Các Cuộc Thương Lượng Lê Đức Thọ - Kissinger Tại Paris

.

Cuộc hẹn ngày 19 tháng 7: Bước chuyển

Trong những tháng hê năm đó, chiến sự ở miền Nam có vẻ lắng dịu. Quân nguỵ Sài Gòn, với sự trợ giúp của không, hải quân Mỹ vẫn ra sức nhằm phản kích chiếm lại các vùng đã mất, nhất là Quảng Trị, nhưng vẫn không thành công. Lực lượng của ta cũng không giành được thêm thắng lợi lớn. Địch vẫn giữ được An Lộc.

Nhưng nội tình nước Mỹ vẫn không ổn định. Những bước leo thang của Nixon đã bị dư luận Mỹ và phe đối lập chỉ trích mạnh mẽ. Họ gọi đó là “một hành động quân sự vô ích trong lúc tuyệt vọng - một hành động mất danh dự". Rất nhiều giám đốc các trường Đại học bày tỏ sự lo ngại của họ không thể ủng hộ một sự nghiệp quá mất lòng dân. Việc ném bom vào các đê điều càng bị lên án gay gắt.

Đợt rút quân phụ tuyên bố hồi tháng 5 đã hết, Nixon phải tuyên bố thêm một đợt rút quân mới 10.000 người bắt đầu từ tháng 7.

Tại Quốc hội, ở Thượng viện cũng như Hạ viện, nhiều dự luật đã được đưa ra đòi Nixon rút hết quân về nước với điều kiện duy nhất là lấy được tù binh. Xu hướng này ngày càng tăng, chiếm đa số trong các thượng nghị sĩ Mỹ.

Họ chỉ muốn Mỹ rút đi, còn chiến tranh có tiếp diễn hay không là chuyện của Sài Gòn và đối phương của họ.

Ngày 10 tháng 7, Thượng nghị sĩ Mac Govern, người chủ trương chấm dứt dính líu không điều kiện ở Việt Nam và chấm dứt viện trợ quân sự cho Sài Gòn, được Đại hội Đảng Dân chủ đưa ra tranh cử Tổng thống. Nixon đứng trước một cuộc chạy đua gay gắt vào Nhà Trắng.

Cuộc họp giữa Cố vấn Lê Đức Thọ và Bộ trưởng Xuân Thuỷ với Tiến sĩ Kissinger hôm 19 tháng 7, vẫn ở số nhà 11 phố Darthé, trong căn buồng có cửa sổ nhìn ra ngoài vườn. Hai bên có lý do để tỏ ra vui mừng khi gặp nhau. Cố vấn Nhà Trắng tươi cười hơn lần trước có lẽ vì tình hình chiến trường không quá đỗi bi đát như ông ta nghĩ hồi tháng 4 và 5. Còn Lê Đức Thọ và Xuân Thuỷ hết sức phấn khởi về thế trận mới ở miền Nam và vừa nhận được hướng dẫn rõ mục tiêu đấu tranh từ tối đa đến tối thiểu về quân sự, chính trị các vấn đề sách lược cụ thể và cả về cách tiến hành đàm phán.

Cả hai bên đều tỏ ra hữu nghị, bắt tay nhau.

Kissinger chủ động đề nghị hai bên đưa tin về cuộc gặp này mà không nói gì đến nội dung, với lý do rằng các phóng viên theo dõi ông rất chặt chẽ suốt hai mươi tư giờ. Thật ra đây là thủ đoạn mập mờ để phục vụ tuyển cử ở Mỹ đã bước vào thời kỳ sôi động. Rồi ông ta đọc dự thảo bản tin sẽ công bố ở Washington vài giờ tới. Từ hôm đó cho đến các cuộc họp sau Kissinger đều đưa ra yêu cầu này mỗi khi họp riêng. Hôm ấy Lê Đức Thọ và Xuân Thuỷ đồng ý, nhưng sau cuộc họp đoàn ta thấy rằng nhẽ ra ta không đồng ý thì hơn vì Mỹ sẽ lợi dụng việc ta đồng ý để gây ảo tưởng trong dư luận. Ta không đồng ý thì Mỹ cũng công bố, nhưng trách nhiệm thuộc về họ. Và từ lần sau, Xuân Thuỷ đã bác bỏ đề nghị đó của Kissinger.

Tiếp đó Kissinger lại đề cập đến các tin tức về việc ta thả tù binh cho phe đối lập, có ý ngăn cản ta về việc này nhưng ông ta mất công vô ích.

Kissinger nói rằng ông đến gặp ta lần này trong một cố gắng cuối cùng nhưng trước khi đi vào nội dung, ông ta đã có một bản thuyết trình dài. Ông ta kể rằng Mỹ đã giải quyết được những vấn đề rất quan trọng với các nước khác, thậm chí với những nước hai mươi năm nay không có quan hệ gì với Hoa Kỳ, hoặc những nước đã đối địch hàng chục năm với Hoa Kỳ. Các nước đó đã chú ý giải quyết không những vấn đề hiện nay, mà cả những vấn đề sau này. Và khi Hoa Kỳ đã làm việc đó Hoa Kỳ rất thận trọng cố giữ lời cam kết. Nhưng ông ta cũng thanh minh ngay rằng ông ta không bàn vấn đề Việt Nam với các nước đó. Ông nói rằng Hoa Kỳ đạt được kết quả ở Bắc Kinh và Matxcơva vì có sự tin cậy lẫn nhau tối thiểu... cuối cùng ông ta nói Hoa Kỳ nghiêm chỉnh muốn chấm dứt chiến tranh Việt Nam.

Kissinger không quên đổ lỗi cho ta cho đến nay dùng đàm phán không phải để giải quyết mà cốt để gây sức ép trong dư luận, còn trong gặp riêng thì tìm cách làm cho Mỹ có nhân nhượng bí mật điều mà không chịu nhận công khai.

Kissinger nói rằng Việt Nam vẫn hiểu lầm về mục đích của Mỹ. Ông ta thừa nhận rằng đúng là từ trước tới nay Hoa Kỳ có ý định tách vấn đề quân sự và vấn đề chính trị nhưng không phải Hoa Kỳ tìm cơ hội để trở lại Việt Nam, không tìm cách kéo dài mãi chiến tranh mà chỉ tìm cách tách vấn đề Mỹ tham gia trực tiếp vào Việt Nam khỏi vấn đề chính trị là với ý định sau này giải quyết vấn đề chính trị ở Việt Nam là tuỳ thuộc vào điều kiện Việt Nam chứ không phải tuỳ thuộc vào hành động của Mỹ. Hoa Kỳ làm việc đó rất chân thật chứ không phải vì Hoa Kỳ muốn trở lại Việt Nam.

Kissnger cũng cho rằng Việt Nam đã bỏ lỡ thời cơ năm 1971, bỏ lỡ cơ hội ngày 2 tháng 5 vừa qua, lúc đó tình hình quân sự của Việt Nam tốt hơn bây giờ, mà thế quân sự tốt hơn thì khả năng về chính trị cũng tốt hơn. Ông ta nhắc lại Mỹ không phản đối các mục tiêu của Việt Nam nhưng không muốn thực hiện các mục tiêu đó hộ ta

Sau hơn nửa giờ, Cố vấn Nhà Trắng mới tóm lại chính sách của Mỹ ở Việt Nam là muốn tìm một giải pháp. Ông nói:

Trong một thời kỳ mà Hoa Kỳ giảm bớt sự có mặt ở châu Á, không có gì thúc đẩy Hoa Kỳ giữ quân đội, giữ căn cứ, giữ ưu thế chính trị trong góc nhỏ bé của châu Á gọi là Việt Nam này.

Trong khi Hoa Kỳ có thể chấp nhận những Chính phủ không thân Mỹ ở những nước to lớn thì tại sao Hoa Kỳ cứ đòi có Chính phủ thân Mỹ ở Sài Gòn.

Hoa Kỳ có thể chung sống với Bắc Kinh và Matxcơva thì có thể chung sống với Hà Nội được. Sau này Hoa Kỳ không phải là mối đe doạ đối với Việt Nam. Một khi chiến tranh chấm dứt, Hoa Kỳ hoàn toàn có lợi nếu có một nước Việt Nam độc lập, tự chủ, phồn vinh, nhân dân Việt Nam là một nhân tố vĩnh viễn ở Đông Dương, còn Hoa Kỳ thì rời khỏi khu vực này cách xa mười hai ngàn dặm. Hoa Kỳ thành thật muốn thương lượng một giải pháp, giải pháp đó tôn trọng nền độc lập của Việt Nam và đáp ứng những quan tâm hợp lý của Việt Nam.

Hoa Kỳ quan tâm đến một khu vực Đông Nam Á độc lập và trung lập chứ không quan tâm đến những căn cứ hoặc những khối liên minh với Mỹ. Hoa Kỳ không gắn bó với một nhân vật chính trị cụ thể nào ở Nam Việt Nam. Hoa Kỳ sẵn sàng để cho tình hình chính trị ở Nam Việt Nam tiến triển một cách tự nhiên không có sự có mặt của Hoa Kỳ hoặc bị ảnh hưởng bởi ưu thế của Hoa Kỳ.

Sau khi đã nêu lên các nguyên tắc trên, Kissinger đề ra một điều tất yếu là không bên nào được áp đặt một giải pháp quân sự cho bên kia. Kết quả chính trị ra sao để cho nhân dân Nam Việt Nam quyết định, việc Mỹ rút ra không phải chỉ là một hành động quân sự mà còn là một quyết định chính trị có ảnh hưởng chính trị sâu sắc ở Đông Nam Á.

Ông ta còn nói thêm rằng bất cứ cố gắng nào nhằm lợi dụng cuộc đàm phán này để ảnh hưởng đến cuộc bầu cử ở Mỹ chỉ làm cho một giải pháp chậm lại đến sau bầu cử (Khi hỏi lại thì ông ta nói rõ rằng bất cứ một cố gắng nào nhằm lợi dụng cuộc đàm phán này để ảnh hưởng đến cuộc bầu cử ở Mỹ thì Mỹ sẽ ngừng đàm phán đến sau bầu cử ở Mỹ. Và đến sau bầu cử thì phía Việt Nam cũng không đạt được điều kiện tốt hơn đâu).

Cuối cùng ông ta đề nghị một chương trình làm việc, định ra mục tiêu tổng quát, định ra thời gian biểu cụ thể. Một lần nữa ông ta nói không bên nào có thể đánh lừa được bên kia. Mỹ đã ký được nhiều Hiệp định với Liên Xô trong một tuần ở Matxcơva và đã thực hiện tất cả các điều đã ký kết. Việt Nam đã thử mọi con đường, tại sao không thử con đường này...

Lê Đức Thọ lại nói khá lâu về truyền thống vẻ vang chống ngoại xâm, về quyết tâm của nhân dân ta. Đây là những lời quá quen thuộc và không phải không có tác dụng đối với Kissinger và những người tham dự buổi họp. Ông cũng nêu rõ nguyên nhân đàm phán bốn năm qua không giải quyết được là do Mỹ mở rộng chiến tranh, và đòi Mỹ chấm dứt ném bom và thả mìn phong toả miền Bắc:

- Chúng tôi tự hỏi nếu Mỹ thật sự muốn thương lượng nghiêm chỉnh để tìm ra một giải pháp thoả đáng thì có thể nào Mỹ cứ tiếp tục ném bom và phong toả miền Bắc như vậy... Tiếp tục đánh phá miền Bắc, tiếp tục Việt Nam hoá chiến tranh ở miền Nam thì không khuất phục được chúng tôi, không giải quyết được vấn đề mà càng làm cho Mỹ dính líu sâu vào không biết bao giờ rút ra được... Đã đến lúc các ông cùng chúng tôi cần đi vào thảo luận những vấn đề về thực chất... Việc giải quyết hoà bình phải là trực tiếp giữa chúng tôi và các ông. Các ông tìm những con đường khác và dùng thủ đoạn ngoại giao nào khác chỉ là uổng công vô ích, nhất định không thể giải quyết được.

Lê Đức Thọ tỏ ý nghi ngờ về lòng thành thật của Mỹ trong việc thực hiện các điều đã ký kết. Ông nói:

- Chúng tôi đã thương lượng và ký kết với các ông nhiều lần nhưng các Hiệp định đó đều bị các ông xé bỏ, cho đến cả thoả thuận hồi tháng 10 năm 1968 về chấm dứt ném bom miền Bắc các ông cũng không tôn trọng. Ngay việc nhỏ hơn như việc không công bố các cuộc gặp riêng các ông cũng không bao giờ giữ lời hứa. Chúng tôi đã bị lừa gạt quá nhiều.

Bộ trưởng Xuân Thuỷ tiếp lời Lê Đức Thọ nói một cách tổng quát mục tiêu chiến đấu của nhân dân ta, chính sách của ta đối với Lào và Campuchia, lòng mong muốn có một Đông Nam Á hoà bình ổn định hợp tác với nhau, và chính sách của ta đối với Mỹ sau này. Bộ trưởng cũng nhắc lại sự hợp tác Việt - Mỹ rất tốt đẹp trong thời kỳ chống Nhật, và nói thêm:

- Không phải ngẫu nhiên mà bản Tuyên ngôn Độc lập ngày 2 tháng 9 năm 1945 của Việt Nam Dân chủ Cộng hoà lại bắt đầu bằng câu trích trong Tuyên ngôn Độc lập của nước Mỹ cách đây gần hai trăm năm. Điều đó chứng tỏ ngay khi mới giành được độc lập khi dân tộc Việt Nam bắt đầu một trang sử mới, chúng tôi đã có thiện ý muốn có quan hệ với nước Mỹ trên một cơ sở mới.

Cố vấn Nhà Trắng Kissinger nhắc lại vì tình hình trên thế giới làm cho Hoa Kỳ khi xét đến việc tiếp tục trở lại Việt Nam như trước đây thì không có lý... Hoa Kỳ có trách nhiệm với cả thế giới nên trong khi giải quyết vấn đề Việt Nam, một số khía cạnh Hoa Kỳ phải nghĩ đến hậu quả của sự giải quyết đó đến các khu vực mà Việt Nam không quan tâm.

Về nghi ngờ của ta, Kissinger nói nếu đạt được thoả thuận thì không những Mỹ sẽ tôn trọng lời văn mà cả tinh thần của nó, không những các công thức mà cả mọi khía cạnh của nó.

Trầm ngâm một lát, ông đại diện Tổng thống Mỹ đưa ra việc ngừng bắn tạm thời trong ba, bốn tháng để cho đàm phán có thể tiến triển được, nhưng ông ta lại nói ngay chắc ta không đồng ý.

Đến lúc này ông ta mới đưa ra điều mà ông ta gọi là cố gắng cuối cùng: Đề nghị năm điểm - tháng 7 năm 1972:

1- Ngừng bắn toàn Đông Dương có hiệu lực... trong đó có việc Hoa Kỳ hợp tác gỡ mìn ở cảng và cửa sông miền Bắc.

2- Rút quân Hoa Kỳ và đồng minh bốn tháng, có giám sát quốc tế

3- Trao trả tù binh và thường dân vô tội bắt đầu và kết thúc với việc rút quân Mỹ.

4- Giám sát quốc tế.

5- Các nguyên tắc chỉ đạo việc thương lượng - thực ra là các nguyên tắc về tương lai chính trị nội bộ miền Nam.

Đề nghị này về cơ bản giống như tuyên bố 8 tháng 5 năm 1972 của Nixon cộng thêm một số điểm về chính trị như đề nghị 25 tháng 1 năm đó. Điều đáng chú ý là có ngừng bắn tại chỗ, không đòi quân miền Bắc rút khỏi miền Nam, thả tù binh song song với việc rút quân Mỹ chứ không phải thả tù binh trước tiên như Nixon nói hồi tháng 5.

