Một diễn đàn mới
Trong cuộc gặp gỡ tháng 7 với Xuân Thuỷ, J.Sainteny nói rằng Tổng thống Mỹ nhờ ông hai việc. Thứ nhất là chuyển thư của Nixon gửi Hồ Chủ tịch, ông đã làm xong; việc này chỉ có ba người biết và bây giờ có thêm Xuân Thuỷ nữa. Phó Tổng thống Agnew và Bộ trưởng Ngoại giao Mỹ cũng không biết. C. Lodge, trưởng đoàn Mỹ ở Hội nghị Paris cũng không biết. Thứ hai là bố trí cho H.Kissinger gặp Xuân Thuỷ. Ông J. Sainteny đề nghị cuộc gặp giữa hai người sẽ vào ngày 4 tháng 8, hôm đó Kissinger sẽ từ Lon don đến. J.Sainteny còn sẵn sàng dành nhà riêng của ông ta cho cuộc tiếp xúc đó. Bộ trưởng Xuân Thuỷ đồng ý.
Cũng trong tháng 7 này, toàn thế giới nín thở nhìn Neil Amstrong, con người đầu tiên của Trái Đất, từ con tàu Apollo XI đặt bước chân đầu tiên xuống bề mặt Mặt Trăng. Ngày 23 tháng 7, Nixon đi tới Nam Thái Bình Dương để đón Amstrong đổ bộ xuống biển. Đây là cơ hội tốt để ông đi thăm một loạt nước: Guam, Philippin, Inđônêxia, Thái Lan, miền Nam Việt Nam, Ấn Độ, Pakistan, Rumani và Anh. Trong dịp này, Kissinger sẽ bí mật qua Paris để gặp Bộ trưởng Xuân Thuỷ.
Cuộc gặp diễn ra tại nhà riêng của ông Sainteny, số 204 phố Rivoli. Chiều hôm đó, Kissinger cùng đi với Anthony La ke, người phụ tá thân cận, và tướng Vernon Walters, tuỳ viên quân sự của Mỹ, Xuân Thuỷ đi cùng Mai Văn Bộ và Nguyễn Đình Phương. Đây là lần đầu tiên Kissinger gặp Xuân Thuỷ. Ông ta chưa gặp Xuân Thuỷ nhưng cũng đã nghe tiếng.
Ngay trong lần gặp đầu, cũng như sau này, Kissinger thấy sự đàng hoàng và sự tự tin của ông Xuân Thuỷ cũng như ông Lê Đức Thọ và các đồng chí khác của các ông đã gây ấn tượng sâu sắc đến ông ta. Họ là những người đánh du kích, sự tiếp xúc với thế giới bên ngoài thất thường, chỉ xảy ra trong khuôn khổ những lần đấu tranh của họ. Mặc dầu vậy “khi họ đối diện với người đại diện của cường quốc hùng mạnh nhất thế giới, họ tỏ ra tinh tế, kỷ luật và kiên nhẫn biết bao" (H.Kissinger Sđd, tr. 292.). Ít nhất khi tiếp xúc với các chiến sĩ Việt Nam, ông Kissinger đã thấy phẩm chất khác thường của họ làm cho người đại diện của cường quốc hùng mạnh nhất thế giới phải kiêng nể?
Vào câu chuyện, Kissinger hoan nghênh cuộc gặp gỡ trực tiếp giữa hai bên như thế này. Nhìn Mai Văn Bộ hôm ấy làm phiên dịch cho Xuân Thuỷ, ông nói đã biết Mai Văn Bộ từ năm 1967 và rất tiếc khi đó tìm mọi cách mà không gặp được vì ông ta có mang theo thông điệp của Johnson. Ông nhắc lại quá trình theo dõi của ông ta về vấn đề Việt Nam và biết tinh thần dũng cảm và phẩm giá của nhân dân Việt Nam. Ông ta nói rằng trong bất cứ cuộc thảo luận nào giữa hai bên đều được phía Mỹ tiến hành với sự kính trọng tinh thần dũng cảm và phẩm giá của nhân dân Việt Nam. Ông ta hỏi là đã có thư trả lời cho bức thư của Nixon chưa?
Xuân Thuỷ:
- Chúng tôi đã được ông Sainteny chuyển bức thư không đề ngày tháng của Tổng thống Nixon gửi Chủ tịch Hồ Chí Minh. Bức thư đó đã được chuyển về Hà Nội.
Kissinger:
- Đó là lề lối làm việc quan liêu của Hoa Kỳ, không đề ngày tháng vào bức thư của Tổng thống. Tôi không biết lý do vì sao như vậy Nhưng ngày của bức thư đó là ba ngày trước khi bức thư đó được chuyển đến các ngài.
Tiếp đó Kissinger bắt đầu nói về một số vấn đề mà Tổng thống Nixon yêu cầu ông ta thông báo lại cho ta. Ông ta nói rằng ở Washington người ta đọc rất kỹ tất cả những lời phát biểu của Xuân Thuỷ, nhưng "chúng tôi khó mà đành giá là các ngài làm như vậy chỉ để đạt mục đích tâm lý hay các ngài thành thật nghĩ như vậy".
Sau khi nhắc lại Mỹ có thiện chí và thành thật muốn hoà bình, ông nói: Đến tháng 11 này thì cuộc đàm phán đã được một năm (ý ông ta muốn nói thoải mái chấm dứt ném bom miền Bắc - Tác giả). Trong thời gian đó, Hoa Kỳ đã làm những việc đơn phương rất có ý nghĩa: ngừng tăng quân, ngừng ném bom bộ phận rồi chấm dứt ném bom hoàn toàn, rút 25.000 quân chiến đấu Mỹ, đã tuyên bố chấp nhận kết quả bầu cử tự do ở miền Nam. Rồi ông ta phàn nàn: Hầu như chưa có đáp ứng có ý nghĩa nào. Ở cấp cao nhất có thể được và hết sức thành thật, Hoa Kỳ định có một cố gắng nửa để giải quyết cuộc tranh chấp này trên một cơ sở đúng đắn... vào thời gian chấm dứt ném bom cách đây một năm, ngày 1 tháng 11.
Rồi ông ta xin phép đọc trả lời những điểm mà phía Việt Nam đã nêu lên nhiều lần, câu trả lời đã được đích thân Tổng thống thông qua:
- Hoa Kỳ sẵn sàng rút tất cả lực lượng của Mỹ không trừ một loại nào ra khỏi Việt Nam, xem đó như là một bộ phận của chương trình rút các lực lượng ngoại nhập.
“Tôi nói điều này hoàn toàn không có một sự bảo lưu nào".
- Hoa Kỳ không có ý định duy trì một căn cứ nào trên lãnh thổ Việt Nam.
"Điều này cũng hoàn toàn không có sự bảo lưu nào".
- Hoa Kỳ sẵn sàng chấp nhận bất kỳ kết quả nào của một quá trình chính trị tự do.
Ông ta đưa ra một số ý kiến về quá trình chính trị đó:
- Quá trình chính trị hợp lý phải ghi nhận tương quan lực lượng hiện có... Không bên nào có thể đòi bên kia chấp nhận một cương lĩnh chính trị trên cơ sở những đề nghị tỏ ra bên kia thất bại mà không có sự phản đối... Chúng tôi không đòi hỏi các ngài phải giải tán các lực lượng cộng sản, các ngài cũng không được đòi hỏi chúng tôi phải giải tán lực lượng không phải cộng sản.
Ông cũng nhắc lại sẵn sàng thảo luận mười điểm của Mặt trận Dân tộc Giải phóng và các điểm khác của Mỹ. Ông ta cho Bộ trưởng Xuân Thuỷ biết rằng để chứng tỏ thiện chí của Hoa Kỳ, từ nay đến ngày 1 tháng 11, Mỹ sẽ rút thêm một số quân nữa khỏi miền Nam, phần nào nhiều hơn số lượng lần trước... sẽ giảm bớt mười phần trăm số phi vụ của máy bay B52 và hoạt động của máy bay chiến thuật.
Ông ta tiếp:
- Để làm cho cuộc đàm phán được nhanh chóng, Tổng thống Hoa Kỳ sẵn sàng mở thêm một con đường tiếp xúc nữa với Việt Nam... cử một phái viên cao cấp có thẩm quyền để đàm phán đi đến kết quả... Nếu cuộc đàm phán này có được thì Hoa Kỳ sẽ điều chỉnh các hoạt động quân sự để tạo ra một hoàn cảnh thuận lợi nhất để đi đến một giải pháp.
Người ta hiểu người phái viên cao cấp có thẩm quyền đó không phải ai khác mà chính là Kissinger. Ông ta nói tiếp:
- “Tổng thống cũng yêu cầu tôi nói với các ngài một cách hết sức trân trọng là nếu đến 1 tháng 11 không có sự tiến bộ quan trọng nào để đi đến một giải pháp thì chúng tôi buộc phải tiến hành một cách hết sức miễn cưỡng những biện pháp có hiệu quả lớn lao".
Ông Kissinger cải chính rằng cuộc chiến tranh này không phải là cuộc chiến tranh của Nixon vì nếu cuộc chiến tranh là của ông Nixon thì ông ta không thể tự cho phép mình không thắng trong cuộc chiến tranh đó.
Ông ta không quên phàn nàn về đặc điểm các cuộc tiếp xúc giữa hai bên ở Hội nghị Paris và cho rằng Hoa Kỳ sẽ không chấp nhận tình trạng đó quá thời hạn mà ông ta đã nói ở trên.
Xuân Thuỷ hỏi rõ thêm một số vấn đề như ý nghĩa và mối liên quan giữa việc rút thêm quân và giải quyết tất cả các vấn đề từ nay đến 1 tháng 11, vấn đề diễn đàn mới ngoài Kléber. Ông Cố vấn Nhà trắng giải thích thêm và nói rõ về điểm sau cùng này như sau:
Ông sẵn sàng đến Paris hoặc một nơi nào khác thuận tiện vào những ngày cuối tuần để thảo luận với Xuân Thuỷ hoặc một người nào khác, chẳng hạn Bộ trưởng Ngoại giao hoặc Thủ tướng của Việt Nam, miễn là có sự bảo đảm rằng các cuộc gặp gỡ đó dẫn đến một giải pháp nhanh chóng và giải quyết những vấn đề quan trọng nhất. Ông ta nhấn mạnh "Việc tôi tham gia là bí mật".
Xuân Thuỷ nói tóm tắt quá trình can thiệp và xâm lược của Mỹ, truyền thống đấu tranh chống ngoại xâm của dân tộc qua các thời kỳ lịch sử, mục tiêu đấu tranh của ta hiện nay, giải pháp mười điểm của Mặt trận và thái độ của Việt Nam đối với Lào và Campuchia. Đồng chí nhấn mạnh: Mỹ phải rút quân, từ bỏ Thiệu- Kỳ-Hương, lập Chính phủ liên hiệp.
Kissinger ngắt lời Xuân Thuỷ:
- Chúng tôi sẵn sàng thảo luận giải pháp mười điểm nhưng chúng tôi không sẵn sàng thảo luận bất cứ giải pháp nào với tính chất như một học sinh đi thi phải hỏi vấn đáp về Thập Điều, chúng tôi cho rằng mười điểm là mười điểm chứ không phải là mười điều lệnh. Về vấn đề rút quân Hoa Kỳ không điều kiện... ngài cũng như chúng tôi đều biết rằng cần phải có sự có đi có lại để thiết lập một mối tương quan lực lượng trong trường hợp có sự rút quân đó.
Bộ trưởng Xuân Thuỷ nhắc lại việc rút quân Mỹ và quân các nước ngoài thuộc phe Mỹ là không điều kiện. Còn lực lượng vũ trang Việt Nam ở miền Nam do các bên miền Nam Việt Nam giải quyết với nhau.
Nhắc đến tám điểm của Nixon, Xuân Thuỷ nói:
- Chúng tôi phải đặt câu hỏi tại sao Mỹ đưa quân đến nhanh được mà lại không rút nhanh được? Tại sao các ngài không đề ra năm hoặc sáu tháng rút hết quân Mỹ khỏi miền Nam?
Kissinger:
- Tôi xin trả lời ngay, hay đợi ngài nói hết?
Xuân Thuỷ:
- Tôi xin nói hết đã. Mỹ nói rút 25.000 quân - 25.000 so với 540.000 quân Mỹ không có nghĩa lý gì. Dù nay mai Mỹ có rút thêm phần nào lớn hơn 25.000 quân nữa thì cũng không có nghĩa lý gì. Chính sách của các ngài là chính sách rút quân nhỏ giọt, kéo dài sự chiếm đóng quân sự của các ngài ở miền Nam Việt Nam. Chúng tôi nghi ngờ thiện chí của các ngài. Vấn đề thứ hai là chế độ ở miền Nam, Chính quyền ở miền Nam, tuyển cử ở miền Nam, ông Nixon chỉ nói phớt qua nhưng vấn đề quan trọng là ai đứng ra tổ chức tuyển cử. Tổng thống Nixon nói Chính quyền Sài Gòn hiện nay là hợp hiến, hợp pháp và tán thành đề nghị tuyển cử của Nguyễn Văn Thiệu. Nếu chúng ta ngồi ở đây nói chuyện với nhau một cách thẳng thắn và thực tế thì chúng ta không nên nói như thế, bởi vì cái hợp hiến, hợp pháp của Chính quyền đó như thế nào thì nhân dân Việt Nam, nhân dân thế giới đều biết.
Xuân Thuỷ tiếp tục lên án Thiệu-Kỳ-Hương là phát xít, không muốn hoà bình. Nếu Mỹ cứ duy trì Chính quyền đó thì không giải quyết được vấn đề - và đòi thay đổi con người và chính sách của Chính quyền đó.
- Chính quyền Sài Gòn còn lại - chúng tôi cũng thừa nhận nó là một thực tế, nhưng phải có một Chính phủ liên hiệp lâm thời ba thành phần đứng ra tổ chức bầu cử mới là hợp tình hợp lý...
Kissinger hỏi về những điểm khác so với những điều đã nói tại chỗ Kléber. Xuân Thuỷ nói:
- Điều khác hôm nay là tôi đã nói rõ với ngài về rút quân thế nào, thứ hai là Chính phủ liên hiệp lâm thời là thế nào, thành phần nó ra sao, nó không phải hoàn toàn của Chính phủ Cách mạng Lâm thời mà là nhiều thành phần: một bên là Chính phủ Cách mạng Lâm thời, một bên là phần còn lại của Chính quyền Sài Gòn sau khi đã thay đổi Thiệu-Kỳ-Hương và thay đổi chính sách tán thành hoà bình, độc lập, trung lập, dân chủ, hai bên sẽ thương lượng với nhau cùng với những người khác tán thành hoà bình, độc lập, trung lập, dân chủ để thành lập Chính phủ liên hiệp lâm thời.
Kissinger nhắc lại về vấn đề rút quân là kết quả của một giải pháp:
- “Các ngài có thể điều chỉnh tốc độ rút quân của chúng tôi bằng tốc độ rút quân của các ngài. Nếu các ngài không muốn xem lực lượng Mỹ và lực lượng của Việt Nam Dân chủ Cộng hoà như nhau thì chúng ta có thể thảo luận một phương thức khác trong đó vẫn giữ được sự khác nhau".
Ông ta nhắc lại Hoa Kỳ sẽ không thay Thiệu hoặc Kỳ hoặc Hương, cũng như không đòi thay đổi người lãnh đạo nào đó của Chính phủ Cách mạng Lâm thời, rồi ông nói rằng không có ý định giành ở bàn Hội nghị lợi thế nào cả mà Hoa Kỳ không thực hiện được trong chiến tranh, không có ý định làm nhục ai cả.
So sánh hai vấn đề quân sự và chính trị, Kissinger cho rằng phía Việt Nam cho Mỹ nói chưa thật chính xác về vấn đề rút quân, còn phía Mỹ lại cho rằng Việt Nam quá chính xác về vấn đề chính trị. Rồi ông kêu gọi đi vào vấn đề chứ không nói về các điểm nữa nếu muốn hoàn thành công việc vào 1 tháng 11.
Kissinger thừa nhận vấn đề chính trị là phức tạp hơn nhiều nhưng bây giờ chưa phải là lúc thảo luận. Ông ta nói rằng không thể đánh lừa ta đi vào một giải pháp không phù hợp và Hoa Kỳ cũng không chấp nhận một giải pháp mất thể diện.
Cuộc tranh luận còn kéo dài thêm, nhưng cuối cùng chấm dứt với sự thoả thuận giữ bí mật cuộc nói chuyện và có gì mới sẽ thông báo cho nhau. Theo yêu cầu của Việt Nam, ông ta để lại địa chỉ của tướng V.Walters để ta liên hệ. Phía ta giới thiệu Mai Văn Bộ.
Kissinger xin rút lui trước để ra sân bay đi Bỉ, nhưng Xuân Thuỷ và Mai Văn Bộ đã đứng dậy bắt tay những người đối thoại của mình và bước ra trước. Đây là lần đầu tiên đại diện có thẩm quyền cao nhất của Tổng thống Nixon chính thức trình bày quan điểm của họ một cách rõ ràng đồng thời đây là một cuộc thăm dò có ý nghĩa chiến lược mà Mỹ tiến hành trong lúc ta gặp khó khăn.
Cuộc gặp đầu tiên Xuân Thuỷ - Kissinger đã giúp hai bên trình bày quan điểm của mình. Điều quan trọng hơn là nó đã mở ra một diễn đàn mới, song song với diễn đàn Kléber, vạch con đường để đi tới một giải pháp cho vấn đề Việt Nam.
