Mossad - Cơ Quan Mật Vụ Israel

những học sinh năm thứ hai.

Họ nhồi nhét cho chúng tôi để tiếp thu sự uyển chuyển và khả năng sẵn có. Họ lợi dụng phẩm chất tự nhiên và tài năng của chúng tôi, tích trữ tối đa kiến thức để một ngày nào đó chúng tôi sẽ dùng đến.

Michel M. và Heim M. thuộc nhóm nhỏ của chúng tôi. Cả hai người vào Viện Hàn lâm do sự nâng đỡ. Họ hiểu biết phần lớn những thầy giáo giảng bài, nhưng không có chức phận ở trường, và họ nói rằng họ có khả năng tuyển mộ được các tướng lĩnh, sỹ quan cao cấp một khi cần. Jerrys và tôi là hai người giỏi tiếng Anh nhất, nhưng khả năng chính của tôi là khả năng dự đoán trước. Tôi nhận đoán những trở ngại trước tất cả mọi người.

Heim và Michel tỏ ra có nhiều kinh nghiệm và tôi rất ngưỡng mộ họ. Trên đường quay về, họ đã đùm bọc, che chở cho tôi. Chúng tôi cùng ở trong một ngôi nhà, cùng đi và về trên một quãng đường tới Viện Hàn lâm. Thường là chúng tôi đi khẩn trương tới Kapulsky, nơi người ta bán bánh sô cô la hảo hạng. Chúng tôi vừa thưởng thức sô cô la, vừa trao đổi sôi nổi.

Chúng tôi tạo thành một nhóm đoàn kết, có những lợi ích chung, có những suy nghĩ giống nhau. Chúng tôi cùng nhau hoàn thành những bài luyện tập thực hành, chừng nào có thể được, bởi vì chúng tôi dựa dẫm vào nhau hoặc chí ít, chúng tôi cũng cùng suy nghĩ về các bài tập. Người ta chưa bao giờ cố chia rẽ chúng tôi cả.

Oren Riff, giáo viên chính của chúng tôi, một người kỳ cựu của Teven, nhấn mạnh rất nhiều về tầm quan trọng của Mối quan hệ (Liaison). Từ 60 đến 65% tin tức được cung cấp bởi các phương tiện thông tin đại chúng, báo chí, đài phát thanh, vô tuyến truyền hình; 25% do vệ tinh, télex, thông tin liên lạc vô tuyến điện, và từ 5 đến 10% là do Mối quan hệ. Các humint - các nhân viên của Meluckah, Tsomet xưa kia- đối với họ, chỉ cung cấp từ 2 đến 4% tất cả những thông tin, nhưng nó đúng là chủ yếu nhất.

Theo chương trình của buổi họp thứ hai, Zave Alan sẽ có một trình bày trong hai giờ. Alan, một ngôi sao màn bạc của Tsomet, là một nhân viên quan hệ giữa Mossad và CIA. Anh ta trình bày với chúng tôi về Hoa Kỳ và châu Mỹ La tinh. Anh ta giải thích với chúng tôi là: lúc đó anh làm việc với một nhân viên của một tổ chức khác. Anh ta coi các bạn như một người trung gian (môi giới) và các bạn cũng coi anh ta là một người trung gian đối với một nguồn. Các bạn trao đổi với người trung gian kia những thông tin mà những nhân vật cao cấp của các bạn đã sàng lọc, và anh ta cũng làm như vậy với các bạn. Các bạn chỉ là một mắt xích, nhưng là mắt xích bằng người, có da, có thịt, điều này bao hàm cả việc đưa những tình cảm của con người xen vào công việc.

Vì thế, người ta thường kỳ phải thuyên chuyển các nhân viên làm việc quan hệ. Nếu như thông thường diễn ra giữa các bạn với nhau và giữa các mối quan hệ của các bạn, các bạn có thể tạo ra những mối quan hệ cá nhân. Nếu mối quan hệ này được thắt chặt, người nhân viên của bên kia có thể bắt đầu biểu lộ thiện cảm với sự quan tâm của bạn. Người ấy sẽ nhạy cảm hơn đối với các hiểm họa đang đe dọa đất nước các bạn. Trong công tác tình báo, phải gây dựng được những mối quan hệ bạn bè, nhưng không bao giờ được phép mù quáng bởi chính người đứng trước mình chỉ là một điệp viên của một tổ chức to lớn. Họ biết, biết rất nhiều nhưng họ không được quyền nói cho các bạn.

Nếu anh là bạn của anh ta, đôi khi anh ta cung cấp một cách bột phát một thông tin mà anh cần, tuy nhiên với điều kiện không có rủi ro cho anh ta và anh không nói với bất kỳ ai về nguồn của tin tức. Đó là sự lựa chọn đầu tiên của thông tin mà anh phải sắp xếp nó “Jumbo” (theo tiếng Anh- Người thành công một cách đặc biệt hay vật to lớn khó coi) trong bản báo cáo của các anh. Những con mắt long lanh hiểm độc đằng sau những chiếc kính đối với John Lennon, Alan khoe khoang đã thu được nhiều thông tin “Jumbo” hơn cả Mossad thu thập được.

Alan có nhiều bạn làm việc trong CIA.

— Nhưng thậm chí, nếu tôi là bạn của họ - Riff nói rõ với chúng tôi - thì không vì thế mà họ lại là bạn của tôi.

Sau đó Riff từ biệt chúng tôi.

