Cô, mũi Đá Sơn… ở phía Tây bán đảo.
Bán đảo Bàn Sơn là bờ phía Đông của vịnh Vân Phong. Bờ phía Tây của vịnh, tức là một đoạn bờ biển « chính thức » của Khánh Hòa, chạy từ Vũng Trâu Nằm đến cuối dãy Phước Hà Sơn của Ninh Hòa. Đoạn này chia làm hai phần :
- Từ Vũng Trâu Nằm đến Vũng Hòn Khói, bờ biển thấp và toàn cát hình lưỡi liềm. Những sông những suối chảy vào biển, chia bãi cát thành nhiều khoảnh, khiến cho lưỡi liềm bị mẻ nhiều nơi.
- Từ Hòn Khói trở vào Nam, núi nằm sát biển, nên bờ biển thường thường cao và dốc. Nhiều nơi ghềnh đá chênh vênh, dưới chân ghềnh có nhiều hang nhiều hố. Có một số hang hố ăn sâu vào lòng núi, làm ngõ ra vào cho những « thạch thất » tức những động đá ở bên trong.
Đoạn nầy nằm hẳn dưới chân dãy Phước Hà, mặt Đông Bắc. Bờ biển nhô ra nhiều mũi nhọn. Đáng kể là mũi Bàn Thang, mũi Bãi Chướng, mũi Bắt Tay. Mũi Hòn Thị là cùng điểm (terminus) của dãy Phước Hà.
Dãy Phước Hà là cánh cửa phía Nam của vịnh Vân Phong và là cánh cửa phía Bắc của vịnh Nha Phu. Cũng như phía bên Vân Phong, phía bên Nha Phu núi cũng chạy sát biển. Bờ biển cao nhưng có phần thẳng, ít nơi lồi lõm hơn phía bên Vân Phong. Song dưới chân ghềnh cũng có nhiều hang hố ăn thông vào động bên trong của Hòn Hèo.
Cho nên nếu có binh đóng trong lòng dãy Phước Hà thì không sợ bị phong tỏa. Vì ngoài những đường vô ra ở trên núi, còn nhiều ngõ thông thương ở ngoài biển.
Bờ biển phía Đông Bắc vịnh Nha Phu cao. Bờ biển phía Tây, từ của Hà Liên chạy vào tới Rù Rỳ, thấp, vì núi chạy có hơi xa biển. Nhưng thỉnh thoảng núi đột khởi hoặc chạy thọc ra biển, khiến bờ biển đương bằng vụt nổi, đương liền lặng vụt chông chênh. Như ở Tân Thủy có Hòn Hoài, ở ranh giới Ninh Hòa Vĩnh Xương có đèo Ruột Tượng và nhất là qua khỏi Lương Sơn có đèo Rù Rỳ, làm thay đổi hình thế và sắc thái bờ biển. Qua hải phận vịnh Cù Huân, bờ biển vẫn không nhất trí, và có núi thỉnh thoảng chạy ra biển chỗ ít chỗ nhiều :
- Từ Rù Rỳ đến Cù Lao, bờ biển toàn cát trắng, thấp và bằng phẳng mịn màn, dài độ ba cây số.
- Tại vùng Cù lao, núi lòi ra biển, bờ biển toàn đá và nổi lên cao ở phía Bắc và phía Đông, cong cong chừng một cây số.
- Phía Nam Cù Lao, cửa sông Nha Trang cắt ngang bờ biển làm đôi. Nếu không có cầu Xóm Bóng nối liền Bắc Nam, thì kẻ bên nầy người bên kia không khỏi nặng tình trông đợi.
- Từ cửa sông Nha Trang đến Trường Tây thì bãi rộng cát bằng, hình giống chiếc yển nguyệt đao bằng bạc mà lưỡi sắc bén dao sóng mài. Dài sáu cây số.
- Từ Trường Tây đến Trường Đông, dài hai cây số, hòn Cảnh Long như con rồng xanh, nằm sát biển, làm cho bờ biển nổi cao.
- Nếu không có Cửa Bé cắt ngang, thì hòn Cảnh Long nối liền với dãy Hoàng Ngưu Sơn vào thẳng Cam Ranh, thì bờ biển là một bức trường thành cản sóng gió tràn vô đất.
- Bờ biển thuộc hải phận Cam Ranh là một bán đảo chạy từ chân Hoàng Ngưu Sơn ra biển, xiêng xiêng theo hướng đông nam. Cát trắng chen núi xanh, chạy dài hơn 30 cây số, làm cánh cửa che cho vũng Thủy Triều và vịnh Cam Ranh, suốt mặt phía Đông. Đi ngoài biển nhìn vào chỉ thấy núi xanh cát trắng.
Bờ Biển Khánh Hòa đại khái là thế. Hình trạng bất nhất, khí sắc bất nhất. Nhờ vậy mà phong cảnh luôn luôn thay đổi. Hành khách đi đường hàng không trông xuống, đi đường hàng hải trông vào luôn luôn tìm thấy cảnh mới lạ, khiến mặt cũng như lòng, không chán không nhàm. Bờ Biển Khánh Hòa có nhiều Bãi Cát rất đẹp, rất quyến rũ, như :
- Bãi Đại Lãnh ở dưới chân đèo Cả. Bãi dài chừng hai cây số. Cát trắng mịn. Trên bãi trồng dương liễu thành rừng, tàn xanh bóng mát. Biển xanh tắm cát trắng. Liễu lục che cát trắng. Gió biển thổi vào, tiếng dương vi vút, tiếng sóng xào xạc. Một bên cao mà dài. Một bên thấp và ngắn. Dường như trái nhau, mà thật hết sức ăn nhịp với nhau, như tiếng sáo tiếng trống hòa điệu. Khách du quan thường kéo nhau đến thưởng thức.
