Tiếng Hebrew để chỉ việc đến Jeresalem và vùng Đất Hứa là alyah -“sự đi lên”. Con đường đến Jerusalem đúng là sự đi lên vật chất, và đó là một chỗ dốc. Người Israel cũng dùng alyah theo nghĩa là nâng tâm hồn lên. Chủ nghĩa Phục quốc Do Thái duy trì nghĩa đó để chỉ người Do Thái dời đến Israel là hình thức cao nhất của sự tự biểu hiện, và người rời bỏ Israel hẳn đang phạm tội yeridah (đi xuống dốc).
Tôi luôn cảm thấy chút hưng phấn khi lái xe lên Jerusalem, cả vào những ngày gấp gáp hoặc mệt nhọc nhất. Nhưng ngọn núi của Judea vươn vút lên từ đồng bằng duyên hải. Nhưng thửa ruộng đã được cày bỗng nhường chỗ cho nhưng dốc đá mọc đầy cây rừng gồm bách và thông.
Cổng vào Jerusalem được củng cố tự nhiên gọi là sha'ar ha-Gai nhưng nhiều người gọi bằng cái tên Ả Rập trước đây là Bab al-Wad. Các khối gỉ sét của nhưng chiếc xe bọc sắt bị phá hủy nằm rải rác cạnh đường như vật kỷ niệm cuộc đấu tranh của nước Do Thái lúc mới lập quốc để bức phá sự vây hãm Jerusalem của quân Ả Rập. Nhưng biểu tượng đầu tiên về Thành Thánh là những hình ảnh chẳng có vẻ gì là tôn giáo xa xưa mà mang tính chất của cuộc chiến tranh hiện đại.
Những du khách xưa kia trên đường tới Jerusalem đã nhớ tới cuộc đấu giữa David và Goliath mà Kinh thánh lấy bối cảnh là những ngọn đồi thấp kế đây. Ở Bab al-Wad, du khách thời nay được hỏi là thấy sự xung đột của Israel với người Ả Rập có giống cuộc đấu chống lại Goliath Ả Rập.
Nhịp mạch của bạn như nhanh hơn khi bò lên từng ngọn đồi, và hạ thấp mỗi khi lao xuống thung lủng. Mỗi đỉnh đồi giống như bậc thang của một cái thang thật khác leo lên Jerusalem. Không khí trở nên mỏng hơn, mát hơn.
Nó nhắc nhớ các từ “Jerusalem của Chúa” giai điệu dân gian trầm buồn được sáng tác ngay những tuần trước cuộc Chiến Sáu Ngày năm 1967 chẳng khác nào một trong những bài hát được ưa thích nhất ở Israel. Nó nói về thành phố trơ trọi, với một bức tường ở giữa, một thành phố bằng vàng, đồng và ánh sáng, gợi lên sự trở về Jerusalem của dân Do Thái. Cho tới lúc ấy con
đường từ Tel Aviv tới ngõ cụt: bức tường phòng ngừa kẻ bắn tỉa dọc theo đường ranh ngưng bắn giữa lực lượng Israel và Jordania. Chiến tranh "đã hợp nhất" hai nửa của thành phố dưới sự thống trị của người Israel. Zion đáng yêu trong những lời kinh hàng ngày của người Do Thái và quốc ca Israel đã nằm lòng nơi người Do Thái.
Đối với người Palestine, thất bại năm 1967 làm tồi tệ thêm "thảm họa" lập quốc của Israel năm 1948. Toàn bộ phần đất Palestine đặt dưới sự ủy trị của Anh đã rơi vào tay người Israel; hầu như người Ả Rập chẳng còn tấc đất nào, huống chi người Palestine. Đến lượt người Palestine khóc thương Jerusalem. Bài ca ai oán Zahrat al-Madayin do Fairuz cất lên gây xúc động cho người Palestine. Những nét lướt của nó chuyển từ ai oán đến giận dữ, và đến niềm hy vọng là người Ả Rập tái chinh phục Jerusalem, và cuối cùng là tiếng kèn trumpet khải hoàn mở ra viễn cảnh an bình được lập lại cho thành phố khốn khổ này.
Công lý sụp đổ ở các cửa ngõ
Khi Jerusalem thất thủ, tình yêu lủi bước và chiến tranh chiếm lĩnh nơi trái tim của thế giới [. . .]
Nước nguồn sông Jordan hãy rửa mặt ta bằng nguồn nước thiêng của mi
Và mi, Hỡi nước nguồn sông Jordan, hãy cuốn sạch dấu chân của các rợ quân.
Cơn giận dữ lan rộng
Đang dâng lên
Bao khiếp sợ
Đang ùa tới. . . Ngôi nhà là của chúng ta
Jerusalem là của chúng ta.
Những từ giản dị, "Jerusalem là của chúng ta" chắt lấy tinh chất của thế kỷ xung đột giữa người Ả Rập và người Do Thái.
Jerusalem lặng lẽ rón rén vào bạn. Chẳng viễn cảnh nào uy hùng hơn. Thoáng nhìn thành Thánh khác nào tấm áo hữu hình buông xuống từ chỏm những ngọn đồi bên trên con đường, nuốt chửng các con dốc phủ cây rừng. Jerusalem là khu đất rộng lớn. Bộ mặt Jerusalem liên tục được tu sửa, bỏ lại những sườn đồi bị cắt như những vết sẹo.
Cổ thành nép mình e lệ sau cảnh quan của thành phố hiện đại. Các du khách phải len lỏi qua khu vực buôn bán nhếch nhác, qua phòng hội, các khách sạn, trạm xe buýt, các tòa nhà văn phòng-cho tới khi họ bỗng đụng phải những bức tường do Suleiman Vĩ đại xây cất. Bạn chỉ có thể vừa nhận ra những công trình kỷ niệm đằng sau bức tường đá; giống như những hình ảnh của các phụ nữ phương Đông của Roberts, chỉ có lời gợi ý khêu gợi của những khoái cảm khuất lấp khi thoáng nhìn mái Vòm Đá mạ vàng và cái vòm xám than của ngôi Mộ Thánh. Khi bạn thấy được cảnh thông thoáng của cổ thành lúc đứng trên bậc cao của Núi Olives hay Talpiot, bạn cảm thấy giống như David há hốc miệng nhìn nàng Bathsheba trần truồng.
Những trình thuật của các du khách nước ngoài tới Jerusalem chứa đựng bao ấn tượng đến giật mình. Theodor Herzl lần đầu tiên thoáng thấy Zion trong các lời kinh của Do Thái qua cảnh tượng lờ mờ của cơn sốt rét hồi năm 1898: "Dù mệt lử, Jerusalem với những đường viền ngập ánh trăng gây nơi tôi một ấn tượng sấu sắc. Hình bóng của pháo đài Zion, thành trì của David-quả là hùng vĩ!"
Thế nhưng, lúc ban ngày ban mặt, Herzl khó chịu vì cảnh nhếch nhác, về bức Tường phía Tây, ông đã viết: "Thật sự chẳng muốn tới gần vì ở đây đám cái bang gớm guốc, khốn khổ, tham lam đã chiếm chỗ". Cả khi ông tính thuyết phục Vua Đức tẩy chay Palestine khỏi đế chế Ottoman và giao nó cho người Do Thái, Herzl bận tâm lên kế hoạch là làm cách nào có thể tái thiết thành phố. Ồng đã viết trong nhật ký:
Khi ta tưởng nhớ đến mi, Hỡi Jerusalem, thật chẳng hài lòng chút nào. Những tồn đọng mốc meo của hai ngàn năm vô nhân đạo, thiếu khoan dung, dơ bẩn nằm ở ngõ hẻm bốc mùi hôi thối. . . Nếu chúng ta từng đến Jerusalem và nếu tôi còn có thể làm được bất cứ điều gì tích cực vào lúc đó, tôi sẽ khởi bằng việc dọn dẹp sạch sẽ nó. Tôi sẽ dẹp bỏ những thứ gì không có vẻ thánh thiêng, xây dựng nhà công nhân bèn ngoài thành phố, quét sạch các ổ đồi trụy, đốt hết những tàn tích thế tục và chuyển chợ búa đi chỗ khác.
Vào những ngày Herzl tự cho mình có quyền mường tượng việc xây dựng. Ông muốn biến Jerusalem thành một trong những thành phố đẹp nhất thế giới, chỉ để lại khu vực tôn giáo bên trong cổ Thành và thành phố hiện đại, xanh tươi trải qua những ngọn đồi kế bên. Nhìn xuống từ Núi Olives, ông được truyền cảm hứng không phải bởi những truyền thuyết về David và Solomon, nhưng bởi vẻ hùng vĩ của Rome, thủ đô của đế chế đã phá hủy đền thánh của Do Thái. Trong nhật ký ông đã viết, "Quả là những giây phút tuyệt vời. Sao lại không thực hiện được! Một thành phố như Rome, và Núi Olives sẽ cung cấp bức tranh toàn cảnh như Janiculum".
Herman Melville, khi đi thăm Palestine hồi năm 1857, đã rầu rĩ viết trong nhật ký: "Judea là một đống đá-Những ngọn núi đá và những đồng bằng đầy đá; những dòng nước lổn ngổn đá và những con đường lổn nhổn đá; những bức tường đá và những thửa ruộng đầy đá; những căn nhà làm bằng đá và những ngôi mộ xây bằng đá; những con mắt vô hồn như đá và những con tim chai cứng như đá". Ông nghĩ những người Do Thái trong cổ Thành sống "như những con ruồi trong cái sọ rỗng"
Những nhà tâm thần hiện đại đã chẩn đoán một căn bệnh tâm thần được gọi là "Hội chứng Jerusalem". Họ diễn giải những du khách bình thường khác làm sao, bị mất phương hướng bởi sự không hòa hợp giữa Jerusalem và tâm trí của họ và thành phố thật trên mặt đất, là nạn nhân của những ảo tưởng, nghe những âm giọng, tự mường tượng là những nhân vật của thánh kinh.