Bài trình bày của Alan được nối tiếp với bài học về sự hợp tác kỹ thuật giữa các cơ quan của những nước khác nhau. Vì thế mà chúng tôi biết, để bẻ tất cả các khoá (mở khoá), Mossad đã vượt qua tất cả. Thí dụ, tại Anh, nhiều nhà thầu làm khoá đã đệ trình những phát minh của mình với các cơ quan mật vụ nhằm để các cơ quan này có những biện pháp thử nghiệm độ an toàn. Các tổ chức mật vụ của Anh lại gửi những thứ đó tới Mossad để phân tích. Chúng tôi nghiên cứu các chiếc khoá, tìm xem họ chế tạo nó như thế nào và chúng tôi lại gửi những chiếc khoá trở lại kèm theo một bản xác nhận rằng những chiếc khoá đó là “bất khả xâm phạm”.

Ngày hôm đó, sau bữa ăn trưa, Dov L. dẫn chúng tôi tới một bãi đậu xe có bảy chiếc xe Ford hộ tống, đỗ ở đó (ở Israel, đại bộ phận xe của Mossad, của Shaback và của cảnh sát đều sơn màu trắng. Tuy nhiên, người cầm đầu Mossad lại đi chiếc xe Lincoln lie-de-vin). Người ta dạy chúng tôi làm thế nào nhận ra khi có một chiếc xe theo dõi chúng ta. Họ còn dạy, không bao giờ tin vào trực giác cả, những câu chuyện đủ loại được dựng lên, chỉ có trong tiểu thuyết thôi. Vấn đề là, kỹ thuật mà người ta thu lượm được sau nhiều giờ thực hành.

Ngày hôm sau, Ran S. giảng cho chúng tôi về một mạng lưới duy nhất trên thế giới và mạng lưới đó tạo nên sức mạnh của Mossad. Mạng lưới đó nằm trong sayanim, hay là những người trợ thủ, những người Do Thái định cư ở bên ngoài Israel. Chúng tôi có những mối liên hệ với họ, thông qua những người trong gia đình của họ ở Israel. Người ta có thể đề nghị một người Israel có cháu sống ở Anh, viết một bức thư cho người cháu, xác nhận người cầm thư này là người của một tổ chức có nhiệm vụ bảo vệ những người Do Thái tản cư, và yêu cầu người cháu có sự giúp đỡ cần thiết để người này hoàn thành công việc của mình.

Có hàng nghìn sayanim trên thế giới. Riêng ở Anh đã có khoảng 2.000, và khoảng 5.000 người khác đang mong đợi được “khởi động”. Vai trò của họ tăng lên gấp bội. Thí dụ: Một “sayan ô tô” có cửa hàng cho thuê xe ô tô, sẽ giúp Mossad thuê xe mà không phải hoàn tất các thủ tục thuê thông thường. Một “sayan bất động sản” sẽ tìm một căn hộ mà không đặt những câu hỏi tò mò. Một “sayan ngân hàng” sẽ kiếm ngay cho các anh tiền mặt, bất cứ lúc nào, đêm hay ngày. Một “sayan y tế” sẽ mổ lấy một viên đạn cho anh mà không phải nhờ cậy vào cảnh sát, và cứ thế tiếp tục. Vì vậy, Mossad có thể dựa vào một mạng lưới tình nguyện mà tính bí mật của nó được bảo đảm nhờ vào lòng trung thành của họ đối với Israel, và việc đó chỉ động chạm tới vấn đề đền bù. Rất hiếm thấy các sayanim để cho các katsa lạm dụng sự giúp đỡ của họ vào những mục đích cá nhân, mà không chu đáo. Và điều này, người sayanim không bao giờ thấy.

Có một lợi thế nữa là: Không bao giờ một người Do Thái lại từ chối cộng tác với Mossad, tố giác họ với nhà cầm quyền. Vì thế, chúng tôi có một hệ thống tuyển mộ bảo đảm, và một lượng dự trữ hàng triệu người Do Thái ở ngoài biên giới của Israel. Vấn đề đơn giản là có chỗ dựa tại chỗ, khi người ta hoạt động ở nước ngoài, và những thuận lợi mà các sayanim dành cho không thể đánh giá hết được. Dĩ nhiên người ta tránh để gây nguy hiểm cho họ, và họ không tiếp xúc với tin tức mật.

Hãy hình dung, trong quá trình hoạt động, một katsa sử dụng một cửa hàng điện tử hi - fi làm vỏ bọc: Đơn giản, một cú điện thoại cho một sayanim mà chính ông ta có cửa hàng đó, và rồi người ta chuyển tới tận kho của ông ta đầy đủ các màn ảnh truyền hình, các máy ghi âm, dàn stéreo…

Hoạt động một cách thích đáng của Mossad trước hết là ở châu Âu, với các công ty ảo này, nhưng Mossad muốn có trụ sở của mình ở Bắc Mỹ. Từ đó, những địa chỉ sayanim và những số điện thoại sayanim có thể được gọi nhờ để có địa chỉ hoặc số điện thoại của một vỏ bọc. Nếu, một sayanim nhận được thư từ hay tin tức, ngay tức khắc họ sẽ biết phải xử lý như thế nào. Một số nhà làm ăn sayanim, điều hành các công ty có tới hai chục thư ký trả lời điện thoại, đánh máy tin tức, gửi Fax, thì 60% hoạt động của họ phục vụ Mossad. Nếu không có Mossad, các công ty này sẽ lụn bại.

