Sáu chị em được về nghỉ bù cùng đi với nhau từ Phú Lộc đến Nga Lộc, cùng vượt qua đoạn đường Mười Lăm, tới Đức An, thuộc huyện Đức Thọ thì chia thành hai tốp.
Xuân Đức Tân, Rạng theo phía đê sông La về Đức Tân và Đức Vĩnh.
Nhỏ, Xanh, Hà đi tắt các đường mòn qua đồi, nhằm hướng Đức Hòa, Đức Lạng, Đức Giang...
Qua mấy cái hố đầy nước ven đường, Cúc hỏi Nhỏ:
– Nhỏ còn khát nước không?
Nhỏ đỏ mặt. Hà, Xanh cười rộ lên. Cả bốn người đều nhớ đến lần đi “tranh thủ” hồi tháng ba vừa rồi... Hồi ấy, A4 làm đất ở cống Mười tám. Có mấy ngày nghỉ bù, Tần cho năm chị em về nhà, nhưng giấu Ban Chỉ huy đại đội. Hôm ấy, trời mưa to. Năm chị em hối hả về trong mưa. Đường ngập nước trắng xóa. Vừa đi được một đoạn, tới gần nhà Ban Chỉ huy đại đội, Nhỏ lỡ chân bước thụt xuống chiếc hố sâu và ngập nước. Nhỏ bị chìm, sặc nước. Cúc kéo Nhỏ lên ngay. Nhỏ la lên, Cúc sợ “lộ”, bựng miệng Nhỏ lại. Nhỏ đành phải nuốt mấy ngụm nước.
Mấy chị em lại lặng lẽ đội mưa về thăm nhà. Cô nào cô nấy đều ướt hết. Riêng nhỏ ướt sũng, quần áo dính bết vào người.
Sau chuyến đi ấy, đại đội vẫn không biết, nhưng Tần tự phê bình để rút kinh nghiệm. Từ đó trở đi, bao giờ chị em cần nghỉ Tần cũng xin phép.
Hôm nay, về thăm nhà cô nào cũng vận quần áo thanh niên xung phong mới phát, mũ gắn sao chững chạc. Mấy chị em vừa đi vừa tán trạng, cười vui nổ trời. Chẳng mấy lúc đã gần tới Đức Hòa, quê Xanh. Xanh mời chị em về nhà nghỉ. Cúc nói:
– Hà về với Xanh, rồi đi Đức Giang sau. Mình phải đi Đức Lạng với Nhỏ. Sau đó hai chị em mình còn lên Sơn Bằng. Ít thời gian quá. Thôi đành để lần sau...
Đến một ngã ba đường mòn có vài cây cọ thấp xòe tán lá, Cúc và Nhỏ rẽ lên nền đường sắt xuyên Việt cũ để về Đức Lạng. Còn Hà và Xanh tiếp tục đi...
Nền đường sắt cũ biến dạng. Cỏ dại, dứa gai mọc um tùm.Từ khi kháng chiến chống Pháp, ta đánh sập cầu Yên Xuân và cầu Chợ Thượng; hơn hai mươi năm ròng chưa có một đoàn tàu nào qua sông Lam và sông La.
Quê Nhỏ ở ngay bên phải đường sắt xuyên Việt này. Nhưng chưa khi nào Nhỏ được thấy tàu hỏa qua đây. Nhỏ ước mong được nghe trên quê hương mình tiếng còi tàu âm vang, được nhìn những vệt khói - hơi nước ở đầu máy xe lửa phụt lên trời, rồi bay ngược lại phía cuối đoàn tàu như những chiếc xe lửa Nhỏ thấy trong phim.
Cứ thẳng con đường này đi mãi, sẽ qua sông Bến Hải, rồi đến Sài Gòn. Biết bao giờ Cúc và Nhỏ có thể đi trên một đoàn tàu xuôi mãi vào trong ấy? Ngày ấy không thể nào biết trước được, nhưng chắc chắn sẽ đến. Rồi đây, trong cuộc chiến tranh ác liệt với quân thù, Cúc và Nhỏ có thể hy sinh, không bao giờ được đi trên đoàn tàu mơ ước và hạnh phúc đó... Nhưng, những người còn sống sẽ thay mặt cho những người đã hy sinh vì sự sống của các con đường chiến lược trong này, để đi trên những đoàn tàu chiến thắng và thống nhất...
Nhỏ vẫn mải miết đi trên con đường về thăm quê. Cúc lặng yên đi bên Nhỏ.
Lẽ ra Nhỏ phải vui tươi khi sắp về tới nhà. Nhưng không, Nhỏ yên lặng...
Dĩ vãng đau thương vừa vụt trở về trong tâm tư cô.
Nhỏ là nạn nhân của một người cha vô trách nhiệm. Ông ta bỏ mặc gia đình tan nát và nheo nhóc, đi theo một người vợ mới ở Đức Giang từ năm 1950, khi đó Nhỏ mới biết ven tường tập đi.
Mẹ con Nhỏ sống dựa vào gia đình họ hàng bên ngoại và bà con hàng xóm.
Lẽ ra đời chị em Nhỏ sẽ khá dần lên nhờ sự tần tảo chắt chiu của mẹ. Nhưng thật không may, mẹ Nhỏ lại chết sớm.
Mẹ mất đi, chị Miên, chị gái Nhỏ thay mẹ nuôi em. Hai chị em lớn dần lên. Rồi chị Miên đến tuổi lấy chồng. Nhưng chị không về quê chồng mà ở lại cùng em. Chồng chị Miên đi bộ đội. Thỉnh thoảng anh ghé về thăm nhà. Sau khi sinh cháu trai đầu lòng, chồng chết, chị đành ở vậy nuôi con và nuôi em.
