Độ này Thanh đương để ý đến chú Bá-chín Sềnh. Chú là người nước Trung-hoa, bố Trung-hoa, mẹ Trung-hoa, nhưng chú thì sinh trưởng ở Hà-nội. Chú chăm xem báo quốc ngữ nước Việt-nam và thích cầm ở tay tờ báo Việt bằng tiếng Pháp.
Mới nhìn, không ai dám bảo chú là Khách-trú, vì chú ăn vận Tây, không có vẻ Khách tí nào. Chú nói tiếng An-nam không phải nghĩ. Chú có thể tranh luận một vấn đề gì hoặc cãi nhau bằng tiếng An-nam.
Nhà chú rất giầu, giầu có hàng vài mươi vạn. Ngày trước, thỉnh thoảng ăn cắp của cha mẹ, chú được một món tiền ăn tiêu vung phí trong hàng mấy tuần. Nhưng mà chú rất khôn ngoan. Chú chỉ chơi, chứ nhất định không yêu ai, vì chú biết rằng hễ yêu là mê muội, mà hễ mê muội là gái nó rút hết ruột lúc nào không biết.
Chú biết Thanh là do một người anh em giới thiệu trong một tối nhẩy đầm nhà giáo sư Phụng trên Quan Thánh. Thoạt tiên, chú Sềnh thấy Thanh thì cũng coi như một người con gái thường. Nhưng Thanh để ý ngay đến chú, và sán lại làm quen thân với chú, và mời chú đến nhà chơi.
Chú vì muốn đáp lại cái nhã ý của Thanh nên mãi đến mấy ngày hôm sau mới đến.
Thế rồi bẵng đi đến một tháng, chú không gặp Thanh mà Thanh cũng cố kiếm dịp gặp chú mà không được.
Song một hôm, Thanh đương ngồi trong nhà dặn thợ may xuống gấu mấy cái áo cho hợp thời, thì tự nhiên người nhà đưa tấm danh thiếp của chú Sềnh.
Thanh chợt nghĩ đến cái thời hiện nay rất trong sạch của mình – nghĩa là cái thời thất nghiệp về nhân tình – thì tiếp chú rất vồn vã. Thanh cũng thấy chú rất vồn vã. Hai người lựa tính nhau một lúc, câu chuyện thành hợp nhau. Rồi cuộc nói chuyện kéo dài ra đến bốn giờ đồng hồ.
Nhưng hôm sau, có người bạn gái đến chơi, bảo Thanh rằng:
– Thằng Khách ấy chỉ hom xu gái, xưa kia thì nó dại, song bây giờ nó khôn rồi.
Câu ấy làm Thanh nghĩ ngợi. Người bạn lại bảo:
– Mày tưởng nó là cái mỏ vàng thì nó cũng cho mày là mỏ bạc. Liệu mà lờ nó đi.
Thanh ngẩn ngơ, tiếc chai rượu bia và nửa cân nước đá hôm trước. Nhưng một tát, Thanh quả quyết nói :
– Để tao xoay nó cho mà xem. Mình là đàn bà yêu ai là sở thích của mình. Vả lại ái tình đối với tao bây giờ còn có nghĩa lý gì.
Rồi từ bận sau, Thanh xem xét những câu chuyện của Sềnh, Thanh nhận thấy người bạn nói đúng.
Nhưng đã biết bụng Sềnh, Thanh nhất định không đả động gì đến chuyện tà lợi với Sềnh nữa.
Một hôm, Sềnh đến chơi, thấy Thanh có vẻ buồn bã, lo lắng, bèn hỏi. Thanh đáp:
– Tôi có người bạn bây giờ đang trù tính một việc mà sức tôi không thể giúp được. Tôi áy náy quá.
