10 Cô Gái Ngã Ba Đồng Lộc

Lượt đọc: 714 | 1 Đánh giá: 10/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 5

Mấy chị em về phép đã lên đúng hẹn. Tần đang họp chị em phổ biến nhiệm vụ mới:

– Ngày mai chúng ta sẽ vào làm nhiệm vụ trong Ngã Ba Đồng Lộc. Bây giờ, tôi giới thiệu với các đồng chí vài nét về địa hình và đường đi lối lại ở khu vực này, để chúng ta khỏi bỡ ngỡ.

Cô mở cuộn sơ đồ Đồng Lộc vẽ tạm bằng mực xanh trên mặt sau của tờ tranh cổ động, trải lên giường. Chị em vây kín xung quanh. Tần thấy đủ mặt đội viên, chỉ vắng có Lê Thị Hồng đang đốn gỗ ở Quảng Bình. Cô cầm cành tre nhỏ chỉ lên sơ đồ nói tiếp:

– Chúng ta đang ở đây, là Phú Lộc. Chỗ này là cống Mười Chín, nơi này nọ Cúc, Xuân, Hường, Nhỏ bị vùi nhưng không chết. Đây là ngã tư quyết thắng. Đây là cầu Bạng, cầu Đôi, cầu Máng, cầu Tùng Cóc. Đây là nghĩa trang năm liệt sĩ hy sinh trên mảnh đất này trong thời kỳ Xô Viết Nghệ Tĩnh. Còn đây là ngã ba Khiêm Ích. Theo đường này sẽ ra ngã ba Nghèn, quốc lộ Một. Còn theo đường Mười Lăm này sẽ ra Ngã Ba Đồng Lộc. Đây là cầu Dương Tài. Trước đây tên là cầu Tối. Nhưng anh Dương và anh Tài tháo bom từ trường ở đây, bị hy sinh cùng một lúc, nên mọi người lấy tên hai anh để đặt tên cầu...

Mọi người chợt lặng đi một lát. Võ Thị Tần nói tiếp:

– Đây là Ngã Ba Đồng Lộc cũ. Đoạn đường này dẫn tới ngã ba nhưng bom Mỹ đã xóa hết. Đây là cầu Truông Kén. Đây là Ngã Ba Đồng Lộc mới. Đi thẳng đường Mười Lăm này sẽ có lối đi vào đường mòn mang tên Bác. Còn rẽ lối này ra tỉnh lộ Hai qua cầu Sôông về ngã ba Giang - quốc lộ Một. Ngay bên kia cầu Sôông là xã Thạch Minh - Thạch Hà, quê hương của đồng chí Lý Tự Trọng. Ở về phía tay trái bên kia cầu Sôông có nhà cụ Lê Văn Đại là thân sinh ra liệt sĩ Lý Tự Trọng. Năm nay cụ đã ngoài tám mươi.

Có tiếng bàn tán xì xào to nhỏ:

– Sao cụ Đại họ Lê, anh Tự Trọng lại họ Lý nhỉ?

– Bác Hồ đặt họ Lý cho anh để hoạt động cách mạng mà.

Tần im lặng chờ một lát rồi nói tiếp:

– Chúng ta sẽ hành quân theo đường tắt, tránh đi gần đường lớn; vòng qua đây, rồi vào đóng quân ở Mỹ Lộc, gần lối ra Ngã Ba Đồng Lộc cũ. Mình đóng ở đây tiện ra sửa đường. Nếu ở xa quá, có thể an toàn hơn, nhưng chỉ những đi và về đã hết cả thời gian. Các anh công binh rà soát bom bi và bom từ trường ở khu vực chúng ta sắp đến ở rồi. Có thể yên tâm được về cái khoản dưới đất. Nhưng phải thường trực, cảnh giác với lũ giặc trời.

Tần ngửng đầu lên hỏi:

– Đồng chí nào có ý kiến gì không?

Võ Thị Hợi rụt rè nói:

– Nơi trú chân thứ hai ở mô? Phải đề phòng trước...

Tần gật đầu, trả lời ngay:

– Nếu lộ địa điểm ở Mỹ Lộc, chúng ta sẽ chạy tắt, qua đây vào trú nhờ trong xóm Mai Long của Xuân Lộc. Đây là quê hương anh Linh, C trưởng chúng mình. Lo gì nữa?... Thế thôi nhé! Ngay sau đây, các đồng chí về thu xếp mọi việc để có thể lên đường vào lúc mờ sáng ngày mai. Xem còn vướng mắc chi với bà con, thì phải thanh toán xong trước khi đi. Mượn cái chi phải trả dân cái đó. Thu dọn gọn gàng, sạch sẽ và chào bà con... Tối hôm nay, chúng ta sẽ họp buổi cuối cùng.

Tần cuộn tấm sơ đồ lại. Chị em tản ra thành nhiều nhóm, về các nhà. Chỉ còn Hợi ở lại. Tần hỏi Hợi:

– Có việc gì thế?

– Ngày mai vào Đồng Lộc rồi... Đến khi mô mình mới về thăm nhà được? - Mình không dám để Hợi đi cùng đợt với các bạn vừa rồi, vì ngại chị em còn ở lại không thông cảm, cho rằng “cùng Thiên Lộc với nhau, cùng họ Võ với nhau” lôi thôi lắm!

