Thiếu Nữ Đeo Hoa Tai Ngọc Trai

1664 (3)

Mấy tuần sau khi tôi bắt đầu làm cho nhà họ, một sáng Maertge khăng khăng đòi đi cùng tôi đến Khu Hàng cá. Cô bé thích chạy qua Quảng trường Chợ, nhìn các thứ vuốt ve các chú ngựa, tham gia vào các trò chơi của những đứa trẻ khác, ăn thứ món cá hun khói ở nhữnghàng khác nhau. Cô bé thọc vào sườn tôi trong lúc tôi đang muacá trích và hét lên.

- Nhìn kìa, chị Griet, nhìn cái diều kìa.

Cái diều trên đầu chúng tôi có hình một con cái với cái đuôi dài, gió khiến nó trông như đang bơi trong không khí, những con mòng biển chao lượn xung quanh. Trong lúc cười tôi thấy Agnes lởn vờn gần chúng tôi, đôi mắt emdán vào Maertge. Tôi vẫn chưa kể với Agnes rằng có một cô bé tầm tuổi emtrong ngôi nhà đó- tôi sợ chuyện đó làm em buồn và nghĩ rằng em đã bị người khác thay thế.

Đôi lúc, khi về thăm gia đình, tôi cảm thấy lúng túng khi kể cho họ bất cứ điều gì. Cuộc sống mới của tôi đã dần thay thế cuộc sống cũ.

Khi Agnes nhìn tôi, tôi khẽ lắc đầu sao cho Maertge không nhìn thấy và quay đi để bỏ cá vào làn. Tôi rõ ra bận rộn - tôi không thể chịu đựng khi phải nhìn thấy nỗi đau trên khuôn mặt em. Tôi không biết Maertge sẽ làm giò nếu Agnes nói chuyện với tôi.

Khi tôi quay lại Agnes đã không còn ở đó.

Tôi sẽ phải giải thích với em khi tôi gặp em vào Chủ nhật. Tôi nghĩ giờ đây tôi có hai gia đình, và hai gia đình đó không được lẫn lộn với nhau.

Sau đó tôi luôn cảm thấy xấu hổ khi mình đi quay lưng lại với chính em gái mình.

Tôi đang ở bên ngoài phơi đồ, giũ từng món trước khi treo chúng thẳng thớm trên dây khi Catharine xuất hiện, thở nặng nề. Cô ta ngồi xuống cái ghế bên cạnh cửa, nhắm mắt lại và thở. Tôi tiếp tục việc mình đang làm như thể chuyện cô ta đến với tôi là hết sức bình thường nhưng cằm tôi nghiến lại.

- Họ đi chưa?- cô ta bất ngờ hỏi.

- Ai cơ, thưa cô?

- Họ, cái con bé ngốc nghếch này. Chồng tôi và… - đi xem họ đã lên tầng chưa.

Tôi thận trọng bước ra hành lang. Hai đôi chân đang đi trên cầu thang.

- Ông có giữ được nó không?- Tôi nghe tiếng ông hỏi.

- Được, được, tất nhiên. Ông biết là nó không nặng lắmmà, - một người đàn ông khác trả lời, giọng trầm đục như âm thanh từ giếng.- Chỉ hơi bất tiện chút thôi.

Họ lên đến bậc trên cùng cầu thang và vào xưởng vẽ. Tôi nghe tiếng cửa phòng đóng sập lại.

- Họ đi chưa?- Catharina rít lên.

- Họ đang ở trong xưởng vẽ, thưa cô, - tôi trả lời.

- Tốt. Giờ thì giúp tôi đứng dậy.

Catharina chìa tay ra và tôi kéo cô ta đứng lên. Tôi không nghĩ cô ta có thể to ra nhiều thế và vẫn cố đi lại được. Cô ta di động dọc theo hành lang như một con tàu đang chỡ nặng, ép chùm chìa khóa vào người để chúng không kêu leng keng và biến vào phòng lớn.

Sau đó tôi hỏi Tanneke tại sao Catharine lại trốn.

- À, ngài Leeuwenhoek ở đây, - chị ta trả lời, cười khúc khích. - Một người bạn của ông chủ. Cô chủ sợ ông ấy.

- Tại sao?

Tanneke thậm chí còn cười hơn.

- Cô chủ làm vỡ hộp của ông ấy. Cô ấy đang nhìn vào đó thì làm nó đổ. Cô biết cô ấy vụng về thế nào rồi đấy.

Tôi nghĩ đến con dao của mẹ quay tròn trên nền nhà.

- Cái hộp nào?

- Ông ấy có một cái hộp gỗ mà cô nhìn vào đó và thấy các thứ.

- Thứ gì?

- Mọi thứ!- Tanneke trả lời vẻ mất kiên nhẫn. Rõ ràng là chị ta không muốn nói chuyện về cái hộp. - Cô chủ làm vở cái và ngài Leeuwenhoek giờ đây không muốn nhìn thấy cô ấy. Đó là lý do tại sao ông chủ không cho cô chủ vào xưởng vẽ trừ khi ông ấy ở đó. Chắc ông ấy sợ cô ta làm đổ bức tranh!

Tôi đã phát hiện ra cái hộp gì đó vào buổi sáng hôm sau, ngày ông nói với tôi về những thứ mà phải hàng tháng trời tôi mới hiểu được.

Khi tôi vào lau chùi xưởng vẽ thì giá vẽ và ghế đã được dẹp sang một bên. Bàn vẫn ở chỗ cũ, đã được dọn sách giấy và tranh ảnh. Trên đó là một cái hộp gỗ nhỏ hơn được gắnvào bên thành và từ đó nhô ra một vật hình tròn.

Tôi không hiểu đó là cái gì nhưng tôi không dám đụng vào nó. Tôi đi xung quanh làm công việc lau chùi dọn dẹp, thỉnh thoảng lại liếc nhìn nó nhưthể bỗng dưng công dụng của nó sẽ trở nên rõ ràng với tôi.

Tôi dọn sạch góc phòng, sau đó dọn đến phần còn lại của căn phòng, phủi bụi cái hộp gỗ sao cho hầu như không dùng khăn chạm vào nó. Tôi dọn dẹp phòng kho và lau sàn. Khi đã làm xong, tôi đứng trước cái hộp, khoanh tay, đi xung quanh nghiên cứu nó.

Lưng tôi quay lại cửa nhưng bỗng dưng tôi biết rằng ông đang đứng đó. Tôi không hiểu là phải quay lại hay chờ ông lên tiếng.

Chắc là ông làm cánh cửa kêu, vì khi đó tôi có thể quay lại và đối mặt với ông. Ông đang đứng dựa vào cửa, khoác một cái áo choàng dài màu đen bên ngoài quần áo ngày thường. Ông tò mò quan sát tôi nhưng không có vẻ lo lắng rằng tôi sẽ làm hỏng cái hòm.

- Cô có muốn nhìn vào đó không? - ông hỏi. Đó là lần đầu tiên ông nói chuyện trực tiếp với tôi kể từ khi ông hỏi tôi về những miếng rau từ nhiều tuần trước.

- Vâng, thưa ngài, tôi muốn,- tôi trả lời mà không biết mình đang đồng ý cái gì. - Đó là cái gì vậy?

- Đó là hộp xem ảnh.

Những lời đó đối với tôi chẳng có ý nghĩa gì. Tôi đứng sang bên, xem ông mở khóa và nâng một phần nắp hộp lên. Cái nắp chia làm hai phần và được nối với nhau bằng bản lề. Ông chống nắp lên ở góc sao cho cái hộp được mở hé ra. Phía bên dưới có miếng kính nhỏ. Ông vươn người, hé nhìn vào khoảng giữa nắp và cái hộp, sau đó chạm vào miếng hình tròn ở cuối chiếc hộp nhỏ hơn. Ông dường như đang nhìn cái gì đó, mặc dầu tôi không nghĩ có gì nhiều trong chiếc hộp để phải quan tâm đến nhưvậy.

Ông đứng lên, nhìn vào góc nhà tôi đã lau chùi rất cẩn thận, sau đó vươn người ra và đóng cánh cửa chớp chỗ cửa sổ giữa, sao cho căn phòng chỉ còn được chiếu sáng bởi chiếc cửa sổ trong góc.

Sau đó ông cởi áo choàng.

Tôi bứt rứt chuyển từ chân này sang chân kia.

Ông bõ mũ ra, đặt nó lên trên ghế bên cạnh giá vẽ, trùm áo choàng lên đầu khi cúi người xuống cái hộp một lần nữa.

Tôi lùi lại một bước và nhìn khung cửa sau mình. Những ngày này Catharina chẳng có mấy mong muốn trèo lên cầu thang nhưng tôi tự hỏi Maria Thins, hay Cornelia hay bất kỳ ai khác sẽ nghĩ gì nếu nhìn thấy chúng tôi. Khi quay lại, tôi chăm chăm nhìn vào đôi giày ông sáng bóng lên vì vừa được tôi đánh ngày hôm trước.

Cuối cùng thì ông đứng thẳng lên và kéo cái áo choàng ra khỏi đầu, tóc tai rối bù.

- Nào Griet, xong rồi. Bây giờ cô nhìn đi.

Ông bước lùi ra xa, xa khỏi cái hộp và chỉ cho tôi đến đó. Tôi đứng nhưbịchôn chân tại chỗ.

- Thưa ngài.

- Trùm cái áo choàng lên đầu nhưtôi làm ấy. Khi đó hình ảnh sẽ rõ nét hơn. Và nhìn nó từ góc này để hình ảnh không bị lộn ngược.

Tôi không biết phải làm gì. Ý nghĩ tôi bị trùm kín bằng cái áo choàng của ông, không thể nhìn thấy gì, còn trong lúc đó ông thì nhìn tôi khiến tôi muốn ngất xỉu.

Nhưng ông là ông chủ của tôi. Tôi phải làm theo lời ông.

Tôi mìm cười, rồi sau đó bước đến gần cái hộp, về phía nắp đã được nâng lên. Tôi cúi người xuống và nhìn vào ô kính vuông màu sữa được gắn bên trong. Trên đó là một bức tranh lờ mờ về cái gì đó.

Ông nhẹ nhàng dùng cái áo choàng trùm lên đầu tôi đế nó che đi ánh sáng. Cái áo vẫn còn mang hơi ấm của ông và tỏa mùi những viên gạch khi bị ánh mặt trời thiêu đốt. Tôi đặt tay lên mặt bàn cho khỏi run và nhắm mắt lại trong giây lát. Tôi có cảm giác nhưmình uống phần bia buổi tối quá nhanh.