Khi lần đầu tiên tôi tới đó với tư cách là phóng viên vào năm 1991, lúc bắt đầu cuộc khủng hoảng về việc Iraq xâm lược Kuwait. Tôi cảm thấy thoái chí bởi gánh nặng lịch sử của Jerusalem mà tôi chỉ học sơ hồi còn nhỏ nhưng nay bị đánh quỵ với tất cả sức mạnh của những sự kiện mà tôi được gửi tới để tường thuật. Như một đứa trẻ bị kéo tới nhà thờ, tôi đã mường tượng Jerusalem là một chốn siêu trần, thần thoại, một loại Atlantis hay Shangri-La. Niềm tin vào Jerusalem dường như là vấn đề của đức tin, như niềm tin vào sự Phục sinh. Nhưng vào lúc tinh mơ, khi taxi của tôi chạy dọc theo con đường Jaffa hoang vắng, tôi bị đứng trước một thành phố cụ thể, đúng thực với những cửa hiệu, những dấu hiệu bằng tiếng Hebrew, và rác rưởi. Cả đèn giao thông cũng có vẻ kỳ lạ ở thành phố của Chúa. Chính vẻ thường tình lại gây ra chưng hửng. Ở khu chợ Mahane Ychuda, các tòa nhà san sát nhau trên đường giao thông chính của thành phố. Tôi nhìn ngắm những ngôi nhà bằng đá với mái ngói đỏ. Hình thù trông quen thuộc nhưng có vẻ nặng nề hơn những tòa nhà ở châu Âu, và cửa sổ theo kiến trúc phương Đông, nhưng rõ ràng là thành phố phương Tây. Tôi còn tới những chỗ còn lạ và kỳ cục hơn, nhưng vào lúc trời mờ sáng, không đâu có vẻ huyền bí hơn Jerusalem.
Các nhà hiền triết Do Thái đã nói rằng: thiên hạ có mười phần đẹp thì Jerusalem vinh dự có được chín. Mười phần khổ đau, Jerusalem chịu chín. Mười phần thông thái, Jerusalem giành lấy chín. Mười phần ác độc thì Jerusalem vô phúc có đến chín.
Vào thời giáo sĩ ban đầu, khi câu cách ngôn này được đặt ra, đã có sự cảm nhận yêu và ghét, sự lưỡng phân giữa Jerusalem trên trời và Jerusalem dưới đất, giữa lòng sùng kính cao cả mà thành phố truyền cảm hứng, và lòng ghen tị mà lòng tin khơi gợi giữa những con người bất toàn.
Đối với các tiên tri của Kinh thánh Do Thái, tính trọng đại của sự linh thánh của Jerusalem xem chừng cũng ngang bằng muôn vàn tội lỗi của nó. Jerusalem có cả tính cách thần bí kỳ quặc, cao cả và xấu xa. Isaiah, Jeremiah, và những tiên tri khác đã mô tả thành phố là nàng dâu và con đĩ, là người mẹ và là bà góa, thủy chung nhưng cũng sát chồng. Họ tiên đoán Thiên Chúa sẽ gửi xuống sự hủy diệt đại hồng thủy, nhưng sẽ phục hồi Jerusalem thuần khiết và chính trực như xưa, và các cư dân của nó sẽ mãi tôn trọng giao ước mới với Thiên Chúa.
Với thời gian, nhất là trong giai đoạn nhiễu nhương dẫn tới việc người Roma tàn phá đền thờ và sau này, những khái niệm của sách khải huyền phân định rõ tầm nhìn về hai Jerusalem riêng biệt: một Jerusalem trần tục và một thành phố trên trời chờ hạ cố xuống trái đất theo lệnh của Chúa. Sự phục hồi một Jerusalem mới có liên quan mật thiết với ý tưởng của Đấng Cứu thế, vị vua công chính thuộc dòng dõi David sẽ giải thoát người Do Thái khỏi ách nô lệ. Sau này điều ấy được trau chuốt thành những biến thể theo chủ đề của hữu thể bán thần linh sẽ khôi phục Israel, tập hợp những kẻ tha hương và trị vì một thời đại hòa bình viên mãn. Toàn bộ điều này đến sau giai đoạn chiến tranh, dịch bệnh, hủy diệt, và xáo trộn khắp nơi.
Những nhà biên niên sử Ả Rập thời Trung cổ nhận ra tính đồng nhất hỗn hợp đồng dạng này. Al-Muqaddasi, nguyên quán là người của thành phố, đã mô tả Jerusalem là "cái bát vàng đựng đầy bọ cạp". Ông trở nên say mê sự hào phóng của vùng đất không cần tưới tiêu và lòng mộ đạo của dân thành Jerusalem. Nhưng Al-Muqaddasi cũng phàn nàn rằng nhà tắm của Jerusalem thì dơ dáy nhất, sưu cao thuế nặng, và thành phố không có học giả. Ông làu bàu, "Khắp nơi người Kitô giáo và người Do Thái chiếm ưu thế."
Tính cách phân hóa này xem chừng được tiền định bởi địa lý. Jerusalem đứng trên đường phân nước của những Ngọn Đồi Judea, đường phân chia giữa sa mạc ở phía đông và vùng rừng sum suê ở phía tây, biển bao la ở một bên, còn bên kia là sự khô cằn liên tu bất tận. Cổ Thành được bọc bởi ba mặt là những ngọn đồi cao hơn: Núi Olives với các nhà thờ Kito giáo và các nhà thờ Hồi giáo, Núi Scopus với kiến trúc lập thể trường Đại học Hebrew và dãy phố mới có khách sạn Vua David cao hơn hẳn. Từ ngọn đồi Abu Tor ở phía nam, thành phố gần như ở trên không, nép mình trong cái bát lớn treo giữa trời.
Cổ Thành hiện lên trên chóp giữa hai khe núi. Truyền thống Do Thái cho rằng thung lũng đầu là thung lũng Jehoshaphat, nơi ngày Phán xét sẽ diễn ra và người thiện sẽ vào Vườn Eden. Các con dốc của nó được phủ bằng những nghĩa địa của Hồi giáo, Kito giáo, và Do Thái, những người muốn ở hàng đầu. Thung lũng kia là Gehenna, đồng nghĩa với Hỏa ngục và sự khốn khổ đời đời vì những tế vật trẻ em khủng khiếp cho Moloch mà Jeremiah đã nói là được thực hiện ở đây. Jerusalem không phải là hai thành phố mà đúng hơn là một, treo giữa trời và đất, giữa thiên đàng và hỏa ngục.
Chút ít đã đổi thay. Jerusalem rõ ràng là đẹp, nhưng là thành phố không hoàn mỹ lắm. Từ bao lơn của căn nhà của tôi ở Abu Tor, tôi đã ngắm nhìn ánh hồng của đá vôi trắng của thành phố qua vùng có bóng râm, tùy theo trạng thái của bầu trời. Dải rộng của đá xem ra có thể phô bày nhiều xúc cảm như biển cả. Jerusalem tỏa ra màu trắng chói lòa vào giữa trưa hè, thấm đẫm màu vàng, màu hoàng thể, và màu hồng lúc hoàng hôn, và trở nên vàng mờ mờ khi gió sa mạc mù mịt thổi từ phía đông. Vào mùa đông, những cụm mây bão từ biển cuộn trên đỉnh Jerusalem, tạo thành vòm màu lam xám trên đỉnh đầu.
Quả cầu mạ vàng của Vòm Đá lấp lánh ở đáy những phiến đá ceramic màu ngọc lam xuất hiện bên trên những khối đá và những mái vòm rải rác của cổ Thành. Đó là viên đá quý được phô trương đính vào ngón tay bằng đá của Jerusalem.
Nhưng khi nhìn xuống dưới cổ Thành, bên ngoài các bức tường, và vùng đất khô ráp với những xóm giềng Ả Rập nghèo nàn và nhếch nhác ở Silwan, Al-Tur, và Ras al-Amud. Phân nửa Ả Rập và Do Thái của thành phố, được tái hợp nhất vào năm 1967, giờ ở trong hàng ngũ quân đội Israel. Thủ đô muôn thuở của Israel trở thành đèn soi khắp thế giới, những người được mời để tạo nó thành nhà của họ, trong khi cư dân Ả Rập của Jerusalem bị đối xử như những dân ngoại trên chính thành phố của họ.
Đường phân chia cũ giữa đông Jerusalem thuộc Ả Rập và tây Jerusalem thuộc Do Thái chạy xuống con đường nơi tôi đã sống bảy năm. Những hàng rào kẽm gai và những bãi mìn đã không còn nữa, kể cả khi một số ngôi nhà còn mang những vết tích của đạn bắn tỉa ngang qua ranh ngưng chiến. Hơn một phần tư thế kỷ sau khi biên giới được xóa bỏ, nó vẫn khắc sâu trong tâm trí các cư dân của thành phố. Người Palestine sống ở một bên con đường, còn người Israel sống ở bên kia. Những người láng giềng bất đắc dĩ này chỉ chào nhau qua loa khi họ chạm mặt nhau. Hiếm khi thấy trẻ Do Thái và Palestine chơi với nhau.
Từ cửa sổ ngôi nhà, tôi dễ dàng thấy biên giới cũ ở xa xa. Các láng giềng Do Thái sống trong những tòa nhà khoáng đạt và thanh lịch hơn, đường xá được thắp sáng và những khu vườn được tưới tắm thỏa thuê. Các khu của người Ả Rập thì tồi tàn, bụi bặm, và tối tăm.