– Mình vừa nhận thư của anh Sơn trong Nam gửi ra. Anh bảo sắp về thăm nhà...

– Nếu vậy, bất cứ khi mô anh Sơn về, Hợi cứ bảo cho mình biết, mình sẽ xin phép các anh cho Hợi về ngay.

Hợi đưa bàn tay ra, vòng ngón tay trỏ lại. Tần mỉm cười, cũng ngoắc ngón tay trỏ của mình vào ngón tay Hợi, như hồi còn bé cam kết với nhau... Tần nói khẽ:

– Nhưng mà này... cho về là để thăm thôi. Cấm không được cưới đó!

Hợi cười, phát vào vai Tần:

– Cứ suy bụng ta ra bụng người. Anh Hồng về tôi sẽ mách cho.

Tần cười nói lảng:

– À, Hợi này. Hôm nọ em Tửu nhà mình lên đây thăm, mình cho mấy mẹ con gà mái về Thiên Lộc “sơ tán” rồi. Hôm nào về, nhớ ghé qua nhà mình xem lũ gà còn sống không, hay lại vào nồi hết cả rồi. Nhớ dặn em Tửu hộ mình là cố để dành gà đến Tết...

Hợi cười ranh mãnh:

– Mình sẽ bảo Tửu để dành gà cho đến khi anh Hồng về mới được thịt.

Hai chị em cùng cười, rồi Hợi ra về. Đôi bạn cùng quê, cùng họ, thân nhau, nhưng kín đáo. Tần không muốn chị em nghĩ là Tần đối xử đặc biệt với ai...

Vừa nhắc đến Tửu, Tần lại nhớ các em. Hôm gia đình anh Hồng sang “ăn hỏi”, khi anh ra về, Tần đưa chân một quãng. Hai em tưởng chị đi đâu xa, cứ lẽo đẽo theo sau. Chóng thế! Mới đây đã hơn ba năm rồi. Tửu bắt đầu ra dáng một chàng trai.

Tần thấy Xuân Đức Tân ngoan ngoãn, khỏe mạnh, xinh xắn, nên nửa đùa nửa thật bảo Xuân:

– Có được một cô em dâu như mi thì tau thích lắm!

Xuân Đức Tân chỉ cười. Trước khi đi Thanh niên xung phong, Xuân có quen anh Tân người cùng xã. Gia đình anh rất quý Xuân nhưng chưa dám ngỏ lời với ông bà Quý - cha mẹ Xuân.

Xuân mến anh Tân, nhưng chưa muốn vướng vào chuyện chồng con vội. Xuân hẹn anh chờ ít năm, sau khi Xuân đi thanh niên xung phong trở về hãy liệu. Anh Tân cho Xuân nghĩ như vậy là đúng, anh trao cho Xuân quyển điều lệ Đảng mà anh vẫn dùng. Anh nói với Xuân:

– Anh cũng sẽ đi bộ đội. Sau này cùng trở về, chúng ta sẽ lo đến hạnh phúc riêng...

Anh lấy sợi dây ni lông buộc vào cổ tay Xuân rồi nói:

– Màu đỏ là anh, màu xanh lam này là em. Khi nào nhớ đến anh, em hãy nhìn chiếc vòng này.

Xuân đi thanh niên xung phong được ít lâu thì nhận được tin anh Tân vào bộ đội rồi đi chiến trường miền Nam. Hai người thỉnh thoảng vẫn thư từ cho nhau.

Xuân đưa cổ tay trái cho Tần xem. Tần thấy sợi ni lông xanh đỏ như một chiếc vòng, mỉm cười nói:

– Thằng Tửu nhà tau đến muộn rồi.

Tần vẫn quý mến Xuân như trước. Tửu vẫn vô tư đi về thăm chị, thăm Xuân.

Tối hôm ấy, chị em quây quần chung quanh Tần, họp buổi cuối cùng trước khi lên đường.

Tần động viên chị em:

– Chúng ta cần học tập các anh bộ đội pháo cao xạ Trung đoàn 210, bám trụ ở Ngã Ba Đồng Lộc rất kiên cường. Tôi được biết các anh ấy đã tuyên thệ trước Đảng và trước nhân dân kiên quyết bảo vệ Ngã Ba Đồng Lộc, bảo vệ đường đến hơi thở cuối cùng. Ai tuyên thệ rồi mới được bước vào ụ súng để chiến đấu. Nhiều đồng chí đã hy sinh cùng một lúc vì bom giặc Mỹ, nhưng những người còn lại không một ai ngã lòng. Chúng ta nguyện noi gương các đồng chí ấy... Ngày mai chúng ta vào Ngã Ba Đồng Lộc. Dù nhiệm vụ khó khăn gian khổ mấy chúng ta cũng quyết tâm làm tròn, để xứng đáng với những đồng chí đã hy sinh. Chúng ta tự nguyện đi vào cuộc chiến đấu này không phải vì bắt buộc. Nếu ai thấy cần ở lại, đến bây giờ vẫn chưa muộn. Chúng tôi sẽ đề nghị cho chuyển về tuyến sau. Vậy bây giờ... một lần cuối cùng, tôi xin hỏi: Ai cần ở lại?

