Reng... reng...
Đang mơ màng, Stella nghe chuông điện thoại réo inh ỏi.
Reng... reng...
Cô lật người, dùng gối bịt tai lại. Cô không biết mình đã ngủ bao lâu, chỉ biết như vậy vẫn chưa đủ.
Reng... reng...
Không đếm xỉa tới tâm trạng của Stella, điện thoại cứ riết róng như đòi nợ.
“Liz... Liz ơi...” Stella gọi vú em. “Liz... Chị nghe điện thoại được không?”
Khi cao giọng hét, đầu óc Stella cũng tỉnh táo dần. Cô vẫn nhớ giấc mơ ban nãy. Trong mơ, cô đang cùng chồng và con trai xem một series khoa học viễn tưởng ở quê hương Anh. The Doctor, nhân vật chính của phim, bất ngờ nhảy từ trong vô tuyến ra, bàn chuyện nợ nần với chồng cô. The Doctor nói có thể mượn sức mạnh của người Sao Hỏa để giảm nợ cho nhà cô, đúng lúc ấy chuông cửa vang lên, các luật sư của chủ nợ đứng trước cửa nhà bấm chuông liên hồi.
Tất nhiên đó không phải chuông cửa, mà là tiếng điện thoại réo ầm ĩ.
Stella lơ mơ ngồi dậy, mở mắt nhìn đồng hồ báo thức để đầu giường. 12 giờ 46 phút trưa. Tuy không giỏi tính nhẩm, nhưng cô biết ngay mình mới ngủ hơn bốn tiếng một chút. Hôm qua Stella trực ca đêm, 7 giờ hơn mới về nhà, đến 8 rưỡi thì mệt quá nên thiếp đi luôn.
“Liz? Liz!” Cô vừa xuống giường vừa gọi. Giờ này Liz và con cô phải ở nhà chứ? Nhưng Stella gọi mãi mà ngoài phòng ngủ chẳng thấy ai đáp lại, chỉ có tiếng chuông điện thoại đơn điệu vang vọng khắp không gian.
“Chị ấy với Alfred ở trong phòng nên không nghe điện thoại kêu sao?” Stella nghĩ thầm. Thật ra cô thừa biết là không thể. Đóng cửa phòng ngủ mà cô còn nghe thấy, thì dù Liz ở trong phòng hay ngoài ban công cũng phải nhận ra. Cô biết mình hét lớn đến mấy cũng vô dụng, nếu Liz nghe được tiếng mình, thì không lý nào lại không nghe thấy tiếng chuông như gọi hồn kia.
Reng... reng...
Chẳng biết ai gọi mà dai như đỉa thế. Stella xỏ dép lê, mở cửa đi ra phòng khách. Đúng như cô đoán, ngoài này không một bóng người. Cô nhìn đồng hồ lần nữa, đồng hồ treo tường cũng chỉ 12 giờ 46 phút trưa, ánh nắng rạng rỡ xuyên qua ban công chiếu thẳng vào phòng. Stella khó chịu nhấc ống nghe, tiếng chuông ngưng bặt.
“A lô?” Cô bực bội nói, giọng đặc âm mũi vì ngái ngủ.
“Cô là người nhà của Alfred Hill?”
Đầu bên kia là một người đàn ông nói tiếng Anh lơ lớ, Stella nhận ra ngay giọng dân bản địa.
Nghe thấy tên con trai, Stella sực tỉnh, “Vâng?”
“Ở cư xá Nam Thị đường Princess Margaret?” Bên kia tiếp tục.
“Vâng... ơ? Al... Alfred có chuyện gì ư?” Stella căng thẳng hỏi lại. Vừa nhận ra con trai và vú em vắng nhà, rồi đột nhiên có người lạ gọi tới, không chừng thằng bé gặp tai nạn giao thông cũng nên. Sáng nay cô về nhà đúng lúc Liz đang chuẩn bị đưa Alfred đi học. Mặc dù chồng cô bảo, con đã mười tuổi rồi, đường đến trường mất có mười phút, nên dạy con tự lập, một mình đi học tan học, nhưng Stella không đồng tình, luôn cảnh giác với thành phố vừa xa lạ vừa bất đồng ngôn ngữ này, dặn dò Liz theo sát thằng bé. Alfred đang học lớp Bốn, nhà trường chia hai ca sáng chiều, con cô chỉ cần lên lớp buổi sáng, bình thường 12 rưỡi là về đến nhà. Vậy mà bây giờ chẳng thấy nó đâu, người đàn ông bên kia đầu dây còn xác nhận cả tên lẫn địa chỉ, Stella không thể không nghĩ theo chiều hướng xấu.
Bên kia không trả lời thắc mắc của Stella, chỉ hỏi tiếp, “Cô là mẹ của Alfred Hill?”
“Vâng, đúng vậy. Alfred...”
“Cô yên tâm, nó không gặp tai nạn gì hết...”
Stella đang định thở phào, bên kia bất ngờ thốt ra một câu không ai ngờ tới.
“Nhưng con trai cô đang nằm trong tay tôi. Nếu muốn nó bình an trở về, cô phải chuẩn bị tiền chuộc.”
Stella vẫn chưa hiểu tình hình. “Muốn con trai lành lặn thì hãy nộp tiền chuộc” là lời thoại bắt cóc kinh điển trong phim ảnh và tiểu thuyết. Nhưng khi câu này xuất hiện ngoài đời thực, cô không tiêu hóa ngay được.
“Anh đang nói gì vậy?”
“Tôi nói là, Alfred Hill đang ở trong tay tôi, nếu không nhận được tiền, tôi sẽ giết nó. Cô mà báo cảnh sát, tôi cũng giết nó luôn.”
Một cơn ớn lạnh trỗi dậy từ đáy lòng. Stella cảm thấy da đầu tê rân rân, hít thở khó nhọc. Cuối cùng cô cũng hiểu lời đe dọa.
“Anh... anh nói Alfred đang ở trong tay anh?” Dứt lời, Stella quay đầu hét lên với căn phòng trống trải, “Liz! Alfred!”
“Đừng phí công vô ích. Tôi muốn nói chuyện với chồng cô, dù sao chuyện tiền nong vẫn phải do anh ta quyết định. Cô mau gọi anh ta về nhà đi, 2 rưỡi chiều tôi sẽ gọi lại. Đến lúc đó mà anh ta chưa có mặt thì đừng trách tôi không khách sáo.”
“Anh... anh... anh nói láo! Làm sao con tôi lại ở chỗ anh!” Stella cố kìm nén cơn run rẩy, hét vào ống nghe.
“Tốt nhất cô đừng chọc giận tôi. Tôi mà không vui thì chỉ khổ đứa con yêu quý của cô thôi.” Bên kia từ tốn nói, giọng đều đều. “Dĩ nhiên cô có thể không tin, nhưng mà thế thì đừng mong gặp lại con trai... À nhầm, đừng mong gặp lại con trai ‘còn sống’. Để bày tỏ thành ý, tôi có gửi đến cô món quà nhỏ ở chân cột đèn đường ngay trước cổng cư xá Nam Thị. Cô cứ lấy về xem rồi hẵng quyết định có nên liên lạc với chồng hay không.”
Nói đoạn, bên kia cúp máy. Tâm trí Stella trống rỗng, không hiểu đầu cua tai nheo gì. Cô bỏ ống nghe xuống, gọi toáng tên con. Cô chạy vào phòng trẻ, không thấy ai, lại chạy sang buồng vệ sinh, nhà kho, phòng làm việc, phòng khách, nhà bếp, phòng vú em, mọi nơi đều vắng tanh. Cả căn nhà rộng rãi chỉ có mình cô.
12 giờ 50 phút. Ngày thường, lúc này con cô đang ngồi ở chiếc bàn dài trong bếp, ăn bữa trưa do Liz nấu. Thằng bé khá hướng nội, ít cười với cả bố mẹ, nhưng ăn uống thì rất nhiệt tình. Vợ chồng Stella ở Hồng Kông sắp được ba năm nhưng vẫn không quen nổi món ăn Trung Quốc, ngược lại, con cô thích nghi nhanh chóng, còn đặc biệt mê món canh đậu phụ của Liz. Stella nhìn bàn ăn trống trơn, một dự cảm chẳng lành len lỏi trong lòng.
Là trò đùa quái ác chăng?
Đến giờ phút này, cô vẫn cho rằng mấy chuyện như “bắt cóc” không thể xảy ra với gia đình mình. Cô quay lại điện thoại, nhấc ống nghe lên, lật quyển danh bạ bên cạnh, tìm số điện thoại mà cô ít khi gọi.
“Phòng giáo vụ trường tiểu học Quốc tế Anh, Cửu Long Đường...” Cô lẩm nhẩm đọc tên rồi gọi đến số điện thoại viết bên dưới.
“Phòng giáo vụ trường tiểu học Quốc tế Anh xin nghe.” Một giọng nữ nói tiếng Anh rất chuẩn bắt máy.
“Xin chào, tôi là mẹ của cháu Alfred Hill lớp 4A.” Stella hỏi thẳng, “Cháu nhà tôi có phải vẫn đang ở trường không?”
“Chào chị Hill, hiện nay tất cả các lớp đều đã tan học. Tuần kiểm tra đã kết thúc, hôm nay là ngày ngoại khóa nên các em ra về từ 11 rưỡi. Em Alfred chưa về sao?”
“Vâng... đúng vậy.” Stella đắn đo, không biết nên trả lời thế nào.
“Xin chị đợi một lát, tôi sẽ gọi giáo viên chủ nhiệm.”
Trong lúc chờ đợi, Stella nhìn chằm chặp kim giây đồng hồ trong phòng khách. Dường như nó chạy chậm hơn bình thường, mười giây trôi qua mà ngỡ như mấy tiếng.
“Chào chị Hill. Tôi là cô Thẩm, chủ nhiệm lớp 4A.”
“Xin hỏi Alfred đã rời trường chưa?” Stella sốt ruột.
“Em ấy đã rời cổng trường từ 11 giờ 30 phút, chính mắt tôi trông thấy. Em ấy chưa về nhà sao?”
“Vẫn chưa.” Stella nói, giọng thoáng cay đắng, “Hay là đi chơi với bạn nhỉ? Cô có thấy cháu đi cùng bạn học khác không?”
“Tôi nhớ là có mấy em học sinh đến nói chuyện, chắc là rủ đi cùng, nhưng Alfred lắc đầu nên các em ấy lại đi trước...”
“Chị vú em thường đưa đón cháu không đến à?”
“Sao ạ? À, hình như có, mà cũng có thể là không...” Cô Thẩm ngừng một lát, cố hồi tưởng tình hình lúc đó, cổng trường giờ tan học lúc nhúc đông đúc, học sinh của mình còn nhớ được chứ nhớ người khác thì hơi khó. “Nếu Alfred chưa về, có khi nào là do vú em đưa đi đâu không?”
“Không, nếu thế chị ấy đã báo cho tôi, hoặc để giấy nhắn...” Vì tính chất công việc nên giờ giấc của Stella khác với vú em và con trai, có chuyện quan trọng đều ghi giấy nhớ để lại.
“Vậy sao... Chị đã lo lắng như thế, hay là báo cảnh sát đi?”
Nhớ tới lời đe dọa của tên đàn ông, Stella vội kêu lên, “Không không! Đừng... đừng chuyện bé xé ra to, dù sao cũng mới một tiếng. Tôi đoán cháu đi mua đồ với vú em hay gì đó thôi, làm phiền cô, thật ngại quá.”
“À, cũng có thể lắm. Nếu cần, chị cứ gọi tôi. Hôm nay tôi ở trường đến 6 giờ. Nhà chị ở...” Tiếng lật giấy sột soạt trong ống nghe, “... cư xá Nam Thị, gần trường, có chuyện gì xin hãy báo với tôi, tôi sẽ đến nơi trong vòng mười phút.”
Stella đoán cô Thẩm đang giở sổ liên lạc. Để tránh nhắc lại chuyện báo cảnh sát, cô nói thêm đôi câu, cảm ơn cô giáo rồi vội vàng cúp máy.
Đặt ống nghe xuống, Stella chỉ biết bàng hoàng. Cô hổ thẹn vì bản thân cứ mải mê với công việc mà ngày càng xa cách con trai, đến cả chuyện hôm nay có hoạt động ngoại khóa cũng không biết. Mặt khác, cô thấy xa lạ với tình cảnh phi thực tế này. Cô hoang mang không biết nên làm gì. Gọi điện thoại cho chồng? Hay gọi lại trường học, nhờ giáo viên giúp đỡ?