Lê Đức Thọ nhận xét sơ bộ ngay rằng, những sửa đổi của Mỹ về cơ bản không cụ thể, hay có thể nói không có sửa đổi gì thậm chí cũng có điểm không được nói rõ như trước, như vấn đề Thiệu từ chức, thời gian tuyển cử ở miền Nam Việt Nam. Ông Thọ phê phán:

- So với lời ông phát biểu lúc đầu về thiện chí, về đi vào giải quyết cụ thể thì tôi chờ mãi trong phát biểu của ông thì không có gì cụ thể cả. Thành ra những lời ông nói lúc đầu so với những điều ông vừa trình bày không đi đôi với nhau. Phát biểu của ông ngoài đạo lý chung chung, chưa có gì tích cực.

Ngừng một lát, Lê Đức Thọ nói tiếp:

- Bước đầu này chưa mở ra triển vọng tốt đẹp... Nếu muốn đàm phán có kết quả thì hai bên đều phải tích cực.

Sau bốn mươi lăm phút nghỉ, hai bên trở lại làm việc. Theo yêu cầu của phía Mỹ, Lê Đức Thọ nói lại hai vấn đề nói rõ thêm của ta: đòi Mỹ đưa ra một thời hạn rõ ràng cho việc rút quân và đòi Thiệu từ chức ngay, Chính quyền Sài Gòn phải thay đổi chính sách. Kissinger nêu ra một loạt câu hỏi xung quanh vấn đề này: Từ thời gian Thiệu từ chức, đến thay đổi chính sách thế nào? Giải tán bộ máy kìm kẹp là thế nào? Có giải tán cảnh sát không? Quân đội hai bên sẽ ra sao trước và trong khi thảo luận giữa hai bên? - Thời gian thành lập Chính phủ hoà hợp dân tộc? v..v...

Sau khi được trả lời, Kissinger nhận xét rằng một số điểm Cố vấn đặc biệt Lê Đức Thọ nêu ra là tích cực, một số khác thì mơ hồ, nhất là vấn đề chính trị thì phía Việt Nam lại quá cụ thể.

Lê Đức Thọ:

- Ông cho rằng chúng tôi nói vấn đề chính trị quá cụ thể, chúng tôi lại nhận xét phát biểu của ông về vấn đề này lại quá mơ hồ. Hiện nay những vấn đề giữa chúng ta còn mắc míu là vấn đề chính trị và cách đàm phán. Các ông thì muốn giải quyết vấn đề quân sự rồi ngừng bắn, còn chúng tôi thì muốn rằng giữa chúng ta thảo luận và thoả thuận cả vấn đề quân sự và chính trị xong còn các chi tiết cụ thể sẽ do các bên Việt Nam thảo luận và thoả thuận với nhau, sau đó đi đến ký Hiệp định rồi ngừng bắn.

Kissinger muốn biết ngay các bên Việt Nam là ai, nhưng ông Thọ nói ngay:

- Vấn đề đó lần sau sẽ thảo luận.

Kissinger:

- Nếu như Chính quyền Sài Gòn tồn tại hiện nay là một bên Việt Nam thì sẽ làm dễ dàng cho công việc chúng tôi nhiều lắm.

Hai bên còn trao đổi quan điểm về ngừng bắn và hẹn gặp lại vào 31 tháng 7 hoặc 1 tháng 8. Khi sắp ra cửa, Kissinger còn hỏi lại hai bên có đề nghị gì công khai không, và lấy làm yên lòng khi Xuân Thuỷ trả lời không có gì sẽ đưa ra công khai.

Ngày 26 tháng 7 năm 1972, Lê Đức Thọ và Xuân Thuỷ nhận xét rằng:

1- Nội dung Kissinger tuyên bố về chính sách của Mỹ có thể có ý nghĩa.

2- Về giải pháp cụ thể, Mỹ vẫn giữ lập trường cũ. Nhưng:

a) Đề nghị năm điểm tháng 7 năm 1972 so với đề nghị 2 tháng 5 năm 1972 bớt ngoan cố hơn nhưng về cơ bản là lặp lại đề nghị 8 tháng 5 năm 1972 cộng thêm một số nguyên tắc về chính trị như tám điểm.

Vẫn tách vấn đề quân sự và chính trị, chỉ giải quyết các vấn đề quân sự, còn vấn đề chính trị là then chốt thì lập trường của Mỹ không thay đổi. Mỹ vẫn buộc ta phải nói chuyện với nguỵ quyền Thiệu nhằm rút được sự dính líu quân sự của Mỹ, đưa được tù binh về nước mà vẫn giữ được nguỵ quyền.

Về các nguyên tắc chính trị chung chung, Kissinger không đưa ra gì mới, hỏi nhiều điểm về chính trị ở miền Nam có vẻ như để tìm hiểu nhưng chính là nhằm bác bỏ giải pháp của ta.

Vấn đề chính quyền ở miền Nam là vấn đề khó khăn nhất của giải pháp, đó là do Mỹ ngoan cố giữ nguỵ quyền để bám lấy miền Nam. Đồng thời vấn đề này còn có ý nghĩa chiến lược toàn cầu đối với Mỹ. Hiện nay Nixon lấy ngụy quyền làm công cụ chủ yếu để thực hiện chiến lược mới gọi là học thuyết Nixon của Mỹ. Do đó ngay trong trường hợp Mỹ phải chấp nhận một giải pháp thoả hiệp về chính trị ở miền Nam Việt Nam thì cũng không thể công khai bỏ rơi nguỵ quyền.

b) Ngoài ra Mỹ còn đưa ra phương án ngừng bắn tạm thời bốn tháng toàn Đông Dương để đàm phán chi tiết về giải pháp về Việt Nam, thả một số tù binh bị giam giữ lâu ngày nhưng Kissinger lại nói ngay là chắc Việt Nam không tán thành. Rõ ràng đề nghị này là chuẩn bị những thủ đoạn giúp Mỹ vượt qua thời gian tuyển cử.

3- Về thái độ thương lượng. Nói chung Kissinger muốn mềm dẻo nhưng mặt khác vẫn đàm phán trên thế mạnh. Mỹ cho rằng Việt Nam không có lợi thế bằng thời điểm cuộc họp ngày 2 tháng 5, cho rằng Mỹ đã thành công trong việc tranh thủ Liên Xô, Trung Quốc giảm sự ủng hộ ta về mọi mặt, cho rằng ta muốn giải quyết trước bầu cử - do đó Kissinger đe doạ sẽ ngừng đàm phán đến sau bầu cử tháng 11 năm 1972.

4- Chỗ yếu của Mỹ là sức ép tuyển cử. Ngay từ đầu năm nay, Mỹ đã có nhiều thủ đoạn lừa bịp dư luận Mỹ về vấn đề Việt Nam phục vụ cho tuyển cử. Đặc biệt là từ giữa tháng 6 năm 1972 trở đi Mỹ ra sức ngăn chặn ta lợi dụng tuyển cử, đồng thời ra sức dùng đàm phán để lừa bịp dư luận. Mỹ đề nghị gặp ta ngày 28 tháng 6 để ngăn chặn khuynh hướng chống chiến tranh trong Đại hội Đảng Dân chủ (10 tháng 7). Ta không chịu ngày đó. Cuối tháng 6, Kissinger thông qua Liên Xô đề nghị ta không để lộ nội dung thương lượng cho phe đối lập, tức là Đảng Dân chủ, biết và doạ sẽ tính đến khả năng hoãn thương lượng đến khi cuộc bầu cử kết thúc vào tháng 11 năm 1972.

Trong cuộc gặp riêng ngày 19 tháng 7, Mỹ tìm cách ngăn chặn ta tác động vào tuyển cử, hỏi ta về việc thả tù binh cho phe đối lập, đề nghị ta không tấn công ngoại giao công khai và nhắc lại lời đe doạ là Mỹ sẽ ngừng thương lượng cho đến sau bầu cử nếu ta lợi dụng đàm phán để ảnh hưởng đến bầu cử ở Mỹ. Trong khi đó thì Mỹ lợi dụng gặp riêng để phục vụ cho cuộc vận động tuyển cử, đề nghị công bố các cuộc gặp riêng và ngay việc Mỹ đưa ra đề nghị năm điểm tháng 7 năm 1972 và phương án ngừng bắn tạm thời bốn tháng toàn Đông Dương mặc dầu Kissinger biết chắc ta không đồng ý cũng là để chuẩn bị công bố nhằm lừa bịp dư luận.

5- Về khả năng phát triển của tình hình.

Qua cuộc gặp riêng ngày 19 tháng 7, ta chưa có đủ căn cứ để kết luận là “khả năng Mỹ đi vào giải quyết với giá phải chăng có nhiều”

Trước mắt vẫn có hai khả năng:

a) Vì thất bại của chính sách “Việt Nam hoá chiến tranh" trên chiến trường, vì những khó khăn trong cuộc bầu cử, Tổng thống Mỹ buộc phải nhận một giải pháp có lợi cho ta mà Mỹ có thể chấp nhận được (theo phương án vừa và tối thiểu) trong năm nay.

b) Nixon cho rằng ông ta có thể vượt qua tuyển cử bằng những thủ đoạn lừa bịp, Nixon ngoan cố không chịu giải quyết theo mức tối thiểu của ta. Trong trường hợp này chiến tranh còn kéo dài đến sau năm 1972.

Qua cuộc gặp riêng vừa qua, ta thấy Nixon đi vào đàm phán giải quyết với ta đồng thời ráo riết chuẩn bị dư luận và đổ trách nhiệm cho ta để vượt qua tuyển cử.

Từ nay đến cuối tháng 8 tình hình sẽ phát triển rõ hơn. Nhận xét về cuộc họp, Lê Đức Thọ và Xuân Thuỷ cho rằng:

“Nói chung ta đã tìm hiểu thêm được một phần ý đồ chiến lược của Mỹ tuy chưa đầy đủ để nhận định hướng giải quyết chủ yếu của nó, đồng thời đã làm cho Mỹ hiểu rõ chính sách chung và thiện chí của ta”.

Trong báo cáo cho Nixon về cuộc họp này, Kissinger viết:

“Nếu sự thật là họ không nói gì để loại trừ sự quay trở lại hoàn toàn với lập trường cũ của họ thì thái độ của họ trong cuộc họp đầu tiên này gần đạt tới mức tích cực như người ta mong đợi...

Nếu sau này họ chấp nhận một thoả hiệp điều đó có thể là một cuộc ngừng bắn cộng với những nguyên tắc chính trị trong đường lối của đề nghị của chúng ta ngày 25 tháng 1. Nhưng để cho sự việc được rõ ràng điều này chưa xuất hiện trước cuộc gặp khác. Cũng có khả năng họ dùng cuộc nói chuyện để vạch rõ chỉ có mình Thiệu là trở ngại cho một giải pháp toàn bộ” (H.Kissinger. Ở Nhà Trắng Sđd, tr. 1369.).

Nhận xét của hai bên đều có phần đúng. Nhưng mọi việc chưa phải đã dễ dàng.

Cuộc họp ngày 1 tháng 8: Hai phương án để thăm dò và mặc cả

Để chuẩn bị cho cuộc họp ngày 1 tháng 8 năm 1972, ngày 22 tháng 7, Hà Nội thông báo tình hình cho Lê Đức Thọ và Xuân Thuỷ.

So sánh lực lượng chung ở miền Nam trên chiến trường Đông Dương đang phát triển có lợi cho cách mạng. Nội bộ Mỹ mâu thuẫn gay gắt giữa nhân dân Mỹ và Nixon, giữa hai đảng Cộng hoà và Dân chủ trong vấn đề Việt Nam. Trong việc giải quyết vấn đề Việt Nam so sánh lực lượng ở chiến trường là chính nhưng lúc này vấn đề lợi dụng mâu thuẫn gay gắt trong cuộc bầu cử ở Mỹ rất quan trọng, cần lợi dụng đúng mức sức ép của nhân dân Mỹ và mâu thuẫn giữa hai đảng. Từ nay đến Đại hội Đảng Cộng hoà (ngày 24 tháng 8 ) cần bàn những nguyên tắc lớn trên cơ sở phương án cao và trung bình của ta.

Lê Đức Thọ và Xuân Thuỷ cho rằng:

- Chủ trương của ta là đẩy mạnh đấu tranh trên ba mặt trận: quân sự, chính trị và ngoại giao, tranh thủ giải quyết vấn đề Việt Nam trong năm 1972, chuyển cuộc đấu tranh theo một chiều hướng mới bằng phương pháp đấu tranh chính trị là chính... Mặt khác đề phòng Nixon không chịu đáp ứng yêu cầu tối thiểu của ta, ta cần tích cực chuẩn bị tiếp tục cuộc chiến đấu sau năm 1972.

Trên chiến trường, về mùa mưa hoạt động của ta có hạn chế, địch cố gắng phản công, ta có những khó khăn nhất định trong việc làm cho so sánh lực lượng có lợi hơn cho ta trước khi hết mùa mưa.

Ở Mỹ, cuộc vận động tuyển cử sẽ gay gắt trong hai tháng 9 và 10 năm 1972. Thời điểm mà ta có thể lợi dụng tốt mâu thuẫn giữa hai đảng Cộng hoà và Dân chủ để giành một giải pháp có lợi cho ta là từ tháng 8.

Xuất phát từ nhận định trên, Lê Đức Thọ và Xuân Thuỷ đã đề nghị với Bộ Chính trị:

1- Từ nay đến Đại hội Đảng Cộng hoà, hướng chính của ta trong gặp riêng là bàn những nguyên tắc lớn trên cơ sở những yêu cầu tối đa của ta nhằm thăm dò ý đồ Mỹ và nhằm buộc Mỹ đi vào giải quyết toàn bộ với ta.

Về phía Mỹ có nhiều khả năng từ nay đến đấy, Nixon cũng chưa ngả con bài ra. Nhưng nếu trong thời gian này, Mỹ muốn đi vào giải quyết thì ta cũng không bỏ lỡ thời cơ. Đến Đại hội Đảng Cộng hoà, nếu Nixon chưa chịu giải quyết thì thời cơ để có thể giải quyết là vào khoảng tháng 10.

2- Từ nay đến Đại hội Đảng Cộng hoà, ta cần thảo luận với Kissinger về những phương hướng chung và hướng Mỹ đi dần vào lập trường giải quyết của ta.

a) Ta nói với Kissinger là ta ghi nhận lời tuyên bố của Mỹ trong phiên họp ngày 19 tháng 7.

b) Ta đồng ý với Mỹ muốn giải quyết được vấn đề thì phải gây được tin cậy lẫn nhau. Ta muốn tin rằng Mỹ thật sự tôn trọng và thực hiện những điều tuyên bố trên đây. Nhưng đi vào giải quyết thì những đề nghị 8 tháng 5 năm 1972 cũng như đề nghị năm điểm tháng 7 năm 1972 của Mỹ mâu thuẫn với tuyên bố trên đây. Ta vạch rõ các mâu thuẫn đó, xoáy vào vấn đề Mỹ vẫn duy trì Nguỵ quyền Sài Gòn và thực tế chống lại Chính phủ hoà hợp dân tộc.

c) Ta đưa ra hai cách giải quyết vấn đề cả quân sự và chính trị.

Về quân sự - Mỹ chấm dứt các hoạt động quân sự ở Việt Nam, rút hết quân Mỹ và quân đồng minh trong hai tháng, thả tù binh và thường dân bị bắt trong hai tháng. Mỹ có trách nhiệm hàn gắn vết thương chiến tranh và xây dựng lại hai miền Việt Nam.