Đánh vào “đất thánh” Campuchia
Từ mùa hè đến cuối năm 1969, trên chiến trường miền Nam nhân dân ta tiếp tục gặp khó khăn. Hoạt động quân sự giảm, chủ yếu là pháo kích vào một số căn cứ địch, đợt mạnh nhất là vào tháng 11 nhưng ít kết quả. Trong khi đó "ở khu V, vùng giải phóng ở đồng bằng và giáp ranh bị thu hẹp”. Ở Nam Bộ, đến cuối năm 1969 địch đã lấn và chiếm gần hết vùng giải phóng của ta ở nông thôn đồng bằng Nam Bộ. Địch tăng tỷ lệ quân cơ động tại chỗ và lực lượng tổng dự bị chiến lược lên hơn hai lần... Hình thái cuộc chiến tranh đang xấu đi theo chiều hướng bất lợi cho cách mạng và chiến tranh cách mạng... Lịch sử đi vào một khúc quanh co (Đại tướng Văn Tiến Dũng. Toàn thắng Sđd, tr. 47-48.).
Trên toàn chiến trường địch lập 5800 ấp chiến lược, đóng 6964 đồn bốt kiểm soát 10.000.000 dân. Vùng giải phóng và làm chủ của ta từ 7.700.000 dân đầu năm 1968 nay tụt xuống còn 4.700.000 dân. Địch còn tăng cường đánh phá rất ác liệt các tuyến vận tải Bắc - Nam hòng cắt đứt việc tiếp tế hậu cần cho miền Nam (Lịch sử kháng chiến chống Mỹ. Tập II, tr. 40.)
Giữa lúc đó thì Hồ Chủ tịch qua đời, để lại di chúc thiêng liêng:
“Cuộc chống Mỹ cứu nước của nhân dân ta dù phải kinh qua gian khổ hy sinh nhiều hơn nữa nhưng nhất định thắng lợi hoàn toàn. Đó là điều chắc chắn".
Những lời tâm huyết đó không chỉ là niềm tin mà còn là tâm tư của Người lúc ra đi khi miền Nam còn gặp khó khăn.
Mỹ nuôi nhiều hy vọng. Họ tích cực tìm thắng lợi trên chiến trường. Trong cuộc gặp gỡ với Xuân Thuỷ hôm 18 tháng 7, C. Lodge nói:.
- “Chúng tôi nhận thấy các hoạt động quân sự và thâm nhập vào miền Nam Việt Nam ở mức độ thấp hơn trước. Nếu chúng tôi có thể tin chắc rằng sự thay đổi ấy là một khuynh hướng lâu dài thì Tổng thống Nixon sẽ chú ý tới điều đó trong khi quyết định về mức quân số và thời gian biểu của việc giảm bớt lực lượng Mỹ ở miền Nam Việt Nam. Nếu ngài có thể bảo đảm với chúng tôi điều đó thì chúng tôi hoan nghênh”.
Để tăng sức ép với Việt Nam và tranh thủ dư luận, ngày 15 tháng 9, Nixon tuyên bố đợt rút quân mới 35.000 người và nhắc lại rằng: "Thời gian cho các cuộc thương lượng có ý nghĩa đã đến".
Hai hôm sau, trước Đại hội đồng Liên Hợp Quốc, ông ta lại nói "thời gian cho hoà bình đã tới" và kêu gọi Đại biểu 126 nước dùng các cố gắng tốt nhất về ngoại giao để thuyết phục Hà Nội đi vào nghiêm chỉnh thương lượng để chấm dứt chiến tranh (R.Nixon. Hồi ký. Sđd tr. 397-398.)
Washington còn gây sức ép với các nước có tàu chở hàng viện trợ của Liên Xô cho Việt Nam như Chypre, Malta, Singapor, Somalie. Nước nào không nghe thì Mỹ cắt viện trợ, Mỹ còn tung tin sẽ phong toả cảng Hải Phòng và tiến công miền Bắc nước ta.
Nếu như tình hình trên chiến trường tạm thời thuận lợi cho Washington thì tình hình chống chiến tranh Việt Nam ở trong nước làm ông ta rất lo ngại.
Trong sáu tháng đầu cầm quyền của Nixon, nhân dân Mỹ còn giữ thái độ chờ xem. Nhưng lúc nào họ đã thấy rằng không phải Bắc Việt Nam mà chính là Mỹ đang kéo dài chiến tranh. Vì vậy cuộc đấu tranh của các tầng lớp nhân dân Mỹ nổi lên ngày càng mạnh.
Từ đầu tháng 7, Phụ nữ Đấu tranh cho hoà bình đã tổ chức đốt thẻ gọi quân dịch ở New York. Họ cử người sang Canada gặp Đại biểu của Mặt trận Dân tộc Giải phóng. Nhiều thị trưởng gửi thư lên Nixon đòi đình chỉ gọi con em của họ sang Việt Nam. Các cuộc biểu tình chống chiến tranh liên tiếp diễn ra trước Lầu Năm Góc. Tổ chức các nhà kinh doanh vì hoà bình ở Việt Nam báo cho Nixon biết là "tuần trăng mật" đã qua rồi. Nhiều cuộc biểu tình trước nhà riêng của Nixon tại miền Tây nước Mỹ đã xảy ra khi ông về nghỉ. Ngày 3 tháng 9, 250 nhà tâm lý học Mỹ biểu tình trước Nhà Trắng tố cáo cuộc chiến tranh là một sự điên rồ.
Các hoạt động trên được các báo chí Mỹ hết sức ủng hộ và đưa lên trang nhất. Sau khi Hồ Chủ tịch mất, phong trào lại rộ lên.
Sau kỳ nghỉ hè, các nghị sĩ ở hai Viện liên tiếp lên tiếng phản đối chính sách của Nixon ở Việt Nam. Họ nói kế hoạch hoà bình của Nixon là quá mập mờ và đòi ông có sáng kiến mới cho hoà bình sau cái chết của Hồ Chủ tịch. Họ tố cáo Chính quyền Sài Gòn là trở ngại chính cho hoà bình. Có người đòi rút quân Mỹ trước cuối năm 1970.
Càng gần đến ngày "tạm ngừng hoạt động", các nghị sĩ chống chiến tranh càng đẩy mạnh hoạt động đòi Hoa Kỳ phải chấm dứt các cuộc tấn công ở miền Nam chừng nào Việt cộng không lợi dụng tình hình. Nhiều nghị quyết đòi cắt kinh phí cho chiến tranh Việt Nam được đưa ra bắt đầu cuối năm 1970. Ngày 10 tháng 10, giám đốc của 79 Trường Đại học và Cao đẳng gửi thư cho Nixon đòi đưa ra một chương trình rút hết quân Mỹ về nước.
Ngày 15 tháng 10, bắt đầu đợt "tạm ngừng hoạt động", 20.000 người biểu tình ở New York, 30.000 người ở New Haven Green, 50.000 người trước Đài kỷ niệm Washington, 100.000 người ở Boston. Hàng ngàn cờ Mặt trận được giương cao. Tất cả đòi hoà bình ngay tức khắc.
Đó là hình ảnh của nước Mỹ bị chia rẽ sâu sắc về một cuộc chiến tranh “không ai muốn" mà Nhà Trắng rất đau lòng. Uy tín của Nixon giảm sút mạnh mẽ. Kissinger phải cay đắng mà nhận xét rằng:
“Các con chim bồ câu đã tỏ ra là một giống chim đặc biệt dữ tợn và những năm tháng qua đi đã không làm cho chúng hiền hơn" (H.Kissinger. Ở Nhà Trắng. Sđd. tr. 308. ).
Nixon phải chống đỡ với tình hình nội bộ mà ông không kiểm soát nổi, nhưng vẫn theo đuổi ý đồ tìm chiến thắng trong chiến tranh.
Ngày 3 tháng 11 năm 1969, Nixon đọc diễn văn bác bỏ tất cả các yêu sách của lực lượng chống chiến tranh. Ông nói rằng kế hoạch để chấm dứt chiến tranh của ông là chiến lược gồm hai mặt: Việt Nam hoá và thương lượng. Mỹ sẽ tiếp tục cuộc chiến tranh cho đến khi có một giải pháp hoà bình công bằng và danh dự và cho đến khi Nam Việt Nam có thể tự bảo vệ được. Ông ta đưa ra thời hạn rút hết quân trong một năm. Tiếp đó kêu gọi "đa số thầm lặng” trong nhân dân Mỹ ủng hộ ông.
Mấy hôm sau, đại sứ Liên Xô ở Hà Nội thông báo cho Thủ tướng Phạm Văn Đồng:
“Diễn văn ngày 3 tháng 11 của Nixon hoàn toàn không có nghĩa là để không muốn tiếp tục đàm phán với Việt Nam Dân chủ Cộng hoà ở Paris hoặc ở một nơi nào khác, hoặc thông qua những nước khác”.
- Hoa Kỳ sẵn sàng thảo luận bất cứ đề nghị nào... nhằm giải quyết vấn đề Việt Nam, sẵn sàng giải thích diễn văn ngày 3 tháng 11 của Nixon nếu phía bên kia có vấn đề gì đặt ra liên quan đến bài phát biểu đó.
- Hoa Kỳ tiến hành thương lượng với thái độ nghiêm chỉnh và muốn tìm giải pháp thoả hiệp nếu phía Việt Nam Dân chủ Cộng hoà không đòi chỉ thảo luận mười điểm của họ và đòi thực hiện không điều kiện mười điểm đó.
- Chính phủ Hoa Kỳ hy vọng rằng việc giảm thâm nhập của quân miền Bắc, giảm thương vong của Mỹ và giảm các hoạt động quân sự ở miền Nam Việt Nam trong thời gian qua là kết quả của một quá trình nào đó của Hà Nội bắt đầu từ khi Kissinger gặp Xuân Thuỷ ngày 4 tháng 8 đến nay.
- Chính phủ Hoa Kỳ sẽ hoan nghênh quá trình này (tức ba việc nói trên) nếu nó phù hợp với đường lối chính trị của nhà lãnh đạo Việt Nam. Tuy nhiên, nếu Washington hiểu như vậy không đúng và phía bên kia muốn xét lại quá trình đó thì Hoa Kỳ buộc phải có biện pháp trả đũa".
Người Mỹ hy vọng Hà Nội thay đổi đường lối sau khi Chủ tịch Hồ Chí Minh qua đời.
Ngày 29 tháng 11, tướng Walters đến gặp Mai Văn Bộ, nói rằng Cố vấn về an ninh của Nhà Trắng, Tiến sĩ Kissinger mong được gặp Bộ trưởng Xuân Thuỷ vào ngày 13 hoặc 14 tháng 12 (H.Kissinger nói tướng Walters gặp Xuân Thuỷ là không đúng. Xem: H. Kissingcr. Ở Nhà Trắng. Sđd, tr. 456.).
Mấy hôm sau, C. Lodge từ biệt Xuân Thuỷ vì ông không còn đảm đương trách nhiệm trưởng đoàn đàm phán của Mỹ ở Paris nữa - và cũng không nói ai sẽ thay ông ta.
Ngày 10 tháng 12, Hà Nội chỉ thị cho đoàn Việt Nam ở Paris:
"Xuất phát từ tình hình chung, nhất là sau diễn văn ngày 3 tháng 11 của Nixon, ta tỏ thái độ cứng để tấn công lại Mỹ, không chịu sức ép của họ".
Ngày 12 tháng 12, Mai Văn Bộ trả lời cho tướng Walters:
“Hoa Kỳ vẫn giữ lập trường như trong diễn văn chiến tranh ngày 3 tháng 11 năm 1969 của ông Nixon. Hơn thế nữa, ông Nixon còn hạ thấp Hội nghị Paris về Việt Nam, đòi chúng tôi có đáp ứng thì mới cử người chính thức thay thế ông Lodge. Từ tháng 8 năm 1969, ông Nixon đã bác bỏ tuyên bố của Chính phủ Cách mạng Lâm thời: "Nếu Hoa Kỳ tuyên bố rút hết toàn bộ và không điều kiện quân Mỹ và quân nước ngoài thuộc phe Mỹ ra khỏi miền Nam trong thời hạn sáu tháng thì các bên sẽ thảo luận về lịch rút quân Mỹ và quân nước ngoài thuộc phe Mỹ và vấn đề bảo đảm an toàn cho việc rút quân đó.
Rõ ràng Hoa Kỳ vẫn đòi chúng tôi phải trả giá cho việc thay thế ông Lodge và không chịu xem xét đề nghị của đối phương một cách nghiêm chỉnh mà chỉ đòi chúng tôi phải chấp nhận điều kiện của Hoa Kỳ... Hoa Kỳ vẫn cố tìm thắng lợi quân sự, chưa muốn giải quyết đúng đắn vấn đề Việt Nam bằng đàm phán. Vì vậy nếu có cuộc gặp riêng giữa Cố vấn Kissinger và Bộ trưởng Xuân Thuỷ như ông Kissinger đề nghị thì cũng không có gì bổ ích. Cho nên khi nào có hoàn cảnh thuận lợi, phía Hoa Kỳ có gì mới thì hai bên có thể sẽ lại gặp nhau”.
Vào đầu năm 1970, trên chiến trường miền Nam Việt Nam lực lượng kháng chiến vẫn ở trong thời kỳ khó khăn lớn. Trái lại, Mỹ và nguỵ quyền Sài Gòn thu được những thắng lợi đáng kể trong chính sách Việt Nam hoá chiến tranh.
Nhưng họ cũng thấy rằng thắng lợi đó chưa vững chắc. Họ nhận định:
"Hà Nội tìm cách tranh thủ thời gian đến lúc quân Mỹ đã giảm đi một cách đủ cho họ đương đầu với quân lực Sài Gòn với các phương tiện cân bằng hơn " (H.Kissinger. Sđd, tr. 453.).
Tướng A.Haig, Cố vấn quân sự và phụ tá cho Kissinger trong đàm phán bí mật ở Paris, đã nhận xét sau mười ngày điều tra ở chín tỉnh miền Nam rằng. “Sự cải thiện đã chậm lại trong những tháng cuối năm 1969. Không có gì tin rằng đối phương đã bỏ cuộc...”.
Thực tế khách quan là các lực lượng giải phóng miền Nam Việt Nam dọc biên giới Campuchia - Nam Việt Nam, nhất là ở vùng Mỏ Vẹt và Móc Câu, vẫn là một mối uy hiếp cho Sài Gòn. Mỹ phải tìm cách thanh toán mối đe doạ đó, bảo đảm cho Việt Nam hoá thắng lợi. Họ đang tính toán những nước cờ mới: Bảo vệ Sài Gòn từ xa.
Người Mỹ biết, vì sự thật là như thế, rằng Chính phủ Campuchia để cho Quân giải phóng qua lại và đóng quân trên đất Campuchia, đặc biệt là vùng căn cứ 353, tổng hành dinh của Trung ương cục miền Nam chính là vùng Mỏ Vẹt - Móc Câu.
Thực hiện cái mà ông ta gọi là “điểm ngoặt đầu tiên trong cách tiến hành chiến tranh Việt Nam" của Chính quyền ông, Tổng thống Nixon ra lệnh cho máy bay B52 ném bom vùng Mỏ Vẹt-Móc Câu từ ngày 18 tháng 3 năm 1969. Nhưng Cơ quan Tình báo Mỹ thấy sau 3600 phi vụ B52 (tính đến ngày lục quân Mỹ đánh vào Campuchia), Trung ương cục miền Nam vẫn còn nguyên vẹn và tiếp tục chỉ đạo chiến tranh.
Ngày 18 tháng 3 năm 1970, lực lượng thân Mỹ do tướng Lon Non cầm đầu làm đảo chính lật đổ Hoàng thân Norodom Sihanouk. Ngày 24 tháng 4 năm 1970, Nixon quyết định cho quân Mỹ tiến công lớn vào Campuchia, bất chấp sự phản đối của Bộ trưởng Bộ Ngoại giao W.Roger và Bộ trưởng Bộ Quốc phòng M. Laird. Phát biểu trên Đài truyền hình ngày 30 tháng 4 năm 1970, Nixon tuyên bố cuộc tiến công quân sự đó không phải vì mục đích mở rộng chiến tranh sang Campuchia mà vì mục đích chấm dứt chiến tranh ở Việt Nam. Tuy ông ta nói mạnh “đã dám chơi với lửa thì phải chơi đến cùng" (J.Amter. Vietnam Verdict - Continm, N. Y. 1982, tr. 197).
Trước sự phản đối ngày càng mạnh của dư luận Mỹ và thế giới, ngày 30 tháng 6, nghĩa là hai tháng sau khi đánh vào Campuchia, Nixon đã phải ra lệnh cho quân Mỹ rút khỏi Campuchia. Cũng nên nói thêm ở đây là ông còn phải trả giá đắt hơn nữa cho các cuộc ném bom B52 bí mật xuống Campuchia.
Trên chiến trường Lào, từ năm trước Mỹ đã tổ chức cuộc hành quân hỗn hợp Mỹ - Thái Lan và phỉ Vàng Pao đánh chiếm khu Cánh Đồng Chum tháng 9 năm 1969, và tháng 10 họ đã đánh rộng ra khu vực Xiêng Khoảng, tiến gần tới phía tây Nghệ An (Lịch Sử KCCM. t.II, tr. 42.). Nhưng sang đầu năm 1970, liên quân Lào - Việt đã tiến công mạnh vào vùng mới chiếm đóng của địch và tháng 2 năm 1970 toàn bộ địch phải rút khỏi Cánh Đồng Chum, căn cứ bọn phỉ Vàng Pao ở Long Chẹng bị uy hiếp
Các thương lượng bí mật của Kissinger ở Paris nhằm che giấu ý đồ tăng cường chiến tranh trong kế hoạch "Việt Nam hoá chiến tranh", lợi dụng tình hình để thương lượng trên thế mạnh.
Tháng 1 năm 1970, Hà Nội cho rằng Chính quyền Nixon đang tập trung giải quyết vấn đề chủ yếu là số quân Mỹ cần và có thể rút và rút trong thời gian bao lâu để quân nguỵ miền Nam không đổ vỡ lớn, làm thế nào vấn đề miền Nam không còn là vấn đề gây cấn nhất trong cuộc bầu cử Tổng thống nhiệm kỳ mới của Nixon vào năm 1972. Vì thế thời gian có tính chất quyết định là cuối năm 1970 và trong năm 1971 chúng ta phải đẩy mạnh tiến công toàn diện đập tan âm mưu Việt Nam hoá chiến tranh của Mỹ (Văn Tiến Dũng. Sđd, tr. 53.).
