Tác giả Lê Hương Lê tên thật là Lê Thị Hương sinh năm 1983, quê quán ở Đông Sơn, Thanh Hoá nhưng sinh ra và lớn lên trên mảnh đất lịch sử Điện Biên Phủ anh hùng. Hiện chị là giáo viên giảng dạy môn ngữ văn tại Trường THPT Quyết Thắng, tỉnh Lai Châu.
Lê Hương Lê làm thơ và viết văn như một cách giải tỏa và chia sẻ nỗi niềm. Chị cho biết: “Tôi cầm bút như một cách lưu giữ mạch nguồn cảm xúc về vẻ đẹp của thiên nhiên Tây Bắc, về những con người chân chất, mộc mạc mà kiên cường, chan chứa yêu thương đã in dấu trong kí ức từ thuở nhỏ. Mỗi câu chữ là một lời tri ân với cuộc đời tươi đẹp, với vùng đất và con người đã nuôi lớn tâm hồn tôi, để tôi biết say mê, biết mơ mộng và biết sống trọn vẹn hơn với chính mình và với cuộc đời này”. Xin giới thiệu truyện ngắn Xào xạc rừng trúc của Lê Hương Lê
.
*
Thanh cố lê đôi chân tập tễnh chống nạng đi trên con đường mòn như sợi chỉ vắt qua đỉnh núi để lên tới rừng trúc. Ở đây, anh cảm thấy dễ chịu khi một mình tĩnh lặng nghe gió thổi vi vu, trúc reo theo gió, từng đàn chim líu lo chuyền cành, ở phía bên kia rừng trúc thi thoảng có tiếng khỉ hú đơn độc trong không gian bao la của núi rừng. Hình như, mùa xuân đã xào xạc trên tán lá nhưng cái rét buốt của ngày đông vẫn nán lại trong không khí hanh khô cuối mùa. Những ngày này, trong lòng Thanh cứ như có con kiến lạc đàn đang cố tìm về tổ. Cũng như Thanh, sau bao ngày tháng vẫn day dứt với những xưa cũ vẹn nguyên trong lòng…
Ngày ấy, Thanh vẫn thường cùng Pà và Mỷ – em gái Pà hay lên rừng trúc này để hái măng, tìm nấm, bẫy thú, bắt chim, tìm cây thuốc. Rừng Mù Sang nhiều gỗ, nhiều củi, cây thuốc, chuối rừng… nên bao đời nay, những đứa trẻ ở đây đều nhờ rừng mà lớn lên, những người già cũng chọn một cánh rừng để ngả lưng khi theo tổ tiên về núi. Mẹ bảo, đám cây Hoàng Liên đắng chát ấy chữa được bao nhiêu là bệnh, còn chuối ở rừng Mù Sang thì lợn ăn bao đời cũng không hết được. Thế nên, mỗi chiều về, trên lưng đám trẻ ở bản Mù Sang luôn ăm ắp những gùi cây thuốc, cây chuối, măng rừng…
Thanh bằng tuổi Pà. Từ bé, hai đứa đã thân nhau, quấn quýt như đôi chim cu bố Thanh nuôi trong nhà. Lên rừng, đi học cũng không rời nhau nửa bước. Nhà hai đứa cách nhau một khoảng sân chung luôn rộn rã tiếng cười. Mỗi dịp xuân về, cả bản thường tập trung ở đây rất đông, đám trẻ con chơi tù lu, nhảy bao, thanh niên thì thổi khèn, thổi sáo, người lớn tuổi hát giao duyên, giã bánh giày, nhộn nhịp thành nếp qua bao thế hệ ở Mù Sang… Mỗi năm một mùa xuân, mỗi mùa xuân Thanh và Pà lại cùng lớn lên như cây lau, cây cỏ trong rừng già. Chẳng cần phải nói, cũng biết dưới tán rừng già, cây lau che chở cây cỏ dại cùng sinh sôi. Tự lòng Thanh thấy, Thanh phải có trách nhiệm giữ bông hoa cỏ là Pà trước những cơn mưa rừng, để bông hoa ấy mãi thơm hương trong cánh rừng Mù Sang suốt bốn mùa trong năm.