Nếu hệ thống này bị phát hiện, điều này sẽ tổn hại cho người Do Thái di cư, nhưng Mossad bất chấp. Nếu anh bị một sự bất hạnh do bảo vệ, người ta sẽ trả lời:

— Điều gì sẽ xảy ra với họ? Người ta có trục xuất họ không? Càng hay! Tất cả họ sẽ trở về Israel!

katsa là người chịu trách nhiệm về những sayanim và tiếp xúc với những phần tử tích cực nhất trong số họ, từ một đến ba lần trong một tháng. Đối với Mossad, cuộc gặp trực diện kéo dài trung bình hai giờ trong một ngày, thêm vào đó còn có những cuộc nói chuyện qua điện thoại.

Nhưng, hệ thống này cho phép Mossad hoạt động với một số người cơ sở quá ít. Hãy thử nghĩ xem, một chi nhánh của KGB sử dụng ít ra cũng là một trăm người, trong khi đó, Mossad chỉ dùng có sáu hay bảy người thôi!

Những nhân viên được phác họa là một điểm yếu của Mossad, thì không có chân rết trong những nước coi là mục tiêu: Hoa Kỳ có mạng lưới chân rết ở Moscou, những người Xô viết có mạng lưới chân rết ở Washington và một hệ thống chân rết khác ở New York, trong khi Israel lại không có mạng lưới chân rết ở Damas. Đối với Mossad, điều này không được hiểu là, Mossad chỉ có những mục tiêu gồm châu Âu và Hoa Kỳ. Nhìn chung, các nước Ả Rập không sản xuất vũ khí và không có những trường quân sự ở trình độ cao. Để tuyển mộ một nhà ngoại giao Syrie, không cần thiết phải tới Damas, làm việc đó ở Paris thật dễ dàng. Tương tự như vậy, để có những tin tình báo về tên lửa của các nước Ả Rập, tốt hơn là thông báo sang Pháp, sang Anh, hay sang Mỹ, vì đó là những nước chế tạo ra các loại tên lửa. Người Mỹ nắm giữ tin tức tình báo về nước Ả Rập Saudi, hơn chính những người Ả Rập! Người Ả Rập có cái gì? Những máy bay AWACS. Nhưng các máy bay AWACS lại do hãng Boeing chế tạo; mà Boeing là Mỹ, vậy thì chúng sẽ đến Riyad để làm gì? Thời chúng tôi, chỉ có duy nhất một người được Mossad tuyển ở Ả Rập Saudi, đó là một tuỳ viên của Đại sứ quán Nhật! Các sỹ quan cao cấp của Ả Rập đều học ở Anh hoặc Hoa Kỳ. Các phi công của họ, luyện tập ở Anh, Pháp hoặc ở châu Mỹ. Các đơn vị biệt kích của họ được đào tạo tại Italy và ở Pháp. Điều đó cho thấy tuyển mộ họ ở đó là không khó khăn và ít nguy hiểm.

Ran S. cũng nói với chúng tôi về các điệp viên “trắng”, những người do katsa tuyển mộ, làm việc có vỏ bọc hoặc không, và có khi họ biết và có khi họ không biết họ làm việc cho Israel. Không bao giờ những người này là người Ả Rập, vì họ bị đánh giá là không đủ kiến thức khoa học. Người Israel mường tượng rằng, những người Ả Rập không hiểu biết gì về công nghệ cao. Ví dụ, có câu chuyện tầm phào nhận xét về họ - về sự tính toán của họ như thế này: Một gã bán bộ óc của người Ả Rập với giá 900 Franc một kg, và bán bộ óc của người Do Thái là 10 Franc một kg. Người ta hỏi gã bán hàng: “Tại sao có giá cách biệt thế”. - “Đó là vì bộ óc của người Ả Rập còn mới nguyên. Bộ óc đó chưa được sử dụng!” Gã bán hàng trả lời. Câu chuyện này đã được lưu truyền rộng rãi ở Israel.

Làm việc với một nhân viên “trắng” còn dễ hơn là làm việc với một tên “da đen”, ý ám chỉ người Ả Rập. Những người Ả Rập thường chịu đựng sự kiểm soát chặt chẽ khi họ làm việc ở nước ngoài và nếu cơ quan mật vụ của nước họ biết là hợp tác với một katsa thì mạng sống của họ sẽ không có giá trị nữa. Thí dụ ở Pháp, nếu một katsa bị phát hiện, rủi ro xấu nhất với anh ta là trục xuất. Ngược lại, một điệp viên “trắng”sẽ bị phán quyết vì phản bội do luật pháp của nước đó quy định. Mặc dù có sự bảo vệ của katsa, song chính người điệp viên thường bị phạt. Nhưng, khi một katsa làm việc với một tên “đen”, thì katsa là gián điệp gây hiểm họa cho mạng sống của họ.

Song song với các bài học lý thuyết, chúng tôi thực hành luyện tập. Chúng tôi học kỹ thuật maulter, nói một cách khác là sử dụng ứng tác một chiếc xe để theo dõi hoặc chống theo dõi. Nếu, anh lái xe trong một khu không quen biết, và không chuẩn bị trước hành trình, thì có một số nguyên tắc bắt buộc phải tuân thủ để tránh bị theo dõi: Rẽ phải, rồi rẽ trái, dừng lại và lại đi… Nhưng phải nhớ rằng các anh không gắn chặt với cái xe. Nếu anh nghĩ rằng mình đang bị người ta theo dõi, mà anh không thể xác định được điều đó, anh hãy cho xe vào chỗ đỗ rồi tiếp tục đi bộ.