Tháng 3 năm 1970, Ban lãnh đạo Hà Nội đề ra nhiệm vụ, kiên trì và đẩy mạnh cuộc kháng chiến... đẩy mạnh tiến công quân sự, chính trị và kinh tế kết hợp tiến công ngoại giao... đánh bại âm mưu địch xuống thang từng bước, kéo dài chiến tranh để tạo thế mạnh làm thất bại thế chiến lược phòng ngự của địch, tạo ra chuyển biến mới trong cục diện chiến tranh giành thắng lợi từng bước đi đến giành thắng lợi quyết định (Một số văn kiện của Đảng về chống Mỹ cứu nước, t.II. Nhà xuất bản Sự Thật, Hà Nội 1968, tr. 169.)
Hiệp đầu Lê Đức Thọ - Kissinger
Đã năm tháng trôi qua mà không có cuộc gặp gỡ riêng nào giữa Mỹ và Việt Nam. Ngày 14 tháng 1 năm 1970, tướng V.Walters gặp Mai Văn Bộ đề nghị có cuộc gặp riêng giữa Kissinger và Bộ trưởng Xuân Thuỷ ngoài khuôn khổ hiện nay "với mục đích tạo ra một khung cảnh cho một giải pháp nhanh chóng cho cuộc xung đột trên cơ sở công bằng cho tất cả”. Mỹ đề nghị cuộc gặp đó không trước ngày 8 tháng 2 vào cuối tuần.
Hơn một tháng sau, vào ngày 16 tháng 2, Mai Văn Bộ trả lời cho Walters rằng Bộ trưởng Xuân Thuỷ sẵn sàng gặp Kissinger ngày 20 hoặc 21 tháng 2 năm 1970.
Trong lúc uống trà, viên tướng Mỹ nói:
- Ông Kissinger cũng muốn gặp ông Lê Đức Thọ.
- Ông Cố vấn đặc biệt - Mai Văn Bộ đáp - có thể tham gia cuộc gặp này nếu ông Thọ còn ở Paris.
- Ồ thế thì tốt lắm.
Lúc ấy Lê Đức Thọ sang dự Đại hội Đảng Cộng sản Pháp đồng thời để chuẩn bị gặp Kissinger. Mỹ muốn thăm dò ý đồ chiến lược và quan điểm cụ thể của ta về giải pháp. Trong lúc chiến trường miền Nam im ắng, dự kiến phía Việt Nam có thể chuẩn bị các hoạt động Đông Xuân, họ cũng muốn tìm cách ngăn cản ta đẩy mạnh hoạt động ở miền Nam hoặc Lào.
Cuộc họp diễn ra hồi mười giờ ngày 21 tháng 2 tại số nhà 11 phố Darthé, Choisy-le-roi.
Kissinger đến cùng với Richard Smyer, chuyên gia về vấn đề Việt Nam, Tong La ke, và tướng Walters. Xuân Thuỷ ra đón ông và dẫn vào phòng khách nhỏ bên phòng ăn. Đây là giây phút đáng gọi là lịch sử: Kissinger gặp Lê Đức Thọ lần đầu tiên, hai con người hoàn toàn khác nhau về nguồn gốc xã hội, bản chất con người, lý tưởng chính trị, gặp nhau để rồi cùng nhau bàn cãi quyết liệt trong ba năm để tìm một giải pháp cho vấn đề Việt Nam, và cuối cùng chia nhau giải Nobel về hoà bình. Kissinger đã tả phút đầu gặp gỡ này như sau:
"Tóc hoa râm, đường bệ, Lê Đức Thọ bao giờ cũng mặc bộ đại cán xám hoặc marông. Đôi mắt to và sáng, ít khi để lộ sự cuồng tín đã thúc đẩy ông hồi mười sáu tuổi đi theo phong trào du kích cộng sản chống Pháp. Ông bao giờ cũng tỏ ra rất bình tĩnh, thái độ bao giờ cũng không có điều gì chê trách được, trừ một hai lần. Ông hoàn toàn biết ông muốn gì và phục vụ lý tưởng của ông một cách tận tuy và khéo léo... Lê Đức Thọ tiếp tôi với sự lễ phép có khoảng cách của con người mà ưu thế hiển nhiên đến mức không thể làm khác được bằng một kiểu lễ phép gần như sự hạ cố" (H.Kissinger. Sđd, tr. 459.).
Phát biểu đầu tiên, Kissinger xin lỗi đến chậm và đề nghị giữ bí mật cuộc gặp này vì ông đến Paris bí mật. Ông ta nói vui mừng được gặp lại ông Xuân Thuỷ vì ông ta cho rằng ông ta hiểu Xuân Thuỷ hơn nhiều người trong đoàn Mỹ. Ông ta tỏ ý vui mừng được gặp Cố vấn đặc biệt Lê Đức Thọ.
Đi vào nội dung, ông ta nhắc lại ba khả năng mà ông Lê Đức Thọ đã nói với ông Harriman ngày 14 tháng 1 năm 1969, và khẳng định rằng Mỹ muốn tiến hành đàm phán trên cơ sở thiện chí và với thái độ nghiêm chỉnh. Ông ta biết rằng cuộc đàm phán là rất khó khăn vì một là khó xác định được mục đích của mỗi bên muốn đạt, thứ hai cũng rất khó khăn là làm thế nào đạt được mục đích đó... Cuộc đàm phán càng thêm khó khăn bởi vì có sự nghi ngờ rất lớn từ lâu trong lịch sử. Ông ta nhấn mạnh:
- Dù bây giờ khắc phục được sự nghi ngờ này có khó khăn đến đâu đi nửa thì một năm nữa, hai năm nữa nó còn khó khăn hơn nữa cho đến khi chúng ta đạt được hoà bình, vì sớm hay muộn thế nào chúng ta cũng phải lập lại hoà bình.
Ông ta cố gắng tỏ ra thành thật nói rằng Việt Nam đã bị đánh lừa năm 1956:
- Bây giờ thì Hoa Kỳ không có lợi gì trong việc đánh lừa Việt Nam nữa, vì nếu Việt Nam cho rằng bị đánh lừa thì họ lại tiếp tục chiến đấu. Các ông gần Nam Việt Nam hơn Mỹ. Vì vậy Hoa Kỳ muốn tìm một giải pháp mà cả hai bên đều muốn đạt được. Nếu muốn đưa đàm phán đến thành công thì có hai yêu cầu:
- Phải nhất trí với nhau về những mục tiêu cần phải đạt được.
- Khi đã có mục tiêu rồi thì phải nhất trí với nhau về một chương trình làm việc để đạt mục tiêu đó.
Ông ta nhắc lại gợi ý hồi tháng 8 năm ngoái và cho rằng Việt Nam đã bỏ lỡ thời cơ vì tình hình của "các ngài không được cải thiện gì và dù có lâu hơn nữa nó vẫn không được cải thiện". Ông ta phân tích: tình hình nước Mỹ có lợi hơn cho Nixon, tình hình miền Nam hiện nay khó khăn cho Việt Nam hơn năm ngoái, trên thế giới vấn đề Việt Nam không còn là vấn đề trung tâm mà mọi người nhất trí chú ý. Phía Việt Nam không còn sự ủng hộ như trước nữa, kể cả một số nước vẫn ủng hộ Việt Nam.
Ông ta khen ông Xuân Thuỷ giỏi trong việc đưa ra những tuyên bố bí ẩn có hàm ý, rồi nói:
“Tình hình có thể như thế này: Theo chúng tôi hình như các ngài muốn được bảo đảm - coi như một điều kiện cho đàm phán - là sẽ được ưu tiên chính trị, và lúc đó, chúng tôi phải tuỳ thuộc vào sự thành thật và sự kiềm chế của các ngài sau này. Có lẽ theo các ngài thì hình như chúng tôi muốn giành được ưu thế về quân sự và chúng tôi yêu cầu các ngài phải tin vào sự thành thật và sự kiềm chế của chúng tôi sau này. Hai là chúng tôi thừa nhận các ngài có vấn đề đặc biệt là đặt vấn đề quân đội của các ngài ở miền Nam Việt Nam trên cùng một cơ sở pháp lý như Quân đội Mỹ ở Nam Việt Nam. Chúng tôi biết rằng chưa bao giờ các ngài chính thức thừa nhận rằng các ngài có quân đội ở Nam Việt Nam và không bao giờ thừa nhận quân đội đó là quân đội nước ngoài ở Nam Việt Nam. Chúng tôi thừa nhận vấn đề này, chúng tôi tôn trọng thái độ của các ngài về vấn đề này. Chúng ta thử tìm xem có thể có một giải pháp cho vấn đề đặc biệt khó khăn này không, một giải pháp thực tế chứ không phải một giải pháp có tính lý thuyết.
Về giải pháp chính trị, chúng tôi nghĩ rằng có hai cơ sở đế giải quyết: một là khi các lực lượng bên ngoài rút ra khỏi Nam Việt Nam rồi thì người Việt Nam giải quyết với nhau. Nhưng nếu việc giải quyết vấn đề này là một bộ phận của nội dung đàm phán của chúng ta thì chúng tôi xin nêu ra hai nguyên tắc dưới đầy:
- Bất cử giải pháp chính trị công bằng nào cũng phải phản ánh tương quan lực lượng chính trị hiện có ở Nam Việt Nam.
- Chúng ta phải thừa nhận rằng không một bên nào có thể cho rằng phía bên kia sẽ từ bỏ ở bàn đàm phán những gì mà họ không chịu bỏ ở chiến trường".
Kissinger cũng đề ra hai cách làm việc: thảo luận cả mười điểm của Mặt trận và tám điểm của Nixon; hai là gạt mười điểm và tám điểm ra mà xác định với nhau những nguyên tắc chung. Khi đã thống nhất rồi thì để cho các đoàn ở Kléber giải quyết các chi tiết. Hoa Kỳ không cứng nhắc, Hoa Kỳ muốn chấm dứt chiến tranh một cách thực tế chứ không phải về lý thuyết. Ông nhấn mạnh rằng sự tiến bộ của việc làm này tuỳ thuộc vào việc không có sự tăng cường bạo lực ở Nam Việt Nam. (xin hiểu là hoạt động quân sự của Việt cộng - Tác giả). Đó là điều không có lợi cho cả hai bên mà có thể dẫn đến những hậu quả nghiêm trọng... Ông nói Tổng thống Nixon còn cầm quyền bảy năm nữa, không phải là điều đáng mong muốn gì cho cả hai bên nếu muốn thử thách lòng dũng cảm của mình hơn nữa. (lời nói bao hàm một sự đe doạ không che giấu - Tác giả). Sau khi chiến tranh chấm dứt, Mỹ sẽ sẵn sàng giúp nhân dân Việt Nam - toàn thể nhân dân Việt Nam - đổi mới và xây dựng lại... Một Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà độc lập phồn vinh và tự tin vào mình là phù hợp với quyền lợi Quốc gia của Hoa Kỳ, và trong bất cứ giai đoạn lịch sử nào Hoa Kỳ sẽ không bao giờ là mối đe doạ cho nền độc lập của Việt Nam.
Ông ta kết thúc bằng cách xin lỗi đã nói dài, "nhưng là một giáo sư Trường Đại học Havard thì bao giờ cũng nói trong năm mươi nhăm phút".
Mọi người cùng cười rồi nghỉ.
Bộ trưởng Xuân Thuỷ nhắc lại rằng tình hình đàm phán từ sau cuộc gặp riêng tháng 8 năm ngoái đã xấu đi. Mỹ nói muốn giải quyết nhanh trước ngày 1 tháng 11 năm 1969, nhưng không đưa ra nội dung cụ thể gì mà chỉ mở ra một diễn đàn mới với Cố vấn Kissinger.
“Trong khi đó chúng tôi dưa ra hai nội dung cụ thể. Một là Mỹ rút hết quân và rút nhanh trong vòng năm, sáu tháng - Hai là lập Chính phủ liên hiệp ba thành phần. Tổng thống Nixon trong diễn văn ngày 3 tháng 11 năm 1959 lại nhấn mạnh dùng Việt Nam hoá để giải quyết chiến tranh... chúng tôi cho rằng tin Việt Nam hoá sẽ thắng lợi là chủ quan và lừa dối dư luận".
Xuân Thuỷ phê phán việc Mỹ không cử trưởng đoàn mới ở Paris rồi nhấn mạnh rằng Mỹ nói thành thật nhưng phía Việt Nam không thấy điều đó. Bộ trưởng cũng phê phán việc Mỹ đẩy mạnh hoạt động quân sự ở Lào và miền Nam. Về lời đe doạ của Kissinger, Xuân Thuỷ nói:
- Chúng tôi không muốn đọ sức với Mỹ, chúng tôi chỉ muốn bảo vệ độc lập tự do của chúng tôi. Chúng tôi tin tưởng ở tinh thần, ở sự đoàn kết của nhân dân Việt Nam, không trông chờ ở phong trào chống chiến tranh ở Mỹ và thế giới. Mục đích đàm phán của chúng tôi là đạt được một nước Việt Nam hoà bình, độc lập thật sự.
Ông nhấn mạnh:
- “Chúng tôi muốn rằng đã giải quyết với nhau thì giải quyết toàn bộ vấn đề làm sao thật sự chấm dứt được chiến tranh, thật sự tôn trọng quyền tự quyết của nhân dân Việt Nam. Còn về hình thức nói chuyện thì không phải là vấn đề khó khăn lớn”
Trả lời Xuân Thuỷ, Kissinger cho rằng đàm phán chưa tiến bộ thì mức độ của đoàn Đại biểu Mỹ hiện nay ở Paris là thích hợp, nếu đàm phán tiến bộ trên cơ sở mới thì phía Mỹ sẵn sàng cử sang một đoàn đàm phán mới.
Ông ta cũng cho rằng hai vấn đề: rút quân Mỹ và lập Chính phủ liên hiệp là hai vấn đề đã đặt ra trước khi ông ta đến, và hai đề nghị đó cũng không đòi hỏi sự có mặt của ông ta ở Paris.
Cuộc thảo luận buổi sáng gần kết thúc thì Xuân Thuỷ nhận xét là phía Mỹ đã tiết lộ bí mật cuộc gặp riêng. Kissinger bào chữa rằng "Không ai đánh lừa được các ông hai lần đâu".
Lê Đức Thọ:
- “Chúng tôi đã bị lừa nhiều nhưng không lừa được.”
Kissinger:
- Vấn đề bi đát không phải là sự thật phải đương đầu với sự dối trá mà bi đát là sự thật phải đương đầu với sự thật.
Cuộc gặp gỡ buổi chiều bắt đầu bằng việc hai bên trả lời các câu hỏi của phía bên kia. Kissinger nhấn mạnh rằng Tổng thống Nixon đã đồng ý cho ông hành động như là một nhân vật chính trên cơ sở không chính thức để giải quyết những vấn đề cơ bản thật quan trọng trong các cuộc gặp nhau đều đặn với những nhân vật mà phía Việt Nam chỉ định. Nhưng vấn đề lớn đối với ông ta là phía Việt Nam có thật sự đàm phán như phía Hoa Kỳ hiểu chữ đàm phán không? "Quả thật đối với những người đã tỏ ra là những người dũng cảm tận tụy thì bây giờ cũng khó mà xem xét việc chấm dứt chiến tranh mà lại không được bảo đảm tất cả các mục tiêu đầu tiên của mình". Vì vậy mà ông ta cũng chưa đưa ra một danh sách đề nghị cụ thể cho Việt Nam mà chỉ nhắc lại thiện chí và sự mềm dẻo của Mỹ trong vấn đề rút quân không phải là Nam Việt Nam.
Nhưng buổi chiều chủ yếu là phát biểu tổng quát của Cố vấn Lê Đức Thọ. Ông nói:
- Theo ông đánh giá về tình hình chúng tôi thì không đúng với thực tế chiến trường hiện nay. Đó là quyền của ông. Trong suốt mười lăm năm qua, khi đánh giá về tương quan lực lượng hai bên, các ông đã đánh giá rất sai về tình hình chúng tôi. Tôi muốn nhắc lại điều này để từ đó các ông có thể thấy phải đánh giá như thế nào cho đúng. Có đánh giá đúng thì giải quyết vấn đề mới đúng được.
Tiếp đó Lê Đức Thọ nêu lên bốn lần Mỹ đánh giá sai:
"Lần thứ nhất, khi Mỹ dựng lên Chính quyền độc tài Ngô Đình Diệm với một đội quân tàn sát nhân dân.
Lần thứ hai, việc Mỹ phát động chiến tranh đặc biệt ở miền Nam tưởng có thể đàn áp được nhân dân miền Nam bằng chính sách ấp chiến lược, nhưng đã không thực hiện được.
Lần thứ ba, Mỹ đưa quân ồ ạt vào miền Nam, dùng một khối bom đạn có thể nói là cao hơn tất cả các cuộc chiến tranh từ trước tới nay của Mỹ.
Sau Tết Mậu Thân đến nay ông lại đánh giá tình hình không đúng. "Các ông nói Việt Nam hoá chiến tranh thắng lợi nhưng thực ra nó đã bắt đầu thất bại ".
“Các ông định mở thêm một chiến trường ở Lào để phối hợp với chiến trường miền Nam, nhưng bây giờ Cánh đồng Chum đã bị mất về tay Pathet Lào".
Cố vấn Lê Đức Thọ còn nói về phong trào chống chiến tranh Việt Nam ở Mỹ và điều này Kissinger tỏ ra bực bội và xót xa vì sự chia rẽ trong nước ông. Lê Đức Thọ nói đến phong trào thế giới ủng hộ Chính phủ Cách mạng Lâm thời, đến ảo tưởng của Mỹ về sự thay đổi đường lối của Hà Nội sau khi Hồ Chủ tịch mất, và kết luận:
"Không phải chúng tôi không có hy sinh mất mát lớn và cũng có nhiều gian khổ nhưng chúng tôi đã thắng!".