Cô nhớ lại giây phút bắt gặp con trai ở tiền sảnh sáng nay. Hình như Alfred vui vẻ hơn thường ngày. Nó luôn tỏ ra miễn cưỡng mỗi khi đi học, đôi lúc còn làm mình làm mẩy, nhưng hồi sáng lại đặc biệt phấn khích. Đúng như tên gọi, ngày ngoại khóa là ngày hội trường với các hoạt động vui chơi là chủ yếu. Học sinh không cần ngồi học bài trên lớp, mà được tham gia nhiều hoạt động phong phú ngoài sân hoặc trong phòng thể dục, như thi đấu thể thao, xem phim hay biểu diễn ca nhạc. Stella cứ tưởng con trai không có hứng thú với mấy thứ đó, nhưng nhớ đến má lúm đồng tiền của Alfred hồi sáng, cô không khỏi nghĩ mình vẫn chưa làm tròn trách nhiệm của người mẹ.
Stella nhấc ống nghe lên, định gọi cho chồng thì bên tai lại như vang lên mấy lời cuối cùng của tên đàn ông.
“Tôi có gửi đến cô món quà nhỏ ở chân cột đèn đường ngay trước cổng cư xá Nam Thị. Cô cứ lấy về xem rồi hẵng quyết định có nên liên lạc với chồng hay không.”
Mặc dù đã quay được hai số, Stella vẫn đặt ống nghe xuống và đi ra ban công. Ban công nhà cô nhìn thẳng ra cổng chính cư xá, bên dưới là bãi đỗ xe ngoài trời, vườn hoa, hàng rào và đường cái. Dưới chân cột đèn đặt thứ gì thì cô sẽ thấy ngay.
Vừa bước ra, ánh nắng chói chang khiến Stella không mở nổi mắt, mấy giây sau mới nhìn quen. Cô vịn vào lan can, nhoài người cẩn thận quan sát từng cột đèn trên phố. Trông thấy cột đèn thứ hai bên phải ngoài hàng rào cổng chính, cô thảng thốt.
Dưới chân cột đèn có một thùng các tông màu cà phê.
Ban đầu Stella còn thoáng nghĩ “Chỉ là trò đùa tai quái mà thôi”, nhưng cái thùng kia đã quét sạch suy nghĩ đó. Cư xá Nam Thị thuộc khu dân cư cao cấp của Cửu Long Đường, phố xá luôn gọn gàng sạch sẽ, không có quán hàng rong cũng chẳng có công nhân. Suốt ba năm sống ở đây, cô chưa từng thấy ai để đồ đạc linh tinh trên đường. Stella vội xỏ giày, chạy thẳng ra ngoài, cửa cũng không kịp khóa. Cô bấm nút thang máy, nó ì ạch không phản ứng, cô đành chạy xuống bằng thang bộ. Nhà Stella ở tầng bảy, cô bước một lần mấy bậc, chưa đây một phút đã ra đến đường cái.
Quần áo xộc xệch, tóc tai rối bù, cô hổn hà hổn hển chạy qua sảnh lớn, qua cặp mắt tò mò của bảo vệ. Ra đến cột đèn, cô đứng nhìn thùng các tông nọ. Mỗi chiều tầm 20 đến 30 cm, đựng vừa một quả bóng cao su cỡ nhỏ. Nắp thùng chỉ cài hờ chứ không dán băng dính. Stella quan sát thật kĩ, bốn mặt trống trơn không ghi chữ.
Hai tay cô run rẩy nhấc thùng lên, nhẹ bất ngờ, cứ như thùng rỗng. Stella bớt cảnh giác, đánh bạo nâng thùng bàng tay trái, tay phải mở nắp.
Trong thùng đựng một vật chẳng có gì đáng sợ với người bình thường, nhưng Stella thoắt thấy đã thất kinh. Đập vào mắt cô là chiếc áo màu lục nhạt lấm lem, còn lốm đốm vài giọt máu.
Đồng phục tiểu học của trường Quốc tế Anh.
Đặt trên áo đồng phục nhăn nhúm là lọn tóc hung đỏ dài 5 cm buộc chặt bằng dây chun.
Giống hệt màu tóc của Stella.
Từ mặt mũi đến tính cách, Alfred Hill đều giống bố, chỉ có màu tóc là di truyền từ mẹ, giữ lại đặc điểm của dòng máu người Celt(63).
Graham bỏ dở công việc, lòng thấp thỏm suốt quãng đường lái xe về nhà.
Anh biết rõ vợ mình vốn điềm tĩnh, là một y tá luôn tỉnh táo ứng phó dù gặp phải ca cấp cứu nguy kịch đến đâu, nên khi nghe vợ gọi điện, khóc sướt mướt rằng con trai gặp bất trắc, kêu anh về nhà ngay, anh biết tình hình vô cùng nghiêm trọng.
Anh xin nghỉ phép nửa ngày, chứ bình thường, nhất định anh sẽ ưu tiên công việc, tạm trấn an vợ qua điện thoại rồi chờ tan ca mới về nhà xử lý.
Graham là người đầy trách nhiệm, vừa hay, nghề nghiệp của anh lại cần tinh thần trách nhiệm đó.
Hiện anh đang làm trưởng ban điều tra của ICAC.
Graham là người Anh, tên khai sinh là Graham Hill, tên tiếng Hoa là Hạ Gia Hãn. Hồi mới đến Hồng Kông, như bao người nước ngoài khác, anh cũng đặt cho mình một cái tên bản địa. Anh luôn cảm thấy chuyện này thật nực cười, rành rành là người ngoại quốc chữ Hán bẻ đôi không biết, thế mà lại dùng tên tiếng Hoa, trong khi người bản địa lót tót chạy theo trào lưu, đều đặt tên tiếng nước ngoài. Vú em Lương Lệ Bình nhà anh cũng vậy, lấy tên tiếng Anh là Liz, nhưng lại không biết đó là tên tắt của Elizabeth. Hồi Liz mới vào làm, anh thường gọi chị là Elizabeth, chị ngơ ngác không hiểu, phải giải thích mới xong.
Buồn cười hơn cả là, họ tên tiếng Hoa không có phiên âm tương đương với họ của anh, đành phiên “Hill” thành “Hạ”, nghe chẳng thấy điểm chung ở đâu. Một số đồng nghiệp gọi anh là “Mr. Hạ”, gọi hai vợ chồng là “Mr & Mrs Hạ”, vậy mà mỗi ngày anh lại phải gọi vú em người Hoa là Liz. Hồng Kông đúng là mảnh đất thuộc địa kì quặc, thực dân mỗi ngày một đồng hóa với dân bản xứ, còn dân bản xứ thì càng ngày càng ngoại lai trong cả lối sống lẫn văn hóa.
Vợ anh tên Stella, vì tên tiếng Hoa thường chỉ có một hoặc hai âm tiết, nên cô lấy cái tên “Thục Lan”, nghe không giống tên gốc lắm. Alfred con anh cũng vậy, lấy tên là “Nhã Phàn”. Tính ra tên “Gia Hãn” của anh lại phát âm giống tên gốc nhất. Người chọn tên cho nhà anh cam đoan rằng mấy cái tên này đều đẹp và mang ý nghĩa may mắn, Graham chẳng để tâm, anh không phải kẻ mê tín. Đối với anh, phong thủy thuật số của người Trung Hoa chỉ là những thứ không có căn cứ khoa học.
Con người muốn có hạnh phúc thì phải tự giành lấy bằng đôi tay mình.
Graham sinh năm 1938, thuở thơ ấu đã trải qua Chiến tranh Thế giới thứ hai, rồi trưởng thành trong thời kì u ám nhất của nước Anh. Sau khi tốt nghiệp, anh thi vào cảnh sát, công tác tại sở cảnh sát thủ đô, nhờ đồng nghiệp giới thiệu mà quen biết Stella. Hai người kết hôn, đến năm thứ ba thì Alfred chào đời, một cuộc sống hết sức bình thường của viên chức nước Anh. Graham đã nghĩ sẽ tiếp tục cuộc sống ấy, chăm chỉ làm việc đến tuổi nghỉ hưu, rồi cùng vợ tìm một thị trấn nhỏ ở ngoại ô an hưởng tuổi già, đến lễ tết thì vui đùa cùng con cháu. Nhưng anh đã nhầm.
Stella là y tá, kết hôn rồi vẫn đi làm. Nhưng sau khi có con, cô nghỉ việc, ở nhà chăm nom Alfred. Để gia đình có cuộc sống đủ đầy hơn và để bù vào khoản thu nhập của vợ, Graham đầu tư số tiền tích góp nhiều năm vào thị trường bất động sản. Là viên chức có lý lịch sạch đẹp, anh vay tiền ngân hàng để mua nhà rồi cho thuê lại mà không gặp trở ngại gì. Anh tính toán, nếu giá nhà tiếp tục tăng, thậm chí anh có thể nghỉ hưu sớm, cũng không phải trăn trở về học phí đại học cho con sau này.
Nhưng kinh tế nước Anh đột nhiên suy thoái.
Bốn năm trước, tức năm 1973, bất động sản Anh trượt dốc, nhiều ngân hàng tín dụng rơi vào vòng xoáy tài chính, có nguy cơ phá sản. Song song với khủng hoảng dầu mỏ là tình trạng suy thoái lạm phát và sự sụp đổ của thị trường chứng khoán, nền kinh tế không có hi vọng phục hồi trong thời gian ngắn. Do sơ suất, Graham không kịp bán mấy căn nhà trong tay, khách thuê bỏ trốn, anh không trả được nợ nên bị ngân hàng tịch thu nhà ở, toàn bộ tài sản bốc hơi chỉ trong một đêm, không những thế còn nợ ngân hàng một khoản lớn. Để trang trải nợ nần, vợ anh lại theo nghề cũ, nhưng do tỉ lệ thất nghiệp của cả nước tăng cao, lương bổng không được như trước. Vật giá leo thang, mỗi tháng trả nợ xong, số tiền còn lại không đủ tiêu. Mấy tháng đầu hai vợ chồng cứ động viên nhau, từ từ rồi mọi chuyện sẽ ổn. Nhưng bao lâu trôi qua mà ngày trả hết nợ vẫn xa hút tầm mắt, hai người mất kiên nhẫn, thỉnh thoảng giận dỗi vì vài chuyện lặt vặt, đôi khi còn to tiếng cãi vã. Đứa con trai sáu tuổi nhận thấy bầu không khí trong nhà thay đổi, cứ khép kín dần, nụ cười không còn thường trực trên môi.
Khi hai vợ chồng sắp bị cuộc đời dồn ép đến phát điên, Graham chợt nhìn thấy mục quảng cáo trên báo. Ở mảnh đất Hồng Kông miền Viễn Đông, chính phủ Anh vừa thành lập cơ quan hành pháp chuyên đấu tranh và đẩy lùi nạn tham nhũng, gọi là ICAC, đang cần tuyển viên chức có kinh nghiệm từ mọi nơi. Lương của trưởng ban điều tra bậc một là từ 6 đến 7 nghìn đô la Hồng Kông, tương đương 600 bảng Anh, cao hơn hẳn lương tháng của Graham. Quảng cáo còn nói rõ nếu đi làm sẽ hưởng thêm không ít phúc lợi và trợ cấp, nên sau khi bàn bạc với vợ, Graham quyết định thử đổi đường mưu sinh. Vì làm việc ở sở cảnh sát thủ đô đã tích lũy được kha khá kinh nghiệm điều tra phá án, nên chỉ vài ngày sau khi phỏng vấn, Graham nhận được thông báo trúng tuyển. Cả gia đình bèn thu dọn hành lý, chuẩn bị rời quê nhà thân thương để đi làm trả nợ ở một thành phố châu Á xa lạ.
Trước kia, gia đình Graham không biết nhiều về Hồng Kông, nghe đâu nó là vùng đất đã có hơn trăm năm lịch sử, giờ đang là thuộc địa của Anh, bên cạnh là Ma Cao thuộc quyền quản lý của Bồ Đào Nha. Vì quyết định đến đất khách sinh sống trong thời gian dài nên họ mới bổ sung kiến thức. Đối với họ, các địa danh và tên đường ở Hồng Kông đọc lên đều không xuôi. Tìm hiểu qua sách báo, Graham mới phát hiện ra xứ sở thuộc địa này có một khu vực không thuộc Liên hiệp Vương quốc Anh và Bắc Ireland. Đảo Hồng Kông và bán đảo Cửu Long do Anh chiếm được, nhưng Tân Giới là đất cho thuê đến năm 1997 mà thôi. Sau thời hạn đó, nước Anh phải trả Tân Giới cho Trung Quốc, chỉ giữ lại quyền cai trị đảo Hồng Kông và bán đảo Cửu Long, nhưng như thế là cắt Hồng Kông thành hai nửa sao? Vấn đề này vẫn đang bỏ ngỏ, chính phủ đôi bên chưa quyết định được phương án giải quyết. Đọc đến đây, Graham nhận ra Hồng Kông suy cho cùng chỉ là mảnh đất đi mượn, bây giờ anh sang đó làm việc tức là tha hương cầu thực, cũng như nhiều người Anh khác mà thôi.