Về chính trị - Trong thời gian từ hoà bình lập lại đến khi tổng tuyển cử không bên nào được áp đặt chế độ chính trị của mình, không bên nào thôn tính bên nào, thành lập Chính phủ ba thành phần ngang nhau, bình đẳng với nhau, không do bên nào khống chế, tổng tuyển cử trong vòng 6 tháng (sau khi ký Hiệp định).

Ngay sau khi ký Hiệp định về một giải pháp toàn bộ thực hiện ba việc cùng một lúc: Thiệu từ chức, Chính phủ ba thành phần nhậm chức, ngừng bắn. Lê Đức Thọ và Xuân Thuỷ cũng đề nghị tách các vấn đề ra thành hai loại:

Các vấn đề giữa Mỹ và Việt Nam gồm có: chấm dứt mọi hoạt động quân sự và các lực lượng vũ trang Việt Nam ngừng tấn công quân Mỹ, rút quân Mỹ và đồng minh, thả các quân nhân và thường dân bị bắt. Mỹ có trách nhiệm trong việc hàn gắn vết thương chiến tranh, cam kết tôn trọng các quyền dân tộc cơ bản của nhân dân Việt Nam như Hiệp định Genève năm 1954 qui định, chấm dứt viện trợ cho Chính quyền Thiệu và tôn trọng quyền tự quyết của nhân dân miền Nam.

Các vấn đề nội bộ Việt Nam gồm có: vấn đề thống nhất Việt Nam do nhân dân Việt Nam giải quyết lấy không có can thiệp của bên ngoài, vấn đề nội bộ miền Nam gồm có vấn đề Chính quyền, ngừng bắn giữa hai bên miền Nam... sẽ do các bên miền Nam giải quyết.

Ta sẽ đưa cho Mỹ bản viết nội dung trên. Nếu Mỹ công bố nội dung gặp riêng, ta công bố văn bản này.

Lê Đức Thọ và Xuân Thuỷ đều hiểu rằng: Để giải quyết vấn đề Việt Nam theo yêu cầu của ta, phải giành được một sự so sánh lực lượng có lợi cho ta là chính nhưng đồng thời coi trọng lợi dụng mâu thuẫn địch. Mâu thuẫn hai phe ở Mỹ đang phát triển. Thắng lợi của Mc Govern là bất ngờ đối với mọi người. Cương lĩnh của Mc Govern về Việt Nam và về nội bộ Mỹ là tiến bộ và mạnh. Thắng lợi đó gây thêm khó khăn cho Nixon, Nixon phải tiến hành một cuộc tranh cử gay go.

Ta có thuận lợi hơn trước song song với tiến bộ trên chiến trường để ép Nixon về một giải pháp có lợi cho ta. Nhưng ta cần lợi dụng mâu thuẫn của hai phe cho đúng mức. Làm quá mức thì ta bỏ lỡ thời cơ nhưng nếu làm không đúng mức thì ta không lợi dụng được sức ép tuyển cử có lợi cho phía Việt Nam.

Hai ông cũng cho rằng: Lập trường của Mc Govern và Nixon khác nhau cơ bản là trong thái độ đối với Nguỵ quyền Sài Gòn. Mc Govern đòi chấm dứt viện trợ quân sự cho nguỵ quyền, chấm dứt dính líu về quân sự của Mỹ không điều kiện. Trái lại, Nixon đòi duy trì nguỵ quyền làm điều kiện cho việc dính líu về quân sự của Mỹ ở Việt Nam. Ta cần khéo léo và lợi dụng lập trường của Mc Govern để vạch và ép Nixon. Lập trường của ta trong vấn đề này không thể thấp hơn lập trường của Mc Govern.

Cuộc tranh cử ở Mỹ sẽ gay gắt trong hai tháng 9 và 10. Ta cần lợi dụng thời điểm này có lợi cho ta nhất. Ngược lại, Nixon lại ra sức giảm sức ép của tuyển cử và xoa dịu dư luận để đàm phán có lợi cho họ, để vượt qua tuyển cử mà không giải quyết.

Mặt khác, lúc này Việt Nam rất cần thời gian để bố trí lại lực lượng chuẩn bị cho việc chuyển hướng cuộc đấu tranh. Thời điểm tốt nhất là cuối tháng 9 và đầu tháng 10. Cần đi hai chân, vừa đàm phán với Nixon vừa giữ khả năng gây khó khăn cho Nixon nếu ông ta muốn vượt tuyển cử để lừa bịp, mặt khác chuẩn bị đối phó với những thủ đoạn của ông ta để vượt tuyển cử mà không giải quyết. Đồng thời phải có kế hoạch làm ăn với phe đối lập trong các tình huống khác nhau: Nixon chưa đi vào giải quyết với ta, Nixon đang đi vào giải quyết với ta và tình huống Nixon ngoan cố không chịu giải quyết.

Trong đàm phán cần tỏ cho Kissinger biết ý muốn của Hà Nội, giải quyết với Nixon nhưng đồng thời cũng sẵn sàng chiến đấu lâu dài, đừng để Mỹ hiểu ta sợ, hoãn thương lượng đến sau bầu cử. Ta làm cho Kissinger biết ta không muốn can thiệp vào nội bộ Mỹ nhưng ta không để cho Mỹ lợi dụng đàm phán để lừa bịp trong tuyển cử.

Buổi gặp riêng lần thứ 15 ngày 1 tháng 8 năm 1972 giữa hai bên vẫn diễn ra ở ngôi nhà quen thuộc phố Darthé.

Hôm đó đoàn ta đã chuẩn bị một phương án mới và cách đàm phán để trao cho Mỹ.

Nhưng khi bắt đầu gặp nhau Kissinger lại đòi đưa tin về cuộc họp. Xuân Thuỷ và Lê Đức Thọ bác bỏ ngay với lý do phía Mỹ không giữ lời hứa làm cho dư luận bàn tán nhiều và nhiều cái không đúng.

Tuy nói là vấn đề thủ tục nhưng ý Xuân Thuỷ như đã rõ là không để Nixon sử dụng diễn đàn này phục vụ cho tuyển cử. Tất nhiên nhà hoạt động chính trị nhạy cảm như Kissinger hiểu ngay và tỏ ra bực bội. Ông ta thanh minh và doạ dẫm:

“Nếu các ông không muốn tiếp tục cuộc nói chuyện của chúng ta thì tuỳ các ông. Chỉ có hai cách lựa chọn, hoặc là chúng ta có thể có tuyên bố chung, đó là điều chúng ta đáng lẽ nên làm, hoặc là người ta biết tôi vắng mặt thì chúng tôi có thể xác nhận”.

Lê Đức Thọ nhắc lại do phía Mỹ cứ tiếp tục làm sai nên

“Lần này chúng tôi không thoả thuận công bố như lần trước. Các ông xác nhận như thế nào là tuỳ các ông, chúng tôi nói thế nào là tuỳ chúng tôi, nhưng không nói về nội dung”.

Kissinger tiếp tục thanh minh... doạ sẽ kết thúc cuộc thương lượng. Ông ta nói: Hoa Kỳ không làm tuyên truyền, và thêm:

- Nếu phía Việt Nam muốn biến cuộc bầu cử ở Mỹ thành một cuộc trưng cầu dân ý về vấn đề Việt Nam thì Hoa Kỳ không chịu việc đó.

Kissinger tỏ vẻ cay cú, nói đi nói lại nhiều lần và kéo dài hơn một giờ. Chưa hết, khi kết thúc cuộc họp dài tám giờ hôm đó, ông ta còn nhắc lại nữa.

Đi vào nội dung, Kissinger nhận nói trước, nhưng xin lỗi ngay là ông phát biểu hơi dài.

Ông ta đưa ra một kế hoạch mới mười hai điểm. Trước khi trình bày ông ta bảo đảm lại là Mỹ sẽ tôn trọng mọi sự thoả thuận không những về tinh thần và cả lời văn nữa. Hơn nữa, ông ta còn sẵn sàng bảo đảm với các đồng minh của Việt Nam về việc đó, gắn mối quan hệ quan trọng của Hoa Kỳ với Matxcơva và Bắc Kinh vào thiện chí của Hoa Kỳ ở Đông Dương.

Mở đầu kế hoạch, Kissinger nói:

“Chúng tôi đồng ý cần giải quyết vấn đề quân sự và vấn đề chính trị cùng với nhau”.

Ông ta nói tiếp rằng với cố gắng lấp hố ngăn cách giữa những bất đồng của hai bên và với thái độ thiện chí, phía Mỹ đã chấp nhận hình thức căn bản của đề nghị bảy điểm và hai điểm nói rõ thêm của Việt Nam, và để có thể nhanh chóng đi đến thoả thuận hơn, Hoa Kỳ đã dùng cả cách viết của ta khi nào Hoa Kỳ có thể làm được. Kissinger cười và nhìn Xuân Thuỷ:

- Ông Bộ trưởng sẽ hài lòng vì đã có mười hai điểm rồi.

Xuân Thuỷ:

- Hôm trước ông có năm điểm, bây giờ ông tăng thêm bảy điểm.

Lê Đức Thọ:

- Như vậy nếu tính về con số thì có tiến bộ lớn.

Kissinger tuần tự đọc các điểm. Đọc đến điểm sáu thì thấy Xuân Thuỷ và Lê Đức Thọ trao đổi với nhau, Kissinger nói đùa:

- Hình như phía các ông có sự tranh luận với nhau cái gì. Chúng tôi nghĩ rằng nếu ông Cố vấn và Bộ trưởng cãi lộn nhau thì đó là bước đầu đi đến giải quyết.

Ông ta cười thích thú và thêm:

- Nhưng tôi nghĩ việc đó không thể xảy ra trước ngày bầu cử.

Đọc sang điểm thứ bảy, Kissinger dừng lại và nói:

- Chắc các ông nghe lời lẽ quen tai lắm rồi vì giống câu của các ông..

Đọc xong mười hai điểm, ông ta trao cho ta rồi bắt đầu giải thích:

- Các ông đòi rút toàn bộ lực lượng đồng minh và trang bị của họ và đòi huỷ bỏ các căn cứ, chúng tôi đồng ý và chúng tôi đã làm như vậy. Các ông đòi rút trong thời gian ngắn, chúng tôi đã rút ngắn thời gian đó lại. Bây giờ chỉ còn bốn tháng. Nếu thoả thuận được với nhau trước ngày 1 tháng 9 thì binh sĩ Mỹ cuối cùng sẽ rời khỏi Việt Nam trước cuối năm nay.

Vấn đề chính trị, chúng tôi đã chấp nhận nhiều nguyên tắc về vấn đề này và đã đồng ý xét song song vấn đề chính trị và vấn đề quân sự.

Các ông chủ trương Chính phủ hiện nay phải thay đổi và Chính phủ mới định ra một cơ cấu hiến pháp mới. Chúng tôi xác nhận thể thức đó và cũng chấp nhận hai giai đoạn của nó, chúng tôi long trọng tuyên bố sẽ tôn trọng kết quả của quá trình mà chúng tôi đề nghị. Chỉ một điều mà chúng tôi không làm là định trước kết quả đó ở Paris.

Chúng tôi không nhất thiết đòi phải có một Chính phủ nhất định nào nhưng chúng tôi không muốn ép một Chính phủ nào cho Nam Việt Nam... Các ông đòi chúng tôi tôn trọng quyền tự quyết của nhân dân Nam Việt Nam. Chúng tôi đồng ý với điều đó và sẵn sàng cam kết nghiêm chỉnh tôn trọng diễn biến ở Nam Việt Nam sau khi Hiệp định được ký kết, nghĩa là chúng tôi xác nhận những đòi hỏi của các ông...

Cứ như vậy bằng lời lẽ rất ngọt ngào, người nghe có cảm tưởng Mỹ rất thiện chí... Ông nói tiếp đến bầu cử Tổng thống do một cơ quan độc lập có đại diện tất cả các lực lượng chính trị tổ chức và có giám sát quốc tế... Thiệu đã tuyên bố từ chức từ hai tháng trước tuyển cử và thời gian Thiệu từ chức có thể mềm dẻo...

Các ông đòi bảo đảm tự do dân chủ ở Nam Việt Nam chúng tôi đã đưa vào kế hoạch những bảo đảm về tự do dân chủ. Các ông đòi miền Nam có hiến pháp mới. Chúng tôi đồng ý là sau cuộc bầu cử mới các lực lượng chính trị ở Nam Việt Nam sẽ họp nhau để sửa đổi hiến pháp trong thời gian một năm.

Kissinger kết luận là Mỹ đã đáp ứng mọi khía cạnh của đề nghị chính trị của Việt Nam.

Còn các điểm khác trong đề nghị bảy điểm, Mỹ đã đáp ứng mọi điểm về thực chất của nó!...

Bồi thường chiến tranh, Kissinger nói rằng Hoa Kỳ không chấp nhận được, nhưng sẵn sàng nghiên cứu một chương tình kiến thiết lớn cho cả Đông Dương. Về thời gian thi hành, Kissinger đề nghị: ba tháng sau khi thoả thuận về nguyên tắc, đàm phán xong các chi tiết về việc thi hành các nguyên tắc đó, bốn tháng thì hoàn thành việc rút quân Mỹ, năm tháng sau khi Mỹ rút, thoả thuận các chi tiết về giải pháp chính trị. Cuộc bầu cử có thể diễn ra sớm hơn. Sửa đổi hiến pháp trong một năm...

Lê Đức Thọ hỏi thêm một vài điểm cụ thể nhưng phát biểu tập chung phê phán việc Mỹ ném bom miền Bắc và diễn văn ngày 27 tháng 7 của Nixon ví miền Bắc như phát xít Hít le. Ông Thọ vạch rõ đó là lời vu khống vô đạo lý nhất, ông nói:

- Mỹ có thể đem tất cả sức mạnh của mình để tàn phá nước chúng tôi... nhưng có một điều mà Mỹ không bao giờ làm được là phá tan quyết tâm sắt đá của nhân dân chúng tôi... Chúng tôi cho rằng để cho cuộc đàm phán đó có kết quả tốt, cả hai bên phải tạo những không khí thuận lợi cho việc nói chuyện này.

“Nếu các ông cứ tiếp tục ném bom các thành phố, khu đông dân các công trình thuỷ lợi và đê điều gây ra nạn lụt ở miền Bắc thì chúng tôi không thể ngồi nói chuyện với các ông như hiện nay và các ông phải hoàn toàn chịu trách nhiệm”.

Lê Đức Thọ đòi Mỹ chấm dứt ném bom và thả mìn.

Tiếp đó ông trao cho Kissinger bản ghi nhận các nguyên tắc về chính sách Mỹ mà Kissinger đã nói hôm 19 tháng 7. Ông cũng ghi nhận việc Mỹ đồng ý giải quyết cả vấn đề chính trị và quân sự song song.

Về kế hoạch mười hai điểm của Mỹ, Lê Đức Thọ nhận xét có một vài điểm mới nhưng về cơ bản lập trường về giải pháp của Mỹ vẫn chưa có gì thay đổi, đặc biệt trong vấn đề then chốt là vấn đề chính trị ở Nam Việt Nam.

Trong khi Kissinger chờ đợi những nhận xét khác nữa thì Lê Đức Thọ trình bày kế hoạch mười điểm mới của ta.