Một katsa tên là Rabitz dạy chúng tôi về hoạt động của văn phòng Israel có vỏ bọc là Chypre, Ai Cập, Hy Lạp, và Thổ Nhĩ Kỳ. Những katsa làm việc ở đấy, được gọi là “ngón tay cái” hay những “kangourous” (tên loại động vật có túi trước bụng để nuôi con, nhảy bằng hai chân sau - có chủ yếu ở nước Úc, ND), bởi vì những người này làm việc từ khi ở Tổng hành dinh tại Tel Aviv và họ sẽ không kiểm tra tại chỗ các nhân viên của mình, hoặc sayanim trong lúc đột xuất ghé qua vài ngày. Là một katsa trong những nước có sự thân thiện về mặt chính trị với Palestine thì thật là hiểm nguy.

Những katsa sợ hãi được bổ nhiệm ở văn phòng Israel và trong bài giảng của mình, Ran S. không giấu giếm nói về sự bất hạnh của những người đó. Số phận không may, bất ngờ đã đến với ông: Người ta bổ nhiệm ông chịu phụ trách văn phòng với bao nhiêu gièm pha.

Để thư giãn, chúng tôi tổ chức các cuộc thi thể thao với 25 sinh viên khác của Hàn lâm viện. Họ là những người kế toán, đánh máy, những người làm tin học, những người thư ký và những nhân viên làm hành chính khác. Người ta đã nhồi nhét vào đầu họ những hoạt động của Mossad. Những người này làm việc nghiêm túc hơn chúng tôi.

Để cho họ dứt khỏi bàn bóng bàn đầy quyến rũ, chúng tôi đã giấu bóng đi, nhưng chúng tôi lại phải chạm trán với họ trong những trận bóng rổ. Là những cầu thủ kém, chúng tôi dùng mánh khoé ăn gian trơ trẽn. Một trong số học viên chúng tôi, chiếm lấy tấm bảng ghi điểm và chúng tôi luôn giành chiến thắng, bất chấp sự phản đối của những người khác. Không có gì thay đổi, cứ chiều thứ ba mỗi tuần, chúng tôi gặp họ trong một trận đấu kéo dài khoảng một tiếng. Những bài học chán ngán không tiếp tục nữa. Chúng tôi đã biết rõ tất cả quá trình tuyển mộ, từ những tiếp xúc ban đầu đến lúc quyết định tuyển. Sau đó, người ta giáo huấn cho chúng tôi các hình thái tài chính của họ.

Trước khi hứa một điều gì, cần điều tra xem tình hình tài chính của việc tuyển mộ. Nếu một người nào đó đang nghèo khổ thì sự cải thiện đột ngột mức sống của người ấy sẽ tạo nên những nghi vấn. Chúng ta giả thử rằng, một điệp viên quay lại nước mục tiêu của mình và anh ta cần tiền để sống. Nếu điệp viên này có quan hệ với Mossad trong hai năm. Mossad trả lương hàng tháng cho anh ta là 4.000 đô la, và 1.000 đô la, không làm thay đổi cách sinh hoạt của anh ta. katsa sẽ mở một tài khoản theo tên của người điệp viên vừa nói, ở một ngân hàng của Anh hay một ngân hàng khác và sẽ thấy số tiền lương hàng năm dư ra tại đó. Vì thế, điệp viên sẽ lĩnh 12.000 đô la tiền mặt và tài khoản ngân hàng của anh ta ghi vào 36.000 đô la. Trong năm thứ hai cũng như vậy. Việc làm này, không chỉ để cải thiện cuộc sống hàng ngày của người điệp viên, mà còn bảo đảm tương lai cho anh ta. Như thế, katsa nắm chắc con người anh ta.

Cũng còn có một hệ thống tiền thưởng được xác lập trên cơ sở giá trị của các thông tin, hay khả năng nghề nghiệp của người điệp viên. Tiền thưởng thông thường từ 100 đến 1.000 đô la bằng thư, nhưng, người ta đã thấy một Bộ trưởng Syrie lĩnh từ 10.000 đến 20.000 đô la bằng thông báo.

Mỗi một người trong số 30 đến 35 katsa trung bình có khoảng 20 điệp viên phục vụ mình. Nếu cứ tính, một điệp viên lĩnh khoảng 3.000 đô la và thêm 3.000 đô la tiền thưởng - nhiều người trong số điệp viên lĩnh hơn thế - thì mỗi tháng, Mossad phải chi tới 15 triệu đô la cho 600 điệp viên (những người tuyển mộ vào làm, nhưng không phải nhân viên chính thức của Mossad). Ngoài ra còn phải tính tới các phí cho công việc tuyển mộ, nơi ẩn náu, các hoạt động, phương tiện xe cộ, và nhiều chi tiêu khác nữa. Tất cả, lên tới hàng trăm triệu đô la mỗi tháng.

Một katsa chi tiêu dễ dàng 100 đến 200 đô la mỗi ngày, trong các cửa hàng ăn uống, và hơn 1.000 đô la trong chi phí thông thường, điều đó tốn kém cho Mossad hơn 30.000 đô la nữa mỗi ngày để trợ giúp các nhu cầu của katsa. Tôi không tính đến lương cấp bậc của từng người là 500 và 1.500 đô la mỗi tháng.

Không một ai dám khẳng định rằng nghề tình báo là ăn không.

Để dạy cho chúng tôi kỹ thuật của các cuộc hành trình được bảo vệ, Dov chiếu cho chúng tôi xem một phim minh họa vai trò của Ngành Yarid, chịu trách nhiệm tất cả những hoạt động theo dõi.