Tháng Sáu năm 1974, Graham dẫn vợ và con trai lặn lội đến Hồng Kông xa xôi. Để mau chóng trả hết nợ, Stella cũng tìm việc tại bệnh viện Cửu Long. Phía bệnh viện nhận thấy kinh nghiệm của cô đáng để các y tá bản địa học hỏi, nên đãi ngộ tương đối khá. ICAC không chỉ giúp Graham xử lý các thủ tục di cư rườm rà, mà còn cấp cho gia đình anh một căn hộ công vụ, đây mới là sự trợ giúp to lớn nhất. Cư xá Nam Thị ở Cửu Long Đường là khu nhà dành riêng cho viên chức bậc cao, là cư xá cao cấp với những căn hộ rộng rãi mang phong cách Anh, nên người phương Tây sẽ không cảm thấy bất an do môi trường sống quá khác biệt. Tuy không phải nhà riêng, nhưng điều kiện sống ưu việt, trị an tốt, hàng xóm toàn là ông chủ lớn người bản địa, nhân viên cấp cao làm việc tại các công ty có vốn đầu tư nước ngoài, hoặc thành phần ưu tú của công ty nước ngoài đến công tác tại Hồng Kông.
Việc học hành của con trai cũng khiến vợ chồng Graham vò đầu bứt tóc. Hồi mới bàn về dự định đi Hồng Kông, chính vì chuyện này mà suýt chút nữa họ đã chùn bước.
Hai vợ chồng ở đất khách năm năm hay mười năm cũng không hề gì, vì tình cảnh bắt buộc, đã mắc nợ thì phải theo. Nhưng đối với trẻ con, môi trường sống và học tập thời thơ ấu là tối quan trọng. Họ lo không tìm được trường tốt ở Hồng Kông, con trai không thể kết bạn, ảnh hưởng tiêu cực tới quá trình trưởng thành. Graham gửi thư hỏi thăm người bạn ở Hồng Kông về trình độ và chất lượng giáo dục bản địa. Người bạn liền nhiệt tình gửi lại cả đống tài liệu và chương trình tuyển sinh của các trường cho anh. Tham khảo xong, hai vợ chồng cũng yên tâm phần nào. Chế độ giáo dục ở Hồng Kông cũng tương tự Anh, còn có trường chuyên nhận học sinh Âu Mỹ, toàn bộ sách giáo khoa, bài tập, ngôn ngữ giảng dạy, thậm chí cả thông báo cho phụ huynh cũng bằng tiếng Anh. Trẻ em người Anh học tập tại Hồng Kông không khác gì tại Anh. Họ chọn cho con một ngôi trường gần nhà, tuy không bề thế lắm, nhưng giáo viên và cán bộ nhà trường đều nói tiếng Anh-Anh lưu loát, thái độ thân thiện tích cực, Graham và vợ thấy khá hài lòng.
Ba năm ở Hồng Kông, gia đình anh chỉ tiêu dè sẻn, nỗ lực ki cóp, trợ cấp và phúc lợi của chính phủ còn nhiều hơn Graham tưởng, cộng thêm tiền tăng ca và lương của vợ, món nợ những tưởng phải bốn, năm năm mới trả hết ai ngờ chỉ hai năm đã giải quyết xong xuôi, năm vừa rồi còn tiết kiệm được một khoản kha khá. Vì có bài học nhớ đời trước đây nên hai vợ chồng đã thấm nhuần đạo lý dành dụm, không dám bỏ tiền ra đầu tư nữa mà phần lớn đều gửi vào tài khoản tiết kiệm có kì hạn để lấy lãi.
Graham dự định làm việc ở Hồng Kông thêm một thời gian nữa mới về Anh, một là vì lương cao, hai là vì tình hình kinh tế Hồng Kông vậy mà lại tốt hơn Anh nhiều. Mỗi ngày đọc báo, anh không khỏi lắc đầu thở dài trước tin tức xã hội nơi quê nhà. Mấy năm nay, tỉ lệ thất nghiệp ở Anh không hề cải thiện, số người thất nghiệp vượt quá một triệu, mâu thuẫn giữa chủ thuê và công nhân liên tiếp nổ ra, ngày nào cũng bãi công biểu tình. Trước kia, Vương quốc Anh được mệnh danh là “nơi mặt trời không bao giờ lặn”, còn ngày nay, nó suy tàn tới mức bị gán cái tên khinh miệt “ma đói châu Âu” không khác gì đế quốc Ottoman thế kỉ 19. Thật hoang đường, Graham nghĩ mà chán nản. Hẳn nhiên, anh mừng vì đã vượt đại dương xa xôi đến xứ sở châu Á nhỏ bé này, chỉ sau hai năm đã vực lại kinh tế gia đình, chứ nếu ở lại Luân Đôn có khi đã ly hôn vì bế tắc tiền nong.
Theo lẽ thường, lương bổng hậu hĩnh đồng nghĩa với công việc cực nhọc.
Vừa nhậm chức, Graham đã phát ngộp vì nội dung công việc và số lượng vụ án. Lúc ủy ban mới thành lập, ngày nào cũng có vô vàn thư tố cáo nặc danh gửi về, mà hầu hết là tố giác cơ quan chính phủ. Các vụ án không hẳn là nghiêm trọng, số tiền cũng không lớn, nhưng phạm vi và mức độ ảnh hưởng lại khiến Graham kinh hoàng. Các hàng quán nhỏ mỗi ngày đều phải nộp vài đô cho cảnh sát tuần tra, gọi là “tiền trà nước”. Bệnh nhân nằm bệnh viện công nếu không bồi dưỡng lao công tạp vụ thì bị bỏ mặc, không được phục vụ chu đáo. Hầu như tất cả các cơ quan nhà nước đều có chung tình trạng. Chính quyền Hồng Kông thành lập ICAC cũng là do nhu cầu bức thiết, nếu không xã hội càng phát triển, tham ô nhỏ sẽ càng biến tướng thành tham nhũng lớn, ăn mòn chế độ, chờ khi ấy mới can thiệp thì đã quá muộn.
Đối với người mù tịt tiếng Hoa như Graham, công việc này khó khăn khôn cùng. Một số vụ án liên quan tới văn hóa và tập tục nơi đây, lúc mới tiếp xúc anh không hiểu gì nên thấy mơ hồ. Tuy nhiên, ICAC coi trọng kinh nghiệm làm việc của anh, nhận anh vào cốt để chỉ đạo nhân viên người bản địa, dạy họ cách điều tra, thu thập bằng chứng, khám xét theo trình tự phù hợp với pháp luật để đưa những kẻ tham ô hối lộ ra trước tòa. Khi ICAC được thành lập, đội ngũ có kinh nghiệm nhất đương nhiên là Cảnh sát Hoàng gia Hồng Kông. Nhưng cảnh sát tham nhũng chẳng thua ai, chính họ cũng là đối tượng bị điều tra, nên ICAC đành chiêu mộ người mới về đào tạo từ đầu. Đây chính là nguyên nhân chủ yếu giúp Graham được tuyển dụng.
Ba năm qua, công việc của Graham luôn đầy rẫy thách thức.
Nạn tham nhũng của cảnh sát Hồng Kông luôn là vấn đề nhức nhối. Cảnh sát là đội ngũ đối đầu trực diện với tội phạm, dính vào tham nhũng sẽ làm mất trị an. Từ khi Hồng Kông mở cửa thông thương, tội phạm và xã hội đen đã quen dùng tiền bôi trơn, việc nhân viên hành pháp mắt nhắm mắt mở cho qua đã thành thông lệ, không cần biết là hoạt động trái phép gì, chỉ cần có tiền là mọi sự khắc suôn sẻ. Cảnh sát vẫn càn quét các tụ điểm cờ bạc, mại dâm hay buôn bán ma túy, nhưng không phải vì muốn dọn sạch cái ác, mà để thu tiền đen. Tiền đồng nghĩa với giấy thông hành, tội phạm sẽ không bị cảnh sát sờ gáy trong một thời gian nhất định. Để cảnh sát có cái báo cáo lên trên, lâu lâu xã hội đen lại bố trí mấy tên tự nguyện ngồi tù, ngay cả vật chứng cũng dâng lên luôn. Dĩ nhiên, số ma túy và tiền bài bạc này còn lâu mới bằng lượng lưu thông thực tế, chỉ như hạt cát trong sa mạc mà thôi. Vì cảnh sát tiền tuyến không dốc sức chấp hành nhiệm vụ nên các lãnh đạo cấp cao đều chẳng hay biết tình hình trị an ngày một xuống dốc, cứ tưởng cảnh sát khu vực đều nỗ lực diệt trừ tội phạm.
Đã gia nhập đội ngũ cảnh sát, người bản tính chính trực cũng phải cúi đầu. Nội bộ ngành vẫn rỉ tai nhau, hối lộ như một chiếc xe, anh có thể “lên xe” để chia phần, không muốn thì thôi, nhưng tuyệt đối chớ xen vào việc kẻ khác, đấy gọi là “chạy theo xe”, còn nhất quyết đòi tố cáo tức là “chắn mũi xe”, cuối cùng bị xe cán, mình mẩy thương tích, tự hại cái thân. Ai không biết lượng sức, loi nhoi ngăn cản chiếc xe này, không bị trừng trị thì cũng bị bỏ xó, bị cô lập bài xích, cũng đừng mơ đến hai chữ “thăng tiến”.
Thật ra cảnh sát vẫn có ban chống tham nhũng, nhưng tự điều tra người của mình khó tránh liên quan thân sơ này khác nên không đạt hiệu quả rõ rệt. ICAC ra đời chính là để phá vỡ cục diện bế tắc đó. Ủy ban thuộc quyền quản lý trực tiếp của thống đốc Hồng Kông, làm việc độc lập, sẵn sàng phanh phui mọi cơ quan và đối tượng dính líu đến các vụ tham nhũng.
Năm đầu tiên nhậm chức, Graham đã truy tố không ít nhân viên cảnh sát nhận hối lộ, cùng đồng nghiệp hợp sức ngăn chặn nhiều vụ giao dịch ngầm. Sang năm thứ hai, họ khám phá ra càng nhiều vụ có cảnh sát cấp cao nhúng tay, như trường hợp cấp trên chỉ thị cho cấp dưới cùng tham ô, bao che tội phạm. ICAC điều tra hết sức tỉ mỉ, phân biệt rạch ròi thư tố giác với thư vu cáo. Một số tội phạm thường dùng cái cớ chỉ điểm “cảnh sát đen”, mong được giảm hình phạt, khi đó ICAC phải đối chiếu xem lời chỉ điểm có căn cứ không. Dù mù tịt tiếng Hoa, nhưng Graham từng nói “lưu manh trên toàn thế giới không khác nhau là mấy”, tội phạm có nói dối hay không, các chi tiết trong lời khai có mâu thuẫn hay không, lòng anh đều hiểu rõ.
Hiện nay, nhóm do anh quản lý đang theo đuổi một vụ. Anh tưởng nội tình không khác những lần trước, nhưng khi điều tra mới thấy quy mô của nó bành trướng hơn bất cứ vụ nào trong quá khứ.
Mùa xuân năm ngoái, tức tháng Tư năm 1976, đội chống buôn lậu(64) của Sở Công thương tìm ra một lô ma túy tại tòa nhà cao tầng gần chợ hoa quả Du Ma Địa(65), bắt được một con lai quốc tịch Mỹ và vài tên tội phạm khác. Bốn tháng sau, cảnh sát liên tiếp càn quét hai mươi ba tụ điểm, tịch thu lô heroin trị giá hơn 20.000 đô, bắt giữ tám nghi phạm, trong đó có trùm buôn ma túy ở khu vực chợ hoa quả. Trong lúc chờ thẩm vấn, tên trùm này chủ động đòi gặp ICAC, nói là muốn tố giác viên chức hành pháp tham nhũng tập thể. Tháng trước, sau khi bị định tội, gã đã chính thức trở thành nhân chứng của ICAC, hỗ trợ điều tra các vụ tham nhũng liên quan.