Không một ai giơ tay. Tất cả im phăng phắc. Không khí nghiêm trang bao trùm phòng họp nhỏ. Võ Thị Tần hỏi tiếp:

– Đồng chí nào tình nguyện vào Ngã Ba Đồng Lộc?

Tất cả mười lăm người trong tiểu đội đều dứt khoát giơ tay. Không khí thiêng liêng như trong một buổi tuyên thệ không lời. Tần hạ tay mình xuống, chị em hạ tay xuống theo. Tần cảm động nghẹn ngào một thoáng rồi kết thúc cuộc họp rất đột ngột:

– Cảm ơn các đồng chí. Tôi thật là hạnh phúc. Mời các đồng chí nghỉ...

Đêm cuối cùng ở Phú Lộc.

Võ Thị Tần và Dương Thị Xuân nằm bên nhau như mọi ngày, nhưng không ai ngủ ngay được. Tần lo cho buổi tiến quân ngày mai sao cho trọn vẹn, an toàn. Còn Xuân Đức Tân cứ bồi hồi nhớ lại chuyến về phép tranh thủ hôm vừa rồi...

Hôm ấy, sau khi chia tay Cúc, Nhỏ, Hà, Xanh, Xuân cùng với Rạng mải miết đi về phía thị trấn Đức Thọ.

Đúng giữa trưa, Xuân và Rạng dừng lại bên bờ sông La.

Bên này sông, mảnh tường chính của nhà thờ thị trấn Đức Thọ vẫn còn. Vôi vữa long lở. Cây thánh giá vẫn trầm tư nhìn xuống dòng sông...

Bên kia sông là xã Đức Tân quê hương Xuân rồi đó. Rạng nhìn Xuân lưu luyến.

– Xuân tìm cách sang sông ngay nhé. Mình về Đức Vĩnh đây. Hôm nào lên, mình qua nhà Xuân rồi cùng đi.

Xuân nắm tay Rạng:

– Cứ dọc đê này về bến đò Hào. Nhưng phải cẩn thận máy bay nhiều lắm đó.

Bên kia là làng Xuân, trông xa như hòn đảo nổi xanh rì. Máy bay địch tập chung đánh phía bên kia - Phà Linh Cảm. Trước đây, thuyền bè xuôi ngược tấp nập. Đủ các loại buồm trôi trên sông nên trông lòng sông không rộng lắm. Giờ đây, không có bóng một con đò nào, dòng sông trở nên lặng lẽ, mênh mông...

Nếu cứ đợi đò sang thì đến tối mất. Xuân quyết định tìm cách vượt sông. Xuân lựa theo dòng nước bơi sang nhanh. Còn cách bờ khoảng một phần ba lòng sông chợt có tiếng máy bay rít trên đầu. Xuân bơi đứng để giảm tốc độ. Chiếc máy bay như nghi ngờ điều gì đó, vội bay vòng trở lại, là là xuống sát gần mặt sông. Xuân đành lặn xuống nước. Xuân chờ đợi một tràng súng máy hay một viên rốc két phóng xuống mặt nước. Nhưng chờ hết cả hơi vẫn chẳng thấy gì, Xuân vội ngoi lên thở dốc.

Chiếc máy bay đã lướt ra xa. Xuân tiếp tục bơi vội vào bờ. Bờ sông rõ dần. Bụi cây um tùm che kín cho Xuân...

Thay quần áo xong, tóc Xuân vẫn còn ướt, đành buông xõa sau lưng. Xuân ngồi bên bờ sông giặt bộ quần áo vừa mặc sang đây...

Bờ sông thân thuộc của Xuân. Bờ sông kiếm ăn của làng Xuân ngày trước...

Ngoài nghề đóng thuyền, dệt thảm, đan mành ra, xã Đức Tân nổi tiếng với nghề làm hến. Mỗi gia đình một con thuyền trôi dọc theo sông La. Nếu gần bờ, thì lội xuống xúc hến, nếu ở chỗ nước sâu, đã có gáo múc hến lên. Từng vốc một, từng nắm một... đổ vào trong khoang thuyền. Chiều về, người nhà đổ ra gánh hến lên. Tiếng rửa hến cứ sàn sạt bên sông. Những thúng hến đầy ắp được gánh về. Nhà nào nhà nấy nổi lửa lên luộc hến, rồi đãi hến.

Sáng hôm sau, người Đức Tân qua đò sang chợ Thượng, mang ruột hến và thùng nước luộc hến đi bán. Tiếng rao: “ Nác ngọt, rọt to, đong đầy, bán rẻ đơi!” (Nước ngọt, ruột to, đong đầy, bán rẻ đây!) vang lên dọc phố huyện.

Ở chợ Thượng những mẹt hến đầy ắp đước chia đôi, chia tư, chia tám sẵn rồi. Ai muốn mua bao nhiêu phần cũng tiện. Nếu muốn lấy nước luộc hến nhớ mang theo cái đựng. Người bán hàng sẵn sàng múc nước hến thêm cho. Chỉ cần mua thêm vài quả cà chua, mớ rau thơm, quả khế là sẽ có một nồi canh hến tuyệt vời. Hến là món ăn thông thường ở thị trấn Đức Thọ, bắt nguồn từ bên xã Đức Tân.

