CHIẾC LƯ ĐỒNG MẮT CUA

Ngày một thêm quen thuộc nết và ngày một thêm thân. Chúng tôi đã thành đôi bạn và nếu nói theo cái giọng của làng chơi, thì chúng tôi trở nên một đôi nhân tình. Trước mặt ông bà Thông Phu có lần tôi đã lồng vào ngón tay cô Tâm một cái nhẫn màu đen gọt bằng vỏ gáo dừa. Đấy là một cái vật thủ công còn sót lại của những ngày đi tù : những ngày mưa, ngày chủ nhật không phải đi làm cỏ thì ngồi trong trại gọt nhẫn mài nhẫn chơi.

Tâm giơ cái nhẫn kỳ dị ấy lên ánh chụp đèn búp măng và lấy tí dầu lạc nơi bàn đèn bôi vào nhẫn cho nó bóng. Ông Thông Phu và bà Thông Phu thấy đôi trẻ quấn quít nhau, cười rất độ lượng. Tôi nhìn ông Thông Phu gầy như một nhà tu hành khổ hạnh, tôi nhìn cái nhẫn gáo dừa vừa đeo vào ngón tay trỏ cho Tâm, tôi thoáng có một cái ý tưởng dính đến một thứ tôn giáo. Tôi nhận thấy ông Thông Phu phảng phất có những nét điềm đạm đau khổ của một vị giáo sĩ nhận lấy cái sứ mệnh bạc bẽo đi hành đạo ở một xứ mà nhân tâm còn bán khai, và trên cái miếng đất khô cạn bất trắc này, ông đã gặp Tâm và tôi cũng lạc lõng vào đấy. Vốn cùng chịu chung phép tắc của một thứ văn minh của người cùng thời cùng loại giữa một cảnh đất khách quê người chúng tôi đã đưa nhau đến trước mặt vị giáo sĩ đạo Cơ Đốc tình cờ ấy để đeo vào tay nhau một cái nhẫn cho ông chứng kiến và nhờ ông làm phép công nhận hộ cho một cái tình yêu thương đã xảy ra giữa một hoàn cảnh chưa có quy tắc, thiếu chế độ luân lý và đảm bảo của trật tự.

Tôi đã đem những cái ngoan cái khéo và tất cả những cái phong nhã trong người tôi ra mà đãi Tâm. Trước mặt ông bà Thông Phu chúng tôi rất nhí nhảnh trong sự chiều chuộng. Lời nói và cử chỉ trẻ trung của hai đứa tôi hình như có lần đã gợi nhắc cho vợ chồng ông Thông Phu một cái thuộc về ký vãng đôi bạn già yếu ấy. Một tối hút xong một bữa thuốc rất ngon lành, nghĩa là không có điếu nào chảy hoặc sa đèn và thú nhất là điếu cuối vẫn hoạt, kêu vo vo, tuy là mẻ sái ba, bà Thông Phu đố tôi và Tâm biết được cái khởi điểm cuộc tình duyên giữa ông và bà ấy.

- Chị đố chú và em biết đấy ?

Bà gõ đuôi dọc tẩu vào đầu ông Thông Phu đang mơ màng, lim dim và tay gãi trên quần áo :

- Tôi đố cả mình đấy. Xem mình có còn nhớ không nào ? Tại làm sao mà tôi biết mình, tôi để ý đến mình và rồi sau lại thành ra vợ chồng ?

Tâm vờ tì hẳn vào người tôi, véo một cái rất mạnh. Cái véo dứt được thịt ra ấy lại chỉ làm tôi buồn cười to. Nghỉ ngơi một lát, ông Thông Phu mới trả lời, miệng nói mà mắt vẫn nhắm : « Tại cái củ gừng nướng chứ gì nữa ».

Thích chí, bà Thông Phu không cần tìm cái viên sái bắn ra chiếu, vội đặt lại đèn vào giữa khay, khen chồng : « ồ giỏi ». Bằng lòng bỏ một viên sái không chịu tìm đến kỳ cùng là một sự hiếm có trong tâm tình người nghiện. Nhưng phút này, câu chuyện tâm tình giật lùi về dĩ vãng lại còn đáng kể hơn điếu sái. Ngắm kỹ bà Thông Phu, tôi ngờ lúc còn con gái, hẳn bà Thông Phu cũng không đến nỗi xấu. Bà kể chuyện những ngày đã qua :

- Này chú ạ, thực đấy, anh nhà làm bạn với chị cũng chỉ vì có một ánh gừng nướng. Hồi ấy chị chả có chứng đau bụng mà. Nó mà lên cơn thì tưởng nhẩy được từ giường nọ sang giường kia. Anh mới đi xin đâu được củ gừng và xuống bếp nướng cho chị. Hồi ấy, anh nhà chú đẹp trai kia chớ đâu lại có như bây giờ ấy. Giầy « dôn » củ nghệ, áo sa tây hoa mép đỏ, can bịt bạc, bít tất lụa tím, mũ ca dô chê. Cu cậu cứ thế mà chúi xuống bếp thổi bếp do, bụi cứ mù cả lên. Nghĩ tình, mình đâm ra cảm. Rồi là lấy nhau. Chẳng cứ gì phải ba chìm bẩy nổi chín lênh đênh mà mới yêu thương nhau được cho bền, em và chú ạ. Đấy em và chú xem !

Những đêm vui và thân như thế là chúng tôi lại cho đi gọi cái người đàn bà Huế vẫn bán nem nướng đến, bảo quạt cho dăm chục sâu rồi cùng cất chén hể hả với nhau cho đến lúc gà gáy. Rồi Tâm lại lấy cái chăn bông vải hoa đắp cho tôi. Nàng có chăn gối riêng. Mỗi lần đổi chỗ ở theo cái đà nghiệp dĩ của một con hát trôi nổi giang hồ là nàng lại đem chăn gối đi theo, cùng với cỗ phách và chiếc hòm da sơn đen.

Nói đến tấm chăn bông của Tâm, tôi nhớ rằng nhiều đêm chúng tôi gây phiền lụy cho vợ chồng ông Thông Phu không biết bao nhiêu.

Từ khi có Tâm vào hát giúp, nhà ông Thông Phu trở nên đông khách lui tới. Lắm khi tôi tranh mà cũng không thừa chỗ.

- Thôi, việc gì chú phải dành nhau với bọn họ. Tiền của họ nó như nước chẩy ấy mà. Chú địch thế nào được. Có họ hát là anh chị không túng rồi, chú đừng ngại. Chú cứ nằm chơi với tôi ở nhà trong là được rồi.

Tâm nó cũng cho như thế là phải. Nhưng tôi, được thể có nhời nói ấy, tôi đã lạm dụng cái chỗ chí tình của chủ nhà hát và đêm nào cũng dẫn thần xác đến nằm ở gian nhà trong, lắm lúc không còn biết ngượng là gì nữa. Cứ cái chăn bông của Tâm mà quấn vào người, nằm bên khay đèn, trông lù lù chẳng khác gì mả Đạm Tiên. Nhiều khi, nhà ông Thông Phu đã mất hết cả khách vì cái chăn của Tâm. Lắm bọn ngủ đêm lại, lúc Tâm hát xong chạy xuống nhà dưới, họ vào buồng xục thấy có cái chăn vừa đẹp vừa sạch, lôi ra đắp, để lúc Tâm lên tìm chăn cho tôi thì là thành ra cả một cuộc giằng co rồi cãi cọ. Rồi ầm ầm giận dỗi, họ bỏ về, gọi nhà chủ lên trả tiền kém đi. Nếu chủ nhà hát có nói một vài câu nhẹ nhàng khuyên Tâm nên chỉnh lại tính nết, « đừng nên làm mích lòng ai, vì nhà ta là một nhà buôn bán phải cần đến khách hàng » thì Tâm sị mặt ra, nói rằng :

- Không, chỗ chầu hát đó, nếu họ không trả thì em xin đền. Nếu em không sẵn tiền mặt trong người thì hai bác cứ trừ vào tiền hát của em.

Ấy thế rồi là Tâm chui tọt vào tấm chăn. Tôi rất lấy làm ngượng đối với ông bà Thông Phu, chỉ muốn chui ra khỏi chăn ngay. Tôi còn biết nói thế nào. Ông bà Thông Phu cũng thân, mà Tâm cũng thân Tôi chỉ biết ngồi im mà xem, vô ích như một người chồng ngồi nhìn vợ lời đi tiếng lại với bố mẹ đẻ mình. Phiền nhất là những việc khó chịu như thế thường kéo dài ra đến mấy buổi. Sáng ngày hôm sau và ngày hôm sau nữa, Tâm vẫn làm mình làm mẩy, có khách đến nghe hát, nàng nhất định không ra mặt, lấy cớ rằng khan giọng, rằng trong mình có bẩn :

- Mời bác ra hát hộ em vậy. Chứ em khô khan cả cổ. Hoặc các ông ấy muốn nghe ai thì cho đi gọi họ đến, rồi lấy cái tiền mảnh hát của em mà chi cho họ vậy.

Tiếng Tâm nói dối với chủ nhà hát vẫn trong trẻo như thường. Bà Thông không muốn mảnh hát lọt vào tay người ngoài, lại lóp ngóp bò ra ngoài nhà xin lỗi quan viên và gõ phách thay. Tôi bảo Tâm :

- Em không thấy hai bác đối với em tốt là như thế, quý là như thế sao ? không nên làm phiền cho người ta. Cái tính em thật là mưa nắng không chừng, đến ngay anh nhiều khi cũng khó chịu.

A, anh lại cũng vào hùa với ông bà ấy nữa à. Anh phải biết vì ai mà tôi không cho họ đắp lẫn đắp chung cái chăn của tôi ? Hơi hướng của tôi…

- …đã đành rằng thế, nhưng mà…

- …Nhưng mà làm sao ? Tôi rất buồn mà nói cho anh biết rằng tôi đã bắt đầu chán cái tỉnh này rồi đấy, Tâm vào đây, hay thì ở mà dở thì lại quay về Bắc. Khối người chào hỏi đón đưa. Nặng bồng nhẹ tếch, khăn gói lại cút, khó gì. Gió lại đưa đi, ấy mà.

Tâm cười gằn. Cái cười ấy nghe cả quyết lắm và đúng là tiếng cười sinh chuyện của những người trăng hoa đến lúc đã muốn tỏ giọng phũ phàng ra mặt.

Nhưng rồi sau những ngày bực mình ấy, cũng chẳng ai đi đâu cả, và cũng chẳng ai làm sao cả. Tâm vẫn không về Bắc mà tôi vẫn nằm lù lù ra đấy để đắp một cái chăn bông đã gây ra nhiều chuyện. Và ông bà Thông Phu ăn ở trước sau vẫn không có gì là lệch lạc cả.

Tôi liên miên nằm ở nhà ông Thông Phu, đổi đêm làm ngày, vậy mà cũng được gần ba tháng liền. Rượu, trà, thuốc phiện, đàn bà và công nợ. Tăm tiếng chơi bời bắt đầu từ đấy và không thể nào đậu được ở nhà nữa. Có lần vợ tôi đã bắt được tôi quả tang nằm ăn thuốc phiện với Tâm trên một cái giường giải rơm, gốc dạ dưới nhà cầu nhà ông Thông Phu. Chẳng hiểu nhà tôi đã nghĩ như thế nào mà ngay lúc ấy không to tiếng.