Gã khai rằng cảnh sát đã nhận hối lộ và cho phép gã buôn bán ma túy. Chi bao nhiêu tiền để được cảnh sát “thả rông”, ngờ đâu mới làm ăn ngót một năm đã bị Sở Công thương tóm cổ. Vì Sở Công thương đích thân ra quân nên ngành cảnh sát phải nghiêm túc chấp hành, cấp trên gây áp lực khiến các cảnh sát nhận hối lộ không thể can thiệp, cuối cùng tội phạm sa lưới hàng loạt. Tay trùm uất quá, rõ ràng đã cống nạp nhiều tiền như thế mà vẫn rơi vào cảnh tù tội. Gã quyết định chết trôi lôi chết đuối, dạy cho đám cảnh sát siêng ăn nhác làm kia một bài học.
Tập đoàn buôn ma túy của gã lưu giữ sổ sách, ghi chép tường tận danh sách cảnh sát và người trung gian nhận hối lộ. Hiềm nỗi, tất cả đều ghi bằng ám hiệu, với lại lúc lấy “giấy thông hành”, gã chỉ biết sơ sơ chức vụ và đơn vị trực thuộc của đối phương. Giờ muốn truy ra danh tính cũng khá lao tâm khổ tứ. Mà ICAC phải đảm bảo truy tố chính xác đối tượng, tình tiết không mâu thuẫn, lời khai phải đủ vững vàng để tòa án công nhận, nên Graham cần kiểm tra tỉ mỉ quan hệ của mọi nhân vật liên đới và quá trình lưu thông của tiền hối lộ.
Vì Graham không đọc được chữ Hán, đồng nghiệp bèn dịch giúp mớ sổ sách của gã trùm sang tiếng Anh, sau đó Graham sẽ dùng phương pháp na ná như nhận dạng chữ để suy luận sâu hơn. Đối chiếu mãi, dần dà anh cũng nhận biết được vài chữ Hán, tiếc là không có tác dụng gì với cuộc sống thường nhật, bởi toàn là chữ viết theo kiểu mã hóa, chẳng hạn “Du hình” nghĩa là “Ban Điều tra Hình sự Du Ma Địa”, “Cửu R” là “Đội Nghiệp vụ Đặc biệt (RSDS) Sở cảnh sát Cửu Long”, “E” là “xe của đội phản ứng nhanh (EU)”... Để làm quen với mấy chữ Hán viết như gà bới, Graham còn mang bản phô tô sổ sách về nhà, vùi đầu nghiên cứu. Tất nhiên anh biết đây là tư liệu nhạy cảm nên luôn cất trong két, đến vợ còn không được xem.
Càng đào sâu, anh phát hiện liên đới càng rộng.
Vụ tham nhũng tập thể này không chỉ khoanh vùng trong cấp phụ tá. Theo lời khai của nhân chứng tố giác và nội dung trong sổ sách, nhân viên hành pháp nhận hối lộ bao gồm người của các sở cảnh sát khu vực và cả Bộ chỉ huy, đến cán bộ cấp thanh tra đổ lên cũng có. Khác hẳn mấy vụ nhỏ như cảnh sát phân khu nhận “tiền trà nước”, vụ này mà ra tay tróc nã thì sẽ tóm gọn mấy trăm cảnh sát, nhổ tận gốc đường dây tham nhũng.
ICAC làm việc kín đáo ba năm nay, dường như là để chuẩn bị cho trận chiến rầm rộ này.
Song, công tác bảo mật của ICAC có tốt đến mấy thì giấy vẫn không gói được lửa. Sau khi tên trùm ma túy chợ hoa quả bị bắt, đội ngũ cảnh sát râm ran bảo nhau “ICAC sắp thịt cảnh sát”. Mà từ hồi thành lập đến giờ, ICAC cũng điều tra cảnh sát không chỉ một lần, thành thử quan hệ hai bên như nước với lửa. ICAC cho rằng cảnh sát thật “thối nát”, mọi thành viên đều là đối tượng tình nghi, cảnh sát thì kêu ICAC “quan liêu”, ngứa mắt ai là tống người đó vào tù, bắt phải làm bạn với đám phạm nhân mà chính họ từng lùng bắt.
Vì lẽ đó, về đến nhà, nắm được tình hình qua lời kể của người vợ đã rơi vào khủng hoảng, Graham khiếp sợ mà vẫn đắn đo, chẳng biết có nên báo cảnh sát hay không.
Nhìn đồng phục dính máu và lọn tóc của con trai, anh biết đây không phải trò đùa. Là nhân viên hành pháp, anh thừa hiểu nghe lời tội phạm, tự mình giải quyết là cách làm ngu xuẩn nhất. Dù không báo cảnh sát, tỉ lệ tội phạm thả người sau khi nhận tiền chuộc cũng chỉ là năm mươi năm mươi. Nếu muốn đọ sức với chúng để cứu con về, thì có cảnh sát hậu thuẫn vẫn an toàn hơn cả. Hồi ở Anh, Graham từng chứng kiến cảnh sát giải cứu con tin khỏi tình thế ngàn cân treo sợi tóc, tội phạm định nhận tiền chuộc xong sẽ thủ tiêu con tin, may sao cảnh sát bám theo kẻ đi lấy tiền nên tìm được hang ổ của hắn.
Nhưng khi biết anh là người của ICAC, liệu cảnh sát có làm việc qua loa tắc trách không. Không, qua loa tắc trách còn đỡ, sợ nhất là họ lấy việc công trả thù riêng, “vô tình” gây trở ngại, hại chết con anh. Anh ngẩn người trước điện thoại, nội tâm tranh đấu dữ dội. Trên sofa đằng sau, Stella suy sụp, tay giữ chặt nắm tóc, sụt sùi khóc.
Từng giây từng phút trôi qua, đồng hồ báo thức hiển thị 1 giờ 30 phút chiều. Graham trân trối nhìn chiếc áo đồng phục lấm bẩn, nghĩ đến cảnh con trai bị bọn bắt cóc lột áo, giờ đang bị nhốt trong phòng tối, ăn mặc phong phanh, vừa sợ hãi vừa hoảng loạn. Anh nhấc ống nghe lên, cuối cùng cũng phải quyết định. Dù cảnh sát có hiềm khích với ICAC, lúc này anh vẫn nên cầu cứu họ.
Không còn lựa chọn nào khác.
Trong khoang xe chật chội, Mạch cầm vô lăng, hỏi mà không quay đầu lại, “Lần này sếp đích thân xuất trận ạ?”
Quan còn chưa trả lời, cảnh viên Từ ngồi cạnh đã chen ngang, “Án bắt cóc cần tranh thủ từng giây, tính mạng con tin như chỉ mành treo chuông, đương nhiên phải để cánh chim đầu đàn của chúng ta ra tay rồi.”
Quan, 30 tuổi, chẳng nói chẳng rằng, chỉ mỉm cười lấy lệ rồi dõi mắt ra ngoài cửa sổ xe.
Quan hiện đang công tác ở Ban Điều tra Hình sự Sở cảnh sát Cửu Long(66), mấy năm qua đã phá nhiều vụ án, hiệu suất cực kì cao, được cấp trên rất mực coi trọng, hồi đầu năm mới nâng bậc từ thanh tra lên thanh tra cấp cao. Làm thanh tra ở sở cảnh sát khu vực là mục tiêu của không ít người, Quan chưa đến ba mươi đã công toại danh thành, ai nấy đều ngưỡng mộ. Cố nhiên vẫn có kẻ ganh ghét, chửi thầm anh là chó săn của thực dân, mới sang Anh tập huấn hai năm đã quên mất gốc gác Trung Hoa. Còn có người giễu cợt rằng chẳng qua anh ăn may, lọt vào mắt xanh của cấp trên người Anh trong cuộc bạo động mười năm trước nên mới có cơ hội thăng tiến. Có điều, bất kể là hâm mộ hay ghen tị, không một ai trong đội ngũ cảnh sát dám nghi ngờ năng lực của Quan, về mặt điều tra phá án, anh thực sự có tài, đặc biệt là từ năm 1972, tập huấn trở về, anh ngày càng thể hiện xuất sắc.
Chiếc xe chở Quan và ba cấp dưới thẳng tiến đến cư xá Nam Thị. Trinh sát Mạch Kiến Thì đang cầm lái là người trẻ nhất, mới 25 tuổi, vào ban chưa đầy một năm. Đồng nghiệp thường gọi cậu là “Mạch”, tuy còn ít kinh nghiệm nhưng đầu óc linh hoạt, phản ứng nhanh nhạy, từng đuổi bắt tội phạm qua mười con phố. Ở ghế phụ lái là trinh sát Ngụy Tư Bang 28 tuổi. Ngồi cùng băng ghế sau với Quan là Từ Chân, biệt danh “Lão Từ”. Thật ra Lão Từ chưa già, chỉ mới 36, nhưng mặt mũi trông như đã bốn năm mươi tuổi nên bị gọi là Lão Từ nhiều năm nay rồi.
Quan chọn họ tham gia vụ lần này chủ yếu là vì cả ba đều biết tiếng Anh. Người báo án là người Anh không biết tiếng Hoa, nếu cảnh sát tiếp nhận cũng không biết tiếng Anh thì chỉ riêng phiên dịch thôi đã tốn thời gian, chưa kể trong các vụ bắt cóc, sểnh một cái là có thể khiến con tin mất mạng. Mặc dù báo cáo trong ngành đều viết bằng tiếng Anh, cảnh sát cũng phải có trình độ tiếng Anh nhất định mới được tuyển, song trên thực tế, số cảnh sát biết kiểu nửa vời vẫn nhiều không đếm xuể. Trong ngành có câu chuyện vui thế này, một cảnh sát giao thông không biết tiếng Anh phải viết báo cáo về tai nạn xe cộ, lúc tả lại quá trình hai xe đâm nhau, anh ta viết “one car come, one car go, two car kiss(67)”, thế là bị cấp trên mắng té tát.
“Bang, cậu kiểm tra thiết bị theo dõi điện thoại chưa? Sẽ không trục trặc như lần trước chứ?” Lão Từ hỏi Ngụy.
“Kiểm tra rồi.” Ngụy đáp cụt lủn, giọng bất mãn. Trong nhiệm vụ trước, Ngụy phụ trách quản lý thiết bị, do sơ suất, không để ý cầu chì của một máy nghe trộm bị đứt, đến lúc mấu chốt lại không nghe được cuộc trò chuyện của nghi phạm, thành thử phải mất thêm một tuần mới thu thập đủ chứng cứ và tiến hành bắt giữ.
“Kiểm tra rồi thì tốt.” Lão Từ cố tình trêu chọc, lại nhấn mạnh lần nữa, “Đây là vụ bắt cóc, chẳng may có biến là không làm lại được đâu, mạng người quan trọng lắm đấy.”
Ngụy ngoảnh ra sau lườm Lão Từ, “Em đã kiểm tra ba lần rồi.”
“OK.” Lão Từ bĩu môi, tránh ánh mắt Ngụy, nhìn ra cửa sổ, “Khu dân cư cao cấp có khác, nhìn xem, cư xá nào cũng to đẹp, người lắm tiền nhiều của mới ở được, bảo sao tội phạm nhằm vào mấy đứa trẻ ở đây.”
“Nhưng người báo án lần này là trưởng ban điều tra do ICAC tuyển dụng từ Anh sang, chắc không giàu có gì đâu.” Mạch đang lái xe vẫn xen vào.
“Hừ, ai bảo thế?” Lão Từ ra vẻ khinh bỉ, “Biết Morris ở Thiệu Thị chứ? Nghe nói dòng họ nhà hắn hiển hách lắm, bố với anh đều có nắp chai nước Hà Lan(68), không rõ là nghị viên hay quan chức cấp cao gì. Hắn đến Hồng Kông chẳng qua là để lấy thành tích, vài năm nữa về Anh sẽ vào Bộ Ngoại giao hoặc Cục Tình báo. Theo tôi thấy, con trai cái ông trưởng ban ICAC này bị bắt cóc, chứng tỏ gia cảnh ông ta cũng không thua gì tên Morris kia đâu.”
“Thiệu Thị” là tiếng lóng chỉ Ban Chính trị(69). Do cách viết tắt trong tiếng Anh giống cách viết tắt của hãng phim Shaw Brothers (Thiệu Thị Huynh Đệ), nên người trong ngành mới gọi như vậy. Nhìn bề ngoài, Ban Chính trị nằm trong tổ chức cảnh sát, nhưng thực tế lại trực thuộc Cơ quan An ninh MI5, đảm đương công tác tình báo và chống phá gián điệp. Đối với cảnh sát bình thường, lai lịch của thành viên Ban Chính trị đều là ẩn số, hành tung bí ẩn, phá án xong lâu rồi người ngoài mới nghe ngóng được chút tình tiết nhỏ lẻ. Morris là quan chức cảnh sát cấp cao của Ban Chính trị, có bố và anh trai làm việc cho chính phủ Anh, được trao huân chương danh dự mà người Hồng Kông vẫn gọi vui là nắp chai nước ngọt. Thật ra họ chẳng giàu có gì, chỉ là nhiều người thường định kiến, ràng cứ đảm nhận chức vụ quan trọng trong chính phủ hoặc là quan chức có quyền lực thì tự khắc có cách kiếm tiền.