- Cô nhìn thấy cái gì nào? - tôi nghe thấy ông hỏi.

Tôi mở mắt ra và nhìn thấy bức tranh, không có người đàn bà trong đó.

- Ôi!

Tôi đứng vụt dậy khiến cái áo choàng tuột khỏi đầu và rơi xuống sàn nhà. Tôi lùi ra xa khỏi cái hộp, giẫm chân lên cái áo.

Tôi vội dịch chân ra.

- Thưa ngài, tôi xin lỗi. Tôi sẽ giặt cái áo ngay buổi sáng hôm nay,

- Không phải quan tâm chuyện cái áo, Griet. Cô thấy gì?

Tôi nuốt nước bọt. Tôi lung túng khủng khiếp, và hơi sợ một chút. Cái ở trong cái hòm là một trò bịp của quỷ sứ, hay một cái gì đó của những người theo đạo Thiên chúa mà tôi không hiểu được.

- Thưa ngài, tôi nhìn thấy bứctranh. Chỉ có điều là không có người đàn bà trong đó và nó nhỏ hơn. Còn mọi cái thì - đảo lộn.

- Đúng rồi, hình ảnh bị lộn ngược từ trên xuống dưới, từ trái qua phải. Có gương để chỉnh cái đó.

Tôi không hiểu ông đang nói gì.

- Nhưng.

- Sao?

- Tôi không hiểu, thưa ngài. Làm sao mà nó lại ở trong đó.

Ông nhặt cái áo choàng và giũ. Ông cười. Khi cười, khuôn mặt ông nhưmột cửa sổ đang mở.

- Cô có nhìn thấy cái này không? - ông chỉ vào vật tròn ở đầu chiếc hộp nhỏ hơn. - Đây gọi là ống kính. Nó được làm từ một mẫu kính cắt theo cách nhất định. Khi ánh sáng từ cảnh kia - ông chỉ ra góc- đi qua nó vào cái hộp, nó chiếu lên hình ảnh để chúng ta có thể nhìn thấy hình ảnh ở đây. Ông vỗ vào tấm kính đục.

Tôi nhìn ông thật chăm chú, cố gắng hiểu, đến mứcmắt tôi bắt đầu chảy nước.

- Hình ảnh là gì, thưa ngài? Tôi không biết từ đó.

Có cái gì đó thay đổi trên khuôn mặt ông, cứ nhưthể lúc trước ông nhìn qua vai tôi nhưng giờ đây đang nhìn tôi.

- Đó là bức ảnh, giống nhưmột bức tranh.

Tôi gật đầu. Hơn tất cả mọi điều, tôi muốn ông nghĩ rằng tôi có thể hiểu kịp những gì ông nói.

- Mắt cô rất to,- khi đó ông nói.

Tôi đỏ mặt.

- Tôi đã được nghe nói vậy, thưa ngài.

- Cô có muốn xem lần nữa không?

Tôi không muốn nhưng tôi biết rằng mình không thể nói nhưvậy. Tôi nghĩ trong giây lát.

- Tôi sẽ xem lần nữa, thưa ngài, nhưng chỉ khi tôi được ở lại một mình.

Trông ông ngạc nhiên, sau đó thì cười cười.

- Được thôi, - ông đáp. Ông chìa cho tôi cái áo choàng. - Mấy phútnữa tôi sẽ quay lại và sẽ gõ cửa trước khi bước vào.

Ông đi ra, khép cửa lại sau lưng mình. Tôi cầm cái áo choàng của ông, tay run run.

Trong giây lát tôi nghĩ mình có thể đơn giản giả vờ là đã xem và nói là đã xem. Nhưng ông sẽ biết là tôi nói dối.

Và tôi cũng tò mò. Khi không có ông đứng đó quan sát tôi thì việc xem cũng dễ dàng hơn. Tôi hít một hơi thật sâu và nhìn vào trong hộp. Tôi có thể nhìn thấy trong tấm kính đấy vết mờ mờ của cảnh ở góc phòng. Khi tôi đưa cái áo choàng lên đầu, hình ảnh. Như cách ông gọi, mỗi lúc một rõ - cái bàn, những cái ghế,tấm rèm vàng trong góc phòng, bức tường màu đen với tấm bản đồ treo trên đó, chiếc bình gốm sáng lên trên mặt bàn, chiếc chậu thiếc, chổi lông, bức thư. Tất cả đều ở đó, tập hợp lại trước mắt tôi trên một bề mặt phẳng, một bức tranh mà không phải là bức tranh. Tôi thận trọng sờ vào tấm kính - nó trơn và lạnh, không có dấu vết tranh vẽ trên đó. Tôi bỏ cái áo choàng ra và hình ảnh trông lờ mờ trở lại, dù rằng nó vẫn ở đó. Tôi lại trùm chiếc áo choàng lên người một lần nữa, che đi ánh sáng và quan sát những màu sắc óng ánh xuất hiện trở lại. Chúng dường như còn rực rỡ hơn và nhiều màu sắc hơn khi ở trên tầm kính so với khi chúng ở trong góc phòng.

Rời mắt khỏi cái hộp cũng khó như rời mắt khỏi bức tranh vẻ người đàn bà đeo chuỗi ngọc khi lần đầu tiên nhìn thấynó. Khi nghe thấy tiếng gõ cửa tôi chỉ có vừa đủ thời gian đứng thẳng dậy và để cho cái áo choàng tuột xuống vai trước khi ông bước vào.

- Cô có xem lần nữa không, Griet? Cô có xem cẩn thận không?

- Tôi đã xem, thưa ngài, nhưng tôi vẫn chưa hoàn toàn chắc chắn về những gì mình đã nhìn thấy, tôi chỉnh lại chiếc mũ.

- Thật ngạc nhiên, đúng không? Tôi cũng kinh ngạc như cô khi lần đầu tiên ông bạn chỉ cho tôi xem. 3

3

- Nhưng sao ngài lại nhìn vào đó khi mà ngài có thể ngắm tranh của chính mình?

- Cô chẳng hiểu gì cả, - ông vỗ tay vào cái hộp. - Đây là một công cụ. Tôi sử dụng nó để giúp tôi nhìn, để sao cho tôi có thể vẽ được.

- Nhưng... ngài dùng đôi mắt của mình để nhìn cơmà.

- Đúng rồi, nhưng đôi mắt của tôi không phải lúc nào cũng nhìn thấyhết mọi thứ.

Mắt tôi vụt lia tới góc phòng, cứ như thế chúng sẽ phát hiện được một điều gì đó bất ngờ được giấu từ trước, đằng sau chiếc bút lông, hiện ra từ bóng của tấm vải màu xanh.

- Griet, cô nói đi,- ông tiếp tục,- cô có nghĩ tôi chỉ đơn giản vẽ những gì có ở trong góc này?

Tôi nhìn bức tranh, không biết trả lời sao. Tôi có cảm giác nhưtôi đang bị đưa vào bẫy. Bất kể tôi trả lời thế nào cũng sẽ sai.

- Cái hộp xem ảnh giúp tôi nhìn theo cách khác, - ông giải thích. - Nhìn nhiều hơn những thứ ở đây.

Khi ông nhìn thấy vẻ ngơ ngác trên khuôn mặt tôi, chắc ông phải tiếc là đã nói nhiều đến thế với một người nhưtôi. Ông quay lai đi và đóng cái hộp lại. Tôi cởi cái áo choàng của ông ra và đưa lại cho ông.

- Thưa ngài…

- Cảm ơn cô, Griet, - ông vừa nói vừacầm cái áo từ tay tôi.- Cô đã dọn dẹp ở đây xong chưa?

- Thưa ngài, xong rồi ạ.

- Vậy thì cô có thể đi.

- Cảm ơn ngài, - tôi nhanh chóng thu dọn đồ dùng lau chùi của mình rồi đi ra, cánh cửa đóng lại sau lưng.

Tôi nghĩ về những điều ông nói, về việc cái hộp giúp ông nhìn thấy nhiều thứ hơn. Mặc dầu tôi không hiểu tại sao, tôi biết ông đúng vì tôi có thể nhìn thấy điều đó trong bức tranh vẽ người đàn bà, trong cả những gì tôi nhớ về bức tranh vẽ thành phố Delft. Ông nhìn sự vật theo cách những người khác không nhìn thấy, nên thành phố nơi tôi đã sống ở đó cả đời trởthành một nơi khác lạ, nên một người đàn bà trở nên xinh đẹp khi ánh sáng chiếu trên khuôn mặt cô ta.

Ngày hôm sau, lúc vào xưởng vẽ tôi nhìn vào chỗ cái hộp và nó đã không còn ở đó. Giá vẽ đã trở lại chỗ cũ. Tôi nhìn vào bức tranh. Trước kia tôi chỉ thấy những thay đổi rất nhỏ trong bức tranh. Giờ đây có một thay đổi dễ dàng nhận thấy - tấm bản đồ treo trên bức tường đằng sau người đàn bà đã được bỏ đi khỏi cả bức tranh và cả phông cảnh. Bức tường giờ đây trống trơn. Vì thế bức tranh trông đẹp hơn - nó đơn giản hơn, những đường nét của người đàn bà trở nên rõ nét hơn trên nền bức tường hơi nâu pha trắng. Nhưng sự thay đổi khiến tôi buồn - nó bất ngờ quá. Tôi không nghĩ ông sẽ làm nhưvậy.

Tôi cảm thấy bứt rứt khi rời xưởng vẽ và trong lúc đi lên Khu Hàng thịt tôi không nhìn xung quanh nhưmọi khi. Dù vẫn vẫy tay chào người hàng thịt quen nhưng tôi không dừng lại, thậm chí cả khi anh ta gọi tên tôi.

Pieter con đang trông quầy hàng một mình. Kể từ ngày đầu tiên đó, tôi đã gặp anh ta mấy lần, nhưng lúc nào cũng có mặt bố anh ta, anh ta đứng đằng sau bố trong lúc ông bố lấy tiền. Bây giờ anh ta nói.

- Chào cô Griet. Tôi đang tự hỏi khi nào cô sẽ đến.

Tôi nghĩ nói nhưvậy nghe thật ngốc nghếch vì ngày nào tôi chả mua thịt vào đúng giờ đó.

Mắt anh ta không nhìn vào mắt tôi.