Những năm tháng bình yên, họp chợ giữa ban ngày như vậy đã qua rồi. Dân làng Đức Tân vẫn vớt hến ban đêm, làm hàng vội vã, nhưng không còn bao nhiêu nhà đi chợ nữa.

Người Đức Tân đi đến đâu cất tiếng lên là biết ngay. Tiếng hơi khó nghe, nhưng ấm dịu và trầm. Chị em ở tiểu đội 4 vẫn hay đùa Xuân bằng cách rao hàng theo tiếng Đức Tân. Có những buổi sớm tinh mơ, Xuân dở thức dở ngủ, nghe Hà rao “Ai mua nác ngọt, rọt to, đong đầy, bán rẻ đơi!” rất giống tiếng Đức Tân, Xuân tưởng như đang ở nhà mình. Choàng dậy, mới biết là các bạn đùa vui, đang cười như nắc nẻ.

Hôm nay Xuân trở lại bến sông thân thuộc của mình nhưng vắng vẻ quá. Vắt kiệt nước lần cuối cùng xong, Xuân đeo ba lô, cầm bộ quần áo vừa giặt về nhà, mái tóc Xuân buông xõa kín lưng.

Xóm làng quạnh quẽ. Không biết cha mẹ và các em có ở nhà không?

Về tới nhà, Xuân thấy cửa đóng im ỉm. Cây bưởi đầu ngõ như ngơ ngác không nhận ra Xuân. Cây vú sữa Xuân mới trồng năm ngoái trước khi đi để làm kỷ niệm, giờ đã cao ngang tầm ngực. Hôm trồng cây vú sữa này Xuân bảo mẹ:

– Con trồng ở đây, trước cửa nhà thờ, sau này nó lớn lên tròn tán rất mát, rất đẹp.

Sau khi Xuân đi “ba sẵn sàng”, ngày ngày mẹ vun tưới cho cây, nên cây mới chóng nhớn thế này. Xuân chạy sang hàng xóm hỏi thăm, mới biết là mẹ và các em đang ở lều gần hầm.

Xuân biết, lát nữa mẹ và các em sẽ về. Còn cha không biết đi đâu, nghe nói đang phục vụ ở bến phà Linh Cảm - Khe Sanh thứ hai - rồi.

Xuân không biết mẹ và các em ở hầm nào ngoài đồng để tìm, nên đành ngồi hong tóc trên thềm...

Gia đình Xuân rất đông em. Lớn nhất là Xuân, năm nay vừa tròn hai mươi tuổi. Em Dung, mười bốn, em Kiều, mười một, em Nam chín tuổi, em gái Hà lên Bốn và em Vân út mới lên hai.

Vì là con gái đầu lòng nên Xuân khá vất vả. Bố làm thợ mộc, vắng nhà suốt. Mẹ bận đi chợ Thượng bán hến, bán hàng quà. Nhiều khi Xuân phải nghỉ học để trông nhà, trông em, cơm nước thay cho mẹ.

Xuân hiền hậu, nhu mì, mẹ mắng không bao giờ cãi lại.

Năm học xong lớp bảy, Xuân xin cha mẹ cho đi làm trên nhà máy đường Sông Lam gần rú Thành. Sống cuộc đời công nhân, Xuân phổng phao, và đẹp hẳn lên. Cho đến nay, Xuân vẫn thuộc diện to lớn, khỏe mạnh nhất tiểu đội 4. Xuân chăm làm, chịu khó học hành và công tác nên được nhà máy thưởng nhiều lần. Mùa sản xuất đường chống Mỹ cứu nước năm 1965 và 1966, Xuân được thưởng chiếc khăn lụa hoa rất đẹp. Thỉnh thoảng cần diện một chút Xuân mới quàng trên mái tóc đen dài qua đôi vai chắc khỏe, nom thật dễ coi. Ở xã, những buổi liên hoan văn nghệ các em gái thường đến mượn Xuân chiếc khăn hoa đó để múa.

Nhà máy đường Sông Lam bị bom Mỹ tàn phá, công nhân phải tạm chuyển đi làm việc khác, Xuân xin vào thanh niên xung phong.

Ra đi, Xuân vẫn nhớ ngọn núi Thành cao chót vót bên nhà máy. Nhớ ngã ba sông Lam và sông La. Nhớ những chuyến xà lan đầy mía. Nhớ những vệt khói hơi nước và mùi vị riêng của nhà máy đường tỏa ra mỗi sớm mỗi chiều. Xuân nhớ những khu nhà tập thể trên sườn núi đất. Ngày chưa có bom Mỹ, trong đêm, đi thuyền dưới sông Lam nhìn lên, thấy đèn như sao sa trên khắp sườn núi. Giờ đây, tất cả chỉ còn là gạch vụn. Chỉ có Sông La ngày Xuân ra đi cũng như những buổi Xuân về, bao giờ cũng một màu xanh trong dịu dàng, thân thiết... Anh Tân ngày nào đã đón đợi Xuân ở bến Lò vôi bên Đức Thọ. Quyển điều lệ Đảng và vòng dây xanh đỏ anh trao cho Xuân ngày ấy, giờ vẫn còn đây...

