Tản Văn Nguyễn Vĩnh Nguyên

Vì sao chày và cối, vốn từ một biểu tượng phồn thực rất ý nhị trong văn hóa, tín ngưỡng dân gian lại trở thành một từ ghép mang nhiều hàm nghĩa xấu?

Lật lại Từ điển biểu tượng văn hóa thế giới của Jean Chevalier và Alain Gheerbrant (NXB Đà Nẵng & Trường viết văn Nguyễn Du, 2002), có thể thấy, tuy không kết hợp “chày” và “cối” thành một từ ghép, song, trong phần giải mã, tác giả cuốn từ điển này đã cho thấy sự gắn bó chặt chẽ giữa hai biểu tượng này với nhau như một cặp đôi tương tác, gắn bó:

Chày (Pilon):

Trong tranh tượng thờ của Ấn Độ, cái chày được thể hiện với nhiều tên gọi và ý nghĩa khác nhau. Khi ở trong tay Balarâma, cái chày coi như cái cày, công cụ để làm chủ đất trồng, ở trong tay Samskarsana, chày là biểu tượng của thần chết; trong tay Ghantâkarma, chày có tác dụng phân biệt, vì nó tách hạt gạo ra khỏi vỏ trấu. Ghantâkarma được xem là thần xua đuổi bệnh tật, là người diệt cái chết.

Chuyển động thẳng đứng, đi lên đi xuống của cái chày trùng hợp với hướng của Trục thế giới. Giám mục Devoucoux liên hệ cái chày với phần thẳng đứng của cây Thập tự, với ý nghĩa liên kết các sự vật nơi thế gian.

Cái chày cũng thuộc về hệ biểu tượng dương vật, hẳn là do sự tương đồng về hình dáng và ý nghĩa với tượng dương vật (linga), điều này đã được một số huyền thoại của Campuchia thể hiện một cách hiện thực (DEVA, MALA, PORA)

Truyện cổ Myanmar kể rằng, cái chày đã giã các thứ gia vị trong suốt một đời người đàn bà dần dà thấm sâu các mùi hương tới mức nó có thể đánh thức người chết dậy, làm cho người già trẻ lại, làm cho người trẻ thành bất tử. Mặt Trăng đã lén lấy một cái chày để giữ cho mình trẻ mãi, nhưng con chó đuổi theo và bắt Trăng buông cái chày ra (nguyệt thực); vì vậy mà trăng già đi và mỗi tháng lại chết một lần.

Trong kinh Véda thường hay dùng hình ảnh chày – cối theo nghĩa phúng dụ tính giao: Hỡi thần Indra, hãy tới nơi mà người ta giương chày lên như căng dây cương để điều khiển ngựa và hãy nếm những soma (rượu cúng chiết từ cây soma) mà người ta nghiền trong cái cối (tr. 154)

Cối (Mortier):

Ý nghĩa biểu trưng tính giao của cối và chày là dễ hiểu. Bằng cách mở rộng nghĩa, người Bambara đã lấy cái cối làm biểu tượng cho cả sự giáo dưỡng (ZABH).

Cối, cũng như chảo, giữ vai trò to lớn trong các nền thần thoại Âu – Á. Ở Nga, mụ yêu tinh già Baba-Yaga, hiện thân của các trận bão mùa đông, di chuyển trong một cái cối: mụ lăn đi trong cối, mụ quất bằng chày, mụ dùng cối xóa đi vết tích của mình.

Kinh Véda ca tụng cái cối soma – nước đời, tinh dịch của thánh thần – bằng những câu thơ mà ở đấy biểu tượng tính giao được thiêng liêng hóa, nâng đến tầm vũ trụ; tử cung, nơi liên tục nảy nở sự sống, ở đây được liên tưởng với cái trống, còn cái chày, hình ảnh sinh thực khí nam, thì được ví với con ngựa:

Hỡi Indra, thần hãy đến nơi có tảng đá to dựng lên để ép

Và hãy nếm thứ soma được nghiền trong cối.