Càng lớn Pà càng xinh đẹp. Làn da trắng như bông lê rừng mùa xuân, khuôn mặt tròn trĩnh, mũm mĩm với hai cái lúm đồng tiền khiến mỗi lẫn hai đứa ở cạnh nhau, Thanh chỉ ước thời gian ngừng trôi. Chàng trai mới lớn, khao khát giữ nụ cười trong veo ấy mãi với thời gian. Chỉ tiếc, Mỷ như cái đuôi của Pà, không có cách nào để tách ra được. Lúc bé đã thế, lớn lên vẫn thế. Nhiều lần, Thanh đang mải mê nhìn Pà, đều bị Mỷ cắt ngang cảm xúc:
– Anh Thanh, chơi với em đi.
– Anh Thanh làm cho em con cào cào bằng lá trúc.
– Anh Thanh thổi sáo cho em…
Mỷ ríu rít như con khướu cánh đỏ trong rừng trúc, khiến Thanh có lúc thấy phiền mà không mặc kệ được. Có lần, vào rừng trúc chơi, Mỷ đòi Thanh cõng về, Thanh không nỡ từ chối khi thấy ánh mắt dịu dàng của Pà nhìn em. Trên lưng Thanh, Mỷ thích chí:
– Anh Thanh khỏe thật đấy.
Pà cũng nói theo:
– Công nhận, Thanh khỏe như con trâu rừng ấy nhỉ?
Thanh liếc nhìn Pà thủ thỉ:
– Ừ! Khỏe. Khỏe để còn kéo mày về làm vợ nữa chứ!
Pà cười tủm tỉm và cấu nhẹ vào lưng Thanh. Cái vết móng tay hằn nhẹ trên lưng mà Thanh chẳng thấy đau gì cả, chỉ thấy trong lòng vui vui, rất khó tả. Có một điều gì đó dần hình thành hết sức tự nhiên trong tâm hồn Thanh. Thanh muốn giữ mãi nụ cười trên môi của Pà, muốn được mỗi ngày cùng nhau đi rừng hái củi, tìm nấm, vào rừng trúc đào măng, bẫy thú… Có Pà, những đêm trăng trên núi hình như lung linh hơn. Nhất là ở đỉnh núi đầu bản, Thanh vẫn thường đợi Pà ở đó. Tiếng khèn, tiếng sáo dập dìu như ngày chợ phiên, Thanh cứ tha thiết gửi vào gió núi mây rừng khi Pà và Mỷ cùng nô đùa, cùng chơi trốn tìm. Khi bé, Mỷ luôn đi theo. Lớn lên, Mỷ cũng không rời chị nửa bước. Thanh chợt ước, một ngày Pà đến gặp Thanh một mình để hai đứa có một khoảng không gian riêng, như rừng trúc vẫn xào xạc trong gió giữa bạt ngàn rừng xanh thăm thẳm.
*
Đã bao mùa mây bay ngang đỉnh Tả Liên, Thanh cũng không nhớ nữa. Năm đó, Thanh vừa tròn mười tám. Đó là một ngày cuối đông, Thanh lên rừng chặt chuối cho lợn. Đàn lợn trong chuồng đang tuổi lớn, con nào con nấy béo nung núc. Mẹ bảo:
– Mày lấy vợ là thì không lo phải mua lợn nữa. Đợi đến mùa xuân, mày lo mà mang con Pà về đi. Chứ con gái đẹp mà ngoan như nó trai bản cướp lúc nào không hay.
Chỉ nghĩ đến việc nuôi đàn lợn lớn để cưới Pà thôi, Thanh đã thấy bao nhiêu sức mạnh dồn hết trên cánh tay dứt khoát phang từng đoạn chuối rừng, trên đôi vai có thể cõng cả rừng chuối không biết mệt, đôi chân thoăn thoắt đi xuyên rừng vác chuối về như cho lợn cả bản ăn.