Đề nghị mười điểm mới của ta vẫn là phương án cao; đòi Mỹ rút quân trong một tháng, lập Chính phủ hoà hợp dân tộc ba thành phần, có đầy đủ quyền lực đối nội, đối ngoại, xoá bỏ hẳn hai Chính quyền hiện có. Chỗ mềm dẻo là không còn đòi Thiệu từ chức ngay như một điều kiện, mà đồng ý Thiệu từ chức sau khi ký kết Hiệp định toàn bộ. Đề nghị cũng mở ra việc nói chuyện giữa Chính phủ Cách mạng Lâm thời và Chính quyền Sài Gòn khi Hoa Kỳ và Việt Nam Dân chủ Cộng hoà thoả thuận về các vấn đề về nguyên tắc, điều mà trước đây ta không chịu. Đề nghị mới cũng nêu ra trách nhiệm của Chính phủ Mỹ đóng góp vào xây dựng lại hai miền Việt Nam để hàn gắn vết thương chiến tranh.

Trong phần giải thích Cố vấn đặc biệt Lê Đức Thọ nêu ra số tiền 8 tỷ đô la: miền Bắc: 4,5 tỷ, miền Nam: 3,5 tỷ.

Về cách đàm phán ông Thọ nêu ra bốn diễn đàn:

1- Diễn đàn giữa Hoa Kỳ và Việt Nam Dân chủ Cộng hoà thảo luận và giải quyết những vấn đề quân sự và những nguyên tắc cùng nội dung chủ yếu các vấn đề chính trị.

2- Diễn đàn giữa Chính phủ Cách mạng Lâm thời và Chính quyền Sài Gòn sau khi diễn đàn một đã được thoả thuận, sẽ mở ra để thảo luận và thực hiện những điều đã thoả thuận ở diễn đàn một và bàn bạc giải quyết những vấn đề cụ thể về quân sự và chính trị ở miền Nam Việt Nam.

3- Diễn đàn tay ba giữa Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, chính phủ Cách mạng Lâm thời và Chính quyền Sài Gòn để giải quyết các vấn đề cụ thể liên quan đến hai miền.

4- Diễn đàn bốn bên giải quyết những vấn đề liên quan đến bốn bên.

Kissinger hỏi một số điểm cụ thể và nhận xét rằng phía ta cũng như phía Hoa Kỳ đã đưa ra một đề nghị có ý nghĩa và không phải như một tối hậu thư. Ông ta cũng thanh minh Hoa Kỳ không đánh vào đê điều. Việc ném bom đê điều không phải là chính sách của Washington. Mỹ không ý định gây nạn lụt ở miền Bắc. Ông ta cũng nhắc lại việc ngừng bắn tạm thời bốn tháng, việc giảm chiến sự. Sơ bộ Kissinger đưa ra một số bình luận về kế hoạch mới của ta.

- Hoa Kỳ sẽ không hoàn toàn rời khỏi Đông Dương nếu còn tù binh Mỹ ở Đông Dương. Hoa Kỳ không chấp nhận việc bồi thường chiến tranh nhưng sẵn sàng có hiểu biết và đóng góp vào chương trình tái thiết ở Đông Dương nhưng chưa cam kết được số tiền vì còn phải chờ ý kiến của Quốc hội Mỹ nhưng sẽ cố gắng để trước khi đàm phán kết thúc có được một con số thực tế để phía Việt Nam xem xét.

Kissinger cũng đồng ý bốn diễn đàn, nhưng chia làm hai bước:

Bước một - Hoa Kỳ, Việt Nam Dân chủ Cộng hoà thoả thuận các vấn đề quân sự toàn Đông Dương và những nguyên tắc về chính trị ở miền Nam Việt Nam, ký hiệp định chung, ngừng bắn.

Bước hai - Người Việt Nam sẽ giải quyết các vấn đề chính trị ở Nam Việt Nam trên cơ sở những nguyên tắc mà Hoa Kỳ và Việt Nam Dân chủ Cộng hoà đã thoả thuận. Bước hai này sẽ làm xong trong ba tháng.

Hai bên hẹn gặp nhau vào ngày 14 tháng 8 năm 1972. Kissinger cho ta biết là sau đó đến tháng 9 mới gặp nhau lại được vì ông ta còn bận họp Đại hội Đảng Cộng hoà.

Cuộc họp ngày 14 tháng 8: Vừa thăm dò vừa vừa mặc cả.

Trong tháng ngày đầu tháng 8, cuộc giành giật giữa hai bên trên chiến trường vẫn diễn ra gay go và quyết liệt. Kế hoạch ba tháng của Mỹ - Nguỵ nhằm chiếm lại những vùng đã mất nói chung vẫn giậm chân tại chỗ. Trong khi đó ở nhiều nơi, nhất là ở đồng bằng Mỹ - Nguỵ mất thêm dân thêm đất. Ở các đô thị, Chính quyền Sài Gòn phải có những biện pháp trắng trợn hơn trong việc đàn áp các nhóm đối lập và phong trào đô thị. Tuy vậy Mỹ - Ngụy vẫn hết sức cố gắng chiếm lại thị xã Quảng Trị và thúc đẩy bình định.

Ở miền Bắc, mức đánh phá của Mỹ vẫn ác liệt liên tiếp oanh tạc các khu đông dân ở hơn hai mươi tỉnh và thành phố, kể cả Hà Nội và Hải Phòng. Mỹ tăng phi vụ B52 quanh Đồng Hới và Vĩnh Linh, đánh một số đê trong ngày 2 và 3 tháng 8 ở Thái Bình, Nghệ An và Quảng Bình, Mỹ tiếp tục đe doạ ném bom phong toả miền Bắc và đe doạ dùng B52 rộng rãi hơn trên miền Bắc.

Mặt khác Mỹ tiếp tục chống đỡ với sự lên án của ta và dư luận rộng rãi về việc ném bom giết hại thường dân, phá đê đập trong mùa lũ gây nạn lụt đồng thời phản kích lại, vu cáo ta tàn sát ở miền Nam.

Dư luận ngày càng nói nhiều đến thất bại của Mỹ trong việc ném bom và phong toả, không ngăn chặn được viện trợ từ bên ngoài vào miền Bắc và từ miền Bắc vào miền Nam, không ngăn chặn được việc tấn công của Việt cộng ở miền Nam, mặc dù tháng 5 năm 1972, Mỹ đã sử dụng một số lượng bom đạn hàng tháng cao hơn tháng cao nhất dưới thời Johnson.

Tại Mỹ và trên thế giới cũng lên án mạnh mẽ việc Mỹ ném bom tàn sát thường dân. Một số chính giới có tên tuổi ở Mỹ lên tiếng tố cáo chính sách của Nixon làm tổn thương đến đạo lý và danh dự của nước Mỹ. Họ cũng công kích Nixon lấy bom đạn và tàn phá làm biện pháp giải quyết chiến tranh nhưng biện pháp đó không đạt được kết quả.

Một bộ phận dư luận cũng cho rằng Nixon tiếp tục ném bom và phong toả miền Bắc để tiếp tục duy trì chế độ Thiệu ở Sài Gòn.

Thượng nghị viện Mỹ trong vòng mười ngày đã hai lần bỏ phiếu với đa số đòi rút toàn bộ quân Mỹ trong vòng bốn tháng với điều kiện duy nhất là tù binh được thả. Tuy đa số trong Hạ viện đã bác bỏ những dư luận cho rằng thái độ của Thượng nghị viện phản ánh chiều hướng chung của công chúng Mỹ đòi sớm và dứt khoát chấm dứt dính líu của Hoa Kỳ vào Việt Nam vì bốn năm nay Nixon đã nói đến kế hoạch bí mật chấm dứt chiến tranh nhưng chiến tranh vẫn tiếp diễn.

Nhưng một bộ phận của dư luận vẫn tin luận điệu của Nixon rằng thời gian tới là thuận lợi nhất để thương lượng có kết quả vì Nixon muốn giữ lời hứa để được tái cử, vì Việt Nam có khó khăn do sức ép của Liên Xô và Trung Quốc.

Qua thăm dò dư luận về cuộc chạy đua vào Nhà Trắng, thượng nghị sĩ Mc Govern còn thua kém hơn Nixon. Dư luận cũng tỏ ra bi quan về tình hình thương lượng giữa hai bên ở Paris. Thiệu vẫn tuyên bố rất gay gắt kiên quyết chống cộng, gạt mọi ý kiến cho rằng cộng sản tham gia vào Chính quyền, kêu gọi Mỹ không ngừng bắn tại chỗ và tiếp tục ném bom miền Bắc. Trước tình hình đó dư luận cho Thiệu lo ngại có thể đi đến thoả thuận về một giải pháp bất lợi cho Thiệu.

Trên thế giới, ngày 10 tháng 8 năm 1972, Hội nghị các nước không liên kết họp ở Georgetown công nhận Chính phủ Cách mạng Lâm thời là thành viên chính thức của phong trào.

Tóm lại, tình hình có thuận lợi cho ta, nhưng cũng chưa cấp bách cho Nixon, nhất là trên chiến trường, và cuộc bầu cử cũng chưa đến điểm cao.

Chúng ta cho rằng sau Đại hội Đảng Cộng hoà, tuỳ tình hình chiến trường và bầu cử ở Mỹ, Nixon mới đi vào thương lượng, đi vào giải quyết hay không.

*

* *

Trước cuộc gặp riêng lần thứ mười sáu tại Paris, ngày 5 tháng 8 năm 1972, Mỹ gửi công hàm cho ta đòi đưa tin về cuộc gặp riêng sắp tới xem như một điều kiện cho cuộc gặp đó. Công hàm viết:

“Phía Hoa Kỳ không có lựa chọn nào khác hơn là công bố việc gặp riêng khi cuộc gặp đang diễn ra... Tuỳ phía Bắc Việt Nam quyết định liệu có muốn tiếp tục các cuộc gặp riêng trên cơ sở đó hay không..."

Công hàm ngày 9 tháng 8 của ta trả lời cho Mỹ như sau:

“Rõ ràng phía Hoa Kỳ chỉ chú ý đến việc đưa tin về các cuộc gặp riêng nhằm mục đích tuyên truyền chứ không chú ý đem lại kết quả cho đàm phán".

Mặc dầu vậy, cuộc họp ngày 14 tháng 8 vẫn diễn ra.

Bước vào cuộc họp, Kissinger đã đặt ra vấn đề đưa tin với lý do lần này ông vắng mặt lâu (chiều nay phải đi Thuỵ Sĩ về việc gia đình, ngày mai phải đi Sài Gòn để thăm dò sâu về chính trị...) nhưng không làm thay đổi được ý kiến của Lê Đức Thọ và Xuân Thuỷ về vấn đề này.

Hôm ấy Kissinger trao cho ta ba văn kiện: Tuyên bố về chính sách của Mỹ; một đề nghị mới mười điểm; và văn bản về cách thương lượng. Thực ra là để trả lời các văn kiện tương tự của ta đã đưa ra hôm mồng 1 tháng 8.

Trình bày kế hoạch mới, Kissinger vẫn dùng những lời lẽ ngọt ngào hấp dẫn rằng ông ta đã xem lại từng điểm một trong đề nghị của hai bên và viết lại theo danh từ mà ông tin là hai bên có thể chấp nhận được, trừ vấn đề chính trị còn để trống sẽ bổ sung sau.

Ông nhấn mạnh rằng vấn đề chính trị là trung tâm của các vấn đề đặt ra cho hai bên và nhiệm vụ của hai bên là cùng nhau vượt qua trở ngại đó thông qua một giải pháp phù hợp với những nguyên tắc sâu sắc hai bên.

Ông ta nói tiếp:

- Hoa Kỳ đã làm hết sức để đáp ứng những mối quan tâm hợp lý của Việt Nam, nhưng đến nửa đầu tháng 9 sau khi đi Sài Gòn về mới đáp ứng các đề nghị chính trị của Việt Nam một cách chi tiết.

Trước khi đi vào giới thiệu mười điểm, Kissinger trao cho Lê Đức Thọ bản tuyên bố về chính sách Mỹ gần giống như ông đã nói hôm 19 tháng 7, nhưng lại bỏ lại hai điểm về việc Hoa Kỳ không đòi có một Chính phủ thân Mỹ ở miền Nam và điểm nói về Đông Nam Á.

Trong đề nghị mười điểm mới, Mỹ chỉ nêu vấn đề quân sự nhưng để trống thời hạn rút quân Mỹ. Khi được hỏi, Kissinger nói: Tôi cho đó không phải là vấn đề phức tạp, rồi nói thêm: Có thể là ngắn hơn bốn tháng và dài hơn một tháng.

Xuân Thuỷ châm biếm:

- Trước ông nói bốn tháng còn bây giờ là ba tháng hai mươi chín ngày chứ gì?

Thực ra mười điểm này chỉ là việc sắp sếp lại các đề nghị ngày 1 tháng 8 của Việt Nam và của Mỹ, theo thứ tự của bản Việt Nam, có chỗ lấy hẳn ý kiến của Việt Nam làm ra vẻ đáp ứng yêu cầu của ta và hai bên đã thoả thuận được nhiều vấn đề lớn - nhưng cũng có điểm thụt lùi hơn đề nghị trước của họ.

Kết thúc bản trình bày, Kissinger nêu ra các lĩnh vực mà theo ông hai bên đã đồng ý với nhau về thực chất:

- Việc rút toàn bộ quân Mỹ và quân đồng minh.

- Việc thống nhất Việt Nam do Nam và Bắc Việt Nam quyết định.

- Việc tôn trọng Hiệp định Genève năm 1954 và 1962.

- Đông Dương là một khu vực hoà bình, độc lập, trung lập.

- Một cuộc ngừng bắn tại chỗ có giám sát quốc tế và kiểm soát quốc tế và bảo đảm quốc tế ở trong vùng.

Còn những sự khác nhau giữa hai bên là:

- Thời hạn rút quân và đồng minh - nhưng vấn đề này không phải là không giải quyết được.

- Vấn đề viện trợ quân sự cho Chính phủ Việt Nam.

- Các vấn đề chính trị - lần sau ông ta sẽ trả lời.

- Còn vấn đề tái thiết - Hoa Kỳ không cam kết bồi thường nhưng sẵn sàng đi vào một sự hiểu biết sẽ có một chương trình tái thiết toàn Đông Dương.

Về cách thương lượng, Kissinger đề nghị:

Sau khi Hoa Kỳ và Việt Nam Dân chủ Cộng hoà thoả thuận một vấn đề thì chuyển ngay vấn đề đó cho diễn đàn khác.

Mỹ còn đòi lực lượng vũ trang Việt Nam ở miền Nam sẽ do diễn đàn ba bên ở Việt Nam giải quyết.

Cuối cùng ông ta đưa ra một nhận xét mà ông cho là quan trọng rằng phía Việt Nam có hai cách đề cập khác nhau ở gặp riêng và ở diễn đàn công khai. Ở Hội nghị Kléber phía Việt Nam tạo ra một cảm tưởng rằng hai bên đi vào chỗ bế tắc hoàn toàn nhằm tăng cường sức ép ở Mỹ để chống lại Nixon, trong khi ở gặp riêng Việt Nam lại hy vọng Hoa Kỳ nhân nhượng ở mức tối đa và không muốn tiết lộ điều này ra ngoài mặc dù có tiến bộ đáng kể ở đây.

Trước khi phát biểu, Lê Đức Thọ hỏi Kissinger về tình hình chính trị ở miền Nam trước khi ông đi Sài Gòn. Lúc đầu ông ta không muốn nói nhưng Lê Đức Thọ hỏi lại thì trả lời:

- Tôi thừa nhận thực tế là có hai quân đội mà một trong hai quân đội đó là lực lượng của các ông, còn lực lượng thứ ba tôi công nhận là có nhưng không đặt ngang hàng với hai lực lượng chính kia... Có hai rưỡi.

Lê Đức Thọ liền nắm ngay vấn đề này đòi lập Chính phủ hoà hợp ba thành phần. Sau đó ông Thọ phê phán khá dài nhiều điều Kissinger đã nêu ra.