Hỡi Indra, thần hãy đến nơi có hai thớt cối giống như hai sinh thực khí

Và hãy nếm thứ soma được nghiền trong cối.

Hỡi Indra, thần hãy đến nơi người đàn bà đu đưa mình về phía trước và phía sau

Và hãy nếm thứ soma được nghiền trong cối.

Hỡi Indra, thần hãy đến nơi người ta giương chày như kéo căng cương điều khiển ngựa

Và hãy nếm thứ soma được nghiền trong cối.

Hỡi cái cối dễ thương, dù ngươi có được kéo từ nhà này sang nhà khác, chính nơi đây ngươi phải cất tiếng nói sang sảng, như chiếc trống của những người thắng trận.

(VEDV, Rig Veda, 1. 28)” (tr.209).

Với người Việt Nam trong xã hội nông nghiệp, chày cối là hai đồ vật quen thuộc. Chày cối có mặt trong nhiều công đoạn sản xuất, chế biến sản phẩm: giã lúa và các loại hạt, làm sạch vỏ trước khi dùng. Chày và cối tham gia vào những nghi lễ nông nghiệp mang tính chu niên như những biểu tượng phồn thực. Ngày nay, người Tày ở Yên Bái vẫn còn giữ lễ hội truyền thống Tăm Khảu Mau, tổ chức vào quãng tháng 9, 10 âm lịch. Trong Tăm Khảu Mau, người ta thu hoạch nếp ở giai đoạn hạt bắt đầu ngả vàng đều, sau đó, mang về luộc, rang cho chín tới rồi cho vào cối giã. Trong khi đó, vào mùa xuân, thì người Mường ở Sơn La lại có lễ hội giã cốm gõ máng. Đây là những dạng mừng lúa mới thường thấy trong các xã hội nông nghiệp vùng Đông Nam Á. Tiếng chày giã lúa mới gợi nên âm hưởng của sự sung túc, đủ đầy, hình ảnh của nó gợi cho người ta liên tưởng đến tính giao, đến sự hài hòa đất trời làm cho vạn vật sinh sôi, mùa màng thuận lợi.

Với người Kinh, thì chày và cối là hai vật dụng không chỉ sử dụng trong việc “xử lý” lúa thành thóc, mà còn chế biến nhiều dạng, nhiều kích cỡ để dùng vào nhiều loại việc khác. Chày và cối bằng đá nhỏ dùng để giã ớt tỏi, gừng nghệ làm gia vị trong bữa ăn, bộ chày cối nhỏ hơn chỉ vừa lòng bàn tay, để người già dùng chây vôi, quết trầu khi răng cỏ ngày càng yếu không còn đủ sức nhai, chiếc chày hình trụ, dạng thân tròn đều có thể biến mọi thứ thành… cối được, khi lăn bột mì, bột gạo các loại làm bánh…

Trong tập ký họa Kỹ thuật của người An Nam của Henri Oger được thực hiện tại Việt Nam vào đầu thế kỷ XX có nhiều bức mô tả cảnh người ta sử dụng chày và cối. Có thể kể đến: bức Giã cua, Henri Oger mô tả cảnh một cô gái ngồi dạng chân, kẹp giữ sát chiếc cối vào người, tay phải giữ để chiếc cối vững, tay trái cầm chày giã đám cua đang giương càng. Bức Đứa trẻ tán nhỏ đan châu, Henri Oger mô tả cảnh đứa bé tóc để chỏm, cũng ngồi ở tư thế hai chân cặp cối, còn hai tay ôm cọc chày mà giã. Hay trong bức Giã bèo cho lợn ăn, có cảnh một bà già lưng còng đang ôm cọc chày giã vào một chiếc cối rộng. Bức Giã than đóng mô tả động tác người đàn ông khom lưng đổ than vào cối cho một người khác ôm chày giã. Có nhiều tranh mô tả phụ nữ và đàn ông thay phiên nhau giã cối gạo bằng những cọc chày lớn.