Thế rồi, chiến tranh phá hoại của Mỹ ngày càng ác lệt. Nhỏ xin chị vào Thanh niên xung phong chống Mỹ cứu nước. Chị sợ em còn bé dại thơ ngây, chưa gánh vác nổi việc đời. Vả lại, lâu nay chị em, dì cháu quen sống quấn quýt bên nhau. Nhưng chị Miên vẫn để Nhỏ đi. Chị dành cho em bộ quần áo lành lặn nhất, gói cho em một nắm cơm to, rồi bế con tiễn Nhỏ lên đường.
Nhỏ ra đi chỉ một bộ quần áo và một nắm cơm, không màn, không chăn. Đến tận giờ phút đó, người cha vô trách nhiệm vẫn không hề có mặt để động viên con một lời... Chỉ có đoàn thanh niên và bà con làng xóm tiễn chân cô. Hai chị em cùng bịn rịn lúc chia tay. Nhỏ ôm chầm lấy cháu, thằng bé cũng bám chặt lấy dì, Nhỏ lấy quả trứng vịt luộc để dành ăn đường đưa cho cháu... Chị Miên dặn em: “Em gắng làm việc sao cho bằng chị bằng em, phải cẩn thận nơi mũi tên hòn đạn. Nếu em làm sao thì chị chỉ còn có một mình thôi”.
Nhỏ đi theo dọc đường tàu ngày xưa về phía Đức Thọ. Mái tóc vàng hoe xõa xuống đôi vai gầy. Thỉnh thoảng, Nhỏ quay nhìn chị và cháu cùng bà con làng xóm vẫn còn đứng trông theo cho đến khi cô khuất hẳn...
Hôm nay, Nhỏ lại đi trên nền đường sắt cũ trở về thăm chị, thăm quê. Cô đã phổng phao hơn ngày ra đi.
Bộ quần áo thanh niên xung phong đang mặc còn nguyên nếp gấp khiến Nhỏ chững chạc hẳn ra. Song đôi mắt hay cười giờ đây trở nên tư lự, sâu thẳm một nỗi suy tư...
Cúc vẫn đi bên Nhỏ, lặng yên trong niềm vui thầm kín... Không phải ngẫu nhiên Cúc bỏ hẳn một ngày nghỉ bù hiếm hoi để đi cùng Nhỏ về Đức Lạng. Cúc muốn được về thăm quê Nhỏ, để hiểu rõ thêm cảnh đời người em gái thân thương vừa kết nghĩa. Tuy mới sống gần nhau nửa năm nhưng sao Cúc cảm thấy thương yêu Nhỏ đến thế. Phải chăng vì cảnh ngộ hai chị em cũng khổ như nhau?
Hôm gặp Nhỏ lần đầu tiên ở Huyện đoàn Đức Thọ, Cúc thấy ngay gương mặt Nhỏ phảng phất một nỗi buồn sâu kín. Nhưng Nhỏ rất vui và hay đùa. Nhỏ không e dè, Hình như Nhỏ tìm thấy một gia đình mới đông vui và gần gũi trong tập thể này. Nhỏ tin bạn, tin mọi người. Nhiều khi nói đùa Nhỏ cũng tin là thật. Khi biết hoàn cảnh Nhỏ, Cúc nhận Nhỏ làm em và bảo Tần cho Nhỏ ở cùng một nhà với mình.
Tần đồng ý ngay. Từ buổi đầu tiên khi về Phú Lộc, Cúc và Nhỏ chung giường, chung chiếu, chung chăn. Hai chị em rủ rỉ tâm sự với nhau suốt ngày. Nhỏ ưa nói ngọt nên Cúc hay kìm mình không nỡ nói nặng với em. Nhỏ chăm làm. Ở nhà dân có việc gì làm giúp được, Nhỏ làm ngay nên bà con rất quý... Từ khi ở cùng với Nhỏ, Cúc vui hơn trước. Niềm vui lặng lẽ và sâu sắc. Nhỏ thích làm nũng và Cúc cũng chiều em. Trình độ văn hóa của Nhỏ thấp nhất tiểu đội. Cúc bảo Nhỏ theo học bổ túc văn hóa. Nhỏ xấu hổ vì lớn tuổi rồi mới đi học. Cúc và các bạn cho Nhỏ sách, vở, bút, mực để học. Lê Thị Hồng - tốt nghiệp lớp bảy được Tần giao kèm Nhỏ học. Chẳng mấy nỗi, Nhỏ học thông, viết thạo. Nhỏ càng chăm hơn, muốn học lên để sau này có chút văn hóa học nghề gì cũng dễ.
Lần đầu tiên viết thư cho chị Miên xong, Nhỏ nói với Cúc:
– Chị em nhận được thư này chắc vui lắm. Không đi “ba sẵn sàng” với các chị, bao giờ em mới viết được chứ?
Chỉ trong một thời gian ngắn. Nhỏ phổng người lên trông thấy. Da dẻ mỡ màng hơn, người đầy đặn hơn. Đôi vai đã hơi xuôi mềm, không còn gày gò như trước. Khi vào thanh niên xung phong, Nhỏ mới thực sự bước sang tuổi dậy thì. Trên đôi má Nhỏ bây giờ mới ửng sắc hồng. Nhỏ ngày một xinh hơn, thường lấy gương của chị Cúc soi trộm. Đôi mắt cô đã bớt đi vẻ buồn sâu thẳm, pha nhiều nét tinh nghịch, dí dỏm.
Tần và Cúc vẫn hoàn toàn tin Nhỏ còn ngây thơ, nếu như không có một việc bất ngờ xảy ra gần đây làm cho Cúc lưu ý...