- Đã thắng trong chiến tranh? - Kissinger hỏi.
- Chúng tôi đã thắng và các ông đã thất bại. Đến nay các ông chưa thấy sự thật khách quan. Các ông vẫn tin có thể dùng áp lực quân sự tối đa với chúng tôi trên chiến trường. Các ông chưa muốn giải quyết vấn đề một cách nghiêm chỉnh... Ông Nixon nói nhiều về Việt Nam hoá chiến tranh để thúc đẩy thương lượng. Có phải các ông định dùng Việt Nam hoá chiến tranh để làm sức ép ở bàn Hội nghị không?
Các ông định rút quân từng bước, rút quân chiến đấu đến mức nào đó mà nhân dân Mỹ có thể chịu đựng được về người và của. Sau đó các ông để lại một lực lượng hỗ trợ yểm trợ cho nguỵ quân, nguỵ quyền để kéo dài chiến tranh. Khi nguỵ quân, nguỵ quyền đã mạnh lên, các ông để lại một lực lượng Cố vấn và tiếp tục trang bị thêm cho nguỵ quân.
Nhưng thử hỏi nguỵ quân, nguỵ quyền có đảm nhận được gánh nặng chiến tranh không và bao giờ thì đảm nhận được việc đó?
Trước đây hơn một triệu quân Mỹ và quân ngụy mà các ông đã thất bại. Bây giờ các ông làm thế nào mà thắng nếu chỉ để cho quân đội bù nhìn một mình tiến hành chiến tranh và chỉ có sự yểm trợ của Mỹ không thôi làm sao các ông có thể thắng được?.
Lê Đức Thọ dừng một lát. Kissinger suy nghĩ. "Chỉ có sự yểm hộ của Mỹ không thôi làm sao các ông có thể thắng được ". Sau này ông viết trong Hồi ký rằng đó cũng là câu hỏi làm ông day dứt (H. Kissinger. Ở Nhà Trắng, Sđd, trang 462.).
Lê Đức Thọ nói tiếp: Các ông đã doạ chúng tôi nhiều rồi. Chúng tôi đã đánh với các ông trong bao nhiêu năm, ông biết rồi. Dù các ông có tiếp tục chiến tranh như thế nào nữa thì cũng không thay đổi được chiều hướng cuộc chiến tranh này. Về đàm phán, Lê Đức Thọ tỏ vẻ nghi ngờ lòng thành thật của Mỹ, ông nói:
- Chúng tôi là một dân tộc đã bị người ta lừa gạt nhiều rồi. Muốn tạo điều kiện để giải quyết vấn đề thì phải thành thật. Các ông nêu điểm một là vấn đề rút quân. Ngay điều này đã cho chúng tôi thấy các ông không nghiêm chỉnh. Chúng tôi muốn thảo luận toàn bộ các vấn đề rồi ký kết Hiệp định và thực hiện Hiệp định. Toàn bộ vấn đề là mười điểm. Hai bên phát biểu ý kiến không bên nào bị ép phải nhận điều kiện phía bên kia đưa ra.
Về cách tiến hành Hội nghị, Lê Đức Thọ nói: có nói chuyện công khai và nói chuyện riêng, rồi hỏi Kissinger:
- Có phải ông Nixon cử ông sang đây nói chuyện riêng để giải quyết vấn đề hay thỉnh thoảng ông sang đây để thăm dò thế này thôi? Còn ở Hội nghị công khai thì các ông không chịu cử trưởng đoàn. Sau khi nói chuyện riêng giải quyết được vấn đề thì ở diễn đàn công khai cũng phải có người để nói chuyện chứ.
Còn vấn đề nữa là Chính phủ Cách mạng Lâm thời chưa chịu nói chuyện với Chính quyền Thiệu-Kỳ-Hương, một Chính quyền phát xít và đàn áp, không tán thành hoà bình. Làm sao mà giải quyết vấn đề với một chính quyền như vậy? Chúng tôi muốn nói chuyện với những người có thiện chí để tìm một giải pháp chứ không phải chúng tôi hoàn toàn phủ nhận nói chuyện với Chính quyền của các ông ở Sài Gòn đâu?
Trong khi chúng tôi và Chính phủ Cách mạng Lâm thời chưa chịu nói chuyện với Chính quyền Sài Gòn thì chúng tôi và các ông thảo luận giải quyết toàn bộ vấn đề. Sau khi giải quyết các vấn đề cơ bản rồi thì sẽ thảo luận cụ thể ở Hội nghị bốn bên, nhưng các ông phải cử trưởng đoàn mới có thẩm quyền.
Kết luận, Lê Đức Thọ nói:
- Trong hai con đường hoà bình và chiến tranh, các ông nên chọn lấy một. Nếu các ông chọn con đường hoà bình thì chúng ta có thể giải quyết vấn đề một cách hoà bình, và như ông nói sau khi hoà bình lập lại, quan hệ hai nước chúng ta sẽ mở ra một trang sử mới.
Kissinger hoan nghênh sự thẳng thắn của Lê Đức Thọ và đặt ra một số câu hỏi. Hai bên nhanh chóng đồng ý về cách thảo luận mười điểm và tám điểm. Phía Mỹ hiểu thái độ của ta đối với Chính quyền miền Nam là phải thay người (Thiệu - Kỳ - Hương) và thay đổi chính sách. Đó là một điều kiện.
Về việc cử trưởng đoàn mới ở Hội nghị bốn bên, Kissinger nói: Điều này có thể sắp "ép được" ông ta nói: Hoa Kỳ không bỏ Hội nghị bốn bên tuy họ rút cả trưởng, phó đoàn đi và chỉ để lại P.Habib, người thứ ba, ở Paris - (Tác giả).
Xuân Thuỷ và Lê Đức Thọ cho Kissinger biết là nếu Mỹ không cử trưởng đoàn thì Xuân Thuỷ không ở lại Paris được, và ông Thọ với cương vị Cố vấn cũng không còn ở đây nữa.
Kissinger:
- Đây là ngài Bộ trưởng doạ tôi?
Xuân Thuỷ:
- Chính ông đe doạ tôi trước.
Cuộc thảo luận đã kéo dài. Ông Cố vấn Nhà Trắng thấy rằng hôm ấy không đi xa hơn được nữa. Ông sẽ nghiên cứu ý kiến của phía Việt Nam và sớm gặp lại nhau khi có dấu hiệu tiến bộ. Nhưng ông nhắc lại rằng Hoa Kỳ không thể thay đổi chính quyền Sài Gòn. Trả lời Lê Đức Thọ về vấn đề Lào, Kissinger nói:
- Chúng tôi quan sát thấy hầu hết quân Pathet Lào đều nói tiếng Việt cả.
Rồi ông ta kể:
"Vào thế ký XIX, có một câu chuyện tương tự như vấn đề Lào xảy ra ở một tỉnh thuộc nước Đức. Bộ trưởng Ngoại giao Anh là Palmerston (Huân tước H. Palmerson, 1784 - 1785 - Tác giả nói vấn đề này phức tạp đến nỗi chỉ có ba người biết mà thôi. Một người thì đã chết, người thử hai đã điên, người thứ ba là bạn thân của ông Bộ trưởng Ngoại giao đó, nhưng ông ta đã quên mất rồi".
Hoá ra Kissinger muốn nhắc lại câu chuyện thời Bismark muốn lấy hai xứ Holstein và Schlewig đang thuộc Vương quốc Đan Mạch để thành lập nước Đức thống nhất. Ý ông ta không phải là muốn tỏ ra là người thứ tư biết bí mật về Lào mà chỉ muốn chế giễu rằng ai cũng biết Việt Nam có quân ở Lào. Kissinger nói thêm:
- Những điều tôi học tập về Lào vẫn chưa quên.
Xuân Thuỷ:
- Tôi là người đàm phán ở Hội nghị Genève về Lào. Ông nhớ, tôi cũng nhớ.
- Thôi, chúng ta nghỉ.
Mọi người cùng cười.
Hai bên hẹn gặp lại nhau ba tuần sau vào thứ hai, 16 tháng 3 năm 1970.
Sau cuộc gặp ngày 21 tháng 2 này, Kissinger rất hy vọng. Về Mỹ, ông "báo cho Nixon rằng đây là cuộc gặp quan trọng chắc chắn là quan trọng nhất từ khi bắt đầu Chính quyền của ngài và quan trọng nhất kể cả từ khi bắt đầu cuộc nói chuyện năm 1958 (R.Nixon. Sđd. tr. 4461).
Về mặt ngoại giao, ông ta "tiếc đã nhận gặp vào ngày 21 tháng 2, nghĩa là theo lịch do Hà Nội ấn định. Đó là một bước lùi, chấp nhận một đòi hỏi vô lý, chúng ta đã gây nên một cảm giác vội vàng vô ích cho phép Hà Nội ghi một bàn thắng về tâm lý " mà họ vẫn kiên trì từ lâu " (H.Kissinger. Ở Nhà Trắng. Sđd, tr.456.2).
Cái chung chung: Không Lêninit – Cái cụ thể: Không đồng ý
Ngày 16 tháng 3. Đến địa điểm họp, Kissinger kêu quá mệt vì phải hạ cánh xuống Tây Đức - Đúng thế, máy bay riêng của ông không xuống được sân bay quân sự Avord (miền Trung nước Pháp) vì trục trặc kỹ thuật mà phải hạ xuống một sân bay Đức rồi mới quay về Pháp.
Nghỉ một lúc, vào cuộc họp ông yêu cầu Lê Đức Thọ giải thích một câu đã nói lần trước rằng không bên nào buộc phía bên kia phải chấp nhận một giải pháp bằng áp lực. Khi được giải thích, Kissinger nói ngay:
- Trong khi chúng ta nói chuyện ở đây, nếu như một bên nào làm áp lực với phía bên kia hoặc ở Việt Nam hoặc ở một nước nào liên quan đến Việt Nam thì như vậy là không phù hợp với mục đích cuộc nói chuyện của chúng ta ở đây.
Lê Đức Thọ:
- Đây là ông đặt câu hỏi hay là ông phát biểu quan điểm?
Kissinger:
- Tôi nói để xem có đúng ý kiến của ông Cố vấn đặc biệt không.
Lê Đức Thọ nhấn mạnh lại rằng trong đàm phán mỗi bên có lập trường và quan điểm của mình. Như vậy không phải chúng tôi cứ bắt các ông phải theo quan điểm của chúng tôi. Và các ông cũng không thể bắt chúng tôi phải theo quan điểm của các ông. Phải qua thảo luận rồi đi đến thoả thuận.
Kissinger:
- Tức là không bên nào làm áp lực quân sự thêm với bên kia để buộc bên kia phải chấp nhận sự thoả thuận.
Lê Đức Thọ:
- Câu nói của tôi là đối với một cuộc thương lượng với nhau. Còn điểm ông nói về áp lực quân sự lại là vấn đề khác. Mà vấn đề này chính các ông làm áp lực quân sự đối với chúng tôi.
Kissinger nói phía Mỹ muốn đi vào thực chất. Và ông đọc một chỉ thị của Nixon gửi cho ông ta trước khi qua Paris rằng phải nói với người Việt Nam “phải đi vào trung tâm của vấn đề”. Rồi ông ta trình bày hai vấn đề: việc rút quân Mỹ và thời gian biểu của việc rút quân đó.
- Chúng tôi sẵn sàng đàm phán về việc rút lui toàn bộ quân Hoa Kỳ, điều đó bao gồm rút tất cả quân và rút hết các căn cứ quân sự Hoa Kỳ mà không có điều ngoại lệ nào. Về thời gian biểu rút quân, căn cứ vào số quân Mỹ có mặt ở miền Nam Việt Nam đến 15 tháng 4 năm 1970 là 422.000 người. Ông ta nói sẽ rút hết trong 16 tháng.
Tháng thứ nhất: 5000. Tháng thứ hai và thứ ba: mỗi tháng 10.000 Tháng thứ tư: 27.000. Năm tháng sau đó: mỗi tháng 35.000. Tháng thứ 10: 10.000. Tháng thứ 11: 15.000. Tháng thứ 12: 10.000. Tháng thứ 13, 14, và 15: mỗi tháng 40.000. Tháng thứ 16: 4.000.
Ông ta giải thích một số điểm về kỹ thuật rút và nhắc lại rằng trong việc rút quân này “thực tế đòi hỏi phải có đi có lại chừng nào đó, và chính vì thế mà chúng ta có mặt ở đây để đàm phán"
Nhắc lại phía Việt Nam không thừa nhận có quân ở miền Nam, ông ta nói:
- Chúng tôi rất chú ý đến quan điểm đặc biệt này của các ông. Chúng tôi cũng đã có ý kiến cụ thể về vấn đề này. Nhưng tốt nhất là để các ông trình bày ý kiến của các ông. Như vậy lúc đó chúng ta có thoả thuận về hai kế hoạch, hai kế hoạch này cũng được thực hiện đồng thời nhưng không liên quan với nhau.
Kissinger còn nói về vấn đề kiểm soát và vấn đề thả tù binh. Bộ trưởng Xuân Thuỷ nhận xét ngay rằng thời hạn rút quân mà Kissinger đưa ra không phù hợp với tuyên bố trước đây của Mỹ rút quân trong 12 tháng. Điều đó làm cho người ta nghĩ Mỹ kéo dài việc rút quân để gắn với kế hoạch Việt Nam hoá. Như vậy không giải quyết được vấn đề. Xuân Thuỷ cũng thúc giục Kissinger nói luôn ý kiến của ông ta về các lực lượng không phải Nam Việt Nam, vì ông ta đã có ý kiến cụ thể còn phía ta chưa có ý kiến. Bộ trưởng cũng lưu ý Kissinger là ông ta chưa nói gì đến vấn đề chính trị.
Kissinger lại giải thích mối liên quan giữa thương lượng và Việt Nam hoá, và nói thêm: thời gian rút quân vẫn có yếu tố mềm dẻo. Về việc rút quân miền Bắc, ông nói:
- Chúng tôi khó có thể nghĩ rằng Bộ trưởng Xuân Thuỷ và Cố vấn đặc biệt Lê Đức Thọ lại chưa hề nghĩ đến một vấn đề liên quan đến Việt Nam như vậy.
Ông ta cười, rồi một lúc sau nói tiếp:
- Chúng tôi nghĩ rằng nếu như vì những lý do tinh thần, pháp lý, lịch sử mà các ông cho rằng nếu có hai chương trình song song với nhau thì dễ thực hiện hơn, chúng tôi vui lòng tán thành ý kiến đó. Chúng tôi đáp ứng yêu cầu của các ông. Trước hết chúng tôi phải nói ngay đến những lực lượng không phải Nam Việt Nam ở những khu vực gọi là “đất thánh" ở những nước có liên quan đến Việt Nam. Những lực lượng này có ảnh hưởng trực tiếp đến chiến tranh ở Việt Nam thì những lực lượng đó cũng phải là một phần trong quá trình rút quân kia. Tôi muốn nói đến những trại ở dọc biên giới Nam Việt Nam.
Trước sự thúc giục của Xuân Thuỷ, Kissinger đề nghị: 25% các lực lượng không phải Nam Việt Nam phải hoàn thành trong 5 tháng. Sau 8 tháng rút hết 50%. Sau 12 tháng rút hết 75%. Sau 16 tháng rút hết hoàn toàn. Và những trại trên đất Campuchia và Lào và các con đường thâm nhập cũng phải rút.
Lê Đức Thọ nhận xét:
- Chúng tôi công nhận là ông đã đi vào một phần thực chất. Theo ông trình bày thì việc rút hết quân Mỹ và quân các nước đồng minh của Mỹ là một nguyên tắc pháp lý. Còn việc rút quân mà các ông cho là của miền Bắc như ông nói thì không phải là một nguyên tắc pháp lý mà là một vấn đề thực tế và kỹ thuật. Nhưng khi ông trình bày về vấn đề rút quân mà các ông gọi là của miền Bắc cũng phải hoàn thành trong cùng một thời gian, như vậy thì thực chất cũng là đòi hai bên cùng rút quân và rút hết toàn bộ. Thế mà ông nói chỉ là vấn đề kỹ thuật. Chính cách trình bày của ông mới là kỹ thuật.
Lê Đức Thọ nói tiếp:
- Đề nghị về thời hạn rút quân là một bước lùi so với thời gian các ông nêu ra ở Kléber. Cách rút quân mà ông trình bày còn có tính chất nhỏ giọt hơn cả kế hoạch Việt Nam hoá. Có tháng chỉ có 5000 so với mỗi tháng trước các ông rút đến 10.000 mà chúng tôi đã nói là quá nhỏ giọt. Bởi vậy ông nói là đi vào thực chất và không nên mặc cả thì lời nói đó trái với thực tế này.
Cuối cùng Lê Đức Thọ nhấn mạnh:
- Các ông càng dùng áp lực quân sự với chúng tôi thì các ông càng thất bại hơn nữa. Các ông đã xé bỏ Hiệp định Genève về Lào và cuối cùng các ông cũng không thắng được Pathet Lào. Nếu các ông không rút bài học đó mà cứ muốn biến Campuchia thành một Lào thứ hai thì chính các ông cũng sẽ thất bại như ở Nam Việt Nam và Lào.
Lúc này chưa xảy ra đảo chính lật đổ Sihanuc ở Campụchia nhưng chúng ta cũng đã có nhiều tin tức về việc Mỹ sẽ mở rộng chiến tranh sang Campuchia. Vì vậy Lê Đức Thọ cảnh cáo trước:
- Nếu các ông không tôn trọng những điều đã ký kết thì ba dân tộc chúng tôi sẽ đoàn kết chiến đấu và các ông nhất định thất bại
Cố vấn Nhà Trắng bào chữa và nói rằng Mỹ đã giảm 25% hoạt động của không quân ở Campuchia. Riêng về vấn đề Lào thì đã nổ ra một cuộc tranh luận ai là kẻ phá hoại Hiệp định Genève về Lào. Phía Mỹ cũng thanh minh là không có ý định chiếm lại đất đai hiện nay do Pathet Lào kiểm soát. Nhưng lúc này “địch đang điều động cấp tốc lực lượng các Quân khu 1, 2, 3 ở Lào về tăng cường phòng thủ Long Chẹng, sào huyệt của bọn phỉ Vàng Pao ở Lào”. (Lịch sử KCCM, t I, Sđd, tr. 45.)