Trong phần Chế biến gạo thành thực phẩm, thuộc bài tiểu luận Tổng quan về nghề của dân bản xứ nước An Nam - Một chương trình giảng dạy mới cho người An Nam, xem như là một cách “lý thuyết hóa” những gì trông thấy, nghiên cứu, Henri Oger có cách nhìn thú vị về việc chế biến thức ăn bằng cách giã (làm sạch, mềm) lương thực của người Việt. Ông cho rằng, việc nấu chín gạo nếp, giã nhuyễn làm bánh dày là một thứ văn minh trong ẩm thực – giúp người ăn tránh khỏi các bệnh đường ruột. Cách làm bột gạo cũng thế, ông viết về chiếc cối xay gạo: “Miêu tả cối xay là một việc rất phức tạp. Nhìn chung, chiếc cối gồm có một bộ phận tiếp nhận trong đó người ta đổ gạo vào, hạt gạo rơi xuống thớt nghiền chuyển động được nhờ một cái cán dài (tràng cối xay) giúp chiếc bánh lệch tâm hoạt động. Người mù (thành phần thường được trưng dụng làm công việc xay gạo) cầm tràng cối xay bằng tay. Một động tác đẩy đơn giản từ sau lên trước là đủ để làm cối xoay tròn. Bột rơi vào trong hộp gỗ để ở dưới cối” (Theo sách Kỹ thuật của người An Nam, Henri Oger, cuốn 1, Nhã Nam & NXB Thế giới, phiên bản 2009,

Olivier Tessier & Philippe Le Failler chủ biên)

Chày và cối, với đủ dạng thức sử dụng trong xử lý, chế biến thức ăn và trong dân gian, chúng cũng được khoác vào biểu tượng tính giao, là tượng trưng cho sự kết hợp âm dương trong tín ngưỡng phồn thực. Phan Cẩm Thượng dành 4 trang trong cuốn Văn minh vật chất của người Việt (NXB Tri thức, 2011) để nói về “Chày và cối”. Ông có nói về tính biểu tượng: “Cối là cái, chày là đực, chày đâm vào cối là biểu thị của hành vi giao hợp giữa hai giống mà sinh tồn. Cái này được hình tượng hóa trong vật thờ Nõ Nường, hoặc Nõ Nường bằng gỗ, có dạng hình cái dương vật và âm vật, khi làm lễ người ta cầm hai vật đó lắp vào nhau”.

Sau khi liệt ra đủ loại chày cối và công năng của chúng trong sinh hoạt, thì nhà nghiên cứu Phan Cẩm Thượng lý giải: “Chày cối là vật bền bỉ, ít khi hỏng của nhà nông, nên những kẻ cứng đầu cứng cổ mà dai dẳng, người ta gọi là kẻ chày cối, hay kẻ đầu chày đít thớt, kẻ lắm lí sự gọi là cãi chày cãi cối” (tr. 156, sách đã dẫn).

Tương tự, cuốn Đại từ điển Tiếng Việt (Nguyễn Như Ý chủ biên, Nguyễn Văn Khang, Vũ Quang Hào, Phan Xuân Thành, NXB ĐH Quốc gia TP.HCM, bản năm 2011) đã giải nghĩa từ “chày cối”: Chày cối dt. Chày bửa, liều bướng bất chấp lí lẽ: cãi chày cãi cối, chày cối mãi không trả hết nợ.

Tương tự, trong Từ điển Thành ngữ và Tục ngữ Việt Nam (GS Nguyễn Lân, NXB Khoa học xã hội, 1997) thành ngữ “chịu chày, chịu cối” được giải nghĩa là: “chê kẻ có nợ không chịu trả”.

Vậy là, từ ghép “chày cối” trong dân gian đã có một sự dịch biến về nghĩa hàm ẩn. Điều này khiến ta phải đặt ra câu hỏi: cơ chế, căn nguyên nào đã dẫn đến điều đó? Và có mối liên tưởng nào giữa hình tượng hay tính năng của hai vật dụng này với những tính cách xấu dẫn đến cơ chế chuyển nghĩa nói trên?