Tôi quyết định không nhận xét gì về lời nói của anh ta.

- Anh cho ba pound bò để hầm. Và anh có còn loại xúc xích mà cha anh bán cho tôi ngày hôm trước không? Mấy cô bé thích mónđó.

- Tôi e không còn.

Một người đàn bà đến đứng sau lưng tôi, chờ đến lượt mình. Pieter con nhìn bà ta.

- Cô có thể chờ một chút được không? - anh ta thấp giọng nói với tôi.

- Chờà?

- Tôi muốn hỏi cô một chuyện.

Tôi đứng sang bên để anh ta có thể phục vụ cho người đàn bà kia. Tôi không thích chờ đợi như vậy khi trong người tôi bứt rứt đến thế nhưng tôi chẳng có mấy lựa chọn.

Khi anh ta đã xong việc và chúng tôi chỉ còn lại một mình, anh ta hỏi.

- Gia đình cô sống ở đâu?

- Oude Langendijck, ở Khu ngườiGia tô.

- Không không, gia đình của cô cơ.

Tôi đỏ mặt vì nhầm lẫn của mình:

- Cách xa Kênh Rietveld, gần Cổng thành Koe. Tại sao anh lại hỏi.

Cuối cùng thì đôi mắt anh ta cũng nhìn thẳng vào mắt tôi.

- Có thông báo về bệnh dịch hạch ở khu vực đó.

Tôi lùi lại một bước, mắt mở to:

- Có lênh cách ly chưa?

- Chưa. Người ta đang định hôm nay.

Về sau tôi mới nhận ra rằng chắc anh ta đã phải hỏi những người khác về tôi. Nếu anh ta không biết từ trước nơi gia đình tôi sống, anh ta sẽ không bao giờ để nói cho tôi chuyện đó.

Tôi không nhớ từ đó tôi đã đi về như thế nào. Chắc là Pieter con để thịt vào làn cho tôi. Tất cả những gì tôi biết là tôi về đến ngôi nhà, thả chiếc làn xuống chân Tanneke và nói:

- Tôi cần phải gặp cô chủ.

Tanneke lục lọi chiếc làn:

- Không có xúc xích mà cũng chẳng có gì thay cho xúc xích. Cô bị làm sao thế hả? Quay lại Khu Hàng thịt ngay.

- Tôi cần phải gặp cô chủ,- tôi nhắc lại,

- Sao vậy,- Tannke trở nên tò mò. - Cô có làm gì sai trái không đấy hả?

- Gia đình tôi có thể bị cách ly. Tôi phảivề với họ.

- Ôi, - Tanneke cựa mình vẻ không chắc chắn. - Tôi không biết gì về chuyện đó. Cô sẽ phải hỏi. Cô ấy đang ở cùng bà chủ.

Catharina và Maria Thins đang ở trong phòng Chúa Giê su bị đóng đinh trên thánh giá. Maria Thins đang hút tẩu. Họ ngừng nóichuyện khi tôi bước vào.

- Chuyện gì vậy hả cô hầu gái?- Maria Thins cằn nhằn.

- Thưa cô, - tôi hướng tớiCatharina, - tôi nghe nói khu phố nơi gia đình tôi ở có thể bị cách ly. Tôi muốn về thăm họ.

- Cái gì, và mang bệnh lại đâyà? - cô ta đập tay.- Chắc chắn là không. Cô điên đấyà?

Tôi nhìn Maria Thins làm Catharina càng điên tiết hơn.

- Tôi đã nói không, - cô ta tuyên bố. - Tôi mới là người quyết định cô có thể làm gì và không thể làm gì. Cô quên rồià?

- Không, thưa cô, tôi cụp mắt nhìn xuống.

- Chủ nhật cô cũng khôngđược về nhà cho tới khi mọi thứ an toàn. Bây giờ thì đi đi, chúng tôi có chuyện phải bàn, không cần cô cứ luẩn quẩn ở đây.

Tôi đem đống đồ giặt giũ ra sân sau rồi ngồi ngoài đó quay lưng lại cửa để không phải nhìn thấy ai. Tôi khóc trong lúc vò một cái váy của Maertge. Khi ngửi thấy mùi chiếc tẩu của Maria Thins, tôi chùi mắt nhưng cũng không quay lại.

- Cô gái, cô đừng có ngốcnghếch, - Maria Thins nói nhẹ nhàng sau lưng tôi. - Cô không thể làm gì cho họ được và cô phải giữ gìn cho bản thân. Cô là một cô gái thông minh và cô có thể hiểu được điều đó.

Tôi không trả lời. Một lát sau tôi đã không còn ngửi thấy mùi tẩu của bà nữa.

Buổi sáng hôm sau ông bước vào khi tôi đang quét dọn xưởng vẽ.

- Griet, tôi lấy làm tiếcphải nghe về sự không may của gia đình cô.

Từ cây chổi, tôi nhìn lên. Đôi mắt ông ánh lên vẻ tử tế và tôi cảm thấy có thể hỏi ông:

- Thưa ngài, liệu ngài có thể nói cho tôi biết lệnh cách ly đã được đưa ra chưa ạ?

- Rồi, sáng hôm qua.

- Cám ơn ngài đã nói cho tôi biết.

Ông gật đầu và định đi khi tôi nói:

- Thưa ngài, tôi có thể hỏi ngài thêm một chút được không ạ, về bức tranh.

Ông dừng lại nơi khung cửa:

- Gì vậy?

- Khi ngài nhìn vào cái hòm, nó có mách bảo ngài bỏ tấm bản đồ khỏi bức tranh không ạ?

- Có, nó có nói.

Khuôn mặt ông trở nên chăm chú như khi con cò trông thấy một con cá nó có thể bắt.

- Cô có thấy hài lòng là tấm bản đồ đã được bỏ đi không?

- Bức tranh bây giờ đẹp hơn.

Vào lúc khác, tôi không nghĩ mình dám nói một điều như vậy, nhưng nỗi hiểm nguy đối với gia đình đã khiến tôi trở nên liều lĩnh.

Nụ cười của ông khiến tôi phải nắm chặt chiếc chổi.

Tôi không thể nào làm việc tốt được. Tôi lo cho gia đình chứ không bận tâm việc tôi có thể lau nhà sạch sẽnhư thế nào hay giặt giũ những tấm khăn trải giường trắng ra làm sao. Trước đây không ai có thể nói gì về chuyện tôi chăm sóc nhà cửa cẩn thận, nhưng bây giờ ai cũng nhận thấy tôi cẩu thả như thế nào. Lisbeth kêu ca về chiếc tạp dề còn những vết bẩn. Tanneke cảm nhận rằng tôi quét nhà làm bụi bay lên dính đầy vào đĩa. Catharina la mắng tôi mấy lần - vì quên không là cổ tay áo của cô ta, vì mua cá tuyết trong khi tôi phải mua cá trích, vì để lửa tắt ngấm.

Maria Thins lẩm bẩm lúc đi ngang qua tôi ở hành lang:

- Vững vàng lên nào, cô gái.

Chỉ duy nhất ở xưởng vẽ là tôi có thể làm được như trước kia tôi vẫn làm, giữ lại sự chính xác mà ông cần.

Tôi không biết làm gì vào cái ngày Chủ nhật đầu tiên khi tôi không được về nhà ấy. Tôi cũng không được đi đến nhà thờcủa chúng tôivì cả nó cũng nằm trong vùng bị cách ly. Dù vây, tôi không muốn ở lại trong ngôi nhà, bất kể người Thiên chúa giáo làm gì vào các ngày Chủ nhật, tôi không muốn ở lại với họ.

Họ cùng nhau đi đến nhà thờ dòng tên ở góc phố Molenpoort. Mấy đứa con gái mặc những cái váy đẹp, thậm chí Tanneke còn thay một bộ váy len màu nâu hơi vàng và bế Johannes. Catharina bám vào tay chồng đi chậm rãi. Maria Thins khó lại cánh cửa sau lưng. Tôi đứng trên những viên gạch trước cửa ngôi nhà trong lúc họ đi khuất và nghĩxemmình phải làm gì. Tháp chuông Nhà thờ Mới trước mặt tôi bắt đầu đổ chuông báo giờ.

Tôi đã được rửa tội ở đó, tôi nghĩ. Chắc chắn họ sẽ cho tôi vào dự lễ.

Tôi rón rén đi vào một khoảng không bao la, cảm thấy mình như con chuột nấp trong nhà một người giàu có. Bên trong mát mẻ và hơi tối, những chiếc cột tròn nhẵn thín vươn lên,trần nhà cao tít bên trên như thể chạm đến bầu trời. Đằng sauchiếc bục của mục sư là ngôi mộ khảm đá cẩm thạch vĩ đại của William Hoàng đế.

Tôi chẳng nhìn thấy ai quen biết, chỉ có những người mặc những bộ quần áo trang nhã mà cả vải và cách cắt may đều đẹp hơn bất cứ bộ nào tôi từng có. Tôi đứng nấp sau một chiếc cột để dự buổi lễ mà hầu như tôi chẳng nghe thấy gì, tôi quá căng thẳng về chuyện ai đó có thể tiến lại và hỏi tôi đang làm gì ở đây. Đến cuối buổi lễ tôi lẻn ra thật nhanh, trước khi có người đến được gần tôi. Cửa vẫn đóng và khóa im ỉm. Chắc buổi lễ của người Thiên chúa kéo dài hơn buổi lễ của chúng tôi, tôi nghĩ.

Tôi đi xa hết mức có thể về phía nhà tôi và chỉ dừng lại khi đến một chạm gác có người lính đứng chặn đường.

- Thế nào rồi?- tôi hỏi người lính, - trong kia ấy.

Anh ta nhún vai và không trả lời. Trông anh ta thật nóng nực trong cái áo choàng và mũ vì mặc dù mặt trời chưa lên nhưng không khí ấm áp và ngột ngạt.

- Có danh sách không? Những người đã chết ấy? - tôi gần như không thể nói ra lời.

- Vẫn chưa.

Tôi không ngạc nhiên, danh sách luôn chậm trễ, và thường không đầy đủ. Những lời truyền miệng thường chính xác hơn.

- Anh có biết... anh có nghe nói liệu ông Jan thợ vẽ gạch....

- Tôi không biết gì về bất cứ ai ở đây. Cô sẽ phải chờ.

Tôi gắng nói chuyện với một người lính khác ở trạm gác trên một phố khác. Mặc dù có vẻ thân thiện hơn, anh ta cũng không thể nói cho tôi biết gì hơn về gia đình tôi.

