Trên khoảng sân rộng, dưới bầu trời dìu dịu ánh trăng, từng cơn gió băng quãng trời rộng thênh thang qua cánh rừng, dòng sông, con suối thổi về làng mát mẻ, vào những đêm như thế này, trẻ con tụ tập chơi đùa rượt đuổi, thích thú với đứa lớn, những đứa nhỏ hơn ngồi cạnh ông lão già nhất trong thôn đòi kể chuyện. Chuyện nào cũng được ông kể lại nhiều lần, và đêm nay ông kể câu chuyện “Hạt Giống” đó là câu chuyện mà các bé thích nghe nhất. Giọng ông bùi ngùi, đôi mắt dõi xa, bắt đầu câu chuyện.
Tại một ngôi làng nọ, dưới chân núi, một tộc người chuyên sống bằng nghề săn bắt và trồng tỉa. Không ai đi ra ngoài để mang cái ánh sáng văn minh cũng như con chữ về cho người trong làng. Họ không biết ở bên ngoài cánh rừng của họ có một thế giới khác, văn minh, tiến bộ và trật tự. Hàng ngày khi ông mặt trời thức giấc, đàn ông lên núi săn bắt, phụ nữ trồng tỉa trên những ngọn đồi gần nhà. Cuộc sống tuy không giàu có, nhưng no đủ.
Trưởng làng là một lão già râu bạc hiền lành, với những phong tục tập quán xưa cũ, được truyền không biết bao đời. Điều khiến ngôi làng luôn xảy ra tranh chấp làm ông mệt mỏi chưa tìm ra phương pháp, thay đổi suy nghĩ và cách hành sự của người dân trong tộc. Đó là mạnh được yếu thua. Họ như những con thú hoang sống bằng bản năng. Trưởng làng luôn khấn vái trời đất phù hộ giải quyết vấn nạn, nếu không một ngày nào đó tộc người của ông sẽ diệt vong.
Trong giấc mơ ông được mách bảo: “Hãy đi về phía Đông trăm dặm sẽ gặp được sự giúp đỡ.” Trời chưa sáng ông cùng với cậu con trai út lên đường đi về hướng Đông. Bụng nghĩ thầm: “Đó là hướng từ nào tới giờ tộc của ông không đi tới, theo truyền thuyết, đó là xứ sở thần tiên không được đặt chân đến, có đi mà không về.” Thực hư thế nào ông chưa biết rõ, nhưng sự mâu thuẫn trong làng khiến ông lo ngại, dẫu có hy sinh ông cũng phải đem sự bình yên cho dân làng.
Đến ngày thứ hai, cậu con trai út lo lắng không kém cha mình. Cậu thưa cùng cha: “Thưa cha chúng ta có nên đi tiếp không?” Người cha trả lời: “Đây là sứ mạng của trưởng làng, sau này con kế vị cũng phải mang trọng trách này.” “Dạ, thưa cha!” Họ đi tiếp đến ngày thứ ba, thức ăn và nước uống sắp cạn, trong khu rừng thưa họ ngồi nghỉ chân khi nắng chiều sắp ngả về Tây. Suốt dọc đường, ngày đi đêm leo lên cây ngủ tránh thú hoang. Hai cha con trưởng làng định bụng ngày mai sẽ trở về, quãng đường đi đã quá xa, không còn hy vọng. Đột nhiên họ nghe tiếng kêu cứu từ rất xa, vội vàng lần theo hướng gió truyền tới. Một cô gái bị treo trên cây, đây là bẫy của thợ săn trước mùa Đông. Cô gái được cứu cảm ơn rối rít. Trước mắt, họ kiếm chỗ ngủ qua đêm, đi thêm mấy dốc đá họ phát hiện một hang động, cậu con út kiểm tra xong, bảo cha và cô gái vào bên trong, còn mình kiếm củi đốt lửa sưởi ấm, trời đêm nhiệt độ xuống thấp, gió từng cơn buốt da thịt.
Qua câu chuyện, được biết cô gái cùng nhóm bạn đến suối nước nóng dã ngoại, cô mải mê đi sâu vào rừng, nên lạc các bạn, rơi vào bẫy và được cha con trưởng làng cứu mạng. Đêm đó ông nằm suy nghĩ: “Chuyến đi chỉ cứu được một cô gái, đó cũng là số trời, đành trở về vậy.” Một cô gái từ cách ăn mặc đến đầu tóc điều khác phụ nữ trong làng của ông. Nơi cô nói đến hoàn toàn xa lạ ông không tưởng tượng ra được. Ông chép miệng dẫu sao còn mạng là mừng rồi.
Nói về cô gái. Cô không ngờ chuyến đi dã ngoại chia tay các bạn trước khi ra trường lại thành ra như thế này. Cô sợ hãi khi hai cha con ông lão đã cứu cô không biết gì về thế giới của cô, họ như tộc người trong truyền thuyết những câu chuyện bà kể cho cô nghe từ lúc nhỏ.
Điện thoại đã không còn liên lạc được với gia đình. Cô theo chân họ về làng với bao lo lắng trong lòng, thôi thì tới đâu tính tới đó vậy. Sau một thời gian cô hòa nhập vào cuộc sống ở đây, dân làng không xa lạ với cô nữa. Cô không muốn ăn không ở rồi, muốn làm gì đó để giúp dân làng trong thời gian chưa trở về nhà. Sau thời gian tìm hiểu được biết ở đây không có trường học. Sự tranh chấp cũng từ đây mà ra.
Cô thưa chuyện với trưởng làng muốn mở lớp dạy học cho các em. Trưởng làng vui mừng khôn xiết. Lớp học buổi đầu tiên được năm em vào lớp, số còn lại đứng bên ngoài nghe trộm, mấy ngày trước đó cô đã đi từng nhà vận động, thời gian đầu chỉ bấy nhiêu là cô vui rồi. Cô dạy cho các em học chữ, trước tiên viết tên mình, dạy các em biết lễ phép, vâng lời. Dạy các em biết xin lỗi và cảm ơn, điều này thật khó, ở đây không có khái niệm về xin lỗi và cảm ơn, họ chỉ tranh hơn thua, sự nóng giận trong lòng mỗi người không được kiểm soát. Thời gian trôi qua, các em đã vào lớp đông hơn, phải chia lớp ra. Cô soạn giáo án cho con trai út trưởng làng đứng lớp. Bây giờ các em đã hiểu thế nào là “xin lỗi”, thế nào là “cảm ơn”. Thái độ biết nhận lỗi làm dịu sự không bằng lòng của đối phương, và lời cảm ơn cũng thật đẹp khi ai đó giúp mình dù chuyện nhỏ nhất. Tất cả xuất phát từ yêu thương dành cho nhau, nhường nhịn nhau, muốn làm vui lòng nhau.
Trưởng làng theo dõi cô gái và không ngớt vui mừng, từ ngày có lớp học, người dân trong làng thay đổi rất nhiều. Không chỉ có trẻ con, người lớn cũng đã biết nói tiếng “xin lỗi” và “cảm ơn”. Trẻ em bớt đánh nhau, người lớn bớt tranh chấp. Ông rớt nước mắt chắp tay tạ ơn trời đất, đã gieo hạt giống tốt trong lòng mọi người, hạt giống yêu thương mọc rễ trong tâm hồn, cuộc sống này ấm áp tốt đẹp hơn.
Thì ra cô gái chính là món quà, là sự giúp đỡ cho dân làng biết sống đúng mực? Ông cầu mong một ngày không xa cô gái được trở về nhà như ước nguyện, có như thế ông yên lòng hơn./.
19/2/25
Lê Yên