Nhà tôi chỉ thở dài sau câu : « Cậu thích nằm cái ổ rơm ấy lắm à ». Có lẽ vợ tôi đã cầm bằng tôi là một người thừa quá cho nàng mất rồi. Từ dạo đó, tôi thấy nhà tôi săn sóc mấy trẻ hơn là trước. Tôi ngờ rằng nhà tôi đã muốn chuyển hết cái lòng yêu chồng sang một cái tình yêu con. Lòng tôi ngổn ngang cũng biết hối sợ. Nhưng lòng hối lỗi ấy chỉ vững được có một vài giờ vào buổi sớm, những lúc tôi ở nhà hát ra về, bước qua ngưỡng cửa nhà, không một ai thèm ngấc đầu lên nhìn, không một ai thèm trách móc cho một tiếng, để mặc kệ mình lẳng lặng lên cầu thang gác. Nhìn cái bộ quần áo vò nhầu, ngắm cái đầu bù trong gương và cái bộ răng vàng ệch những khói các thứ thuốc, lấy lược gỡ tóc thì y như thế nào cũng có một cục cái đã dính bét vào đấy, tôi đã tự ngắm đi ngắm lại cái mình tôi, lấy làm ê chề đau tủi vô cùng, tưởng rằng không thể nào trở lại xóm yên hoa được nữa, mặc dầu ở đấy có một trăm ông Thông Phu và một ngàn cô Tâm. Tôi lại nhủ tôi rằng thôi, cái lần này là lần cuối cùng. Nhưng, buổi chiều đã đến. Mặt trời đã vàng nhoè sau cái nếp thành tỉnh rồi đấy. Kéo một giấc ngủ ngày rất ngon lành, tôi đã vùng trở dậy, để đứng trước một cảnh hoàng hôn. Lòng tôi thấy vui vui. Và trong tai hình như có đủ âm tiếng đàn đáy. Buổi hoàng hôn mà nhiều khi lại có cái phong vị của bình minh. Cái giờ nầy mới là lúc khai mào cho ngày sống của tôi. Không cần đến rượu khai vị nữa, chỉ một thau nước lã rửa mặt không thôi, là tôi đã thấy chân muốn nhảy nhót, miệng muốn huýt sáo cùng ngâm thơ và ngón tay muốn dờ mó đến nhiều thứ. Những khổ đàn xa xăm lại vẳng trong lòng nhộn nhạo. Có khi tôi lắng nghe nó thành ra một điệu Thét Nhạc : « Đờn ơi đờn, một tiếng dương tranh. Chung thưa ngọc ô, đờn não nùng chiều ơi o… áá… án… »

Tôi thay quần áo, chải chuốt ngắm nghía và nhớ đến người ta, có lần, đã gọi tôi là một con đĩ đực. Ban ngày ngủ, lúc nhá nhem thì mới làm dáng để lượn.

Tôi đã coi hẳn nhà hát ông Thông Phu là một cái nhà của mình. Ăn ở đấy, ngủ ở đấy, tắm rửa ở đấy. Ai muốn hỏi han điều gì cũng do đấy. Chỉ vì một lẽ không được nhanh tiện, chứ không có thì nhà hát ông Thông Phu cũng thành nốt ra một cái hộp thư của tôi nữa. Đây vốn là vùng ngoại ô châu thành ấy, người phu trạm thành phố không phát thư đến, ai có thư từ gì thì do trạm của phủ Đông Sơn chuyển giao chậm hơn mất hằng mấy ngày. Cách vài ngày, tôi mới tạt qua về nhà một lần, thay ít quần áo sạch và đem theo đi ít quần áo nữa. Tất cả nhét vào một cái cặp da gọn quá. Thầy mẹ tôi có hỏi đến thì tôi đã có sẵn một câu nói dối dùng đi dùng lại không biết đã bao nhiêu lần.

- Thưa con đi vắng ít hôm. Về cùng quê thăm mấy người bạn.

Thầy mẹ tôi cũng là người cả tin thật. Thứ nhất là thầy tôi. Ai đời có một lần thế này mà thầy tôi cũng cho là thật nữa kìa.

Nguyên có một người nhờ thầy tôi làm xong một việc lôi thôi ở nhà quê, có đem lên tạ thầy tôi nửa hòm sâm banh. Thầy tôi không uống được rượu, bèn cho cất vào trong buồng thờ. Một buổi tạt về nhà tôi lục lọi thấy, và nghĩ ngay được cách lấy hết lũ chai rượu đó di. Tôi đã gò lấy vẻ nghiêm trang, trình với thầy tôi rằng hiện giờ có người mách cho một chỗ đi làm rất tốt. Nhưng phải có ít lễ chính đưa đến trước thì mới được giáp mặt chủ và người ta mới nhận nhời.

- Thế người ta muốn thứ gì ?

- Dạ thường thường như thế thì chỉ đưa độ mươi chai rượu thứ có giá là tiện hơn hết.

- Bây giờ thì biết nên mua rượu gì ?

- Con thấy ở trong buồng thờ có ít chai sâm banh vào hạng khá. Thầy cũng không mấy khi uống đến. Giá đem lễ họ thì khỏi phải mua ở hiệu ngoài nữa.

- Ừ, như thế thì cũng tiện. Ờ muốn đem thì cứ đem. Nhưng phải cẩn thận kẻo đưa cho một người không chắc chắn thì việc đã chẳng xong mà còn chịu tiếng là hớ nữa. Mỗi lúc đến nhà người ta mà đòi rượu lại sao ? Thầy thấy người nhận lo việc là rất hay lếu láo.

Thế là tôi đã đưa ra xe cả cái hòm rượu ấy đem thẳng xuống xóm, gởi mỗi nhà vài chai, thỉnh thoảng cho mở nút kêu đánh đốp một cái, chuốc lấy một cái tiếng chơi sang.

Tôi nằm ở nhà ông Thông Phu nhiều quá đến nỗi nhiều chủ nhà hát cùng xóm đã phải ra mặt ghét. Có đêm nào đến với các bạn hát sẵn chờ hẹn ở đấy, thỉnh thoảng lạc vào nhà họ một lúc là y như được nghe những câu nói mát :

- Mấy khi rồng lại đến nhà tôm.

- Ở bên này, chị em đây đều là nhà quê cả, đâu được tài khéo bằng cô Tâm bên ấy.

- Chúng em không dám ngồi như thế, ngộ cô Tâm đi qua trông thấy thì bất tiện quá.

- Chị em đã cho gọi về rồi kia kìa.

Có thế, Tâm đã cho người nheo nhéo tìm tôi « về ngay » có việc cần hoặc thân chinh đến tận cổng nhà hát hàng xóm, rủ tôi đi chơi phố mua ít thước vải lụa hay là uống một cốc cà phê. Một lần Tâm bắt cùng đi bộ và buộc tôi phải đi qua phố Cửa Hậu. Tôi ngần ngừ, tỏ ý không thích. Lâu nay tôi đã bán hẳn cái xóm Cửa Hậu. Ở đây, đối với vài nhà hát quen, tôi đã để lại nhiều chầu hát chịu và từ ngày gặp Tâm, tôi bất cố lai vãng và cũng không có một lời khất khứa nào cả.

- Tại sao anh lại không đi con đường ấy. Hay là phải đi phố với em mà anh ngượng ? Ra đều rằng nhà hát phố Cửa Hậu toàn là sang trọng mà Tâm chỉ là một cô đào xóm Quán Giò, dẫn Tâm đi qua, sợ họ cười chê.

Tâm đã có giọng nói sẵng và cười một cách khó hiểu. Tôi phải chiều ý. Nhưng đã đi ngược khỏi phố một lượt rồi, Tâm còn bắt tôi đi quay xuôi lại một lần nữa. Nàng vênh váo, khúc khích. Tôi nhìn thẳng, không ngó ngang vào một nhà hát nào cả. Nhưng tôi thừa biết ở bờ hè nhiều nhà hát mở rộng cửa, đèn sáng chưng, có vô số người đàn bà đang thì thầm về tôi và chỉ chỏ theo tôi. Đi khỏi phố cửa Hậu không thấy xảy ra một việc gì, không có ai chạy theo gọi giật giọng, tôi thở mạnh như cất được một gánh nặng.

- Thôi, bây giờ thoát khỏi cái phố nguy hiểm rồi. Em chỉ cầu đi với anh qua đây một lần thôi. Một việc dù có hay mấy, cũng chớ nên nhắc lại lần thứ hai. Anh vui lên đi thôi chứ.

- Có điều gì đáng vui đâu ? Em vừa nói cái việc hay hay ấy là việc gì vậy ?

Trên đoạn đường đi ra ngoài thành phố không có ánh sáng của đèn điện, Tâm nói bằng một giọng thành thực thiết tha :

- Anh nợ tiền các nhà hát nhiều lắm. Nợ từ khi em chưa đặt chân tới cái tỉnh này kia. Từ hôm em đến hát giúp ông bà Thông Phu, kể có gần ba tháng, anh liên miên ở cạnh Tâm, không có đi hát ra ngoài một chầu nào cả. Và những nợ cũ của người ta, anh cũng chẳng có dịp trả cho ai cả. Cái điều em bằng lòng nhất ở một người đi chơi như anh là anh đã dấu kín em những chuyện ấy. Phàn nàn chuyện công nợ vì chơi bời với một người cô đào mình đang quấn quýt là một điều vụng về rất keo bẩn. Có người khai ra như thế tưởng là đánh cao được cái giá ăn chơi của mình. Có người khai ra vì cái lẽ muốn bịt lối thưa gởi của một người bạn hay xin hay hỏi, nghĩa là làm như thế để cố tránh những việc người quen có thể quấy quả đến tiền bạc may vá sắm sửa. Tôi đã gần như người thập thành rồi, còn lạ gì. Riêng đối với anh, tôi thấy cái nết im lặng đó là thu thú và vì thế hôm nay tôi muốn gỡ cho anh một cái tiếng trước mặt những người – không kể là chủ nhà hát được cô đào hát xưa nay vốn đãi anh rất tốt. Cái việc anh đi lại với Tâm trong mấy tháng, còn ai lạ gì nữa. Thứ nhất là cái tính hơi du côn của Tâm lại gây cho Tâm nhiều người thù oán, nói xấu nói nhảm nữa. Thế nào họ chả bảo anh đã đưa cho tôi bao nhiêu là của chìm của nổi. Và vì vậy, mới đọng hết những chỗ công nợ cũ lại. Hôm nay cố kéo anh qua cái phố Cửa Hậu, lượn lên lượn xuống như thế là Tâm muốn khất nợ cho anh đấy. Cho họ hiểu rằng anh đang vướng vào tôi, anh đang tốn phí về tôi, đang bận vì tôi không phải là ít và chưa có thời giờ để nghĩ đến họ. Tình và tiền của anh hiện giờ đều mắc có việc cả rồi, không để thừa cho ai cả.