- Tôi có thể hỏi quanh đây, nhưng không phải không công,- anh ta nói thêm, cười và nhìn tôi từ đầu đến chân để tôi biết anh ta không định nói đến chyện tiền nong.

- Anh không thấy xấu hổ à? - tôi đập lại, - lợi dụng những người đang trong tình cảnh khổ sở như thế.

Nhưng anh ta không tỏ vẻ xấu hổ. Tôi đã quên mất lính tráng khi nhìn thấy gái trẻ thì chỉ còn nghĩ đến mỗi một điều.

Khi tôi về đến phố Oude Langendijck, tôi cảm thấy nhẹ cả người khithấy ngôi nhà mở cửa. Tôi lẻn vào trong và cả chiều trốn ở sân nhỏ với cuốn kinh. Buổi tối tôi chẳng ăn uống gì mà chui luôn vào giường, bảo với Tanneke là tôi bị đau bụng.

Ở chỗ hàng thịt, trong lúc ông bố đang bận rộn với ai đó, Pieter con kéo tôi sang một bên.

- Cô đã có tin tức gi về gia đình chưa?

Tôi lắc đầu:

- Chẳng ai có thể nói gì cho tôi được cả.

Tôi không nhìn anh ta. Sự quan tâm của anh ta khiến tôi cảm thấy mình như vừa bước chân khỏi con thuyền và mặt đất đang tròng trành dưới chân tôi.

- Tôi sẽ tìm hiểu cho cô, - Pieter tuyên bố. Giọng của anh ta cho thấy rõ là tôi không nên tranh luận với anh ta.

- Cảm ơn anh, - tôi đáp lời sau một khoảng im lặng dài. Tôi tự hỏi không biết mình sẽ làm gì nếu anh ta thực sự tìm ra được điều gì đó. Anh takhông đòi hỏi điều gì như gã lính, nhưng tôi sẽ mang ơn anh ta. Tôi không muốn phải mang ơn ai cả.

- Có thể phải mất mấy ngày đấy, - Pieter lẩm bẩm trước khi anh ta quay sang đưa cho ông bố lá gan bò. Anh ta chùi tay vào tấm tạp dề. Tôi gật đầu, đôi mắt nhìn vào tay anh ta. Chỗ kẽ móng tay dính đầy máu.

Tôi nghĩ tôi sẽ phải quen với cảnh đó.

Tôi mong đến lúc đi làm việc vặt còn hơn mong đến lúc lau chùi dọn dẹp. Dẫu vậy, tôi cũng sợ nó, đặc biệt những giây phút Pieter con ngẩng đầu lên khỏi công việc và nhìn thấy tôi, tôi tìm câu trả lời trong đôi mắt anh ta. Tôi muốn biết, dù vậy, chừng nào tôi chưa biết thì còn có thể hy vọng.

Đã mấy ngày trôi qua kể từ khi tôi mua thịt của anh ta hoặc đi ngang qua hàng anh ta sau khi đã mua cá và anh ta chỉ đơn giản lắc đầu. Sau đó, một hôm anh ta ngẩng đầu lên rồi nhìn đi chỗ khác và tôi biết anh ta sẽ nói gì. Tôi không biết đó là ai.

Tôi phải chờ cho đến khi anh ta bán xong cho mấy khách hàng. Tôi cảm thấy nôn nao đến mức muốn ngồi xuống nhưng nền quầy hàng dính đầymáu.

Cuối cùng thì Pieter con cởi tạp dề và đi đến bên tôi.

- Em gái cô, Agnes,- anh ta nói nhẹ nhàng. - Cô bé rất ốm.

- Thế còn cha mẹ tôi.

- Cho đến bây giờ thì họ vẫn mạnh khỏe.

Tôi không hỏi anh ta phải mất những gì để tìm hiểu được cho tôi.

- Cảm ơnanh, Pieter, - tôi thì thầm.- Đây là lần đầu tiên tôi gọi tên anh ta.

Tôi nhìn vào đôi mắt anh ta và thấy trong đó lòng tốt. Tôi cũng nhìn thấy cái mà tôi sợ - sự mong chờ. -

o O o

Đến chủ nhật thì tôi quyết định đi thăm cậu em trai. Tôi không biết nó có biết gì về việc cách ly hay Agnes không. Tôi rời khỏi ngôi nhà từ sớm và đi bộ đến xưởng nơi học việc, phía bên ngoài thành phố và không xa cổng thành Rotterdam. Khi tôi đến, Frans vẫn còn đang ngủ. Người đàn bà đã trả lời tôi ngoài cổng cười khi tôi gặp Frans.

- Nó sẽ còn ngủ hàng giờ nữa, - bà ta trả lời. - Bọn nó ngủ cả ngày Chủ nhật, cái đám học việc ấy. Ngày nghỉ của tụi nó mà.

Tôi không thích cách nói của bà ta, cả những gì bà ta nói.

- Làm ơn đánh thức cậu ấy dậy và bảo chị gái của cậu ấy ở đây, - tôi yêu cầu, giọngtôi hơi giống giọng Catharina.

Người đàn bà nhướng mày.

- Tôi không biết là Frans xuất thân từ một gia đình cao quý đến thế để họ lên giọng với người khác cơ đấy.

Bà ta biến mất và tôi không biết liệu bà ta có buồn đánh thức Frans không. Tôi ngồi lên một bức tường thấp chờ đợi. Một gia đình đi ngang qua tôi trên đường đi lễ. Bọn trẻ con, hai đứa con gái và hai đứa con trai, chạy phía trước bố mẹ, cũng như chúng tôi ngày xưa. Tôi dõi theo cho đến khi bóng họ khuất hẳn.

Cuối cùng thì Frans cũng xuất hiện, tay đang xoa mặt cho hết buồn ngủ.

- Ôi, chị Griet. Em không biết đó là chị hay Agnes nữa. Em nghĩ là Agnes không đi xa thế một mình được,- cậu nói.

Cậu còn chưabiết. Tôi không thể giấu cậu, thậm chí là nói một cách nhẹ nhàng cũng không.

- Agnes đang bị bệnh dịch hạch,- tôi thốt ra.- Lay Chúa cứu vớt em và gia đình chúng ta.

Frans ngừng xoa amựt. Mắt cậu đỏ hoe.

- Em Agnes à? - cậu lúng túng nhắc lại. Làm sao chị biết chuyện này.

- Có người tìm hiểu giúp chị.

- Chị không gặp cả nhà à?

- Ởđó đang bị cách ly.

- Cách ly á? Bao lâu rồi?

- Cho đến bây giờ là mười ngày.

Frans giận giữ lắc đầu.

- Em chẳng nghe ai nhắc đến chuyện đó cả. Vùi đầu vào cái xưởng này ngày này qua ngày khác, chẳng nhìn thấy gì ngoài những viên gạch trắng. Em nghĩ em phát điên mất.

- Bây giờ thì em sẽ phải nghĩ về Agnes.

Frans cúi đầu vẻ đau khổ. Cậu đã cao lên nhiều kể từ khi tôi gặp cậu mấy tháng trước. Giọng cũng trầm hơn.

- Frans, em vẫn đi nhà thờ đấy chứ?

Cậu nhún vai. Tôi không thể buộc mình hỏi cậu thêm được nữa.

- Bây giờ chị đang định đi cầu nguyện cho cả nhà, em có đi cùng với chị không? - thay vào đó tôi hỏi.

Cậu không muốn đi nhưng tôi cố thuyết phục - phải tôi không một lần nữa phải một mình đối mặt với nhà thờ xa lạ. Chúng tôi thấy một nhà thờ không xa đó lắm và mặc dù buổi lễ không an ủi được tôi, tôi cầu nguyện rất nhiệt thành cho gia đình mình.

Sau đó Frans và tôi đi dọc bờ sông Schie. Chúng tôi nói rất ít nhưng mỗi người đều biết người kia đang nghĩ gì - cả hai chúng tôi đều chưa nghe nói có ai đó bình phục một khi đã mắc bệnh dịch hạch.

Một buổi sáng khi Maria Thins đang mở cửa xưởng vẽ cho tôi, bà nói:

- Rất tốt, cô gái. Hôm nay dọc góc phòng kia.

Bà chỉ vào góc phòng mà ông vẫn vẽ. Tôi không hiểu bà định nói gì.

- Mọi thứ trên mặt bàn phải cất vào ngăn tủ trong phòng kho, - bà tiếp tục, - chỉ trừ cái bát và cái chổi lông của Catharina. Tôi sẽ cầm nó theo,- bà đến bên cái bà và cầm lên hai thứ trong số những vật mà trong suốt nhiều tuần tôi đã cẩn thận đến thế giữchúng ở nguyên một chỗ.

Khi nhìn thấy vẻ mặt tôi, bàbậtcười.

- Đừng lo, ông ấy vẽ xong rồi. Ông ấy không cần nữa. Khi cô dọn xong ở đây, hãy đảm bảo là có lau bụi tất cả mọi cái ghế và xếp chúng ra cạnh cửa sổ giữa. Và mở mọi cửa chớp ra.

Bà đi ra, cầmtheo cái bát thiếc.

Không có cái bát và cái chổi lông, mặt bàn bị biến thành một bức tranh tôi không thể nhận ra. Lá thư, tấm vải, chiếc bình gốm nằm đó chẳng có ý nghĩa gì, cứ như thể đơn giản ai đó để chúng lên mặt bàn. Dù vậy, tôi cũng không thể tưởng tượng việc di chuyển chúng.

Tôi lần nữa việc đó bằng cách đi làm những việc khác. Tôi mở toang tất cả các cánh cửa chớp, khiến cho căn phòng sáng lên và trông rất lạ, sau đó phủi bụi và lau chùi mọi ngóc ngách chỉ chừa cái bàn. Tôi nhìn bức tranh một lát, cố gắng tìm hiểu xem giờ đây điều khác biệt nào khiến nó thành bức tranh hoàn chỉnh. Trong vòng mấy ngày cuối tôi thấy chẳng có sự thay đổi nào.

Tôi vẫn còn đang trầm tư khi ông bước vào.

- Griet, cô vẫn chưa lau dọn xongà? Nhanh lên chứ, tôi đến để giúpcô chuyển cái bàn.

- Tôi xin lỗi, tôi làm chậm quá, thưa ngài. Đó là vì..., - ông có vẻ ngạc nhiên thấy tôi muốn nói điều gì đó,- tôi đã quá quen với những đồ vật ở chỗ của chúng nên ghét phải di chuyển.