- Bãi Đồng Đế ở phía Bắc Cù Lao. Dài chừng một cây số. Bằng thẳng sạch sẽ. Khách phong lưu thường kéo nhau ra tắm mát phơi nắng.
- Bãi Nha Trang, một thắng cảnh của Khánh Hòa, một nơi đã làm cho Nha Trang nổi tiếng là « miền cát trắng dương xanh » khắp toàn quốc. 47
- Bãi Dài chạy từ Hải Triều, đến Cam Ranh, dài trên 16, 17 cây số. Cát trắng phau phau, trắng hơn cả cát bãi Nha Trang, Đồng Đế. Nhưng vì ở xa nơi thị tứ nên du khách ít vãng lai. Sau nầy khi Cam Ranh đã trở thành nơi đô hội phồn hoa thì Bãi Dài nhất định sẽ trở nên bãi biển quyến rũ khách thừa lương hơn bãi nào hết.
Dọc theo bờ biển, Khánh Hòa có rất nhiều Đảo. Lớn nhỏ, tất cả là 71 hòn. Trong vịnh Vân Phong có :
- Hòn Điệp Sơn, trên cao trông xuống giống hình con nòng nọc, đuôi trở vào Nam, tục gọi là Hòn Bịp.
- Hòn Đại Dư, tức Hòn Lớn, dài đến 14, 15 cây số, và rộng từ 2 đến 6 cây số, chận ngang Cửa Vạn. Chung quanh có nhiều hòn đảo nhỏ, trông như những con gà con chạy chung quanh con gà mẹ.
- Hòn Mỹ Giang ở phía Đông bán đảo Phước Hà. Trước mặt có hai hòn đảo nhỏ là hòn Theo và hòn Khô. Và ngoài xa có Hòn Đỏ (cũng gọi là hòn Hèo) và hòn Cứt Chim. Đó là những hòn đảo phụ thuộc.
Trong vịnh Nha Phu có :
- Hòn Trà La tức là hòn Chà Là, bên cạnh có hòn Hố và hòn Rồng. Ba hòn nầy là ba hòn yến và nằm ở ngoài khơi.
- Hòn Thị Sơn gọi tắt là hòn Thị, phía Đông có bán đảo Phước Hà che, phía Tây có nhiều đảo nhỏ chầu hầu, như hòn Nứa, hòn Rêu, hòn Trồng, hòn Sấm.
Trong vịnh Cù Huân có :
- Hòn Qui Đảo tức hòn Rùa vì hình tương tợ con rùa bò vào Nam. Đứng nơi bãi Nha Trang trông ra, ném về phía Bắc.
- Hòn Bút Sơn hình giống một chiếc nón Huế úp sấp. Pháp gọi là Pyramide. Tục gọi là hòm Dụm. Ở trên đảo có yến sào, nên cũng gọi là Hòn Yến.
Ca dao Khánh Hòa có câu :
Anh đứng Hòn Chuồng,
Trông sang Hòn Yến.
Lên thăm Tháp Bà,
Về viếng Sinh Trung.
Non xanh nước biếc trập trùng,
Biết bao liệt nữ anh hùng, em ơi !
Em hay nhận lời,
Cùng anh kết ngãi.
Đầu nguồn cuối bãi,
Ta hãy nương nhau.
Biển Cù nước mãi còn sâu,
Công linh chẳng trước thời sau cũng thành.
Những cảnh trong bài ca là những cảnh ở trong phạm vi vịnh Cù Huân, và hòn Yến nói trong bài là Hòn Dụm, hòn Bút vậy. Phía Bắc hòn Dụm có một hòn đảo nhỏ nữa gọi là hòn Câu. Ở khoảng giữa hòn Dụm và hòn Câu, có hai cụm đá trụi đứng song song. Vì hòn Dụm là hòn Bút, nên hòn Câu gọi là hòn Nghiên và hai cụm đá nhỏ gọi là hòn Mực. Biển có bút có nghiên có mực, trời trải mây ra làm giấy, để cho bầy én tía bầy nhạn trắng làm chữ viết nên bài thơ nghìn ý muôn lời, điểm trang Cửa Lớn thành một bức tranh tuyệt mỹ. Thời Tiền Chiến có câu :
Sóng mài nghiên biển ngòi non chấm,
Gió trải tờ mây chữ nhạn đề.
Là do cảnh của Nha Trang gợi hứng. Hòn Bút nằm ngay thôn Cù Lao, cách bờ biển 17 cây số. Đứng nơi bãi biển Nha Trang nhìn ra thấy dường như ở chính trước mặt. Xiêng xiêng về hướng Đông Nam, và cách bờ biển ba cây số, có một hòn đảo to lớn, nứt nhiều nhánh xa trông như những con cá sấu bò xuống nước. Đó là :
- Đảo Đàm Mông, tục gọi là Hòn Trẻ 48 . Trên đảo có thôn Bích Đầm, người ở đông đúc. Phía Đông có mấy hòn đảo nhỏ, hình cá óc nóc tục gọi là Hòn Nọc. Có hải đăng. Đảo nầy nằm ngay trước mặt Cầu Đá xã Trường Tây.
- Nằm ngay trước Cửa Bé xã Trường Đông, có : Đảo Bồng Nguyên tục gọi Hòn miếu. Trên đảo có thôn Trí Nguyên. Phía Đông có ba hòn đảo đứng thành hàng dọc, hợp cùng đảo Bồng Nguyên thành bốn trụ ba biểu đứng trước ngôi đình là đảo Đàm Mông.
Ba hòn đảo nầy tục gọi là : Đảo Tầm, đảo Một và đảo Mùn. Qua hải phận Cam Ranh có : Hòn Nội và Hòn Ngoại. Đó là hai hòn đảo có nhiều yến sào nhất tỉnh Khánh Hòa. Trong những hòn đảo có yến sào, hang hóc nhiều lắm. Cái thì ăn bồng bênh vào lòng núi, cái thì chạy dài như dãy hành lang. Vách đá bị sóng gió mài cọ, trơn láng như gương. Chim yến bám vào những nơi cao để làm tổ.
