Dạo còn làm ở một tờ báo địa phương, cứ vào cuối năm, tôi thường xuyên nhận được các kiểu báo cáo phát triển từ những huyện vùng sâu vùng xa. Lúc bấy giờ tôi không thể hiểu được vì sao chính quyền cơ sở thường đo sự tăng trưởng kinh tế, sung túc trong đời sống người dân thông qua chỉ số các hộ… có sở hữu tivi năm sau cao hơn năm trước.
Các cán bộ địa phương ở những vùng sâu vùng xa kia không có lỗi trong việc thuyết phục người khác tin vào năng lực lãnh đạo và chính sách phát triển kinh tế địa phương của mình. Vì cán bộ ở đâu thì cũng vậy, thiết kế cho được một bản báo cáo tăng trưởng là một trong những kỹ năng vỡ lòng, còn các con số hay luận cứ trong đó đá nhau chan chát là chuyện chẳng ai rỗi để đi truy cứu tới cùng.
Nhưng đó lại là một chuyện ngoại vi. Tôi muốn trở lại với thực tế các “chính trị gia” ở địa phương lấy con số sở hữu tivi trong dân để làm luận cứ tăng trưởng có thể xuất phát từ trong thói quen, tâm lý cộng đồng.
Chẳng biết từ bao giờ, người Việt có cái bằng cớ “nhà có tivi tủ lạnh” để chỉ những gia đình khá giả, có của ăn của để, hay nói cách khác, đã thoát nghèo. Từ đó, tivi, tủ lạnh là hai thứ vật dụng được xem như biểu trưng của sự tiện nghi, của cải, văn minh. Rất có thể, tâm lý này xuất phát từ trong chính xã hội có sự mở cửa ra thế giới bên ngoài khá muộn mằn và hạn chế, nên dẫn đến việc tiếp nhận những phát minh công nghệ, khoa học khá chậm chạp. Một điều nữa, bên cạnh sự khó khăn về kinh tế, thì khung cảnh sinh hoạt đời sống xã hội nông nghiệp khá tĩnh lặng, thậm chí tẻ nhạt và quẩn quanh, cho nên việc tiếp nhận cái lạ, cái mới, hiểu biết thông tin về thế giới bên ngoài làng quê dễ bị xem là lo chuyện “bao đồng”, viển vông.
Vậy nên, cái tivi, đồ vật đem lại một cửa sổ nhìn ra bên ngoài, là thứ chỉ hiện diện trong những gia đình thừa của ăn của để, nó được mặc định là một biểu tượng của sự giàu có. Bọn trộm ở quê ngày trước cũng thường để ý những nhà có tivi để ra tay. Nhà có tivi màu càng to, càng nhiều nguy cơ bị trộm nhòm ngó và đột nhập. Và trong danh mục những của cải thuộc ưu tiên số một để những tay trộm quê khuân đi, có lẽ là cái… tivi. Cũng vậy, cho đến nay, thỉnh thoảng hình ảnh quen thuộc mà chúng ta thấy trong những vụ cháy đó là mấy ông thanh niên mình trần trùng trục mồ hôi nhễ nhại mặt mày bặm trợn lao vào trong đám lửa dũng cảm cứu… cái tivi. Chừng nào cái tivi an toàn thì mới tiếp tục cứu tiếp những thứ khác.
Thật bàng hoàng khi xem lại hình ảnh trận sóng thần 2011 tràn vào Nhật Bản. Có một đoạn phim dài hơn 20 phút quay cảnh người dân trong một ngôi làng ở Sendai dắt díu nhau chạy lên một ngọn đồi khi con sóng đã tràn qua nhấn chìm cửa nhà đường sá và xe cộ. Những người dân chạy tay không và hoảng hốt lo sợ khi thần chết đến cận kề. Khi xem đoạn phim này, tôi nhớ tới những phóng sự khác trên truyền hình Việt Nam mô tả cảnh những người già ở một ngôi làng thuộc miền Trung bạc mặt vác trên vai những cái tivi đời cũ được bao bọc rất kỹ lưỡng, chật vật trên đường sơ tán bão lũ.