- Nói làm quái gì những chuyện phiếm ấy. Nghĩ đến, tôi rất ngượng. Tâm chưa tiêu vào của tôi một đồng nào. Chẳng dám nói đến chuyện sắm xe sắm ngựa, mua đồ đạc bày nhà riêng, nhưng ít ra cũng phải mua hộ ít quần áo hoặc đưa cho nhau thỉnh thoảng mười lăm đồng ăn quà vặt cùng là vui cây bài canh bạc với chị em trong xóm chứ. Đằng này…

- Việc gì phải nhắc nhỏm đến những việc vặt đó. Tâm đã lấy thì nhiều lắm. Xưa nay em đã có tai tiếng là đi vụt thiên hạ dữ lắm kia mà. Họ đã gọi em là cái máy nhai tiền. Không sẵn tiền thì không nên quen « con » Tâm. Tình cảnh của anh quẫn, chỉ có Tâm biết chứ thiên hạ ai chẳng bảo khác. Thì anh cứ để cho họ hiểu nhầm như thế một phen thì đã làm sao. Tâm cũng không định ở đây nữa. Còn ít hôm nữa là Tết. Tâm về quê thăm nhà, thăm chồng (!) thăm con (!) và không biết có dịp trở vào nữa không. Ở đây lại còn chán hơn ở nhà, ở quê nhà nữa.

Thấy tôi có chiều suy nghĩ, nàng tiếp :

- Chắc anh đang suy nghĩ về chuyện Tâm về. Không nên nghĩ gì thêm nữa. Mất vui. Gần nhau nhiều quá, phải có xa cách thì mới khỏi chán. Phải duyên vừa lứa thì còn gặp khối. Vả lại Tâm ít ngày gần đây, cũng có ý nhớ nhà… Còn việc em về quê, anh không cần đưa cho em tiền nữa. Chỗ tiền em hát giúp ông bà Thông em đã lấy ra mảnh hát nào đâu. Cũng được đến trên ba chục anh ạ. Thế là thừa tiền rồi. Từ nay đến hôm em về quê ăn Tết, cấm anh không được nhắc lại và đả động đến. Cần nhất là trước hôm đi, hai đứa phải uống một bữa rượu cho tử tế ; ngoài ông bà Thông, anh và Tâm, không cho một ai dự nữa. Đông, nó loãng chuyện ra.

Tâm nhất định ngày ba mươi Tết là về quê. Đi chuyến tàu sớm. Chiều hai mươi chín, tôi buồn như cái tết sắp đến của những người rất nghèo về tiền nong và rất giàu về tâm thuật, lòng chứa đầy những ý đẹp ý tốt mà hoàn toàn thiếu hết phương pháp thực hành với mình, với chung quanh. Tôi buồn và xấu hổ nhất là vẫn cứ để bà Thông Phu bỏ tiền túi ra mà đi chợ mua thức ăn làm bữa nhậu tiễn Tâm ngày mai về quê. Bà Thông Phu và Tâm xách rổ đi ra chợ tỉnh rồi, tôi ngồi nhìn cái nhà hát vẫn còn chống chếnh chưa có một vật nhỏ mọn gì gợi trước đến cái Tết chỉ còn có hai ngày nữa thôi.

Ông bà Thông Phu và thứ nhất là Tâm vốn thích hoa hồng, tôi có cái ý tưởng là tối hôm nay, lúc động đũa bát, trong nhà phải có không biết bao nhiêu là hoa hồng. Hoa hồng về tiết này ngày gặp nắng, đêm gặp mưa nhẹ, mưa nắng đều hòa, nở cứ tung hết ra ở mọi khoảnh vườn dưới Lò Chum. Đi một cái xe cao su xuống Lò Chum, cầm một cái kéo vào những cái vườn rườm rà xanh um điểm vô khối là chấm đỏ thắm, đỏ chót, đỏ nhợt, xen vào những chấm trắng, cái giờ phút ấy trong một ngày cuối năm, còn có gì nhẹ nhõm hơn nữa. Gật đầu chào ông chủ vườn, cười với mấy đứa bé bán hoa, xoa đầu bọn trẻ tưới vườn bắt sâu lá, huýt sáo miệng dỗ một con chó quen, xong rồi là đi vào luống hoa mà lựa cành cắt cuống, chao ôi ! sung sướng thay. Cái thèm muốn ấy chỉ đem lại cho tôi những buồn cực. Vì lâu nay tôi nợ tiền hoa hồng các vườn ấy đã nhiều lắm rồi. Mãi không trả được, không dám xuống đến nửa tháng nay. Mấy người chủ vườn tôi quen ở bờ con sông đào Bến Ngự vốn nghiện thuốc phiện. Biết rằng thấy được cầm một hộp thuốc họ có thích hơn là cầm lấy đồng tiền, tôi thường trả tiền chơi hoa cho chủ vườn bằng cách đưa cho họ những hộp thuốc phiện. Dăm bảy lần xuống cắt hoa về thì đưa cho họ một hộp năm phân. Mươi mười hai lần thì một hộp mười. Các chủ vườn hồng đều nhận cái ước lệ mậu dịch đó là tiện và tôi cũng thấy thế là lịch sự hơn cái lối cứ đưa vặt mỗi lần dăm bảy xu hoặc một hai hào bạc. Hồi ấy, thuốc phiện nhà nước bán có một trăm đồng một cân tây, tưởng đưa như thế cũng là phải chẳng, nếu có tính tiền hoa theo như giá hoa tháng ở các thành phố lớn. Nếu họ có thiệt thòi thì chỉ thiệt về chỗ tôi hay cắt những cành dài, nhiều khi mất hại nhiều nụ con mới nhú lên. Tôi vốn rất ghét cái lối ngắt hoa sát đài sát cuống, trông không có chân, chẳng khác gì hoa bứt để cúng rằm.

Tính chỗ tiền nợ còn đọng lại ở các chủ vườn hồng, giờ có muốn cho thanh khoản để trở được lại vườn cũ mà cầm kéo cắt sang lớp hoa mới, thì cũng phải có đến ba bốn hộp thước mười phân, mới xong. Tiền buổi chiều định xoay đưa cho bà Thông Phu đi chợ làm rượu tiễn biệt Tâm cũng còn không có nữa là. Nhưng mà chẳng nhẽ tôi cứ ngồi ỳ ra đấy, không chịu đi tìm kiếm thêm lấy một vưu vật gì để góp thêm vui vào cái bữa rượu cuối năm, có một người tri kỷ tên là Tâm sắp lên đường.

Ở cái buổi chợ Tết chiều ngày ấy, tôi đứng trước một cái bàn độc của một người bán thủy tiên, còn độ một chục củ, phần nhiều là hoa kép. Có mỗi một củ đơn thì đã mãn khai. Người bán thủy tiên thấy tôi do dự nhiều quá, dọn một cái cười chào hàng rất chân thành bảo tôi :

- Thủy tiên năm nay khó có hoa đơn lắm. Có mỗi một củ, hãm mãi mà không được. Nếu cậu có muốn dùng đúng vào giao thừa thì có cái củ hoa ở cốc xanh kia. Phải cái nó là hoa kép.

- Nhưng tôi không sẵn tiền đây. Nếu có bằng lòng để đến chiều ba mươi hãy lấy tiền thì tôi mua hai củ này.

Một buổi chợ hoa có ngay năm tàn, tôi lại là một người đi mua hàng chịu. Hát quanh năm đã hát chịu rồi ! Cái nghiệp sui ra thế chăng ? Tôi sỡ dĩ có cái can đảm dám hỏi mua chịu của một người bán hàng phiên chợ Tết là vì bác ta có biết tôi và xưa kia khi bác ta còn là một người om gà đá, bồng nước cho gà ở các trường đá gà, tôi vẫn cưu mang bác, lúc thì một bao diêm sái nhất, lúc thì một cái áo tây hoặc chiếc áo sơ mi thải. Bác vui vẻ :

- Dạ được, cậu cứ lấy. Chiều ba mươi cậu cho đem trả cũng được, qua năm mới, cậu mở hàng cho con cũng càng hay. Vợ chồng con bây giờ ở chung với chú cháu ở xóm Cử Tiền. Chú nó bán phở.

- Thế nhưng mà cho tôi mượn cả cốc kia. Chốc nữa tan chợ, bác cho đưa cả cốc xuống nhà ông Thông Phu. Biết nhà ông Thông Phu ngoài quán Gió đấy chứ ?

Trên mâm rượu tối ấy ở nhà ông bà Thông Phu khói mỡ món ăn nóng đượm mùi lạnh của chia ly. Trên đống than hồng trong chiếc lư lấy ở bàn đèn chủ nhân ra, tôi rắc vào những vụn trầm Quảng Nam bốc trộm ở bàn thờ gia tiên lúc tạt về qua nhà khi ban nãy ở chợ rẽ về thăm lại vợ con. Cố làm ra bộ vui mà thỉnh thoảng Tâm vẫn thốt ra câu thơ ngâm với một giọng sầu nhớ mênh mông. Hai củ thủy tiên mua chịu, củ đơn đã mãn khai như muốn rầu cánh úa lá và khóm kép hàm tiếu thì như càng muốn giấu kỹ trong cành hoa khép những giọt nước rầu rĩ tuôn.

Rượu nửa chừng, cao hứng, tự ý Tâm đem phách đã cất kỹ trong hòm da ra gõ. Trước ngày lên đường, Tâm đã định nghỉ hát. Nhưng lúc này Tâm ngà ngà rượu, tỏ ý say thêm đối với nghiệp, khổ phách gõ xinh hơn mọi lần, tiếng phách ròn vui như tiếng chim buổi sớm mai trong bụi cây. Trái với tiếng phách vui, giọng hát Tâm đượm mùi sầu xứ, mỗi hơi chuyển từ làn này sang làn khác là một giọng cảm động đầy tha hương thương nhớ. Và, « chẳng biệt ly ai dễ biết chữ tình », phút này ngồi bên cạnh Tâm, tôi ngắm vợ chồng ông Thông Phu nhường nhau từng miếng gắp, tôi ngắm tôi, tôi ngắm Tâm, những thành kiến cũ của tôi trong tình trường đổ nhào hết. Cái đường giới hạn ngăn chia thế nào là một cái tình đối với con gái nhà lành và thế nào là một cái tình đối với con hát, sự phân biệt nhẹ nặng ấy đến lúc này nhoè lẫn hết. Tâm nhìn thẳng vào cái cây khói mọc từ lòng lư trầm lên cao độ một thước ta rồi mới kết soắn lại như tán cây bàng, như một vòm cây nhãn bằng khói. Tâm nhìn làn khói mà hát, mắt long lanh tiếng hát có tinh thần và nhiều chữ mở, nhiều hơi mớm rất thần tình. Một giọng hát đẹp này vẳng lên vào một trường hợp cảm động lúc năm đã hồ tàn hình như đủ gột hết khỏi người Tâm tất cả những bẩn thỉu chát vào kể từ lúc dấn thân vào nghề. Một giọng hát hay và run run này là một bài kệ ngâm lên để rửa hết tội lỗi trong đời Tâm. Từ khi đi lại với Tâm, chưa bao giờ tôi cảm thấy tôi có thể lấy tình nhân đạo ra mà đãi nàng ngang hàng đến bực ấy. Trước kia tuy có gần gụi, chia sẻ khoái cảm, nhưng vẫn có sự rẻ dúng ở trong. Tôi vẫn cho nàng là người của một thứ tổ chức luân lý khác hẳn. Trước cái thuần túy của đàn hát, nàng và tôi đang cùng nói chung một thứ tiếng của tâm hồn.