Kissinger cũng nói Mỹ không có cố gắng nào để buộc Campuchia từ bỏ chính sách trung lập. Ông ta nhắc lại: Lịch rút quân không phải là trở ngại không vượt qua được ông cũng xác nhận: lần sau, theo yêu cầu của Việt Nam, thảo luận cả vấn đề quân sự và chính trị: Phía Mỹ sẵn sàng thảo luận cả hai vấn đề đó cùng nhau.
Ông ta cũng yêu cầu lần sau phía ta phát biểu trước vì theo ông "Không thể tiến hành đàm phán theo khuôn khổ các ông là những nhà giáo hỏi học trò xem đã hiểu đúng lập trường của các ông chưa".
Lê Đức Thọ cải chính điều đó.
Hai bên hẹn gặp lại nhau vào ngày 4 hoặc 5 tháng 4 và sẽ đi vào cụ thể. Khi chào từ biệt, Kissinger đã ra ngoài một lúc rồi lại quay lại nói:
- Lênin nói: một bước lùi, hai bước tiến. Tôi học tập Lênin đấy.
Lê Đức Thọ:
- Chủ nghĩa Lênin phải vận dụng linh hoạt. Còn ông thì máy móc.
Kissinger:
- Thế thì một vài phiên họp nữa chúng tôi sẽ học tập Lênin tốt hơn.
Kissinger báo cáo về cho Nixon rằng: Bắc Việt Nam có vẻ quan tâm đến thời hạn rút quân và kết luận là "thêm hai cuộc họp nữa sẽ rõ chuyện" (R.Nixon. Hồi ký Sđd, tr 446.).
Cuộc họp lần này diễn ra trong lúc Đông Dương chuyển sang một bước ngoặt.
Ở Lào, ngày 27 tháng 3, quân phái hữu cùng quân Thái, với sự hỗ trợ của không quân Mỹ mở đợt tấn công chung quanh Long Chẹng, chiếm lại khu vực Sảm Thông, tạo điều kiện cho Mỹ tiếp tế cho lực lượng Vàng Pao. Nhưng sự kiện nghiêm trọng hơn lại xảy ra trên đất Angko. Chỉ hai ngày sau cuộc gặp bí mật giữa Lê Đức Thọ - Xuân Thuỷ và Kissinger nói trên, các lực lượng thân Mỹ do Lonnol, Thủ tướng, và Sirik Maták, Phó Thủ tướng thứ nhất chỉ huy đã lật đổ Quốc trưởng Sihanuc và phát động chiến tranh chống Việt Nam. Đây là một đòn kinh khủng đánh vào ông Hoàng Campuchia, mở đầu trận bão tố kéo dài mấy thập kỷ qua xuống cái mà người ta tưởng là một "ốc đảo hoà bình" ở Đông Nam Á.
Từ sau Hiệp định Genève năm 1954, suốt trong mười lăm năm, vận dụng một cách khéo léo các lối chơi trong ván bài chính trị, Sihanuc đã giữ cho đất nước ông được hoà bình giữa xứ Đông Dương rực cháy. Nhưng ít lâu sau khi Mỹ bí mật thực hiện chiến dịch "Thực đơn" ném bom đánh phá Campuchia, Sihanuc lập lại quan hệ ngoại giao với Washington tháng 6 năm 1969, tưởng sẽ được yên ổn. Nhưng các lực lượng phản động trong nước ông càng đẩy mạnh hoạt động chống Việt Nam và hạ bệ ông.
Cuộc đảo chính xảy ra lúc ông đang từ Liên Xô đi thăm Trung Quốc sau khi chữa bệnh ở Pháp, Liên Xô vẫn duy trì sứ quán ở Phnom Pênh, Trung Quốc vẫn có cảm tình với Sihanuc. Tuy vẫn đón tiếp ông với cương vị Quốc trưởng nhưng còn dè dặt trước diễn biến của tình hình. Bắc Kinh báo cho ông biết:
“Bắc Kinh sẽ tôn trọng một cách đầy đủ mọi quvết định của Hoàng thân Sihanuc hoặc chấm dứt cuộc đời chính trị... hoặc cầm đầu một phong trào “Quốc gia chống Mỹ" (N. Sihanuc. Tù binh Khơme đỏ. Hachette, Paris 1986, tr. 415. Xem thêm: Navan Chanda. Les frèrcs ennemis. CNRS, Paris 1987, tr. 70.). Hà Nội nhận định rằng cuộc đảo chính ở Phnom Pênh là một nấc thang mới của Mỹ nhằm dựng lên một Chính quyền tay sai ở Campuchia, xoá bỏ căn cứ và bàn đạp chiến lược của Mặt trận Dân tộc Giải phóng cắt đứt tuyến tiếp tế hậu cần chi viện cho chiến trường miền Nam. Hà Nội chủ trương ủng hộ ông Sihanuc giúp đỡ cách mạng Campuchia”
Ngày 21 tháng 3, Thủ tướng Phạm Văn Đồng sang Bắc Kinh bằng một chuyên cơ đặc biệt. Ngày 22, trong cuộc nói chuyện thẳng thắn và tình nghĩa, Thủ tướng đã mang lại cho Hoàng thân Sihanuc sự ủng hộ chân thành của nhân dân Việt Nam và khuyến khích Hoàng thân kiên quyết chống lại bọn đảo chính. Ngày 23 tháng 3, Sihanuc ra lời kêu gọi chống Mỹ gồm năm điểm trong đó có vấn đề lập Mặt trận Thống nhất Dân tộc Khơ Me (FUNK) và quân đội giải phóng.
Ngày 4 tháng 4, Thủ tướng Chu Ân Lai tuyên bố ủng hộ chủ trương kháng chiến của ông.
Ngày 28 tháng 4, Sihanuc lập Chính phủ Kháng chiến Khơ Me (GRUNK).
Các đơn vị vũ trang của Việt Nam được chỉ thị phối hợp với bạn mở vùng giải phóng giành quyền làm chủ ở bảy tỉnh phía Đông - Đông Bắc và ba tỉnh phía Tây - Nam, xây dựng Chính quyền cách mạng, phát triển chiến tranh du kích.
Chỉ trong một thời gian ngắn, vùng nông thôn tỉnh Kratié... sáu huyện ở Takeo, Cămpôt... đã được giải phóng (Lịch sử KCCM, tI, tr 47 - 48.).
Mỹ vội vàng tăng cường viện trợ - 200 triệu đô la - cho bọn tay sai ở Campuchia, cố gắng đưa lực lượng của Lonnol từ 35.000 lên 60.000 người.
Ngày 28 tháng 4, các đơn vị quân nguy Sài Gòn mở chiến dịch "Toàn thắng 42" vượt biên giới Campuchia đánh vào vùng Mỏ Vẹt.
Ngày 30 tháng 4, Mỹ cho một lực lượng hỗn hợp gồm 50.000 quân Mỹ, 50.000 quân Sài Gòn tiến vào vùng Móc Câu, tiến sâu vào đất Campuchia từ 30 đến 40 ki-lô-mét. Đồng thời máy bay Mỹ ném bom miền Bắc nước ta ở vùng Quảng Bình, Vĩnh Linh trong mấy ngày liền.
Cùng ngày 30 tháng 4, sau khi được tin quân Mỹ vào Campuchia, Bộ Chính trị Trung ương Đảng ta điện cho Trung ương cục miền Nam: "Đông Dương đã trở nên một chiến trường “thống nhất”, và chỉ thị “Đánh cho quân ngụy ở miền Nam những đòn chí mạng ở Campuchia, đồng thời phá kế hoạch bình định ở chiến trường miền Nam".
Việc mở rộng chiến tranh sang Campuchia là một sai lầm chiến lược của Nixon. Trong tình thế phải "phi Mỹ hoá”, rút dần quân Mỹ ra khỏi chiến trường chính, Mỹ lại đưa quân Mỹ sang Campuchia tạo nên một chiến trường mới, do đó bỏ trống cả miền Nam Việt Nam và giơ lưng cho đối phương đánh.
Họ đã tạo cho Chính phủ Cách mạng Lâm thời thời cơ vừa giúp cách mạng Campuchia, vừa đưa lực lượng trở lại miền Nam, từng bước phá âm mưu của địch, tạo chuyển biến lớn trong cục diện chiến tranh có lợi cho ta.
Cuộc gặp riêng giữa Lê Đức Thọ và Kissinger hôm 4 tháng 4 năm 1970 trong bối cảnh một Đông Dương đang bị mây đen bao phủ.
Kissinger đến nơi họp - vẫn ở số 11 phố Darthé - khệ nệ mang theo nhiều hành lý. Trước con mắt ngạc nhiên của đoàn Việt Nam, ông ta vội giải thích: "Sau khi nói chuyện xong, chúng tôi phải đi thẳng ra sân bay". Hôm ấy là thứ bảy, Kissinger cười và nói thêm: "Tôi phải hy sinh ba ngày nghỉ vì sự nghiệp hoà bình". Lê Đức Thọ cũng cười và nói: "Như vậy ít quá, làm sao mà giải quyết được".
Đi vào nội dung, Kissinger bắt đầu nói về một số điều chính trong lịch rút quân ông đưa ra lần trước, nâng con số sẽ rút trong tháng thứ tư và thứ năm lên một chút. Xuân Thuỷ bác bỏ việc Mỹ đòi hai bên cùng rút quân trong thời gian mười sáu tháng của Mỹ là một bước thụt lùi - và phê phán Mỹ vẫn chưa cử trưởng đoàn mới ở Hội nghị công khai.
Nhắc lại các sự kiện ở Lào và Campuchia, Xuân Thuỷ nói:
- Chính các ông đang dùng áp lực quân sự và áp lực chính trị để hòng ép chúng tôi nhận những điều kiện của các ông.
Bộ trưởng ủng hộ đề nghị rút quân Mỹ trong sáu tháng của Chính phủ Cách mạng Lâm thời và chuyển sang vấn đề chính trị:
- Mỹ phải tôn trọng các quyền dân tộc cơ bản của nhân dân Việt Nam là độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ, thừa nhận độc lập và trung lập của miền Nam Việt Nam. Cụ thể:
1 - Chúng tôi thừa nhận Chính quyền Sài Gòn là một thực tế nhưng phải thay đổi bọn cầm đầu hiện nay là Thiệu - Kỳ - Khiêm, kẻ đang cản trở việc giải quyết hoà bình vấn đề Việt Nam.
2 - Thành lập Chính phủ Lâm thời gồm ba thành phần: Những Đại biểu của Chính phủ Cách mạng Lâm thời, những Đại biểu của Chính quyền Sài Gòn không có Thiệu - Kỳ - Khiêm, và những Đại biểu các lực lượng chính trị ngoài hai lực lượng trên.
3 - Sau khi Mỹ rút, tổ chức tuyển cử bầu ra Quốc hội, thông qua Hiến pháp mới và tổ chức Chính phủ Liên hiệp chính thức.
Về vấn đề lực lượng vũ trang Việt Nam ở miền Nam Việt Nam, sau khi thoả thuận về vấn đề chính trị và quân sự trên, chúng tôi sẵn sàng thảo luận.
Kissinger thừa nhận rằng vấn đề chính trị là vấn đề khó khăn nhất trong cuộc đàm phán này. Đó là trung tâm vấn đề đối với người Việt Nam. Đó cũng là lý do làm cho có tình hình chiến tranh trong hơn ba mươi năm qua. Ông nhắc lại hai nguyên tắc đã nêu ra là: phải thoả thuận với nhau xem tương quan lực lượng hiện có giữa các lực lượng hiện nay thế nào và phải thoả thuận với nhau về quá trình chính trị phải thực hiện để phản ánh tương quan lực lượng đó.
Là những người lêninit, các ngài hiểu rõ luận điểm về quá trình chính trị không bao giờ ổn định cả. Và vì vậy phía Hoa Kỳ muốn tạo ra được một quá trình chính trị không loại trừ bất cứ kết quả nào, làm cho tất cả các nhóm chính trị đều có khả năng tham gia vào cuộc đấu tranh về các vấn đề chính trị Quốc gia. Chúng tôi đang tìm cách tách cuộc đấu tranh quân sự ra khỏi cuộc đấu tranh chính trị. Hoa Kỳ không chấp nhận một giải pháp bị ép buộc bằng quân sự, Hoa Kỳ sẵn sàng chấp nhận kết quả của quá trình chính trị phản ánh nguyện vọng của nhân dân... Chúng tôi phản đối không phải các mục tiêu các ngài đề ra mà là tác dụng thực tế của các mục tiêu đó. Các ngài chỉ chọn những người mà các ngài cho là yêu chuộng hoà bình và đè bẹp tất cả các lực lượng chính trị có tổ chức của những người đối lập... chỉ thảo luận vấn đề chính trị đã có thể thay đổi thực tế chính trị rồi.
Lê Đức Thọ:
- Tôi thấy triết học của các ông quanh co, khó hiểu và khác với triết học macxit.
Kissinger:
- Tôi thấy khó thoả mãn những đồng sự người Hà Nội của tôi, vì nói cái gì chung chung thì các ngài bảo là không lêninit, nói cái gì cụ thể thì các ngài lại không ưa.
Rồi ông ta kể một câu chuyện vui: Có người hỏi Anatole France (nhà văn Pháp, 1844-1924 - Tác giả) là ông đã đọc triết học của Kant chưa? A.France trả lời: tôi mới đọc ít lắm, mới được có 9 cuốn thôi, nhưng tất cả cái gì quan trọng lại ở phần cuối
Lê Đức Thọ:
- Thế thì bây giờ tôi đang chờ phần cuối đó.
Kissinger không nói phần cuối mà tiếp tục đưa ra thí dụ để minh hoạ ý kiến của ông ta. Thí dụ hai bên bàn về thay đổi bà Bình thì sẽ ảnh hưởng đến tinh thần bà Bình... rồi ông ta nói phía Việt Nam đòi thay thế một số người cầm đầu trong Chính quyền Sài Gòn hiện nay như là một tiền đề cho quá trình chính trị thì Mỹ không nhận được. Ông cũng thừa nhận ta có khúc mắc trong vấn đề tuyển cử, ai sẽ đứng ra tuyển cử.
“Chúng tôi nghĩ rằng có nhiều mặt sáng tạo, thí dụ có ủy ban hỗn hợp tuyển cử, vì ủy ban này có thể đáp ứng rất xa những yêu cầu hợp lý của các ông!".
Lê Đức Thọ:
- Nó chưa nhích được một bước nào chứ không phải đi xa. Tôi chờ mãi câu chủ chốt nhưng rốt cục vẫn là ủy ban hỗn hợp như đã đề nghị ở Kléber.
Kissinger còn nói nhiều nữa rằng ông ta sẵn sàng bàn đến quan hệ giữa bầu cử tự do và phân chia quyền lực - việc bầu cử cơ quan hành pháp và trực tiếp hay gián tiếp - bầu Quốc hội, rồi Quốc hội bầu ra Chính phủ hay trực tiếp bầu ra Chính phủ... mối quan hệ giữa cơ quan hành pháp và lập pháp, giữa các tỉnh và Sài Gòn, v.v.... rồi vấn đề quân sự như ngừng bắn ảnh hưởng đến quá trình chính trị như thế nào...
Kissinger tóm tắt các đề nghị của ông ta như sau:
1 - Chúng tôi đồng ý - về nguyên tắc phải rút toàn bộ quân Hoa Kỳ và quân đồng minh.
2 - Chúng tôi đã trình bày một kế hoạch chi tiết về việc rút quân đó và chúng tôi cũng đã nói rằng vấn đề thời gian rút quân là vấn đề mềm dẻo và sẽ không để nó thành một trở ngại cho việc giải quyết.
3 - Chúng tôi đã nói chúng tôi không cam kết duy trì một lực lượng chính trị nào trong Chính quyền một khi đạt được một giải pháp.
4 - Chúng tôi đã nói về phương pháp thích hợp để biết được ý muốn của nhân dân nhưng chúng tôi cũng sẵn sàng bàn những đề nghị khác về các vấn đề đó.
5 - Chúng tôi đã nói là chúng tôi không những sẵn sàng bàn vấn đề tuyển cử một cách trừu tượng mà còn sẵn sàng bàn mối liên quan giữa tuyển cử và quyền lực chính trị... mối liên quan giữa các vấn đề quân sự và chính trị, giữa quyền hành pháp và quyền lập pháp, vấn đề bảo vệ các lực lượng thiểu số... Nói cách khác, chúng tôi không nói đến bầu cử một cách trừu tượng mà nói đến một cơ cấu chính trị cụ thể.
6 - Chúng tôi sẵn sàng xem xét vấn đề chính trị và vấn đề quân sự có liên quan với nhau không những một cách chung chung mà cả vấn đề cụ thể nửa, đặc biệt qua thảo luận vấn đề ngừng bắn.
Kissinger còn nói rằng Mỹ không có ý định dùng vấn đề Lào làm áp lực quân sự đối với Việt Nam. Chính phủ Hoa Kỳ sẵn sàng tiến tới một giải pháp thực hiện trên cơ sở giữ nguyên trạng ở Lào... sẵn sàng thực hiện với ta một sự thoả thuận để bảo đảm nền trung lập của Lào và bảo đảm an ninh cho lực lượng của Việt Nam khỏi bị những hoạt động đối địch xuất phát từ Lào.
Về vấn đề Campuchia, ông nói Mỹ đã không dính dáng vào và đã không dùng vấn đề Campuchia làm áp lực với Việt Nam và tuyên bố sẵn sàng hôm nay thoả thuận với Việt Nam về những sự sắp xếp để bảo đảm nền trung lập của Campuchia không bị vi phạm...