Khánh Hòa có tất cả bảy hòn đảo có tổ yến (yến sào). Nhưng sản xuất nhiều nhất là hòn Ngoại (4.000 tổ mỗi mùa). Hòn Ngoại nhỏ hơn hòn Nội lại đứng phía trong Nam. Có lẽ nội ngoại đây không có nghĩa là trong ngoài, mà là phía nội phía ngoại. Phía nội trọng hơn phía ngoại, nên hòn lớn gọi hòn Nội, hòn nhỏ gọi hòn Ngoại. Đó là ức đoán. Người đương thời không ai giải thích được chính xác. Đảo nầy có một đường hầm vừa cao vừa dài chạy suốt từ triền phía Nam sang triền phía Bắc. Đường đi ngoắt ngoéo, lúc thẳng lúc cong. Ánh sáng lờ mờ từ những kẽ đá trên đỉnh lọt xuống.
Muốn vào hang phải dùng thuyền nhẹ, thon và dài. Người chèo thuyền phải thông thạo đường lối và phải thật lanh tay chèo. Miệng hang thường bị sóng khỏa lấp. Nhưng nếu đầu hang này bị sóng lớn thì vào đầu hang bên kia. Vì lúc nào cũng có một đầu động, một đầu tĩnh. Vào hang phải hết sức cẩn thận. Nhiều nơi quá hẹp, lắm nơi đá mọc ngầm dưới nước, người chèo thuyền phải xuống khỏi thuyền, để vừa bơi vừa đẩy thuyền qua những nơi hiểm trở. Đến giữa hang, thuyền dừng nơi một bến đầy sạn sỏi và đá tảng. Sóng vỗ vào đá, bọt bắn như tuyết, tiếng nghe bập bùng và vang rền như tiếng sấm đất. Gió thổi vun vút và hơi nước hơi đá bốc lên lạnh buốt cả người.
Từ cửa vào đến bến mới là hàng ngoài, đúng hơn, mới là đường hang. Đến bến rồi mới trông thấy hang yến. Hòn Ngoại có ba hang. Các hang đều chạy lên cao. Vách nhẵn thin. Chim yến lớp bay lượn thoăn thoắt trong hang, lớp bám vào vách vào tổ. Tiếng kêu chin chít, hòa cùng tiếng sóng tiếng gió thành những bản nhạc không tiết tấu cũng không đầu đuôi.
Còn tổ yến thì dính vào vách hang, dính nơi vòm hang. Ngửa mặt trông lên thấy từng điểm trăng trắng như sao trên trời một đêm sương.
Quang cảnh trong hang thật khác biệt cảnh bên ngoài cả thanh lẫn sắc. Và tuy ở trong hang, chúng ta vẫn không thấy ngột ngạt vì gió thổi không ngừng. Đến chơi hang yến hòn Ngoại, ông Bạch Vân ở Nha Trang có một vịnh rằng :
Hòn Yến lâu nay ngỏ ý mời,
Dong thuyền lướt sóng đến xem chơi.
Quanh co đường nước xuyên gành đá,
Thăm thẳm lòng hang khuất dạng khơi.
Chim trổi tiếng vàng hòa nhạc biển,
Tổ treo giá ngọc đựng sao trời,
Cho hay Cù Hải giàu sang thật,
Ngọc chứa vàng chôn khắp mọi nơi.
« Bạc chứa vàng chôn » là giá trị của tổ yến. Vì mỗi năm yến sào làm lợi cho tỉnh Khánh Hòa hàng ức hàng triệu. Tổ yến Tàu gọi là Yến sào. Do chất nhựa trong cổ họng chim khạc ra. Yến làm tổ cũng như tằm làm kén. Hai bên đều đem « tinh huyết » của mình ra mà làm việc. Yến ở Khánh Hòa hầu hết sắc tía. Giống yến vàng rất ít.
Yến bắt đầu làm tổ từ tháng chạp âm lịch. Nhưng đến tháng hai, gió nồm thổi ấm, mới dốc hết sức hết công. Làm tổ xong thì lo đẻ. Song người lấy tổ không để chim kịp đẻ đã lo làm mùa, nghĩa là lấy tổ. Tổ lấy xong độ năm ba hôm sau thì chim làm tổ khác, nơi chỗ cũ. Kỳ nầy thì chim được phép đẻ tự do. Và người lấy tổ đợi chim con biết bay rồi mới làm mùa thứ hai. Không phải họ thương gì chim, mà chính không muốn chim tuyệt giống, không muốn sang năm sau lợi tức kém thua.
Lấy tổ yến không phải dễ. Phải làm giàn tre để leo, hoặc dùng dây thừng để lên xuống. Nhiều khi phải leo thật cao, rồi nắm dây tụt xuống tận vực thẳm, trong những hang tối om và không hơi gió lọt. Nhiều hang chỉ vào được lúc thủy triều xuống để lộ cửa hang. Cửa hang lắm nơi chỉ vào lọt một em bé. Người vào hang phải hết sức lanh lẹ để trở ra kịp lúc nước triều chưa lên.
Vào xem hang yến phải đợi mùa lấy tổ yến, mới thưởng thức trọn vẹn vẻ đẹp và thú vị trong hang. Sự lanh lẹ, khéo léo, dẻo dai của người thợ, cảnh nguy hiểm, vẻ lắt léo của những con đường xuống lên để lấy tổ, cảnh rộn rịp nhưng không ồn ào của bầy yến bị mất tổ… gây những cảm giác vừa vui vừa lo, vừa êm đềm vừa rạo rực… những cảm giác giông giống khi ngồi xem cirque, nhưng thanh thoát trong trẻo hơn.