Cứ đúng định kỳ, các toán lính và những nhóm thiếu niên Israel mang súng tuần tra các khu di tích của cha ông họ. Bọn trẻ Ả Rập chạy trốn cho đến khi họ đã đi qua. Ở cái thành phố được gọi là hòa bình này vẫn có những hoạt động quân sự diễn ra ở Đông Jerusalem của Israel và ở tỉnh Beit Jala bên kia Bờ Tây thuộc Palestine.
Trong 3.000 năm sau giữa câu chuyện giành được Jerusalem của Vua David và sự thể người Israel thâu tóm thành phố, Jerusalem đã phải chịu ít nhất 50 cuộc vây hãm, chiếm đóng, và thay thầy đổi chủ. Thành phố bị bao quanh bằng những chốt kiểm soát quân sự, những nơi tụ họp chính thường bị kiểm soát, có khi lính còn đóng chốt ở các trạm xe buýt.
Jerusalem là thành phố của các vụ nổ. Những tiếng báo động rú lên khi có tiếng gầm của máy bay quân sự trên đầu. Tiếng nổ âm thầm hơn nhưng tiếng vang kéo dài hơn là có vụ đánh bom tàn sát của người Palestine. Cứ vài tuần, bầu trời đêm dội lại ánh sáng và tiếng ầm vang của pháo bông của lễ hội. Giữa đêm khuya thanh vắng, mặt đất ùng ục với những tiếng đạn pháo nã vào từ xa.
Những âm thanh khác giạt qua cửa sổ căn nhà tôi ở vào cuối tuần. Vào lúc chạng vạng tối ngày thứ sáu, tiếng còi tầm vang rền khắp thành phố báo hiệu khởi đầu ngày Sabbath, rồi sự im lặng lại trùm khắp phía Tây Jerusalem. Lời mời gọi cầu nguyện của một trăm nhà thờ Hồi giáo trỗi lên năm phút một ngày từ thung lũng phía đông bỗng vang lớn, hàng trăm giọng rên rỉ tạo thành âm thanh rộn ràng, như những tiếng ve sầu. Chùm chuông từ các nhà thờ trên Núi Zion vang xa vào ngày Sabbath. Cuối ngày Sabbath vào đêm thứ bảy, nhà hôn lễ của người Do Thái cũng rộn vang tiếng nhạc đối lại nhịp điệu khuyếch đại của ban nhạc Ả Rập công bố hôn lễ của một cặp trai gái Palestine.
Khách hành hương tới Jerusalem để tìm sự hiệp thông với Chúa nhưng bị những người bán rong hàng kỷ niệm tấn công. Những thương buôn Ả Rập sống trong khu chợ Hồi giáo ở cổ Thành bán những mặt hàng như những cây đàn cổ cho người Do Thái, thánh giá và tràng hạt bằng gỗ ôliu cho các Kito hữu, còn đối với khách hành hương quan tâm đến chính trị có thể mua những chiếc áo sơ mi rùng rợn có hình cây súng máy và hàng chữ "Uzi sử dụng loại này"
Cổ Thành của Jerusalem yết thị những tờ cổ vũ tình huynh đệ. Các lối đi của nó tập trung hoạt động chính trị của các nhóm sắc tộc và tôn giáo. Các khu được phân chia bằng đường ranh của mỗi giáo phái-Do Thái, Hồi giáo, Kito giáo, và Armenia-với vô số giáo phái phụ cạnh tranh nhau, tất cả đều cầu nguyện cùng Một Chúa.
Mỗi giáo phái có trang phục riêng. Ở Jerusalem, tôn giáo đã tạo nên một thành phố-mũ, ai đội kiểu mũ nào thì thuộc về giáo phái nào chứ chưa hẳn thuộc về Thiên Chúa. Chẳng hạn những người Do Thái theo Chính Thống cực đoan đội những chiếc mũ màu đen làm bằng nỉ hay lông thú sang trọng. Những người Do Thái tụ tập ở Tường phía Tây mang những khăn choàng dùng khi cầu nguyện (tallit) giống như một giáo đoàn khác trên thế giới.
Những người Palestine, nhất là những người đàn ông lớn tuổi, thích đội khăn chùm đầu sọc vuông đỏ hay đen. Các phụ nữ Ả Rập đội khăn màu trắng. Khăn chùm đầu còn được dùng vào nhiều mục đích, như che nắng, giữ ấm. Những người trẻ Palestine đội khăn để tránh bị nhận diện trong những cuộc nổi loạn hoặc tránh hơi cay. Ở cổng Damacus, trung tâm của đời sống người Palestine, những chiếc mũ nồi của cảnh sát biên giới Israel lẫn trong dòng người Ả Rập trùm khăn.
Toàn bộ tạo nên một cảnh trí lạ, ấn tượng nếu mỗi tín ngưỡng đừng bảo mình là Chân lý tuyệt đối. Ở đây Chúa không là Một, cũng chẳng là Ba nhưng là đa. Jerusalem là tháp Babel của các đức tin. Lăng kính của tâm trí con người khúc xạ ánh sáng của Chúa duy nhất thành những màu lòe loẹt rối rắm.
Trên hết, Jerusalem là thành phố của hoài niệm, hay đúng hơn là ký ức có tuyển chọn. Nó tồn tại trong quá khứ cũng dài bằng trong hiện tại.
Cuộc tranh cãi giữa người Israel và người Palestine về đất đai và cương vị một nước, quả lắm xung khắc suốt dòng lịch sử. Những người Ả Rập, những người Do Thái, và những người Kito giáo thống trị Jerusalem ở một khu riêng, và mỗi phía tìm kiếm để nêu bật thời đại vinh quang của nó trong khi lơ đi những xác quyết của những phía khác. Từ cùng tấm thảm lịch sử chung, người Israel trích ra màu xanh và trắng để tạo lá cờ Israel, trong khi người Palestine sử dụng các màu Ả Rập gồm đen, đỏ, xanh, và trắng. Nó rút lại một phần để đi đến câu hỏi trần trụi là: "Ai là người đầu tiên ở đây?"
Người Do Thái yêu sách đường ranh liên tục cho những người Do Thái cổ xưa. Những người Palestine đi bước thành công hơn bằng cách duy trì nguồn gốc cuối cùng từ các cha ông Semite của người Israel, dân Canaan, và các kẻ thù của người Israel ở đồng bằng duyên hải, dân Philistine, những người đã cho họ cái tên là "Palestine". Hơn nữa, người Palestine đã sống trong thế kỷ cách đấy hơn 1.300 năm.
Những tên gọi Jerusalem-tiếng Hebrew gọi là Yerushalayim còn tiếng Ả Rập gọi là Al-Quds-là do vấn đề chính trị. Trước hết Jerusalem đi vào lịch sử thành văn là một sự nguyền rủa. Nó được đề cập là "Rushalimum" trong những bản văn cay cú, đồ gốm thế kỷ XIX trước Công nguyên mang những cái tên là các thành phố của người Canaan và những nhà cai trị thấy rằng có mối thù với Ai Cập. Những thứ này được lưu hành để mê hoặc các kẻ thù. Nó được đề cập là "Salem" từ đầu trong Kinh thánh như nơi mà ở đó Abraham nhận sự chúc phúc của Melchizedek.
Nguồn gốc của Jerusalem là thành phố thánh trước hết là phiến đá phơi ra trước gió sàng lọc. Theo Kinh thánh, đây là cái sân đập lúa của Araunah người Jebusite, có lẽ là nhà cai trị cuối cùng của Jerusalem trước khi bị David xâm chiếm ngay sau khi ông lên ngôi vua của vương quốc Israel thống nhất. Kinh thánh thuật lại rằng Thiên Chúa đã đẩy dịch bệnh từ bờ biển để trừng phạt David vì việc điều tra dân số. Sự chết chóc chỉ chấm dứt khi một thiên thần xuất hiện ở sân đập lúa của Araunah, David đã xây một bàn thờ ở điểm đó. Ông đã mua nó từ Araunah với giá 50 shekel bạc (theo tường thuật của bản Kinh thánh khác là 600 shekel vàng), và hất đổ đồ cúng của người Jebusite và thay bằng bò và lúa mì làm hiến lễ. Kinh thánh quả quyết là tay của David đã vấy máu vì đánh nhau, Chúa trao cho con của David là Salomon xây đền thờ vĩnh viễn để chứa Hòm Bia Giao Ước.
Các nhà khảo cổ cho rằng triều đại hoàng kim của David là khoảng năm 1000 trước Công nguyên, nhưng thiếu bằng chứng xác thực, một số chuyên gia bắt đầu nghi vấn là không biết David và Salomon có thật không. Đúng hay không, câu chuyện đã chiếm vị trí trung tâm trong suy nghĩ của dân Do Thái. Vì thế điều quan trọng là sân đập lúa ấy được các nhà hiền triết thuộc giới giáo sĩ Do Thái gọi là "Đá Móng". Ở đây Hòm Bia yên vị trong nơi Cực Thánh, gian chính diện bên trong đền thờ mà chỉ Thầy cả Thượng phẩm mới có thể vào một năm một lần, dịp lễ Sám hối (Yom Kippur) của người Do Thái. Người Do Thái và người Kito giáo tin đấy là nơi Abraham trói con trai mình là Isaac làm hiến lễ.
Vào thời các tiên tri, Jerusalem và Con cái Israel đã trở nên đồng nghĩa. Các nỗi thống khổ của dân Israel là những giọt lệ cửa "các con gái Zion". Sự thờ phượng của dân Israel được quy định là ở đền thờ ở Jerusalem. Họ giết các con thú và dâng lên làm của lễ hiến tế cho Chúa và ba lần một năm người Do Thái trẩy tới đền thờ để hành hương, đền thờ đã được Herod tái thiết và mở rộng. Lời thuyết giáo của ông, bao gồm cả việc đuổi những kẻ buôn bán và tiên tri là đền thờ sẽ bị phá hủy, chịu cơn thịnh nộ của các thầy cả và sau đó là sự tàn phá của người Roma.