Một hôm Nhỏ đang nắn nót viết hai chữ “Xe xích” tròn trĩnh lên trang sổ tay học tập, bất giác Cúc hỏi:
– Sao viết hai chữ “xe xích” nắn nót thế?
– Chăn bò, thấy xe xích qua đường hay hay, viết cho vui vui.
Thấy Nhỏ làm việc dưới nắng hè thường hay bị say choáng, có khi gần như ngất đi, Tần phân công Nhỏ về giúp cho nhà ăn tập thể. Nhỏ được giao việc chăn con bò kéo xe cho nhà bếp. Công việc thầm lặng, Nhưng Nhỏ làm rất chăm chỉ. Trong lúc bò gặm cỏ, Nhỏ tranh thủ cắt thêm một gánh dự trữ. Khi bò ăn no, Nhỏ đeo bó cỏ - hoặc bó dây khoai lang xin được - lên lưng bò, rồi dắt nó về. Con bò béo ra trông thấy.
Một hôm đi chăn bò Nhỏ vô ý xéo phải gai rồi lên cơn sốt. Nhỏ nói mê nói sảng. Chị em để ý thấy trong cơn mê sảng Nhỏ gọi mấy lần “Anh lái xe xích”. Tần và Cúc vừa buồn cười vừa thương Nhỏ. Thì ra còn một điều riêng tư trong tâm hồn Nhỏ mà Cúc và Tần chưa hề biết.
Mấy hôm sau, Nhỏ hết đau chân. Tần sang thăm Nhỏ và bắt nọn:
– Hôm Nhỏ sốt, có anh lái xe xích nào đến thăm, nom đẹp trai, khỏe mạnh lắm.
Mắt Nhỏ sáng lên, mặt đỏ bừng. Nhỏ ấp úng mãi mới nói được:
– Thật chứ chị? Nhưng em có quen anh lái xe xích nào đâu.
Tần và Cúc cười ầm lên. Nhỏ rất ngỡ ngàng. Cô im lặng. Có một điều gì đó rất trang nghiêm vừa đến trong cô... Nhỏ không giấu Cúc điều gì. Vậy mà sao Cúc không hề biết chuyện một anh lái xe xích nào đó đã lọt được vào trong trái tim cô?
Tần và Cúc không đùa Nhỏ nữa, đợi thời gian sẽ trả lời... Từ đấy Tần và Cúc, bắt đầu để ý đến “anh chàng lái xe xích” nào đó của Nhỏ. Nhưng không hề thấy - cả người và thư. Thỉnh thoảng, vài cô bạn thân nghe Nhỏ nói đến một anh lái xe xích nào đó khá điển trai, khỏe mạnh, lái máy và chữa xe xích rất giỏi. Hoàn cảnh gia đình anh gần như Nhỏ. Anh thương Nhỏ và bảo khi nào làm xong nghĩa vụ thanh niên xung phong, Nhỏ xin chuyển ngành sang đây làm thợ máy, anh sẽ dạy Nhỏ biết lái máy cày. Nhỏ lái máy cày về làng, đón thằng cháu lên ngồi cạnh rồi cày cả cánh đồng xã Đức Lạng trong vòng một buổi cho bà con coi. Chị em đoán là Nhỏ tưởng tượng và ước mơ thế thôi, không ai nỡ làm phật lòng Nhỏ.
Nhưng, một hôm Nhỏ đi chăn bò về, xòe bàn tay rám nắng cho các bạn xem chiếc nhẫn đồng rất đẹp làm bằng vỏ đạn mười hai ly bảy. Nhỏ khoe anh lái xe xích vừa tặng nhẫn này cho Nhỏ. Chị em nhìn nhau nửa tin, nửa ngờ...
Từ đó, thỉnh thoảng chị em lại đưa chuyện anh lái xe xích ra trêu Nhỏ. Nhỏ nửa thật, nửa đùa:
– Nhất định tôi sẽ tìm được một anh lái xe xích như vậy!
Nhớ lại gương mặt Nhỏ đỏ bừng, mắt sáng lên khi nói câu “ nhất định” này, Cúc mỉm cười. Cúc thầm mong cho em mình rồi đây sẽ gặp được người bạn trai như em hằng tưởng tượng bấy lâu nay...
Đêm ấy, trong căn nhà nhỏ của chị Miên, Cúc thao thức mãi. Bóng trăng lấp lánh bên kia tán cây thị đang tơ. Quả thị thần tiên trong cổ tích Tấm Cám chắc là không có thật. Nhưng quả thật là Cúc và Nhỏ đã được lột xác từ khi vào tập thể Thanh niên xung phong.
☆ ☆ ☆
Xanh và Hà về đến Đức Hòa vào lúc quá trưa. Đang đi trên con đường làng rợp bóng, Hà chợt nảy ra ý định tinh nghịch. Cô hỏi Xanh:
– Xanh vẫn phàn nàn mẹ hay nhắc đến chuyện anh chi đó xin hỏi Xanh phải không?
– Phải.
– Vậy thế này nhé! Lát nữa, mình vào trước nói chuyện với mẹ một chút về chuyện này. Khi nào nghe mình gọi, Xanh hãy lên được không?
Xanh mỉm cười gật đầu. Thật lòng Xanh chỉ muốn chạy về nhà ngay. Gần tới nơi, Xanh bảo:
– Đó, Hà cứ leo lên gò đất bên phải kia là tới sân nhà mình.
Hà đẩy Xanh đứng nép vào bụi ruối, xốc ba lô đi vào nhà. Xanh hồi hộp nhìn qua kẽ lá, thấy mẹ đang ngồi khâu ở đầu hè. Mấy đứa em quây quần xung quanh. Thấy Hà, các em reo ầm lên:
– Chị Xanh về. Mẹ ơi.