- Tôi hiểu. Vậy thì tôi sẽ giúp cô.

Ông nhặt tấm vải xanh lên khỏi bàn và chìa ra. Tay ông rất sạch.Tôi cầm tấm vải mà không chạm vào tay ông và đem ra cửa sổ để giũ. Rồi sau đó tôi gấp nó lại và đặt vào ngăn tủ trong phòng kho. Khi tôi quay trởlại, ông đã thu dọn lá thư cùng chiếc bình gốm màu đen và cất chúng đi.Chúng tôi dịch cái bàn sang một bên phòng và tôi đặt những cái ghế cạnh cửa sổ trong khi ông chuyển giá vẽ và bức tranh vào góc phòng, nơi phong cảnh được dựng lên.

Thật kỳ dị khi nhìn thấy bức tranh trong phông cảnh của nó. Tất cả đều thật lạ lẫm, sự thay đổi bất ngờ này, thay đổi sau hàng tuần yên bình và tĩnh lặng. Điều đó không giốngông. Tôi không hỏi ông tại sao. Tôi muốn nhìn ông, đoánxem ông đang nghĩ gì, nhưng tôi chỉ chăm chú vào chiếc chổi, lau chỗ bụi tung ra từ tấm vải xanh.

Ông để tô ở lại và tôi nhanh chóng kết thúc công việc, không còn muốn nán lại trong xưởng vẽ nữa. Ở đó không còn có cảm giác thoải mái.

Buổi chiều hôm đó ngài Ruijven và vợ ghé thăm. Tanneke và tôi đang ngồi trên cái ghế băng trước nhà và chị tachỉ cho tôi cách chữa cổ tay áo ren. Mấy đứa con gái đã đi ra Quảng trường Chợ và đang thả diều giấy ở gần Nhà thờ Mới, nới chúng tôi có thể nhìn thây chúng. Aleydis giữ một đầu dây trong khi Cornelia giật cho chiếc diều bay lên bầu trời.

Tôi nhìn thấy hai vợ chồng ngài Ruijven đi đến từ rất xa. Khi họ đến gần, tôi nhận ra cô ta từ bức tranh và cuộc gặp gỡ ngắn ngủi của tôi với cô ta và nhận raông talà người đàn ông để ria mép với chiếc lông trắng trên mũ và nụ cười ngọt xớt, người đã có lần đưa cô ta đến tận cổng nhà.

- Nhìn kìa, Tanneke, tôi thì thầm, kia là quí ông ngắm bức tranh vẽ chị hàng ngày đấy.

- Ôi!

Tanneke đỏ mặt khi nhìn thấy họ. Chỉnh lại chiếc mũ và tạpdề của mình, chị ta giục.

- Đi bảo với cô chủ là họ đến đi!

Tôi chạy vào trong nhà và thấy Maria Thins và Catharina với đưá bé đang ngủ trong phòng. Chúa Giê su bị đóng đinh trên thánh giá.

Catharina và Maria Thins bỏ mũ ra và chỉnh lại cổ áo. Catharina bám vào bàn và kéo mình lên. Trong lúc họ rời căn phòng, Maria Thins vươn người và chỉnh lại cho ngay ngắn một rong những chiếc lược đồi mồi của Catharina mà cô ra chỉ dùng trong những dịp đặc biệt.

Họ chào đón những vị khách của mình ở phòng trước nhà trong lúc tôi loanh quanh ngoài hành lang. Trong lúc họ đi đến cầu thang, ngài Ruijven nhìn thấy tôi và đứnglại giây lát:

- Ai vậy?

Catharina cau mày nhìn tôi.

- Một trong những cô hầu. Tanneke, đem rượu đến cho chúng tôi.

- Để cô mắt to mang rượu lại cho chúng ta - ngài Ruijvven ra lệnh - Em yêu, lại đây - ông nói với vợ lúc này đang dợm bước lên cầu thang.

Tanneke và tôi đứng cạnh nhau, chị ta khó chịu, tôi lúng túng bởi sự chú ý của ông ta.

- Làm đi chứ!- Catharina hét lên với tôi.- Cô nghe thấy ông ấy nói gì rồi đây. Đem rượu lại đi.

Cô ta nặng nề theo sau Maria Thins lên cầu thang.

Tôi đi vào căn phòng nhỏ, chỗ mấy đứa con gái ngủ, tìm những chiếc cốc được cất ở đó, dùng tạp dề lau chùi năm chiếc rồi đặt chúng lên một cái khay. Sau đó tôi lục lọi trong bếp tìm rượu vang. Tôi không biết được cất ở chỗ nào vì họ không thường xuyên uống rượu vang. Tanneke đã giận dỗi biến đi. Tôi sợ rằng rượu được cất và khóa trong một trong những cái tủ và tôi sẽ phải hỏi mượn chìa khóa của Catharina trước mặt mọi người.

Thật may, Maria Thins đã đoán trước việc này. Trong phòng chúa Giê su bị đóng đinh trên thánh giá bà để lại một chiếc bình có nắp bằng thiếc, đựng đầy rượu. Tôi đặt nó lên khay và mang vào trong xưởng vẽ, trước tiên chỉnh lại mũ, cổ áo và tạp dề như những người khác đã làm.

Khi tôi bước vào họ đang đứng bên bức tranh.

- Lại trang sức một lần nữa, em có thấy sung sướng với nó không em yêu? - Ngài Ruijven đang nói với vợ.

- Tất nhiên, - cô ta trả lời. Ánh sáng chiếu qua cửa sổ lên khuôn mặt cô ta và trông cô ta gần như xinh đẹp.

Khi tôi đặt khay lên cái bàn mà sáng nay tôi và ông chủ đã di chuyển, bà Maria bướctới.

- Tôi sẽ tự làm, cô đi đi, nhanh lên nào,- bà thì thầm.

Tôi đã ở ngoài cầu thang khi nghe ngài Ruijven hỏi:

- Cô hầu mắt to đâu rồi?Đi rồi à? Tôi muốn nhìn cô ấy kĩ một chút.

- Không, không, nó có là cái gì đâu, - Catharina vui vẻ nói to. - Cái ngài muốn nhìn chính là bức tranh đấy chứ.

Tôi trở lại cái ghế băng trước nhà và ngồi xuống bên Tanneke giờ đây chẳng nói với tôi một lời. Chúng tôi ngồi trong im lặng, chữa cổ tay áo, nghe những giọng nói vọng ra từ khung cửa sổ bên trên.

Khi họ trở xuống, tôi lẩn vào trong góc đứng chờ, dựa lưng vào nhữn viên gạch ấm áp trên một bức tường ở Molenpoort cho đến khi họ khuất hẳn.

Sau đó, một người hầu trai từ nhà họ đến và biến vào xưởng vẽ bên trên. Tôi không thấy anh ta đi ra vì mấy đứa con gái trở về và muốntôi nhóm lửa cho bọn chúng nướng táo.

Buổi sáng hôm sau thì bức tranh đã không còn ở đó. Tôi đã không có cơ hội ngắm nhìn nó một lần cuối.

Buổi sáng hôm đó khi đến Khu Hàng thịt tôi nghe người đàn ông đằng trước nói lệnh cách ly đã được bãi bỏ. Tôi vội vã đi đến quầy bán thịt nhà Pieter. Cả hai cha conđều ở đó và mấy khách hàng đang chờ mua hàng. Tôi lờ họ đi và tiến thẳng đến bên Pieter con.

- Anh có thể bán cho tôi nhanh được không? Tôi cần về nhà mình. Chỉ ba pound lưỡi và ba pound xúc xích thôi.

Anh ta dừng việc đang làm dở, lờ đi những lời phản đối của người đàn bà lớn tuổi mà anh ta đang phục vụ.

- Tôi cho rằng nếu tôi còn trẻ và cười với anh thì anh cũng sẽ làm bấtcứ điều gì cho tôi, - bà ta quở trách khi anh ta đưa những cái gói cho tôi.

- Cô ấykhông cười, - Pieter đáp lại. Anh ta liếc nhìn bố, rồi đưa cho tôi một gói nhỏ hơn. - Đây là cho gia đình cô, - anh ta nói nhỏ.

Tôi thậm chí còn không thèm cảm ơn anh ta, tôi chộp lấy cái gói và chạy.

Chỉ có kẻ trộm và trẻ con mới chạy.

Tôi chạy suốt quãng đường về nhà.

Cha mẹ tôi ngồi cạnh nhau trên cái ghế băng trước nhà, đầu cúi xuống. Khi tôi đến bên họ, tôi cầm tay cha và đặt nó lên má tôi đẫm nước mắt. Tôi ngồi xuống bên họ, chẳng nói năng gì.

Chẳng có gì để mà nói. Khoảng thời gian sau đó thật là buồn tẻ. Những sự việc từng mang một ý nghĩa nào đó- sự sạch sẽ của đồ vật, đi làm việc vặt hàng ngày, xưởng vẽ tĩnh lặng đều mất đi ý nghĩa, mặc dù chúng vẫn ở đó, giống như những vết thâm trên một cơ thể lặn thành những cục u cứng bên dưới lớp da.

Đó là khoảng thời gian cuối hè, khi em gái tôi mất. Mùa thu đó trời mưa nhiều. Tôi mất nhiều thời gian phơi đồ giặt giũ lên giá trong nhà, chuyển chỗ cho chúng đến gần ngọn lửa, gắng sấy khô đồ trước khi chúng bị mốc nhưng không được làm cháy.

Tanneke và Maria đối xử với tôi khá tử tế khi họ biết về cái chết của Agnes. Tanneke gắng kiểm soát sự cáu kỉnh vài ngày, nhưng chẳng bao lâu chị ta lại giận dỗi, mắng mỏ, để tôi lại phải xoa dịu chị ta. Maria Thins nói ít nhưng để ý ngăn con gái bà khi Catharina trở nên gay gắtvới tôi.

Bản thân Catharina dường như không biết gì về em gái tôi, hoặc không tỏ ra là biết. Cô ta sắp sinh và như Tanneke dự đoán, phần lớn thời gian cô ta ở trên giường, để Johannes cho Maertge chăm sóc. Cậu bé đã bắt đầu tập đi khiến cho mấy đứa con gái bận rộn.