Không thể ngồi yên chờ mẹ được, Xuân đứng dạy, vấn tóc lại rồi ra đồng sau làng tìm mẹ và em.

Đêm hôm ấy, sau khi các em ngủ hết xung quanh miệng hầm, Xuân vào nằm với mẹ. Mẹ Xuân vốn cao lớn, nên Xuân nằm bên mẹ vẫn cảm thấy mình còn bé bỏng. Xuân hỏi chuyện về cha. Mẹ nói:

– Cha con lên Linh Cảm phục vụ cầu phà, thuyền phao ở đó rồi. Người ta chở đến đó hàng trăm chiếc quan tài, và dự trữ sẵn nhiều máu khô, để sẵn sàng chiến đấu đến cùng...

Xuân hiểu thế nào là việc dự trữ sẵn áo quan ở những nơi nóng bỏng đạn bom. Xuân im lặng.

Ông Quý rất chiều các con. Những lúc rảnh rỗi trước đây, ông thường xuống đơn vị thăm Xuân. Nhiều bạn của Xuân thầm ao ước có một người cha như thế. Nhất là Nhỏ, Cúc và Hường. Lần nào Xuân về thăm nhà cũng được cha đưa đến tận đơn vị.

Hôm nay, Xuân về thăm mẹ có ý nghĩa riêng. Xuân tháo nhẫn vàng mẹ cho và đồng hồ đeo tay mua được hồi làm công nhân đưa cho mẹ. Mẹ ngạc nhiên hỏi:

– Sao vậy con?

Xuân ngập ngừng;

– Con gửi mẹ những thứ này ở nhà. Con sắp vào Đồng Lộc làm việc, không cần thiết mang theo. Tiện thể, con mang theo một ít quần áo không dùng đến về nhà...

Mẹ Xuân hiểu ngay, ngồi dậy hỏi:

– Khi mô con vào Đồng Lộc?

– Sau khi con ở đây về.

– Rứa à? Vậy thì phải nhắn cha con về, cho cha con còn được gặp nhau.

Xuân im lặng một lát, rồi nói:

– Cha con đang bận ở trên Linh Cảm. Mẹ không nên nhắn về. Con gặp mẹ là được rồi.

Mẹ lại nằm xuống không nói gì nữa. Xuân cũng yên lặng. Nhưng cả hai mẹ con đều thao thức qua đêm...

Vào lúc rạng sáng, Xuân bảo mẹ:

– Con cho em Dung chiếc khăn quàng lụa rồi. Mẹ bảo em cố gắng học hành để còn bảo ban các em. Con đi xa, chỉ còn Dung là lớn. Thỉnh thoảng con lại về thăm mẹ. Mẹ đừng lặn lội xuống chỗ con làm nữa. Máy bay nó thả bom luôn.

Mẹ dằn lòng hỏi Xuân:

– Con có ở nhà thêm được mấy hôm không? Mấy hôm nữa, nhà ta có giỗ. Thế nào cha con cũng về.

– Lần này con không được phép về muộn. Nếu ai về trễ phép, coi như tự rút lui ra khỏi Đồng Lộc.

Mẹ Xuân yên lặng thở dài. Một lát sau, mẹ nói:

– Vậy thì đến ngày, con cứ đi...

Sáng hôm sau, Xuân soạn ba lô, lựa chọn những thứ cần để lại. Mẹ lặng lẽ đi nấu cơm.

Về quần áo Xuân không có gì phải cân nhắc nhiều. Xuân giữ hai bộ thay đổi. Còn để lại hết.

Chỉ có đám thư và ảnh là Xuân băn khoăn nhất. Để ở nhà, nhiều lúc muốn giở ra xem lại không có. Mang đi theo, không nặng nề gì, nhưng lỡ cháy mất thì không bao giờ có nữa. Xuân cầm chiếc ảnh mình mới chụp lên xem lại. Ảnh in trên khuôn hình chiếc lá có tô màu. Hôm ấy Xuân mặc áo hoa ca rô cộc tay, đội mũ lưới có đính sao, tay đeo chiếc đồng hồ thường dùng. Tóc Xuân tết bím khá dày và dài. Xuân rất thích tấm ảnh này. Nhưng thôi, để ở nhà mẹ ngắm luôn cho đỡ nhớ.

Xuân xem lại một bó thư, xếp lại tập ảnh, rồi xuống bếp làm cơm với mẹ.

Ánh lửa trong gian bếp vẫn còn bập bùng nhảy múa trước mắt Xuân... Bên ngoài khung cửa lớn, bầu trời phía đông Phú Lộc đã rực sáng.

Chỉ còn lại một mình, sau khi Dương Thị Xuân sang sông về Đức Tân, Trần Thị Rạng hối hả đi dọc đê sông La để về bến đò Hào...

Rạng sinh năm 1950 tại xóm chài Thọ Thủy, thôn Vĩnh Đại, xã Đức Vĩnh, huyện Đức Thọ. Quê Rạng ở đầu huyện, giáp bờ sông Lam - bên kia sông là Nghệ An, bên này sông sát với huyện Nghi Xuân...