Hai cuộc tàn phá đền thờ, lần đầu là do người Babylon năm 587-586 trước Công nguyên, rồi do người Roma năm 70 Công nguyên, là những giai đoạn được xác định trong sử sách của Do Thái. Theo truyền thông Do Thái, cả hai thảm kịch đã xảy ra ở Tisha B'Av, ngày thứ chín của tháng Av theo lịch Do Thái, ngày được tuân thủ là ngày ăn chay và than khóc. Vô số thảm kịch khác được quy cho cái ngày bị nguyền rủa một cách huyền nhiệm này, như sự trục xuất người Do Thái khỏi Tây Ban Nha năm 1942.
Kỷ nguyên của lịch sử Do Thái được đánh dấu bằng sự phá hủy các đền thờ. Giai đoạn Đền thờ đầu chấm dứt với sự trục xuất một phần dân chúng từ vương quốc Judah tới Babylon. Sau khi Babylon bị người Ba Tư đánh đổ, Cyrus Đại đế cho phép người Do Thái "còn sống sót" trở về, những người, dưới sự lãnh đạo của Nehemiah và Ezra, đã tái thiết đền thờ. Trong kỷ nguyên Đền thờ thứ hai, một hình thức đạo Do Thái mới xuất hiện từ nửa thế kỷ lưu đầy. Tôn giáo này bắt đầu chuyển trạng thái từ việc thờ phượng ở đền thờ thành tôn giáo tâm linh hơn, theo lương tâm.
Bị mất đền thờ và quốc gia, những kẻ tha hương ở Babylon quay về những bản văn của họ. Các ký lục chứ không phải các thày cả đền thờ, trở thành sinh lực cố kết. Rất có thể, những kẻ tha hương đã thiết lập các hội đường làm nơi thờ phượng chung và là nơi đọc Kinh thánh. Trách nhiệm trung thành với Chúa chuyển từ những nhà cai trị cho cá nhân. Nếu Chúa không còn hài lòng với Israel, các giới răn của Người phải được tuân thủ kỹ hơn. Cụ thể, việc tuân thủ ngày Sabbath trở thành bổn phận tối thượng và việc kết hôn với dân ngoại bị câm.
Những kẻ tha hương củng cố các khái niệm thần học như sự đấu tranh vũ trụ giữa tốt và xấu, ý tưởng về sự phán xét sau khi chết và sự trông chờ dâng cứu thế được xức dầu thánh thiêng sẽ tới vào giờ sau hết. Thuyết độc thần bộ tộc của Israel mang tính phổ biến hơn, cả khi Israel vẫn là dân được chọn. Thiên Chúa không chỉ vĩ đại hơn các thần khác mà còn là Thiên Chúa duy nhất tuyệt đối, và các biến cố ở trần gian là một phần của chương trình tổng thể của Người. Các tiên tri phán, cuối cùng thì thông điệp của Israel sẽ lan tới thế giới không phải Do Thái, và thế giới trở nên "ánh sáng tới các dân nước"
Việc Alexander Đại đế đưa quân vào hồi năm 332 trước Công nguyên đã khởi đầu cuộc va chạm mạnh giữa đạo Do Thái và văn hóa Hy Lạp kéo dài nhiều thế kỷ suốt thời gian cai trị của những người kế vị Alexander, người Roma và người Byzantine, cho tới khi người Ả Rập nắm quyền.
Anh em nhà Maccabee lãnh đạo dân Do Thái trong cuộc dấy loạn thành công chống lại những lãnh chúa Hy Lạp bị suy yếu, những kẻ đã báng bổ đền thờ. Thế nhưng, cuộc nổi loạn chống lại sức mạnh của Roma đã kết thúc trong thất bại ê chề năm 70 Công nguyên. Josephus Flavius, sử gia người Roma gốc Do Thái, đã thuật lại những giờ phút cuối cùng của Nhà Chúa:
Trong lúc đền thánh đang cháy, mọi thứ trong tầm tay đều bị cướp đoạt, và mười ngàn người bất kể tuổi tác bị bắt và đã bị giết chết không thương xót hoặc kiêng nể, dù đó là trẻ em, người già, người thế tục hay thày cả, đều bị giết cùng một cách. [. . .] Ngọn lửa lan xa, vang vọng tiếng rên rỉ của những người bị giết và vì ngọn đồi thì cao, các công việc ở đền thờ thì rất bề bộn, người ta có thể nghĩ là toàn thành phố chìm trong lửa. Chẳng ai có thể mường tượng có sự cố nào lớn hơn hoặc kinh khủng hơn.
Cuộc nổi loạn bị dập tắt năm 73 Công nguyên khi quân Roma chiếm pháo đài cuối cùng của Do Thái ở Masada, trên bờ Tử hải. Theo trình thuật nổi tiếng của Josephus, những người bảo vệ quyết tự tử hơn là chịu người Roma nô dịch. Đó là hành động cuối cùng của sự thách thức và cuồng tín, "tấm gương sẽ gây ngay thành nỗi sững sờ cho họ trước cái chết của chúng ta và sự kính nể trước sự dũng cảm của chúng ta". Sau này câu chuyện Masada trở thành yếu tố chính để tạo huyền thoại của người theo chủ nghĩa phục quốc Do Thái, với những binh sĩ Israel biến pháo đài thành lời cam kết bảo vệ nhà nước Do Thái phục hồi.
Đền thờ chẳng bao giờ được tái thiết. Trên khung vòm của Titus ở Rorne, hình nổi bằng cẩm thạch khắc những người lính lê dương chở cây đàn nhiều nhánh đi. Thuế đền thờ, thuế đánh trên từng người Do Thái trong đế chế từ nay được đóng vào kho bạc của Roma. Những đám tro tàn của cuộc nổi dậy cứ định kỳ vẫn lóe lên. Một loạt cuộc khởi nghĩa của người Do Thái nổ ra khắp đế chế khi Trajan tự phụ tìm cách chinh phục vùng Lưỡng Hà và mở rộng đế chế của ông ta tới Vịnh Ba Tư. Người kế vị ông ta, Hadrian, hòa hoãn với người Parthia, nhưng phải đối mặt với cuộc chiến thứ hai ở Judea hồi năm 132-135 Công nguyên do Simeon Bar-Kochba lãnh đạo; sau rồi cũng bị đàn áp. Hadrian cấm người Do Thái bén mảng đến Jerusalem và bao vây các khu vực, bãi bỏ tục cắt bì (cắt bao quy đầu) và cấm giảng dạy công khai kinh Torah. Vùng này được đổi tên là Syria Palestina và thúc bách tái thiết Jerusalem là khu kiều dân Roma có tên là Aelia Capitolina.
Sự xung khắc dữ dội này với Roma đánh dấu bước rẽ giữa người Do Thái kháng chiến và các Kito hữu không phải Do Thái. Người Do Thái, những người chiếm 10 phần trăm dân số của đế chế, bị ngược đãi. Cuối cùng những người Kito giáo đã chinh phục Hoàng đế Constantine và Kito giáo trở thành tôn giáo của đế chế. Do Thái giáo, bị tan tác vì mất sự lãnh đạo tôn giáo và chính trị, trở thành tôn giáo thuộc cộng đồng Do Thái ở vùng đất riêng của họ. Tổn thương của tình trạng hủy diệt và lưu đầy đã tạo ra cơ sở cho một tôn giáo không có đền thờ. Giờ, sau khi bị tống khứ khỏi Jerusalem, Do Thái giáo tự dốc tâm vào cầu nguyện, việc bác ái, nghiên cứu, và tuân thủ nghiêm nhặt các lễ nghi Do Thái dưới sự lãnh đạo của các giáo sĩ là những người diễn giải luật tôn giáo.
Các hiền triết đã hoàn tất bản văn Kinh thánh và hệ thống hóa các thế kỷ luật truyền khẩu thành Mishnah (phần đầu của bộ luật và truyền thông Do Thái) vào đầu thế kỷ thứ III. Hai sưu tập riêng về những chú giải Mishnah, được gọi là Bộ Luật (Talmud), được hoàn thành ở Palestine và Babylon khoảng năm 500 Công nguyên. Nhiều tầng chú giải, diễn giải và những quy định mới thêm vào để tạo thành khung bộ luật được gọi là halacha. Điều này giúp bảo tồn bản sắc Do Thái qua những thế kỷ tiếp theo bằng cách tạo ra bức tường phép tắc để bảo vệ người Do Thái khỏi bị những người không phải Do Thái đồng hóa. Nó cũng sẽ tạo ra một tập thể Do Thái có thể được chọn là "những người xa lạ" và những anh chàng giơ đầu chịu báng.
Ký ức về đền thờ bị phá hủy gắn kết người Do Thái lại với nhau suốt những thế kỷ tha hương. Lời kêu gọi tái thiết đền thờ trở thành và mãi là một phần của lời cầu nguyện hàng ngày. Nhiều lễ nghi của đền thờ được chuyển vào các hội đường, những hội đường được xây quay về địa điểm của đền thờ và được truyền cảm hứng bởi kế hoạch ngầm của nó. Đền thờ trở thành biểu tượng của sự cứu độ cho dân Do Thái, và là trụ cột để bảo tồn sự đồng nhất tập thể. Lời than khóc của những kẻ tha hương ở Babylon giờ đây thích đáng hơn bao giờ hết, và vẫn là trong số những diễn cảm lâu dài nỗi nhớ Jerusalem:
Bên những dòng sông của Babylon, chúng ta ngồi, chúng ta khóc, khi chúng ta nhớ Zion.
Chúng ta treo những cây đàn hạc lên những cây liễu.