“Đến lúc khó khăn, mấy tên chống tham nhũng vẫn phải dựa vào chúng ta đấy thôi.” Ngụy xì một tiếng trách móc. “Tối ngày bày trò gây khó dễ, làm cả ngành cảnh sát nơm nớp lo sợ, bây giờ bị bọn tội phạm để mắt đến thì lại cầu xin giúp đỡ. Đúng là mặt dày vô liêm sỉ.”
“Bang, dù lập trường anh ta thế nào, chúng ta vẫn phải làm tròn chức trách.” Quan im lặng nãy giờ bỗng lên tiếng.
Ba cấp dưới nghe nhắc liền không bàn luận nữa. Mạch tập trung lái xe, Ngụy với Lão Từ chăm chăm ngó ra ngoài cửa sổ. Họ không nhận ra ràng, hôm nay Quan ít nói hơn, tâm sự ngổn ngang hơn thường ngày.
Còn cách cư xá Nam Thị một con phố, Quan bất chợt nói, “Mạch, dừng xe.”
“Dạ? Nhưng chưa đến nơi mà?” Tuy nói thế, Mạch vẫn xoay vô lăng, đỗ xe vào lề đường.
“Chẳng biết lũ bắt cóc có đang theo dõi hay không. Tôi với Lão Từ đi bộ qua đó, hai cậu lái xe đến bãi đỗ đi.” Quan chỉ đạo. “Lát vào cư xá, hai cậu báo với bảo vệ là lên tầng bốn thăm Liêu Hoa Minh trưởng ban Phòng cháy chữa cháy Cửu Long. Tôi với Lão Từ sẽ nói là có hẹn với chỉ huy cấp cao Campbell ở tầng chín. Họ đã biết tin rồi, bảo vệ có gọi điện xác nhận cũng không bị lộ.”
“Sếp, phải giấu cả bảo vệ sao?”
“Ai dám chắc bảo vệ vô can?” Quan vừa nói vừa ra khỏi xe. “Vào cư xá rồi chờ bọn tôi ở hành lang tầng bốn.”
Bốn người chia hai nhóm lần lượt vào cư xá Nam Thị, trên đường đi không gặp trở ngại nào. Mạch và Ngụy đi thang máy lên tầng bốn, đợi chưa đến một phút thì cửa thang máy lại mở ra, bên trong là Quan và Lão Từ. Bốn người đi tiếp thang máy lên tầng bảy, đến cửa nhà Graham.
Đinh đoong. Quan bấm chuông. Mạch đứng trên hành lang nhìn ngó xung quanh, vì cậu chưa đến cư xá dành cho viên chức cấp cao bao giờ.
Cậu sống ở kí túc xá cảnh sát tại North Point, mỗi tầng có hơn mười nhà, vừa chật chội vừa ồn ào, đây thì một tầng chỉ có hai hộ, bốn bề yên tĩnh. Cậu thầm cảm thán, đúng là quá khác biệt.
Cửa mở ra, Quan giơ thẻ lên nói với Graham, “Chào anh, tôi là thanh tra hình sự Quan Chấn Đạc của Sở cảnh sát Cửu Long.”
Quan nói tiếng Anh-Anh trôi chảy. Ba cấp dưới đứng bên cạnh nhủ bụng, quả nhiên là người từng ra nước ngoài, chỉ riêng khẩu âm cũng đủ khiến các cấp trên ngoại quốc cảm thấy gần gũi hơn bình thường.
“À... Tôi là Graham Hill, mời vào.” Graham ngớ ra một lát, quan sát bốn người ngoài cửa rồi căng thẳng tránh sang bên.
Trong phòng khách, Stella đã ngừng khóc, nhưng vẫn ngồi trên sofa, vẻ âu sầu, hồn như đã lìa khỏi xác. Quan nhìn quanh một vòng, thấy điện thoại liền ra hiệu cho Ngụy. Ngụy lập tức xách ba lô đựng đây dụng cụ tiến lại, gắn máy ghi âm và thiết bị theo dõi vào.
“Anh Hill, anh là người báo án đúng không? Phiền anh kể rõ tình hình.” Quan, Mạch và Lão Từ đến ngôi trên sofa dài, đối diện Graham. Quan đọc tên tiếng Anh của Graham, đến cả âm cuối “L” cũng mang chút giọng Anh.
“Vâng, vâng.” Graham ngả người tới trước, “Vợ tôi bị tiếng điện thoại đánh thức lúc 12 giờ 46 phút...”
Graham thuật lại toàn bộ sự việc từ lúc vợ nghe điện thoại, gọi điện tới trường học cho đến khi phát hiện ra đồng phục và tóc. Là cảnh sát dạn dày kinh nghiệm nên anh trình bày rõ ràng mạch lạc, Quan không cần hỏi vẫn nắm được đầy đủ tình hình.
“Kẻ bắt cóc nói sẽ gọi lại lúc 2 rưỡi...” Quan nhìn đồng hồ, 1 giờ 52 phút chiều, còn khoảng bốn mươi phút nữa mới tới giờ. “Nhưng vẫn có khả năng hắn sẽ gọi sớm hơn. Bang, lắp xong máy chưa?”
“Xong rồi ạ, em đang chạy thử, máy vận hành bình thường,” Ngụy đeo tai nghe, ra dấu OK với Quan.
“Mạch, cậu giữ lại đồng phục, tóc và thùng các tông, chưa biết chừng vẫn còn dấu vân tay của thủ phạm hoặc manh mối nào đó. Bảo Phòng Giám định cử người đến lấy, dặn họ cải trang thành nhân viên giao hàng, tránh đánh động thủ phạm, nhiều khả năng hắn đang theo dõi chỗ này.”
“Rõ.”
“Anh Hill, nhân lúc thủ phạm chưa gọi điện, cho phép tôi hỏi vài câu về tình hình gia đình anh.” Quan nghiêm túc nói. “Gần đây gia đình có gặp người nào khả nghi không? Hay có thấy điều gì bất thường không?”
Graham lắc đầu, “Không có. Gần đây tôi khá bận, thường xuyên tăng ca, tối muộn mới về nhà nên không gặp ai cả. Tôi cũng không thấy Stella nhắc đến chuyện gì bất thường.”
Graham quay sang lay cánh tay vợ, “Stella, sếp Quan muốn hỏi em gần đây có phát hiện ai hay việc gì bất thường không.”
Stella hoang mang ngẩng lên, đảo mắt qua mấy cảnh sát trước mặt, đoạn cắn môi lắc đầu với vẻ khổ sở, “Không có... không có gì cả... Nhưng đây là lỗi của tôi...”
“Lỗi của cô?” Quan hỏi.
“Mấy năm nay tôi chỉ cắm đầu vào công việc, không chăm sóc Alfred tử tế, đùn đẩy mọi trách nhiệm cho vú em... Lẽ nào Chúa muốn trừng phạt tôi vì không làm tròn nghĩa vụ của người mẹ? Sáng nay tan ca về nhà, tôi cũng chẳng nói được mấy câu với Alfred... Chúa ơi, tôi đúng là bà mẹ tồi...”
“Không, không phải lỗi của em, anh cũng ít quan tâm đến con...” Graham ôm vợ, để cô tựa đầu vào lòng.
“Anh Hill, ngoài vú em còn ai khác thường xuyên ra vào nhà anh không?” Quan hỏi thẳng.
“Còn một người giúp việc làm theo giờ, bác ấy đến dọn dẹp hai ngày mỗi tuần.”
“Tôi muốn có thông tin về người giúp việc và vú em, phiền anh cung cấp tên tuổi và địa chỉ của họ.”
“Sếp Quan, anh... nghi ngờ họ có liên quan đến vụ án?”
“Trong các vụ bắt cóc, tất cả những người thường xuyên tiếp xúc với nạn nhân đều là đối tượng tình nghi, nhất là người giúp việc không có quan hệ máu mủ.”
Graham định phản bác, nhưng không mở miệng nổi. Anh biết Quan nói đúng, nhưng xét về mặt tình cảm, anh không tin người giúp việc dáng vẻ hiền lành ấy lại có thể hại con mình.
“Tôi không nghĩ họ làm hại Alfred. Nhưng để thu hẹp phạm vi điều tra, tôi vẫn sẽ cung cấp thông tin của họ cho anh.” Graham đứng dậy, mở ngăn kéo trong phòng làm việc, lấy một quyển sổ rồi trở lại phòng khách.
Graham mở sổ ra đọc, “Vú em... Lương Lệ Bình, tên tiếng Anh là Liz, 42 tuổi.”
“Bình à... chữ ‘Bình’ nào?” Quan vừa ghi thông tin vừa hỏi.
“Chữ này.” Graham cho Quan xem trang sổ.
“Bên dưới là địa chỉ và số điện thoại của chị ấy?”
“Đúng vậy.”
Quan, Lão Từ và Mạch cùng chép lại thông tin.
“Thế còn người giúp việc?” Quan hỏi.
“Bác ấy tên Vương Đới Đệ, 50 tuổi. Thông tin ở ngay bên cạnh.” Graham chỉ vào phần bên của trang ghi chép.
“Mạch, cậu gọi điện cho người nhà họ xem có manh mối gì không.”
Mạch lập tức bước đến điện thoại, nhấc ống nghe.
“Liz sống một mình, bình thường cũng hay qua đêm tại nhà tôi. Chị ấy có một phòng riêng.” Graham nói. “Danh nghĩa là vú em, nhưng chị còn giúp chúng tôi làm việc nhà, kiêm luôn đầu bếp và quản gia.”
“Một tuần chị ấy ngủ lại đây nhiều nhất mấy ngày?”
“Không cố định, còn tùy vào công việc của Stella.” Graham ngoảnh sang nhìn vợ, “Khi nào vợ tôi trực đêm ở bệnh viện Cửu Long, Liz sẽ ngủ lại cùng Alfred, nhất là những hôm tôi về khuya... Nếu vợ chồng tôi tan sở sớm, chị ấy luôn ra về, nói là không làm phiền gia đình... Hầy, tôi đâu có coi chị ấy là người ngoài.”
“Người giúp việc Vương Đới Đệ thì sao?”
“Tôi không rõ về gia đình bác ấy lắm.” Graham lắc đầu. “Chúng tôi muốn Liz có người đỡ đần nên bảo chị tìm giúp việc làm theo giờ đến quét dọn nhà cửa. Bác Đệ chỉ biết chút tiếng Anh cơ bản, tôi không nói chuyện với bác mấy. Thấy bảo bác đang sống cùng vài ‘chị em’, hình như không định kết hôn.”
“Xem ra là u già Thuận Đức rồi.”
Lão Từ nói xen vào. Ba năm sống ở Hồng Kông, Graham đã nghe đến cụm từ này nhưng chưa bao giờ hiểu ý nghĩa, cứ tưởng là cách gọi những phụ nữ độc thân lớn tuổi làm nghề giúp việc, mà không biết “Thuận Đức” là tên một địa danh ở tỉnh Quảng Đông.
“Sếp, em gọi điện rồi.” Mạch về lại chỗ ngồi, báo cáo, “Nhà Bình không ai nghe máy, bà Đệ thì đang ở nhà. Em giả vờ là người của ủy ban Bảo trợ Xã hội gọi điện hỏi thăm tình hình công tác và hoàn cảnh gia đình, bà ấy trả lời đầy đủ mà không mảy may nghi ngờ. Em cho rằng bà Đệ không liên quan đến vụ này.”
“Nếu vậy, chị Bình sẽ là đối tượng tình nghi.” Lão Từ nói. “Con trai anh Hill mất tích, đáng lẽ vú em chuyên đưa đi đón về phải phát hiện ra đầu tiên và báo ngay cho ông bà chủ, đằng này đến giờ vẫn chưa về nhà chủ, cũng không về nhà mình. Có khả năng chị ta chính là đồng bọn với kẻ bắt cóc, một khi ra tay thì không cần dùng thủ đoạn vẫn có thể bắt đứa bé đi mà không gây chú ý.”