Hoa Kỳ không có ý định gây ra một tình hình tương tự (như ở Việt Nam) ở một nơi khác ở Đông Nam Á. Còn về phía Việt Nam, hình như đã tiến hành tiến công ở Nam Việt Nam bốn ngày trước khi ông đến đây để đàm phán một cách nghiêm chỉnh.
Cuối cùng ông nói, trong cuộc đàm phán hiện nay, Hoa Kỳ đã có đại diện đúng đắn rồi và chính ông đã bốn lần vượt đại dương sang đây đàm phán với Việt Nam một cách trung thực.
Xuân Thuỷ đề nghị nghỉ giải lao. Nhưng ông Cố vấn Nhà Trắng còn yêu cầu Bộ trưởng giải thích một câu ông nói rằng sẽ bàn rút quân của Việt Nam nếu hai bên đạt được thoả thuận.
Kissinger hỏi:
- Các ông sẽ bàn với ai?
Xuân Thuỷ:
-Với ai thì sẽ liệu.
Lê Đức Thọ:
- Chưa thoả thuận được với nhau thì làm sao biết bàn với ai.
Kissinger:
- Tôi cho rằng Bộ trưởng còn khó tính hơn tôi?
Xuân Thuỷ:
- Từ khi gặp ông đến giờ, tôi sinh ra khó tính thế đấy. Tôi học cái tính của ông đấy.
Kissinger:
- Ngay từ ngày đầu tiên gặp ông tôi đã thấy ông hắc lắm rồi.
Xuân Thuỷ:
- Không thế đâu. Chính là tôi cứ nghe cái triết lý quanh co của ông nên tôi mới trở nên khó tính.
Kissinger:
- Chúng tôi bất ngờ gặp phải các ông là đối phương chứ chúng tôi không lựa chọn. Nếu chúng tôi lựa chọn thì chúng tôi lựa chọn đối phương dễ tính hơn.
Sau khi nghỉ, Lê Đức Thọ phát biểu. Bằng lời lẽ mạnh mẽ, ông nói một cách thẳng thắn.
- Trong hai lần gặp vừa qua ông đều nói rằng các ông muốn giải quyết hoà bình, không muốn dùng áp lực quyết định, không muốn đàm phán trên thế mạnh, nhưng những việc làm thực tế của các ông làm cho chúng tôi không thể tin được những lời nói của ông.
Qua những sự kiện xảy ra ở Việt Nam, Lào và Campuchia, nhất là những sự kiện xảy ra ở Lào và Campuchia, chúng tôi cho rằng các ông vẫn tích cực thực hiện Việt Nam hoá chiến tranh, kéo dài và mở rộng chiến tranh ra toàn cõi Đông Dương...
Về Lào, trong hai, ba năm qua chiến sự vẫn diễn ra bình thường nhưng thử hỏi: Ai đã đánh chiếm Cánh Đồng Chum cho nên nhân dân Lào phải đánh trả lại và chiếm lại Cánh Đồng Chum, và bây giờ các ông lại đưa quân Thái vào Lào ném bom Cánh Đồng Chum rất ác liệt!
Về Campuchia, ai đã tổ chức cuộc đảo chính ở Campuchia, đã xoá bỏ nền độc lập và trung lập của Campuchia và đưa một tập đoàn phản động ở đó lên cầm quyền? Không ai khác hơn là Mỹ. Các ông nói các ông không uy hiếp Việt Nam trong vấn đề Lào và các ông không dính dáng đến vấn đề Campuchia. Điều đó hoàn toàn không đúng sự thật. Phương ngôn Việt Nam có câu "Không thể lấy thúng úp voi được".
Kissinger xen vào:
- Tôi thích câu nói ấy đấy.
Lê Đức Thọ tiếp tục lên án Mỹ định dùng lực lượng tay sai ở Campuchia phối hợp với lực lượng tay sai ở Nam Việt Nam tiêu diệt lực lượng Quân giải phóng miền Nam Việt Nam và phong trào cách mạng Campuchia, thực hiện học thuyết của Nixon: dùng người châu Á đánh người châu Á.
“Rõ ràng các ông muốn dùng sức mạnh để giải quyết vấn đề và đàm phán trên thế mạnh, buộc nhân dân chúng tôi cũng như nhân dân Lào và nhân dân Campuchia phải khuất phục sức mạnh của các ông. Nhưng tôi cho đó chỉ là ảo tưởng... Các ông đã lầm to. Bao nhiêu sức mạnh của các ông cũng không thể nào khuất phục được nhân dân chúng tôi cũng như nhân dân Lào và nhân dân Campuchia... Các ông không đánh giá đúng và không lường được hết lực lượng của toàn dân tộc chúng tôi đứng dậy chống các ông. Bây giờ các ông lại muốn. mở rộng chiến tranh sang Campuchia và lại muốn bước vào những vết xe cũ. Các ông tưởng dùng một số phản động trong quân đội lật đổ Sihanuc thế là xong. Nếu nghĩ như vậy thì thật đơn giản quá. Chính việc làm đó của các ông đã tạo ra ở Campuchia một tình hình là quần chúng nhân dân đã đoàn kết chống lại các ông và bọn phản động. Họ đã theo lời kêu gọi của ông Sihanuc và của Mặt trận Thống nhất Dân tộc Campuchia ở đây nổi lên với tất cả tinh thần dũng cảm của họ để bảo vệ độc lập và trung lập của Campuchia. Chỉ trong mười ngày thôi mà tình hình đã biến chuyển rất nhanh. Đó là báo hiệu sự thất bại của các ông”.
Lê Đức Thọ nói rõ thái độ của ta là ủng hộ tuyên bố năm điểm của Sihanuc, và chừng nào Chính quyền Lonnol-Sỉrik Matăk còn ở Phnom Pênh thì không giải quyết được vấn đề Campuchia.
Ông nói tiếp:
- Trong tình hình các ông đang thất bại ở Việt Nam và Lào thì làm sao lại thắng ở Campuchia được. Các ông đã gieo gió thì các ông sẽ gặt bão. Các ông đã gây ra mối hận thù dân tộc giữa nhân dân Việt Nam và nhân dân Campuchia, nhưng nhân dân ba nước Việt Nam, Campuchia và Lào đã có truyền thống đoàn kết chống Pháp chín năm trước đây và đã gắn bó với nhau từ lâu, các ông không phá vỡ nổi sự đoàn kết đó. Ngày nay nhân dân ba nước Việt Campuchia - Lào càng kiên quyết chiến đấu và nhất định giành thắng lợi. Các ông nhất định sẽ thất bại lớn hơn nữa.
Vậy ngày nay có giải quyết được vấn đề hoà bình ở Việt Nam, Lào và Campuchia hay không, điều đó không tuỳ thuộc ở chúng tôi mà chính là tuỳ thuộc ở các ông.
Ông cũng nói đến hai khả năng giải quyết vấn đề Việt Nam: hoà bình hay chiến tranh, và tiếp:
- Chúng tôi vẫn để ngỏ cánh cửa cho một giải pháp hoà bình. Nhưng ông Nixon chưa muốn giải quyết vấn đề và còn nhiều tham vọng
Mong rằng giáo sư Kissinger có đầu óc nghiên cứu nắm vấn đề để giải quyết, hãy tỉnh táo nhìn vào thực tế.
Về tương quan lực lượng chính trị ở miền Nam Việt Nam, Lê Đức Thọ nhấn mạnh:
- Lực lượng Thiệu - Kỳ - Khiêm mà các ông nói, có thể đếm được trên đầu ngón tay. Còn nguyện vọng của tuyệt đại đa số nhân dân miền Nam là hoà bình, trung lập. Chỉ có một thiểu số tướng tá là thích chiến tranh thôi..
Khi Lê Đức Thọ kết thúc lời phát biểu của mình, Kissinger nhận xét ngay là Cố vấn đặc biệt Lê Đức Thọ đã nói đúng 55 phút không kém ông ta và hứa sẽ nghiên cứu ý kiến của ông Thọ.
Kissinger nói đi nói lại rằng Mỹ không chủ mưu gây ra đảo chính ở Campuchia, rằng ông Thọ đã quá đề cao Cục Tình báo Trung ương Mỹ (CIA). (Sau này Kissinger cũng viết như vậy trong cuốn sách "Ở Nhà Trắng" của ông ta, và cũng ghi lại một số đoạn phát biểu của Lê Đức Thọ đã gây cho ông ta ấn tượng sâu sắc).
Kìssinger nói lại một cách lâm li, cố thuyết phục ông Thọ:
- Chúng ta phải chọn một trong hai điều: một là chúng ta vẫn tiếp tục nhưng chúng ta cứ trốn đằng sau những phức tạp của Việt Nam. Cả hai bên chúng ta đều có đủ thông minh, đặc biệt là các ông có tài về biện chứng, để kéo dài mãi mãi cũng được. Đó là một sự tập luyện về lý luận không dẫn tới đâu cả mà không cần sự tham gia của tôi. Hai là chúng ta cố gắng theo tinh thần của Bộ trưởng Xuân Thuỷ... là hai bên phải tìm cách đề cập đến những vấn đề cơ bản và đưa ra những đề nghị cụ thể mới để có thể chấm dứt chiến tranh trong năm nay.
Hai bên còn tranh luận thêm về vấn đề Lào và Campuchia và hứa nghiên cứu ý kiến của nhau.
Kissinger đề nghị có thêm một phiên gặp riêng nữa, nhưng Cố vấn Lê Đức Thọ đề nghị hai bên nghiên cứu ý kiến của nhau, đến lúc nào đó thấy có gì mới sẽ gặp lại.
Hiệp đầu đàm phán giữa Lê Đức Thọ và Kissinger chấm dứt với phiên họp ngày 4 tháng 4. Trong đợt này hai bên có đi vào vấn đề thực chất, nhưng nói chung vẫn giữ quan điểm của mình. Mỹ vẫn muốn đàm phán trên thế mạnh, tuy có rút một số quân Mỹ nhưng mở rộng chiến tranh sang Campuchia, tăng cường chiến sự ở Lào, họ chưa thật muốn bàn bạc nghiêm chỉnh một giải pháp.
Trong Hồi ký, ông Kissinger nhận định như sau:
“Hiệp đầu đàm phán với Lê Đức Thọ thất bại vì ngoại giao bao giờ cũng phản ánh một so sánh lực lượng nào đó và Lê Đức Thọ không lầm lắm đâu. Ông ta đánh giá đúng dư luận công chúng ở Hoa Kỳ - và đặc biệt là thái độ các tổ chức lãnh đạo mà ông đã xác minh được. Những vấn đề do Việt Nam hoá đặt ra là có thật. Tình trạng thiếu kỷ luật trong Chính quyền Mỹ bộc lộ những bất đồng tư tưởng chia rẽ hành pháp. Trong những hoàn cảnh như thế, Lê Đức Thọ không có lý do gì để thay đổi yêu cầu rút quân Mỹ không điều kiện và đánh đổ Chính phủ Sài Gòn" (H.Kissinger. Ở Nhà trắng Sđd, tr. 485-486.).
Lúc chia tay với Kissinger, ngày 4 tháng 4, Lê Đức Thọ nói:
“Bây giờ quan điểm của hai bên còn xa nhau".
Với sự thoả thuận của hai bên, các cuộc gặp riêng hoãn không thời hạn. Vả lại, không khí chính trị ở Mỹ, ở Đông Dương đang chuyển biến nhanh và phức tạp.
Giữa kẻ thù không chịu nổi và sự chống đổi bên trong cũng không chịu nổi
Tại Lào, ngày 1 tháng 5, liên quân Lào - Việt tiến đánh Atôpơ, giải phóng thị xã và vùng lân cận. Ngày 9 tháng 6 lại giải phóng tỉnh lỵ Saravan và khu vực chung quanh. Cả miền Nam Lào hầu như được giải phóng.
Một bộ phận liên quân Lào - Việt tiến sang đất Campuchia vào tỉnh Stung-treng, đánh tan một lực lượng đáng kể của quân Lonnol, giải phóng một số quận lỵ và thị xã, và tiến sát đến biên giới Thái Lan. Tỉnh lỵ Sêkông thuộc tỉnh Mônđukiri bị mất, quân Lonnol phải bỏ chạy khỏi Ratanakin.
Ngày 5 tháng 6, Kratié rơi vào tay lực lượng giải phóng. Lực lượng giải phóng Campuchia, với sự giúp đỡ của Việt Nam, đánh chiếm nhiều vùng rộng lớn ở phía Nam và phía Bắc đường số 5, đánh Kôngpôngspơ và nhiều nơi khác. Từ tháng 5 năm 1970, Phnom Pênh đã bị cắt đứt với cảng
Kôngpôngxom (Lịch sử kháng chiến chống Mỹ, Sđd, tr. 50-51.).
Cuộc hành quân của Mỹ đánh vào vùng Móc Câu với mục tiêu chính là tiêu diệt cơ quan đầu não của cách mạng miền Nam cũng bị bẻ gãy.
Như vậy, trong hai tháng, Quân giải phóng Campuchia với sự hỗ trợ của lực lượng vũ trang Việt Nam đã giải phóng hoàn toàn năm tỉnh Đông Bắc Campuchia: Kratié, Tung trong, Ratanakiri, Mondunkiri, Kôngpông Cham (Lịch sử kháng chiến chống Mỹ. Sđd t.2, tr 5051.).
Trên chiến trường miền Nam, nhân lúc Mỹ -Ngụy bị hút sang Campuchia, các quân khu, các mặt trận kịp thời tiến công - chủ yếu bằng lực lượng đặc công và pháo binh - nhiều căn cứ Mỹ - Nguỵ ở nhiều thành phố và thị xã và phòng tuyến phòng thủ vành ngoài của chúng từ Trị - Thiên đến Quảng Nam - Đà Nẵng và Tây Nguyên, bẻ gãy nhiều cuộc hành quân của địch.
Riêng ở đồng bằng sông Cửu Long, lực lượng Chính phủ Cách mạng Lâm thời bao vây bức rút 1000 đồn bốt, phá rã và phá lỏng gần 1600 ấp chiến lược và khu dồn dân của địch. Nửa đầu năm 1970, Mỹ - Nguỵ không dồn thêm được dân, lấn thêm được đất. Tình hình cách mạng miền Nam không còn quá khó khăn như năm 1969. Phong trào chống chiến tranh, chống Mỹ - Thiệu, đòi hoà bình, đòi Mỹ rút quân và thay Thiệu cũng phát triển ở các đô thị.
Ngày 24 tháng 4 năm 1970, Hội nghị cấp cao của nhân dân ba nước Đông Dương - gồm Thủ tướng Phạm Văn Đồng, Luật sư Nguyễn Hữu Thọ, Hoàng thân Sihanuc, Hoàng thân Suphanuvông - được triệu tập ở Quảng Châu (Trung Quốc) đánh dấu một sự phát triển mới của sự đoàn kết chiến đấu chống đế quốc giữa nhân dân ba nước Đông Dương.
Tại Mỹ, trước sức ép của nhân dân và Quốc hội đòi rút thêm quân, ngày 20 tháng 4 năm 1970, Tổng thống Nixon công bố lệnh rút thêm 150.000 quân nữa, từ đó cho đến hết năm 1971. Ông hy vọng rằng đợt rút quân lớn này sẽ làm yên lòng nhân dân Mỹ, đồng thời tăng thêm sức ép Việt Nam. Nhưng việc đưa quân Mỹ sang Campuchia, dù ông gọi là "một hành động tạm thời và hạn chế " nhằm "chấm dứt chiến tranh Việt Nam" đã gây nên một làn sóng phản đối mạnh mẽ trong nhân dân và Quốc hội Mỹ.
Cuối tháng 4 đã có biểu tình phản đối chiến tranh Việt Nam ở hai trăm thành phố lớn nhỏ tố cáo Nixon leo thang chiến tranh. Các báo lớn ở Mỹ lên án ông nuốt lời hứa sẽ rút cam kết ở Đông Nam Á và đi sâu một cách nguy hiểm vào chiến tranh. Họ cho rằng cuộc hành quân của Nixon vào Campuchia là một sự lừa dối, một ảo tưởng. Các cuộc bãi công và biểu tình nổ ra ở khắp nơi trong ngày 1 tháng 5. Phong trào chống chiến tranh mạnh nhất là tại các Trường Cao đẳng và Đại học. Nhiều nơi đã xảy ra xô xát với cảnh sát
Ngày 4 tháng 5, trong một cuộc tập hợp chống chiến tranh tại Trường Đại học Kent, cảnh sát đã bắn chết 4 sinh viên, đổ thêm dầu vào ngọn lửa phản chiến đang bốc cao trong toàn quốc. Hàng ngàn học sinh, sinh viên cùng các giáo sư tiến về Washington tố cáo việc leo thang điên rồ của Chính phủ. Chiều thứ bảy ngày 9 tháng 5, ngày phản đối toàn quốc, một cuộc mít tinh khổng lồ gồm hơn 100.000 người diễn ra cạnh Nhà Trắng. Chính quyền phải điều động quân đội và xe bọc thép đến bảo vệ. Ở các Trường Đại học trong toàn quốc sinh viên bãi khoá, biểu tình ngồi, đốt lửa cầu nguyện cho hoà bình. Nixon phải ra lệnh đóng cửa các trường Đại học. Theo Kissinger, ngay ở Bộ Ngoại giao, 250 viên chức đã ký một bản tuyên bố tỏ ý không tán thành chính sách của Chính phủ, Bộ trưởng Ngoại giao Wilham Roger, Bộ trưởng Quốc phòng Melvin Laird cũng không tán thành đưa quân vào Campuchia, Bộ trưởng Nội vụ Walter Hickel phản đối công khai.