Mẹ Xanh ngẩng lên, hơi luống cuống, nhưng khi thấy Hà, bà bĩnh tĩnh lại. Các em Xanh bị “tẽn tò”, đứng im như tượng nhìn Hà.
Hà bỏ mũ ra, chào mẹ rồi tươi cười nói:
– Con ở đơn vị Xanh được về thăm nhà. Con đi qua đây vào thăm bọ mạ một lát.
Mẹ Xanh dọn đồ khâu đứng dậy, đon đả:
– Vào trong nhà nghỉ chút đã con, nắng nôi quá. Lài ơi! Con Lài đi mô rồi? Lý, lấy cho chị thau nước rửa mặt, đi con.
Lý - em gái thứ hai sau Lài, mười bốn tuổi, vẫn đứng sững nhìn Hà như muốn hỏi “Sao người đó không phải là chị Xanh?”. Mẹ phải giục lần nữa, Lý mới ra bờ giếng.
Hồng - em trai sau Lý - mới lên mười, vội chạy đến đỡ ba lô cho Hà, rồi khệ nệ ôm vào trong giường. Mẹ Xanh hỏi Hà:
– Mần răng con Xanh không về, con?
Hà mỉm cười ngồi xuống ghế:
– Lẽ ra Xanh cũng về. Nhưng Xanh ngại mẹ ạ.
Mẹ Xanh không hiểu:
– Nó ngại chi?
Chờ mẹ rót nước chè xanh ra bát, Hà mới tủm tỉm:
– Thanh niên xung phong chống Mỹ cứu nước chúng con thực hiện “ba khoan”. Nghĩa là khoan lấy chồng...
Mẹ Xanh sốt ruột:
– Việc nớ can chi mà con Xanh không về?
Hà mỉm cười:
– Xanh sợ về nhà, mẹ cứ nhắc đến chuyện lấy chồng, lấy anh chi đó.
Mẹ im lặng một thoáng rồi ca cẩm:
– Hắn không muốn thì thôi. Ai ép! Việc chi mà không về?
– Nếu mẹ không nói gì đến chuyện đó nữa, con sẽ có cách gọi Xanh về ngay.
– Thật không?
– Dạ, thật ạ.
– Được rồi. Mẹ không nói với nó về chuyện ấy nữa.
Thấy các em vẫn tò mò theo dõi câu chuyện, Hà tới gần chiếc cột ngoài hiên tưởng tượng đó là cột điện thoại. Hà làm động tác quay máy, nhấc ống nghe lên, nói như thật:
– A lô! Tổng đài đâu? Cho xin... Tổng đội 55....55 đấy phải không. Cho tôi gặp C552.... C552 đấy à? Hà đây. Cho mình nói chuyện với o Xanh ở A4. Chờ à? Được. Nhanh lên đấy.
Mấy đứa em thấy trò chơi hay hay, trố mắt nhìn. Mẹ tủm tỉm cười, có ý xem Hà làm thế rồi đi đến đâu. Hà như nhận được trả lời.
– Xanh đấy à? Hà đây. Sao lâu thế? Đang tắm à? Này, thu xếp ba lô về nhà ngay. Mẹ chờ đấy... Sao? Ngại à? Không. Mẹ đồng ý là không nhắc đến chuyện vớ vẩn ấy nữa đâu. Không có ô tô à? Thế thì đi máy bay lên thẳng vậy. Chìa khóa máy bay mình để trong ống đũa ấy.
Cả nhà cười ầm lên. Mẹ hiểu ngay, nhưng cứ để yên xem Hà làm những gì. Hà vẫn tiếp tục đùa:
– Sao? Máy bay hết xăng à? Lấy vài bát cơm nguội cho nó ăn tạm vậy. Ừ, về ngay nhé. Mình ra sân đón Xanh đây.
Hà ra sân nhìn lên trời. Các em ùa ra theo. Hà chỉ tay lên trời:
– Máy bay lên thẳng của chị Xanh kia rồi. Đó, đó đang hạ cánh xuống rồi.
Không em nào nhìn thấy gì cả. Chúng nó ồn ào hẳn lên. Hà bảo:
– Chị Xanh về đến nhà rồi đó.
Các em nhao nhao lên:
– Mô rồi?
Hà gọi:
– Xanh ơi! Vào nhà đi.
Xanh ra khỏi bụi ruối, bước lên gò đất nhà mình. Các em reo lên:
– Chị Xanh về thật. Mẹ ơi.
– Chị Hà tài quá, mẹ ơi.
Mẹ mừng quýnh, bước vội ra sân, cười nói:
– Sao con không vào nhà ngay. Bày trò rứa mần chi?
Xanh cười, nhìn Hà. Vừa rồi Xanh nghe thấy hết cuộc nói chuyện qua tưởng tượng của Hà, nên Xanh nói:
– Con vừa đi máy bay lên thẳng về đó, mẹ!
– Thế máy bay biết ăn cơm nguội mô rồi?
Mấy mẹ con cười ran lên. Lý đỡ ba lô cho chị Xanh, mang vào trong nhà. Xanh lấy khăn mặt, kéo Hà ra sân. Vừa nhìn Hà rửa mặt, Xanh vừa nói:
– Chịu Hà đó tán trạng rứa, chị Tần cũng thua.
Trong lúc Xanh ra bờ giếng, Hà nhìn kỹ quang cảnh nhà Xanh. Nhà cửa cao ráo, rộng rãi. Xung quanh vườn trồng cau, chuối và cây ăn quả khác. Đặc biệt có cây mít khá sai quả. Không biết mít mật hay mít dai. Thoang thoảng mùi mít chín. Hà mỉm cười nhớ lại lời Xanh hôm rủ Hà: “Về nhà mình mùa này có mít chén thoải mái”.