Vì ở đây chúng ta bị giam cầm, được yêu cầu hát lên bài ca: và họ bỏ mặc chúng ta, chúng ta được bảo là hãy vui lên, hãy hát lên một trong những bài ca của Zion.
Làm sao chúng ta có thể hát được bài ca của Chúa nơi đất khách? Nếu ta quên mi, Hỡi Jerusalem, hãy để bàn tay phải của ta không còn khéo tay.
Nếu ta không nhớ mi, hãy để lưỡi của ta tách khỏi vòm miệng; nếu ta không coi Jerusalem hơn niềm vui chính của ta.
Lạy Chúa, hãy nhớ con cái của Edom trong ngày của Jerusalem. Ai đã bảo, hãy san bằng nó, san bằng cho tới móng của nó.
Ơ con gái Babylon, ai sẽ bị phá hủy; phúc thay người xử với mi như mi đã xử với chúng ta.
Phúc thay người đã bắt và đã ném các con thơ của mi vào đá. (Thánh vịnh 137)
Những câu thơ đầu của thánh vịnh này được trích dẫn phổ biến ở Israel như những diễn cảm về tình yêu và vẻ đẹp, trong khi đoạn thơ khát máu bị khéo bỏ rơi như thứ không thích hợp trong thời hiện đại.
Khi những người Do Thái giạt về Jerusalem, họ sùng kính tàn tích còn lại của đền thờ. Vào thời Ottoman, bức tường còn lại ở phía tây được những du khách phương Tây coi là "Nơi Than khóc" và sau đó được gọi là "Bức tường Than khóc." Các sách hướng dẫn của thế kỷ XIX mô tả cảnh người Do Thái khóc trước công trình bằng đá đồ sộ:
Lạy Chúa, dân ngoại xâm lấn di sản của Người; chúng đã làm nhơ bẩn đền thánh của Người; chúng đã phá Jerusalem thành các đống vụn [. . .] Chúng tôi bị láng giềng thóa mạ, khinh miệt, nhạo cười. Bao lâu nữa, Chúa ơi? Liệu Người giận dữ mãi sao? Chẳng lẽ lòng đố kỵ của Người cháy như lửa? (Thánh vịnh 79: 1,4-5).
Việc biến Palestine thành vùng đất thánh của người Kitô giáo khởi cùng sự trở lại dạo của Hoàng đế Constantine. Sau Công đồng Nicea năm 325, Constantine lao vào chương trình xây thánh đường quy mô lớn ở Palestine. Ông lệnh cho các nhân sĩ của Jerusalem dựng thánh đường trên khu Jesus chịu chết: "với chi phí dồi dào và thoải mái, họ yên tâm hoàn tất công trình vào hạng nguy nga".
Eusebius thuật lại trong cuốn Thân thế của Constantine, nơi Jesus chịu đóng đinh và mai táng, Giám mục thành Caesarea thuộc thế kỷ thứ IV và là người chép biên niên sử của Giáo hội thuở đầu, lúc đầu là đống rác, sau là đền thờ của dân ngoại: "điện thờ tối tăm của những tượng thần vô hồn tới vị thần ô uế mà họ gọi là thần Vệ nữ". Đá và gỗ của ngôi đền ngoại giáo bị phân tán ở những khu xa, như mặt đất đã phủ hang mộ. Khi các công nhân đào xuống, "bên dưới lớp phủ của đất, đã xuất hiện ngay, và ngoài mong đợi, công trình kỷ niệm đáng kính và thiêng liêng về sự phục sinh của Chúa Cứu thế"
Eusebius không ủng hộ truyền thuyết cho rằng Mộ Thánh do mẹ của Constantine là Helena tìm ra. Chuyện kể rằng Helena bỏ đói một giáo sĩ cho tới khi ông ta tìm ra chỗ bí mật của Mộ Thánh. Ba cây thập giá được tìm thấy và, theo các truyền thống khác, cây Thập giá Thật được nhận ra bằng cách dùng nó để dựng đứng một người đã chết hoặc chữa khỏi bệnh một phụ nữ đau bệnh. Người ta còn tin rằng Helena đã xây dựng những thánh đường ở nơi Chúa sinh ra tại Bethlehem và ở chỗ Chúa lên trời trên Núi Olives.
Người Do Thái lại bị cấm bén mảng tới thành phố, nhưng Hoàng đế Julian ngoại giáo lên ngôi đã tạm hoãn lại. Việc tái thiết đền thờ Do Thái đã bắt đầu năm 363, nhưng các trình thuật của Kitô giáo viết là nó bị cản trở bởi vụ động đất kỳ lạ làm cháy rụi tòa nhà. Cái chết của Julian đã chấm dứt dự án. Những cuộc hành hương của Kito giáo tới những nơi thánh tăng lên.
Những cuộc chiến giữa Byzantium và Ba Tư đã để quân Ba Tư chiếm Jerusalem năm 614 với sự giúp đỡ của các đồng minh Do Thái. Quân Ba Tư đã phá hủy phần lớn nhà thờ và trong một thời gian ngắn giao thành phố cho người Do Thái, nhưng sau đó trả lại cho người Kito giáo và để cho các nhà thờ được tái thiết. Hoàng đế Byzantium là Heraclius tái chiếm Jerusalem năm 629.
Những cuộc chiến đã làm tiêu hao cả hai đế chế, và trong vòng vài năm cả hai đã rơi vào tay các lực lượng Hồi giáo bùng phát ở Ả Rập. Đối với Hồi giáo, Jerusalem là hướng cầu nguyện (qibla), trước khi các tín đồ Hồi giáo quay về Mecca. Người Hồi giáo chiếm Jerusalem năm 638 một cách bình lặng và kính cẩn, một việc hiếm thấy ở Thành Thánh.
Vua Hồi thứ hai, Omar Ibn al-Khattab, là vị vua ngoan đạo, đã bảo đảm sự tự do tôn giáo và tôn trọng các vùng đất thánh, cho phép 200 gia đình Do Thái định cư ở Jerusalem sau khi họ bị người Byzantine tống khứ. Theo một trình thuật của Ả Rập, Omar được Giáo trưởng Sophronius chào đón và dẫn đi xem các vùng đất thánh. Omar đã từ chối lời mời để cầu nguyện ở Mộ Thánh, "Nếu tôi cầu nguyện ở nhà thờ, tôi sẽ không còn ngai nữa, vì các Tín đồ sẽ nắm ngay việc này và bảo: Omar đã cầu nguyện ở đó"
Sau đó ông được dẫn đi xem Temple Mount, "thánh đường Hồi giáo của David" như ông đã gọi nó, nhưng ông bị choáng khi thấy nó đã bị người Kitô giáo biến thành đống phân. Rác chất đống giữa đường cho tới cửa, buộc ông phải lê bước để tới nền đền thờ. Omar làm gương bằng cách phủi rác dính vào áo lông lạc đà của ông. Theo một nhà biên niên sử, ông đã chủ tâm lệnh để xây nhà thờ Hồi giáo al-Aqsa đầu tiên ở cuối nền phía nam để các tín đồ Hồi giáo chỉ quay mặt về Mecca hơn là quay mặt cả về Mecca và tảng đá nhô ra từ gần giữa nền. Al- Shakhra, hay "Tảng đá" được coi là điểm xuất phát cho chuyến Dạ Du của Tiên tri Muhammad, trong khi đối với nhiều người Do Thái và Kito giáo nó hầu như là khu dâng lễ hy tế của Abraham và là khu Thánh điện của đền thờ Do Thái. Khu liên hợp của các nhà thờ và điện thờ Hồi giáo trên nền cũ của đền thờ được gọi là Haram al-Sharif, nơi Tôn nghiêm Đáng kính.
Vòm Đá, kiệt tác kiến trúc của Hồi giáo, được dựng lện để cất giữ tảng đá năm 691. Nó vẫn là đài kỷ niệm đặc trưng và đẹp ở Jerusalem, dù xem chừng chỉ là công trình phụ của nhà thờ Al-Aqsa. Cấu trúc hình học của vòm chịu trên cái trống bát giác nhằm biểu tượng cho sự chuyển tiếp từ đất tới trời, gợi ý xa là chính cõi thiên đàng. Tòa nhà còn là biểu tượng của Hồi giáo là tôn giáo thay thế các tôn giáo trước, phù hợp với sự khép lại của Do Thái và khiển trách những sai lầm về giáo điều của Kitô giáo trong các câu của kinh Coran trang trí điện thờ.
Dân của Sách, đừng vượt quá giới hạn của tôn giáo của bạn. Chớ nói gì ngoài sự thật về Allah. Đấng Cứu thế, Jesus, con của Maria, chẳng khác nào tông đồ của Allah và Lời của Ngài cùng các tông đồ của Ngài và đừng bảo: “Ba” Đừng đề cập, và nó sẽ tốt hơn cho bạn. Allah chỉ là Chúa duy nhất. Allah ngăn cấm chuyện Người nên có một người con! (4: 171)
Fatimid Caliph Al-Hakim thất thường, dù được sinh ra bởi người mẹ là Kito giáo, đã cắt đứt quan hệ với truyền thống khoan hòa của Hồi giáo đối với "Dân của Sách" như các tín đồ Hồi giáo gọi những người Do Thái và Kito giáo, bằng cách ra lệnh phá hủy Mộ Thánh năm 1009. Những kẻ tàn phá đã tấn công mộ đá đáng kính của Đức Kito cho tới khi sự đổ nát phủ kín tàn tích xoàng xĩnh. Al-Hakim cố ép người Do Thái và Kito giáo cải đạo theo Hồi giáo. Ông đã sớm đóng các nhánh sông kể cả với các tín đồ Hồi giáo, bằng việc xác quyết là hiện thân thần thánh và tên của ông thay thế tên của Chúa trong những lời kinh ngày thứ Sáu. Giữa những cuộc dấy loạn của Hồi giáo, các chỉ dụ chống Do Thái và Kito hữu được giơ lên ngay lúc họ bị bắt. Các tín đồ Hồi giáo bị cấm ăn chay vào tháng Chay hoặc hành hương tới Mecca. Al-Hakim chìm vào cơn điên loạn, và một tối kia năm 1021 đã một mình ra khỏi Cairo và chẳng bao giờ thấy lại nữa. Họ tin rằng nhà vua không chết nhưng được cất lên Thiên đàng. Mộ Thánh được phục chế bằng ngân sách của hoàng đế Byzantium nhưng có kích thước nhỏ hơn nhiều. Hoàng cung và cửa nẻo chính của Constantine bị bỏ phế.