Bắt đầu ông nói ngay rằng hai bên mới gặp riêng có hai buổi, mới tỏ ra thiện chí chứ chưa có kết quả gì về cơ bản hay tiến bộ đáng kể như Kissinger nói. So sánh lập trường của hai bên còn nhiều điểm khác xa nhau. Vấn đề then chốt là vấn đề chính trị thì hai bên còn xa nhau lắm.

Lê Đức Thọ nói:

- Các ông thừa nhận thực tế ở miền Nam Việt Nam có hai Chính quyền, hai lực lượng vũ trang, ba lực lượng chính trị, mà lại gạt Chính phủ Cách mạng Lâm thời ra ngoài... Đề nghị của các ông là trái với chính nguyên tắc các ông đề ra hôm 19 tháng 7. Nguyên tắc các ông đề ra so với nguyên tắc của chúng tôi chỉ giống nhau về câu chữ, còn cơ bản khác nhau... Các ông muốn duy trì Chính quyền Sài Gòn còn chúng tôi muốn có một chính quyền mới.

Về vấn đề quân sự, hôm nay ông lại đưa việc thảo luận vấn đề quân miền Bắc vào diễn đàn tay ba. Rõ ràng các ông hàm ý đòi quân miền Bắc rút khỏi miền Nam là điều trái với tinh thần, chính trị và pháp lý mà chúng tôi không thể nào chấp nhận được...

Ngoài ra còn những vấn đề như thả tù binh, ngừng bắn toàn Đông Dương, viện trợ quân sự cho Chính quyền Sài Gòn, thay thế vũ khí, trách nhiệm của Mỹ trong việc hàn gắn vết thương chiến tranh... còn nhiều ý kiến khác nhau.

Lê Đức Thọ cũng nêu ra ý đồ của Mỹ trong việc vạch ra hai bước đàm phán là để duy trì chế độ độc tài phát xít ở miền Nam. Trong điều kiện Chính quyền đó tồn tại với đầy đủ bộ máy kìm kẹp trong tay thì cái gọi là cơ quan độc lập để bầu cử và vấn đề tự do dân chủ mà Kissinger nêu ra không eo nghĩa lý gì... Ông Thọ nhấn mạnh:

- Như vậy thì làm sao bảo đảm quyền tự quyết của nhân dân miền Nam Việt Nam được.

Và kết luận:

- Hoa Kỳ không thể dùng đàm phán làm một việc mà lực lượng quân sự khổng lồ của Mỹ mười năm qua đã không làm được.

Kissinger tỏ vẻ thất vọng sau khi nghe Lê Đức Thọ và nói:

- Hoa Kỳ đã có những cố gắng lớn nhưng theo lời phát biểu của Cố vấn đặc biệt Lê Đức Thọ thì chúng ta chưa đồng ý được vấn đề gì cả.

Sau này ông ta thừa nhận Lê Đức Thọ đã đưa ra “nhiều đề nghị khá nghiêm túc... và chúng ta (Mỹ) còn có cơ may để ký kết một nền hoà bình trong danh dự. Nhưng Hà Nội cũng chưa đi quá xa để sau này không thể trở lại đòi hỏi cũ của họ" (H.Kissinger. Ở Nhà Trắng. Sđd, tr. 1392,1379 - 1374, 1386)

Mặt khác ông ta than thở rằng kế hoạch của ông ta đã bị những đề nghị của Lê Đức Thọ làm cho trở nên lỗi thời vô hiệu. Thực tế là kế hoạch đó không bao giờ được thảo luận đến".

Còn Tổng thống Nixon cũng cho rằng “Không có tiên bộ nào" (tất nhiên theo yêu càu của Mỹ - Tác giả).

“Sự thất vọng do thất bại trong thương lượng mà Kissinger thực hiện có thể sẽ tai hại về chính trị... Điều mà chúng ta cần nhất là một kế hoạch cho phép chúng ta hoặc là ngừng cuộc thương lượng hoặc là làm cho nó có hứa hẹn nếu ta tiếp tục" (H. Kissinger. Ở Nhà Trắng Sđd. tr 1375, 1387)

Hôm đó hai bên hẹn gặp lại nhau vào 15 tháng 9 năm 1972. Không ai tỏ ra vội cả.

Kết quả hai tháng thăm dò.

Đánh giá ba cuộc gặp riêng tháng 7 và tháng 8, Lê Đức Thọ và Xuân Thuỷ nhận định:

Vừa qua ta đã nhận định tình hình chung, thế ta và thế đối phương, tình hình Mỹ năm bầu cử, tình hình quốc tế, và càng thấy trên mặt trận thương lượng ta bước vào giai đoạn giải quyết khác với trước đây. Vì vậy qua ba lần gặp riêng vừa rồi ta chủ trương:

- Đưa Mỹ đi dần vào thương lượng thực sự.

- Ta đi từng bước vừa thăm dò vừa tìm hiểu ý đồ của Mỹ vừa xem họ mở con bài đến đâu thì ta cũng mở con bài đến đó. Nói chung thì ta xem họ đưa ra cái gì thì ta mới đưa ra con bài tương đương. Tuy nhiên ta cũng linh hoạt, không nhất thiết để họ đưa trước ta đưa sau, mà có lúc ta cũng chủ động đưa trước để thăm dò họ để đưa họ vào hướng của ta.

Ta giữ vững nguyên tắc, đồng thời linh hoạt về sách lược. Ta đưa ra con bài cao nhất để rồi tuỳ tình hình tuỳ phản ứng của Mỹ đưa ra các con bài khác.

Cuộc họp thứ nhất ngày 19 tháng 7 năm 1972:

Chủ trương của ta là thăm dò ý đồ của Mỹ, tỏ ra quyết tâm và thiện chí của ta đồng thời nêu rõ quan điểm tổng quát về những vấn đề có tính chiến lược. Mặt khác ta cũng chuẩn bị sẵn sàng những điểm cụ thể về nội dung giải pháp để sử dụng khi cần.

Mỹ cũng chủ yếu thăm dò ta tập trung vào tuyên bố về chính sách mà Mỹ gọi là những nhân tố cơ bản cho một giải pháp nhằm tỏ ra thiện chí muốn đi đến giải quyết vấn đề. Nhưng giải pháp cụ thể thì Mỹ vẫn giữ vững lập trường cũ cơ bản như tuyên bố của Nixon ngày 8 tháng 5 năm 1872 có sửa đổi chút ít cộng với nguyên tắc chung chung về chính trị lấy từ tám điểm của Mỹ (Mỹ gọi đó là năm điểm - tháng 7 năm 1972).

Mỹ dùng thủ đoạn đưa tin và còn đưa ra việc không bên nào đưa vấn đề gì mới ra diễn đàn công khai nhằm lừa bịp dư luận và ngăn ta không tấn công ngoại giao để tuyên truyền phục vụ cuộc vận động bầu cử của Nixon.

' Do đó ta đã phê phán Mỹ ném bom và thả mìn miền Bắc, đòi Mỹ phải chấm dứt ném bom phong toả miền Bắc, phải tôn trọng lời cam kết tháng 10 năm 1968 của Mỹ.

Ta phát biểu về chính sách chung của ta.

Giữ vững bảy điểm và hai điểm nói rõ thêm mà không đưa vấn đề gì mới về giải pháp hoặc cách thương lượng.

Cuộc họp thứ hai: ngày 1 tháng 8 năm 1972.

Trong cuộc gặp lần đầu, hai bên đã phát biểu về chính sách chung rồi, lần gặp thứ hai này hai bên đi vào nội dung của giải pháp và nếu hai bên đều giữ nhưng điểm cũ (Mỹ tám điểm, ta bảy điểm) thì sẽ là bế tắc. Vì vậy, cả hai đều chuẩn bị đi vào nội dung của giải pháp có sửa lại mềm dẻo chút ít nhưng vẫn chưa có gì thay đổi cơ bản.

Về phía ta, ta đã ghi nhận một số điểm về tuyên bố chính sách của Mỹ đồng thời phê phán giải pháp của Mỹ đưa ra là không phù hợp với lời tuyên bố về chính sách đó. Ta chủ động đưa ra giải pháp mười điểm và đề nghị về cách đàm phán, trong đó ta đưa ra con bài cao về giải pháp chính trị, về thời hạn rút quân, về bồi thường chiến tranh... đồng thời mềm dẻo về thời gian Thiệu từ chức. Ta tập trung đòi Mỹ thoả thuận về vấn đề quân sự và cả vấn đề chính trị, về việc thành lập Chính phủ hoà hợp dân tộc gồm ba thành phần như ta đã nêu ra thì mới đồng ý mở ra diễn đàn nói chuyện giữa Chính phủ Cách mạng Lâm thời với Chính quyền Sài Gòn còn Thiệu. Mặt khác ta nhấn mạnh chỉ có thể có ngừng bắn sau khi ký Hiệp định toàn bộ giữa bốn bên.

Về phía Mỹ, họ cũng đưa ra mười điểm cơ bản là tuyên bố ngày 8 tháng 5 cộng với tám điểm của Mỹ đồng thời Mỹ lấy một số câu chữ của ta đưa vào làm cho nó có vẻ là mềm dẻo nhân nhượng. Mục đích chính của Mỹ là vẫn duy trì Chính quyền Sài Gòn, kéo dài quá trình chính trị ở miền Nam Việt Nam. Mặt khác Mỹ chỉ muốn giải quyết với miền Bắc về vấn đề quân sự và một số nguyên tắc về vấn đề chính trị ở miền Nam. Tuy Mỹ có nói đến tính độc lập của cơ quan bầu cử và thi hành điều 14c (về tự do dân chủ) của Hiệp định Genève, nhưng quá trình chính trị sẽ diễn ra trong khuôn khổ hiến pháp của Chính quyền Sài Gòn.

Cuộc họp thứ ba: ngày 14 tháng 8 năm 1972.

Sau cuộc họp thứ hai ta rõ ràng ở thế chủ động tấn công, buộc Mỹ đi vào thảo luận chủ yếu vấn đề chính trị. Mỹ công nhận đề nghị của ta là xây dựng. Cho nên, trong cuộc họp thứ ba này ta vẫn giữ mười điểm, vẫn giữ đề nghị cách đàm phán của ta. Trên thế chủ động tấn công, ta phê phán mười hai điểm của Mỹ, tập trung về chính trị đòi Mỹ phải thừa nhận ở miền Nam Việt Nam có hai Quân đội, hai Chính quyền, ba lực lượng chính trị, do đó phải thành lập Chính phủ hoà hợp dân tộc gồm ba thành phần.

Về phía Mỹ, họ cũng đưa ra phản đề nghị gồm ba văn kiện. Mỹ tỏ ra mềm dẻo về những vấn đề chi tiết, vấn đề phụ. Mỹ làm ra vẻ như hai bên đã thoả thuận được nhiều vấn đề nhưng chúng đặt kẻ đi xâm lược và người bị xâm lược ngang nhau, coi như có sự thoả thuận giữa hai bên. Nhưng chỗ yếu, chỗ ngoan cố nhất của Mỹ chính là vấn đề chính trị miền Nam. Mỹ để điểm bốn (chính trị) bỏ trống trong đề nghị mười điểm của Mỹ và hứa sau khi đi Sài Gòn về sẽ trả lời ta cụ thể. Mặt khác lại có thủ đoạn mánh lới trong đề nghị về cách đàm phán.

Trong cuộc gặp thứ ba này cũng như các lần trước, hai bên còn đấu tranh gay gắt về vấn đề Mỹ ném bom thả mìn ở miền Bắc. Về vấn đề Mỹ đưa tin và bình luận về gặp riêng, ta đã phê phán Mỹ về việc lợi dụng đưa tin và đập lại những lời đe doạ của Mỹ.

Tóm lại, trong ba cuộc gặp riêng đó, ta đã từng bước vững vàng chủ động tấn công, giữ nguyên tắc của ta và có sách lược mềm dẻo. Mỹ còn ngoan cố và lắm thủ đoạn mánh lới. Hai bên đều vào trận, vừa thăm dò nhau vừa giữ miếng, bên này đưa ra điểm này thì bên kia đưa ra điểm kia, cả hai bên đều bảo vệ gay gắt những điểm mình đưa ra. Nhưng cả hai bên đều đi dần tập trung vào vấn đề chính trị.

Về ý đồ của Mỹ và khả năng phát triển tình hình, Lê Đức Thọ và Xuân Thuỷ đều cho rằng chiều hướng chính của Nixon không phải là chỉ muốn vượt tuyển cử mà không giải quyết vấn đề. Thật ra Nixon chuẩn bị cả hai tay, vừa muốn giải quyết vấn đề Việt Nam có lợi cho ông ta để bảo đảm chắc chắn thắng cử; vừa chuẩn bị khả năng vượt tuyển cử mà không giải quyết vấn đề Việt Nam. Hai ông đề nghị với Hà Nội:

“Xuất phát từ tình hình nhận định địch - ta, và nhận định qua ba cuộc gặp riêng, chúng tôi thấy: Một mặt Mỹ muốn giải quyết vấn đề với ta nhưng trên thế mạnh với một giải pháp có lợi cho Mỹ, mặc khác Mỹ cũng đề phòng không giải quyết vấn đề với ta thì Mỹ có kế hoạch để vượt tuyển cử. Cho nên có hai khả năng:

a) Có thể giải quyết vấn đề Việt Nam, do so sánh lực lượng, do chỗ yếu mạnh giữa hai bên ta có khả năng với con bài phải chăng buộc Mỹ giải quyết.

Cũng có khả năng do Mỹ chủ quan đánh giá ta yếu, cho là có thể lừa bịp được dư luận để thắng cử được nên họ ngoan cố chưa giải quyết trước tuyển cử ở Mỹ. Như vậy giải quyết phải để sau tuyển cử.

Trong khả năng giải quyết được vấn đề trước tuyển cử ở Mỹ thì tình hình sẽ diễn biến khá phức tạp. Có thể.

* Tình hình miền Nam sẽ ở trong trạng thái hoà bình nhùng nhằng kéo dài, cuộc đấu tranh chính trị sẽ rất gay gắt giữa hai bên.

* Nhưng cũng có khả năng sau một thời gian chiến tranh lại tái diễn.

b) Trong khả năng không giải quyết được vấn đề, có thể là Nixon không trúng cử mà Mc Govern thắng cử do đó sẽ tạo một phần điều kiện thuận lợi cho việc giải quyết nhưng ta cũng không nên ảo tưởng nhiều vào Mc Govern.

Nixon trúng cử, tình hình sẽ khá phức tạp cho ta”

Về âm mưu của Mỹ trong đàm phán, hai ông nhận định:

“1- Âm mưu cơ bản của Mỹ là muốn rút khỏi cuộc chiến tranh Việt Nam nhưng cố gắng duy trì Chính quyền Sài Gòn. Tuy họ thấy không thể duy trì nguyên như trước họ vẫn tìm cách duy trì ngụy quyền trong ưu thế đối với các lực lượng cách mạng miền Nam.

2- Mỹ đồng ý giải quyết với ta về cả chính trị và quân sự, nhưng chia làm hai bước.

Bước một - Mỹ và miền Bắc giải quyết cụ thể vấn đề quân sự và một số nguyên tắc về chính trị - Sau đó sẽ ngừng bắn (trước tuyển cử ở Mỹ).

Bước hai - Vấn đề chính trị cụ thể sẽ do người Việt Nam bàn và giải quyết với nhau. Chính phủ Cách mạng Lâm thời nói chuyện với Chính quyền Nguyễn Văn Thiệu. Thời gian giải quyết sẽ kéo dài sau tuyển cử ở Mỹ. Nguyễn Văn Thiệu sẽ từ chức sau khi người Việt Nam đạt được một giải pháp. Mỹ không chịu để Thiệu từ chức ngay sau khi có ngừng bắn ở bước một.