Không phải vì bữa mít thoải mái mà Hà về cùng Xanh. Hà thích Xanh vì Xanh hay giúp bạn và quý bạn. Xanh hiền lành, ít nói, nhưng làm việc rất chăm. Xanh đậm người khỏe mạnh. Làm việc gì cũng xốc vác, hay nhận việc khó về mình.
Hà vốn là cô gái thị trấn Đức Thọ, không quen lao động nặng. Hồi mới vào Thanh niên xung phong, việc gì Hà cũng bỡ ngỡ. Xanh biết vậy, đến làm đôi với Hà, đỡ đần cho bạn. Mới đầu Hà cũng ỉ lại, dựa vào Xanh. Xanh xúc được năm nhát xẻng thì Hà mới xúc được hai nhát. Sau này, tuy không thấy Xanh nói gì, nhưng Hà vẫn cố gắng làm khỏe hơn, nhanh hơn, để Xanh đỡ vất vả.
Xanh không bao giờ lên mặt hoặc nặng lời khi Hà làm điều gì không phải. Xanh chỉ rủ rỉ rù rì nói với bạn, nhưng Hà nhận ra ngay.
Hồi mới vào Thanh niên xung phong, Hà hay đi chơi thăm bạn bè một cách tự do. Một hôm, Xanh bảo Hà:
– Chị Tần có vẻ buồn vì Hà.
– Sao lại buồn?
– Buồn vì cái tính tự do của Hà. Mình nghĩ là sống ở tập thể, thì phải theo nề nếp của tập thể, không thể tự do như ở nhà mình được. Theo mình, nên cố gắng làm sao để chị Tần khỏi phải lo về chuyện ấy nữa. Được không?
Hà im lặng. Xanh thư thả nói tiếp:
– Chị ấy tôn trọng Hà nên không muốn đưa ra phê bình gay gắt ở tập thể. Mong Hà chú ý.
Hà nói ngay:
– Được. Mình sẽ không để cho ai phải đả động đến việc ấy nữa.
Nhưng sau đó, Hà lại vấp những chuyện nho nhỏ khác. Chẳng hạn Hà không siêng học bổ túc văn hóa, Hà thích bảo Hường dạy hát, nhờ chị Rạng dạy thêu, hay đi thăm bạn hơn là học.
Xanh lại thủ thỉ:
– Học đến lớp sáu rồi, cố học cho hết lớp bảy. Sau này đi học kỹ thuật, Hà ạ.
Hà lại nghe ra, ít đi chơi hơn trước, tu chí học hành. Dần dần, Hà học khá lên.
Hà theo Xanh đi dưới một vòm tre rợp bóng phía sau nhà. Loanh quanh một lát, tới đoạn dốc thoai thoải. Xuống hết dốc là bờ sông Ngàn Sâu.
Hà đứng nhìn con sông ngay trước mắt. Con sông êm đềm và lặng sóng chảy dài về phía sông La.
Bên kia bờ sông là thảm cỏ xanh và cây cối bạt ngàn. Thỉnh thoảng nhô lên mấy cây tro xòe tán lá nghiêm trang trên đồng cỏ. Xa nữa là những xóm làng yên tĩnh ở dưới chân rặng núi.
Cảnh đẹp nên thơ và hùng vĩ lắm. Hà hỏi Xanh:
– Núi chi kia mà đẹp quá?
– Núi Móng Gà.
– Sao lại là Móng Gà?
– Ai biết được. Các cụ bảo vậy.
Hà sắn cao ống quần lội xuống mép nước, nhìn dòng sông. Nước sông trong veo nhìn thấy sỏi dưới đáy ven bờ. Một đàn cá con chạy tớn tác khi Hà lội xuống nước. Những vòng sóng lan ra, tỏa mãi ra xa...
Hà nhớ đến dòng sông La bên nhà mình ngoài thị trấn Đức Thọ. Hồi giặc Mỹ chưa ném bom quê hương, chiều chiều chị em Hà hay lên đê hóng mát và ngắm nhìn dòng sông.
Ngôi nhà thờ đạo nằm ngay trên mép nước, trông về phía nhà Hà. Sớm, chiều chuông nguyện đổ hồi ngân nga. Nhưng nhà Hà không theo đạo. Hà chỉ rủ em vào xem lễ Chúa Giáng Sinh...
Hà sinh ra đã có dòng sông đó. Sông La cũng hiền hòa như sông Ngàn Phố và Ngàn Sâu. Thuyền bè tấp nập đi lại trên sông như trẩy hội. Những cánh buồm xa, những cánh buồm gần... Những chuyến ca nô xuôi ngược lên Linh Cảm hoặc về Vinh. Những tiếng còi tàu thủy âm vang trên sóng nước sông La, mỗi lần qua Đức Thọ...
Đã bao nhiêu lần Hà xuống sông La tắm. Hà biết bơi lần đầu tiên cũng từ trên sóng nước sông La...
Hà vẫn biết Ngàn Sâu ở thượng nguồn chảy về sông La. Nhưng bây giờ Hà mới biết quang cảnh Ngàn Sâu đẹp lạ lùng này... Giá như không có bom đạn của giặc Mỹ, ca nô chở khách sẽ chạy suốt Ngàn Sâu về dưới sông La. Chỉ mấy giờ xuôi dòng, Hà có thể đặt chân lên đê Đức Thọ. Nhưng bây giờ, chúng nó ném bom hủy diệt thị trấn Đức Thọ rồi. Ngay cả ngôi nhà thờ bên mép nước sông La cũng bị bom Mỹ đánh tan tành.