“Chị ấy sẽ không...” Lời Lão Từ khiến Graham nhói lòng, cổ họng nghẹn ứ không thể nói hết câu, vì anh biết Lão Từ chưa chắc đã sai.
“Hoặc Bình đã bị bắt đi cùng đứa bé.” Quan bình tĩnh tiếp lời. “Còn trong trường hợp xấu nhất, chị ấy đã bị giết hại. Bọn bắt cóc chỉ cần đứa bé da trắng, vú em lớn tuổi da vàng căn bản không có giá trị.”
Graham thảng thốt. Sau khi sự việc xảy ra, anh mải lo lắng cho an nguy của con mà không đoái hoài đến Liz. Điều Quan nói có thể là sự thật. Có trời mới biết vết máu dính trên áo đồng phục là của đứa trẻ hay của vú em.
“Gần đây Bình có biểu hiện gì đáng ngờ không?” Quan hỏi.
“Không...” Graham chợt ngừng lại.
“Anh nhớ ra chuyện gì rồi sao?”
“Cũng không có gì quan trọng. Chỉ là nửa tháng trước, có hôm tan làm về nhà, tôi vừa tắm xong thì thấy Liz đứng trước cửa phòng ngủ vợ chồng tôi. Chị ấy nói đánh mất hóa đơn mua hàng nên đoán nó rơi trong này. Liz hiếm khi vào phòng ngủ chính, chí ít chưa từng bước vào khi tôi có nhà.” Vẻ mặt Graham có phần phức tạp, “Tôi nghĩ, phải chăng chị ấy định ăn trộm tiền. Nhưng tôi kiểm tra ví không thấy thiếu tờ nào. Sau đấy, Liz bảo đã tìm thấy hóa đơn ngoài ban công, tôi mới nhận ra là mình đa nghi.”
“Vậy là vú em này khả nghi thật?” Lão Từ nói.
“Không, không phải,” Graham vội vàng phủ nhận. “Vì sếp Quan hỏi nên tôi mới nhớ ra chi tiết nhỏ này. Liz rất ân cần với Alfred, không đời nào có chuyện chị ấy làm tổn thương thằng bé.”
“Kể cả thế.” Quan đứng dậy, “Chúng tôi kiểm tra phòng vú em được chứ?”
“Xin mời.”
Graham dẫn Quan đến phòng Liz. Lão Từ và Mạch cũng đi theo, Ngụy ở lại trực điện thoại. Căn phòng không rộng lắm, đồ đạc cá nhân chẳng nhiều nhặn gì, chỉ có vài bộ quần áo và đồ dùng hàng ngày, vô giá trị với việc điều tra.
Mọi người về lại phòng khách, im lặng chờ điện thoại của kẻ bắt cóc. Quan không hỏi han nữa, chỉ trầm tư ngồi trên sofa. Mạch với Lão Từ thỉnh thoảng đi loanh quanh trong phòng cho không khí bớt nặng nề. Họ không lại gần cửa sổ vì e ngại có kẻ theo dõi. Chẳng may tên bắt cóc biết cảnh sát can thiệp, hắn lại bỏ dở kế hoạch và giết luôn con tin không chừng.
Trong lúc chờ đợi, hai nhân viên Phòng Giám định đã đến lấy vật chứng. Họ mặc quần yếm công nhân, đeo găng tay, đẩy xe đẩy chở thùng các tông lớn trông như tủ lạnh, thật ra là thùng rỗng. Mạch đưa vật chứng cho họ, bỏ vào thùng các tông để ngụy trang, rồi lại đẩy xe đi. Người ngoài nhìn vào dễ tưởng là nhân viên giao hàng sai địa chỉ nên đành mang về.
Mạch tình cờ trông thấy kỉ niệm chương của ICAC treo trên giá cạnh tiền sảnh, là món quà cấp trên trao tặng Graham vào năm làm việc thứ hai vì công lao phá nhiều vụ tham ô. Cậu thầm nghĩ, người khác nhìn cảnh này chắc sẽ thấy khó tin. Trưởng ban điều tra của ICAC đang đứng cùng một phòng, kề vai chiến đấu với cảnh sát, cứ như chó mèo hoang hợp sức chống lại sói dữ, chứ bình thường chó mèo đã lao vào cắn xé nhau từ lâu rồi.
Reng...
Chuông điện thoại lanh lảnh bỗng vang lên phá vỡ sự im lặng. 2 giờ 30 phút chiều, đúng như đã báo trước.
“Cố gắng kéo dài thời gian, lâu một chút mới xác định được vị trí người gọi.”
Quan và những người khác đeo tai nghe, ra hiệu cho Graham nhấc điện thoại. Ngụy giơ ngón cái với Quan, ý nói máy móc hoạt động bình thường.
“A lô,” Graham nhấc ống nghe, dè dặt nói.
“Anh là bố của Alfred Hill?”
“Phải.”
“Vợ anh biết điều đấy, khá lắm. Nhận được quà chưa?”
Nghe giọng điệu đắc ý đó, Graham không kìm nổi tức giận, “Nếu mày động đến một sợi tóc của Alfred...”
“Thì thế nào? Anh Hill, anh nên biết, người ra lệnh là tôi, chứ không phải anh.”
“Mày...” Graham hạ giọng, “Anh có yêu cầu gì?”
“Trước hết, tôi hỏi anh một câu, anh có báo cảnh sát không?”
“Không.”
“Tôi ghét nhất mấy kẻ nói dối, giao dịch chấm dứt.”
Cạch, kẻ bắt cóc cúp máy. Graham thẫn thờ cầm ống nghe, tiếng dập như tiếng đao phủ mài dao, khiến anh run lên vì sợ hãi.
“Sao...” Graham bất lực bỏ ống nghe xuống, bàng hoàng nhìn Quan.
Reng... Điện thoại thình lình đổ chuông lần nữa. Graham không chờ chỉ thị của Quan mà nhấc máy luôn.
“Anh đừng làm bậy, tôi sẵn sàng đáp ứng bất cứ yêu cầu gì...” Graham nói liền một mạch.
“Tôi cho anh thêm cơ hội nữa, anh có báo cảnh sát không?” Vẫn là giọng người đàn ông đó.
Graham suýt nữa trả lời “Có, xin lỗi”, nhưng kịp thời nhìn thấy tờ giấy viết vội mà Quan giơ lên: Bluffing(70).
Hắn chỉ bắt nọn anh thôi.
“Không! Tôi sẽ không lấy tính mạng con trai ra đánh cược!” Graham cắn răng đáp. Anh sợ lời nói dối bị kẻ bắt cóc nhìn thấu, cũng sợ Quan phán đoán sai, nhưng giờ phút này anh chỉ có thể tin vào lựa chọn của mình.
“Tốt, tốt.”
Đầu bên kia vẫn giữ máy, Graham không khỏi thở phào.
“Anh là người thành thật, vậy chúng ta bàn chuyện làm ăn đi. Ban nãy anh nói ‘sẵn sàng đáp ứng bất cứ yêu cầu gì’ đúng không? Cái tôi cần chỉ là tiền, đưa tiền cho tôi là có thể đón con về.”
“Anh muốn bao nhiêu?”
“Không nhiều, 500 nghìn đô là được. Giá này rẻ đúng không?”
“Tôi... tôi đâu có nhiều tiền như thế...” Graham bất đắc dĩ nói.
Cạch. Kẻ bắt cóc lại đột ngột cúp máy.
“A lô! A lô!” Graham hốt hoảng, không ngờ mình nói thật cũng khiến hắn tức giận.
Anh bỏ điện thoại xuống. Quan hỏi Ngụy, “Có dò được không?”
“Không, thời gian ngắn quá.” Ngụy lắc đầu.
“Sếp Quan, phải làm sao đây?” Graham hỏi.
“Thủ phạm...”
Quan chưa nói hết câu thì điện thoại đổ chuông lần thứ ba.
“Thủ phạm vẫn đang thăm dò, hắn muốn vắt kiệt anh. Hắn sẽ không hủy giao dịch, nhưng anh phải đối đáp cẩn thận.” Quan nhắc nhở.
Graham gật đầu, nhấc ống nghe lên, “Xin anh đừng cúp máy! Chúng ta từ từ thương lượng!”
“Độp một cái đã nói không có tiền thì tôi bàn tiếp với anh thế nào?”
“Nhưng tôi thực sự không có nhiều tiền như thế...”
“Chậc, đúng là tối dạ...” Dứt lời, điện thoại bỗng im bặt.
“A lô? A lô!” Graham tưởng đầu bên lại cúp máy, nhưng không có tiếng ngắt tín hiệu.
“... Liz? Cô ở đâu?”
Graham nghe tiếng con trai, nước mắt chỉ chực trào ra.
“Alfred! Con có bị thương không? Đừng sợ, bố sẽ đưa con về nhà ngay...”
“Alfred!” Nghe chồng nói, Stella hoàn hồn, lao đến bên điện thoại.
“Anh Hill, anh xem, tôi đầy thành ý thế kia mà.” Điện thoại lại vang lên giọng lãnh đạm của tên bắt cóc. “Anh quá đáng lắm, một mực nói không có tiền. Mỗi ngày anh kinh doanh, bét ra cũng phải mấy triệu đô, 500 nghìn thì đáng là bao?”
“Tôi lấy đâu ra mấy triệu đô! Tôi chỉ là viên chức làm công ăn lương!”
“Anh đừng nói xạo, viên chức mà ở Cửu Long Đường? Còn cho con đi học trường quý tộc?”
“Cư xá Nam Thị là nhà tập thể cho viên chức! Con tôi có trợ cấp học phí!”
Đầu bên kia đột nhiên im lặng.
“A lô? A lô?” Graham căng thẳng gọi.
“... Lát nữa tôi gọi lại.”
“Alô! Alô!”
Tên bắt cóc cúp máy, mặc cho Graham kêu gào.
Lúc này, Graham mới nhận ra mình lỡ lời. Dù anh nói thật, nhưng nếu tên kia bắt Alfred chỉ vì tưởng anh có nhiều tiền, giờ mới biết người nhà không trả nổi khoản tiền chuộc khổng lồ, nhỡ đâu lại giết luôn con tin. Anh hối hận đầy mình về phản ứng thiếu suy nghĩ vừa rồi. Đáng lẽ nên nói là dù không có 500 nghìn đô nhưng sẽ vay mượn bạn bè.
Graham hốt hoảng nhìn mọi người, lắp ba lắp bắp, “Sếp... sếp Quan, có phải tôi... làm hỏng chuyện rồi không?”
“Chưa biết được. Có thể trước đây tên bắt cóc điều tra không kĩ càng, tưởng anh là chủ doanh nghiệp đầu tư nước ngoài.” Quan điềm tĩnh đáp. “Từ thái độ ban đầu, tôi đoán hắn hoặc kẻ chủ mưu là loại tội phạm giỏi đùa bỡn tâm lý người khác. Nếu đúng là chúng xác định nhầm thân phận của anh, có lẽ chúng sẽ cân nhắc lại mức tiền chuộc. Giả thuyết này dựa trên hai điều. Một, trong lúc gọi điện, anh tỏ thái độ hợp tác, thủ phạm cho rằng anh vẫn còn giá trị lợi dụng. Hai, nếu ‘từ bỏ’ vào giờ phút này, chúng sẽ trắng tay.”
Graham hiểu, “từ bỏ” ở đây nghĩa là “giết con tin”. Chẳng qua Quan không muốn vợ anh bị kích động nên mới nói tránh.
Hai phút sau, điện thoại lại reo. Đối với Graham, hai phút này dài như hai tiếng đồng hồ.
“A lô?” Graham nói.
“Anh... chỉ là viên chức bình thường thật sao?”
“Đúng vậy!”
“Anh làm việc ở đâu?”
“ICAC.”
“Ừm, con anh cũng nói thế, chứng tỏ anh không nói dối.” Đầu bên kia có vẻ hòa hoãn hơn một chút, đoạn thở dài, “Đúng là xui xẻo, vậy mà lại nhầm.”
“Xin anh tha cho Alfred! Tôi sẽ giao tất cả tài sản cho anh!”
“Anh có bao nhiêu tiền?”
“Khoảng 70 nghìn đô...”
“Nhõn 70 nghìn? Nhà anh ở Cửu Long Đường, ăn ngon ở sang, thế mà chỉ tích cóp được 70 nghìn?”
“Tôi đến Hồng Kông làm việc để trả nợ...” Graham không dám giấu giếm. Con anh cũng biết tình hình tài chính trong nhà, kẻ bắt cóc chỉ cần hỏi nó là rõ anh có nói dối hay không.