Với lời hô hào của "Ý Chúa" các Kitô hữu tập hợp lại theo lời kêu gọi của Giáo hoàng Urban II năm 1095 tiến hành cuộc thập tự chinh để giải phóng Đất Thánh khỏi tay quân Hồi giáo "vô đạo". Đạo quân lữ hành và hiệp sĩ đã tới, chống lại tất cả những gì là kỳ quặc, các cổng thành Jerusalem năm 1099 và đã chiếm thành phố cùng với việc thảm sát các cư dân Hồi giáo và Do Thái. Nhà biên niên sử đương thời Fulcher of Chartres đã mô tả cuộc tàn sát:
Trên đỉnh Đền thờ của Solomon, họ đã trèo lên để trốn thoát, nhiều người bị bắn bằng tên cho tới chết, nằm sõng soài đầu chúc xuống. Trong ngôi đền này có đến mười ngàn người bị chặt đầu. Nếu bạn có mặt ở đó, bàn chân của bạn sẽ ngập máu tới mắt cá chân. Tôi phải nói gì thêm nhỉ? Không kẻ nào được sống sót. Họ giết bất kể đấy là phụ nữ hay trẻ em.
Sự tàn sát của những cuộc thập tự chinh mãi mãi gây ra căm thù giữa Hồi giáo và Kito giáo. Sự cuồng tín đã nhen lại ý tưởng thánh chiến(jihad) nơi các tín đồ Hồi giáo. Quân thập tự chinh biến vòm đá thành nhà thờ, trong khi thánh đường Al-Aqsa lớn hơn gần đó biến thành dinh thự của chúa tể quân Thập tự chinh của Jerusalem, rồi trở thành bộ chỉ huy, được gọi là Templars.
Salah al-Din, ở phương Tây quen gọi là Saladin, kẻ thù của Kichard Dũng cảm, đã làm kiệt quệ quân Thập tự chinh trong trận Hattin năm 1187 và chiếm lại Jerusalem. Không như quân Thập tự chinh, quân Hồi giáo không hề giết chóc hay cướp bóc. Phần lớn Kito hữu được trả tự do hoặc được chuộc lại. Những kẻ không được chuộc lại sẽ bị bán làm nô lệ. Saldin tái cung hiến Vòm Đá và thánh đường Al-Aqsa, và Mộ Thánh đuợc mở ra cho các khách hành hương.
Đến hơn tám thế kỷ, mặc cho nhiều xáo trộn, Jerusalem vẫn nằm dưới sự thống trị của Hồi giáo. Rồi, vào cuối năm 1917, quân Thổ Nhĩ Kỳ đã rút khi chạm mặt với quân Anh tiến lên từ Ai Cập. Ngày 9 tháng Chín, thị trưởng cao niên của Jerusalem, Hussein Bey al-Husseni, bỏ bệnh viện và tiến hành giao nộp thành phố. Ông đã thấy hai người lính hoảng hốt đang lục lọi hàng tiếp tế. Họ cảnh báo hai sĩ quan cảnh sát, những sĩ quan này lại đi tìm ông ta. Cuộc tìm kiếm mất khá lâu, và như người ta nói, vị thị trưởng này bị cơn cảm lạnh và chết vì viêm phổi sau đó ba tuần.
Địa hình thánh thiêng của Jerusalem hầu như không đổi từ thời Saladin. Hồi giáo ở Haram al-Sharif, Do Thái ở bên ngoài bức tường còn lại, còn Kito giáo ở khu Mộ Thánh. Nhưng bên trong các ranh giới này có nhiều cơ hội để xung đột nhau.
Mối thù kinh niên giữa những giáo phái Kito giáo ở Mộ Thánh bảo đảm là các chìa khóa vào nhà thờ cho đến nay vẫn nằm trong tay các lính gác Hồi giáo, được cắt đặt ít nhất từ thời của Saladin. Người ta thường thấy Wajeed Nusseibeh ngồi trên chiếc ghế dài bằng gỗ, trông thoáng buồn, ở lối vào nhà thờ. Ông ta chờ được người ta hỏi để được hướng dẫn đi tham quan. Mỗi tối vào lúc tám giờ, ông ta hay một trong những đại diện của ông ta kéo những tấm đôi bằng gỗ nặng nề, leo lên cái thang để buộc chặt những cái xích sắt nặng qua cửa rồi đưa cái thang qua cái cửa sổ nhỏ cho các tu sĩ bên trong đó. Họ bị nhốt cho tới khi nó được mở lại vào sáng hôm sau. Đó là một vai trò lỗi thời hơn tám thập niên sau khi chấm dứt sự thống trị của Hồi giáo ở Palestine. "Nếu người Hy Lạp hay người La Tinh có chìa khóa hẳn đã có vấn đề. Nó có nghĩa là nhà thờ được một hay giáo phái khác sở hữu. Đơn giản hơn là giao nó cho một tín đồ Hồi giáo trung lập", Nusseibeh đã phân trần thế".Các tín đồ Hồi giáo chấp nhận Jesus là tiên tri và tôn trọng Kitô giáo. Tiên tri Muhammad của chúng ta có khi còn cưới một phụ nữ Kitô giáo".
Nusseibeh nói, trách nhiệm bảo vệ được giao cho các tổ tiên của ông ta, những người đã hộ tống Vua Omar tới Jerusalem. Thế nhưng, sau này công việc được chia giữa nhà Nusseibeh và một gia đình Hồi giáo khác, nhà Judeh, có lẽ sau khi Saladin tái chiếm thành phố. Giờ thì nhà Judeh giữ các chìa khóa cổng vào và hàng ngày giao chúng cho nhà Nusseibeh, những người giữ nhiệm vụ mở và đóng cửa. Abdel-Kader Judeh, người được cho là con cháu trực hệ của chính Tiên tri Muhammad, tự hào nói, "'Tôi giữ chìa khóa nhân danh vua Hồi."
Các giáo hội nói rằng họ cho phép các lính canh duy trì như thế như một chút gì là phong tục tập quán. Nhưng họ biết rằng bất kỳ nỗ lực nào để giành lại chìa khóa có thể làm xói mòn cơ cấu tinh tế của hiện trạng, bộ luật không làm đóng băng sự cân bằng quyền lực trong phạm vi khu vực đáng kính trong hoàn cảnh của năm 1757. Bộ luật phức tạp và không đúng đến vô lý của Ottoman có ý dành quyền và sự ưu tiên của mỗi cộng đồng và quyền sở hữu của một thành phần của nhà thờ, cho tới cái chân đèn cuối cùng, và cái đinh sét gỉ. Thế nhưng không nhà cai trị nào sau này-Anh, Jordan, hay Israel-dám can thiệp vào hiện trạng vì sợ gây ra sự xáo trộn tôn giáo.
Năm 1929, giới chức cai quản Anh đã buồn bã mô tả "tinh thần bất tín và ngờ vực cùng thái độ cố chấp trong mọi vấn đề". Ông đã phân trần: "quyền sửa chữa mái hay nền ngầm ý là quyền dành cho những người sở hữu những phần ấy. Còn quyền treo và thay đèn hoặc hình ảnh dành riêng cho những người sở hữu cột và tường. Quyền của những cộng đồng khác là dâng hương gian thờ thì không thuộc quyền sở hữu tuyệt đối.
Theo chính tính chất của nó, hiện trạng đòi phải luôn tái khẳng định quyền của mỗi cộng đồng, và mãi phải canh chừng sự vi phạm của cộng đồng khác. Sự ưu tiên, một khi bị mất đi, có thể chẳng bao giờ phục hồi.
Những tranh luận này đã có thời là chuyện tầm xằng của ngành ngoại giao quốc tế. Việc tranh giành quyền hành giữa Pháp và Nga để chiếm ưu thế nhà thờ và các vùng đất thánh khác đã là nhân tố làm bùng phát cuộc Chiến Crimean năm 1853. Những căng thẳng hiện nay được kiểm soát tốt hơn, nhưng đấy có thể chỉ là bề mặt. Những bài thánh ca tiếng La Tinh nghe chói tai, những bài kinh bằng tiếng Copt xa xưa, những lời cầu huyền bí bằng tiếng Ả Rập và chùm chuông Hy Lạp còn ngân vang như những dấu hiệu chiến tranh bộ tộc. Đầu thập niên 1990, các tu sĩ Hy Lạp và Armenia đã bất chợt đến Nhà thờ nơi Chúa sinh ra ở Bethlehem vì tranh cãi xem ai phải lau chùi rầm đỡ.
Sự thù địch còn có nghĩa là sự phục hồi Mộ Thánh, bị tổn hại bởi cháy năm 1808 và động đất năm 1972, đã bị gây chậm trễ. Vòm trên mộ, được thiết kế để nhận tia sáng trong lành từ trung tâm của nó như ở đền Bách thần Roma, bị hỏng bởi giàn giáo cả trên hai thập niên cho đến khi các bên đồng ý cách phải trang trí thế nào. Các hình tượng, các tiểu thiên sứ, và các thể khảm bị bên này hay bên kia loại bỏ, và cuối cùng các bên đã ổn định để các tia vàng trung tính. Những rầm nhà gắn với nhau quanh mồ, được gọi là Edicule, vẫn ở đúng chỗ từ những ngày người Anh còn cai trị vì những bất đồng về cách phục hồi nó.