Hồi nọ, có dịp về thăm thị trấn, Hà thấy ngôi nhà thờ tan nát ấy, giờ đây chỉ còn trụ lại bức tường chính phía cửa. Trên ấy vẫn còn nguyên cây thánh giá. Nhưng không bao giờ còn có tiếng chuông ngân. Không bao giờ có những con chiên đến cầu kinh. Tượng chúa Cứu Thế trên thánh giá vẫn còn. Nhưng, bom đạn vẫn cứ rơi, rơi hàng ngày. Và máu người vẫn cứ chảy xuống trước cái nhìn câm lặng của Chúa trên cây thánh giá.
– Nghĩ gì mà thứ người ra thế?
Hà vẫn không quay lại, trả lời Xanh:
– Mình nhớ sông La. Mình muốn tắm quá. Liệu có tiện không?
– Sông sâu lắm.
– Mình biết bơi.
– Thế thì được. Nhưng chỉ sợ có người qua lại.
– Họ có hay đi qua đây không?
– Không. Vì đây không phải là bến sang sông.
– Xanh có tắm không?
– Mình không mang quần áo...
– Thế thì... Cảnh giới hộ mình nhé.
Xanh đỏ mặt:
– Định tắm... như trẻ con ở đây à?
– Chứ sao! Mình đã là người lớn với ai?
Hà cười, rồi đưa tay lên vấn tóc gọn lại lên đỉnh đầu. Xanh hồi hộp nhìn Hà lấy sợi dây ni lông đỏ buộc chặt tóc lại. Biết Hà không nói đùa, Xanh vội nói:
– Chờ mình vào lấy quần áo ra cho... rồi hãy tắm.
– Ừ. Lấy hộ mình bộ trên cùng ba lô ấy.
Xanh quay ngoắt về phía nhà mình.
Bên bờ sông, ở chỗ cây che kín đáo, Hà cởi hết quần áo ngoài, chỉ bận đồ lót, nhảy tùm xuống sông...
Hà bơi ngang sông, vẫy vùng thỏa thích. Bơi được một quãng, Hà lại bơi đứng để kỳ cọ khắp thân mình. Tất cả đều chìm dưới mặt nước sông xanh. Chỉ có mái đầu Hà nhấp nhô trên sông nước...
Xanh ôm bọc quần áo và xà phòng khăn mặt ra tới bờ sông, không thấy Hà đâu. Hà nép vào bụi cây là là mặt nước bên kia bờ Ngàn Sâu, tinh nghịch theo dõi Xanh. Xanh nhìn khắp mặt nước nhưng không thấy Hà. Xanh men theo bờ sông đến bụi cây nhỏ, thấy quần áo Hà vắt gọn trên ấy từ bao giờ. Nhưng Hà đi đâu? Nếu tắm rồi, sao không thấy người? Xanh lo quá, nhớn nhác nhìn. Xanh toan cất tiếng gọi Hà, Hà đã cười khanh khách bơi trườn ra khỏi đám cây xanh sát mặt nước. Xanh hoàn hồn giơ nắm tay lên đe Hà:
– Tau sẽ cất quần áo mi đi, xem mi có dám lên bờ về nhà không. Chỉ được cái khỏe đùa.
Hà bơi sang phía Xanh theo kiểu bơi ếch. Xanh nhìn tấm thân trắng như ngà của Hà thấp thoáng dưới nước, lắc đầu cười:
– Mình chịu đó. Để mình đi gọi mấy anh trai làng đến coi nàng tiên cá mới về Ngàn Sâu...
Hà sáp vào, té nước lên người Xanh. Xanh lùi lại tránh nước.
Hà bơi tới gần bờ rồi chạy dọc bờ sông theo Xanh. Nửa người Hà nhô lên khỏi mặt nước lấp loáng nắng chiều. Xanh dừng lại, khi thấy khuôn ngực trần nõn nà của Hà, cô vội nói:
– Đừng đuổi nữa. Hụp xuống đi. Xấu hổ quá.
Hà vẫn đứng nguyên, cười, dỗ dành Xanh:
– Mát lắm. Xuống bơi thi với mình đi.
Xanh lắc đầu:
– Bọ về rồi, đang bảo chúng mình về ăn cơm. Thôi lên đi!
Mẹ Xanh thịt gà làm cơm như đãi khách. Hà thấy ông Trang - cha Xanh - có vẻ rất chiều con mặc dầu ông vẫn nghiêm. Ông luôn tay gắp thức ăn cho Hà. Hà nhớ tới cha mình mới mất cách đây hai năm. Nếu như cha còn sống, chắc chắn mẹ Hà đỡ vất vả hơn nhiều...
Cơm nước xong, cả nhà tráng miệng một bữa mít thoải mái. Xanh ngồi lại nói chuyện với bố mẹ. Lài và Lý dọn mâm bát. Hà lấy nửa gói kẹo chia cho các em Xanh, rồi quây quần với các em Hồng, Hào và Hoa. Còn em Hương vẫn được mẹ bế trong lòng.
Hà kể nhiều chuyện vui. Ba em cười nắc nẻ. Hà dạy các em hát một bài hát mới. Tiếng trẻ thơ cười nói vang nhà. Đã đến lúc cho các em đi ngủ. Hà ngồi nói chuyện với Lài và Lý. Các em đều rất ngoan, bẽn lẽn và e lệ y như Xanh. Em nào cũng tỏ ra thương chị Xanh và các anh các chị đang làm việc ở nơi bom đạn. Lài giống chị. Còn Lý xinh hơn.
Đêm hôm ấy Hà nằm nói chuyện với Lài và Lý. Xanh nằm với mẹ và hai em bé. Hồng và Hào vẫn sang nằm với cha.
Hà biết dịp này về, chưa biết bao giờ mới trở lại đây thăm các em, nên cũng lựa lời nói xa xa trước. Biết chị Xanh sắp vào Đồng Lộc, Lài rất lo, thao thức mãi. Còn Lý vẫn ngây thơ nên ngủ say ngay.