Đêm gần về sáng, Tâm đuổi tôi về cái nhà của tôi, nhất định không cho tôi đưa ra ga. Nàng dúi vào tay tôi một mẩu giấy.

- Em có làm được một bài thơ bốn câu. Gửi lại tặng tất cả quan viên tỉnh Thành, thay một lời từ biệt. Em đi rồi hãy xem. Và bác Thông và anh có muốn chữa thì chữa.

Nàng đi rồi, tôi đọc thơ. Thơ rằng :

« Lộc Thánh cho ăn độ thế thôi

Phách xênh chị lại tếch xa chơi

Châu Thang của hiếm người càng hiếm

Chị đỉnh chung chi với lũ Hời ».

Tâm lại dám xưng là chị ! Và lại dám gọi những người ở đây là người Hời ! Láo đến thế thì thôi.

Trước giờ giao thừa bước sang Tết năm ấy tôi mò lên thăm ông Thông Phu, đưa ông xem bài thơ. Ông cười ngặt nghẹo, kêu Tâm là một « con bé quái quỷ, thế nào lũ Hời ở đây cũng có đứa đòi đánh ».

Ông luận về Tâm : « Con bé nó ở gần tụi mình, thánh ra nhiễm phải cái khẩu khiếu khinh bạc. Tính nó lại vốn du côn sẵn. Mình vô tình lúc luận bàn thế sự với nhau, không ngờ lại cùng trau dồi cho nó cái sự khinh đời ngạo của. Anh e đời Tâm rồi không được trọn vẹn đâu chú ạ. Và cả bọn mình rồi cũng đến vậy ».

 

Thời tiết trong một năm, nguy hiểm nhất là lúc thu về và thứ nhất là lúc xuân sắp đi. Chẳng cần gì phải được là người đàn bà góa bụa trong vòng tuổi trẻ mà người ta cũng vơ vẩn, thương nhớ và thèm khát một cách rất là vô sở cứ, không bằng chứng, không có tâm trạng rõ rệt. Nhiều người đang khỏe mạnh hẳn hoi mà cũng thấy muốn thèm ôm chơi lấy vài ngày, nằm yên đấy mà lắng con tâm mình đã biến thành một cái phong vũ biểu rất tinh vi. Vào những cữ này, tiết mùa giao nhau, nhiều ông lang thuốc nhìn những biến tượng trong trời đất mà mừng quýnh.

Ngồi trên một cái nhà bè ngắm một cánh buồm xuôi lúc mặt giời vàng rụng trên sông Mã là không thể không nhớ những người bạn đi xa. Trông thấy lớp lá già các cây rụng, đâm chồi lộc mới là lớp nhựa trong người mình cũng muốn bốc ngược lên như nhựa cây. Rồi khủng hoảng. Rồi muốn ưu du. Rồi muốn lười biếng. Nỗi nóng lạnh trong tâm tưởng thật không có chừng mực nào cả. Cái anh bạn tòng sự ở nhà Giây Thép Thanh Hóa, giữ việc đóng dấu bì thư đi các nơi và từ các nơi gửi về, đã truyền cho tôi một điều quan sát rất ngộ của anh trong khi thừa hành công vụ. Là cứ tháng ba ngày tám, sao có lắm phong thư ướp nước hoa đến thế ! Cái thì bì tím hoa cà, cái thì bì màu hồng phấn, màu xanh da trời, màu vàng hoàng yến. Xuân đi, thu về mà lại. Anh đã nói :

- Áp dấu trạm vào những cái bì thơm tho đầy mùi vẻ yêu thương ấy, mình thấy nó có thú hơn là giết những con tem của những cái bì thư bọn lái buôn có in tên hiệu cả trên đầu mặt trước và lại đầy cả mặt sau nữa. Lắm buổi tôi ngắm nghía rất lâu nhiều lối tự dạng đầy cá tính mà tôi muốn lấy son tầu mà đóng dấu niên hiệu cho họ, chứ đem đóng cái mực đen nhà nước nào, mình thấy nó phí cả những cái tư tưởng luyến ái phong kín ấy đi anh ạ.

Điều nhận xét của anh bạn công chức kia càng làm cho tôi thêm bâng khuâng. Tôi mới nhớ ra rằng Tâm đi đã gần ba tháng nay mà tịnh không có một lá thư nào. Tôi chẳng nhận được một cái phong bì tím hoặc vàng hoặc lơ nào. Phải để cho người đi xa quên mình. Phải để cho người quen được vui với cảnh mới. Phải cho người lữ khách cái quyền phụ bạc những tình cùng cảnh tại nơi vừa rời bỏ. Tôi đã giải muộn bằng những ý tưởng khoan dung đó.

Năm bẩy bữa, tìm lên trên nhà ông Thông Phu chốc lát, thì chúng tôi đều nhắc mãi một câu đã thành ra cũ mèm :

- Sao Tâm nó về lâu thế nhỉ ?

Đôi vợ chồng chủ nhà hát cũng thành thực nhớ Tâm và nhiều lúc pha trò với tôi :

Cu cậu nhớ tình, dạo này phờ ra, nhưng trông lại có vẻ đứng đắn nghiêm chỉnh hơn. Vắng Tâm, cu cậu không còn biết nói nhảm với ai. Anh chị hỏi thực chú câu này khá. Không được chối hoặc dấu. Vậy hai người đã có gì với nhau chưa ?

Tôi chỉ biết cười để trả lời. Cả một mùa xuân này, ông bà Thông Phu đã vui đùa chòng ghẹo tôi như thế và tôi cũng đã cười xuông lưỡng lự như thế. Để rồi có một buổi chiều cuối Xuân sang hè, những cái cười ấy không có dịp trở lại trong nhà ông Thông Phu nữa. Một biến cố lớn đã ập đến, gắn miệng tất cả mọi người trong cái nhà hát này.

 

Cuối xuân năm đó, không rõ nhân dịp gì, làng Hạc mở hội, treo giải cờ đất. Giải cờ đất làng treo cũng không lấy gì làm to, nhưng những tay cao cờ các vùng lân cận đều có về hết cả để thử sức nhau giữa chỗ công chúng.

Ông Thông Phu là một người xinh cờ, Ở người ông, đánh cờ đã là một cái bệnh, một cái tật. Ông nghiền ngẫm cờ, những thế trận xuất quân và những thế hiểm lúc cờ tàn, ông thuộc lầu lầu. Nhất sinh đọc sách, ông chỉ mải miết với ba thứ sách : Kiều, Tam quốc và bộ thế và trận cờ Quất Trung Bí. Nước cờ tướng, con đứng con đi, con đánh người con giữ nhà, pháo tuấn hà, ngựa ngọa tào, pháo oa tâm thủy để, thế nghịch, thế thuận, bắt dứ chiếu bóng, thôi ông chẳng còn sót nước gì. Nhiều người chơi cờ tướng đã liệt ông vào bực kỳ hầu. Tôi đã được xem ông Thông Phu đấu cờ nhiều lần. Trông ông gò một nước cờ lắm lúc thật là tử công phu. Cờ đất cũng vậy mà cờ bàn cũng vậy. Bao nhiêu đau khổ mệt nhọc hiện cả lên trên mặt ông. Nhiều người chê ông thế là không đẹp. Theo ý họ thì người đánh cờ cao mà đẹp cần phải có một vẻ mặt bình tĩnh điềm đạm, bị người lấy mất quân không hốt hoảng đau buồn, chém được quân người không lấy thế làm hí hửng. Nhưng tôi nghĩ khác, khi ngắm ông Thông Phu có những đường gân hằn hai bên thái dương mỗi lúc ông đi con cờ hoặc suy nghĩ im lặng trên bàn cờ. Phải, dàn quân cho ván cờ cũng chẳng khác gì một công trình sáng tạo trong Nghệ Thuật. Và sự sáng tạo nào, sự thai nghén nào về tâm tưởng suy nghĩ mà chẳng đau khổ mệt mỏi. Việc gì mà phải giấu. Đâu có phải là một chuyện xấu mà không cho những cái quằn quại dầy vò thắc mắc ấy hiện lên khuôn mặt cho đến hết !

Làng Hạc treo giải cờ đất mà lại mở ngay cạnh nhà mình – từ nhà hát ông Thông Phu sang đến sân đình làng Hạc kẻ vạch nước đi bàn cờ đất, chỉ có mươi mười lăm bước – lẽ tất nhiên ông Thông Phu không thể mần ngơ được.

- « Chẳng lẽ ngày Xuân lại chịu ngồi yên mà xem thiên hạ nó đấu trí với nhau ngay bên nách mình, ngứa mắt tức máu lắm ». Ông tấm tức nói thế.

Ông Thông Phu đã dò sang đình làng Hạc từ ngay lúc người ta cho cầm trịch khảo cờ người dự đấu thứ nhất.

Từ hôm qua hôm kia, ông Thông Phu đã dậy sớm, trái với thời biểu mỗi ngày của một người nghiện cười biếng. Ông hút trữ buổi thước sớm cho thật thừa, cơm nước tử tế, bắt vợ táo sẵn cho mấy điếu thuốc nước nữa dắt vào túi rồi hăm hở sang đình, tay cầm cây quạt thước phòng che đầu khỏi mưa nắng giữa giời lúc điều khiển quân tướng trên bàn cờ đất. Mỗi lần ở đình về, mặt ông tư lự vô cùng, vợ và các con em hỏi, ông thường quên trả lời, mồm ông lẩm bẩm, ngón tay ông phân phát vào giữa không trung những nước cờ nhớ lại hoặc đang nghĩ thêm. Cả nhà biết ông bận về những ván cờ giải khó khăn, đều len lét, sự kính trọng cái tĩnh mịch cho một khối óc đang tính lường quả đã rõ rệt. Tôi, mấy ngày có cờ đám cũng khuây khỏa trong dạ, đỡ nhớ Tâm và lên ở liền ngày đêm với ông Thông, lúc ở bên nhà, lúc chạy sang đình. Có tôi làm bạn để ôn lại những nước cờ người này đi như thế, người kia đi như thế, ông Thông nói chuyện cả đêm.

- Có nhẽ ngày mai, đánh với thằng cha ấy, tôi phải đánh đến pháo gánh mới được, chú ạ. Nó đánh nhanh lắm. Ngựa của nó đi cũng sáng nước lắm. Phải tính xe bớt đi và chém què ngựa nó cho nó mất cái lối giao chân đi.

Ngày hôm sau tôi sang bên đình, ngay lúc xuất quân mới có vài nước, đã hết sức lo buồn cho ông bạn.

- Ôi chú ôi ! Chú ôi là chú ôi.