Tại quốc hội Mỹ, ngày 26 tháng 4, đa số Đại biểu đã bỏ phiếu huỷ Nghị quyết về Vịnh Bắc Bộ tháng 8 năm 1964 cho phép Tổng thống đưa quân sang Đông Nam Á. Tiếp đó các cuộc tranh luận về chính sách của Nixon ở Đông Dương diễn ra rất gay gắt. Có dự luật đòi cắt viện trợ cho bọn Lonnol sau 30 tháng 6 năm 1971, có dự luật đòi chấm dứt ngân sách cho chiến tranh Đông Dương vào cuối năm đó hoặc chậm nhất là ngày 31 tháng 12 năm 1971. Cay đắng nhất cho Nixon là Quốc hội Mỹ đã thông qua quyết định đòi Chính quyền rút quân khỏi Campuchia trước ngày 1 tháng 7 năm đó. Ngày 30 tháng 6, Nixon phải ra lệnh rút hết quân Mỹ khỏi Campuchia.
Sau này Nixon viết rằng "Những ngày sau sự kiện xảy ra ở Kent là những ngày đen tối nhất trong nhiệm kỳ Tổng thống của tôi. Tôi thấy vô cùng chán nản" (R. Nixon Hồi ký. Sđd, tr 457).
Kissinger viết: "Chúng ta chấm dứt cuộc hành quân ở Campuchia mà không giải quyết được vấn đề trong một cuộc đấu tranh với một kẻ thù không chịu nổi cùng với một sự chống đối bên trong cũng không chịu nổi" (H.Kissinger. Ở Nhà Trắng Sđd, tr 532 ).
Mỹ đưa quân vào Campuchia, tiếp tục ném bom miền Bắc nhưng vẫn tỏ ra muốn thương lượng.
Ngày 6 tháng 5 năm 1970, một tuần sau khi Mỹ đưa quân vào Campuchia, tướng V. Walters gọi điện thoại ba lần xin gặp Mai Văn Bộ nói là có công hàm của Washington.
Trong phiên họp công khai thứ 66 ngày hôm ấy, trước việc Mỹ ném bom bắn phá liên tục miền Bắc, cả đoàn Việt Nam Dân chủ Cộng hoà và đoàn Chính phủ Cách mạng Lâm thời ra tuyên bố phản đối các hành động chiến tranh nói trên của Mỹ, vi phạm thoả thuận giữa hai bên ngày 30 tháng 10 năm 1968, rồi bỏ về. Bộ trưởng Xuân Thuỷ tuyên bố sẽ rời Paris về nước.
Ngày Bộ trưởng Xuân Thuỷ và bà Nguyễn Thị Bình, Trưởng đoàn Đại biểu Chính phủ Cách mạng Lâm thời, rời Paris thì cũng là ngày Mai Văn Bộ tiếp tướng Walters.
Viên tướng Mỹ đọc thông điệp sau đây cho Mai Văn Bộ:
“Chính phủ tôi đã xem xét một cách đầy đủ những điều liên quan xảy ra từ cuộc gặp gỡ cuối cùng của chúng ta và cho rằng những cuộc thảo luận đó cũng như những sự kiện gần đây nêu rõ sự cần thiết phải có những đề cập mới có thể làm dễ dàng việc tiếp tục cuộc đối thoại có tính chất xây dựng trong diễn đàn này.
Xuất phát từ thái độ đó và từ lòng mong muốn đi tới chấm dứt nhanh chóng cuộc xung đột trên cơ sở công bằng, Chính phủ chúng tôi đề nghị một cuộc gặp nữa giữa Tiến sĩ Kissinger với Bộ trưởng Xuân Thuỷ và Cố vấn đặc biệt Lê Đức Thọ... từ sau ngày 6 tháng 5, vào bất cứ ngày cuối tuần nào thuận tiện đối với Bộ trưởng và Cố vấn đặc biệt".
Hà Nội không vồ vập. Gần một tháng sau, ngày 3 tháng 6, Mai Văn Bộ trao trả lời cho tướng Walters.
"Những lời nói hoà bình của Hoa Kỳ chỉ là lời nói suông, cho nên trong tình hình như vậy một cuộc gặp giữa Cố vấn đặc biệt Lê Đức Thọ và Bộ trưởng Xuân Thuỷ với Tiến sĩ Kissinger như đề nghị đầu tháng 5 của Hoa Kỳ sẽ không đem lại điều gì bổ ích. Tuy nhiên khi nào Hoa Kỳ từ bỏ việc dùng áp lực quân sự và có thái độ nghiêm chỉnh và thiện chí thì Cố vấn đặc biệt Lê Đức Thọ và Bộ trưởng Xuân Thuỷ sẵn sàng gặp lại Cố vấn Kissinger để tìm một giải pháp hoà bình cho vấn đề Việt Nam.".
Mỹ càng tỏ ra hiếu chiến và ngoan cố, ta càng tỏ thái độ vững vàng, cứng rắn. Nhưng ta không cắt cầu.
Tháng 7, sau khi rút quân khỏi Campuchia, theo đề nghị của Kissinger, Nixon cử David K.E. Bruce, khi đó bảy mươi hai tuổi, làm Trưởng đoàn Đại biểu Mỹ tại Hội nghị Kléber. Con một gia đình lớn ở Maryland, ông đã 30 năm trong ngành ngoại giao, đã từng là đại sứ ở Lon don, Paris, Bone. Kissinger thấy ở ông ta một con người có bản lĩnh, một con người "hiểu rằng danh dự một Quốc gia không phải là chuyện thường, người Mỹ không vượt các thế kỷ để phản bội những người đã tin vào lời hứa của Mỹ”. Ông cho rằng ông Bruce sẽ phải cùng đi một đoạn đường dài và gian khổ, nhưng tin rằng bên cạnh Bruce gánh nặng sẽ giảm nhẹ đi.
Ngày 5 tháng 7, tướng Walters chuyển cho Trần Viết Dung, đại diện lâm thời Việt Nam ở Paris, một công hàm của Mỹ đề nghị một cuộc gặp mới vào bất kỳ lúc nào sau 25 tháng 7.
Ngày 18 tháng 7, Trần Viết Dung được chỉ thị trả lời:
“Theo công hàm ông Walters nhờ ông Trần Viết Dung chuyển ngày 5 tháng 7 năm 1970 trong đó Chính phủ Hoa Kỳ đề nghị một cuộc gặp mặt mới... Bộ trưởng Xuân Thuỷ đồng ý gặp Cố vấn Kissinger vào 28 tháng 8 tại Paris”
Nhưng phía Mỹ có lẽ bị ám ảnh là nhận thời hạn do đối phương ấn định là bị động như hồi tháng 2, nên họ đề nghị lui ngày họp vào 7 tháng 9.
Cuộc họp vẫn ở 11 phố Darthé.
Kissinger tỏ vẻ vui mừng được gặp lại Xuân Thuỷ, gửi lời chào Cố vấn Lê Đức Thọ (vắng mặt hôm đó) và cho ta biết đại sứ D.Bruce, nhà ngoại giao có tài, người có đủ thẩm quyền đàm phán về mọi vấn đề, ông nhấn mạnh rằng việc cử Bruce cầm đầu phái đoàn Mỹ ở Hội nghị bốn bên là một việc có ý nghĩa, đáp ứng yêu cầu của ta, là dấu hiệu về thiện chí và đàm phán nghiêm chỉnh của Mỹ.
Đi vào nội dung cuộc gặp, ông ta nói Hoa Kỳ muốn chấm dứt chiến tranh nhanh chóng bằng đàm phán, nhưng vì Hoa Kỳ không làm cho phía Việt Nam đàm phán nghiêm chỉnh được nên Hoa Kỳ buộc phải đi theo con đường khác là rút quân dần dần đi liền với việc tăng cường quân đội Nam Việt Nam.
"Đối với chúng tôi các ngài có nghi kỵ sâu sắc. Sự nghi kỵ sẽ không giảm bớt nếu thời gian trôi đi..."
"Chúng ta sắp sửa đến thời gian mà khả năng giải pháp có thể trôi qua. Vượt quá một mức nào đó thì các ngài sẽ đưa mình vào một cuộc đọ sức bằng vũ khí. Tôi thì không đoán trước được rằng một cuộc đọ sức như vậy với một quân đội Nam Việt Nam được tăng cường và được chúng tôi ủng hộ sẽ chấm dứt như thế nào và bao lâu mới chấm dứt được. Nhưng chúng ta phải thừa nhận rằng một tuyên bố như vậy làm cho một giải pháp thương lượng với Hoa Kỳ càng khó khăn hơn. Thế thì hãy tìm cách đạt được một giải pháp khi còn thì giờ”.
Ông ta nêu ba diễn đàn để làm việc: diễn đàn thứ nhất có ông ta tham gia, diễn đàn thứ hai: gặp gỡ riêng giữa hai Trưởng đoàn, và diễn đàn ở Kléber. Kissinger lại kể ra những hành động thiện chí của Mỹ: chấm dứt ném bom miền Bắc, đã rút quân, đồng ý đàm phán có Mặt trận Dân tộc Giải phóng, đã tuyên bố sẽ rút hết quân Mỹ, và trong một năm rưỡi đã rút gần 200.000 quân... Rồi nói rằng hai điều kiện tiên quyết mà ta đặt ra là không phù hợp như đòi rút đơn phương toàn bộ quân Mỹ và đòi Mỹ gạt những người lãnh đạo Nam Việt Nam.
“Nếu như Hoa Kỳ rút quân không điều kiện và các ngài muốn thay thế Chính phủ Nam Việt Nam thì đó là vấn đề của các ngài, không phải là vấn đề của chúng tôi nữa. Nếu như các ngài muốn đàm phán về vấn đề chính trị với chúng tôi thì các ngài phải bỏ các điều kiện tiên quyết đó đi".
Tiếp đó ông ta muốn đi vào thảo luận cụ thể và đưa ra lịch rút quân 12 tháng: Tháng đầu 5.000, tháng thứ 2 và thứ 3: mỗi tháng 10.000, tháng thứ 4: 45.000, tháng thứ 5: 35.000, tháng thứ 6: 44.000. Ba tháng tiếp theo mỗi tháng 60.000. Tháng thứ 10 và 11: mỗi tháng 20.000. Tháng thứ 12: 15.000.
Ông ta chấp nhận hai nguyên tắc rút quân toàn bộ và cả căn cứ quân sự, đã đưa ra lịch rút quân toàn bộ và nếu được đáp ứng bằng một sự có đi có lại thì có thể đi đến chấm dứt chiến tranh.
Về chính trị, ông ta nhắc lại ba nguyên tắc mà Nixon đã nói hôm 20 tháng 4 là phải phản ánh nguyện vọng của nhân dân Nam Việt Nam, phải phản ánh tương quan lực lượng hiện có, không có sự can thiệp từ bên ngoài, và Hoa Kỳ sẽ tôn trọng kết quả quá trình chính trị mà hai bên đã thoả thuận.
Ông ta thừa nhận nhiệm vụ như vậy là rất khó khăn, nhưng điều quan trọng là chúng ta phải hiểu rõ những giới hạn trong lập trường của mỗi bên. Sự mềm dẻo của Hoa Kỳ là rõ nhưng Hoa Kỳ không nhận thay đổi trước các nhà lãnh đạo Nam Việt Nam. Về Mặt trận, ông nói: dĩ nhiên đó là một thực tế hiện có, và nói chung điều chúng ta phải thoả thuận là phải thừa nhận rằng tất cả các lực lượng chính trị hiện có ở Nam Việt Nam là những thực tế.
Ông ta nhắc lại việc muốn tạo ra một quá trình chính trị, tạo ra các khả năng cho mỗi bên phát huy được sự ủng hộ của nhân dân Nam Việt Nam, "chứ chúng ta không thể bảo đảm rằng bên này hay bên kia sẽ thắng, và hai bên phải thoả thuận tôn trọng kết quả của quá trình đó".
Cuối cùng Cố vấn Kissinger nói rằng Hoa Kỳ không có ý định đánh lừa Việt Nam như hồi năm 1954 và kêu gọi thảo ra một chương trình làm việc để sớm kết thúc chiến tranh.
Bộ trưởng Xuân Thuỷ cũng tỏ ra vui mừng được gặp lại Kissinger, cũng đồng ý về ba diễn đàn như ông ta nêu ra, nhưng thấy rằng phần nói về lý do của Kissinger thì rất dài còn phần nói về thực chất thì quá ngắn.
Một lần nữa Xuân Thuỷ nói: Việt Nam là một nước nhỏ, chỉ muốn sống trong hoà bình và độc lập, tự do, nhưng lại bị xâm lược nên phải chống lại, bất kể đối phương lớn mạnh như thế nào. Không phải chúng tôi thích dùng vũ lực mà chính kẻ xâm lược buộc chúng tôi phải dùng vũ lực để bảo vệ đất nước và cuộc sống.
Bộ trưởng lên án Mỹ dùng vũ lực đẩy mạnh càn quét ở miền Nam Việt Nam, mở rộng chiến tranh sang Campuchia để ép Việt Nam trên bàn đàm phán, nhưng Mỹ đã đẩy nhân dân Campuchia chống lại Mỹ, Mỹ sẽ sa lầy thêm. Thời gian sẽ trả lời.
Hai bên trình bày cách hiểu khác nhau về quyền tự quyết của nhân dân Nam Việt Nam, về vấn đề ai sẽ đứng ra tổ chức tuyển cử ở Nam Việt Nam, làm sao để có tuyển cử công bằng.
Kissinger nhấn mạnh hai điểm mới trong vấn đề rút quân của ông: thừa nhận rút toàn bộ kể cả căn cứ quân sự, và lần đầu tiên ông ta đưa ra một kế hoạch cụ thể từng tháng mà 4/5 quân số sẽ rút trong chín tháng. Ông ta cũng nói áp lực của Bắc Việt Nam là áp lực từ bên ngoài và sẵn sàng tìm ra những phương pháp làm cho nhân dân Nam Việt Nam có thể tự do phát biểu nguyện vọng của mình thông qua các tổ chức mà người ta có thể tìm; phía Việt Nam đã thiếu kiên nhẫn đối với quan niệm về Uỷ ban tuyển cử hỗn hợp; phía Mỹ không quan tâm người ta gọi cái đó là cái gì.
Ông ta đề nghị bàn cụ thể về việc thành lập Chính phủ như thế nào. Ông ta nói rằng ông tin vào sức thuyết phục của Việt Nam Dân chủ Cộng hoà đối với Chính phủ Cách mạng Lâm thời và phía Việt Nam hãy tin vào sức thuyết phục của Mỹ còn nhiều khi quân Mỹ còn đông, nếu như còn lâu mới đạt được một giải pháp thì sự có mặt của quân Mỹ ít đi, sức thuyết phục của Mỹ cũng ít đi.
Kissinger đề nghị bàn vấn đề rút quân trong một vài phiên họp nữa. Còn về chính trị nên bàn một cách chính xác việc tổ chức tuyển cử ở miền Nam như thế nào. Ông ta cho rằng nếu thoả thuận được về một cuộc bầu cử tự do thật sự thì việc Bộ trưởng Xuân Thuỷ đòi thay thế Thiệu - Kỳ - Khiêm chỉ còn là lý thuyết thôi.
Kissinger tiếp:
- Tôi xin hỏi Bộ trưởng, tôi có thể báo cáo với ông Nixon rằng cách đề cập tổng quát như vậy về nguyên tắc có thoả thuận được không?
Xuân Thuỷ không trả lời câu này mà nhắc lại việc lập Chính phủ liên hiệp theo ba bước đã nói trước đây, rồi thêm:
- Chúng tôi không sợ gì cả - đe doạ cũng không sợ - kéo dài hay mở rộng chiến tranh cũng không sợ, chỉ muốn giải quyết thế nào cho hợp lý.
Kissinger lại hỏi:
- Nếu ông Nixon hỏi tôi, và chắc chắn ông ta sẽ hỏi, là tôi sang đây đạt được gì, Bộ trưởng nói gì khác hơn ở Kléber, thì Bộ trưởng bảo tôi thế nào?
Xuân Thuỷ vui vẻ trả lời:
- Khó gì đâu, ông hãy trả lời rằng: vì ông Tổng thống giao cho ông Cố vấn nhiệm vụ sang đây không nói gì mới, nhất là về vấn đề chính trị, nên Bộ trưởng Xuân Thuỷ cũng không nói gì mới. Tuy ông Xuân Thuỷ không nói gì mới nhưng sau khi trao đổi, ông Xuân Thuỷ giải thích rõ hơn và có lý hơn, cho nên vấn đề chính là Tổng thống phải thay đổi chính sách hiện nay. Còn về vấn đề quân sự, các ông để ra 12 tháng rút hết quân, bà Bình đề ra 6 tháng, phải xem cái nào hợp hơn.
Kissinger từ đầu đến giờ không nói gì đến việc rút quân miền Bắc liền đáp:
- Giải quyết vấn đề rút quân phải tuỳ thuộc vào việc giải quyết các vấn đề khác. Nếu không phải giải quyết các vấn đề khác thì vấn đề rút quân cũng không giải quyết được.
Ông lại hỏi Xuân Thuỷ:
- Có thể về lý thuyết có khả năng là sau khi nghiên cứu ý kiến của chúng tôi, Bộ trưởng thấy có một số điểm nào hợp lý thì Bộ trưởng có thay đổi gì không?
Hai bên phải nghiên cứu ý kiến của nhau. Về điểm Thiệu - Kỳ - Khiêm thì tôi không đồng ý với ông. Ông có thể nói với Nhà Trắng nhiều cách: ông nói là ông đã nói hết lý lẽ rồi, cũng có đe doạ một tý rồi, nhưng không hề làm cho ông Xuân Thuỷ lung lay. Sau đó thoả thuận là hai bên trở về nghiên cứu ý kiến của nhau.
- Tôi không bao giờ đe doạ Bộ trưởng đâu?
Hai bên hẹn gặp lại nhau ngày 27 tháng 9. Kissinger nói thêm rằng:
- “Chúng tôi biết các ngài đã tồn tại hai ngàn năm không phải là do nhân nhượng và mềm dẻo đâu, và... tôi không tìm cách đánh lừa các ngài... Con đường này là con đường tốt nhất, duy nhất dề nhanh chóng chấm dứt chiến tranh".