Người thợ lấy tổ yến, chỉ hưởng tiền công hết sức ít đối với số lợi của chủ thầu tổ yến thu vào. Ngoài tiền công ra, người thợ cũng không mấy khi được nếm một miếng yến thượng hảo hạng xem hương vị như sao ! Vì khi ra khỏi hang, người thợ bị lục soát tận kẽ lông chân tóc !
Chủ thầu kiểm soát chặt chẽ như vậy vì một tổ yến (thường gọi là tai yến) hiện thời giá từ hai trăm đồng đến năm trăm đồng ! 49
Hòn Ngoại làm tiêu biểu cho các hòn Yến ở Nha Trang. Và bờ biển Khánh Hòa tạm dừng ở Hòn Ngoại, để nhìn về tương lai của bờ biển Cam Ranh, với hy vọng :
Nước non vốn nước non nhà,
Dẫu thay đổi mới vẫn là nước non.
VI. KHÍ HẬU
Các sách giáo khoa, cấp Trung Học Phổ Thông, dạy về Địa Lý, bằng theo địa thế mà chia khí hậu Việt Nam làm : Khí hậu Bắc phần, Khí hậu Trung Phần, Khí hậu Nam Phần. Lại chia khí hậu Trung Phần ra làm bốn :
- Khí hậu Bắc Trung Phần gồm ba tỉnh Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh.
- Khí hậu khu Trung Ương gồm các tỉnh từ Quảng Bình đến Phú Yên.
- Khí hậu Nam Trung Phần gồm ba tỉnh Khánh Hòa, Ninh Thuận, Bình Thuận. 50 Khánh Hòa Cao Nguyên Trung Phần.
Chia như vậy là để cho học sinh dễ học đó thôi. Chớ khí hậu cũng như con người, do ảnh hưởng núi sông, mỗi tỉnh mỗi khác.
A) ĐẶC TÍNH CỦA KHÁNH HÒA
Cũng có thể theo sách giáo khoa chia khí hậu Khánh Hòa ra làm hai mùa là mùa nắng và mùa mưa. Bởi vì là cảnh tượng dễ thấy. Chớ nếu sống hòa mình cùng vũ trụ thì nhận thấy rõ rệt xuân hạ thu đông ở Khánh Hòa. Mỗi mùa có một hương vị một sắc thái đặc biệt và mỗi khi sang mùa trong người đều cảm thấy sự thay đổi về thể chất cũng như về tinh thần. Ở tỉnh nào cũng vậy. Song ở Khánh Hòa dễ nhận thấy hơn, dễ phân biệt hơn. Nói về hai mùa mưa nắng : Khánh Hòa mưa nắng rất « điều độ ». Và mùa nắng không có (nắng sém da) như ở Qui Nhơn, Phan Rang, mùa mưa không « lạnh cắt ruột », « lạnh nhức xương » như ở Huế, ở Cao Nguyên. Trong mưa có khí ấm. Trong nắng có khí mát. Nha Trang là nơi tiêu biểu cho khí hậu Khánh Hòa.
1) NHIỆT ĐỘ
Nhờ ở gần biển, khí hậu Khánh Hòa rất ôn hòa. Từ tháng giêng đến tháng sáu âm lịch, tức vào khoảng tháng hai tháng ba đến tháng bảy tháng tám dương lịch, hàn thử biểu thấp nhất là 21 độ và cao nhất là 33 độ. Từ tháng bảy đến tháng chạp âm lịch, tức từ khoảng tháng tám tháng chín đến tháng giêng tháng hai dương lịch, cao nhất là 24 độ và thấp nhất là 19 độ. Năm nào lạnh lắm thì xuống đến 16 độ là cùng, còn nóng lắm thì lên đến 35, 36 độ là cùng. Vì vậy mùa hè hoa hường hoa huệ vẫn nở, mùa đông vẫn thấy dưới hồ nở lác đác đôi đóa sen hồng. Cho nên khí hậu Khánh Hòa là lý tưởng của anh chị em bình dân và hạng thường thường bậc trung, nghĩa là thích hợp cho đại đa số nhân dân Việt Nam hơn Dalat, Bạch Mã dành riêng cho hạng giàu sang.
2) MƯA
Khánh Hòa mùa nào cũng có mưa :
- Tháng giêng tháng hai âm lịch, thỉnh thoảng mưa từng trận nhỏ. Tục gọi là mưa xuân.
- Tháng ba tháng tư tháng năm thường có mưa dông, sấm sét dữ tợn. Mưa ào ào một vài giờ rồi dứt. 51
- Tháng sáu tháng bảy ít mưa, nhiều nắng và nắng hơi gắt hơn tháng năm tháng sáu, mặc dù đã sang thu.
- Tháng tám ở các tỉnh nắng gắt nhất. Tục có câu « nắng tháng tám nám trái bưởi ». Nhưng ở Khánh Hòa nắng đã dịu và ban đêm ngủ phải đắp mền lúc về khuya.
- Từ tháng chín trở đi mới thật là mùa mưa.
- Mưa nhiều nhất là tháng 10 tháng 11, tức là mạnh đông và trọng đông. Mỗi tháng đổ đồng cũng đến 20 ngày mưa. Thỉnh thoảng mới mưa suốt ngày, hoặc nhiều ngày liên tiếp. Chớ thường thường cứ mưa một cơn tầm tã rồi xửng một vài giờ, hoặc một vài buổi rồi lại mưa lại.
Ai đã từng sống ở Huế ở Bình Định… trong những ngày mưa dầm gió bấc, thì thấy mùa mưa ở Khánh Hòa, nhất là ở Nha Trang « dễ thương » vô cùng. Đương mưa sụt sùi, nước tung lạnh gió tung lạnh, mà hễ xửng « một cái » thì vẻ u ám liền tan và bên mình cảm thấy âm ấm như có hơi lửa dành sẵn trong không gian.