Tôi đã vụt chạy ra đường. Thì vừa bắt gặp người ta cõng ông Thông Phu về. Trẻ con làng, theo đến cửa, thành một cái đuôi dài. Bà Thông Phu khóc tru chéo lên, cô đào trong nhà đều nhớn nhác. Đặt được ông Thông Phu vào màn đã là một việc khó khăn mệt nhọc mỗi chậm trễ là càng tăng thêm dăn dúm rên rỉ cho người ngộ cảm kia bị vực về. Ông Thông Phu đúng là đã bị trúng một cơn gió độc, nhiều người xúm quanh giường bàn soạn. Tấm thân còm nhỏ kia, bây giờ lại càng tóp quắt thêm. Ông nằm dài trên giường đã gạt khay đèn về một đêm, nếu không có một chân đang run co lên thì cái hình hài ấy đã là cả một cái xác chết chờ khâm liệm để nhập quan.

Bà Thông Phu, phủ phục xuống mép giường, khóc bù lu bù loa. Cái đèn thuốc phiện bé ngọn chỗ cuối giường góp thêm lạnh lẽo cho không khí tang ma.

Ông Thông Phu vẫn rên khẽ. Hơi thở yếu lắm. Lâu lâu lại điểm những tiếng hừ hừ phát ra từ hai lỗ mũi để rồi có lúc lại chẳng phát ra một tí hơi thở nào cả. Cái gương bồ dục bỏ túi mà một cô đào đứng tuổi để vào trước mồm trước lỗ mũi ông Thông Phu theo một điều truyền bảo của một người bạn già chạy đến hỏi thăm, có lúc đã chẳng mờ nước thủy, đã chẳng bắt được tí hơi ẩm nào tiết ra. Tắt thở rồi chăng ! Tròng mắt ông Thông Phu lờ đờ, miệng méo co mím lại, bàn tay đâm ra bắt chuồn chuồn. Cái miệng méo xệch đi, cách một lúc lâu lại nhai không một cái. Thanh âm tiếng nhắp môi gióng một khẽ nhẹ nhắc đến cái im vắng những buổi trưa oi oi trên làn nước tù hãm, mặt ao bèo xứ quê thỉnh thoảng có tiếng một vài cái cá lớn buồn bực ngoi lên đớp bọt kêu đặc.

Cứ lời mấy vị kỳ cựu làng Hạc cũng xinh cờ hiện có mặt bên đình lúc ông Thông Phu ngộ nạn trên bàn cờ đất, thì ông ta không phải là phải gió đâu. Ông có máu uất. Và ông đã uất vì một nước cờ hớ, hớ đến nỗi lạc vào thế trận hiểm của bên địch bày. Đi nhầm một nước cờ lép đó, ông cũng chưa thua ngay đâu, cũng còn đến mười mấy nước sau nữa kia. Giá con sĩ ấy, ông Thông Phu cho ghểnh bán nguyệt lên thì cờ mình vững, quân bên địch phải tìm đường rút về chống đỡ đôi xe gần được lệch của ông sắp đắc dụng. Đằng này ông Thông Phu lại đi lắc cái con tốt biên ấy để đến nỗi vỡ cả cái thắng lợi của thế cờ mình và lại chuốc lấy sự thua nữa. Cho nhổ song một con tốt biên ấy, cắm cán cờ vào lỗ nửa trên, ông Thông Phu biết ngay là hỏng. Nhưng cờ đất luật nghiêm lắm. Cổ kim mấy ai đã được hựu một nước, đã được đi lại một nước nhỡ nhàng. Tiếng trống tiểu cỗ vẫn long tong giục dã. Bên địch thấy ông Thông Phu nhắc cán biển con tốt biên lên, cười một cách khinh bỉ không cần dấu. Gia dĩ, những lời chê bai của đám bàng quan ở sau lưng lại cứ lọt rõ mãi vào tai người thấp trí sa cơ. Thôi thế là xong. Lâm vào nước hiểm của trận hãm này thì có đến hồn Chương Ba nhập ngay vào người ông đang mê man cũng không thể gỡ được. Điều đáng uất nhất là nước cờ sắp định việc thua được lại là một nước cờ thiếu lịch sự, phủ ác, tức cứ như có người cầm cục búa đánh vào mặt. Và thứ nhất đối phương lại là một kẻ mà trước tới giờ ông Thông Phu vốn khinh miệt. Có lần ở chỗ đông người tử tế nhàn nhã, ông Thông Phu đã dám to tiếng thách hắn đánh cờ tiền và chấp cho hắn nửa ngựa kia mà. Thế mà… bây giờ…

Chẳng cần phải đợi đến lúc người ta chiếu tướng mình đến chắc cứng lại không chạy được mà người ông Thông Phu sau một con cờ chuyển dịch một cách nhỡ nhàng ấy đã cứ lịm dần đi. Rồi lả mãi, rồi lăn đùng ra giữa sân đình, trước sự ái ngại của mọi người, trong số đó có kẻ vô danh kia dật giải. Việc ông Thông Phu uất ngã vì một nước cờ lầm vụng đã ghi một trang thống thiết bi đát trong lịch sử chơi cờ đất Thanh Hóa.

Tính ông Thông Phu hiếu thắng. Đánh trống chầu thì tự khen mình là hay nhất nước Nam, cờ thì tự cho là quán cả Trung Bắc lưỡng kỳ và về thơ thì ông thường vén đùi lên, lúc mình ngâm vãn mình thì kêu rằng : « gieo được một chữ như thế từ là thừa xuất nhập cổ kim, là quỷ khóc thần kinh rồi đấy ». Tính khách khí của ông Thông Phu, nhiều bực trí giả đàn anh lang bạt kỳ hồ trở về, vốn có cảm tình với cái tài của ông, mỗi lần đến thăm đã phải khuyên ngăn và phàn nàn hộ cho rất nhiều. Nhưng cái nghiệp của tài hoa của tài tử là như vậy. Thừa một điểm tài thì lại thiếu hụt mất cái đức nhũn nhặn.

Tính ông Thông Phu hiếu thắng đã mạnh đến như thế, người gầy ốm, bệnh phiền dề dề, và một buổi đánh cờ đám ấy lại kém thuốc thiếu ngủ, ở ngoài thì gió nắng giữa trời vào một thời tiết giao mùa chúa hay giở mặt, ở trong thì phần tức góp vào với sức phá phách của lòng tự ái bị thương tủi, làm gì mà buổi cuối ngày xuân nhầm nhỡ một ván cờ đám ấy, người bạn chênh tuổi của tôi lại chẳng uất đi, lịm đi và ngã nhào trên một khoảng đất công vạch phấn vôi, kẻ hoa thị với ô vuông.

Ông Thông Phu thua một ván cờ ghê gớm đó để rồi mãi mãi đeo lấy tật nguyền. Bán thân bất toại. Và câm. Giá lúc thụ bệnh rồi, chết luôn thì cũng là nhẹ nợ. Sống dai dẳng trong mấy năm với một cái bệnh không chữa được, vẫn cứ phải hút thuốc phiện do người chung quanh hà mớm khói cho, vẫn cứ phải phơi bày ra tất cả cái hèn xấu bần tiện của một tấm thân hư hỏng chỉ gợi đến lòng thương lại vô ích tiêu cực và kinh tởm – bất nhẫn hay là chính đáng ? – của lớp người thân cận khỏe mạnh, sống như thế chỉ là một cách bêu diếu nhân loại. Vào trường hợp này mà còn có người nọ kêu án việc tự ải kia đấy. Nếu ông Thông Phu mà đã tìm được cách tự hoại mình đi rồi và nếu cảnh thiên đường không hẳn là một sự hư văn của tôn giáo, thì chắc ở ngoài thế giới này, Trời cũng đã dành cho ông một chỗ ngồi hẳn hoi yên nghỉ rồi chứ chẳng không. Mấy năm trời sống lay lứt, phế nhân đó đã chịu lấy bao nhiêu đau thảm nhục nhã nhọc nhằn. Tưởng cái cổ phần đau khổ đó sẽ cho ông Thông Phu cái quyền đem đánh đổi nó ra một cái gì ở quầy Ngân Hàng của Thượng đế vốn phải sòng phẳng công bình với tất cả chúng sinh đã chịu phần đóng góp cho, cho Xót Thương ở hạ giới này. Trong thời kỳ ông Thông Phu mang tật, vào một năm thứ ba hay thứ tư gì đó, tôi có đưa một người bạn lên thăm ông tại cái buồng bệnh có nhẽ từ ngày ông ngọa bệnh ở đấy, không một ai có dịp đưa đi đưa lại vài nhát chổi sề. Tối lắm. Chật lắm. Mà con bệnh thì không nhích khỏi được giường bệnh. Đại tiện, tiểu tiện, ăn, hút, chập chờn và co quắp đều ở trên mấy tấm ván mọt ấy cả.

Người bạn tôi là một cựu sinh viên trường Thuốc Hanoi, người Thanh Hóa và trước kia cũng đã từng nghe cái đám lãng tử nói đến tên ông Thông Phu. Nhân về Thanh thăm phần mộ của gia tiên, gặp tôi, anh bạn tỏ ý muốn tìm ông Thông Phu nói chuyện và rủ ông ta đi chơi các vùng quê. Chẳng nhẽ mà tôi lại phì cười khi nghe người bạn tỏ ý đó. Đi tìm một anh câm để nói chuyện đời và đi rủ một kẻ bại nửa người cùng đi chơi vùng xa với mình ! Lúc người ta lành lặn thì chẳng tìm đến. Tôi bảo ngay cho anh bạn biết rằng việc đó quá muộn rồi và tôi bèn kể ngọn ngành cho cho anh nghe về cảnh đau khổ của ông Thông Phu gần đây :

- Nếu vậy thì càng nên đến thăm lão ta nữa. Biếu lão hộp thuốc. Đã mấy năm nay, tôi vẫn có cái ý tìm đến ông Thông Phu. Nhiều người đã mách tôi rằng ông ta biết nhiều chuyện nhiều việc lạ ở tỉnh này lắm. Nhưng mình cứ nay lần mai lữa, một lẽ nữa cũng vì thiếu người đưa đến. Tôi nghiệm ra cái việc tìm người hay mà đánh bạn, không nên lười, có dịp là phải tìm đến ngay. Mình cứ lần lữa là hỏng nhỡ, là mất và rồi đâm ra hối tiếc. Đấy, anh xem như cái việc cầu thân với ông Thông Phu đấy, giờ lão câm lão què liệt là mình thiệt. Trước kia đã có lần tôi tiếc mãi một ông nhà nho rất hay, biết rất nhiều điều bí ẩn kỳ quái trong suốt một khoảng giao thời này. Mình lười quá, cứ lùi mãi cái ngày đi tìm đến nhà ông, thành ra đến lúc mình lần mò về đến được làng ông cụ thì cái cuốn dã sử sống ấy chẳng còn nữa. Tôi tiếc quá và tự trách mãi. Anh cứ đưa tôi đến ông Thông Phu Tôi muốn gần ông ta trong một buổi để xét qua căn bệnh ông. Chẳng dám chữa, nhưng để tìm một chứng thực này cho một cái luận thuyết cũ của tôi.

Tôi đã đưa bạn tôi đến ngồi bên bàn đèn ông Thông Phu ngoài Quán Gió. Lúc ra về, anh bạn lắc đầu :

- Không phải. Tôi quyết rằng không phải.

- ?

- Chẳng có gió độc gì hết. Chẳng có phẫn uất gì hết. Cái việc tê liệt nửa tứ chi và cấm khẩu này chỉ là những biến chứng của bệnh giang mai. Tôi đã thấy nhiều rồi, hồi còn tập thực nghiệm ở bệnh viện Hanoi.