Đây là âm mưu Mỹ trong đàm phán, nếu họ thực hiện được thì họ sẽ chuẩn bị vượt tuyển cử mà không giải quyết gì. Trong trường hợp này họ sẽ công bố công khai những đề nghị hoà bình của họ, đồng thời trên chiến trường có thể ngừng ném bom miền Bắc và có những thủ đoạn để lừa bịp dư luận, đổ trách nhiệm cho ta.

Đế thực hiện âm mưu của họ trong đàm phán, từ nay đến khi rõ là giải quyết được hay không giải quyết được họ sẽ tăng cường đánh mạnh ở hai miền Nam và Bắc Việt Nam và dùng nhiều thủ đoạn mánh khoé chính trị tuyên truyền lợi dụng các cuộc gặp riêng để làm áp lực trong đàm phán”.

Những nhận định trên đây hừng hực hơi nóng của cuộc đấu tranh căng thẳng phức tạp với Kissinger, được Hà Nội đánh giá cao.

Ba cuộc gặp riêng này diễn ra trong bối cảnh phía Việt Nam còn khó khăn, nhưng cơ bản là thuận lợi. Cuộc tấn công Xuân - Hè 1972 của ta đã giành được những thắng lợi chiến lược to lớn làm cho kế hoạch Việt Nam hoá chiến tranh của Nixon thất bại một bước có ý nghĩa chiến lược và tạo một cục diện mới chưa từng có cho cuộc đấu tranh cứu nước của nhân dân ta trong thế chiến lược chung rất thuận lợi của ba nước Đông Dương. Tuy vậy, lực lượng so sánh giữa ta và địch ở miền Nam còn ngang nhau và chưa áp đảo được địch.

Mỹ hy vọng rằng những hoạt động ngoại giao của Mỹ hoà hoãn với Liên Xô, Trung Quốc và việc tiến hành chiến tranh bằng không quân với quy mô lớn và phong toả bờ biển miền Bắc sẽ làm cho không thể kéo dài được cuộc tấn công với quy mô lớn ở miền Nam quá ba tháng (4-5-6) và ép ta đàm phán theo điều kiện của Mỹ. Mỹ hy vọng với sự tham chiến của không quân Mỹ, quân Nguỵ có thể thực hiện từ tháng 7 kế hoạch tái chiếm những vùng bị mất (Kế hoạch đánh chiếm Quảng Trị gắn liền với cuộc gặp riêng).

Cuộc bầu cử ở Mỹ bước vào giai đoạn sôi nổi. Vấn đề chiến tranh ở Việt Nam đã trở thành vấn đề số một trong tuyển cử ở Mỹ. Tuy vậy trong tháng 7 và tháng 8 mới diễn ra cuộc đấu tranh nội bộ của mỗi đảng. Đó là thời gian Đại hội của hai đảng. Cuộc tranh cử quyết liệt nhất trong hai tháng 7 và 8 chưa thật cấp bách với Nixon.

Chính do thế mạnh chưa từng có của Việt Nam trong đàm phán, mà Nixon buộc phải giải quyết chiến tranh mới có thể thắng cử nhưng ông ta còn ảo tưởng có thể tạo sức mạnh trong đàm phán nên còn ngoan cố. Trong ba cuộc gặp riêng vừa qua cả Việt Nam và Mỹ tỏ ra thiện chí và thăm dò nhau là chủ yếu, lập trường cơ bản của hai bên là chưa thay đổi.

Mỹ mới tỏ ra mềm dẻo về hai điểm trong lập trường về giải pháp: thừa nhận trên văn bản ngừng bắn tại chỗ, cộng với ý trong phát biểu thêm: sự tồn tại của hai cơ cấu Chính quyền, hai Quân đội hai lực lượng chính trị rưỡi (lực lượng Mặt trận Dân tộc Giải phóng - lực lượng Nguỵ + nửa lực lượng thứ ba).

Triển vọng có thể như thế nào?

1- Nixon cho rằng Việt Nam bị suy yếu vì chiến tranh huỷ diệt của Mỹ ở hai miền và miền Bắc bị phong toả không đánh lớn được nữa và không thể đánh đổ ngụy quyền trước bầu cử ở Mỹ, còn ảo tưởng sự cải thiện quan hệ với Liên Xô, Trung Quốc gây khó khăn cho Việt Nam và hạn chế khả năng đánh lớn lâu dài của Việt Nam, còn hy vọng dùng thủ đoạn lừa bịp xoa dịu được nhân dân Mỹ. Mặt khác vấn đề giữ Nguỵ là vấn đề có ý nghĩa chiến lược đối với vấn đề thực hiện học thuyết Nixon trên thế giới. Có thể Nixon nghĩ rằng Việt Nam không muốn giải quyết với ông ta mà muốn tranh thủ Mc Govern để đánh đổ ông hoặc Việt Nam tiếp tục chiến đấu để đạt mục tiêu cao hơn.

Sự phát triển của tình hình tuỳ thuộc chủ yếu ở miền Nam ta thắng lớn, miền Bắc đứng vững và một phần rất quan trọng là do cuộc đấu tranh bầu cử sắp tới ở Mỹ. Vào cuối tháng 9 và đẩu tháng 10 mới thấy chiều hướng nào là chính.

2- Trong hoàn cảnh đó, Hà Nội chủ trương:

a) Đẩy mạnh đấu tranh trên ba mặt trận, tranh thủ giải quyết vấn đề với Nixon trước ngày bầu cử ở Mỹ đồng thời tích cực đề phòng khả năng tiếp tục chiến đấu trong những năm sau 1972.

b) Trong đấu tranh công khai vẫn là bảy điểm và hai vấn đề then chốt và trong tiếp xúc riêng vẫn là mười điểm ngày 1 tháng 8 vừa qua. Lập trường nguyên tắc giải quyết vấn đề Việt Nam là:

- Mỹ chấm dứt hoàn toàn và vĩnh viễn mọi dính líu quân sự của Mỹ ở miền Nam Việt Nam. Mỹ tiến hành mười năm qua một cuộc chiến tranh xâm lược hao người tốn của mà phải chấm dứt hoàn toàn và vĩnh viễn dính líu quân sự của Mỹ ở miền Nam Việt Nam thì đó là một thất bại to lớn của Mỹ, một thắng lợi rất to lớn của ta và của nhân dân thế giới...

- Giữ vững lực lượng chính trị và quân sự, giữ vững địa bàn của ta ở miền Nam Việt Nam là tạo điều kiện phát triển lực lượng của ta, làm suy yếu lực lượng chính trị và quân sự của Ngụy, lập được một Chính quyền ở miền Nam Việt Nam gồm ba thành phần và đảm bảo có quyền tự do dân chủ của nhân dân. Đó là yếu tố bên trong quyết định sự phát triển của cách mạng miền Nam.

- Mỹ bồi thường chiến tranh để xây dựng lại miền Bắc có ý nghĩa rất to lớn.

c) Phát huy tác động chủ quan của ta để vừa kéo vừa ép Nixon đi vào giải quyết với ta. Đồng thời ta cần ngăn chặn Nixon vượt tuyển cử để làm tăng khả năng giải quyết trước bầu cử. Nếu Nixon còn ảo tưởng vượt được tuyển cử mà không giải quyết thì khả nàng giải quyết trước tuyển cử càng ít, ta cần tập trung đấu tranh làm cho Nixon khó khăn thêm, thậm chí thất bại trong tuyển cử.

d) Trong cuộc đấu tranh, ta dựa vào sức mạnh của mình là chính nhưng ta rất coi trọng lợi dụng mâu thuẫn trong nội bộ Mỹ. Đó là vấn đề có ý nghĩa chiến lược. Mâu thuẫn trong tập đoàn thống trị Mỹ biểu lộ gay gắt nhất trong bầu cử là vấn đề Việt Nam. Ta đàm phán giải quyết với Nixon nhưng đến khi thấy không có khả năng giải quyết với Nixon thì phải ủng hộ phe đối lập trong việc làm cho Nixon thất bại. Tuy vậy cần làm cho nhân dân ta không có ảo tưởng vào tuyển cử ở Mỹ.

e) Trong giai đoạn đấu tranh quyết liệt và có ý nghĩa quyết định này cần tích cực tranh thủ sự ủng hộ của nhân dân thế giới đoàn kết, giúp đỡ Việt Nam.

Kissinger: Chấm dứt trước 15 tháng 10

Cuối tháng 8 và đầu tháng 9 năm đó, để làm tăng khả năng giải quyết với Nixon trước tuyển cử ở Mỹ, Hà Nội một mặt chuẩn bị phương án mềm dẻo trong cuộc gặp tới, mặt khác đẩy mạnh công tác đấu tranh trên dư luận. Báo chí ở miền Bắc - và Đài Hà Nội cùng Đài phát thanh Giải phóng liên tục phê phán thái độ ngoan cố của Nixon kéo dài chiến tranh không muốn giải quyết bằng thương lượng. Tất nhiên đây còn nhằm chống lại âm mưu của ông ta vượt tuyển cử mà không giải quyết.

Ngày 11 tháng 9, Chính phủ Cách mạng Lâm thời ra tuyên bố tố cáo Mỹ tiếp tục đẩy mạnh "Việt Nam hoá chiến tranh " ở miền Nam và đánh phá dã man miền Bắc, tố cáo Chính quyền Thiệu hiếu chiến, đồng thời khẳng định ở miền Nam có hai Chính quyền, hai Quân đội, ba lực lượng chính trị, và đòi lập một Chính phủ hoà hợp dân tộc ba thành phần.

Cùng ngày, Lê Đức Thọ sau một thời gian về Hà Nội cũng đã đến Paris và lên án Mỹ tiếp tục chiến tranh xâm lược Việt Nam và tỏ thiện chí của ta.

Trong thời gian này Hà Nội cũng tiếp đặc phái viên của ửng cử viên Tổng thống Mc Govern, và nhân dịp Quốc khánh mồng 2 tháng 9, ta thả ba tù binh cho phong trào chống chiến tranh ở Mỹ. Dư luận lại tăng sức ép đối với Nixon.

Ngày 29 tháng 8, Nhà Trắng lại tuyên bố rút thêm 12.000 quân nữa khỏi miền Nam. Như vậy, đến cuối năm đó quân Mỹ chỉ còn lại 27.000 người. Nixon đã được Đại hội Đảng Cộng hoà đưa ra ứng cử một nhiệm kỳ nửa và dư luận Mỹ tỏ ra thuận lợi với ông ta.

Kissinger đã tính toán đến nhiều khả năng: hoặc là đạt được một giải pháp trước bầu cử, hoặc là kết thúc chiến tranh bằng một bước leo thang sau bầu cử, hoặc là để cho xung đột tiếp tục với hy vọng cuối cùng Hà Nội phải nhượng bộ và đưa ra điều kiện tốt hơn. Kissinger ủng hộ phương án một - còn Nhà Trắng muốn leo thang. Kissinger thấy rằng đến tháng 1, khi Quốc hội Mỹ họp lại chắc chắn sẽ có một loạt nghị quyết đòi chấm dứt cam kết của Mỹ với những điều kiện không thuận lợi như những điều kiện Mỹ có thể đạt được ở Paris và nếu Mỹ không lợi dụng cơ hội trước ngày bầu cử ở Mỹ thì Hà Nội sẽ nhanh chóng nhận ra tình thế bấp bênh của Chính quyền Nixon. Và bất kỳ chính sách của Mỹ như thế nào sau ngày 7 tháng 11 (kiên nhẫn hoặc leo thang) thì Hà Nội vẫn có đủ thời gian, còn Chính quyền Washington thì lại vẫn rơi vào sức ép của Quốc hội (H.Kissinger. Ở Nhà Trắng Sđd, tr. 1385, 1380.).

Ngày 31 tháng 8, sau chuyến đi Sài Gòn, Kissinger và Đại sứ Hoa Kỳ ở Sài Gòn Bunker gặp Nixon ở Honolulu để vạch đường lối thương lượng với ta ở Paris. Tất nhiên, họ phải tính đến nhiều tình huống, kể cả việc cắt đứt thương lượng, nhưng "không đưa ra được một chiến lược nào khả dĩ làm đảo lộn một cách căn bản tương quan lực lượng ở Đông Dương nếu thương lượng thất bại" (H.Kissinger.Sđd, tr. 1385, 1380)

Mỹ cùng tìm sự ủng hộ của Trung Quốc và Liên Xô. Ngoài cuộc gặp gỡ với đại diện hai nước đó ở Washington, ngày 8 tháng 9, Kissinger lại qua Matxcơva trước khi gặp Lê Đức Thọ và Xuân Thuỷ ở Paris

Lúc này, quân Ngụy Sài Gòn mới lấy lại được Quảng Trị.

Bước vào cuộc gặp riêng lần thứ 17, ngày 15 tháng 9 năm 1972, Cố vấn Nhà Trắng cảm thấy vị trí của ông ta được củng cố thêm.

Washington rất lo ngại nếu Hà Nội tiết lộ việc thương lượng, nhưng khi gặp ta, Kissinger lại đặt ngay vấn đề đưa tin về cuộc gặp này. Ông ta nói không thể giữ bí mật được vì lần này ông ta đi công khai và sẽ gặp Tổng thống Pompidou của Pháp. Nhưng phản ứng gay gắt nhất là đối với tuyên bố 11 tháng 9 của chính phủ Cách mạng Lâm thời và việc thả ba phi công Mỹ cho phong trào chống chiến tranh ở Mỹ. Tất nhiên ông ta không thể làm gì được.

Để tỏ ra chủ động, ông ta xin nói trước. Sau những lời lẽ về thiện chí và nghiêm chỉnh của Mỹ, ông đưa ra đề nghị mới gồm mười điểm.

Kissinger cố nói về tính mềm dẻo của những điểm mà ông gọi là mới trong đề nghị của Mỹ và kết luận:

“Hoa Kỳ đã có một nỗ lực tối đa, để chú ý tới mọi điều quan tâm của các ngài, rằng những điểm này không phải là một đề nghị “nhận thì nhận không nhận thì thôi" hoặc là một tối hậu thư... rằng Hoa Kỳ sẵn sàng có nhân nhượng trong khuôn khổ kế hoạch đó, rằng Hoa Kỳ không đánh lừa các ngài... và không còn nhiều thì giờ nữa".

Cuối cùng ông ngỏ ý muốn đi Hà Nội nếu đạt được tiến bộ đáng kể ở đây, coi như là một thiện chí của Mỹ.

Trả lời câu hỏi của Lê Đức Thọ về Uỷ ban hoà giải dân tộc, Kissinger nói thêm là Uỷ ban đó được tổ chức ở tỉnh hoặc ít nhất là ở quân khu, không thể chỉ ở Sài Gòn... Khi có ngừng bắn thì Chính phủ Cách mạng Lâm thời và Chính quyền Sài Gòn kiểm soát thực tế trên một số địa phương nhưng Uỷ ban hoà giải dân tộc sẽ làm nhiệm vụ trên toàn miền Nam.

Sau này Kissinger thừa nhận “kế hoạch đó chỉ sửa đổi đôi chút về Uỷ ban bầu cử" và Uỷ ban hoà giải dân tộc nhưng thực ra so với đề nghị ngày 1 tháng 8 của Mỹ thì kế hoạch mới này là một bước lùi. Không những Mỹ không tôn trọng quyền thống nhất của việt Nam mà còn nhấn mạnh Nam Việt Nam là một Quốc gia riêng biệt, giữ hiến pháp miền Nam (có hứa hẹn sửa đổi), kéo dài thời gian lập quan hệ giữa hai miền và hạn chế quan hệ đó trong “nhiều mặt" chứ không phải “mọi mặt" như đề nghị cũ.