Xin được thử lý giải bằng bốn nguyên nhân sau:

Thứ nhất, về thị giác: trong quá trình lao động thủ công, con người nhận thấy độ bền bỉ của hai vật dụng này để liên tưởng đến sự chây lì. Giã cùm giã cụp ngày đêm, mùa này qua mùa khác, nhưng chày vẫn hoàn chày, cối vẫn hoàn cối, không hề sứt mẻ (lưu ý thêm, chày và cối thường được làm bằng loại gỗ tốt, chịu được sự va chạm lâu năm như: mít, me, xà cừ…)

Thứ hai, hình ảnh lúa gạo, ngũ cốc cho vào lòng cối để giã đều, người ta nhận thấy một sự trộn lẫn vỏ và hạt, dễ gợi đến sự nhập nhằng tinh và thô, cái vứt bỏ và cái thu nhặt lại. Đó là trường hợp giã hạt khô (lúa, bắp, đậu…). Có những loại chày cối chuyên giã gia vị như ớt tỏi hay nghiền cau trầu cho người già, thì cảm nhận về sự nhào trộn cù nhầy, nhão nhoét càng rõ. Những bộ chày cối giã lâu ngày, nhất là dùng để giã gia vị, thường trộn lẫn mùi, màu, vị vào nhau, dù ngâm nước hay vệ sinh kỹ thế nào, thì chúng vẫn bám bọc, thấm sâu vào mặt cối và đầu chày, khó gột rửa sạch.

Thứ ba, tính đa năng của hai vật dụng này lại đem lại tai tiếng cho chúng. Người ta có thể dùng chiếc chày để dùng ở nhiều “tư thế”: lăn cán bột, giã hành tiêu ớt tỏi, quết trầu thì ngoáy, khoáy, làm kẹo đường thì vặn xoắn… Cái sự xoay ngang bửa dọc gì cũng được đó đã bị bóp méo từ hướng tích cực sang tiêu cực để chỉ sự bất nhất, muôn hình vạn trạng gợi liên tưởng đến tính cách trơ tráo ngụy biện.

Thứ tư, thường dân vốn sẵn tinh thần hài hước phản kháng (họ đẻ ra tiếng cười châm biếm đau đớn và tự trào) đã “gạn lọc”, bỏ đi cái thiêng để chọn cái tục trong biểu tượng chày cối để ám chỉ, châm biếm những việc mờ ám, mị chúng, tráo trở của những kẻ cậy quyền, chai mặt, bất chấp luật lệ, luân lý ở đời.

Như vậy, qua bốn giả thiết trên, “bộ đôi” biểu tượng tín ngưỡng phồn thực đã bị trải qua một cuộc phê phán, giải thiêng triệt để. Nó bị hạ xuống khỏi bàn thờ huyền thoại và khoác lên những tính cách thô tục, bướng lì, đáng mỉa mai. Nó trở thành công cụ ngôn từ để dân gian đưa những bực dọc, ức chế của mình vào cái thế giới quyền lực đầy biểu hiện duy ý chí đến độ không biết xấu hổ. Nó là tấm nhãn đính lên bản mặt của những kẻ nhân cách kém cỏi, hay dở thói lọc lừa, bầy hầy, thiếu sòng phẳng trong đời sống. Nó cũng là từ để chỉ trực tiếp những kẻ bảo thủ cực đoan gàn dở, sống vô tri như thể vật hóa.

Khi dân gian nói “Thằng cha đó chày cối thí mẹ” hay “Cái bản mặt thằng chả thiệt là chày cối” thì có nghĩa là, những loại người đó không đáng tâm phục khẩu phục, tính cách đó sẽ gây ra phiền phức, tiêu cực cho cộng đồng.

“Chày cối”, từ đây trở thành một biểu tượng của những hạng người có tâm địa, tâm tính nguy hiểm, đáng tránh xa.

Việc một biểu tượng văn hóa, tín ngưỡng, bị kéo xuống khỏi bàn thiêng để “cài đặt lại” một “bộ mã” ẩn dụ khác cho thấy tư duy phê phán, cái tinh thần dân sự đã phải đi qua một đường vòng khéo léo, tinh tế mà cũng sòng phẳng, thấu đáo biết bao.