Ngay cái đêm đầu gặp nạn, người ta vực ông Thông Phu về nhà, trong tâm khảm tôi, có sự hỗn loạn của tư tưởng. Tôi nghĩ ngợi ghê gớm như một viên chủ nhà băng lúc ngân hàng mình sắp đệ sổ cáo cùng. Trước cái biến cố lớn xảy đến giữa nhà hát, cái thái độ sốt sắng của tôi sẽ như thế nào mới là không ghẻ lạnh ? Cho nó thỏa đáng được, kể cũng tốn sự suy tính lắm. Đã đành rằng tôi không là thân nhân của ông Thông Phu, không có một tí dây dưa máu mủ nào bắt tôi phải gánh một phần trách nhiệm về chỗ đau buồn tốn tiền thuốc men chăm nom đó được, nhưng sự thân thiết từ trước tới giờ đã cấm tôi không được dửng dưng và trốn tránh. Tôi muốn tỏ tình. Nhưng cái ý tình đẹp nào muốn được tỏ rõ ở giữa cuộc đời này mà lại chẳng cần đến tiền được. Lại buồn, lại nghĩ.

Đêm đó, không một ai lại dám tưởng ông Thông Phu còn có thể sống được. Thấy chồng khác nhiều lắm, mắt cứ trợn lên, toàn thở hắt ra cả, bà Thông Phu càng khóc, trong tiếng khóc, đã chen vào bao nhiêu là chữ ờ hơ hơ.

Phố xóm đã thưa tiếng trống. Ông Thông Phu mê man, cả nhà lay gọi mãi mà không tỉnh.

Con bệnh nào về gần sáng ra cũng đều nặng cơn cả. Không ai hy vọng ông Thông Phu có thể trở về với cuộc sống. Nếu đêm nay ông chưa tắt nghỉ hẳn thì ông cũng chỉ thoi thóp như thế mà đi dần về cõi chết. Trên đầu giường, có người đã để sẵn chiếc đồng hồ để xem giờ, đánh giờ cho kẻ hấp hối.

Tôi khoác áo ra đi, Bà Thông Phu tưởng tôi bỏ về, vội níu tôi lại :

- Anh hỏng mất chú ạ. Chú gắng ở đây đêm nay. Nhà chẳng có ai đỡ đần chỉ bảo. Một mình chị, chị sợ lắm.

- Tôi đi gọi Đốc tờ cho anh đây mà.

- Chưa chắc có ăn thua gì không. Với lại trong nhà, giờ không sẵn một xu, biết người ta tính bao nhiêu ?

- Phải gọi đốc tờ mới được. Tôi về ngay đây. Chị bảo dọn sẵn chỗ buồng này cho nó thoáng đi một chút để cho Đốc tờ người ta đến xem ra thế nào.

Tôi tìm đến cổng nhà riêng vị bác sĩ người Pháp trông coi việc y tế nhà nước, ở ngay liền cạnh nhà thương :

- Thưa Ngài, ở vùng ngoại ô, có một người đàn ông ngộ gió từ ban chiều, không nói được, không cử động được, Từ đây xuống đấy không đầy hai cây số.

Bọn người tò mò hiếu sự đã dãn ra cả nhường chỗ cho quan đốc tờ Tây tay xách cái hòm tiêm vào. Ông không bắt mạch, ông nhìn bệnh nhân mấy phút, nhìn bọn đàn bà ăn mặc diêm dúa đứng sau ông rất đông. Tôi cắt nghĩa cho ông biết rằng đây là một cái nhà hát. Ông lại nhìn cái bàn đèn :

- Người đau kia là chủ nhà hát ! Nghiện ?

Ông gật gù, cưa ống thuốc tiêm cho ông Thông Phu một mồi dầu long não. Từ lúc vào cho đến lúc về, ông rất thản nhiên, không dạy bảo ra sao cả. Tiễn bác sĩ ra xe, tôi khất ông chỗ tiền thăm bệnh và tiêm thuốc, hứa bữa sau sẽ đưa lên buồng giấy nhà thương trả. Bác sĩ lấy một cuốn sổ con ra ghi tên và chỗ ở ông Thông Phu.

Tôi trở vào buồng bệnh, vén lá màn nhìn mặt con bệnh. Diện sắc ông Thông Phu có khá hơn trước một tí. Mắt ông mở rộng thêm ra được nhưng vẫn dại lắm. Rồi cái miệng thất thanh đã phát ra được những tiếng ế ế á á, nghe lại còn thảm hơn những cái rên hừ hừ ban nãy. Phía sau tôi, có mấy cô chủ nhà hát hàng xóm đã vội khen đến hiệu quả của mồi thuốc. Người ta lại còn thì thầm khen tôi là một người ăn ở có tình và là một người đi chơi sang trọng. Trong cặp mắt họ đăm đăm, tôi đọc rõ được bao nhiêu là thèm muốn, tôi thừa biết rằng từ bây giờ trở đi, sau khi cái việc dám mời ông « Ba Đốc Tờ Tây » chữa cho ông Thông Phu đã làm quảng cáo cho cái tên tôi lan rộng trong phố xóm rồi thì cái giá một người làng chơi của tôi được nâng cao lên quá cái giá của những kẻ phá của mỗi lúc hành lạc đốt hàng bạc trăm. Và từ nay, ở đâu thì không biết chứ ở một cái xóm Quán Gió này, nhiều chủ nhà hát sẽ hoan hỉ đón nhận tôi nếu tôi đặt chân vào nhà họ. Rồi tha hồ mà hát chịu, mà hoạnh họe.

Lòng tôi nửa buồn, nửa xấu hổ.

Đối với ông Thông Phu ; chẳng cần phải nói thêm nữa, sự có mặt của ông ở cuộc đời đã đem lại cho tôi nhiều giờ phút thú vị. Tôi đã nhận thấy ông là hay hay. Nhưng lúc này, nếu ông có tắt nghỉ đi, thì tôi cũng không thấy gì là thiệt thòi, là thương xót lắm. Có những cuộc mất mát không đủ gây được nhớ tiếc và bắt lòng mình phải vắng ngắt hẳn đi trong một thời gian hoặc trống trải qua suốt một đời người. Nếu cái sống của ông đã có nhiều buổi giúp vui cho tôi thì – trái lại với lối suy luận về tính tình – cái chết của ông Thông Phu vẫn không làm gì cho tôi khác được hơn là bình thản, mặc dầu chúng tôi phải nhận nhau là tri kỷ. Những điều rắc rối như thế này, tự tôi tôi cũng không biết giảng ra thế nào. Tôi chỉ nhớ rằng gặp những trường hợp hỗn tạp như vậy người ta hay nhắc đến những chữ : những phiền toái của tình cảm.

Rồi tôi đâm ra ngờ cái cử chỉ vừa rồi của tôi mà nhiều người đứng ngay sau tôi đã gọi là tốt. Lúc đi tìm thầy thuốc cho ông Thông Phu, có lẽ tôi đã chỉ làm việc đó cho nó tắc trách đi thôi, chứ sự thực ở trong người tôi, phút ấy nếu tôi muốn thành thực ngay với tôi đã, thì tôi phải nhận ngay rằng cử chỉ của tôi thiếu hẳn tính cách thiêng liêng của đau xót, của thiết tha. Và tôi đã làm quảng cáo cho tôi bằng việc làm giả dối xảo quyệt rẻ tiền. Về cái điểm này, tôi muốn được ở gần những người trí giả để cùng chất chính, tôi muốn được những bậc chuyên môn làm việc từ thiện chỉ giáo hộ cho.

Nhưng điều xét nhận ấy cũng chưa làm cho tôi bực bằng cái lúc tôi vụt nhớ ra rằng ở nhà tôi, chưa bao giờ tôi đi tìm thuốc cho một ai cả. Ở nhà tôi, nào có phải thiếu người ốm đau. Ông tôi xuyễn hen kinh niên, vợ tôi hậu sản. Đứa con gái nhỏ tôi mắc chứng mạch lươn. Gọi là thân trong đời mình, thì ba người yêu nhất đó phải gọi là thân chứ còn ai vào đấy mà tranh giành được phần nữa. Vậy mà tôi đã chẳng chạy thuốc tìm thầy cho bố, cho con, cho vợ bao giờ. Phỏng thử có kẻ đem cái việc đi tìm đón bác sĩ chữa cho ông Thông Phu mà kể lại với nhà tôi thì không rõ vợ tôi sẽ hiểu ra thế nào và coi tôi là một cái giống gì đây.

Thế là riêng với nhà, tôi đã bạc rồi, mà còn về chỗ đối với thiên hạ, tôi cảm thấy tôi cũng chẳng hậu hơn được chút nào. Giá tôi đã tâm thành khi đón đốc tờ cho ông Thông Phu thì trong cách xử thế của người con trai, tôi còn viện ra được cái câu « hậu ư thiên hạ bạc ư gia » để mà tự mình an ủi mình.

Ống dầu long não không phải là thuốc chữa được chứng bệnh hiểm nghèo. Thường nó chỉ dùng vào việc trợ lực cho người ốm lúc nguy kịch. Bác sĩ đi rồi, ông Thông Phu vẫn sống dở chết dở như thường. Cơn gió độc không thể độc hơn thế nữa. Mồm ông Thông Phu hỏng. Hai cánh tay hỏng. Một chân hỏng. Những lúc phế nhân lấy cái đầu ngó ngoáy trên cổ để ra hiệu muốn được thỏa mãn một vài sự cần dùng cho thân thể vương lấy cố tật, trông thiểu não quá. Phải trông thấy ông Thông bậm bẹ, bực tức khi người nhà diễn sai lầm cái ý muốn của ông thì mới thấy tất cả điếm nhục và thống khổ của một người mắc tật bệnh. Miệng câm, nhưng giá không hỏng tay thì cũng còn dùng lối bút đàm thay vào được, để cho ngày tháng của mình bớt nặng nề đi.

Cái hôm ông Thông Phu gọi cho tôi chiếc lư đồng mắt cua, tôi gợi đến cái lịch sử bí mật của nó mà hồi lành lặn còn nói được, có lần ông đã đả động đến : « À, để bao giờ tôi kể cho chú nghe câu chuyện chiếc lư này thì hẳn chú phải thích lắm. Y như chuyện Gương Vỡ Lại Lành trong tích cũ ấy ».

Bao giờ là bây giờ đây ; lúc này ông cho tôi chiếc lư, lấy đầu lấy mắt ra hiệu, cái mồm co mím lại, tôi gợi đến cái câu ông nói ngày trước về chiếc lư ly kỳ, bỗng mắt ông Thông Phu sáng quắc lên để rồi lại tối đục lại ngay, bao nhiêu tấm tức hiện hết cả lên trong tròng mắt. Tội nhất là Ông vẫn hướng về phía chiếc lư con mà bậm bẹ với vợ, tưởng chừng như vợ có thể hiểu hết những ý của mình ra hiệu cho nhau, tôi thấy các cô ấy ngồi đấy là thừa ; không có việc gì, không ai động đến, trông đến là tội nghiệp. Rồi càng đi sâu vào chốn hàng viện mình càng thấy cái đức làm người của mình mỏng thêm mãi, mình càng thấy thân hình suy kém dần. Trong có ít năm hành lạc mà tâm thuật đã hỏng rất nhiều vì nha phiến, vì rượu và thứ nhất là vì những cái hôn nhảm nhí.