Vấn đề chính trị nội bộ miền Nam, quan điểm của Mỹ lại càng xấu: phủ nhận Chính phủ Cách mạng Lâm thời, kể cả với tư cách là một Chính quyền địa phương mà chỉ coi Mặt trận Dân tộc Giải phóng là một lực lượng trong khuôn khổ hiến pháp Nguỵ. Mặt khác đề nghị mới lại nhấn mạnh đến tính hợp pháp hợp hiến của chế độ Sài Gòn, giữ chế độ đó đến sau bầu cử.

Kissinger cũng phủ nhận nguyên tắc "bình đẳng" trong việc giải quyết các lực lượng vũ trang Việt Nam ở miền Nam mà chỉ nói “công bằng". Ông ta công bố việc ngừng bắn tại chỗ thay bằng “ngừng bắn chung" đi đôi với việc đòi quân miền Bắc rút khỏi miền Nam.

Mỹ còn gắn vấn đề viện trợ Mỹ cho Sài Gòn với việc viện trợ của các nước xã hội chủ nghĩa cho miền Bắc. Và khi giải thích thêm lại đòi miền Bắc không được viện trợ cho miền Nam để buộc ta chặt hơn. Mỹ không chịu rút hết nhân viên quân sự trong các ngành không phải quân sự như trong chương trình bình định và các Cố vấn quân sự kỹ thuật. Mỹ có một vạn Cố vấn loại này lúc đó ở miền Nam.

Mỹ vẫn gắn giải pháp về Việt Nam với các vấn đề quân sự ở Đông Dương, đòi quân miền Bắc rút khỏi Lào và Campuchia mà không nói gì đến lực lượng Mỹ và Thái Lan.

Tóm lại, Mỹ chưa muốn chấm dứt hẳn dính líu quân sự ở Nam Việt Nam. Họ còn đòi giám sát và kiểm soát quốc tế đối với ngừng bắn ở Đông Dương, định đưa các nước bên tham chiến và việc giám sát ngừng bắn.

Lê Đức Thọ tỏ ra không quan tâm lắm đến mười điểm mới của Kissinger, chỉ tỏ ra đồng tình rằng thời gian đã chín muồi để đi đến một giải pháp và phải nhanh chóng đi đến giải quyết vấn đề Việt Nam.

Ông Thọ liền trình bày quan điểm của Việt Nam về ba loại vấn đề:

- Tuyên bố về chính sách của Việt Nam.

- Nội dung giải pháp.

- Cách thương lượng.

Trước khi vào tuyên bố về chính sách của ta, Lê Đức Thọ nói:

“Muốn đặt vấn đề một cách đúng đắn thì phải xuất phát từ nguyên nhân của cuộc chiến tranh chính nghĩa và nhân dân Việt Nam là nạn nhân của sự xâm lược".

Lê Đức Thọ phê phán nguyên nhân mà văn kiện Mỹ đã nêu ra là không phù hợp với thực tế khách quan và hoàn cảnh lịch sử đó và không thể là nguyên tắc chung cho cả hai bên được. Ông cũng chất vấn Kissinger tại sao trong văn bản ngày 14 tháng 8. Mỹ lại bỏ đi hai nguyên tắc quan trọng. Có phải Mỹ vẫn muốn có một Chính phủ thân Mỹ ở miền Nam Việt Nam không? Mỹ còn muốn dính líu ở miền Nam và có dịp quay trở lại Việt Nam không? Mỹ còn muốn có các căn cứ quân sự của Mỹ ở khu vực này để làm bàn đạp tấn công lại Việt Nam không?

Không đợi Kissinger trả lời Lê Đức thọ nêu lên sáu điểm trong chính sách của ta - gồm mục tiêu chiến đấu của nhân dân ta, thái độ đối với Lào và Campuchia và việc giải quyết liên quan đến ba nước - mong muốn của ta có một khu vực Đông Nam Á hoà bình, độc lập, trung lập và hợp tác - chính sách ngoại giao theo năm nguyên tắc chung sống hoà bình của ta cùng độc lập tự chủ trong đường lối của Việt Nam và quyết tâm tôn trọng các Hiệp định sẽ được ký kết.

Tiếp đó Lê Đức Thọ phê phán mạnh mẽ những điểm tiêu cực trong đề nghị của Mỹ, kết hợp với việc trình bày kế hoạch mới của ta. Ông nói:

“Lần trước chúng tôi đã đề nghị thành lập Chính phủ hoà hợp dân tộc lâm thời ba thành phần đưa đến xoá bỏ Chính phủ Cách mạng Lâm thời và Chính quyền Sài Gòn ngay sau khi Chính phủ hoà hợp dân tộc nhậm chức. Lần này chúng tôi đề nghị thành tập Chính phủ hoà hợp dân tộc ở bên trên mà Chính phủ Cách mạng Lâm thời và Chính quyền Sài Gòn vẫn tồn tại.

Hai là... do chủ trương còn để tồn tại Chính phủ Cách mạng Lâm thời và Chính quyền Sài Gòn nên quyền hạn của Chính phủ hoà hợp dân tộc lâm thời về đối nội có sự hạn chế nhất định. Đồng thời Chính phủ Cách mạng Lâm thời và Chính quyền Sài Gòn sẽ tạm thời đảm đương việc quản lý các vùng mình kiểm soát và đưong nhiên phải thi hành các quyết định của Chính phủ hoà hợp dân tộc lâm thời...”

Kissinger tỏ ra vui mừng thấy phía ta từ bỏ yêu sách lật đổ Chính quyền Sài Gòn mà ta kiên trì từ nhiều năm nay.

Sang thời hạn rút quân Mỹ, ông Thọ đưa ra thời hạn sau bốn mươi lăm ngày sau khi ký Hiệp định toàn bộ - Kissinger ghi vội vào tập giấy để trước mặt ông ta. Rõ ràng vấn đề này đã gần được giải quyết.

Về vấn đề đề bồi thường chiến tranh, Lê Đức Thọ đồng ý không dùng "bồi thường chiến tranh”, miễn là thực chất Chính phủ Mỹ gánh vác trách nhiệm của mình và đóng góp 9 tỷ đô la (mỗi miền 4,5 tỷ) vào việc hàn gắn vết thương chiến tranh.

Lê Đức Thọ còn giải thích thành phần lực lượng vũ trang Việt Nam ở miền Nam gồm hàng chục vạn con em miền Nam tập kết ra Bắc năm 1954 cùng những con em miền Bắc tình nguyện vào miền Nam chiến đấu tổ chức thành những đơn vị quân đội trở vào miền Nam, và tất cả đặt dưới quyền chỉ huy của Chính phủ Cách mạng Lâm thời. Do đó việc giải quyết vấn đề lực lượng vũ trang Việt Nam ở miền Nam sẽ do Chính phủ cách mạng Lâm thời và Chính quyền Sài Gòn cùng nhau bàn bạc giải quyết.

Lê Đức Thọ cũng đưa ra thành phần Uỷ ban Quốc tế gồm năm thành viên: Ngoài ba nước hiện có Ấn Độ - Ba Lan - Canađa, mỗi bên giới thiệu thêm một nước và được bên kia thoả thuận. Về việc này Kissinger không chấp nhận Ấn Độ là một nước trung lập, không đồng ý đưa Ấn Độ vào Uỷ ban kiểm soát và giám sát quốc tế (đầu năm 1972, Ấn Độ đã nâng quan hệ với Việt Nam Dân chủ Cộng hoà lên hàng đại sứ và duy trì quan hệ với Sài Gòn - Tác giả). Lê Đức Thọ đề nghị đưa Cu Ba vào Uỷ ban kiểm soát và giám sát quốc tế nhưng Kissinger bác bỏ. Phía Việt Nam còn đưa ra thành phần cụ thể về Hội nghị bảo đảm quốc tế.

Về cách đàm phán, ông Thọ nhắc lại hai bên Hoa Kỳ - Việt Nam Dân chủ Cộng hoà phải giải quyết toàn bộ mới mở ra các diễn đàn khác.

Đề cập đến việc Kissinger vào Hà Nội, Lê Đức Thọ nói:

“Chúng tôi cho rằng nếu chúng ta đạt được kết quả về cơ bản về các vấn đề thì lúc đó chúng ta sẽ thảo luận".

Trong lúc trao đổi, Kissinger vui mừng và hỏi thêm nhiều điểm. Trả lời Kissinger xong, Lê Đức Thọ nhận xét:

- Ông Cố vấn nói tình hình đã chín muồi muốn nhanh chóng giải quyết vấn đề nhưng thời gian ông đề ra lại kéo dài và theo chúng tôi thì ông muốn kéo dài đàm phán để vượt tuyển cử. Có phải thế không?

Kissinger vội thanh minh rằng việc thương thuyết không có lợi ích gì đối với tuyển cử ở Mỹ vì đa số nhân dân Mỹ đã ủng hộ Nixon, rồi nhắc lại Mỹ muốn nhanh chóng chấm dứt chiến tranh, và đề nghị gặp lại sau mười ngày.

Lê Đức Thọ lắc đầu nói:

- Các ông chưa thật sự muốn đi vào giải quyết sớm.

Chậm lại một chút, ông Thọ nói tiếp:

- Nếu các ông giải quyết sớm thì chúng tôi cũng sẵn sàng giải quyết sớm. Nếu các ông kéo dài và tiếp tục đánh mạnh hơn thì chúng tôi cũng phải có cách đối phó. Đó là lẽ đương nhiên. Trách nhiệm thuộc về các ông.

Kissinger một lần nữa nhắc lại Mỹ muốn chấm dứt chiến tranh càng sớm càng tốt và nêu ra hai khó khăn là hai bên chưa thoả thuận về nguyên tắc và chưa đề ra được một lịch công tác. Ông ta nói:

- Nếu đồng ý đề ra lịch làm việc thì tôi cho rằng hai bên có thể giải quyết được trước 15 tháng 10, nếu sớm hơn được càng tốt.

Một lát sau, ông ta nói thêm:

- Chúng ta có thể bàn tất cả các vấn đề ở đây và các diễn đàn khác xong vào cuối tháng 11 năm 1972.

Lê Đức Thọ và Xuân Thuỷ hình như không để ý đến đoạn hai trong câu nói của Kissinger. Hai ông vui lòng nhận ngay thời điểm 15 tháng 10 của Kissinger vì đã lấy làm mừng thầm vì đã khéo léo kích đối phương nói ra điều mà mình mong muốn. Kissinger cũng vui:

- Có lẽ chúng ta đã đạt được thoả thuận đầu tiên trong cuộc gặp này là chúng ta sẽ cố gắng giải quyết chiến tranh trước 15 tháng 10.

Với tinh thần đó, hai bên hẹn gặp lại nhau trong hai ngày liền 26 và 27 tháng 9 năm 1972. Sau này Kissinger viết:

“Bất thình lình Lê Đức Thọ nêu ra một câu hỏi: ông có sẵn sàng đạt được một Hiệp định về nguyên tắc đến một thời hạn nào không? Và tôi thấy rằng không có điều bất lợi gì để ấn định một thời hạn cuối cùng trong lúc mà chúng ta chưa đưa thêm nhân nhượng gì. Và chúng tôi đã thuận 15 tháng 10” (H.Kissinger. Ở Nhà Trắng. Sđd, tr. 1389, 1392.)

Nhưng có lúc Kissinger lại nói đó là Lê Đức Thọ đưa ra là không đúng.

Hà Nội tăng sức ép - Washington trì hoãn.

Sau cuộc họp này, đoàn ta ở Paris báo cáo về rằng vẫn có hai khả năng: Mỹ vẫn giữ lập trường cũ và ý đồ của Mỹ rất có thể chỉ là thoả thuận với ta ở diễn đàn 1 trước bầu cử để Nixon vượt tuyển cử, nhưng mặt khác cũng thấy có khả năng Nixon muốn giải quyết trước bầu cử để bảo đảm chắc thắng, nhưng lại tỏ ra không vội, sợ tỏ ra yếu bị ta ép. Và đoàn đề nghị trong phiên họp tới tranh thủ khả năng giải quyết vào thời điểm 15 tháng 10.

Ngày 21 tháng 9, Hà Nội điện cho Paris đồng ý với nhận xét và nhận định trên đây của đoàn khẳng định một lần nữa là “cần thực hiện phương hướng nỗ lực đã được quyết định, tranh thủ giải quyết trước bầu cử ở Mỹ. Thời điểm 15 tháng 10 là phù hợp với những điều đã bàn. Đồng ý đưa phương án ba trong cuộc gặp tới như hai ông đề nghị”.

Cơ quan tham mưu của Hà Nội - lúc đó gọi là CP. 50 - cũng đã đề ra ý kiến cụ thể giải quyết những vấn đề bất đồng giữa hai bên như vấn đề viện trợ quân sự, thay thế vũ khí, tuyển cử hiến pháp và bồi thường chiến tranh. Thí dụ như:

1- Ta giữ các nguyên tắc là Mỹ tôn trọng các quyền dân tộc cơ bản của Việt Nam, chấm dứt dính líu và can thiệp, rút hết, rút toàn bộ quân Mỹ mà không trở lại, chấm dứt viện trợ cho Nguỵ quyền Sài Gòn, không được gắn vấn đề viện trợ quân sự của Mỹ cho Sài Gòn với việc viện trợ quân sự của các nước Xã hội chủ nghĩa cho Hà Nội.

Nhưng ta linh hoạt về các vấn đề thời gian rút quân Mỹ đi đôi với trao trả tù binh, hai bên miền Nam không nhận thêm vũ khí, cả hai bên có thể được thay đổi vũ khí, việc nhận viện trợ quân sự sau này sẽ do thẩm quyền của Chính phủ chính thức.

2- Về vấn đề chính trị nội bộ miền Nam, ta giữ nguyên tắc là Mỹ phải tôn trọng quyền tự quyết của nhân dân miền Nam, chấp nhận hai Chính quyền, hai Quân đội, ba lực lượng chính trị và chấp nhận “một hình thức Chính quyền”, hoặc hình thức “tổ chức hoà hợp dân tộc” ở bên trên với chức năng tối thiểu là bảo đảm hoà bình, thi hành và đôn đốc thi hành các Hiệp định được ký kết, thực hiện hoà hợp dân tộc, tự do dân chủ và tổ chức tổng tuyển cử còn sẽ linh hoạt về sự tồn tại của hai Chính quyền, về thời gian Thiệu từ chức và thời gian tổng tuyển cử.

3- Về lực lượng vũ trang, ta giữ nguyên tắc không rút quân miền Bắc khỏi miền Nam, nhưng sẽ linh hoạt về giảm quân số và phục viên. Cả đến tên gọi ta cũng có thể thoả thuận với đối phương như phía Mỹ có thể gọi Chính quyền Sài Gòn là Việt Nam Cộng hoà, gọi Chính phủ Cách mạng Lâm thời là Mặt trận Dân tộc Giải phóng hoặc nhà đương cục Mặt trận Dân tộc Giải phóng. Ta có thể ghi là đương cục Sài Gòn, Mỹ có thể ghi Việt Nam Dân chủ Cộng hoà hay đương cục Hà Nội...

Về cách đàm phán, Hà Nội cũng thấy rằng:

“Vì thời gian không còn nhiều và cần cảnh giác đề phòng việc Mỹ - Ngụy kéo dài đàm phán cho nên ta và Mỹ phải thoả thuận về một cách đàm phán thích hợp. Với sự thoả thuận của đồng minh của mình, Việt Nam Dân chủ Cộng hoà và Mỹ thoả thuận xong tất cả các văn kiện cần ký kết và bốn bên sẽ ký kết văn kiện. Các diễn đàn khác chỉ mở ra sau khi ký các văn kiện”.