Mấy đứa con gái không biết tôi có một đứa em gáivà vì vậy không hiểu rằng tôi có thể mất đi một người em. Chỉ có Aleydis dường như cảm nhận thấy một điều gì đó không bình thường. Đôi lúc cô bé đến ngồi bên tôi, áp sát cơ thể vào cơ thể tôi như con chó con nép vào lòng mẹ tìm hơi ấm. Cô bé an ủi tôi theo cách đơn giản mà không ai có thể làm.

Một hôm Cornelia ra sân sau chỗ tôi đang phơi quần áo. Con bé đưa cho tôi một con búp bê cũ:

- Tụi em không chơi con búp bê này nữa, kể cả Aleydis. Chịcó muốn lấy cho em gái chị không?

Con bé mở to tròn đôi mắt ngây thơ và tôi biết chắc chắn nó đã nghe ai đó nói về cái chết của Agnes.

“ Không, chị cảm ơn.” Là tất cả những gì tôi có thể nói, giọng tôi gần như nghẹn lại ở mấy từ đó.

Con bé cười và chạy đi.

Xưởng vẽ vẫn trống không. Ông vẫn chưa bắt đầu bức tranh mới. Ông giành nhiều thời gian ra khỏi nhà, hoặc đến Giáo phường hoặc ở Machelen, ngôi nhà trọ của mẹ ông phía bên kia quảng trường. Tôi vẫnlau chùi xưởng vẽ, nhưng giờ đây nó trở nên giống như bất cứ một nhiệm vụ nào khác, chỉ là một căn phòng nữa cần lau chùi dọn dẹp.

Mỗi lần đến Khu Hàng thịt, tôi thấy khó xử khi bắt gặp ánh mắt Pieter con. Lòng tốt của anh ta khiến tôi đau đớn. Tôi phải đáp trả lại lòng tốt của anh ta nhưng tôivẫn chưa làm được.Tôi đáng lẽ phải sung sướng hãnh diện lắm, nhưng không. Tôi không muốn anh ta chú ý đến mình. Tôi đâm thích được bố anh ta phục vụ hơn, ông ta trêu chọc tôi nhưng không đòi hỏi bất cứ thứ gì ngoài việc nhận xét về thịt của ông ta. Mùa thu đó chúng tôiđược ăn thịt rất ngon.

Vào những ngày Chủ nhật, thỉnh thoảng tôi đến xưởng của Frans và giục cậu về nhà cùng tôi. Hai lần cậu đồng ý về,làm cha mẹ tôi vui lên chút ít. Mới chỉ một năm trước họ có ba đứa con ở nhà. Bây giờ họ chẳng còn đứa nào. Khi cả Frans và tôi ở nhà, chúng tôi gợi họ nhớ đến quãng thời gian tốt đẹp hơn. Một hôm thậm chí mẹ tôi còn cười, rồi im lặng và lắc đầu:

- Chúa trừng phạt chúng tavì chúng ta đã coi điều may mắn của mình là hiển nhiên, - bà nói. - Bây giờ chúng ta không được quên điều này.

Việc về thăm nhà cũng chẳng dễ dàng gì. Tôi nhậm ra sau khi phải xa nhà vài Chủ nhật trong thời gian cách ly,gia đình đã trở thành một nơi xa lạ. Tôi bắt đầu quên mẹ tôi để các thứ ở đâu, loại gạch nào ốp chỗ bếp lò, mặt trời chiếu như thế nào trong căn phòng vào những thời điểm khác nhau trong ngày. Chỉ sau vài tháng tôi đã có thể mô tả ngôi nhà ở khu người Gia tôi rõ hơn ngôi nhà của chúng tôi.

Đối với Frans thì việc về thăm nhà là đặc biệt khó khăn.Sau nhữngngày đêm dài ở xưởng, cậu chỉ muốn được cười đùa, trêu chọc, hay ít nhất là ngủ. Tôi nghĩ việctôi dỗ ngon dỗ ngọt em về nhà là để kết nối gia đình chúng tôi lại lần nữa. Tuy vậy, chuyện đó là không thể. Sau vụ tai nạn của cha tôi, chúngtôi đã trở thành một gia đình khác.

o O o

Một hôm vào Chủ nhật, khi tôi từ chỗ gia đình trở về, Catharina bắt đầu đau đẻ. Tôi nghe thấy tiếng cô ta rên rỉ khi tôi bước vào qua cửa trước. Tôi lén nhìn vào phòng lớn, nơi tối hơn bình thường- cửa sổ dưới được đóng lại để cô ta có được sự riêng tư. Maria Thins đang ở đó cùng Tanneke và bà đỡ. Khi Maria Thins trông thấy tôi, bà nói:

- Đi trông chừng bọn trẻ đi, tôi đã cho bọn nó ra ngoài chơi đấy. Sẽ khônglâu đâu, một tiếng nữa thì quay lại.

Tôi cảm thấy vui mừng được đi. Catharina đang gây ầm ĩ kinh khủng và có vẻ như không đúng lắm khi nghe cô ta la hét trong trạng thái này. Tôi cũng biết rằng cô ta không muốn có tôi ở đó.

Tôi tìm kiếm đám trẻ ở địa điểm chơi yêu thích của bọn chúng - Chợ Gia súc ở góc phố chúng tôi, nơi người ta bán súc vật sống. Khi tôi tìm thấy bọn chúng, đám trẻ đang chơi bi và đuổi nhau. Cậu bé Johannes chập chững đi đằng sau bọn chúng, đứa bé đi còn chưa vững, nửa đi, nửa bò. Đó không phải là trò mà chúng tôi được phép chơi vào những này Chủ nhật, nhưngnhững người Thiên chúa giáo có quan điểm khác.

Khi đã mệt, Aleydis đến ngồi bên cạnh tôi:

- Mẹ em sắp có em bé chưa? - cô bé hỏi.

- Bà nói sắp rồi, lát nữa chúng ta sẽ về và xem.

- Liệu bố em có thích không nhỉ?

- Chịnghĩ chắc chắn là có.

- Liệu bây giờ khi có thêm một em bébố em có vẽ nhanh hơn không nhỉ?

Tôi không trả lời. Những lời của Catharina đang thoát ra từ miệng một đứa trẻ. Tôi không còn muốn nghe thêm tí nào nữa.

Lúc chúng tôi quay về thì ông đang đứng trong khuôn cửa.

- Bố, mũ bố,- Cornelia hét lên.

Các cô bé chạy đến bên bố và cố giật lấy chiếc mũ thêu của người làm cha mà ông đang đội, những dải ruy băng của nó lơ lửng dưới tai. Trông ông vừa tự hào vừa lúng túng. Tôi ngạc nhiên - ông đã làm bố năm lần và tôi nghĩ ông quen với việc đó. Chẳng có lý do gì để ông lúng túng cả.

Chính Catharina là người muốn có nhiều con, khi đó tôi nghĩ vậy. Ông thì thà ở một mình trong xưởng vẽ.

Nhưng điều đó có thể khôngđúng. Tôi biết trẻ con được tạo ra như thế nào. Ông có vai diễn của mình và chắc chắn ông đã diễn rất nhiệt tình. Và khi Catharina trong tình trạng mệt mỏi, tôi thường thấy ông nhìn cô ta, chạm vào vai cô ta, trò truyện với cô ta bằng giọng nói ngọt ngào nhỏ nhẹ.

Tôi không thích nghĩ về ông như vậy, với vợ và những đứa con. Tôi thích nghĩ về ông một mình tong xưởng vẽ. Hoặc không phải một mình, nhưng chỉ là với tôi.

- Các con có thêm một em trai nữa, các con gái ạ, - ông nói. - Tên em là Franciscus. Các con có muốn nhìn em không? Ông dẫn bọn con gái vào bên trong, trong lúc tôi bị bỏ lại ngoài phố, tay dắt Johannes.

Tanneke mở cửa chớp của nhunữg cửa sổ dưới chỗ phòng lớn rồi vươn người ra.

- Cô chủ có khỏe không? - Tôi hỏi.

- Khỏe, cô ấy làm ầm ĩ cả lên nhưng xong rồi. Cô ấy phải làm vậy để sinh con- rặn chúng ra giống như bóc hạt dẻ ra khỏi vỏ. Nào bây giờ thì vào đi, ông chủ muốn đọc kinh tạ ơn.

Mặc dầu cảm thấy không thoải mái, tôi không thể từ chối đọc kinh cùng họ. Những người Tin lành cũng sẽ làm như vậy sau ca sinh nở mẹ tròn con vuông. Tôi bế Johannes vào phòng lớn, giờ đây đã sáng sủa hơn nhiều và đầy người. Khi tôi đặt cậu bé xuống, cậu lẫm chẫm đi ra chỗ các cô chị vây quanh chiếc giường. Rèm cửa được kéo lên và Catharina nằm dựa vào gối, ôm đầu đứa bé trong lòng. Mặc dầu kiệt sức, cô ta vẫn mỉm cười, ít nhất là lần này có tỏ ra hạnh phúc. Ông chủ tôi đứng bên cạnh, nhìn xuống cậu con trai mới sinh. Aleydis cầm tay ông. Tanneke và bà đỡ đang dọn dẹp chậu và những tấm ga trải giường vấy máu trong khi cô vú đứng đợi bên giường.

Maria Thins từ bếp bước vào mang một ít rượu vang và ba chiếc ly trên khay. Khi bà đặt khay xuống, ông buông tay Aleydis ra, bước xa khỏi giường và ông cùng Maria Thins quỳ xuống. Rồi sau đó đến lượt cô vú em, bọn trẻ và tôi, Johannes quờ quạng và khóc khi Lisbeth bắt nó ngồi.

Ông chủ tôi đọc lời kinh cầu nguyện Chúa, cảm ơn Người vì Franciscus đã được sinh raantoàn và Catharina bình yên. Ông thêm vài lời cầu nguyện của Thiên chúa giáo bằng tiếng Latinh mà tôi không hiểu, nhưng tôi chẳng để ý nhiều- ông có một giọng nói trầm, dịu dàng mà tôi thích nghe.

Khi ông cầu kinh xong, Maria Thins rót ra ba ly rượu vang rồi bà cùng ông và Catharina uống mừng sức khỏe đứa bé. Rồi sau đó Catharina đưa đứa bé cho vú em, và chị ta cho đứa bé bú.

Tanneke ra dấu cho tôi và chúng tôi rời căn phòng để lấy bánh mì và cá trích muối cho mấy đứa bé và bà đỡ.