Cha mẹ Rạng đã già rồi. Năm nay ông Trần Tư Thịnh tròn 60 tuổi, bà Nguyễn Thị Sáu bước vào tuổi 56. Cha Rạng tham gia cách mạng từ năm 1938, ông đã từng tham gia biểu tình ở ngã ba Lạc Thiên năm 1938, trong lực lượng phản đế; đội viên du kích xã, đội trưởng du kích xã, đi dân công hỏa tuyến... rồi về địa phương tham gia các phong trào ở xã; làm nghề te lưới sông nước lênh đênh để kiếm sống.

Gia đình Rạng có năm anh em. Lớn nhất là anh Trần Đình Vân, hơn Rạng 17 tuổi, đến anh Trần Nhụy, chị Trần Thị Nguyệt rồi mới đến Rạng. Sau Rạng còn có cô em út Trần Thị Sỹ. Năm anh chị em đều theo cha mẹ làm nghề sông nước từ tấm bé, cho đến khi lớn lên, mỗi người đi một con đường riêng. Anh Vân có vợ là chị Phan Thị Lan. Năm 1955 anh chị sinh cháu trai đầu lòng, đặt tên là Trần Quang Trung. Anh chị xin bố mẹ cho em Rạng về ở với mình trên đất liền, để chăm sóc cháu.

Thế là từ năm ấy, Rạng ở với anh chị và cháu cho đến khi tình nguyện đi thanh niên xung phong năm 1967. Trần Thị Rạng rất quý anh chị và các cháu. Tuy là “bà cô bên chồng”, nhưng tuyệt nhiên giữa hai chị dâu, em chồng trong bao nhiêu năm không một điều tiếng gì. Rạng được anh chị nuôi cho ăn, học từ lúc mới lên 5 tuổi, cho đến khi thành cô thiếu nữ “17 bẻ gãy sừng trâu”. Rạng đẹp một cách hiền lành, chân chất và đôn hậu. Là con gái đất gió Lào nhưng da Rạng rất trắng. Cô có nụ cười rất tươi và hay e thẹn nên được nhiều chàng trai từ trên bộ đến dưới thuyền để ý, đến thăm hỏi và xin cưới về làm vợ. Nhưng anh chị Vân đều từ chối một cách khéo léo - vì đất nước còn đang chiến tranh, phải cứu nước đã... Năm 1967, có lệnh tuyển thanh niên xung phong, anh Vân cho Rạng làm đơn đi ngay. Đơn vị đầu tiên đóng ở Nga Lộc - cách nhà chưa đầy 15 cây số, nhưng Rạng chỉ về thăm cha mẹ và anh chị em có đúng một lần, rồi đi vào Đồng Lộc...

Rạng rất nhớ các cháu con nhà anh chị Vân - Lan, vì Rạng đã chăm sóc các cháu từ khi các cháu mới ra đời. Sau cháu Trung là đến cháu Chính sinh năm 1960. Hai cháu trai đầu lòng của anh chị rất hiếu động, nhưng lại nghe lời cô Rạng bảo ban. Hai cháu gái tiếp theo là Ngọc Hoa sinh năm 1963 và Ngọc Lý sinh năm 1966 đều rất yêu cô Rạng. Chúng coi cô như một người mẹ trẻ, nên khi đi thanh niên xung phong, Rạng bịn rịn về các cháu nhiều hơn cả. Khi Rạng ra đi, cháu Lý vẫn còn phải ẵm ngửa, cứ khóc đòi theo cô mãi...

Hôm nay, được về thăm nhà, Rạng rất vui sướng, chỉ mong cho chóng được gặp cha mẹ, anh chị, em Sỹ và các cháu...

Đến bến đò Hào, Rạng đi nhờ thuyền bác hàng xóm về nhà anh chị trước.

Trên con thuyền nhỏ, Rạng được biết tin anh Vân đang lặn ngụp dưới sông La, để vớt từng bao tải gạo của bộ đội bị đắm thuyền - do vướng thủy lôi của địch thả đầy trên sông mấy hôm trước. Bố mẹ và các anh chị em Rạng đang lênh đênh trên sông nước, không biết đang dậu ở khúc sông nào...

Vào tới nhà anh chị Vân, các cháu thấy cô về, mừng rỡ reo ầm lên. Chị Lan từ dưới bếp tất tưởi đi lên thấy cô Rạng về thật, đứng nhìn cô em chồng rắn rỏi và đẹp hẳn lên trong bộ quần áo ba sẵn sàng. Chị tươi cười:

– Các cháu cứ nhắc tới o mãi. Thấy bom nổ suốt cả ngày ở Can Lộc, chúng nó cứ hỏi chị: “Mẹ ơi! O Rạng có sao không?”.

Rạng ứa nước mắt nhìn các cháu. Cháu Trung lớn rồi, 14 tuổi, cháu Chính mới lên 8. Cháu Hoa mới lên 5. Còn cháu Lý - bé nhất lúc đó mới lên hai chạy lẫm bẫm đến bên cô, đôi mắt ngây thơ của nó nhìn cô hơi lạ lẫm.