Hai lính gác Hồi giáo vẫn khéo léo nín thinh trước những tranh cãi của các Kito hữu, nhưng không yên lặng trước điều mà họa sĩ thời Victoria, Edward Lear, gọi đấy là "chất độc của những kẻ hay tranh cãi về Jerusalem".Abdel-Kader Judeh tin tước hiệu mà ông ta mang là vinh dự to lớn hơn".Ông cho thấy, "Gia đình tôi có chìa khóa nhân danh vua Hồi. Nhưng nhà Nusseibeh bắt bẻ lại là, "Không có chúng tôi thì không ai có thể vào nhà thờ".
Sự can thiệp của người châu Âu vào nhà thờ về đủ thứ nhưng rồi biến mất. Thay vào đó, kế hoạch của quốc tế đã kéo người Ả Rập vào những cuộc đấu tranh quyền lực để tạo ảnh hưởng ở Haram al-Sharif. Sự thù nghịch chính là giữa lãnh tụ Palestine Yasser Arafat và Vua Hussein đã quá cố của Jordan. Cả những người khác cũng đóng vai trò quan trọng đối với điện thờ, như vị vua quá cố Hassan của Maroc, từ lâu đã đứng đầu Hội đồng Jerusalem của Liên minh Ả Rập, và Vua Fahd của Ả Rập Saudi, đã là người trông coi Hai Nơi Thánh, Mecca và Medina.
Những đố kỵ này trở nên rõ ràng vào năm 1991 về vấn đề cần sửa gấp Vòm Đá, sau đợt phục chế vụng về năm 1964. Vòm, được làm bằng những lá vàng với nhôm được anode hóa, bị rỉ ngay từ lúc đầu, gây nguy hiểm cấu trúc và thể khảm bên dưới. Cuối cuộc chiến Vùng Vịnh năm 1991, Saudi Arabia chịu chi trả việc phục chế, thúc giục Vua Hussein, người bảo vệ tự bổ nhiệm của các điện thờ Hồi giáo ở Jerusalem, để bán một biệt thự ở Anh gây quỹ hầu Jordan bảo
đảm có được vinh dự này. Một mái vòm mới lộng lẫy đã được khánh thành năm 1994, làm bằng những tấm đồng mạ vàng 24 carat. Những người phục chế thừa nhận rằng cho tới thập niên 1960 vòm đã được làm bằng chì mờ đục. Nhưng lúc ấy vàng đã trở thành màu được chính thức hóa, biểu tượng sáng ngời chỉ sự hiện diện của Hồi giáo. Cả người Irael cũng đã liên tưởng Vòm Đá với vàng qua bài ca "Jerusalem bằng Vàng."
Cùng với trách nhiệm bảo vệ điện thờ, Vua Hussein đã hướng sự oán giận của những người theo chủ nghĩa dân tộc Palestine, hiếm khi thông cảm với thế đứng ôn hòa của triều đại Hashemite trong cuộc xung đột Ả Rập-Israel. Hai câu khắc trên cẩm thạch tán dương công trình phục chế của Vua Hussein bị dập phá, trong khi lãnh tụ Palestine Yasser Arafat đã áp đặt thành công việc chọn lựa giáo sĩ Hồi giáo của riêng ông, uy quyền tôn giáo tối cao của Hồi giáo, trên cả người được bổ nhiệm của Jordan. Khi còn là cậu bé năm 1951, Vua Hussein đã chứng kiến cảnh giết chết ông nội của ông, Vua Abdallah, bởi tay súng đơn thân độc mã ở lối vào nhà thờ Al-Aqsa, nơi người ta còn thấy lỗ đạn trên một trong những cây cột cẩm thạch trắng bóng.
Về phần của nó, Bức tường Than khóc không thoát khỏi sự tranh cãi ngay cả dưới sự cai trị của Israel. Nguồn xung đột liên tục giữa tín đồ Hồi giáo và Do Thái lúc còn nằm dưới quyền ủy thác của Anh, giờ là chủ đề trang giành quyền lực giữa các giáo sĩ Chính thống, những người trông coi việc thờ phượng ở bờ tường, và những nguồn tự do hơn cố cắt ra một nơi riêng làm điện thờ thánh thiêng nhất của Do Thái giáo. Những cuộc giao tranh nổ ra đều đều giữa những người chính thống cực đoan đầy phẫn nộ với các kẻ thù của họ, từ những phụ nữ đòi quyền cầu nguyện ngang hàng tới những người Do Thái Cải cách và Bảo thủ đòi quyền phượng tự ở bờ tường.
Khu phụ nữ bị phân cách bởi tấm màn khỏi khu đàn ông. Nhưng theo luật tôn giáo, phụ nữ phải che kín cánh tay và cẳng chân, không được đọc các cuộn sách Torah, và không được cất lời cầu nguyện vì, theo truyền thông Do Thái, "giọng của phụ nữ thì khiếm nhã". Nhiều cuộc xô xát đã diễn ra ở đây giữa các phụ nữ đòi quyền bình đẳng, những người Do Thái Bảo thủ với nhóm chính thống.
Sức mạnh thánh xuất phát từ Jerusalem làm oằn vũ trụ theo những cách lạ thường còn hơn lỗ đen.
Một số nhà hiền triết Do Thái nói Tảng Đá Móng (Even Shetiyah) là nền của thế giới, cột trụ của vũ trụ. Theo truyền thống Do Thái thì đấy là trung tâm Thế giới. (Các Kito hữu đặt điểm trung tâm ở giữa Đền thờ thuộc khu Mộ Thánh). Các nhà hiền triết bảo rằng Tảng Đá Móng được Chúa ném vào các vùng nước nguyên sinh và thế giới phát sinh từ đó. Đối với những người khác, tảng đá là "cái rốn" từ đó thế giới lớn lên như cái phôi. Một truyền thông Do Thái cho rằng thế giới tựa trên con cá voi có tảng đá ở giữa lưng của nó. Một trình thuật Hồi giáo xác quyết rằng mọi "con sông và mây trời, hơi nước và gió phát xuất từ dưới Tảng Đá Thánh ở Jerusalem".
Các tín đồ Hồi giáo bảo rằng tảng đá được lấy từ Vườn Eden và theo một tường thuật, Ka'bah thánh ở Mecca sẽ được nối với nó vào ngày Sống lại. Ngày nay, du khách được chỉ cho thấy vết lõm là dấu chân của Muhammad để lại, những đường xoi rạch trên tảng đá là của thiên thần Gabriel tạo nên để nó ngừng vươn lên tới Thiên đàng với Đấng Tiên tri, và hòm đựng thánh tích chứa những sợi râu của Muhammad. Những người hành hương Kitô giáo trong các cuộc Thập tự chinh cũng thuật lại điều tương tự là thấy dấu chân của Jesus. Một truyền thống khác cho rằng lỗ ở cái hang bên dưới Al-Sakhra trong Vòm Đá dẫn tới "cái Giếng của các Linh hồn", chính là Địa ngục.
Ở Mộ Thánh, ô cửa kính cho thấy đá của Golgotha tung tóe cách xa nhau bởi cơn địa chấn lúc Jesus chịu đóng đinh. Một số truyền thuyết kể rằng sọ của Adam bị chôn vùi với nó, ngõ hầu máu cứu chuộc của Jesus thấm qua nó và đem Adam lại với sự sống. Một du khách hồi thế kỷ thứ VI kể lại rằng khi Thập giá Thật được đưa vào thờ trong đền thờ, "một ngôi sao xuất hiện trên bầu trời, và băng qua chỗ họ đặt cây thập giá". Những bình dầu nhỏ được đem tới làm phép, và khi chúng đụng tới gỗ, "dầu liền sủi bọt mà nếu không đóng vội vào thì nó sẽ trào ra hết".
Bức Tường phía Tây, Ha-Kotel ha-Ma'aravi hay gọi đơn giản là Kotel, được cho là nhà vĩnh cửu của Shekhinah, hiện thân như phụ nữ về sự hiện diện của thần thánh. Vào ngày thứ Chín của tháng Av, người ta bảo rằng một con câu trắng đậu trên bức tường và khóc vì sự tàn phá đền thờ. Gần đây vào năm 1940, khi Đức Quốc xã đang giết hại người Do Thái ở châu Âu, người ta kể rằng những giọt lệ đã rỉ ra từ Kotel.
Những nơi tôn kính không tôn trọng các quy luật tự nhiên. Điện thờ thánh thiêng nhất ở đạo Do Thái bắt đầu sự sống là bức tường phía đông, rồi chuyển qua bức tường phía nam và cuối cùng tới trụ ở Bức Tường phía Tây ngày nay, Al-Buraq, chiến mã của Tiên tri Muhammad đã đưa ông tới Jerusalem trong cuộc Dạ Du, hình như là con thú hiếu động. Một nghiên cứu của Irael xác nhận rằng bức tường nơi ông bước xuống cũng đã quay vòng. Giờ nó được quy định ở Bức Tường phía Tây để phủ nhận chuyện người Do Thái xác quyết đây là khu vực dành riêng.
Đối với các Kitô hữu, bàn thờ dâng hy lễ của Abraham có lúc được đổi chỗ tới Mộ Thánh, chỉ quay lại Vòm Đá sau này. Qua các thế kỷ, Đàng Thánh giá đã dùng nhiều ngả đường băng qua thành phố. Via Dolorosa hiện nay được những người hành hương bước trên đó ít có liên quan với những bước chân sau cùng của Jesus trước khi chịu đóng đinh. Các nhà khảo cổ tin rằng Đức Kitô không đến từ phía đông tới Calvary, như Via Doloroasa hiện nay thừa nhận, nhưng có lẽ từ phía tây.