Bên kia, Xanh vẫn rì rầm với mẹ.
Hà lặng yên cho Lài ngủ ngon, nhưng Hà biết Lài không tài nào ngủ được. Thỉnh thoảng Lài lại trở mình.
Hà nằm yên nghe tiếng bom xa dội về, nghe tiếng gió đùa lay động những tàu lá tro xào xạc quanh nhà. Trong giấc ngủ. Hà còn nghe như có tiếng sóng rì rầm của dòng sông Ngàn Sâu...
Sáng hôm sau, Hà xin phép bố mẹ Xanh về Đức Giang. Xanh đi tiễn Hà thêm một quãng. Trước lúc chia tay Xanh hẹn:
– Mình sẽ sang Đức Giang đón Hà về Đồng Lộc cho vui. Đi cẩn thận nhớ.
Hà cười, xốc ba lô lên vai, rảo bước...
☆ ☆ ☆
Từ những ngày còn thơ bé, Hà thường nghe mẹ kể về ông bà ngoại. Ông bà quê gốc ở Hà Đông, sau phiêu bạt vào làm thợ cơ khí trong nhà máy Tràng Thi, Bến Thủy rồi sinh ra mẹ Hà ở đấy. Khi còn sống ông ngoại Hà rất trực tính, không hề bắt nạt ai bao giờ. Nhiều lần mẹ nói “Tính con Hà giống tính ông ngoại”. Hà chỉ biết vậy, nhưng thật ra cũng chưa hiểu hết về mình.
Cha Hà là ông Võ Trọng Lạc, quê gốc ở thị trấn Đức Thọ. Ông gặp bà Trần Thị Khuyên ở Bến Thủy. Hai người cưới xong, về Đức Thọ. Ông Lạc làm nghề cắt tóc ở thị trấn từ bao nhiêu năm nay. Ông cắt tóc cẩn thận và đẹp nên nhiều người biết ông. Mấy năm trước đây, thỉnh thoảng đôi lần trong một tháng, ông Lạc xách hòm đồ nghề vào phía bên trong núi, để cắt tóc cho công nhân Lâm trường.
Chỉ bằng đôi bàn tay khéo léo, cần cù và lương thiện như vậy, ông nuôi cả gia đình có bảy người lớn bé.
Cô gái đầu lòng tên là Võ Thị Hợi. Hợi lớn hơn Hà năm tuổi. Năm 1964, Hợi đi Thanh niên xung phong. Một năm sau, Hợi chuyển sang bộ đội công tác ở chiến trường C. Năm ngoái, chị Hợi lấy anh Can người Thừa Thiên. Hồi hai anh chị công tác ở Hương Sơn thỉnh thoảng mới về thăm nhà. Anh Can rất quý các em Hợi, gửi quà, sách vở về cho các em luôn.
Khi Hợi đi vắng, Hà trở nên lớn nhất nhà. Ít lâu sau bố Hà ốm rồi chết. Mẹ Hà vào làm việc ở hợp tác xã dệt thảm và mành mành, để nuôi các con. Hà phải nghỉ học ở nhà cơm nước giúp đỡ mẹ. Sau Hà là ba chú em trai. Nam, mười ba tuổi, Sơn chín tuổi và út Lâm mới lên bốn.
Địch ném bom thị trấn Đức Thọ ác liệt, gia đình Hà theo hợp tác xã sơ tán vào Đức Giang. Tháng mười năm ngoái, Hà đi Thanh niên xung phong làm nghĩa vụ của mình. Lúc sắp ra đi, mẹ Hà chỉ nói:
– Con đi thì mẹ vất vả lắm. Các em con còn bé. Nhưng con cứ yên tâm mà đi.
Hà động viên mẹ:
– Con đi ba năm rồi con lạ về với mẹ và các em...
Thật tình mẹ không muốn để Hà đi xa nữa, vì chỉ còn mình Hà là con gái ở trong nhà. Người mẹ nào chả cần có con gái gần gũi, nhất là khi góa bụa. Có người con gái như có hòn than ấp ủ bên mình. Nhưng mẹ Hà vẫn cho hai con gái lớn lần lượt đi.
Mẹ chuẩn bị cho Hà đủ thứ, như Hà sắp đi ở riêng vậy, rồi dặn dò.
– Con trực tính, rộng rãi giống ông ngoại. Thế là tốt. Nhưng đừng nóng nảy, mất đoàn kết. Làm sao cho bằng chị bằng em...
Hồi mới đi, Hà về nhà luôn. Có lần biết con trốn về chơi, mẹ rất thương, nhưng đành để bụng giục con về đơn vị kẻo phạm kỷ luật. Hà nước mắt vòng quanh, ăn vội bữa cơm rồi lại đi... Lần nào về Hà cũng mang theo một hai quyển truyện ở nhà đi, nói là để chị em cùng đọc. Mẹ chỉ lo Hà mê mải đọc truyện rồi chểnh mảng công việc, sao nhãng học hành. Nhưng Hà bảo:
– Không có sách đọc, con buồn lắm, chỉ muốn đi chơi.
Quyển nào đọc xong, Hà cũng mang về. Duy chỉ có quyển HÒN ĐẤT là Hà mang đi mãi...
Giữa tháng tư vừa rồi, cả tiểu đội 4 và nhiều anh chị em khác tình nguyện đi cho máu để cấp cứu thương binh. Đường đến bệnh viện dã chiến ở Thạch Hương xa ngoài bốn mươi ki lô mét. Một số người không hợp với loại máu cần thiết, đành phải về. Nhưng Hà và một số anh chị em khác đã để lại một phần máu của mình truyền cho các thương binh.