Đợt gặp hai ngày bắt đầu từ 26 tháng 9 không diễn ra tại địa điểm cũ nữa vì đã bị lộ, mà ở nhà 108 phố Général Leclerc thuộc Thị trấn Gif - sur - Yvette, ngoại ô phía Tây Parỉs. Đây là một biệt thự hai tầng của hoạ sĩ Fernand Léger - Đảng viên Đảng Cộng sản Pháp - đã hiến cho Đảng sau khi ông mất. Nhà có vườn rộng, tường cao kín đáo. Chính nơi đây đã diễn ra cuộc gặp riêng trong hai tháng giữa ta và Mỹ.

Theo đề nghị của Kissinger, Lê Đức Thọ phát biểu trước. Cố vấn Nhà Trắng hy vọng được nghe ngay về nội dung các vấn đề trong giải pháp, nhưng ông Thọ lại chất vấn ngay về thời điểm mà Kissinger nêu ra hôm trước. Ông nhắc lại câu nói mập mờ nước đôi của Kissinger hôm 15 tháng 9 và nói:

“Tôi muốn hỏi ông Cố vấn một cách thẳng thắn và nghiêm chỉnh rằng Mỹ muốn kéo dài đàm phán đến sau bầu cử mới giải quyết hay muốn giải quyết chiến tranh ký kết Hiệp định toàn bộ trước 15 tháng 10? Các ông chọn hướng nào chúng tôi cũng sẵn sàng... Nếu các ông chọn hướng thứ hai thì thời gian không còn bao lâu nữa”.

Kissinger nhắc lại ý muốn giải quyết chiến tranh sớm, rằng ông sẵn sàng trở lại Paris và ở đấy ba, bốn ngày liền nếu cần, nhưng nêu lên trở ngại cho Chính quyền Sài Gòn không tán thành một số đề nghị mà Mỹ đưa ra và ta còn đưa ra nhiều yêu sách.

Lê Đức Thọ yêu cầu ông ta nói rõ hơn thì Kissinger khẳng định lại là “chúng tôi muốn giải quyết trong tinh thần đó" và nói ông ta có thể đến Paris ngày 5 tháng 10 và ở lại ba, bốn ngày làm xong việc vào 7 tháng 10, sau đó mở ra các diễn đàn khác có thể ký kết trước ngày 1 tháng 11 năm 1972.

Lê Đức Thọ ghi nhận lịch công tác đó - nhưng sau khi xem lại, ông Cố vấn Nhà Trắng đề nghị lui lại đến mồng 6 tháng 10 (rồi đến 8 tháng 10 theo đề nghị của Mỹ ngày 3 tháng 10 năm 1972).

Sang vấn đề Kissinger đi Hà Nội, mà ông ta đã đề ra hôm 15 tháng 9, chứ không phải do sáng kiến của ta như Kissinger viết trong Hồi ký của ông ta (H.Kissinger. Ở Nhà Trắng. Sđd, tr. 1392.). Ta thấy rõ vấn đề này, ngoài mục đích phục vụ tuyển cử còn nhằm đề cao vai trò cá nhân ông ta trong việc giải quyết vấn đề Việt Nam. Kissinger nói việc ông ta đi Hà Nội là thiết thực để góp phần vào việc giải quyết vấn đề và cần đi sớm, nhưng Lê Đức Thọ nói việc đi thăm đó chỉ có thể tiến hành sau khi đạt được thoả thuận toàn bộ và nêu ra một điều kiện: Mỹ phải chấm dứt ném bom cũng như thả mìn các cảng miền Bắc. Hôm đó việc này chưa giải quyết được và lại để đến cuộc họp sau.

Suốt buổi sáng ngày 26 tháng 9 đã mất về vấn đề thủ tục. Để tăng sức ép và đẩy nhanh đàm phán, buổi chiều ông Thọ đưa ra một kế hoạch mới với những điểm mới chủ yếu như sau:

Lập Chính phủ hoà hợp dân tộc lâm thời ba thành phần ngang nhau gồm mười hai uỷ viên làm việc theo nguyên tắc nhất trí, với quyền lực đối nội hạn chế. Lê Đức Thọ nói:

“Chúng tôi rất thực tế - chúng tôi thừa nhận Chính phủ Cách mạng Lâm thời và Chính quyền Sài Gòn tạm thời tồn tại và quản lý vùng mình kiểm soát trong thời gian từ khi ký Hiệp định toàn bộ đến khi thành lập Chính phủ chính thức ở miền Nam Việt Nam. Vì vậy chúng tôi đề nghị có một sự hạn chế nhất định về quyền lực đối nội của Chính phủ hoà hợp dân tộc lâm thời. Quyền lực đó chỉ trong phạm vi thi hành các điều khoản quân sự và chính trị của Hiệp định được ký kết”.

Tất nhiên phía Việt Nam vẫn giữ yêu cầu có bầu cử Quốc hội lập hiến - và phê phán Uỷ ban hoà giải dân tộc do Mỹ đưa ra là không có thực quyền và do đó không có hiệu lực đối với hai Chính quyền song song tồn tại.

Phía Việt Nam cũng đề nghị Uỷ ban kiểm soát và giám sát quốc tế gồm bốn nước và thành phần Hội nghị quốc tế bảo đảm.

Về vấn đề Đông Dương - trong văn bản trao cho Mỹ không có gì thay đổi.

Nhưng khi trao đổi thêm, Lê Đức Thọ đưa ra một đề nghị mà Kissinger tỏ ra rất vui mừng:

- Việc giải quyết hoà bình vấn đề Việt Nam sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho việc giải quyết vấn đề Lào và Campuchia... Khi chúng tôi đã giải quyết xong vấn đề Việt Nam thì không có lý do gì mà chúng tôi muốn chiến tranh ở Lào và Campuchia cứ tiếp tục...

Về vấn đề tù binh, chúng tôi đã nói với các ông rằng ở Campuchia không có tù binh Mỹ bị bắt, ở Lào thì có rất ít. Nhưng nếu các ông giải quyết được vấn đề chính trị và bồi thường thì chúng tôi có sự hiểu biết với các ông. Chúng tôi sẽ thảo luận với các bạn của chúng tôi.

Còn các vấn đề khác mà các ông nêu ra về vấn đề Đông Dương thì không giải quyết được - Nhưng xem như một sự hiểu biết giữa chúng ta, chúng tôi có thể nói với các ông như sau:

- Tất cả các lực lượng vũ trang nước ngoài ở Lào và Campuchia sẽ chấm dứt các hoạt động quân sự và sẽ rút khỏi Lào và Campuchia không được đưa quân đội và vũ khí trở lại Lào và Campuchia. Chúng tôi có thể tuyên bố như vậy, còn viết vào văn kiện thì chúng tôi không thể viết được vì vấn đề này liên quan đến thẩm quyền của Lào và Campuchia, không thuộc phạm vi Hội nghị này giải quyết.

Rất nhạy cảm, Kissinger hỏi lại ngay:

- Các ông có cho Bắc Việt Nam là nước ngoài không?

Lê Đức Thọ:

- Đối với Lào và Campuchia thì bất cứ quân đội nước nào khác ngoài Lào và Campuchia đều phải rút. Nhất định như vậy.

Lê Đức Thọ nhắc lại đó là đề nghị cuối cùng của phía Việt Nam thì Kissinger nói:

- Tôi chắc ông Cố vấn đặc biệt còn văn kiện nữa muốn đưa ra?

Ông ta cười và nói thêm:

- Tôi muốn biết ông Cố vấn còn xe tăng ở An Lộc không?

Lê Đức Thọ:

- Còn đạn và còn xe tăng. Nhưng đạn và xe tăng trong đàm phán thì đến mức độ nhất định nào đó không thể hơn được nữa.

Hôm ấy phía Mỹ cũng còn một đề nghị mới để đưa cho ta nhưng sau khi nghe Lê Đức Thọ, Kissinger xin rút lại để về sửa chữa - hứa hôm sau sẽ đưa. Nhưng khi thấy rõ có thể giải quyết được vấn đề Lào và Campuchia, ông ta lại trao văn kiện đó cho ta. Ông ta cũng nói sẽ cử tướng Haig, phó của ông ta, đi Sài Gòn.

Cuộc họp hôm sau, 27 tháng 9 năm 1972, Kissinger đưa ra đề nghị mới - đề nghị thứ năm trong năm phiên họp từ tháng 7, vẫn lập trường cũ: phủ nhận Chính phủ Cách mạng Lâm thời, duy trì chế độ Nguỵ, bầu cử Tổng thống, nhưng có hứa sẽ xét duyệt lại hiến pháp của Sài Gòn..

Đúng như ông ta đã nói sau này đề nghị gọi là mới này chỉ có những chỉnh lý nhỏ" trong đề nghị cũ của Mỹ (H.Kissinger. Ở Nhà Trắng. Sđd. tr, 1482.).

Điều đáng chú ý là ngoài đề nghị trên, hôm đó Kissinger còn trao cho ta bốn văn kiện khác:

1- Về rút quân và thả tù binh.

2- Về Uỷ ban kiểm soát và giám sát quốc tế gồm năm nước.

3- Về ngừng bắn chung toàn Đông Dương.

4- Về bảo đảm quốc tế.

Thực chất những vấn đề này là những Nghị định thư kèm theo Hiệp định sẽ ký kết.

Khi kết thúc việc trình bày đề nghị mới, Kissinger nói rằng đề nghị mới của Mỹ “đã đáp ứng mối quan tâm của Việt Nam".

Lê Đức Thọ đã phê phán một cách gay gắt các quan điểm sai trái của Mỹ, và đòi hỏi Mỹ phải ghi rõ việc tôn trọng quyền thống nhất của Việt Nam, quyền tự do dân chủ của nhân dân miền Nam, đặt biệt quyền tự do tổ chức, hoạt động chính trị...

Lê Đức Thọ cũng bác bỏ việc Kissinger đặt vấn đề quân miền Bắc rút khỏi miền Nam.

Lê Đức Thọ nhấn mạnh:

- Chúng tôi không thể đi quá xa ranh giới mà chúng tôi đã đề ra. Chúng tôi không thể nhân nhượng về nguyên tắc được... Nếu chúng ta cứ đàm phán theo cách này và kéo dài nữa thì chắc cuộc đàm phán không giải quyết được vấn đề gì. Chúng tôi muốn hoà bình độc lập thật sự nhưng không phải bất cứ giá nào... Phải có đi có lại mới giải quyết được. Chúng tôi đã mở ra con đường để giải quyết điều đó rõ ràng lắm... Các ông cũng có nhích lên nhưng nhích lên rất chậm. Nếu không giải quyết được thì các ông sẽ thấy chúng tôi quyết tâm lắm

Nhìn lại ba tháng trong giai đoạn chuyển tiếp, rõ ràng cuộc đàm phán đã đi vào giai đoạn thực chất và quyết định. Hai bên đã thăm dò nhau về những vấn đề cụ thể trong giải pháp.

Thực hiện chủ trương chuyển hướng chiến lược của Bộ Chính trị, phía ta đã đưa ra ba đề nghị (1 tháng 8, 15 tháng 9 và 26 tháng 9), phía Mỹ đưa ra năm đề nghị trong năm phiên họp. Những đề nghị của hai bên đi hẳn vào các vấn đề của giải pháp một cách thận trọng, chặt chẽ, từ các vấn đề quân sự đến các vấn đề chính trị, đến giám sát và kiểm soát quốc tế.

Ta đưa ra phương án từ cao đến thấp. Còn phía Mỹ lần nào cũng có đề nghị mới có nhân nhượng nhưng nhỏ giọt.

Tuy nhiên về giải pháp hai bên đã gần nhau nhiều hơn, nhất là về vấn đề quân sự: Rút hết quân Mỹ và căn cứ quân sự, ngừng bắn, chấm dứt ném bom và gỡ mìn ở miền Bắc, chấm dứt dính líu quân sự của Mỹ ở miền Nam, rút quân các nước thứ ba ở Lào và Campuchia. Đó là mặt chủ yếu.

Về chính trị, Mỹ nhận thực hiện tự do dân chủ và có một số điều trong chức năng của Uỷ ban hoà giải dân tộc gần với quan điểm của ta trong chức năng của Chính phủ hoà giải dân tộc.

Nhưng những vấn đề bất đồng còn nhiều, có những vấn đề rất xa nhau: thời hạn rút quân Mỹ, vấn đề rút nhân viên quân sự trong các ngành kỹ thuật và không phải quân sự, viện trợ quân sự cho Chính quyền Sài Gòn và cho miền Bắc. Vấn đề rút quân miền Bắc, Kissinger chưa từ bỏ hẳn.

Trong vấn đề chính trị còn vấn đề Chính phủ hay Uỷ ban hoà giải dân tộc bầu cử Tổng thống hay Quốc hội... vai trò của Chính phủ Cách mạng Lâm thời.

Ý đồ cơ bản của Mỹ là giữ được Ngụy quyền Sài Gòn, chưa chịu chấm dứt hoàn toàn dính líu quân sự ở Nam Việt Nam, không nhận trách nhiệm hàn gắn vết thương chiến tranh. Ta đã có nhân nhượng lớn nhưng phía Mỹ đã dùng nhiều thủ đoạn để kéo dài: nhân nhượng nhỏ giọt về các vấn đề chi tiết, rút ngắn dần thời hạn rút quân, thêm vài chức năng không quan trọng lắm cho Uỷ ban hoà giải dân tộc, hứa hẹn suông sau bầu cử Tổng thống sẽ bầu cử Quốc hội. Họ dùng cả thủ đoạn vặt như đưa ra ngừng bắn tại chỗ rồi lại rút lại thay đổi cách viết, hứa trả lời sau, để trống một vài chỗ, dùng những con bài phụ đánh lừa ta như Kissinger vào Hà Nội...

Hà Nội nhận định:

“Cuộc gặp riêng vừa qua làm rõ thêm thủ đoạn của Mỹ từ cuộc gặp 19 tháng 7 năm 1972 đến nay là mỗi lần gặp Mỹ chỉ nhân nhượng từng tí một, đồng thời lại nêu lên những vấn đề mới đế kéo dài đàm phán. Rõ ràng ý đồ của Mỹ là chưa muốn ký kết Hiệp định để chấm dứt chiến tranh trước bầu cử ở Mỹ mà chỉ muốn dùng đàm phán, muốn ta thoả thuận cơ bản với Mỹ, cho Kissinger vào Hà Nội, để vượt qua tuyển cử”.

Ngày 1 tháng 10, Nguyễn Duy Trinh, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao thông báo cho đoàn ta ở Paris:

“Chiều 30 tháng 9 các anh ở nhà đã bắt đầu thảo luận về cuộc gặp riêng 26, 27 tháng 9 và chủ trương sắp tới: Càng thấy rõ Mỹ chưa muốn ký để chấm dứt chiến tranh trước ngày bầu cử. Nixon chỉ muốn nuôi dưỡng đàm phán nhằm mục đích phục vụ tuyển cử. Tuy về chiến lược Mỹ phải rút khỏi về quân sự nhưng Mỹ ngoan cố giữ Nguy quyền Sài Gòn.”

Lúc này có ba khả năng đặt ra với Hà Nội:

1- Buộc Mỹ ký kết vào thời gian 15 tháng 10 như chủ trương cũ.

2- Thoả thuận cơ bản với Mỹ trước rồi sau bầu cử ở Mỹ sẽ ký kết toàn bộ.

3- Cắt đứt đàm phán.