- Bây giờ thì chúng ta sẽ phải chuẩn bị tiệc mừng sinh embé,- Tanneke nói trong lúc chúng tôi sắp xếp các thứ ra.- Cô chủ muốn một bữa tiệc thật to. Chúng ta sẽ phải chạy cuồng chân lên như mọi khi.

Bữa tiệc mừng sinh là buổi lễ lớn nhất mà tôi được chứng kiến trong ngôi nà đó. Chúng tôi có mười ngày để chuẩn bị - mười ngày dọn dẹp và nấu nướng. Maria Thins thuê hai cô gái trong một tuần để giúp Tanneke chuẩn bị thức ăn và giúp tôi dọn dẹp. Cô gái giúp tôi thì hơi đần nhưng được việc chừng nào tôi nói rõ phải làm gì và luôn để mắt tới cô ta. Chúng tôi mất một ngày để giặt tất cả các khăn trải bàn và khăn ăn sẽ dùng cho bữa tiệc, bất kể chúng sạch hay bẩn, cũng như mọi quần áo trong ngôi nhà - áo sơ mi, váy, mũ, cổ áo, khăn quàng, mũ, tạp dề, ga trải giường mấtthêm một ngày nữa. Rồi sau đó chúng tôi rửa sạch tất cả các cốc vại, ly, đĩa, đĩa đất nung, ấm đồng, chảo làm bánh, vỉ sắt, xiên nướng thịt, thìa, muối, cũng như những thứ khác chúng tôi mượn hàng xóm để chuẩn bị cho sự kiện này. Chúng tôi kì cọ những đồ dùng bằng đồng thau, đồng đỏ và bạc. Chúng tôi tháo rèm xuốngvà mang ra bên ngoài giũ bụi, giũ mọi tấm đệmvà thảm. Chúng tôi lau chùi, cọ sạch giường, tủ, bàn ghế, bệ cửa sổ, cho đến khi mọi thứ đều bóng lên.

Đến lúc xong thì bàn tay tôi nứt nẻ và rướm máu.

Ngôi nhà đã rất sạch sẽ để chuẩn bị cho bữa tiệc.

Maria Thins đặt hàng đặc biệt để mua thịt còn non, thịt bê, lưỡi, cả một con lợn, thỏ, gà lôi và gà trống thiến, sò, tôm, trứng cá muối và cá trích, loại rượu vang ngọt và bia hảo hạng, bánh ngọt loại đặc biệt ở chỗ người thợ nướng bánh.

Khi tôi đưa đơn đặt hàng thịt của Maria Thins cho Pieter bố, ông ta xoa tay:

- Vậy là thêm một miệng nữa phải nuôi. Càng tốt hơn cho chúng tôi,- ông ta tuyên bố.

Những bánh xe vĩ đại của Gouda và Edam 3 đến, và những cây atisô, rồi cam, chanh, bưởi, mận, hạnh nhân và quả phỉ. Thậm chí còn có một quả dứa được gửi đến, món quà của một người chị họ giàu có của maria Thins. Tôi chưa bao giờ được nhìn thấy quả dứa nào, và cũng không dám thử vì sợ cái vỏ có gai nhọn,xù xì của nó.Mà dù sao thì tôi cũng chẳng phải là người được ăn. Không có món nào là chúng tôi được phép, ngoại trừ nếm thử một chút đồ dư mà tanneke cho phép chúngtôi. Chị ta cho phép tôi thử một chút món trứng cá mà tôi không thích nhiều như công nhận với chị ta ta, chỉ vì sự xa xỉ của nó, và một chút rượu vang ngọt, thứ đồ uống có vị tuyệt vời pha với quế.

Củi và than dự trữ chất đống ở sân sau, xiên thịt được mượn từ bên hàng xóm. Những thùng bia xếp trong sân sau và lợn cũng được quay ở đây. Maria Thins thuê một cậu bé trông coi các bếp lửa sẽ cháy suốt cả đêm một khi chúng tôi bắt đầu quay lợn.

Suốt quá trình chuẩn bị Catharina nằm trên giường cùng Franciscus, được vú em chăm sóc, thanh thản như một con thiên nga. Dù vậy, cũng giống như một con thiên nga, cô ta có một cái cổ dài và mỏ nhọn. Tôi tránh xa cô ta.

- Cô ta lúc nào cũng muốn ngôi nhà như thế này hàng ngày, - Tanneke thầm thì với tôi trong lúc chị ta chuẩn bị món thỏ hầm nồi đất và tôi thì đang đun nước để kì cọ cửa sổ. - Cô ta muốn tất cả mọi thứ ở trong trạng thái vây quanh cô ta, bà hoàng của chăn đệm! - Tôi cười khúc khích cùng chị ta, dù biết rằng tôi không nên khuyến khích chị ta phản bội chủ nhưng tôi vẫn vui khi thấy chị ta như vậy.

Trong suốt quá trình chuẩn bị, ông luôn tránh xa, giam mình trong xưởng vẽ hay đến trốn đến Giáo phường. Tôi chỉ nhìn thấy ông có một lần, ba ngày trước bữa tiệc. Cô gái được thuê và tôi đang lau chùi những chân nến trong phòng bếp thì Lisbeth đến tìm tôi.

- Người bán thịt tìm chị, ở ngoài kia ấy,- cô bé nói.

Tôi buông giẻ lau, chùi tay vào tạp dề và đi theo cô bé ra hành lang. Tôi biết đó sẽ là anh con trai. Anh ta chưa bao giờ gặp tôi ở Khu người Gia tô. Ít nhất thì khuôn mặt tôi không bị nứt nẻ và đỏ như vẫn thường hay bị do cúi mặt bên thùng đồ giặt đang tỏa hơi nóng.

Pieter con đang đẩy đến trước ngôi nhà một chiếc xe hai bánh chất đầy những loại thịt mà Maria Thins đã đặt. Mấy đứa con gái đang nhìn vào đó. Chỉ có Cornelia nhìn xung quanh. Khi tôi xuất hiện ở khung cửa Pieter cười với tôi. Tôi giữ bình tĩnh và không đỏ mặt. Cornelia quan sát chúng tôi.

Con bé không phải là người duy nhất. Tôi cảm thấy sự có mặt của ông ở sau lưng mình - ông đã đi dọc hành lang sau lưng tôi. Tôi quay lại nhìn ông và thấy rằng ông đã nhìn thấy nụ cười của Pieter, và cả sự mong chờ trong đó nữa.

Ông chuyển đôi mắt nâu sang nhìn tôi, chúng lạnh lùng. Tôi cảm thấy chóng mặt, cứ như thể tôi đứng lên quá nhanh. Tôi quay lưng lại. Nụ cười của Pieter bây giờ đã bớt tươi. Anh ta thấy tôi bị chóng mặt.

Tôi cảm thấy bị mắc kẹt giữa hai người đàn ông. Đó không phải là một cảm giác dễ chịu.

Tôi đứng sang bên cho ông chủ đi qua. Ông đi sang phố Molenpoort mà chẳng liếc qua hay nói lời nào. Pieter và tôi nhìn ông đi trong im lặng.

- Tôi mang thịt theo đơn đặt hàng của cô đến đây,- anh ta nói. - Cô muốn tôi để ở đâu?

Chủnhật đó, khi về nhà thăm cha mẹ, tôi không muốn kể với họ là có một đứa bé mới được sinh ra. Tôi nghĩ chuyện đó sẽ khiến cha mẹ tôi nhớ đến chuyện họ mất đi Agnes. Nhưng mẹ tôi đã nghe được chuyện đó ngoài chợ nên tôi buộc phải kể cho họ nghe việc sinh đứa bé và việc cầu nguyện cùng gia đình họ và mọi việc chuẩn bị cho bữa tiệc. Mẹ tôi lo lắng về tình trạng đôi bàn tay tôi, nhưng tôi hứa với mẹ là những việc nặng nhọcnhất đều xong rồi.

- Thế còn bức tranh? Ông ấy đã bắt đầu vẽ bức mới chưa? - cha tôi hỏi. Ông luôn hy vọng là tôi sẽ miêu tả bức tranh mới cho ông nghe.

- Chẳng có gì cả,- tôi trả lời. Tuần đó rất ít khi tôi ở trong xưởng vẽ. Chẳng có gì thay đổi cả.

- Có lẽ ông ta lười nhác,- mẹ tôi nói.

- Ông ta không phải như vậy,- tôi đáp ngay.

- Có lẽ ông ấy không muốn nhìn thấy,- cha tôi nói.

- Con không biết ông ấy muốn gì, - tôi nói gay gắt hơn mong muốn. mẹ nhìn tôi. Cha tôi cựa mình trong ghế.

Tôi không nói gì thêm về ông nữa.

Đến tầm trưa ngày lễ, khách khứa bắt đầu đến. Cho đến chiều thì có vẻ có khoảng một trăm người trong và ngoài căn nhà, tràn ra cả sân sau và ngoài phố. Mọi kiểu người đều được mời, từ những thương gia giàu có cho đến ông thợ bánh, thợ may, thợ chữa giày, người bào chế thuốc của chúng tôi. Hàng xóm cũng góp mặt, mẹ và chị của ông chủ tôi, rồi chị em họ của Maria Thins. Những người thợ vẽ cũng ở đó và cả những thành viên khác của giáo phường. Ngài Leeuwenhoek, cả ngài Rujiven cùng vợ đềucó mặt.

Thậm chí cả Pieter cha cũng có mặt ở đó, không mặc chiếc tạp dề thâm máu, gật đầu và cười với tôi trong lúc tôi đi ngang qua với bình rượu pha gia vị.

- Chào cô, Griet, - ông nói khi tôi rót cho ông ít rượu, - con trai tôi sẽ ghen tỵ là tôi có đượcbuổi tối cùng cô.

- Tôi không nghĩ như vậy,- tôi vừa lẩm bẩm vừa len đi khỏi chỗ ông ta, cảm thấy lúng túng.

Catharina là trung tâm của mọi sự chú ý. Cô ta mặc một cái váy lụa màu xanh đã được sửa cho vừa với cái bụng vẫn chưa gọn lại. Bên ngoài cô ta khoác cái áo choàng đính lông chồn mà vợ ngài Rujiven đã mặc trong bức tranh. Trông nó thật là kỳ dị trên vai một người đàn bà khác. Tôi không thích cô ta choàng cái áo đó, mặc dầu tất nhiên đó là cô ta mặc đồ của mình. Cô ta còn đeo vòng cổ và hoa văn thật đẹp đẽ. Cô ta đã nhanh chóng bình phục sau ca sinh nở và giờ đây trông thật vui vẻ và yêu kiều, cơ thể cô ta đã được giải phóng khỏi gánh nặng nó phải mang trong nhiều tháng. Cô ta đi lại nhanh nhẹn qua các phòng, uống và cười với khách khứa, châm nến, gọi thức ăn, giới thiệu mọi người với nhau. Cô ta dừng lại chỉ để làm nhặng lên về Franciscus khi cậu bé đang được vú em cho bú.