“Con mẹ nó...” Người đàn ông chửi một câu tiếng Quảng, rồi nói tiếp bằng tiếng Anh, “Anh nghe cho rõ đây, tôi muốn 100 nghìn đô. Trong vòng một tiếng... không, trong vòng bốn lăm phút tôi phải nhận được tiền, nếu không con anh chết chắc.”
“Làm sao tôi kiếm đủ 30 nghìn đô trong bốn lăm phút?”
“Mặc kệ anh. Không có tiền mặt thì bù vào bằng trang sức. Anh được ở khu nhà công vụ cao cấp như thế, chắc ghế ngồi cũng không nhỏ. Tôi không tin vợ anh không có món trang sức nào để đeo đi dự tiệc quan chức với anh. Bốn lăm phút nữa mà chưa chuẩn bị xong thì cứ chờ nhặt xác con trai đi.”
Dứt lời, điện thoại liền ngắt kết nối.
Quan tháo tai nghe ra hỏi, “Bang, có tìm được vị trí không?”
“Không ạ, không đủ thời gian.”
“Kẻ bắt cóc ngắt quãng cuộc gọi, nhìn bề ngoài giống như đang cáu giận, nhưng cũng có thể là do cảnh giác.” Quan khẽ cau mày, “Hắn đề phòng cảnh sát nghe lén nên mới cố tình tách các cuộc gọi, khiến chúng ta không thể định vị. Nếu đúng thế, thủ phạm thận trọng và xảo quyệt hơn tưởng tượng nhiều, mọi người phải cẩn thận.”
Quan quay sang hỏi Graham, “Anh Hill, tiền tiết kiệm của anh chỉ có 70 nghìn đô la Hồng Kông thật à?”
“Đúng vậy.”
“Bây giờ là 2 giờ 35 phút. Bốn mươi lăm phút nữa là 3 giờ 20 phút. Thời gian quá ngắn, cảnh sát không kịp chuẩn bị tiền mặt có đánh dấu cho anh... Chắc anh chỉ còn nước làm theo yêu cầu của kẻ bắt cóc, đến ngân hàng rút tiền.”
“Thế 30 nghìn đô còn lại phải tính sao?” Mạch xen vào. “Anh xin ứng trước lương được không?”
“Dù xin được thì cũng không cách nào lấy luôn trong vòng bốn mươi lăm phút, chưa kể đấy lại là tiền lương của bốn tháng...”
Quan xoa cằm, “Cảnh sát không thể đưa tiền mặt, nhưng tôi có thể cho anh vay với danh nghĩa cá nhân...”
“Sếp, như thế không hợp quy định!” Lão Từ phản đối. Thật ra, cả ba cấp dưới đều sửng sốt trước đề nghị của Quan.
Họ bất ngờ không phải vì sếp quyết định góp tiền giúp kẻ thù không đội trời chung, tức cán bộ điều tra của ICAC, mà vì không ngờ người tính toán chi li như Quan bỗng hào phóng trợ giúp một khoản to rất dễ “một đi không trở lại”.
“Cảnh viên Từ nói đúng.” Graham gật đầu tỏ ý cảm kích, “Stella có vài món trang sức do bố mẹ để lại. Lúc mắc nợ chúng tôi cũng không nỡ đem bán, nhưng so với Alfred, chúng chỉ là những thứ nhỏ bé không đáng kể.”
“Đáng giá 30 nghìn đô chứ?” Quan hỏi.
“Chắc chỉ khoảng 1500 đến 2000 bảng Anh, cùng lắm là đổi được 20 nghìn đô la Hồng Kông. Nhưng giá đồ trang sức luôn dao động, có khi bây giờ đã lên tới 30 nghìn.”
“Thấy chưa, tôi đã bảo người Anh giàu mà.” Lão Từ thì thào với Mạch bằng tiếng Quảng Đông.
“Stella, anh lấy mấy món trang sức nhé, em không phản đối chứ?”
Graham hỏi vợ. Stella lắc đầu. Không được nghe tiếng con trai, thần sắc cô càng thêm rầu rĩ.
Quan đến trước mặt Stella, cầm hai tay cô nói, “Cô Hill, chúng tôi nhất định đưa con trai cô bình an trở về.”
Stella ngẩng lên nhìn Quan, ủ rũ gật đầu.
“Anh Hill, ngân hàng có gần đây không?”
“Lái xe năm phút là đến.”
“Vậy anh mau ra rút tiền. Mạch, cậu nấp vào ghế sau xe anh Hill, chú ý mọi tình huống bất ngờ. Cẩn thận đừng để người khác trông thấy.”
“Tuân lệnh.” Mạch gật đầu, rời khỏi căn hộ cùng Graham.
Hai người đi rồi, những người còn lại đều câm nín. Quan ngồi trên sofa, ánh mắt như đang dõi về đường chân trời xa xăm. Hai cấp dưới và chủ nhà đều không ngờ anh đang suy nghĩ một việc khác.
Trong đầu Quan lúc này lại là “vụ buôn ma túy chợ hoa quả Du Ma Địa”, kéo theo “vụ tham nhũng tập thể của cảnh sát”.
3 giờ chiều, Graham và Mạch quay lại.
Mạch báo cáo, trên đường đi không có gì bất thường, cậu lén quan sát xung quanh qua cửa sổ xe, không thấy đối tượng khả nghi nào theo dõi Graham.
Graham gửi tiết kiệm có kì hạn 70 nghìn đô, còn một tháng nữa mới đến hạn. Để rút được số tiền này, anh đành phải đóng sổ tiết kiệm, lãi suất cũng mất luôn. Nhận đủ tiền, anh nhét vào túi hồ sơ, quay ra chiếc xe đỗ trước cổng ngân hàng, cả quá trình đều thuận lợi.
Graham đặt từng cọc tiền mới tinh lên bàn nước trong phòng khách. 70 nghìn đô được chia thành bảy cọc, mỗi cọc gồm 20 tờ 500 đô. Mặc dù ba tháng trước ngân hàng HSBC đã phát hành tờ tiền mệnh giá 1000 đô(71), nhưng không ít ngân hàng vẫn cung cấp loại tiền giấy 500 đô hay còn gọi là “trâu mộng(72)” này. 70 nghìn đô là khoản tiền lương tích góp sáu, bảy năm trời của hầu hết các viên chức, nhưng khi đổi thành tiền mặt, Mạch lại thấy nó ọp ẹp thua xa tưởng tượng.
Quan còn chưa lên tiếng, Lão Từ đã ra chỉ thị, “Mạch, cậu ghi số xê ri của tiền đi. Thời gian không nhiều, làm nhanh lên.”
Mạch gật đầu, ngồi bên bàn tháo mảnh giấy buộc tiền, cẩn thận ghi lại số xê ri của từng tờ một. Khi tiền được nhập vào hệ thống ngân hàng, cảnh sát sẽ có thêm manh mối, lần theo luồng lưu thông của tiền để tìm ra thủ phạm.
“Trang sức bù vào số tiền còn lại đâu?” Quan hỏi.
“Tôi cất trong phòng làm việc.” Graham đứng dậy bước đi.
“Anh không để trong phòng ngủ chính sao?”
“Trước năm ngoái, nhà chúng tôi vẫn chưa trả hết nợ, tài sản quý giá đương nhiên phải cất cẩn thận vào két sắt. Nếu để bừa bãi trong phòng ngủ, chẳng may hôm nào cả nhà đi vắng, trộm mà vào khoắng thì ngay chút tài sản dư cũng mất luôn...” Graham thở dài, “Chỉ không ngờ giấu kĩ đến mấy vẫn phải ngoan ngoãn lấy ra, dâng tận tay cho người ta.”
Quan nối gót Graham vào phòng làm việc, Lão Từ cũng theo sau như muốn được mở rộng tầm mắt. Căn phòng không lớn lắm, nhưng gọn gàng ngăn nắp, trên giá có khá nhiều sách về pháp luật, quy trình xử án và nhận biết tội phạm. Trên tường cạnh giá sách treo vài bức tranh, nhưng không phải tác phẩm gì xuất chúng mà chỉ là tranh vẽ màu nước của trẻ con.
“Đấy là tranh của Alfred.” Thấy Quan và Lão Từ chăm chú nhìn, Graham bèn giải thích. “Thằng bé thích vẽ. Trừ vẽ vời ra, nó không hứng thú với mấy hoạt động ngoại khóa thông thường. Cứ đưa giấy bút là nó ngồi vẽ cả chiều. Stella cho đi học vẽ, nó càng đam mê hơn, còn muốn tôi treo tranh của nó trong phòng, bảo là phòng làm việc cần có chút màu sắc tô điểm...”
Nụ cười của Graham khẽ thoáng qua rồi vụt tắt, khuôn mặt lộ rõ vẻ đau buồn. Quan với Lão Từ đều hiểu, nói đến chuyện này bây giờ chỉ càng giày vò tinh thần.
Graham mở tủ gỗ màu trà kê cạnh giá sách, bên trong là két sắt giấu kín màu xanh xám, rộng tầm 70 cm, cao 1 m. Quan không nhìn ra nó sâu bao nhiêu.
Graham tra chìa vào ổ, vặn tới vặn lui núm xoay mã số, cửa két “cạch” một tiếng, hé mở. Graham thận trọng nhấc ra một chiếc hộp bọc nhung tím, đóng két lại, rút chìa khóa. Anh đặt hộp lên bàn làm việc, ba người dán mắt vào quan sát. Chiếc hộp dài rộng khoảng 20 cm, dày chừng 5 cm.
Graham mở hộp, Quan và Lão Từ đồng loạt giật mình trước số trang sức bên trong. Nổi bật nhất là sợi dây chuyền với hơn mười viên kim cương lấp lánh, còn có đôi khuyên tai kim cương cùng bộ, hai trong ba chiếc nhẫn đặt bên cạnh cũng cùng kiểu dáng, chiếc còn lại thì nạm ruby.
Lão Từ huýt sáo, “Thế này mà chỉ đáng 20 nghìn đô thôi á?”
“Tôi không dám chắc.” Graham nói. “Hồi ở Anh tôi từng đem ra tiệm trang sức định giá, người ta bảo khoảng 1500 bảng Anh. Có lẽ hắn lừa tôi chăng?”
“Không cần biết giá trị thật là bao nhiêu, miễn kẻ bắt cóc cho rằng chúng đáng giá hơn 30 nghìn đô là được.” Quan nói.
Graham đóng nắp hộp, than thở, “Sợi dây chuyền và đôi khuyên đã làm bạn với Stella nhiều năm, cô ấy mới đeo có ba, bốn lần. Từ khi đến Hồng Kông chỉ dùng đúng một lần vào tháng Mười một năm ngoái, khi cùng tôi đi dự đám cưới đồng nghiệp. Cô ấy rất thích sợi dây chuyền này, mặc dù đã đồng ý đem đi làm tiền chuộc, nhưng chắc là tiếc lắm đây...”
Ba người quay lại phòng khách. Mạch đã chép xong số xê ri. Bảy cọc tiền thì có năm cọc là tiền mới, số xê ri liền nhau, chỉ cần chép tờ đầu và tờ cuối là xác định hết xê ri của 20 tờ.
“Sếp, em thấy hơi lạ khi thủ phạm không yêu cầu tiền cũ và tiền mệnh giá thấp.” Mạch nói.
Lão Từ nhún vai, “Biết đâu hắn muốn đánh nhanh diệt gọn nên không thêm điều kiện đi kèm.”
“Cũng có thể hắn đã dàn xếp trước kế hoạch ứng phó.” Quan vừa nói vừa tiến đến chỗ Ngụy, “Đưa tôi cái kia.”
Ngụy hiểu ý, lôi từ trong ba lô ra một hộp nhỏ màu đen to cỡ bật lửa. Hộp làm bằng nhựa dẻo, cạnh hộp có mấy cái khe, nhòm qua là thấy cả đống dây điện lộn xộn bên trong. Mặt chính của hộp có bốn lỗ bắt ốc, ở giữa là một cái nút không mấy bắt mắt.
“Anh Hill, đây là máy phát tín hiệu.” Quan đặt chiếc hộp lên bàn. “Pin đủ dùng trong bốn mươi tám tiếng. Anh ấn nút này rồi đặt hộp vào túi đựng tiền, chúng tôi có thể lần theo tín hiệu để xác định vị trí, tìm đến hang ổ của kẻ bắt cóc, giải cứu con anh.”
“Nhưng lỡ hắn phát hiện ra...”
“Bỏ nó vào hay không là quyền của anh, cảnh sát không ép được. Có điều, mong anh hiểu rằng, kẻ bắt cóc chưa chắc đã giữ lời thả con tin sau khi nhận tiền. Máy phát tín hiệu này không phải tiền cược mà là một phần bảo đảm. Nếu anh tin tưởng Cảnh sát Hoàng gia Hồng Kông thì hãy làm theo lời tôi.”