Dù cuối mùa đông nhưng trên núi cao vẫn rét căm căm. Vốn dĩ, cái rét khiến cho những cơn mưa lạc đến mùa xuân mới lất phất trên cánh đào đang còn chúm chím trốn lạnh thì bỗng dưng đổ ào ào như bóng nước khổng lồ bị đám trẻ nghịch ngợm chọc thủng. Thanh quyết định vượt núi chứ không nán lại tránh mưa, đôi chân rắn rỏi như cặp giò của con báo cứ thế băng rừng. Bởi đi qua rừng trúc là về đến bản. Mỗi lần Thanh đi rừng một mình về, Pà luôn ở khoảng sân chung chờ đợi. Thanh chỉ ước đôi chân dài như con hươu trong rừng già bố kể, nhón một chân là hết nửa rừng trúc thì Pà sẽ không mỏi mòn đứng đợi Thanh dưới mái hiên sũng nước của cơn mưa cuối đông.
Rừng trúc dày, quấn quýt lấy nhau, chỉ có một lối đi đã thành đường mòn xuyên rừng về bản. Bước chân Thanh ngày một dồn dập, chả mấy chốc Thanh đã đi qua rừng trúc, về đến đỉnh núi đầu bản. Xa xa trong màn mưa, hai ngôi nhà mái đá đen lầm lũi trong bóng tối đang dần phủ kín xuống mặt đất. Thanh thở phào rồi bất giác mỉm cười một mình trong màn mưa ướt lạnh… Đoạn đường từ đỉnh núi xuống bản không xa, nhưng khá dốc. Một bên tà ly dương toàn đá ong pha đất, một bên vực dốc thẳng đứng như sẵn sàng hút người về phía nó nếu gặp ngày gió về hoặc đi chênh vênh bên mép. Phịch! Thanh trượt chân tụt sâu xuống phía vực dốc. Mấy khúc chuối bật ra khỏi vai rơi xuống đất rồi thục vào lưng, đẩy Thanh mấy vòng xuống núi… Khi tỉnh lại, Thanh thấy mình mắc vào gốc cây chò già. Mưa vẫn cứ táp trên mặt, tê dại. Bóng đêm như con quái vật đè lên toàn bộ cơ thể khiến Thanh không thể cựa được. Lí trí không điều khiển được cơ thể, Thanh mơ hồ hiểu tình trạng của mình. Ở khúc cua này, nếu không được tìm thấy trong đêm nay, có thể, Thanh sẽ không có cơ hội gặp lại Pà nữa. Vị trí của cây chò già này khá xa với con đường về bản. Bình thường, người dân Mù Sang cũng ít khi đến khu rừng này, bởi đường dốc, nguy hiểm. Nhưng với Thanh, cây chò già như người bạn đồng hành cùng Thanh trong những đêm đợi Pà trên đỉnh núi. Trăng treo trên ngọn cây chò già là Pà sẽ đến gặp Thanh. Đêm nay, trời mưa ướt lạnh, và dù nếu có trăng, chắc gì Pà biết Thanh đang mắc kẹt dưới gốc chò già cô độc giữa rừng.
… Thanh mơ hồ nghe tiếng thì thầm bên tai:
– Anh Thanh dậy đi. Em hứa, từ giờ không đòi anh cõng nữa.
Tiếng bố dỗ dành:
– Thôi, Mỷ để cho nó nghỉ ngơi.
Đôi bàn tay đêm hôm ấy tê dại, lạnh buốt lại thấy âm ấm. Thanh từ từ mở mắt, cả một màu trắng toát, lờ nhờ ánh sáng khiến mắt bị lóa mãi mới nhìn rõ được xung quanh. Cả cơ thể đau nhức, ê ẩm, cứng đơ khi những khuôn mặt quen thuộc dần hiện ra trước mắt. Bố, mẹ, Mỷ và cả Pà nữa đều chăm chú nhìn vào Thanh. Pà đang nắm tay Thanh, đôi bàn tay con gái mềm mại đã nhiều lần Thanh xin nắm mà Pà từ chối. Vậy mà, bây giờ, Thanh không cần xin nữa, Pà đã dịu dàng đặt tay Thanh trong tay Pà ấm áp. Thanh cựa người muốn ngồi dậy nhưng hình như có gì đó đã thay đổi trên cơ thể. Pà ngập ngừng, thổn thức:
– Thanh đừng cựa, sẽ đau đấy.