Một nhà thơ ví mùa mưa Khánh Hòa như một cô tình nhân ưa làm nũng, nhưng khi dỗ nín thì liền nhoẻn nụ cười làm ấm lòng người yêu.
Nói về mực nước, theo quyển Climat de l’indochine của Brujon xuất bản năm 1950, thì mùa nắng nước cao từ 22 m đến 64 m, mùa mưa lụt cao từ 174 m đến 399 m. Nghĩa là không thấp lắm mà cũng không cao lắm, mùa nắng không đến nỗi rốc ráo, mùa mưa không đến nỗi tràn trề và canh nươm, ăm ắp.
3) GIÓ BÃO
Khánh hòa có hai mùa gió : Mùa gió Nồm, Mùa gió Bấc.
- Gió Nồm thổi từ tháng Giêng cho đến tháng 8 âm lịch, tức là thổi về mùa nắng. Thổi theo hướng Đông Nam Tây Bắc, mang khí nước biển vào đất liền, mát mẻ dễ chịu.
- Gió Bấc thổi từ tháng 9 đến tháng chạp âm lịch, tức là thổi về mùa mưa. Theo hướng Tây Bắc Đông Nam, mang khí núi xuống đồng bằng, lạnh lẽo khó chịu.
Trong mùa gió Bấc thường có bão, nhưng ít khi có bão lớn. Những trận bão lớn xưa nay đều từ nơi xa tạt vào. Trừ vùng Tu Bông ra, Khánh Hòa không chịu ảnh hưởng gió Lào, như Phú Yên, Bình Định, vì nhờ núi phía Tây che kín từ Bắc chí Nam. Cho nên tháng 4, 5, 6 không nóng bức. Còn mùa Bấc thì nhờ khí ấm ở biển pha vào, nên không có hơi lạnh « nhức đầu sổ mũi », không đến nỗi đi đâu cũng phải mang pardessus trùm foulard như ở Dalat, ngồi đâu cũng phải ôm lồng ấp như ở Huế.
4) THỜI TIẾT
Nhờ mưa gió điều hòa, nhờ nhiệt độ giữa hai mùa nóng lạnh không chênh lệch mấy, nên khí hậu Khánh Hòa tốt hơn cả các tỉnh Trung Nguyên Trung Phần. Mức lên xuống của nhiệt độ cũng đi từ từ chớ không bao giờ nhảy vọt.
Tháng mưa nhiều nhất là tháng 9 tháng 10 âm lịch. Cảnh trời thường u ám, khí trời thường lạnh lùng. Có nhiều năm đến tháng 11 cũng còn mưa gió. Qua đến tháng chạp mưa đã ngớt nhưng trời còn lạnh. Cây cối buồn bã nhiều giống cây úa lá rụng theo gió theo mưa. Dễ nhận thấy nhất là giống bàng, nửa vàng nửa xanh và thỉnh thoảng rơi năm bảy lá vàng ánh. Đến giờ giao thừa, khí trời thoảng ấm, bầu trời vụt 52 trong. Và lòng người tự nhiên cảm thấy khoan khoái. Giờ phút chuyển tiếp giữa đông và xuân, ở Khánh Hòa, nhất là Nha Trang, dễ thấy hơn đâu hết.
Hoa xuân ở Khánh Hòa cũng rất nhiều. Lan, huệ, cúc, hường, thược dược… đủ màu đủ giống. Nhưng đặc biệt nhất là hoàng mai. Hoàng mai ở đâu cũng có. Song hầu hết đều là giống mai đơn, năm cánh, và thường thường mọc từng khóm lẻ tẻ hoặc từng chòm ba bốn cây, năm bảy cây. Hoàng mai ở Khánh Hòa phần nhiều là mai kép, cánh nở từ bảy trở lên và vun như hoa mai của các sĩ quan cấp úy. Mai Khánh Hòa ít khi mọc đơn chiếc, mai trời cũng như mai trồng, mà mọc từng rừng, từng đám. Lớp mai núi, lớp mai biển. Đến giống mai tứ quí cũng làm cho những người không thích « tánh tạp nhạp mùa nào cũng ra hoa » phải để ý. Ánh vàng của hoa hừng hừng trong ánh nắng mới, lộng lẫy huy hoàng. Ngày xưa rừng mai Phước Hải ở Nha Trang thịnh nhất 53 . Hiện nay mai dồn vào Cam Lâm. Mỗi bận xuân về, những người « chuyên môn bán hoa » thu bạc vạn. Cho nên khách phong tao gọi Khánh Hòa là Mai Thành.
Bên cạnh màu vàng của mai, còn có màu đỏ của lá : Lá bàng. Ở các nơi lá bàng thường thường rụng về mùa đông. Mùa đông rụng trụi. Qua xuân thì cành hoặc trùm lục hoặc trơ xương. Bàng Khánh Hòa mùa đông chỉ rụng cho có lệ. Qua xuân thì xanh trở vàng, vàng trở đỏ. Đỏ thắm như son tàu, đỏ tươi như môi người thiếu nữ trinh trắng. Vàng son trong cung điện vua chúa thời phong kiến thịnh hành cũng không rực rỡ bằng. Câu thơ Xuân Nha Trang của Trường Xuyên :
Bàng son nhuộm thắm trời Xuân,
Sao vàng xuống đậu sáng rừng hoa mai.