Phải nói, về kỹ năng tránh thiên tai người Việt rất kém, nhưng sự hồn nhiên trong tình yêu dành cho những chiếc tivi thì thật nồng nàn.
Từ những “mặc định” ngầm ẩn trong tâm lý cộng đồng, coi cái tivi là biểu tượng của thứ của ăn của để trong nhà đã dẫn đến những sự việc dở khóc dở cười, ngày nay, ngay cả ở thành phố, nhiều người mới xây hoặc mua nhà, việc đầu tiên tính tới khi dọn về nhà mới là… sắm một cái tivi thiệt to, rồi các vật dụng khác trong nhà cứ phải “chiếu” theo vị trí ưu tiên của cái tivi mà sắp đặt. Những màn hình chễm chệ trên những bức tường quan trọng của không gian sinh hoạt công cộng trong nhà. Cái tivi hiện diện ở vị trí đắc địa của phòng ngủ. Rồi từ đó, bàn ghế tủ giường sắp xếp sao cho tiện để gia chủ có thể ngồi, đứng, nằm, hoặc vừa làm việc vừa xem truyền hình thoải mái nhất vào mỗi tối. Nhiều nhà chơi sang, sắm luôn một cái màn hình lớn kín cả bức tường, chủ nhân đi đi lại lại như muốn lọt cả vào trong màn hình; và, cuối cùng, hậu quả là phải ra hành lang hoặc vào toilet nhìn ra thì may ra mới xem được hình ảnh khá hơn ngồi ở phòng khách.
Tivi từ chỗ là một của cải quý giá, đã trở thành một vật dụng có tính quyết định đời sống tinh thần của nhiều gia đình. Người ta bất hòa, xung đột vì vợ thích coi phim truyền hình dài tập sướt mướt, chồng thích coi đá bóng. Người ta hờn dỗi nhau chỉ vì đứa cháu thích coi phim hoạt hình Walt Disney còn bà ngoại thích xem tuồng cổ. Trong những tình thế tích cực nào đó, cái tivi nơi bàn ăn cũng trở thành cầu nối tinh thần khi gia đình có chuyện cơm không lành canh không ngọt. Những bộ phim, bản nhạc, tin tức trên truyền hình được mở thường xuyên vừa tạo cho không khí gia đình bớt trống trải, vừa làm cho người ta có cớ để trò chuyện hàn gắn, hóa giải mâu thuẫn với nhau. Thế giới xoay quanh cái tivi thiệt là muôn hình vạn trạng. Đến nỗi, trong thời truyền hình cáp, đầu thu kỹ thuật số, có nhiều người cảm thấy chỉ cần một cái tivi và một chiếc remote là đủ, chẳng việc gì phải ra đường cho nhọc công. Phim truyền hình sản xuất sự mùi mẫn vô lượng vô biên, sẵn sàng đốt khét giờ giấc các bà nội trợ. Bóng đá hết giải quốc gia, quốc tế nọ đến giải ngoại hạng kia được truyền hình trực tiếp sẵn sàng đưa quý ông vào một thế giới đầy hào hứng của cảm giác thực mang sân cỏ về trong nhà mình, chừng nào chán cơm chán luôn phở thì đến quán cà phê bóng đá K+ khám phá màn hình phẳng vừa nghĩa đen vừa nghĩa bóng, đảm bảo tươi mát trước, trong và cả sau trận đấu.