Trên đường về, gặp máy bay địch đánh bất ngờ vào đội hình. Anh Lê Bá Đàn ở Đức Hòa - cùng quê với Xanh nhưng ở tiểu đội khác - bị rốc két bắn gần đã hy sinh. Chị Trần Thị Nhuần - cũng ở Đức Hòa - bị thương vào đầu, nhưng may không chết. Sau lần đi Thạch Hương về, Hà ốm. Hà được nghỉ gần một tháng để bồi dưỡng cho lại sức khỏe.
Lúc nào Hà cũng nhắc đến gương hy sinh của anh Đàn và tỏ ra thương tiếc anh. Lần ấy, Hà ở nhà với mẹ lâu nhất. Rảnh việc lúc nào, Hà đi mót lúa, cắt rạ, kiếm củi về để dành. Thấy con chăm làm, biết nghĩ hơn trước, mẹ Hà rất thương, không cho Hà làm nhiều. Trước khi đi, mẹ cho Hà ít tiền để mua thuốc bồi dưỡng. Nhưng Hà cầm số tiền mẹ cho mua năm con gà nhỏ, mang vào đơn vị nuôi. Lần về gần đây nhất, Hà mang cả năm con gà lớn như thổi về cho mẹ, bảo là sợ chúng bị bom chết mất. Hễ cứ nhìn đàn gà, mẹ lại nhớ Hà. Mẹ định để dành, chờ Hà về rồi thịt dần. Ai hỏi mua cũng không bán...
Hôm nay Hà lại về thăm mẹ.
Về đến nhà, Hà không thấy mẹ và các em đâu. Đồ đạc y nguyên như lần trước. Nam và Sơn chắc đang ở lớp học. Còn út Lâm không biết đi chơi đâu, hay lại theo mẹ vào hợp tác xã.
Hà dọn dẹp nhà cho gọn lại. Nhà có mấy đứa em toàn là con trai nên nghịch lắm. Làm hết việc Hà thơ thẩn ra vườn. Thấy năm con gà của mình đang bới đất tìm sâu, Hà thoáng mỉm cười, vào lấy nắm thóc cho ăn. Đàn gà nghe tiếng gọi quen te tái chạy đến, mổ lấy mổ để những hạt thóc trên sân. Chúng mải ăn. Hà lần lượt bắt từng con một nhốt vào chiếc bu lớn. Đợi gà ăn hết thóc dưới gầm bu, Hà sách bu gà đi giấu kín trong một lùm cây...
Hà nấu cơm trưa chờ mẹ và các em về.
Mẹ Hà về thấy con kỳ này mạnh khỏe rất mừng. Mẹ có ý tìm đàn gà nhưng không thấy đâu.
Biết mẹ tìm gà để thịt, Hà lặng yên, tủm tỉm cười quay đi. Tìm mãi không thấy, gọi mãi cũng không có con nào về, mẹ Hà hơi lo. Hà không dám đùa dai với mẹ, đành phải nói:
– Mẹ tìm chi đó?
– Mấy con gà nỏ biết đi mô, hay lại mất rồi?
– Mất sao được, mẹ. Con vừa thấy chúng nó ở sân mà.
Mẹ Hà yên tâm nhưng vẫn băn khoăn.
Bữa cơm trưa hôm ấy, năm mẹ con quây quần bên nhau, ăn rất ngon lành. Các em tíu tít hỏi Hà chuyện Khe Sanh, chuyện Đồng Lộc... Các em tưởng chuyện gì chị Hà cũng biết. Cả nhà đều nhắc đến chị Hợi và anh Can. Lâu nay anh chị không về Đức Giang được, chắc là bận việc.
Chiều mẹ Hà không đi làm, sai Nam sang báo cho Hợp tác xã biết. Mẹ lại tìm gà. Hà nửa đùa nửa thật:
– Có lẽ bọn nó biết con về thể nào cũng bị thịt, nên chúng trốn biệt rồi. Mẹ không thấy được đâu.
Mẹ Hà ngờ ngợ. Con gái mẹ lớn tướng thế này rồi mà vẫn còn tinh nghịch như ngày trước hay sao? Mẹ hỏi:
– Con giấu gà đi phải không?
Hà cười:
– Nhưng mẹ không được thịt gà bây giờ. Để dành đến Tết.
– Mẹ chỉ thịt một con to thôi vậy.
– Vài hôm nữa Xanh sang rồi cùng đi với con. Hôm ấy liên hoan chia tay cũng được, mẹ ạ.
Nói rồi, Hà ra góc vườn cây kéo bu lên, thả gà ra. Gà được tự do ù té chạy khắp vườn. Mẹ nhìn Hà lắc đầu cười. Hà xách chiếc bu vào bếp cũng tủm tỉm cười theo...
Tối hôm ấy, hai mẹ con rì rầm tâm sự. Mẹ ôm Hà vào lòng. Hà cảm thấy mình vẫn còn bé bỏng như ngày trước.
Hà nói thật với mẹ, sau lần về này, Hà sẽ vào Đồng Lộc làm việc. Không biết sống chết ra sao. Mẹ khóc thầm. Mẹ biết ở đó đang bị máy bay Mỹ ném bom suốt ngày, ròng rã hàng tháng rồi. Liệu rồi đây Hà có được yên không?
Không một người mẹ nào muốn cho con đi vào nơi bom đạn hiểm nghèo, nhưng cũng không người mẹ nào muốn con mình trở thành kẻ đào ngũ, hèn nhát, trốn tránh nghĩa vụ thiêng liêng khi Tổ quốc trông chờ... Chính những nỗi niềm sâu kín - đầy mâu thuẫn ấy - gây nên tâm trạng phức tạp, giằng co trong mỗi người mẹ khi có con sắp sửa lên đường đi chiến đấu...