Vị giáo sĩ thần bí thế kỷ thứ VII Abraham Azulai quả quyết rằng một loại lỗ không khí trong lành linh thiêng đã mở vào các khu Thiên đàng bên trên Jerusalem và Palestine để lực thần thánh của Chúa đi qua. Kết quả là, Jerusalem rất phù hợp cho việc tiên tri. Thành phố có một đường dây nóng tới Thiên đàng. Các nhà hiền triết Do Thái đã ví nó như lời nguyện trực tiếp trước ngai Chúa. Đối với các tín đồ Hồi giáo, lời nguyện ở Jerusalem có giá trị bằng 500 lần nơi khác. Những khách hành hương Kitô giáo thời Trung cổ tin rằng việc cầu nguyện ở các đền thánh tại Jerusalem giành cho tội đồ sự ân xá kéo dài suốt đời.
Ngày nay người Do Thái ít tới cầu kinh ở Bức Tường phía Tây. Có khi bạn có thể đánh fax hay gửi e-mail lời cầu nguyện tới Kotel từ hải ngoại, và các giáo sĩ hứa sẽ thật cẩn trọng đặt các thông điệp giữa các tảng đá lớn của Herod.
Thời gian làm nên những điều lạ thường ở Jerusalem. Ngày ăn chay của Hồi giáo trong tháng Ramadan, theo truyền thống được đặt theo thời biểu của người Jordan, giờ tùy thuộc vào những thất thường của các tương quan nước ngoài của người Palestine, đôi khi cần lễ hội được sắp xếp với dịp trăng mới của Saudi Arabia
Khi Israel thay đổi giờ giấc tới lui vào mùa hè, người Palestine vặn đồng hồ theo ngày khác nhau để tỏ ra sự độc lập. Ngày nghỉ lễ cũng thế, giữa hai dân tộc cũng khác nhau. Khách hành hương phải chỉnh giờ giấc tùy theo mình đang ở khu vực nào.
Chẳng lạ gì khi mà Jerusalem được phú cho rất nhiều nơi cầu nguyện. Một bá tước thấy rằng năm 1994 có 1.072 hội đường Do Thái, 59 nhà thờ Hồi giáo, 65 thánh đường và 72 tu viện. Vào bất kỳ lúc nào, một số phần đất của Jerusalem diễn ra nào là đang làm việc, nghỉ ngơi, xung đột hoặc đang cầu nguyện. Thi sĩ quá cố Israel là Yehuda Amichai đã viết, "Bầu khí khắp Jerusalem được bão hòa với những lời kinh và giấc mơ. Giống như bầu khí ở các thành phố công nghiệp thật ngột ngạt".
Trong mọi lời kinh của Do Thái, Hồi giáo, và Kito giáo đều thỉnh cầu sự hòa bình và châm dứt bằng từ "Amen" nghĩa là "Chờ gì được như vậy."
Mùa xuân là thời gian thật rộn ràng khi niềm say mê tôn giáo được đánh thức theo tự nhiên. Vào mùa này tai của Chúa chắc phải chịu căng thẳng vì những lời cầu xin với biết bao lễ hội pha tạp: Lễ Vượt qua, lễ Phục sinh, và lễ hội hành hương của tín đồ Hồi giáo rơi vào các tuần, thường là các ngày, của nhau. Ngay cả cộng đồng nhỏ xíu Samarita cũng túa ra mừng hy lễ Vượt qua về đêm trên đỉnh núi Gerizim lộng gió.
Những hoạt động kỷ niệm này được kết nối rất mật thiết, nhưng thường chủ tâm đối lập nhau. Lễ Phục sinh mở ra từ lễ Vượt qua với thông diệp mà lời giảng dạy và cái chết của Jesus thay thế tôn giáo của Cựu ước. Cuộc hành hương Nebi Musa của Hồi giáo từ Jerusalem tới khu mộ nổi tiếng của Moses trong sa mạc được lập ra để đem lại cho tín đồ Hồi giáo sự đối trọng với các Kito hữu đang đầy ắp Jerusalem vào lễ Vượt qua, rõ ràng thách thức niềm tin Do thái mà các hy lễ có thể diễn ra chỉ khi nào đền thờ được xây lại. Các tín đồ Hồi giáo cũng tế lễ các con vật. Id al-Adha tưởng niệm sự sẵn sàng của Abraham để hiến tế con trai của mình, không phải Isaac như Do Thái xác nhận mà là Ishmael, và không phải ở Jerusalem mà ở Mecca. Mỗi tôn giáo là một phản ảnh lệch lạc của các tôn giáo khác, như thể người ta thấy được bãi họp chợ phiên trong các tấm gương. Ở một số nơi người ta có thể nhận ra các nét đặc trưng, những nơi khác chúng bị lạm dụng một cách lố bịch trong khi những phần khác lại thu lại cho tới khi chúng hầu như biến mất.
Ngài Ronald Storrs, thủ hiến quân sự đầu tiên của Anh ở Jerusalem, đã mô tả nỗi khiếp sợ của những nhà cai trị mới khi chờ đợi lễ Phục sinh đầu năm 1918:
Tuần lễ phục sinh, đỉnh cao của năm Kito giáo, hầu như là mùa khắp thế giới khi, nếu chỉ kéo dài ba ngày, cái chết của sự xung đột trở thành thắng lợi của hòa bình. Lễ Phục sinh ở Đất Thánh, và hầu như ở khắp Thành Thánh, đã có nghĩa là để các thế hệ mài sắc những con dao găm và tăng gấp ba quân số [. . .] Ba sự kiện nổi trội này [Lễ Vượt qua, Phục sinh, và Nebi Musa] của ba tôn giáo, tụ hội ở Jerusalem, cùng với những người thật sự ngoan đạo, những đoàn lũ chính trị và tội phạm hỗn loạn, trong chính cơn khủng hoảng của mùa Xuân Phục sinh.
Mùa lễ hội tôn giáo vẫn còn, dưới sự cai trị của Israel, thời cảnh giác cao. Hàng cảnh sát trật tự chia Jerusalem từ Bờ Tây được tăng cường. Các cư dân của Bờ Tây thường được giữ ở bên ngoài Jerusalem hết lễ Vượt qua. Trong cuốn Nhà nước Do Thái, Herlz đã hình dung nước Do Thái bố trí lính gác vào dịp lễ quanh các vùng đất thánh của Kito giáo. “Đội lính gác danh dự này là biểu tượng đặc biệt của giải pháp cho vấn đề Do Thái sau mười tám thế kỷ sự chịu đựng của Do Thái”. Ông không đề cập tới những khu Hồi giáo. Trong nước Do Thái hiện đại, lực lượng an ninh làm nhiệm vụ canh phòng hơn là danh dự ở những nơi tôn nghiêm thánh thiêng. Họ không mặc quân phục nhưng mặc áo chống đạn; binh lính không giương cao các tiêu chuẩn nghi thức nhưng lăm lăm cây dùi cui, súng phòng hơi cay, và súng trường.
Jerusalem được ních đầy đủ tộc người. Từ bốn phương trời các Kito hữu lũ lượt kéo về: Người Nga, người Cypriot, người Indonesia, người Mỹ, và nhiều nữa. Lễ Vượt qua là mùa hành hương chính của người Do Thái, họ để vào thành phố từ khắp Israel và Diaspora. Các tín đồ Hồi giáo xem chừng có ý nghĩ đúng: họ đi ra khỏi thành phố- đến chỗ thoáng mát của những ngọn đồi của Nebi Musa.
Mỗi nhóm chỉ thấy Jerusalem là của riêng. Người Do Thái hát vang trên đường tới Bức Tường phía Tây lòng dạt dào niềm kiêu hãnh khi thấy các màu sắc Israel tung bay từ các tòa nhà. Các Kito hữu lê bước lên Via Dolorosa, hát những bài thánh ca qua khu chợ của Hồi giáo và sấp mình ở Calvary lòng đầy những mường tượng về Jesus. Một số người diễn lại cảnh Thương khó ăn mặc như binh lính Roma đeo những thanh gươm bằng nhựa dẻo, và trố mắt nhìn Jesus vác thập giá với dòng phẩm đỏ từ mạo gai của Ngài. Một phụ nữ hét to vào những chủ cửa hiệu người Ả Rập đang bối rối: "Hãy xem điều các người làm cho ngài. Tại sao các người làm điều đó?"
Suốt các lễ hội mùa xuân ở Jerusalem, người ta thấy cách đạo Do Thái, Kito giáo, và Hồi giáo, tất các các tôn giáo độc thần quan niệm Thiên Chúa là hữu thể tinh thần tối cao đã duy trì sự gắn bó thực hoặc tượng trưng với hình thức thờ phượng thuở ban đầu: dâng của lễ là thú vật. Biểu tượng con chiên vượt qua ở bàn ăn lễ Vượt qua, khái niệm về chính Jesus là hy lễ cao trọng nhất cho Thiên Chúa, việc người Samarita cắt cổ con vật trên Núi Gerizim và tại nhà của các tín đồ Hồi giáo ở Id al- Adha -tất cả những điều này nhắc nhớ khái niệm xa xưa là ân huệ của Chúa về sự sống phải được trả bằng giá máu.
Vào những ngày này, hàng mười ngàn con vật bị giết. Một trình thuật của người Roma được trích bởi nhà văn Do Thái thế kỷ XV, Solomon ibn Verga, thuật lại là quá nhiều thú vật được đưa vào Jerusalem đến nỗi "cỏ không dài kịp và mọi thứ biến thành trắng vì màu trắng của lông cừu".
Sự hành hung theo lễ nghi này thì khó hòa hợp với khái niệm đơn giản về Chúa duy nhất: Chúa là một, nhưng con người sáng chế ra nhiều tôn giáo.