Sềnh cười, nói:
– Bà vờ. Bà thì làm gì chẳng giúp được người ta. Giả thử có ba bốn người bạn túng bấn, thì một mình bà, bà cứu cũng nổi
Nghiêm trang, Thanh đáp :
– Thật vậy, tôi tiêu của người cũng nhiều song người tiêu của tôi cũng không phải là ít. Có người yêu tôi, bỏ ra cho tôi hàng nghìn hàng vạn cũng nên, mà có người tôi chẳng được tiêu xu nào, mà có khi tôi lại bù đắp cho nữa. Ông không nên coi tôi như những gái giang hồ khác. Giang hồ cũng có nhiều hạng. Chẳng thấy gái giang hồ mà làm cho chồng nên khanh nên tướng là gì. Còn như tôi đây, ai đã là tri kỷ, thì tôi không bao giờ kỳ quản một ly một tí gì hết.
– Thế người bạn của bà là thế nào ?
– Là một người bao giờ cũng quẫn bách, nhưng tôi yêu anh ấy vì anh ấy hiền lành thật thà. Tôi cảm nhất là có một lần trong túi tôi không còn một trinh, tôi đi cầu cứu các bạn hữu lúc ngày thường mà không ai dám bỏ cho tôi vay đến đồng bạc. Họ khốn nạn lắm. Họ chỉ thấy lúc nào mình giầu sang là bám, rồi lúc mình kiết xác thì tìm đường lảng xa. Lúc ấy, tôi đương bụng đói như cào, thì tình cờ đi phố, tôi gặp anh ấy. Tôi đem tâm sự ra kể lể cho bạn tôi nghe. Bạn tôi ngậm ngùi, móc túi lấy đồng năm xu đưa cho tôi và nói:
– Anh biết rằng ngày thường, có lúc em tiêu đến hàng trăm, hàng nghìn. Nhưng hiện nay, anh còn có thế này để cứu em, em cầm vậy.
Tôi cảm động vì lòng trung hậu của bạn, tôi cầm lấy tiền, về nhà gọi hàng phở mua ăn. Rồi ngờ đâu, lúc hỏi ra, tôi mới biết chính hôm ấy, anh ấy cũng đang mò đến hàng Đồng, ăn phở trừ bữa. Thì ra anh ấy nhịn cơm cho tôi ăn. Cho nên không bao giờ tôi quên được tấm lòng quý hóa của bạn. Mà chỉ vì có năm đồng xu hôm quẫn bách, mà tôi kính, tôi yêu anh ấy. Tôi đã để anh ấy tiêu mấy nghìn mấy vạn cái năm xu, nhưng chưa thấy món tiền của tôi nó có giá trị bằng một đồng năm xu đầu tiên của anh ấy. Bây giờ anh ấy muốn sang Pháp học, đã thu xếp gần xong, nhưng chỉ còn thiếu có mỗi một cái cỏn con; nếu tôi không giúp nổi nữa, thì tôi hèn lắm.
Sềnh ngồi ngẩn người ra nghe, rồi hỏi:
– Cái gì ?
Thanh lắc đầu đáp :
– Thôi, ông không nên biết. Tôi nói vậy để ông hiểu bụng cho tôi, là tôi rất nghĩa hiệp với anh em đó mà thôi.
Sềnh gật-gù, nhìn Thanh, ngây ngất. Chuyện trò hồi lâu, Sềnh cáo từ ra về. Vừa ra đến cửa, Sềnh gặp hai người thiếu niên đi thẳng vào nhà Thanh. Sềnh nhìn theo, cố nhận lấy mặt.
Thanh đang vơ vẩn suy nghĩ về Sềnh thì lại phải tiếp khách. Thanh rất ghét các bạn cứ kiếm cớ đến tán chuyện hão huyền. Mà lần này, Thanh mới lại chán nản làm sao . Vì trong hai người thì một người hơi quen Thanh, còn một người Thanh mới gặp là lần thứ nhất. Người này, trông bộ dạng còn ngây thơ, mà lạ nhất là tự lúc vào đến lúc ra. không hề hé miệng nói một tiếng, chỉ thỉnh thoảng nhếch một tí mép ra cười mà thôi.
Ấy thế mà lúc ra, người ngây thơ ấy lại để quên một cái phong bì chưa dán ở dưới đất.