Thanh ngước mắt nhìn bố, người đàn ông vốn dạn dĩ mạnh mẽ nhất nhà đang ầng ậng nước mắt:
– Con bình tĩnh. Giữ được mạng sống là tốt rồi con à!
Thanh thều thào:
– Rốt cuộc, con đang thế nào?
Từng câu nói của bố như lưỡi dao cắt vào tim Thanh. Đá chèn, mọi người tìm thấy Thanh quá muộn, để giữ được tính mạng phải cưa phần chân đã nát và bắt đầu hoại tử. Nhát cưa ấy, Thanh không nhìn thấy, nhưng cũng có thể cảm nhận được. Nó như nhát dao Thanh đã phang vào từng thân chuối, cắt đứt mạch sống của nó với rừng xanh, đất mẹ. Thanh mất một chân, nghĩa là những mơ ước, khát vọng của chàng trai khỏe như con trâu rừng phải dừng lại… Thân chuối cho đàn lợn đang lớn lại đặt trên vai bố, lu cở ngô, thóc ngày mùa đặt trên vai mẹ, rồi Pà nữa… một chân, Thanh làm sao cõng Mỷ, làm sao là chỗ dựa cho Pà? Đôi mắt Thanh trân trân nhìn lên cái bóng điện nhờ nhờ ánh sáng, thứ ánh sáng không khác gì cuộc đời Thanh bây giờ.
Vết thương lành, Thanh không thể phăm phăm lên nương, trèo núi, xuống chợ như trước được nữa. Ngoài những lúc quanh quẩn làm việc nhà, Thanh hầu như chỉ ở trong nhà. Khoảng sân chung của hai nhà giờ trở thành khoảng cách vô hình Thanh dựng lên sau ngày bị tai nạn. Dù biết, chỉ cần Thanh bước ra, sẽ thấy Pà đang đợi dưới mái hiên…
*
Những ngày cuối năm, Mù Sang bớt lạnh. Hàng dài những chậu địa lan quanh sân chung của hai nhà đã bung hoa, vươn khỏi lá cúi đầu khoe sắc. Những bông hoa không rực rỡ nhưng đẹp đến mê hồn như cô gái vẫn lặng lẽ ngồi thêu váy dưới hiên nhà chờ ánh mắt vượt qua bức tường vô hình giữa khoảng sân rộng của hai nhà. Nhìn hàng dài những cành hoa địa lan rung rinh trong gió xuân, không cưỡng lại được lòng, Thanh chống nạng bước ra cửa thì có tiếng xe máy nổ xình xịch. Thanh ngoái đầu nhìn thì chiếc xe nổ máy đi về phía rừng trúc, còn Pà đứng nhìn theo cho đến khi chiếc xe khuất khỏi tầm mắt. Có điều gì đó chợt nhói lên trong lòng. Lâu lắm rồi, Pà không còn ngồi dưới mái hiên đợi Thanh nữa. Thanh vội vàng quay lưng đi thẳng ra phía sau vườn, trong lòng đầy những suy nghĩ mông lung.
Thanh đứng tựa lưng vào vách gỗ, căn nhà bố mẹ chắt chiu cả đời, rồi vay mượn thêm để làm cho khang trang đợi ngày Thanh cưới vợ. Bây giờ, những vân gỗ đã mờ đi, mạng nhện chăng từ mái đu sang tận những cành lê khẳng khiu đang gác trên mái. Nước mắt chảy ngược, Thanh ôm lấy ngực, giữ chặt trong tay trái tim đang thổn thức. Chợt tiếng Mỷ thì thầm bên tai:
– Nếu anh yêu chị Pà, thì để chị ấy đi lấy chồng. Nhà anh kia ở Suối Hồ nhiều trâu, nhiều dê lắm. Lại còn có homestay làm du lịch nữa. Chị ấy sẽ không khổ đâu!
Thanh vẫn đứng tựa vào vách nhà, từng câu nói của Mỷ như những mũi tên tẩm độc của bác thợ săn, đã hạ gục con thú trong chớp mắt. Thanh tập tễnh chống nạng đi nhanh qua khoảng sân rồi như lao về phía rừng trúc, mặc cho Mỷ lẽo đẽo phía sau:
– Anh đi đâu? Tại sao anh lại như thế? Chị ấy đợi anh mấy năm nay, anh có cho chị ấy cơ hội không? Anh có biết anh như thế là ích kỷ không.