Còn bọn trẻ ư? Tôi từng chứng kiến nhiều đứa trẻ chưa biết bập bẹ gọi ba, gọi mẹ đã có thể… nghểnh cổ hát theo một đoạn nhạc quảng cáo quen thuộc trên tivi, đơn giản vì chúng đã… coi tivi và thuộc các bản nhạc trong các clip quảng cáo từ trong bụng mẹ. Tivi giúp mẹ trẻ giải trí trong thai kỳ và qua đó, cũng chi phối cảm xúc của trẻ. Tivi giúp trẻ siêng ăn, siêng bú sữa hơn và dĩ nhiên, giờ xem tivi là phần thưởng hằng ngày cho những đứa đã kinh qua một mớ bài tập của chương trình học quá tải. Và cũng không khó hiểu khi nhìn đám trẻ tuổi teen thời bây giờ cứ thích làm duyên theo kiểu váy ngắn xếch xi (sexy), tóc hai lai, phúng phính môi má chụp ảnh 3D tặng nhau theo “xì tai” của mấy chàng, nàng trong các bộ phim tình mộng của Hàn Quốc hay các kênh ca nhạc lòe loẹt xỏn xẹn “ớ ờ ớ ờ, nói chung là iu đóa”, hay “ố ố la la ai đi qua lối đó” ! Tất cả là sản phẩm của tivi.
Có quá nhiều chuyện chứng minh tầm quan trọng của tivi, nó không chỉ là biểu tượng cho sự giàu có, của cải vật chất của một gia đình mà còn quyết định đời sống tinh thần, phương tiện giải trí và đem lại thông tin, sự hiểu biết thế giới cho nhiều người. Sẽ không quá khi nói rằng, nhiều người Việt Nam hôm nay sống không thể thiếu cái tivi. Một lần, trao đổi phỏng vấn một nghệ sĩ đương đại, tôi ngạc nhiên khi anh cứ khăng khăng khẳng định rằng người Việt hôm nay ghiền âm thanh. “Bạn thử để ý mà xem, người ta có thói quen về tới nhà là vớ remote bật tivi. Trong khi anh ta làm việc này việc kia thì tivi cứ việc nói”.
Từ phát hiện đó, tôi củng cố thêm suy nghĩ rằng, đến lúc người ta không chỉ dừng lại ở chỗ ghiền âm thanh mà nói rõ hơn, là không thể chấp nhận cảm giác tĩnh lặng và cô đơn. Tiếng nói, âm thanh thường trực cùng với những hình ảnh hoạt động trên màn hình cho người ta hình dung hay yên tâm về một thế giới đang tiếp diễn, chuyển động chung quanh. Người ta yêu tivi vì không muốn cuộc sống ngừng lại một giờ nào. Đó cũng là tình trạng tâm lý của con người trong thời công nghiệp. Cho nên, cũng phải rất cảm thông cho những cô cậu thất tình trên blog, cứ treo status rằng, “Tối qua, sau tin nhắn chia tay anh, em đã trở về căn phòng và nằm trong bóng tối một mình với một… cái tivi không tắt. Em thì ngủ, còn tivi thì vẫn nói suốt đêm”.
Vậy bảo sao người ta không xả thân lao mình trong dầu sôi lửa bỏng để cứu cái tivi? Càng phải cảm thông cho những cụ ông cụ bà đem chút sức mọn vác cái tivi trên vai đi liêu xiêu trong giá rét tìm nơi trú ẩn an toàn cho người và của trước sự đe doạ của thiên tai.
Người Nhật chỉ học được các kỹ năng để tự bảo vệ mình trước thiên tai. Nhưng trước thiên tai, nhân tai, người Việt không những biết tự bảo vệ mình mà còn… dư sức bảo vệ cả một cái tivi to đùng. Vì đó là tất cả thế giới của họ.
Càng hiểu hơn vì sao cho đến nay, để đo lường sự giàu có, không ít người vẫn lấy cái tiêu chí “sắm được ti vi” (và sau đó là tủ lạnh, xe máy) làm luận cứ.
Ghi chú để kết:
• Tên bài viết này nhại theo tên một bài hát làm nên tên tuổi của ca sĩ lừng danh Michael Jackson.
• Tất cả những sự liệu và hình ảnh được nêu ra trong bài viết này là do tác giả ghi chép từ… tivi. Bạn có tin là những gì trên tivi đều rất đáng tin không?
• Bài viết này không thể phân tích sâu và đưa nhiều thông tin hấp dẫn hơn vì đã đến giờ tác giả phải đi xem chương trình thời sự cuối ngày.
Mong bạn đọc thông cảm!