Thanh tò mò, cầm phong bì, rồi rút thư ra đọc. Thì ra không phải thư viết cho Thanh.
Hà-nội, Août 1932
Bẩm anh,
Từ khi anh lên huyện mới, em chưa được lên hầu, xin anh chị tha tội cho, vì độ này em bận quá.
Bẩm anh chị có được mạnh khoẻ và các cháu có ngoan chơi không ạ ?
Em muốn bẩm anh chị một việc rất cần, là việc nhân duyên của em.
Hôm nọ, mẹ lên trên này, ngỏ ý rằng thầy mẹ định hỏi cho em đám con ông Tuần Đồng-Trụ. Mẹ khuyên em rằng hôm nào rỗi, đi hầu mẹ về Đồng-Trụ mà xem mặt cô ấy. Nhưng bẩm anh chị, em đã muốn thành gia thất đâu. Cứ như nhà ta, thì thầy mẹ dâu gia với ông Tuần ấy tất là xứng đáng, nhưng em chỉ muốn bẩm thầy mẹ rằng em còn phải để thì giờ sửa soạn thi cái cử nhân luật nay mai, chứ người ta đã nhúng vào cảnh vợ con, thì còn làm gì được nữa. Ý em muốn cứ để em làm tham-tá, rồi độ vài năm nữa, thầy về hưu, sẽ vận động cho em ra tri huyện. Nhưng thật em không muốn làm như anh Phủ nhà.
Còn như việc hôn nhân, thì để khi nào em muốn lập gia đình , em sẽ xin chọn lấy.
Vậy em nhờ anh chị xuống tỉnh bẩm thầy mẹ hộ em, và anh chị bẩm khéo để thầy mẹ nghe ra, đừng để thầy mẹ tưởng lầm rằng em đã cưỡng lời thầy mẹ dậy bảo.
Em : Nguyễn-Thượng-Cát
Thanh xem xong, tủm tỉm cười, nghĩ:
« Sao lại có người con trai bền trí làm vậy. Mình là con quan, hai anh cũng làm quan, mà cha mẹ hỏi con gái ông Tuần cho, lại còn từ chối để thi cử nhân Luật đã».
Rồi Thanh bật cười:
« Thôi, gia thế nhà anh chàng này cũng đăng đối với gia thế nhà mình đây. Anh chàng này tất là anh vô nghề nghiệp, có vợ rồi, nên mới cố bịa ra cái dòng dõi đầy những quan để lừa ta đây !»
Nghĩ vậy, Thanh bỏ thơ vào phong bì lại đặt xuống đất nguyên như cũ, và lấy gót guốc dẫm lên cho có vệt.
Quả nhiên hôm sau, ông Tham Nguyễn Thượng Cát đến nhà Thanh thật sớm để tìm thư.
Thanh làm bộ ngơ ngác, nhưng may quá, bức thơ vẫn nằm nguyên đó. Thanh lấy lời lẽ khéo léo để xin lỗi vì đã vô tình xéo guốc lên trên mặt phong bi
Rồi quả nhiên, ông Tham-tá kể lể hết cả tâm sự như trong lời thư. Thanh vờ chống tay vào má để nghe, rất cảm động.
Đến khi ông Tham đứng dậy ra về, Thanh ngậm ngùi tiễn ra cửa, nhìn theo và dặn dò đến chơi luôn.
Nhưng khi quay trở vào, Thanh mừng thầm vì đã nghĩ được kế, là dùng anh Tham giả hiệu để chọi với anh Bá-chín Sềnh. Thanh bèn gọi người nhà khênh hết cả bộ sa-lông vào nhà trong, và ở buồng khách, Thanh chỉ giải cái chiếu cũ rách. Rồi một hôm, Thanh lục những cái áo may từ năm ngoái ra để mặc.
Với cái mặt không phấn, cái môi không son, cái áo tầu tầu cũn cỡn, Thanh có vẻ tiều tụy, khi đứng trong buồng khách trơ chiếc chiếu tàng.