Diễn tả được phần nào cảnh xuân của Khánh Hòa vậy. Khi vàng của hoa son của lá đã nhường chỗ cho màu ngọc bích của cành, thì hoa sứ mới xuất hiện một cách đường hoàng, một cách viên mãn. Lòng vàng cành trắng, mịn màng thanh nhã, trông vừa khiêm tốn vừa nghiêm trang. Màu đỏ màu vàng của lá bàng hoa mai tượng trưng cho sức sống mãnh liệt của một dân tộc mới phục hưng. Màu dịu dàng của hoa sứ tiêu biểu cho thời thạnh trị thái bình, kéo dài ngót hai phần ba mùa xuân đầm ấm.
Sang mùa hè, Khánh Hòa lại trông thấy cảnh vàng son trở lại : Vàng của hoa muồng hòe, son của hoa phượng vỹ. Rực rỡ không kém mùa xuân. Mùa hè ở Khánh Hòa cũng là mùa của hoa sen, hoa lài, hoa trúc đào, hoa huệ đỏ… Nhưng tất cả đều bị phai mờ dưới ánh huy hoàng của hoa phượng hoa hòe. Hai thứ hoa nầy nơi nào cũng có. Song nơi thì nhiều phượng ít hòe, hoặc không có hòe, nơi thì nhiều hòe ít phượng, hoặc không có phượng. Ở Khánh Hòa hễ hòe đâu thì phượng đó. Hoặc đứng chen nhau, hoặc chiếm mỗi thứ mỗi vùng độc lập độc lập nhưng vẫn tương ỷ tương y.
Ở thôn quê thì tự do mọc tự do lớn. Ở Nha Trang thì sắp đặt do tay người. Đường thì trồng toàn hòe, như con đường Quốc lộ số 1 chẳng hạn. Đường thì trồng toàn phượng như đường Yersin chẳng hạn. Đường lại trồng hòe chen với phượng như những con đường trước tòa sứ ngày trước tức tòa Hành Chánh hiện thời… 54 Mỗi lúc hè sang thì dù đến những người chỉ sống trong phòng có máy điều hòa không khí cũng nhận thấy được sự thay đổi của thời tiết.
Các giống hoa, hầu hết đều có tánh cách quí phái, tánh cách tiểu tư sản. Phải xem từng đóa từng cành mới nhận thấy tài khéo léo của hóa công, mới thưởng thức đầy đủ vẻ đẹp. Hoa hòe hoa phượng là hoa bình dân. Phải nhìn vào tập thể mới thấy đẹp, một vẻ đẹp hùng vỹ, một vẻ đẹp hiên ngang. Và nắng càng gắt, sắc vàng càng tươi, sắc đỏ càng thắm, chẳng khác lửa đổ dầu thêm.
Vẻ đẹp của hoa mai của lá bàng là vẻ đẹp của buổi mai buổi chiều, rực rỡ nhưng dịu. Vẻ đẹp của hoa hòe hoa phượng là vẻ đẹp của buổi trưa buổi xế, vừa sáng lạn vừa nghiêm. Một bên là vẻ đẹp khuyên mời. Một bên là vẻ đẹp khiêu khích. Mỗi bên một vẻ, nhưng mười phân vẹn mười.
Rồi nắng dịu lần và vàng son của hoa cũng thưa lần và lợt lần, trong màu xanh của trời biển núi sông.
Gió Bấc thổi nhẹ. Lá me lá chành ruột lác đác bay. Chiều chiều chim én lượn từng bầy đớp chuồn chuồn trong sương mỏng. Và một khí buồn phất nhẹ vào nội tâm, êm êm dìu dịu.
Thu đã bắt đầu. Và trái thanh long đỏ tía, những quả cam nửa vàng nửa xanh, xuất hiện để đại diện cho màu thu Khánh Hòa, màu đặc biệt của thu Khánh Hòa.
Cam Khánh Hòa không bì nổi với cam Xa Đoài, nhưng hơn hẳn cam ở các nơi khác cả chất lẫn lượng. Còn thanh long thì ít nơi có, mà có cũng có ít hơn Khánh Hòa. Ở Khánh hòa vì khí hậu mát nên trồng đâu sống đó và ra trái sum sê. Cam cũng như thanh long bắt đầu có trái từ mùa hè và chín từ đầu thu đến mạnh đông mới hết.
Cho nên người Khánh Hòa, xuân hạ thưởng hoa, thu đông hưởng quả. Mỗi mùa có một phong vị riêng.
Và mùa đông của Khánh Hòa không phải chỉ có mưa và lá vàng. Mận – ở Bắc Việt gọi là roi, ở Huế gọi là đào – cuối tháng 9 bắt đầu trỗ bông, tháng 10 tháng 11 nở và kết quả để tháng chạp chín cho kịp tết. Hoa trắng như tuyết. Quả đỏ như son và ngọt như đường phèn. Vì vậy mùa đông của Khánh Hòa không đến nỗi u ám, buồn tẻ. Và có thể gọi màu hoa mận là màu tượng trưng cho màu đông của Khánh Hòa.
Nói tóm lại, bốn mùa của Khánh Hòa có bốn màu sắc đặc biệt, không thể lẫn lộn. Và quang cảnh mùa nào cũng đẹp và cũng thú như trong văn chương. Sắc thái và thú vị của thời tiết lại còn thể hiện trên mùa màng, một cách rõ rệt. Đại khái : mùa đông mùa hạ là mùa cày cấy, mùa xuân mùa thu là mùa gặt hái. Mỗi mùa lại có một tính chất riêng biệt. Cày cấy về mùa đông không giống mùa hạ, gặt hái mùa xuân không giống mùa thu. Nắng mưa mỗi mùa mỗi khác, thảo mộc mỗi mùa mỗi khác, mùa màng mỗi mùa mỗi khác. Như thế bốn mùa của Khánh Hòa, cũng như phần nhiều tỉnh miền Nam Trung Việt, đã được trời chia, đất chia người chia, một cách phân minh rành mạch. Chớ đâu phải chỉ có hai mùa là nắng và mưa.