Ngành Yarid, vào thời kỳ này gồm ba đội, mỗi đội có từ năm đến bảy người. Tại châu Âu, các đội này làm việc dưới sự chỉ huy của người đứng đầu Cơ quan An ninh.

Dov muốn chỉ cho chúng tôi biết những sự trợ giúp hậu cần nào đã được cung cấp cho các đội Yarid, và cũng cho chúng tôi biết chuyển giao nó như thế nào, nếu một trong số những đội ấy tạm nghỉ. Điều mà tôi học được ở đó là thay đổi cách nhìn nhận thế giới của mình. Tôi có thói quen lui tới các quán cà phê ở Tel Aviv. Đột nhiên, tôi lưu ý thấy các đường phố là nơi diễn ra dày đặc các hoạt động mà không bao giờ tôi ngờ tới: Các công việc theo dõi của cảnh sát. Việc đó diễn ra mọi lúc, nhưng ít ra thì anh cũng không bị cuốn hút theo, các anh chưa bao giờ nhìn thấy cảnh ấy đâu.

Bài giảng của Yehuda Gil cho phép chúng tôi nghiên cứu sâu mọi khía cạnh tế nhị của công việc tuyển mộ. Gil, người mà Riff giới thiệu với chúng tôi là một thầy giáo, là một katsa huyền thoại (xem phần mở đầu, Chiến dịch Sphinx, và xem thêm ở chương IV và VII, phần 3). Gil bắt đầu bài giảng của mình bằng cách nhấn mạnh vào ba cái mồi chính là: Tiền, gái, và những tình cảm (ý muốn nói đến điều mong muốn trả thù hoặc về một lý tưởng).

— Không bao giờ quên sử dụng thời gian của mình và tiến lên phía trước với sự suy xét, Gil nhấn mạnh. Chẳng hạn, hãy dùng một gã thuộc dân tộc ít người. Gã này muốn trả thù vì phải chịu đựng nhiều sự phục vụ, hay hắn là nạn nhân của một sự bất công. Đấy là một khả năng tuyển mộ. Ngay từ khi hắn ta nhận tiền, hắn ta đã được tuyển mộ và hắn ta biết điều đó. Không một ai tin rằng tiền bạc lại là cho không; vì thế, các anh hãy chờ đợi ở hắn ta đổi lại một vật gì đó.

— Còn có chuyện trai, gái. Đó cùng là một đòn bẩy tốt, nhưng đấy không phải là một cách thanh toán (tiền), vì rằng phần lớn những tân binh là đàn ông. Hãy nhớ câu châm ngôn: “Người phụ nữ cho đi và tha thứ, người đàn ông lấy và quên đi”. Đó, chúng ta không phải thanh toán bằng hiện vật: Tiền, những người đàn ông hãy luôn luôn nhớ tới nó.

Gil nói trước với chúng tôi: Một lần thắng lợi không bắt buộc là một lần được dự kiến tốt. Một chiến thuật mũi nhọn tiến đến tất cả, nhưng, thậm chí một chiến thuật khập khiễng cũng có thể đi đến thành công. Để minh họa, Gil kể cho chúng tôi nghe một câu chuyện về một điệp viên người Ả Rập, một oter, điều này có thể dịch ra là “người tài tìm kiếm”, coi như tổ chức một cuộc gặp với một gã mà Mossad muốn tuyển mộ. Gil, người phải đóng vai cho một quan hệ làm ăn, ngồi đợi trong xe, để người khác vào gặp đối tượng. Oter làm việc cho Mossad từ lâu, tuy nhiên, khi bước lên xe cùng với Ahmêd, người mới tuyển mộ, tuy vậy, oter đã làm những động tác giới thiệu họ với nhau dưới hình thức:

— Đây là Albert (Gil), người của Cơ quan Mật vụ Israel, mà tôi đã nói với anh. Albert, và Ahmed đồng ý hợp tác với nhau. Anh ta yêu cầu mỗi tháng, trả cho anh ta 10.000 Franc; với giá đó anh ta sẽ làm tất cả.

Những oter luôn luôn là những người Ả Rập, một phần là vì có ít katsa nói được tiếng này, nhưng trước hết là vì một người Ả Rập tạo được lòng tin tốt hơn đối với một người Ả Rập của họ. Vai trò của những oter là làm cho vỡ tảng băng và dần dần, họ trở thành cần thiết cho các katsa.

Ahmed được tuyển mộ, nhưng Gil đã khuyên người này đừng tiếp cận trực tiếp. Ngược lại, chúng tôi phải tổ chức những cuộc gặp trùng khớp đã định trước. Lấy một ví dụ: Người được tuyển mộ mà anh muốn điều khiển, đang ngồi trong một quán rượu nhỏ ở Paris, vào một buổi tối đã hẹn; anh biết người đó nói tiếng Ả Rập. Người ta tiến hành ra sao: Gil ngồi vào bàn bên cạnh và oter đứng lùi vào chỗ bar. Một lúc sau, oter dường như nhận ra Gil, thế là họ bắt đầu nói chuyện với nhau bằng tiếng Ả Rập. Hồi lâu sau người sẽ được tuyển mộ tham gia vào câu chuyện, hơn thế nữa vì anh đã nghiên cứu kỹ lịch sử của anh ta, anh sẽ thảo luận về các chủ đề mà anh ta quan tâm.

