Việt Nam là quốc gia đứng đầu trong nhóm 10 nước có tinh thần lạc quan nhất thế giới, đó là kết quả thăm dò được nhiều tổ chức thế giới công bố một vài năm qua. Trong khi đó, cũng có nhiều tổ chức khác công bố Việt Nam là nước xếp vị trí rất thấp về chất lượng sống.
Câu hỏi đặt ra, vì sao chất lượng sống thấp, đang “lệch pha” với tăng trưởng mà chỉ số hạnh phúc và chỉ số lạc quan của người dân lại cao như vậy?
Hãy nhìn vào bảng xếp hạng về nhóm các nước lạc quan nhất thế giới, theo điều tra năm 2011 của tổ chức BVA (Pháp) sẽ thấy, bên cạnh Việt Nam, còn có các quốc gia mới nổi như Trung Quốc, các nước nghèo như Nigeria, các nước vừa thoát khỏi chiến tranh hoặc thậm chí chỉ mới giảm xung đột vũ trang như Afghanistan, Iraq, Pakistan. Điều này cho thấy, về cơ bản, có hai “điều kiện” để dẫn đến (tâm lý) lạc quan của người dân: những đất nước vừa trải qua binh biến và đang nâng niu, tận hưởng nền hòa bình, an ninh trong đời sống; những đất nước sống dưới sự lãnh đạo bởi một chính đảng...
Xét điều kiện thứ nhất dẫn đến sự lạc quan, có thể cảm nhận, người Việt Nam trải qua hai cuộc chiến tranh, thấm thía cảnh nồi da xáo thịt, cơ hội được sống an bình, việc hiểu, trân trọng sự yên ổn từng giây từng phút là điều hiển nhiên. Tinh thần hòa hiếu để có được cuộc tồn sinh an lành là điều mà người dân học được trong điều kiện đặc biệt sau những mất mát và chia rẽ. Nhiều người Việt hôm nay cố tình bàng quan chuyện “chính trị”, họ xem chính trị là của “mấy ông bà ở trển”, của nhà nước, trong lúc đó, đồng thời đánh mất một trong những nhận thức quan trọng của chính trị đó là xác định điều kiện, vị trí, vai trò chỗ đứng của cá nhân trong xã hội mà anh ta đang sống.
Thực tế đó, đưa đẩy đến một tâm lý tiêu cực đó là người dân tự đánh mất ý thức về tiếng nói, ngại ngần cống hiến trí lực của mình cho cộng đồng hay tham gia trực tiếp vào cỗ máy vận hành xã hội. Chính trị, có nhà nước lo, còn đời sống khó khăn thì tự xoay xở, tùy cơ ứng biến. “Chủ nghĩa tự lo” là triết lý sống của nhiều người. Để được an toàn, đôi khi họ trở thành kẻ thông đồng – im lặng, vô cảm trước những tiêu cực, bất công hay điều phi nghĩa xảy ra trong cuộc sống.
Như vậy, cái giá của hiện tại hòa bình đã trả bằng biết bao xương máu từ quá khứ chiến tranh, nhưng cái giá của việc quá sợ mất hòa bình và sự yên ổn đã phải trả giá bằng sự cam phận, an phận thủ thường, ngại đụng chạm, phản ứng, thậm chí phớt lờ trước những bất công đang xảy ra trong cộng đồng, sự bê bối nhũng nhiễu đang diễn ra trước mắt, sự biểu hiện xói mòn những giá trị đạo đức xã hội.
Chưa bao giờ, hai từ “vô cảm” được báo chí nhắc đến nhiều như trong thời hiện tại. Phẩm chất xã hội nhân văn bị bào mòn, thay vào đó, những kỹ năng đối phó, tranh giành, ích kỷ được trang bị như những phản ứng mang tính bản năng sinh tồn.
Các con số báo cáo phát triển hàng năm từ chính phủ vẫn cho người dân sự an tâm và tin vào sự phát triển của đất nước mà họ dự phần xây dựng, thậm chí, mở ra những hy vọng tương lai tươi sáng. Song, những cải thiện cơ bản về chính sách an sinh xã hội – cái chìa khóa để thăng tiến con người mà ta vẫn gọi là chất lượng sống thì đang được mài giũa một cách chậm chạp suốt hơn 35 năm hòa bình, luôn trật khớp với tốc độ phát triển.
Có thể hài lòng vì đời sống kinh tế có vẻ được tốt lên, an ninh được đảm bảo cơ bản nhưng quên mất sự bươn trải đối phó tính toán căng thẳng trong từng ngày, từ chuyện giao thông đi lại, điều kiện giáo dục cho con cái, vệ sinh an toàn thực phẩm, chất lượng dịch vụ y tế chậm tiến hay môi trường sống đang ngày càng nhiều đe dọa...
Thâu tóm tinh thần kết quả của đề tài nghiên cứu về mức sống và môi trường sống của người dân TP.HCM do Viện nghiên cứu thực hiện công bố đầu năm 2010, Ths Lê Văn Thành, chủ nhiệm công trình lý giải vì sao thu nhập đầu người tăng mà chất lượng sống lại giảm, rằng: “nói về mức sống tính theo thu nhập thì nó cụ thể nhưng chất lượng sống – vừa mang tính vật chất vừa có khái niệm về tinh thần – lại không đơn thuần có nhiều tiền là có cuộc sống tốt. Chất lượng cuộc sống của người dân TP.HCM có thể nói là giảm,” (Tuổi trẻ 25.1.2010).
Đúc kết trên cho thấy, bao giờ khái niệm tăng trưởng bền vững với các tiêu chí điều kiện môi trường, chất lượng sống của người dân, di sản giá trị tinh thần để lại cho thế hệ tương lai được đảm bảo hàng đầu thì đó mới là cái đích cần hướng đến của một quốc gia, chứ không đơn thuần dừng lại ở niềm tin và sự thỏa mãn tạm thời như một phép thắng lợi tinh thần căn cứ trên phép tính bình quân chủ nghĩa.
Những ai quan tâm đến tâm lý cộng đồng sẽ cắt nghĩa rằng, với trường hợp Việt Nam, lạc quan cũng là một phương cách, liệu pháp tinh thần giúp người ta tự hài lòng với hiện tại. Chỉ số chấp nhận sống chung với nghịch cảnh cao cộng với tâm lý hy vọng “chớ than phận khó ai ơi/ còn da lông mọc còn chồi nẩy cây” luôn được phát huy hết mức. Đây có lẽ cũng là một nét đặc thù dân tộc tính của người Việt được hun đúc qua lịch sử triền miên bị đô hộ, triền miên chia rẽ và mất mát, triền miên ứng phó với những thiên tai thảm khốc.
Lạc quan, thỏa hiệp, dĩ hòa vi quý vừa là điều kiện tốt để chính quyền xây dựng một đời sống an ninh nhưng nó đồng thời sẽ tự đánh mất động lực phát triển.
Chỉ số lạc quan cao trong điều kiện chất lượng đời sống người dân thấp, từ một góc nhìn khác, nó không hẳn đem lại sự… lạc quan, mà có thể xem là một tín hiệu đáng báo động!