B) KHÍ HẬU NHA TRANG
Khí hậu Khánh Hòa, thời tiết Khánh Hòa, đại khái là thế. Chớ không phải quận nào cũng thế, miền nào cũng thế. Vẫn có sự thay đổi, sự khác biệt theo vị trí. Có nhiều nơi khí hậu không được tốt, không được điều hòa, như Khánh Dương, Cam Lâm mà công chức hễ nghe đổi tới là sợ. Nói tóm lại những nơi ở gần núi rừng, hầu hết đều bị sơn chướng đầu độc không khí, không nhiều thì ít chớ không hoàn toàn không. Còn ở vùng biển thì tuyệt.
Tuyệt nhất là Nha Trang. Xuân và thu ở Nha Trang thật đúng như lời sách tả : ôn và lương rõ ràng. Còn đông và hạ nhờ có khí biển điều hòa, nên vẫn có thu có xuân ẩn hiện. Mùa nào cũng vậy, nhưng dễ nhận thấy nhất là mùa hạ, hễ đi đường mệt mỏi, từ Nam ra mà qua khỏi thành Diên Khánh, từ Bắc vào mà qua khỏi đèo Rù Rỳ, thì trong người liền thấy khỏe khoắn, và sau một đêm nghỉ ngơi, thân tâm yên vui như vừa uống một liều thuốc bổ. 55
Cho nên những người ở các nơi ưng đến Nha Trang và những người đã từng sống ở Nha Trang không muốn đi nơi khác. Thi nại Thị thời kháng chiến chống Pháp phải rời Nha Trang, có những vần thơ tha thiết :
I.
Nha Trang trăng ngọc gió trầm,
Anh về Bình Định lệ dầm nhớ thương !
Trách ai rấp nẻo ngăn đường,
Non Sông gởi gắm can trường lại em.
Hòn Chử chưa chìm,
Hòn Chồng chưa ngã,
Ngoài còn Vạn Giã,
Trong còn Cam Lâm,
Vẫn còn trăng ngọc gió trầm,
Nghìn thu nghĩa nặng tình thâm mãi còn.
II.
Nha Trang ! Nha Trang !
Chút nghĩa cũ càng :
Vì hường mận trắng,
Mai vàng cúc vàng…
Cùng ai âu yếm ?
Vì ai điểm trang ?
Tình ơi ! Xa cách !
Duyên ơi ! Bẽ bàng !
Lưng trời bóng nhạn
Mơ chừng xuân sang.
Và đến khi tái ngộ sau 9 năm thương nhớ, lòng vui mừng thích thú không kém lòng Kim Trọng khi gặp lại Thúy Kiều :
Đời chia mưa nắng chín năm qua,
Vườn cũ thêm thương khóm mận già.
Ba nhánh tình thâm tâm sự gởi,
Không vì ly cách phụ phàng hoa.
Chú thích:
[1] Hòn Mẫu Tử lại có tên nữa là núi Mồng Công vì hai tảng đá trên núi xa trông giống mồng con Công.
[2] Có người bảo rằng tiếng « Bồng Con » do tiếng « Mồng Công » đọc trại.
[3] Ở Bình Định có Đá Vọng Phu (xem nước non Bình Định) sự tích cũng rất ly kỳ song khác hẳn sự tích hòn Mẫu Tử. Đá Vọng Phu ở gần biển nên có chuyện « chồng ra khơi ». Hòn Mẫu Tử ở nơi có nhiều trầm nên có chuyện « ngậm ngải ». Có người đem sự tích Đá Vọng Phu gán cho hòn Mẫu Tử ở cách xa biển. Như thế là không để ý đến tình tiết trong câu chuyện.
[4] Chử nghĩa là Núi.
[5] Người Thượng vùng Diên Khánh và vùng Cam Lâm không đồng ngôn ngữ.
[6] Trong vùng nầy xưa kia có nhiều thiền sư đến lập chùa tu hành. Cho nên nhiều ngọn núi lấy tên theo nhà Phật. Như núi Bồ Đà gọi là núi Phổ Đà, và ngoài núi Chùa còn có núi Ông Sư ở Xuân Tự bên cạnh hòn Dốc Thị.
[7] Xem Nước Non Bình Định, có nói rõ chuyển Khổng Lồ.
[8] Sẽ nói ở chương « Thắng cảnh ».
[9] Xem « Phong Trào Cần Vương » ở phần V.
[10] Không biết vịnh do tên núi mà ra hay núi theo tên vịnh mà cải.
[11] Chương « Thắng Cảnh Cổ Tích » ở sau.
[12] Hòn Thị ở Diên Khánh, sẽ nói ở đoạn sau.
[13] Đã nói ở mục Lịch Sử, sẽ nói rõ ở mục Sông Ngòi.
[14] Đã nói ở mục Lịch Sử, sẽ nói rõ ở mục Sông Ngòi.
[15] Chuyện bắt mãnh hổ, sách Đại Nam Nhất Thống Chí có chép, nhưng nơi bắt được hổ lại nói là « Núi Diễn ». Miếu thờ bà Thiên Y tại Cầu Hùm lâu ngày bị gió mưa tàn phá, không còn tìm thấy dấu tích. Ở Khánh Hòa trước đây đền thờ bà Thiên Y có nhiều nơi lắm. Nay chỉ còn hai nơi là Tháp Poh Naga và Núi Chúa.
[16] Sự tích sẽ nói kỹ ở mục Cổ Tích (Tháp Bà).
[17] Trước chùa Kim Liên tại ấp Đông Dinh, quận Diên Khánh có một cổ mộ bia khắc là « Tổ khảo chi mộ » hai bên có câu đối : « Thiên sanh tàng bạch cốt (nghìn đời chôn cốt trắng) ; Vạn cổ giám trung trinh (muôn thuở soi lòng trong) ». Cổ mộ nầy lấy hòn Dữ làm hậu đầu, hòn Đồng Bò làm tiền áng. Mộ nằm gối ngay giữa hai ngọn của đỉnh Hòn Dữ.