Trong quá trình nói chuyện, Gil rỉ tai oter:

— Cuối cùng, chiều nay anh gặp cô bạn gái phải không?

— Vâng, nhưng cô ta sẽ đến với một anh bạn, như thế càng tốt hơn, nếu anh có thể nán lại.

Gil sẽ tạo ra cái cớ có một bữa ăn tối làm việc, chuẩn bị dọn đường cho công việc tuyển mộ của mình và chắc chắn là một người khác sẽ đề nghị thay bữa ăn tối đó.

— Nếu các anh ở trong một bar tại Paris, và cũng diễn ra một cảnh như thế bằng tiếng Hébreu, thì chính các anh là người mà người ta có thể tuyển mộ. Gil nói tiếp - Nghe tiếng nói của chính bản thân mình ở nước ngoài, thật là quyến rũ không thể cưỡng lại được.

Cuộc tiếp xúc đầu tiên cần luôn luôn phải tự nhiên, để người được tuyển mộ khỏi có điều gì nghi ngờ. Nếu như người định tuyển mộ không “cắn câu”, họ cũng không cho rằng có một âm mưu nào. Nhưng, trước hết hãy thuộc lòng lịch sử của người ta, thị hiếu của người ta, chính kiến của người ta; hãy thẩm tra lại thời gian làm việc buổi tối của người ta, và đừng để xảy ra điều gì do ngẫu nhiên, như thế, các anh sẽ giảm đáng kể những rủi ro.

Trong một bài học khác, Yatzak Knafy giải thích cho chúng tôi: Nhờ có các biểu đồ, kết cấu của việc hỗ trợ hậu cần mà Tsomet đã sử dụng cho những hoạt động của mình. Những sayanim, tiền bạc, xe cộ, nhà cửa,… tất cả những thứ đó thật đồ sộ, nhưng cái đặc biệt nhất, chính là biết cải thiện không ngừng những vỏ bọc. Nếu một katsa dám làm P - DG (cương vị Tổng Giám đốc -ND) của một nhà máy sản xuất chai, lọ, hay là một cán bộ cao cấp của hãng IBM, anh ta sẽ có tất cả những thứ cần thiết để biện bạch. IBM là một công ty lớn, một vỏ bọc tốt, mà muốn biết anh có làm việc ở đấy hay không, người ta cần phải có nhiều năm trước đó xem xét. Mossad có các cửa hàng IBM, những người làm, một văn phòng, và ban lãnh đạo của công ty không bao giờ biết đến họ.

Để có những vỏ bọc tốt, cần có các visite, trên đó có ghi số điện thoại, số fax…Mossad lưu giữ cả một kho các công ty bình phong, với những số máy đăng ký thương mại, đang chờ được hoạt động trở lại. Các công ty này có vốn luân chuyển riêng, cho phép họ thanh toán những đóng góp xã hội, thuế, nhằm tránh tạo nên mối nghi ngờ. Hàng trăm công ty loại này đang tồn tại trên khắp thế giới.

Tổng hành dinh, năm phòng đầy ắp được dành cho giấy tờ của các công ty, đã sắp xếp theo thứ tự A,B,C… trên các kệ. Mỗi phòng có tám kệ cao gồm sáu mươi cặp sắp xếp đó. Mọi phích (tờ phiếu) gồm có lịch sử của công ty, những quy chế của nó, giải thích thần ngôn của công ty và tất cả những thông tin cần thiết cho một katsa.

Sau sáu tháng học, chúng tôi có một cuộc họp kéo dài sáu giờ, gọi là bablat, theo tiếng Hébreu: Bilbul baitsim, cái đó nghĩa là làm cho những quả bóng trộn lẫn vào nhau, hay nếu anh thích có thể gọi là: Thảo luận kiểu cóc nhảy.

Hai hôm trước, chúng tôi đã thực hiện một bài tập thực hành, trong môn học đó, Arik F. và tôi đã phải ngồi chờ đợi trong một quán cà phê bên đường Henrietta Sold, không xa Kiker Hamdina. Tôi hỏi Arik liệu anh ta có bị theo dõi không. Arik xác nhận với tôi rằng không.

Được - Tôi nói với cậu ta - Nhưng, thế thì cái gã theo dõi chúng ta ở đó, là ai?

Arik nói với tôi rằng, chúng ta phải ở đây và đợi người ta đến kiếm mình thôi. Tôi trả lời cậu ta rằng: Muốn làm gì thì cứ làm.

Nhưng, rốt cuộc, tôi đã chuồn.

Arik đáp lại rằng, tôi có những ý nghĩ viển vông. Và thế là tôi đề nghị đợi cậu ta ở Kiker Hamdina. Tôi đã dành cho cậu ta ba mươi phút.

Ý nghĩ của tôi là giám sát quán cà phê. Do vậy, tôi đi quanh, kiểm tra xem người ta có theo dõi mình không, rồi bước chân quay lại và trèo lên mái một căn nhà, từ đó, tôi quan sát quán cà phê. Tôi ngồi đó chừng mười phút lúc đó, người mà tôi có cuộc hẹn đi đến và bước vào trong toà nhà. Hai phút sau đó, cảnh sát bao vây những nơi đó. Họ bắt hai người đàn ông và hành hung họ. Sau này, tôi được biết tình tiết đó là một phần của bài học luyện tập do Viện Hàn lâm của Mossad và Cảnh sát mật của Tel Aviv cùng phối hợp tiến hành. Chúng tôi chỉ đơn thuần là những con mồi Arik, khi đó hai mươi tám tuổi, nói tiếng Anh và giống với Terry Waite, một mục sư Anh bị bắt cóc ở Lyban. Anh ta đã từng phục vụ trong các tổ chức mật của quân đội trước khi được Mossad tuyển mộ. Đó là vua nói dóc. Anh ta có thể nói đã bán những đôi giày cho những người không có chân và không có đùi. Anh ta đã tránh được hẩm hưu lúc ngồi vào bàn. Tất nhiên, anh ta kể chuyện tào lao, nhưng anh ta biết rất rõ là mình nói cái gì. Anh ta đã tránh được những cú đòn.