Rạng ôm chầm lấy cháu, bế vào lòng. Cháu Lý chợt nhớ lại hơi cô, nên ôm chầm lấy Rạng bập bẹ nói:

– O hông... được nữa, o ở nhà với cháu!

Rạng tràn nước mắt, nói nựng:

– Ừ... O sẽ ở nhà vài hôm với cháu...

Nhìn thấy chị dâu bụng lại chửa to vượt mặt, Rạng cười:

– Lại cháu trai thôi chị ạ! Đến thằng này thì cháu Trung và cháu Chính phải bế em rồi. Chị vất vả quá, em lại đi vắng...

Chị Lan cười ngượng ngùng:

– Vất vả mấy chị cũng phải cố. Em cứ yên tâm công tác, đừng lo cho chị làm gì. Em giúp chị đã nhiều rồi... Sau này, còn chồng con của em nữa chứ!

Rạng im lặng, thoáng buồn, nói lảng sang chuyện khác:

– Em biết anh Vân đi vớt gạo cho bộ đội rồi, nhưng hiện nay bọ mạ ở đâu? Em muốn đi thăm quá... vì sau đây, em sẽ vào Ngã Ba Đồng Lộc... Chưa biết khi mô về thăm nhà...

Chị Lan lặng người đi, ứa nước mắt, hỏi Rạng;

– Em vô Ngã Ba Đồng Lộc à? Ở đó ác liệt lắm... Em phải cẩn thận...

Nói xong, chị Lan bảo các cháu lớn trông em, để chị còn vào bếp làm cơm cho cả nhà ăn. Rạng nói:

– Chị đừng nấu cơm cho em. Em với cháu Trung đi tìm ông bà nội.

– Bọ mạ ở trên sông, hai o cháu biết mô mà tìm... Cứ ăn cơm chiều xong đã. Tối đến hẵng hay...

Tuy chị dâu nói như vậy, nhưng Rạng vẫn quyết tâm cùng cháu Trung lấy chiếc thuyền con đi tìm bố mẹ. Rạng nói với cháu Trung:

– Tết vừa rồi, ông bà nội nói là Tết năm tuổi của ông. O muốn đi thăm ông bà ngay cháu ạ. O chỉ được ở nhà có ít hôm thôi...

Trong bóng chiều chập choạng hai cô cháu bơi thuyền đi dọc bờ sông La về phía thượng nguồn...

☆ ☆ ☆

Sáng hôm ấy, tiểu đội 4 lên đường. Mỗi người đeo một chiếc ba lô, vai vác xà beng, cuốc xẻng... trên mũ, nón, ba lô đều cài lá ngụy trang. Võ Thị Tần đi đầu. Hồ Thị Cúc đi sau cùng. Tiểu đội nghiêm trang đi trong đội hình hành quân hàng một. Chỉ có tiếng nói chuyện khẽ, tiếng dụng cụ trên vai va chạm vào nhau. Những tiếng nổ trầm đục của mấy quả bom hẹn giờ, bom từ trường bị công binh phá. Tiếng máy bay ì ầm không ngớt.

Càng vào gần Đồng Lộc, tiếng máy bay địch ngày càng rõ hơn, tiếng bom nổ cũng gần hơn. Mọi người đều thấy những khối mây màu đỏ chập chờn bay là là trên bầu trời Đồng Lộc. Có những cột khói đen của “xi téc” xăng hay chiếc ô tô nào đó cháy dở. Lác đác đó đây vài chiếc tan tành. Đây một chiếc bánh xe. Kia một tấm cánh cửa xe bẹp dúm...

Những vạt vườn hoang cháy sém, trơ trụi. Những mảnh tường đổ ngổn ngang bên những hố bom. Những bậc thềm cỏ mọc đầy kẽ gạch. Những mảnh sân đầy nắng, rạn vỡ, im lìm. Ai đã chập chững đi những bước đầu tiên trong đời trên mảnh sân này? Bây giờ anh hay chị ở đâu?

Bụi đất đỏ phủ đầy trên mũ, nón và vai áo các cô thanh niên xung phong A4.

Mặt trời lên ngang đầu. Bụi. Nóng. Mồ hôi bắt đầu nhỏ giọt trên từng đôi má. Tiếng máy bay và những tiếng bom... Những mảnh bom to nhỏ đủ loại đầy mặt đất.

Đến quá trưa, chị em A4 mới tới được Mỹ Lộc.

Nhân dân đi sơ tán gần hết. Nhà cửa hoang vắng. Những mái nhà ngói bị bom bi, thủng từng vạt bằng chiếc mẹt. Bếp nào cũng nguội lạnh. Giếng nước lá rụng đầy, im lặng. Hầm sụt lở, nhưng khô ráo.

Võ Thị Tần nhặt một hòn than, viết lên mảnh tường đổ dòng chữ số: 12-7- 1968-A4 -C552-P18.

Cúc viết tiếp con số 15 ở dưới dòng chữ của Tần.

Tần cho chị em đặt ba lô, dụng cụ làm đường xuống, ngồi nghỉ bên những chiếc hầm không chắc chắn. Tần bảo:

– Chúng mình nghỉ nửa giờ ăn cơm nắm. Sau đó đến chỗ tập kết.