18-Có nhiều cụ già bảo rằng chính mình có thấy lúc nhỏ.
19- Mấy vị phụ lão ở Phú Lộc bảo rằng gần đây có người lên núi vẫn còn thấy trấu.
20- Kẻ đi tìm trầm gọi là đi điệu
21- Trong Đại Nam Nhất Thống Chí có chép : « Có người cho biết rằng vì mùa thu mùa đông thường có mưa. Nước trên núi chảy xuống làm cho bùn lầy nổi lên thành nửa nước phía gần núi phải đục đi chớ không có gì lạ ».
22- Ở Vạn Ninh cũng có Đồng Cọ, song phần lớn nằm về Phú yên. Phú Mỹ có lẽ là tên cũ của tên Mỹ Lộc. Núi mượn tên thôn, rồi thôn đổi tên, núi không đổi.
23- Ở Ninh Hòa cũng có Hòn Bà. Đã nói rõ ở đoạn trước.
24- Xem mục « Bác sỹ Yersin » ở phần V.
25- Phỏng theo lời của Bác sĩ Noel Bernard trong tập Truyện ký về Bác sỹ Yersin.
26- Tục có câu : « Trói voi bỏ rọ ».
27- Có tên như thế vì nước sông thường có chất nhựa cây ráy ở hai bên bờ tiết ra sắc đỏ như máu. Rất độc.
28- Trong các bản đồ đều ghi là sông Ky.
29- Chữ Giang trong tên Sông Giang, nghĩa là thần. Tiếng của người Thượng. Sãi Me trong các bản địa đồ Pháp Mỹ ghi là Sẩy Me và Sông Cầu ghi là Sông Cao.
30- Thơ của Chế Lan Viên làm thời Kháng Chiến (1945-1954).
31- Xem phần « Thắng Cảnh » ở sau.
32- Cũng như Qui Nhơn, Pháp lấy tên Phủ ngày xưa mà đặt.
33- Cũng gọi là thác Ngựa Oằng, vì nước chảy qua ba tảng đá trông giống như lưng ngựa bị oằng xuống.
34- Dây rừng giăng qua thác Võng, có người thì bảo là dây tràm, có người bảo là rễ cây ráy. Có lẽ là rễ cây ráy, vì giống cây nầy rất độc, và nhựa màu nâu nâu, hễ dính vào người thì ngứa ngáy, gãi lở rồi làm độc.
35- Cổ thi có câu « Anh hùng nan quá mỹ nhân quan ».
36- Xem phần III, mục nói về cổ miếu.
37- Bài thơ nầy tả chung cả cảnh tượng Thác Nhét và Lỗ Đoi. Việc thọc sào vào lỗ là một cách chống cho ghe bè khỏi chui vào đó mà bị kẹt. Sau thành ra tục lệ. Nhưng sao ở miếu Lỗ Lườn ngoài Vạn Ninh cũng có lệ « thọc » như thế mỗi lần cúng tế ?
38- Tống Địch người đời Tống có tám bức họa những cảnh vùng Hồ Nam gọi là Tiêu Tương bát cảnh.
39- Giang Yêm cũng người đời Tống, nằm mộng thấy bút trỗ bông, văn chương trở nên lỗi lạc, thi đỗ trạng nguyên.
40- Mạnh Quang đời Hán thờ chồng hết lòng. Đưa vật gì cho chồng cũng nâng cao ngang mày (cử án tề mi).
41- Xem phần IV, mục nói về Chánh Trị.
42- Xem chương Thắng Cảnh.
43- Xem chương Thắng Cảnh.
44- Hạc là Cạn, Hạc giang : Sông cạn.
45- Xem phần « Lịch sử » ở trước và mục « Phong trào Cần Vương » trong phần V ở sau.
46- Sẽ nói ở sau.
47- Sẽ nói kỹ ở chương « Thắng cảnh cổ tích ».
48- Đàm Mông (đứa trẻ của đầm) dịch tiếng hòn Trẻ ra. Các bản đồ mới cũ đều ghi hòn Tre. Vì theo bản đồ Pháp. Mà chữ Pháp không có dấu. Trong đảo có nhiều núi. Hai ngọn cao lớn nhất là hòn Trẻ (482 thước) và lớn Lớn (414 thước) cho nên Đảo khi gọi là hòn Trẻ khi gọi là hòn Lớn.
49- Giá trị của Yến sào sẽ nói rõ ở chương « Kinh tế ».
50- Trong sách Địa Lý lớp Đệ Tứ của ông bà Tăng xuân An chép là ba tỉnh Phan Rang, Phan Rí, Phan Thiết. Có lẽ lộn vì Phan Rí không phải một tỉnh. Thêm nữa tác giả lấy Mũi Nậy, thuộc Phú Yên, làm khởi điểm cho vùng khí hậu nầy.
51- Dông đã có từ tháng chạp và đến tháng mười năm sau mới dứt. Cho nên tục có câu : « Tháng mười sấm rạp tháng chạp sấm ra ». Nhưng chỉ mùa hè sấm sét mới dữ dội.
52- Sẽ nói kỹ ở chương « Thắng cảnh cổ tích » đoạn nói về cảnh giao thừa đi thăm Tháp Bà.
53- Sẽ nói kỹ ở chương « Thắng cảnh cổ tích » mục nói về Nha Trang.
54- Từ ngày có chiến tranh, thuốc khai quang làm chết hết cây cối. Vẻ đẹp của phong cảnh kém sút quá nhiều.
55- Xem thêm ở chương « Thắng cảnh cổ tích », mục nói về Nha Trang.