Ông chủ của tôi trầm lặnghơn nhiều. Phần lớn thời gian ông đứng trong góc phòng lớn nói chuyện với ngày Leeuwenhoek, mặc dầu đôi mắt ông dõi theo Catharina khắp căn phòng trong lúc cô ta di chuyển giữa những người khách. Ông mặc một cái áo vest nhung đen thanh nhã và đội chiếc mũ dành cho các ông bố. Trông ông thoải mái dù không quan tâm lắm đến bữa tiệc. Đám đông không có sức hút với ông như với vợ ông.

Cuối buổi tối, ngài Ruijven cố dồn tôi vào chân tường trong hành lang khi tôi đi ngang qua đó với cây nến và một bình rượu.

- Này, cô hầu mắt to, - ông ta hét lên, ép người vào tôi. - Chào cô, cô gái của tôi. Ông ta dùng một tay giữ cằm tôi, tay kia nâng cao cây nến lên để soi khuôn mặt tôi. Tôi khôngthích cái cách ông ta nhìn tôi.

- Ông cần phải vẽ cô ấy,- ông ta nói qua vai.

Ông chủ của tôi đang ở đó. Ông đang cau mặt. Trôngông như đang muốn nói gì với người bảo trợ của mình nhưng không thể.

- Griet, lấy cho tôi thêm ít rượu nho, - Pieter cha xuất hiện từ căn phòng Chúa Giê su bị đóng đinh trên thánh giá và chìa chiếc ly ra cho tôi.

- Vâng, thưa ngài, - tôi giật cằm ra khỏi tay ngài Ruijven và nhanh chóng đến bên Pieter cha. Tôi có thể cảm nhận thấy hai cặp mắt dán trên lưng mình.

- Ôi, tôi xin lỗi, thưa ngài, hết rượu rồi. Tôi sẽ lấy thêm ở trong bếp, - tôi vội vã rời đi, tay ôm chặt chiếc bình sao cho họ không phát hiện ra là bình còn đầy.

Mấy phút sau, khi tôi quay lại thì chỉ còn Pieter cha ở đó, đứng tựa vào bức tường.

- Cám ơn ngài,- tôi nói nhỏ trong lúc rót rượu vào ly cho ông ta.

Ông ta nháy mắt với tôi.

- Thật đáng giá được cô gọi là ngài. Chắc là tôi chẳng bao giờ được nghe thế nữa, phải không? - Ông ta nâng ly lên chúc giả vờ và uống.

Sau bữa tiệc, mùa đông đã đến với chúng tôi và ngôi nhà trở nên lạnh lẽo, tẻ ngắt. Ngoài rất nhiều đồ phải giặt giũ, không còn có điều gì đó để trông ngóng. Những đứa trẻ, thậm chí cả Aleydis đều trở nên khó bảo, đòi hỏi phải chú ý, chẳng mấy khi giúp đỡ gì. Maria Thins ở trong phòng mình trên tầng nhiều hơn trước. Franciscus, đứa trẻ luôn ngoan ngoãn cho đến buổi tiệc mừng, bị cảm gió và khóc hầu như không ngớt. Nó tạo ra một âm thanh chói tai có thể nghe thấy khắp nơi trong ngôi nhà - ở sân sau, trong xưởng vẽ, trong hầm chứa. Căn cứ vào bản chất của cô ta, Catharina tỏ ra kiên nhẫn một cách đáng kinh ngạc với đứa trẻ, nhưng cáu kỉnh với bất kỳ ai, thậm chí cả với chồng.

Tôi đã cố gắng không nghĩ về Agnes trong thời gian chuẩn bị cho buổi tiệc, nhưng những kỷ niệm về em cứ quay trở về, thậm chí còn dữ dội hơn ngày xưa. Bây giờ, khi tôi có thời gian để nghĩ, tôi nghĩ quá nhiều. Tôi giống như một con chó liếm láp những vết thương của mình để cho sạch vết thương nhưng chỉ làm chúng đau hơn.

Tệ hơn cả, ông giận dữ với tôi. Từ cái đêm ông Ruijven dồn tôi vào góc tường, có thể là từ hôm Pieter con cười với tôi, ôngtrở nên xa lạ hơn. Tôi cũng có vẻ như hay gặp ông nhiều hơn trước. Mặc dù ông ra khỏi nhà khá nhiều, một phần là để trốn chạy tiếng khóc của Franciscus, tôi dường như luôn bước vào cửa trước khi ông chuẩn bị rời nhà, hay đi xuống cầu thang trong lúc ông chuẩn bị đi lên, hoặc quét phòng Chúa Giê su bị đóngđinh trên thánh giá khi ông ngó vào tìm Maria Thins ở đó. Một hôm khi đi làm việc vặt cho Catharina tôi thậm chí còn gặp ông ở Quảng trường Chợ. Lần nào ông cũng đều lịch sự gật đầu chào, sau đó bước sang bên để cho tôi đi qua mà không nhìn tôi.

Tôi đã làm ông giận, nhưng tôi không biết tại sao.

Xưởng vẽcũng trở nên lạnh lẽo, tẻ ngắt. Trước đó nó tạo cảm giác bận rộn và đầy mục đích - đó là nơi các bức tranh được vẽ ra. Giờ đây, mặc dù tôi nhanh chóng phủi đi bất cứ hạt bụi nào rơi xuống, nó chỉ đơn giản là một căn phòng trống, chẳng còn chờ đợi gì ngoài bụi. Tôi không muốn nó trở thành một nơi chốn buồn bã. Tôi muốn được ẩn trốn ở đó, như tôi đã làm.

Một buổi sáng Maria Thins đến mở cửa cho tôi và thấy rằng cửa đã mở. Chúng tôi nhìn vào căn phòng tranh tối tranh sáng. Ông đang ngủ bên bàn, gối đầu lên tay, lưng quay lại cửa. Maria Thins lùi lại.

- Chắc phải lên đây vì đứa bé khóc quá,- bà lẩm bẩm. Tôi cố nhìn lần nữa nhưng bà đã chắn lối. Bà nhẹ nhàng đóng cửa.- Kệ ông ấy. Cô có thể dọn dẹp ở đây sau.

Sáng hôm sau, vào đến xưởng vẽ tôi mở tất cả các cửa chớp và nhìn xung quanh phòng tìm kiếm một cái gì đó tôi có thể làm, một cái gì đó tôi có thể chạm vào mà không làm phật ý ông, một cái gì đó tôi có thể di chuyển mà không khiến ông để ý. Mọi thứ đều ở chỗ của nó - cái bàn, những cái ghế, bàn làm việc có sách và giấy, tủ với những cái cọ và dao được để cẩn thận trên nóc, giá vẽ được dựng vào tường, những bảngmàu sạch sẽ bên cạnh. Những vật ông đã vẽ được cất trong phòng kho hoặc lại được sử dụng trong nhà.

Một trong những chiếc chuông của Nhà thờ Mới bắt đầu điểm giờ. Tôi đến bên cửa sổ nhìn ra ngoài. Vào lúc đồng hồ điểm hết sáu tiếng tôi biết mình sẽ làm gì.

Tôi lấy một ít nước đã được đun nóng trên bếp,xà phòng, giẻ lau và mang chúng vào xưởng vẽ, nơi tôi bắt đầu lau chùi cửa sổ. Tôi phải đứng lên bàn để với tới những tấm kính trên cùng. Tôi đang lau chiếc cửa sổ cuối cùng thì nghe tiếng ông bước vào. Tôi quay đầu lại để nhìn ông qua vai mình, mắt mở to.

- Thưa ngài, - tôi lúng túng mở miệng. Tôi khôngbiết phải giải thích thế nào về động cơ lau chùi của mình.

- Dừng lại.

Tôi sững người, hoảng hốt rằng tôi đã làm trái ý ông.

- Đứng yên.

Ông chăm chăm nhìn tôi như thể một con ma bất thần xuất hiện trong xưởng vẽ của ông. - Tôi xin lỗi, thưa ngài, - tôi nói, thả miếng giẻ lau vào xô nước. - Lẽ ra tôi phải hỏi ngài trước. Nhưng hiện giờ ngài đang không vẽ gì và…

Trông ông bối rối, sau đó ông lắc đầu.

- À, những chiếc cửa sổ. Không sao, cô có thể tiếp tục việc đang làm.

Tôi ước gì không phải lau chùi trước mặt ông nhưng vì ông cứ đứng đó, tôi chẳng còn lựa chọn nào. Tôi nhúng miếng giẻ vào nước, vắt và bắt đầu lau những tấm kính lần nữa, cả bên trong lẫn bên ngoài.

Tôi lau chùi xong những chiếc cửa sổ và lùi lại để ngắm hiệu quả. Ánh sángchiếu vào nhìn trong trẻo.

Ông vẫn đứng đằng sau tôi.

- Thưa ngài, ngài có hài lòng không ạ?

- Quay nhìn tôi qua vai lần nữa nào.

Tôi làm như ông ra lệnh. Ông đang quan sát tôi. Ông lại quan tâm đến tôi.

- Ánh sáng, bây giờ nó rõ hơn,- tôi nói.

- Đúng rồi,- ông nói, - đúng rồi.

Buổi sáng hôm sau cái bàn được di chuyển trở lại góc vẽ và được phủ một tấm khăn trải bàn màu đỏ, vàng và xanh. Cái ghế được đặt dựa vào bức tường phía sau và một tấm bản đồ treo bên trên nó.

Ông đã lại bắt đầu.

Chú thích

(1)Đơn vị tiền tệ của Hà Lan vào thế kỷ 17.

(2)Phương pháp tẩy bằng cách phơi ra ánh nắng mặt trời được áp dụng vào thời cổ đại và trung đại ở Ai Cập, Trung Quốc, châu Âu và một số nơi ở châu Á.

(3)Tên hai thành phố phía tây Hà lan. Gouda là thành phố nổi tiếng với sản phẩm pho mát thế kỉ 17, Edam là thành phố cảng lớn.