Thanh quay lại, nhìn thẳng vào Mỷ:
– Em đừng nói nữa.
– Em phải nói, bởi anh là kẻ hèn nhát. Một người đàn ông bản lĩnh sẽ không trốn chạy tình yêu như anh, sẽ không bỏ rơi người mình yêu như anh!
Thanh gằn giọng:
– Dừng lại đi. Đừng đi theo anh.
Từng lời rõ ràng, rành mạch ấy Thanh đang nói với Mỷ hay chính mình? Chính Thanh cũng không rõ. Cùng lớn lên bên nhau, Mỷ hiểu tính Thanh cho nên trên con đường đi vào rừng trúc lúc chiều buông in rõ hai bóng người lầm lũi như con ngựa gầy bị chủ bỏ rơi ở bìa rừng, buồn bã, nhớ thương những ngày tháng đã qua không ai nói thêm với ai lời nào nữa.
*
Rừng trúc thêm một mùa trút lá. Những thân cây thẳng tắp, lá xanh mướt mát đang át không khí lạnh lẽo của mùa đông còn sót lại. Cây trúc thêm đốt thì Mỷ thêm tuổi. Cô bé lẽo đẽo chạy theo Thanh và chị Pà lên rừng ngày nào giờ đã thành thiếu nữ. Mỷ không trắng trẻo nhưng gương mặt rất duyên. Không có cái lúm đồng tiền thì Mỷ có chiếc răng khểnh, với nụ cười như nắng mùa thu khiến càng lớn nhìn Mỷ càng mặn mà con gái. Trai bản ngấp nghé ở hiên nhà bao nhiêu mùa trăng là bấy nhiêu lần Mỷ thẳng thừng từ chối. Những ngày cuối tuần không phải đi học, Mỷ lại tỉ mẩn ngồi thêu váy áo dưới hiên nhà. Mỷ đâu biết, ở phía bên kia khoảng sân, vẫn có một ánh mắt dõi theo…
Những ngày cuối đông, khi ngô lúa đã ngủ yên trên sàn nhà, cũng là lúc trai làng, gái bản xúng xính váy áo ăn cơm mới, đi chợ phiên mua thêm vải, thêm chỉ thêu váy áo đợi tết về đi chơi xuân.
Từ ngày Pà đi lấy chồng, Thanh vẫn ngồi trên đỉnh núi đầu bản thổi sáo đợi trăng lên. Đêm, rừng tĩnh mịch. Ánh trăng bàng bạc treo trên ngọn cây chò già. Cả không gian bao la của núi rừng chỉ còn nghe tiếng sáo da diết hòa tiếng gió xào xạc trong rừng trúc đêm khuya. Đêm nay, Thanh lại thổi bài sáo thuở bé hay thổi cho Mỷ nghe, chợt trong lòng trở nên rộn ràng khác thường. Tiếng sáo vừa dừng thì Mỷ đã đứng trước mặt Thanh:
– Anh thổi bài này cho em phải không?
Thanh lặng im, không dám nhìn thẳng vào Mỷ. Ánh mắt xa xăm nhìn ánh trăng vẫn đang đung đưa trên ngọn cây chò già. Bao nhiêu mùa trăng, cây chò vẫn ở đó, vững chãi đợi trăng lên…
Mỷ tiến sát về phía Thanh, gần đến nỗi Thanh cảm nhận được hơi ấm cơ thể của Mỷ đang phả vào anh. Thanh lắp bắp:
– Anh… anh…
Không đợi Thanh nói hết câu, Mỷ đã nép sát người vào Thanh. Bất giác, Thanh vòng tay ôm Mỷ vào lòng. Sương đêm tí tách trên phiến lá, trăng vằng vặc như đang cười nhìn hai bóng đen ôm xiết lấy nhau. Đêm muộn, cả không gian bao la chỉ còn tiếng gió xào xạc trong rừng trúc những ngày cuối đông…
LÊ HƯƠNG LÊ