Tôi còn nhớ một lần, vì một lẽ bắt buộc, tôi phải « đi » ảnh chung với một cô Tuyết hay cô Mai gì đó. Trốn mãi không được, lần ấy, trong tấm ảnh, tôi đã đứng, đã phải cười cho tươi ảnh theo một cái ý của « nàng ». « Nàng » ngồi một chiếc ghế bành, tay cầm một cành huê giấy. Tôi đã lộn trở lại hiệu ảnh một mình, cho riêng tiền người thợ ảnh để lúc in xong nửa tá ảnh, họ đừng cho ngâm giấy ảnh vào chậu thuốc mạ giữ cho nước ảnh đừng bay. Không có nước mạ, những chiếc ảnh in lấy xong về, mỗi lần giở ra xem, gặp ánh sáng, lại tối dần xuống một ít. Rồi có một hôm, ảnh đen kịt lại không còn hình bóng một ai trong ấy nữa. « Nàng » vốn lại hay tin dị đoan, cho như thế là một điềm gở, đâm ra lo ngại. Tôi chỉ chờ có thế. Và cũng làm ra bộ mê tín, tôi đã bảo « nàng » rằng ảnh bay màu, còn độc hơn là gương vỡ mà nó đã điếm ra như vậy thì sao mà « chúng ta không sớm liệu mà buông nhau ra… mà thù nhau đi ». Chúng tôi bằng lòng đoạn tuyệt lẫn nhau. Đêm cuối cùng đó, mời tôi đến nhà hát, nàng cho dọn một bữa tiệc rượu rất sang, nói trước là của mình dọn riêng để đãi bạn tình chứ không cho tôi được tính đến chuyện trả tiền như những kỳ hát trước. Ngồi uống rượu nhìn nhau, thấy càng thành thực cảm động về sự chia rời, tôi cũng phải giả vờ bùi ngùi. Tất cả bấy nhiêu trò quỷ thuật tốn hơn sức thời giờ, chỉ vì cái lẽ rất giản dị là tôi không muốn lưu một cái ảnh của tôi trong một cái tủ chè nhà hát, bên cạnh một cái vỏ chai sâm banh ngậm một đoá phù dung bằng giấy bóng đỏ. Bao nhiêu bạn tôi đã bị bày như thế ở giữa nhà hát rồi.

Tôi đã hèn nhát đến nỗi không có can đảm nhận một câu hỏi thăm của một đào nương, một buổi sớm chủ nhật, trước cửa Gô-Đa, vào một cái giờ mà phố Tràng Tiền ngựa xe như nước, áo quần như nêm, mỗi con người lượn qua đây là có cái bề ngoài của một trang giai nhân tài tử. Bắt gặp tôi là người quen cũ, nàng đã mừng rỡ vô cùng chạy lại chào và bắt đầu hàn huyên. Tôi đã gò một bộ mặt lạnh như mặt người Ăng-lê, tỏ vẻ ngạc nhiên để cho nàng hiểu là nàng đã nhìn nhầm nhận nhầm. Nàng luống cuống mặt đỏ lên, xin lỗi rồi lủi mất vào đám đông. Rồi tôi lại còn kéo dài cái ý ác ấy vào luôn cái hiệu kia để xem nàng đang đánh ngã một chai nước hoa vỡ tung toé trên mặt tủ hàng. Tôi đã có được bấy nhiêu tàn nhẫn chỉ vì nàng là một người cô đào xấu. Người đã xồ xề mà lại cứ thích mặc quần áo tân thời, cổ bánh bao bánh bẻ, định làm một người nộm quảng cáo một cách rất có hại cho một kiểu áo mới chăng ? định giết những bác họa sĩ phó may chăng ? Một thời, gần nàng trong nhà hát, tôi vẫn nhận nàng là tốt nết rất quý tôi thương tôi, nhưng ở một nơi công chúng này, nàng đừng nên ra mặt quen tôi thì phải hơn. Cái đẹp lúc này còn cần quý hơn mọi cái nết làm người kia.

Tôi đã phụ đến cả cái chí tình của một người chủ nhà hát một tỉnh vùng xuôi. Ấy là một đào nương đứng tuổi quý tôi như vàng, nâng niu tôi như ngọc, giữ tôi ăn ở ở nhà hát cứ hàng tháng mà tiền nong thì không cần nghĩ đến. Nàng gọi tôi là ông, tôi gọi nàng là bà. Các con em thì gọi là cậu mợ. Nàng đã đưa tôi về quê chơi. Cũng nhà ngói, cây mít, ao trước vườn sau, có trâu có bò, có em giai làm lý trưởng. Nàng đã nhắc tôi nhớ đến những ngày giỗ mẹ nàng, và lắm lúc đã tính đến những chuyện về lâu về dài. Vậy mà một hôm tôi đã bỏ đi thẳng, đành từ chối cái tình già ấy, vì một buổi ngồi giữ nhà hát cho nàng đi chợ cân ngô cân gạo, tôi soi mặt vào gương, tự nhiên thấy đôi lông mày mình cứ trắng dần mãi ra. Thế này thì ra tôi sắp làm chùm nhà hát đây à ? Các con em đã nhất loạt gọi tôi là bác rồi.

Nửa tháng sau, tôi nhận được một lá thư của người cô đào già mở đầu như thế này : « Tỉnh Hà Nam ngày… Kính gởi Ông Cầm-quạt-Tầu-tay-trái… »

Lẽ tất nhiên, trong lá thư, bà ta sỉ vả tôi hết điều.

Lại còn cho là xứng đáng, tôi đã cất kỹ bức thư tình đặc biệt đó và bất giác nhớ lại mấy câu thơ độc vận ngộ nghĩnh của một ông bạn đọc cho nghe với một giọng khôi hài.

« Mình có thương tôi phải lấy tôi

Lấy tôi mình phải kiếm nuôi tôi

Trăm năm tôi có điều chi nữa

Xênh phách mình khua để cùng tôi ».

Nghĩ đến chuyện cái « bà Hà Nam » tôi đã thoát được khỏi kia mà lắm lúc tôi cứ giật mình đánh thót. Nếu độ ấy, tôi cứ lần lữa mãi, sớm trưa ôm ấp một cái tình già, bà ta đẻ cho một mụn con thì rồi sẽ không gỡ được nữa, và có nhẽ đến phải lấy thân mà trả nợ đời cho ai, chẳng khác chi cái cảnh huống anh Bảo, một người bạn tội nghiệp của tôi.

Anh Bảo là một người viết văn, làm báo, tính tình phóng khoáng, bề ngoài cứng lạnh, nhưng gần anh lâu, mới biết anh là một người trong loài tình. Anh có quen một cô đào hát có danh phận. Cái cô Hường ấy có tài có sắc, thực đã xứng đáng làm người tình nhân của Bảo. Cứ đi sớm về trưa với tình mãi, một ngày nọ Bảo đã chính thức nhận Hường làm vợ lẽ. Thế rồi người vợ ấy mắc chứng lao, không thuốc thầy nào chữa được. Một ông lang ngoại khoa đã bày cho Bảo lấy máu dê sống mà chữa cho tình. Bảo đã mua đem xuống Chùa Mới một con dê, chọc cuống họng dê, cắm một cái ống cao su vào đấy. Một người giữ con dê dẫy chết, kêu be be, máu cổ chảy ra lênh láng dưới chân giường người ốm nằm cứ như dán xuống mặt chiếu hôi hám. Bảo thì nâng Hường nghển dạy, mồm ngậm một đầu ống cao su đã cắm sẵn vào cái lỗ thủng nơi yết hầu dê đỏ loang, Hường mút máu dê ừng ực. Con vật bị xót quằn quại. Cuộc truyền huyết lâu độ mười phút và những ngày sau, bệnh người vợ lẽ vẫn cứ một ngày thêm nặng. Cái điều đáng buồn nhất cho anh Bảo là nhà Hường vốn có lực, tuy lâu nay không dọn nhà hát, nhưng ăn tiêu thuốc thang trong nhà Hường vẫn sẵn tiền. Bảo không phải đưa đồng nào. Giá phải đứng vào cái địa vị lo chạy cân thuốc cho nàng, thì chưa chắc Bảo đã đầy đủ được cho hết bổn phận ; nhưng tôi tưởng dẫu sao, như thế cũng vẫn còn thú hơn là người ta không cậy đến mình lo chạy một tí tiền gì. Thành ra mỗi ngày Bảo xuống Chùa Mới, chỉ là một việc trình diện xuông và ngượng với tình. Hỏi thăm xong một câu, Bảo ra cái màn nhà ngoài nằm, để sáng ngày mai lại đi tàu điện lên phố để chạy tiền xe và lo riêng việc nhà bên kia cầu Bồ Đề là nơi vợ cả đóng. Trông thấy anh Bảo cứ tíu tít lên vì chuyện vợ lẽ vợ cả bây giờ không viết lách gì nữa, tôi càng thêm nghĩ. Một cái ngòi bút trước kia dùng để chiến đấu, để chứng tỏ một điều gì để khóc thương một cái gì ở cuộc đời này, cái ngòi bút ấy bây giờ han dỉ rồi và nếu có dịp được cắm vào họng bình mực thì anh Bảo chỉ có viết thư tình, viết văn tự và biên bông mua chịu thực phẩm. Mấy cuốn sách tôi đưa cho anh đọc, không rõ anh có mở đến trang sách không ; nhưng lúc anh đưa trả lại thì giữa những trang sách, thỉnh thoảng lại có vài sợi tóc đàn bà dính vào và bìa thì vết trôn đít bát in những vòng hoen ố. Ngửi, thấy có mùi thuốc bắc. Tôi biết Bảo, không thể gọi là sơ giao được, nhưng chưa bao giờ tôi tìm đến nhà anh. Một lần xuống Chùa Mới, qua nhà Hường, mấy ông bạn cùng đi chơi bèn rủ tôi vào thăm Bảo.

Đã hơi khuya. Trong nhà, một ngọn đèn hoa kỳ. Có bạn đến, Bảo vội bật đèn điện. Bao nhiêu cái mệt mỏi của gian phòng có người ốm nằm trong kia đều hiện lên dưới cái ánh sáng bóng đèn điện mười nến vàng cành cạch. Một cái ván ngựa đầy bụi, không có chiếu phủ. Đây là cái giường mỗi ngày Bảo vẫn ngủ để canh người ốm. Chiếc đồng hồ trên vách, quả lắc vẫn chạy tích tắc, nhưng tôi có cái cảm giác kinh hãi rằng thời gian ở đây đã bị bó cứng chắc lại. Chúng tôi nhắp một chén trà tàu không có hương vị gì, hơi lấy làm lạ, vì xưa nay Bảo là người sành và khó tính về việc uống trà.