Rồi ông ta kêu gọi phía Việt Nam hãy xem xét những điểm thay đổi đem lại sức sống và sự khẩn trương trong đàm phán. Về điểm này Bộ trưởng Xuân Thuỷ tán thành.
Trước khi ra về, nhân việc Xuân Thuỷ nói về Mỹ sa lầy, Kissinger kể một câu chuyện Nga:
- “Có một người hớt hơ hớt hải chạy vào làng kêu cứu ông Mikhailôvic vì ông đã ngập đến đầu gối rồi. Dân làng chạy ra và bảo: hốt hoảng gì vì ông ta mới ngập tới mắt cá chân. Nhưng khổ là ông ta đã ngả đầu chúc xuống vũng lầy, chứ không phải đi vào vũng lầy đâu!".
Xuân Thuỷ không bình luận về câu chuyện này, nhưng khi Kissinger yêu cầu giữ bí mật cuộc họp thì nói:
- Sẽ không bị sa lầy trong việc bị lộ.
Đây là lần đầu tiên Mỹ đưa ra lịch rút quân Mỹ trong 12 tháng mà không nói gì đến việc đòi miền Bắc rút thế nào, chỉ nói lấp lửng “đáp ứng" đồng thời lại nói có giải quyết được vấn đề khác (chính trị) mới giải quyết vấn đề rút quân. So với lần trước thì hình như có sự nhân nhượng và có phần mềm dẻo hơn, nhất là về quân sự. Đây là một cái bẫy. Tuy Mỹ còn nhiều khó khăn, nhưng lực lượng của họ còn mạnh, họ còn rất ngoan cố. Khó khăn chưa buộc Mỹ phải nhân nhượng mà tình hình chiến trường lại đang có lợi cho Mỹ để giải quyết trong lúc này, đồng thời giải quyết trong lúc này cũng có lợi cho Mỹ trong bầu cử Quốc hội.
Trước đây Kissinger nhấn mạnh hai bên cùng rút quân vì lúc đó chủ lực của ta còn nhiều ở miền Nam. Nay Mỹ biết rõ chủ lực ta đã rút đi nhiều và lực lượng du kích cũng yếu cho nên họ đặt vấn đề rút mà không nói rõ lực lượng ta phải rút - đồng thời lại nhấn mạnh giải quyết vấn đề chính trị. Đặt vấn đề như vậy rất có lợi cho họ vì so sánh lực lượng vẫn nghiêng và có lợi cho Mỹ sau khi rút quân Mỹ. Hơn nữa, sau khi ký kết hai bên sẽ không được tăng lực lượng, lực lượng ta ở Campuchia không trở lại miền Nam được và họ sẽ đặt vấn đề giải quyết cùng lực lượng nguỵ trong đàm phán riêng về Campuchia. Như vậy họ định lấy vấn đề ta rút quân để đổi lấy việc ta nhân nhượng họ về chính trị. Họ muốn có cả ưu thế quân sự và ưu thế chính trị.
Kissinger không nhắc đến vấn đề Lào và Campuchia, vì có thể muốn tìm cách giải quyết riêng ba vấn đề, sau đó có Hội nghị Quốc tế bảo đảm cho cả ba nơi.
Đợt tấn công ngoại giao tháng 9 của Chính phủ Cách mạng Lâm thời
Ngày 1 tháng 9 năm 1970, Quốc hội Mỹ lại thảo luận dự luật bổ sung của hai Thượng nghị sĩ Mc Govern và Hatfield đòi rút quân Mỹ khỏi miền Nam chậm nhất vào 31 tháng 12 năm 1971. Từ khi mới đưa ra, dự luật này đã được các nhà bình luận thời sự của các báo lớn ở Mỹ ủng hộ rộng rãi. Họ cho rằng với dư luận này sẽ chấm dứt lối bài bây của Chính quyền và nếu Chính quyền chống lại thì tự mình sẽ bỏ rơi mặt nạ hoà bình mà chỉ cốt tìm kiếm thắng lợi quân sự. Nếu dự luật đó được thông qua thì Chính quyền Nixon sẽ bị bó tay, Chiến lược Việt Nam hoá sẽ lâm nguy, Mỹ sẽ mất một sự ủng hộ của đồng minh đã gửi quân tham chiến ở Việt Nam, và thế thương lượng của Mỹ ở Paris sẽ bị suy yếu nghiêm trọng, và đối phương sẽ được cổ vũ thêm, càng quyết tâm hơn.
Dự luật đó đã bị bác bỏ với năm mươi lăm phiếu chống và ba mươi chín phiếu thuận, nhưng có tới ba mươi chín Thượng nghị sĩ ủng hộ là một con số không lấy gì làm vui cho Chính quyền Nixon. Chắc chắn con số đó sẽ tăng lên nếu chiến tranh kéo dài.
Đàm phán vẫn bế tắc, dư luận thế giới cũng đòi hỏi phải phá vỡ bế tắc ở Hội nghị Paris. Ở miền Nam, Chính phủ Cách mạng Lâm thời chưa đánh được những trận lớn, nhưng phong trào đấu tranh của nhân dân các đô thị chống Mỹ - Thiệu, đòi Mỹ rút quân, lập lại hoà bình, phát triển. Trước tình hình đó, Chính phủ Cách mạng Lâm thời chủ trương mở đợt tấn công ngoại giao phục vụ cho chiến trường, tranh thủ dư luận và cô lập thêm Chính quyền Nixon.
Ngày 17 tháng 9, sau cuộc gặp Xuân Thuỷ - Kissinger, tại Hội trường Kléber, bà Bộ trưởng Trưởng đoàn Đại biểu Chính phủ Cách mạng Lâm thời đưa ra đề nghị tám điểm - nói rõ thêm về một giải pháp chính trị cho vấn đề Việt Nam. Những điểm chủ yếu trong kế hoạch này là:
1 - Rút hết quân Hoa Kỳ và quân nước ngoài thuộc phe Hoa Kỳ ra khỏi miền Nam trước ngày 30 tháng 6 năm 1971. Trong trường hợp đó, các lực lượng vũ trang giải phóng sẽ không đánh vào quân Mỹ đang rút và các bên sẽ thảo luận ngay.
Vấn đề bảo đảm an toàn cho quân Mỹ rút;
Vấn đề thả các quân nhân bị bắt.
2 - Thành lập ở Sài Gòn một Chính quyền không có Thiệu - Kỳ - Khiêm, một Chính quyền tán thành hoà bình, độc lập, trung lập chăm lo cải thiện đời sống cho dân, thi hành các quyền tự do dân chủ, trả lại tự do cho những người bị giam giữ vì lý do chính trị, giải tán các khu tập trung để nhân dân trở về quê cũ làm ăn. Chính phủ Cách mạng Lâm thời sẵn sàng nói chuyện ngay với một Chính quyền như vậy để tìm một giải pháp chính trị nhằm chấm dứt chiến tranh, lập lại hoà bình ở Việt Nam.
Kế hoạch còn đưa ra công khai việc lập Chính phủ liên hiệp lâm thời ba thành phần đứng ra tổ chức bầu cử, thành lập Quốc hội, và bầu ra Chính phủ chính thức.
Còn các vấn đề khác như: giải quyết các lực lượng vũ trang Việt Nam ở miền Nam, vấn đề thống nhất, bảo đảm ngừng bắn... Chính phủ Cách mạng Lâm thời nêu như trong mười điểm năm 1969.
Vấn đề rút quân và thả tù binh trong đó có phi công Mỹ bị bắt là hai vấn đề lớn được dư luận Mỹ quan tâm. Chính phủ Cách mạng Lâm thời còn tuyên bố sẵn sàng nói chuyện ngay với các lực lượng hoặc cá nhân thuộc mọi xu hướng chính trị, tôn giáo ở trong và ngoài nước để tiến tới một giải pháp nhanh chóng.
Đề nghị tám điểm nói rõ thêm được dư luận thế giới quan tâm. Nhiều báo Mỹ nhận thấy có điểm mới và lại yêu cầu Chính quyền Nixon nắm lấy cơ hội. Ở miền Nam Việt Nam nhiều báo trích đăng, có báo đăng toàn văn. Có Đại biểu trong Quốc hội Sài Gòn họp báo đưa ra tuyên bố trong đó có một số nội dung như tám điểm.
Các nước không liên kết cũng tỏ vẻ ủng hộ tám điểm - và ít lâu sau, Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam được mời đi dự Hội nghị cấp cao của phong trào không liên kết ở Lusaka.
Một sự kiện có nhiều ý nghĩa là Trung Quốc thay đổi thái độ. Trước đây Trung Quốc cho ta đã sai lầm khi nhận đàm phán với Mỹ thì ngày 23 tháng 9 năm đó, Chủ tịch Mao Trạch Đông nói với Thủ tướng Phạm Văn Đồng đang ở thăm Bắc Kinh rằng: “Đàm phán đã hai năm rồi, năm đầu chúng tôi lo các đồng chí mắc lừa địch. Nhưng bây giờ chúng tôi không lo nữa. Nói tóm lại một câu: ở tiền tuyến các đồng chí đánh tốt, trong đàm phán ngoại giao phương châm của các đồng chí là đúng".
Ngày 27 tháng 9, diễn ra cuộc họp riêng mới giữa Xuân Thuỷ và Kissinger. Xuân Thuỷ trình bày rõ hơn tám điểm, nhấn mạnh lịch rút quân của Chính phủ Cách mạng Lâm thời dài hơn thời hạn đã đưa ra trước đây và nhấn mạnh Mỹ phải rút quân nhiều ngay từ đầu, rút quân chiến đấu trước, bao gồm bộ binh, pháo binh, không quân... Bộ trưởng lại phê phán việc Mỹ bám giữ Thiệu - Kỳ - Khiêm, nhắc lại ba bước lập Chính phủ liên hiệp ở miền Nam.
Kissinger đặt ra nhiều câu hỏi và nhận xét rằng đề nghị mới này có hậu quả thực tế là trở lại đề nghị rút quân sáu tháng trước đây mà Mỹ đã bác bỏ. Về vấn đề chính trị, ông nhận xét rằng khi Xuân Thuỷ nói gạt bỏ Thiệu - Kỳ - Khiêm thì không phải chỉ gạt bỏ ba người đó mà gạt cả lực lượng mà ba người đó đại diện. Ông cũng cho rằng phía Việt Nam giành quyền xác định ai là người tán thành hoà bình trung lập, tức là phía ta đã quyết định hai trong ba thành phần của Chính phủ liên hiệp và thực tế có thể nói là phía ta quyết định ba thành phần trong Chính phủ liên hiệp. Ông thuyết phục Xuân Thuỷ cứ tổ chức quá trình chính trị như ông đã nói để nhân dân Nam Việt Nam phát biểu sự lựa chọn của mình. Nếu nhận định của ta là đúng thì Thiệu - Kỳ - Khiêm sẽ bị gạt ra. Nếu nhận định của ta không đúng thì yêu cầu ta chấp nhận kết quả của quá trình chính trị đó. Ông cũng kêu gọi ta thả những tù binh Mỹ cho họ trở về gia đình như một cử chỉ thiện chí.
Trước thái độ cứng rắn của Xuân Thuỷ, ông ta tỏ vẻ buồn, cho là không thể tiếp tục để đạt được kết quả ở diễn đàn này nữa. Nhưng ông cũng kết luận:
“Về khía cạnh quân sự, sự khác nhau giữa hai bên đã khá thu hẹp để cho mọi điều khác có thể giải quyết được và chúng ta có thể đi đến giải quyết vấn đề này".
Còn về vấn đề chính trị, tất nhiên ông ta không đồng ý với Xuân Thuỷ rằng còn Thiệu - Kỳ - Khiêm thì không giải quyết được vấn đề. Nhưng ông ta cũng thêm:
- “Chúng tôi chấp nhận cùng các ngài định ra các phương pháp để các nhóm tham gia vào cuộc đọ sức chính trị ở miền Nam Việt Nam được tổ chức lãnh đạo và giám sát tuyển cử, nghĩa là các lực lượng gồm Chính quyền Sài Gòn, Chính phủ Cách mạng Lâm thời và các lực lượng chính trị khác sẽ tham gia bầu cử".
Đối với Nixon, cuộc hành quân ở Campuchia là "Cuộc hành quân thắng lợi nhất của cuộc chiến tranh Việt Nam", do đó ông cho rằng lần đầu tiên Mỹ có thể tính đến một Hiệp định ngừng bắn ở Nam Việt Nam mà không coi việc rút quân miền Bắc Việt Nam làm một điều kiện tiên quyết. Từ ý nghĩ đó, ông vạch ra một kế hoạch năm điểm trình bày trước truyền hình ngày 7 tháng 10 năm 1970:
1 - Ngừng bắn trên toàn Đông Dương và giữ nguyên trạng.
2 - Họp Hội nghị hoà bình về Đông Dương.
3 - Thương lượng một lịch rút hết quân Mỹ, coi đó là một bộ phận của giải pháp toàn bộ.
4 - Giải pháp chính trị dựa trên hai nguyên tắc: phản ánh ý chí của nhân dân miền Nam, phản ánh tương quan lực lượng chính trị hiện nay ở miền Nam.
5 - Thả ngay và không điều kiện toàn bộ tù binh và những người của hai bên bị giam giữ (R.Nixon. Hồi ký Sđd, tr 468-469).
Năm ngày sau, Nixon lại thông báo thêm một đợt rút 40.000 quân trước Noel.
Với hai quyết định đó, ông ta tin rằng sẽ đẩy được trách nhiệm trì hoãn thương lượng về phía người Việt Nam.
Trong điều kiện tương quan lực lượng ở miền Nam không thuận lợi cho cách mạng thì những đề nghị ngừng bắn nói trên của Nixon có lợi cho quân Mỹ và quân Nguỵ. Hơn nữa Nixon còn tranh thủ dư luận Mỹ và dư luận thế giới với đề nghị thả tù binh và họp Hội nghị quốc tế về vấn đề Đông Dương lúc Hội nghị Paris về Việt Nam bế tắc.
Hôm sau, tại Hội nghị bốn bên, Xuân Thuỷ phê phán mạnh mẽ kế hoạch của Nixon. Một số báo chí Mỹ lại cho rằng việc Việt Nam đòi có một thứ Chính phủ liên hiệp nào đó là một mục tiêu mà họ đã đấu tranh trong nhiều năm, họ sẽ không chịu từ bỏ, và A.Harriman cho rằng Chính quyền Nixon đã không có cố gắng nào để đi đến một sự thoả thuận.
Cuối năm, cuộc bầu cử bổ sung vào Quốc hội Mỹ diễn ra sôi nổi. Trong khi vận động cho các ứng cử viên của Đảng Cộng hoà. Nixon luôn tìm cách đả kích phong trào chống chiến tranh. Nhưng khi đi thăm San Jose (California) ông ta đã bị 2.000 người biểu tình vây quanh và hô vang khẩu hiệu: "Chúng tôi không muốn cuộc chiến tranh chết tiệt của ông", "Nixon là tên tội phạm chiến tranh "... và ông đã được tặng hàng loạt... trứng thối và cà chua (Như trên, tr 492-493.).
Ở miền Bắc Việt Nam, trong hai ngày 20 và 21 tháng 11, Mỹ cho máy bay bắn phá ồ ạt - trên 200 lần chiếc một ngày, ngang mức trung bình trước khi chấm dứt ném bom, và đêm hôm đó chúng dùng máy bay tập kích vào trại giam tù binh Mỹ ở gần thị xã Sơn Tây hòng cứu bọn giặc lái, nhưng họ chỉ thấy mấy con trâu và bỏ lại một máy bay trực thăng bị gãy cánh.
Ngày 10 tháng 12, tại Hội nghị bốn bên, bà Nguyễn Thị Bình lại đưa ra đề nghị ba điểm về ngừng bắn:
- Ngừng bắn với quân Mỹ, với thời hạn rút quân là 30 tháng 6 năm 1971;
- Ngừng bắn với quân Nguỵ, ngay sau khi Chính phủ Cách mạng Lâm thời thoả thuận với Chính phủ Việt Nam Cộng hoà không có Thiệu - Kỳ - Khiêm thành lập Chính phủ liên hiệp lâm thời ba thành phần;
- Các bên liên quan bàn các biện pháp tôn trọng và thi hành ngừng bắn.
Vào dịp Noel, đoàn Việt Nam Dân chủ Cộng hoà ở Paris trao danh sách các phi công Mỹ bị bắt ở miền Bắc cho một số Thượng nghị sĩ Mỹ chống chiến tranh, trong đó có Fulbright, Kennedy, và đại diện phong trào chống chiến tranh, tước đi của Nixon một con bài quan trọng mà ông ta thường dùng để kích động dư luận Mỹ chống ta.
Trong hai năm đầu cầm quyền, Tổng thống Nixon đã ra sức thực hiện Việt Nam hoá chiến tranh, lén lút dùng B52 ném bom cơ quan đầu não của Mặt trận Dân tộc Giải phóng trong 14 tháng, liều lĩnh đưa quân Mỹ vào nước Campuchia trung lập, đẩy mạnh hoạt động quân sự của bọn tay sai Lào, hạ thấp Hội nghị bốn bên ở Paris, nhưng Mỹ vẫn chưa thoát khỏi thế bị động ở miền Nam Việt Nam, trong nước Mỹ và trên thế giới. Ông ta lo sợ phái bồ câu ở Quốc hội thắng thế và thông qua lọt một nghị quyết đòi rút hết quân Mỹ hay cắt hết mọi ngân sách cho Đông Dương. Cuộc đàm phán với Liên Xô về SALT thụt lùi. Từ Bắc Kinh chưa có một tín hiệu nào về sự khai thông. Nền kinh tế sa sút thảm hại, đồng đô la xuống mức thấp nhất từ năm 1949. Tỷ lệ thất nghiệp cao nhất từ năm 1961. Khó khăn tưởng như không giải quyết được. Và Nixon lo năm 1972 không trúng cử một nhiệm kỳ mới.
Sang năm 1971, Việt Nam còn là vấn đề hàng đầu.