Song một người khác, tên là Jacob đã phản kháng lại: “Tôi không hiểu các ông muốn gì ở tôi”. Đến mức, một viên cảnh sát tát anh ta mạnh khiến đầu anh ta đập vào tường và anh ta bị rạn sọ não. Anh ta hôn mê trong hai ngày và phải điều trị trong bệnh viện sáu tuần. Người ta đã trả lương cho anh ta trong một năm, nhưng anh từ chức.

Những cuộc đánh đập được ghi nhận trong một loại thi đấu. Những viên cảnh sát muốn chứng tỏ rằng họ hơn chúng tôi. Thật là tồi tệ, nếu chúng tôi thực sự muốn để rơi vào tay họ. Những người chỉ huy của- chúng tôi đưa ra những thách đố:

— Tôi đánh cuộc rằng các chàng trai của tôi sẽ không thất bại.

Anh có tin điều đó không? Vậy thì, ta sẽ chứng kiến điều ấy! Trong sự hỗn độn, chúng tôi phản đối chống lại bạo lực của hành hung. Người ta vặn lại chúng tôi rằng, nếu chúng tôi bị bắt, chúng tôi chỉ phải nói không chống cự. “Chừng nào các anh sẽ nói như thế, họ sẽ không đánh các anh và họ sẽ không dùng những thứ khó nuốt lên người các anh nữa”. Ở mỗi bài luyện chúng tôi có nguy cơ rơi vào nanh vuốt của những người cảnh sát, ít ra điều đó cũng dạy cho chúng tôi phải biết khôn khéo.

Có một hôm, một bài học của Mark Hessener (xem chương I; phần 3), được sắp xếp chương trình cho ngày hôm sau. Ông ta phải nói với chúng tôi về một hoạt động được tiến hành có phối hợp với các Cơ quan Mật vụ Pháp. Chúng tôi quyết định cùng với các bạn mình là học thuộc lòng trước bài học, rồi sau giờ học, ngày hôm đó, chúng tôi quay lại Viện Hàn lâm. Chúng tôi leo lên phòng số 6 tầng 3, tại đó có lưu giữ các tài liệu và chúng tôi đã nghiên cứu tài liệu đề cập đến vấn đề. Khi đó là tháng tám năm 1984, vào ngày thứ tư, đêm nóng nực và chúng tôi không vùi đầu vào tiêu phí thời gian ở đó. Chưa tới nửa đêm, chúng tôi đã rời khỏi phòng. Chúng tôi quay lại những chiếc xe của mình đang đậu tại bãi xe, ngay cạnh phòng ăn. Lúc này, chúng tôi nghe thấy tiếng động từ bể bơi vọng lại.

Tôi hỏi Michel:

— Cái gì ồn ào đó?

— Tôi không biết gì. Chúng ta hãy lại xem.

— Hãy nhẹ nhàng - Heim khuyên như vậy - Đừng có tạo ra tiếng động.

— Này, tớ có một ý nghĩ hay hơn - Tôi nói - Hãy leo lên tầng hai, qua cửa sổ, ta sẽ thấy rõ cái gì xảy ra.

Miệng nói, chân đi, chúng tôi leo vào một phòng tắm nhỏ, nơi tôi đã bị nhốt khi qua các kỳ thi tuyển chọn ban đầu, có cánh cửa mở quay về phía bể bơi.

Không bao giờ tôi có thể quên được cái điều mình nhìn thấy. Hai mươi lăm con người trần như nhộng, xếp hàng xung quanh bể bơi hay ở trong bể. Hình ảnh thứ hai của Mossad- còn lưu lại trong đầu tôi ngày nay- là Henner, và nhiều thư ký ở đó. Thật là một cảnh tượng ghê gớm! Những người đàn ông không phải là những người đẹp trai, nhưng những người phụ nữ thì thật là tuyệt. Tóm lại là, những người phụ nữ khêu gợi trong “đồng phục” của họ! Phần lớn họ là nữ quân nhân đang làm việc tại “Văn phòng” và không một ai hơn hai mươi tuổi cả.

Một vài người đùa giỡn dưới nước, một số khác thì nhảy, còn một số khác nữa, đang ôm ghì nhau, cựa quậy trong những chiếc khăn trải ra đây đó. Tôi chưa bao giờ nhìn thấy cái gì giống như vậy!

— Nếu chúng ta muốn mô tả một danh mục cái đẹp của thế giới thì sao? -Tôi hỏi.

Heim khuyên là hãy chụp ảnh.

— A, không! - Michel phản đối - Không có tớ! Tớ không có ý muốn mình bị đuổi.

Yosy ủng hộ ý kiến đó và Heim thừa nhận ý nghĩ chụp ảnh là xấu.