Có người hàng xóm vào gọi ông cụ đẻ ra Hường đi đàn. Ông cụ tìm cây đàn đáy dựng sau một lá màn vải sô một cái bàn thờ ma mới. Mẹ Hường vừa chết, chưa tới kỳ giỗ đầu. Bảo xưa nay vốn chải chuốt trong phục sức, lúc này mặc chiếc sơ mi dét xanh kẻ ô vuông tay hở khẳng khiu. Quả là dáng diệu một anh kép nghiện một gánh tuồng cải lương rạp ngoại ô. Tôi đã thấy cả cái nhục lụy và tồi tàn của một kiếp sống. Rồi tôi mới nhận ra Bảo là một người có can đảm. Một buổi tình cờ đặt chân vào nhà vợ hai anh, tôi đã hiểu Bảo hơn là một khoảng bảy tám năm vẫn gặp anh để bàn luận về văn thơ cùng nghệ thuật. Ra về, tôi nghĩ bụng rằng nếu sau này, đến cái lúc ngòi bút ngứa ngáy của tôi có xui tôi viết một cuốn tình sử Việt Nam, thì tôi phải mượn câu chuyện tâm sự của Bảo và Hường dựng làm một thiên mở đầu.

Người vợ bé của Bảo đã chết vì bệnh lao. Bảo đã nhờ một anh bạn thân đảm bảo cho mình đi thuê chịu một cỗ xe đòn đám ma hạng nhất, bánh cao xu, bốn ngựa. Từ xa trở về kinh thành, gặp Bảo, tôi thấy anh tóp đi nhiều. Tôi đã không chia buồn cùng anh và còn thành thực mừng cho anh nữa. Anh không tỏ vẻ giận. Hai đứa tôi bèn uống rượu, nhắc đến một vài tên người bạn quen trong cái đám tình chủng.

Cái tết một năm vừa rồi, một suýt nữa thì tôi lại bỏ nhà.

Buổi sớm ba mươi ấy, tôi đã nhận phần giữ nhà cho ông bạn, để cho ông được yên trí mà về quê lễ nhà thờ tổ và được hầu gần dưới gối cụ cố bà trong mấy ngày Nguyên Đán. Ông bạn đã dặn đầy tớ mọi việc phải làm lúc đi vắng. Không tin ở cái ý định của tôi, ông hỏi gặng lại :

- Nếu anh không ở Hà Nội, phải về Thanh ăn Tết thì từ giờ đến trưa, anh phải cho tôi biết để tôi tìm ngay ông bạn khác canh nhà dùm cho vậy. Từ ngày tôi góa vợ, giang hồ nó quen mất đi rồi. Nhưng anh thì còn chị ấy, các cháu và các cụ, phải về chứ. Tôi mấy năm cũng không về quê, tuy từ đây về nhà chỉ có không đầy ba chục cây số. Năm nay, cố tôi nhắn người làng ra bảo thế nào cũng phải về. Giờ tôi đi Phòng. Tôi sẽ lại có ở đây sớm mai về quê sớm mừng tuổi mẹ tôi. Thế anh nhất định như thế nào ?

- Không, tôi không muốn về nhà.

Ông bạn ra ga. Tôi tu hết nửa chai rượu, ngủ ngay. Rồi có người lay tôi dậy. Mở mắt ra thì giời đã về chiều, tai đã nghe thấy tiếng pháo vài nhà cúng sớm thỉnh ông bà ông vải về. Ngần – một cô đào Khâm Thiên tôi quen hồi gần đây – chỉ hai cái bồ con nàng đặt giữa nhà :

Em về quê đây anh ạ. Lên chào anh. Và nếu anh sẵn tiền, em lấy một ít mang về quê tiêu thêm. Chuyến đầu tháng này, bốc mả cho thầy em, tiêu nhiều quá. Giờ về, lại đến lượt lo việc phó lý cho chú tư nó, cũng lại phải mất năm bẩy chục khao là ít. À, anh chưa xem ảnh đứa con của em đấy chứ nhỉ.

Ngần ngồi tỉ tê kể nỗi gia sự, bên cạnh có một cái liễn da lươn đựng trầu không cây vỏ.

- Biết các anh hay ăn trầu, em mua lên biếu cả liễn này. Cả dao bài và ống vôi nữa. Để em têm sẵn cho độ trăm miếng, tết có khách khứa khỏi chạy đi mua lẻ. Mà ai đã dọn hàng nước ngay trong mấy hôm Tết !

Tôi đứng dậy, lục đôi bồ của Ngần. Pháo. Rượu mùi. Hoa giấy trang kim cắm bàn thờ. Một gói cà cuống đồ. Pháo hoa cải cho trẻ con chơi. Giầy, dép, guốc, lê táo. Và cảm động nhất là ba bộ đài gỗ đựng chén rượu, sơn son có nắp cùng với một cái bài vị cạnh thếp vàng. Chưa bao giờ, tôi lại tưởng tượng được cái lòng một người cô đào sống cuộc đời giang hồ trôi dạt vô thường mà lại có thể chu đáo đối với gia đình, thiết tha với thân quyến, với một cái Tết ở quê hương nặng đến bực ấy. Mình vẫn tự xưng là một người của xã hội lương thiện, là một đứa con trưởng có một gia đình ngăn nắp mà sao đối với nhà, với quyến thuộc, mình lại có thể hững hờ đến nỗi cố tình không trở về, trong mấy ngày vui này. Thế này thì ra tôi hỏng quá rồi. Và cái chữ hiếu – trào phúng thay – lại tìm được thấy ở cái đám son phấn lầu hồng. Tôi bèn đổi ý kiến. Sớm mùng một Tết ; tôi ra tầu về nhà, sau một đêm giao thừa uống rượu say với ông bạn và đi xe giờ cho hết đêm ở ngoài phố, xem thiên hạ đón cái xuân sang. Vào cuối giờ giao thừa, xuân năm mới đã đến với tôi giữa phố Hàng Bông Nệm bằng hai cô gái nhà lành đi hái lộc về, tóc thề rủ xuống lưng áo màu hoa đào. Lòng tôi vui nhẹ tin rằng cái năm mới rồi sẽ lành lắm, với cái triệu hai chị em xinh tươi hồn nhiên lương thiện vừa gặp kia. Ngồi trên con tầu về nhà, tôi nghĩ mà lại cám ơn thầm đôi cái bồ của Ngần đựng đồ sắm tết. Không có Ngần với hai cái bồ ấy, thì cái Tết này tôi lại vắng nhà nữa, để cho bao nhiêu người nhà tủi phiền một cách vô ích.

Tháng giêng ăn tết ở nhà, tháng hai tôi trở ra Hà-nội, với cái ý định là phải lập lại cuộc đời. Làm lại mãi. Lập nữa. Và thề không bước chân vào nhà hát nào nữa.

Nhưng một buổi sớm mùa xuân, vừa bắt nghe một hồi còi mười giờ ở quãng Ngã Tư Sở xong, thì từ cửa một nhà hát mở có người réo to đến tên tôi :

- Hãy đừng lại. Vào đây có người hỏi cái này đã.

Tôi lại bước vào cái nhà hát xộc xệch ấy. Kìa, Nhẫn, một cái tình cũ, diện sắc vẫn không khác gì mười năm xưa, hồi nàng còn hát ở xóm Cửa Hậu, Thanh Hóa. Trông mặt nhau cả cười, nàng hỏi tôi có còn ở Thanh nữa không :

- Thế Nhẫn bây giờ ở Hanoi à. Từ bao giờ ?

- Bây giờ không là Nhẫn nữa. Là Xuyến kìa. Ở Hanoi đã ba năm nay, sau mấy năm ở Hải Phòng. Cái hồi em bỏ Thanh Hóa lánh về Phủ Nghĩa, anh về tìm, em có biết. Giá được gặp anh cái hồi lùi về nhà quê đó, thì em cũng chả đến nỗi phải lần mò ra Phòng – cái nơi đồng chua nước mặn ấy mà làm gì.

Gặp lại Nhẫn – à Xuyến – cái cảm tưởng đầu tiên của tôi là sự ái ngại. Khốn nạn, bao nhiêu năm trời đi tranh khôn dành khéo, bán cười cho thiên hạ mãi, để bây giờ vẫn là cô đào, và lại là một cô đào ở Ngã Tư Sở. Tất cả những phong vị tỉnh Thanh bỗng sống lại trong người tôi. Tiếng kèn lính khố xanh tập thổi trên mặt thành Thành Hóa. Tiếng xe cút kít những kỳ phiên chợ, và hình ảnh một vài người bạn chết. Tôi nhớ lại cái hồi đi từ Thanh ra Nam, rồi lại đi tầu thủy từ Nam về Phủ Nghĩa tìm Xuyến mà không được gặp, tôi đã bâng khuâng đau khổ như thế nào.

Chốc lại gặp cố nhân, tôi lại đành phụ nhời ước tự tôi hẹn với tôi lúc đầu năm là lập lại cuộc đời mình. Và lấy cớ là phải trung thành với những kỷ niệm cũ, dăm bẩy ngày tôi lại xuống nhà Xuyến một lần, rủ cả anh em bạn xuống, kể những đoạn tình xưa cho họ nghe, rồi ăn cơm uống rượu, để tàn cuộc rượu thì mình lại càng chán mình hơn những năm cũ. Những lúc vui đùa, các bạn tôi đều gọi Xuyến là « cô Phủ Nghĩa ». Mấy người bạn thân hay nhập vào những cuộc vui ấy của tôi, mỗi lần thấy vắng bên mâm cơm của anh em ở nhà, nhắc đến tôi, lại bảo nhau :

- Thằng cha ấy, hôm nay có nhẽ lại đi ăn giỗ dưới Phủ Nghĩa.

Mùa xuân cái năm đã thề không đi hát mà lại cứ xuống nhà hát như thường ấy thường đã hết, để một đêm bắt đầu sang hè, tôi lại ngồi canh Xuyến ốm nặng. Nhà nhiều muỗi, Xuyến bảo tôi vào trong màn. Nằm cạnh Xuyến ốm, đầu giường và quanh giường là bát thuốc chai thuốc và quần áo bẩn vừa thay ra, tất cả một thời kỳ làm bạn với ông Thông Phu – cái người tặng tôi một chiếc lư đồng cổ – và trông nom ông ốm ngày xưa ở Thanh Hóa lại vụt hiện về trong đầu tôi.

Tôi đã ngồi ngỏm dậy, nhìn Xuyến vừa uống xong chén thuốc bắc, chợp mắt ngủ. Bó gối dưới chân giường tôi lặng ngắm những cấn thuốc bắc đọng nơi đáy bát đàn. Trên nắp một cái hòm da đen là vật tùy thân không rời Xuyến một bước, một chai nước chanh mở sẵn nút và một quả cam Sìu Châu chưa bổ, lần vỏ tươi có ánh đèn con soi vào. Người Xuyến bé mỏng hẳn đi, dán xát xuống chiếu. Nhìn Xuyến bé mỏng hẳn đi, dán xát xuống chiếu. Nhìn Xuyến thở rất khó khăn, không rõ vì liên tưởng gì mà tôi đã nghĩ đến cái việc anh Bảo thuê chịu xe tang đưa chôn người vợ bé ở Chùa Mới ngày nọ.

Gần sáng, lúc thắt lại cà vát ra về, tôi đập khẽ Xuyến dậy : « Xuyến là người bên lương hay là bên giáo ? »