Dưới bóng những cây tro còn sót lại, chị em túm năm tụm ba, dỡ cơm nắm trong ba lô ra ăn. Không khí nhộn nhịp hẳn lên. Người lấy dao con sắt nắm cơm. Người lấy sợi chỉ thắt nắm cơm, cũng được những khoanh cơm gọn ghẽ, ngon lành. Muối vừng trộn lạc bày ra. Chỉ một loáng đã hết veo.

Những chiếc bi đông nước chè truyền tay nhau. Một số cô nằm trên thảm cỏ, tranh thủ ngủ ngay một giấc ngon lành. Tần ngồi cạnh Cúc, hích nhẹ vào vai bạn, ra hiệu có mấy cô tiên đang ngủ trưa. Cúc cười. Tần nói:

– Đúng là “ăn pháo thủ, ngủ sẵn sàng”.

Cúc bấm tay Tần. Tần tưởng có chuyện gì. Cúc ghé vào tai Tần nói sẽ:

– Tần có ngửi thấy hương thơm của hoa chạc chìu không?

Tần nhìn quanh khu vườn vắng chủ. Trong hàng rào quả có trồng những cây hoa dẻ xen lẫn hoa chạc chìu. Những đốm trắng tinh như hoa mộc, tỏa hương thơm dìu dịu. Tần bỗng thấy xôn xao trong lòng, nhớ những mảnh vườn quê hương và những mảnh vườn bao nơi Tần đã đi qua. Những đêm trăng sáng thơm ngát hương hoa chạc chìu và hoa dẻ. Cúc bồi hồi:

– Trên Sơn Bằng nhà mình rất nhiều, hoa chạc chìu nở đầy hai bên sông Ngàn Phố...

Như chợt nhớ ra điều gì, Tần nhìn về phía Xuân Vĩnh Lộc đang nằm, hỏi Cúc:

– Bỏ hộ cho Xuân cái thư hôm nọ chưa. Cô nàng cứ mong thư anh yêu mãi...

– Rồi. Về đến Sơn Bằng, hôm sau mình mới bỏ thư được.

– Xuân vừa có thư cha gửi vào, báo tin ông cụ ốm nặng.

– Có lẽ vài hôm nữa, ổn định nơi ăn chốn ở, nên cho Xuân về.

– Mình cũng nghĩ như thế. Thôi. Gọi chị em dậy. Ta đi hầy!

– Đừng. Để cho chị em ngủ thêm chút nữa. Đêm hôm qua người nào cũng thức khuya.

Tần yên lặng nhìn Cúc. Ở với nhau bao nhiêu ngày mãi đến hôm nay đột nhiên Tần mới thấy đôi mắt Cúc sâu thẳm và bí ẩn, có một vẻ đẹp riêng kỳ lạ. Tần thủ thỉ:

– Chẳng bao giờ mình thấy “ông” nói về người yêu...

Cúc im lặng, ngước nhìn lên trời. Nền trời xanh bao la... Tần hỏi tiếp:

– Đừng giấu mình. Anh Vị ở Hương Khê ngày ấy... đến mô rồi?

– Anh ấy chỉ là bạn. Thế thôi.

Tần vẫn chưa buông tha:

– “Ông” còn nhớ cái hôm làm ngầm số Ba ở La Khê không?

– Nhớ.

– Hôm ấy quân mình có lệnh rút. Chị em xin được xe ra, vội đưa mọi thứ đồ lề lên. Cứ tưởng “ông” lên xe sau, thành ra mình không gọi. Khi về đến nhà, mới thấy thiếu ‘ông”. Mình định cho quay trở lại đón thì có đứa bảo với mình là: “Chị Cúc muốn tạt vào chỗ anh Vị, nên ở lại”. Thế là mình không cho ai đi đón nữa. Mãi đến chín giờ sáng hôm sau “ông” mới lững thững về. Mình vừa mừng lại vừa giận.

Cúc đỏ mặt, nhìn Tần như trách móc, rồi nói ngay:

– Bậy nào. Hôm ấy mình ở lại mò cái vên (cái xẻng) quân mình đánh rơi ở cạnh gầm Ba lên. Mãi mới thấy. Khi lên đến nơi, chị em biến hết rồi. Tủi thân quá. Không dám đi đêm một mình, đành phải vào nơi mình trú quân trước ở “Hương Trạch hai” ngủ nhờ. Sớm hôm sau mới vác vên về.

Tần cười xòa rồi im lặng, đưa tay lên vuốt mái tóc hoe vàng của Cúc. Khi Tần vừa đặt tay lên lưng Cúc, thì Cúc gỡ nhẹ tay Tần ra rồi nói:

– Đến là đa nghi. Có mỗi cái chuyện ấy mà cứ găm mãi, bây giờ mới tra khảo người ta...

Tần lại cười, yên lặng. Gió từ những hố bom và từ đâu không biết nữa thổi về khá mạnh. Bụi đất đỏ mờ mờ trong không gian, thẫm màu thêm trong những vệt nắng chéo xiên qua kẽ lá cây. Nhưng hương thơm của hoa chạc chìu vẫn ngan ngát đâu đây, tưởng như chính bụi đất đỏ kia vừa mang lại cho không gian hương thơm ấy...

« Lùi
Tiến »