Chúng tôi xem trò đùa giỡn của họ trong hai mươi phút. Tất cả những nhân vật quan trọng còn ở đó, rồi họ trao đổi các đối tác với nhau. Tôi thấy chán ngấy rồi. Tôi mong đợi mọi tốt lành xảy ra ở đó. Những người đàn ông mà tôi coi như các anh hùng, mà tôi tôn thờ, thì lại bắt gặp họ chìm đắm trong cuộc truy hoan! Heim và Michel, họ không có vẻ gì bị sốc cả!

Chúng tôi rón rén đi ra, đẩy xe của chúng tôi mà không nổ máy khi lướt qua các chấn song cửa.

Sau đó, chúng tôi biết đó là một loại dạ hội được tổ chức thường lệ. Bể bơi là một trong những nơi được bảo vệ tốt nhất ở Israel, không ai có thể thâm nhập vào đó mà không phải người của Mossad. Như thế có điều gì nguy hiểm đâu? Bị bắt gặp bởi một học viên ư? Không có gì quan- trọng.

Chỉ cần chối bỏ thôi.

Dự bài học của Hessner ngày hôm sau, là một cảm nghĩ lố bịch đối với tôi, sau cái điều mà tôi chứng kiến hôm trước. Tôi nhớ là mình đã không thể kiềm chế được khi đặt câu hỏi:

— Thưa ông, ông có đau lưng không?

— Vì sao lại có câu hỏi này?

— Thế sao, người ta nói ông bị chấn thương cơ bắp.

Bị sửng sốt, Heim đưa một cái nhìn nhẹ nhàng vào tôi.

Sau buổi trình bày dài và ngán ngẩm của Heim, chúng tôi được học môn khác về tổ chức của Quân đội Syrie, Những bài giảng này làm cho tôi buồn ngủ. Lúc người ta đề cập đến Golan (vùng cao nguyên Golan), người ta quan tâm tới những lời giải thích rõ ràng này, nhưng ở đó, học cách Quân đội Syrie triển khai như thế nào là hoàn toàn buồn ngủ! Tuy nhiên, ý đã ghi vào não tôi, và đó là tất cả những gì mà người giáo viên mong muốn.

Các bài học về bảo vệ các nước là “chỗ dựa” được nối tiếp theo. Người ta chiếu một phim do Mossad sản xuất về chủ đề đó. Chúng tôi chú ý tới nó chút ít. Người ta trông thấy những người ngồi trong cửa hàng ăn, các anh hãy nói về lợi ích xem! Điều phải tính toán, đó là chọn địa điểm và thời gian. Trước mỗi cuộc hẹn phải bảo đảm rằng nơi gặp không phải mục tiêu của việc theo dõi, và rằng đó cũng chẳng phải nơi bắt kẻ gian (ý đen là bắt chuột nhắt). Nếu, người ta cần gặp một điệp viên, người ta đợi cho người đó đi vào để kiểm tra xem anh ta có phải là một tù nhân không. Mọi thứ trong nghề này đều tuân thủ các nguyên tắc, nếu các anh không tuân thủ các nguyên tắc, các anh sẽ phải trả giá đắt. Nếu các anh ngồi chờ người điệp viên trong cửa hàng ăn, thì các anh trở thành mục tiêu. Và nếu anh chàng ngây ngô của các anh vắng mặt để vào vệ sinh, thì hãy chuồn đi trước khi hắn ta quay trở lại.

Đấy là cái đã xảy ra với một katsa gọi là Tsadok Offir, ở Bỉ. Anh ta trao đổi vơi một điệp viên người Ả Rập. Chính người điệp viên này đã đứng dậy, lấy cớ đi tìm một vật gì đó, Offir ngồi chờ hắn ta. Khi người Ả Rập quay lại, hắn rút ra khẩu súng lục và chĩa thẳng vào Offir bất hạnh. May sao, Offir đã rút lui được, và sau đó một thời gian, tên điệp viên “đen” kia bị giết ở Lyban. Từ ngày đó, Offir đã kể lại câu chuyện của mình cho những ai muốn nghe, với hi vọng, những người khác sẽ tránh được những sai lầm như vậy.

Người ta đã lặp đi lặp lại danh sách an ninh phòng ngừa sơ đẳng.

— Đây là cái lúc này các anh đang học. Nó giống như chiếc xe đạp mà người ta nói với các anh. Khi người ta hiểu, người ta sẽ không bao giờ quên nữa.

Nguyên tắc của việc tuyển mộ, chính là viên đá lăn xuống dốc. Chúng ta học điều ấy có nghĩa là làm cho hòn đá lăn từ trên đỉnh quả núi. Tương tự như vậy với những người được tuyển mộ, người ta làm cho họ lăn xuống dốc. Người ta chọn một người, và người ta làm cho người đó phạm những hành động bất hợp pháp, hoặc hành động vô đạo đức. Rồi người ta đẩy anh ta dần dần phạm các tội khác. Nếu anh ta quá liêm khiết thì không thể tuyển mộ được, cần một người dễ bảo. Một người không uống rượu, không trai gái, không cần tiền, không có những vấn đề chính trị, yêu quý cuộc sống mình đang sống, người đó sẽ không bao giờ là một người để tuyển mộ. Tốt hơn là tìm một kẻ phản bội. Một điệp viên là một kẻ phản bội, thậm chí anh ta cố gắng hợp lý hoá những hành động của mình. Chúng ta làm việc với cặn bã của nhân loại. Mossad khắng định rằng mình không sử dụng việc dọa phát giác. Mossad không cần điều đó, sức mạnh của Mossad, chính là sự thao tác gian giảo.

Không bao giờ có ai lại nói rằng nghề Tình báo là trong sạch.