“Tôi hiểu rồi.” Graham gật đầu.
Quan gõ hai cái lên máy phát tín hiệu, “Tôi không biết lúc giao tiền chuộc, kẻ bắt cóc có yêu cầu anh đổi tiền mặt và trang sức sang túi khác hay không, cho nên anh phải tùy cơ ứng biến.”
Mạch xếp tiền thành bảy cọc. Graham đếm qua một lượt rồi nhét lại vào túi hồ sơ. Thấy hộp trang sức quá cồng kềnh, anh bèn trút trang sức vào một bao vải nhỏ, thắt chặt dây rồi mới cho tiếp vào túi hồ sơ. Anh cầm máy phát tín hiệu lên, định để cùng tiền và trang sức, nhưng đến phút cuối lại đổi ý, đút nó vào túi quần. Anh nghĩ, tốt nhất vẫn nên đợi kẻ bắt cóc ra chỉ dẫn, bao giờ chắc chắn hắn không có yêu cầu gì đặc biệt hẵng đặt máy vào cùng trang sức và tiền chuộc.
Trong lúc chờ đợi, Quan gọi hai cuộc điện thoại, liên lạc với các ban hình sự khu vực Cửu Long và Đảo Hồng Kông, đánh tiếng nhắc họ xử lý công việc về sau. Đợi thủ phạm ra chỉ dẫn, Quan sẽ báo cho cảnh sát khu vực theo dõi và mai phục. Mặc dù vụ việc xảy ra đột ngột, từ lúc phát sinh sự cố đến nay mới có ba tiếng đồng hồ, nhưng Quan đã sắp xếp nhân lực hết sức linh hoạt, chuẩn bị ứng phó với mọi tình huống bất ngờ.
Mười phút sau, điện thoại đổ chuông. 3 giờ 20 phút, đúng như thời gian đã báo.
Mọi người đeo tai nghe, Ngụy lại thao tác trên máy ghi âm và thiết bị theo dõi. Quan gật đầu với Graham, anh liền nhấc ống nghe lên.
“Alô.”
“Chuẩn bị tiền xong chưa?” Vẫn là giọng người đàn ông đó.
“Xong rồi, 70 nghìn đô tiền mặt và trang sức trị giá 30 nghìn đô.”
“Thấy chưa, thành sự tại nhân mà.” Hắn cười chế nhạo.
“Tôi muốn nói mấy câu với Alfred.” Thấy Ngụy ra hiệu kéo dài thời gian, Graham bèn đòi hỏi.
“Anh dựa vào đâu mà cò kè mặc cả với tôi?” Hắn lạnh lùng đáp trả. “Yêu cầu sau đây tôi chỉ nói một lần, anh cố mà nghe cho kĩ.”
“Tôi muốn gặp Alfred...”
“Trong vòng hai mươi phút, một mình mang tiền chuộc đến quán cà phê Lạc Hương Viên(73) phố Wellington, Trung Hoàn. Gọi một cốc trà sữa. Đến lúc đó anh sẽ nhận được chỉ dẫn mới.”
“Khoan đã, tôi muốn gặp Al...”
Graham chưa nói hết lời, bên kia đã cúp máy.
“Không tìm được.” Ngụy tháo tai nghe. “Thời lượng mỗi cuộc gọi đều quá ngắn, không thể xác định vị trí.”
“Bang, cậu ở lại, rà soát từng đoạn ghi âm điện thoại ban nãy xem có manh mối gì không, như tạp âm xung quanh chẳng hạn.” Quan bỏ tai nghe xuống. “Anh Hill, kẻ bắt cóc ấn định hai mươi phút, anh phải xuất phát ngay. Anh biết địa chỉ quán Lạc Hương Viên chứ?”
“Ở phố Wellington, đoạn gần phố D’Aguilar đúng không?”
“Phải, chính là quán đó. Lần này Mạch không thể đi cùng anh, vì thủ phạm đã nhấn mạnh anh phải giao tiền chuộc một mình, lỡ hắn phát hiện trên xe có người khác, e rằng sẽ gây nguy hiểm cho cháu nhà. Nhưng chúng tôi sẽ luôn trực gần chỗ anh, cố gắng tận dụng cơ hội báo cho chúng tôi yêu cầu tiếp theo của thủ phạm, để tiện điều động nhân lực. Sau khi xuất phát, chúng tôi sẽ liên lạc với Ban Điều tra Hình sự Đảo Hồng Kông, bảo họ cử người đến Lạc Hương Viên canh gác, chú ý đối tượng khả nghi.”
Graham gật đầu.
“Mạch, mau xuống bãi đỗ lấy xe, chờ tôi với Lão Từ ở đầu phố.”
Mạch hiểu Quan ra chỉ thị như vậy là để đề phòng kẻ bắt cóc vẫn đang theo dõi. Cậu không nhiều lời, gật đầu rồi chạy ngay ra khỏi căn hộ.
Graham không cầm túi hồ sơ đựng tiền chuộc lên vội, mà đến trước mặt Stella đang ngồi trên sofa, quỳ xuống ôm lấy vợ.
“Đừng lo, anh sẽ đưa Alfred trở về.” Graham nói với giọng chắc nịch. Stella nghe xong, mắt lại ngân ngấn lệ. Nhưng cô cố nén khóc, chỉ gật đầu, hai tay ôm chặt lấy chồng. Cô biết mình phải kiên cường đối mặt với tai họa này, không thể để chồng đã một mình mạo hiểm lại còn phân tâm lo lắng cho cô.
Graham cầm túi hồ sơ ra tiền sảnh, xuống bãi đỗ rồi ngồi vào xe. Anh đặt túi ở ghế phụ lái, cắm chìa khóa xe, thầm tính toán đường đi. Lúc rời khỏi cổng cư xá, anh nhìn kính chiếu hậu thấy bóng Quan và Lão Từ đi ngang qua phòng bảo vệ, ra ngoài tòa nhà.
Trên đường đi, Graham liên tục canh đồng hồ. Từ cư xá đến Trung Hoàn mất chừng mười hai phút, nhưng chẳng may tắc đường thì hai mươi phút chưa chắc đã kịp. Mỗi lần dừng đèn đỏ, Graham đều sốt ruột nhìn cột đèn tín hiệu, đèn vàng vừa sáng, anh liền đạp chân ga, giống như tay đua tranh giành thứ hạng vậy.
Cũng may, vì chưa đến giờ tan tầm nên giao thông khá thuận lợi. Ngặt nỗi lúc qua đường hầm dưới biển, nhân viên thu phí tay chân chậm chạp làm trễ mất hơn mười giây. Graham đã bảo không cần trả lại tiền thừa, anh ta vẫn cứ lơ nga lơ ngơ, rề rà không cho qua.
Graham đến quán cà phê vừa kịp 3 giờ 37 phút. Lạc Hương Viên nằm ở Trung Hoàn, người dân quanh đây quen gọi là “Ổ Rắn”. Trong tiếng Quảng Đông, “rắn chúa” thường để chỉ những người hay trốn việc ra ngoài tán phét. Tầm giữa chiều, quán này lại chật cứng nhân viên của các công ty ở khu Trung Hoàn lén lút đi uống cà phê hay trà sữa, cho nên mới có tên là “Ổ Rắn”. Graham đến vừa đúng bữa trà chiều, các bàn đều có khách, khiến anh hơi lúng túng.
Ổ Rắn là quán cà phê bình dân, các chủ doanh nghiệp đầu tư nước ngoài và bậc quản lý sẽ không lui tới, nên Graham vừa xuất hiện, hầu hết mọi người đều ngạc nhiên ngoái lại nhìn. Họ đoán anh vào nhầm chỗ, cũng có người cho rằng anh gặp việc gấp cần gọi cấp dưới, mà cấp dưới lại đang lỉnh đi thưởng thức trà chiều nên ông chủ đành đích thân đến tìm.
“Sorry, no seat. Do you mind... ghép bàn?” Bồi bàn tầm bốn, năm mươi tuổi hỏi Graham bằng thứ tiếng Anh trọ trẹ. Người này muốn giải thích rằng đã hết chỗ, hỏi anh nếu ngồi ghép với khách khác thì có ngại không, nhưng vốn từ có hạn nên đành kết câu bằng tiếng Quảng Đông, rồi chỉ trỏ bảo Graham đến ngồi ở ghế trống.
Graham đang định chọn bừa chò nào đấy, thì bỗng trông thấy vài gương mặt quen thuộc. Quan và Lão Từ đang ngồi ở một bàn dài bốn người. Graham kiếm cớ đến gần, ngồi cạnh Quan vờ như ghép bàn. Quan cầm tờ báo gập bốn bằng một tay, ra vẻ chăm chú đọc. Lão Từ khoanh hai tay trước ngực, làm bộ ngủ gật. Đây là bộ dạng thường thấy của các “rắn chúa” nên chẳng ai nghi ngờ. Mặc dù Graham đã phóng hết tốc lực cho kịp giờ, nhưng rõ ràng kĩ thuật đua xe không bằng cậu Mạch trẻ tuổi, nên Quan vẫn đến trước vài phút.
Quan và Lão Từ không nói năng gì, chỉ liếc Graham một cái ra điều “Sao lại có tên Tây lông đến ngồi chung thế này?” rồi tiếp tục ai làm việc nấy. Graham cũng không chủ động bắt chuyện, mà gọi một cốc trà sữa nóng theo chỉ dẫn của kẻ bắt cóc.
Trà sữa Lạc Hương Viên ngon có tiếng, nên mới thu hút nhiều nhân viên văn phòng đến thế. Nhưng bây giờ Graham chẳng có tâm trạng nhâm nhi thưởng thức. Anh uống một ngụm rồi ngó quanh ngó quất, chờ kẻ đưa tin. Kim phút đang nhích dần đến số 8. Khi đồng hồ sắp điểm 3 giờ 40 phút, người bồi bàn ban nãy tiến lại.
“You... Mr. Hạ? Telephone.” Ông ta khoa chân múa tay giải thích là có người gọi điện cho Graham.
Graham lấy làm lạ, nhưng vẫn ôm túi ra chỗ điện thoại.
Điện thoại đặt trên quầy, ống nghe gác trên máy, xung quanh không có ai.
Anh dè dặt cầm ống nghe lên, “A lô?”
“Anh đến đúng giờ lắm, tốt.” Lại là người đàn ông đáng ghét kia.
“Anh mau xuất hiện đi, tôi không cần tiền, tôi chỉ cần con.”
“Cứ làm theo lời tôi, anh sắp được gặp nó rồi.” Hắn lạnh lùng nói. “Bây giờ, anh tìm một tiệm kim hoàn gần đó, đổi 70 nghìn đô thành vàng.”
“Vàng?” Graham ngỡ ngàng hỏi lại.
“Đúng, vàng. Giá vàng hôm nay hình như khoảng 900 đô một lượng... Tôi giảm giá cho anh, đưa tôi 75 lượng là được, số còn lại anh cứ cầm về.”
Khác với phương Tây sử dụng đơn vị ounce và pound, Hồng Kông quen dùng lượng để giao dịch vàng. Một lượng bằng mười chỉ, một chỉ bằng 3,75 gam, 75 lượng vàng tương đương 67 nghìn đô.
Người đàn ông nói tiếp, “Anh đổi tiền thành 15 miếng vàng năm lượng, sau đó lái xe đến bể bơi Kennedy Town ở Tây Hoàn, vào nhà ăn cạnh bể bơi gọi một cốc cà phê, chờ chỉ dẫn tiếp theo.”
“Bể bơi Kennedy Town ở Tây Hoàn?”
“Phải, đừng bắt tôi nhắc lại. Cho anh nửa tiếng... bốn mươi lăm phút để hoàn thành công việc và đến điểm hẹn.”
“Anh sẽ mang Alfred đến chứ...”
Graham chưa kịp nói hết câu thì máy ngắt.
Tiền mặt còn ghi được số xê ri để tra nguồn gốc, chứ vàng thì không. Thủ phạm thừa sức nung chảy vàng, muốn bán đi cũng dễ hơn nhiều.
Graham quay lại chỗ ngồi, uống một hơi hết cốc trà sữa rồi nói khẽ, “Hắn muốn tôi dùng tiền mặt mua 75 lượng vàng, sau đó đến bể bơi Kennedy Town ở Tây Hoàn chờ chỉ dẫn kế tiếp.”
Quan không đáp, mắt vẫn nhìn tờ báo, nhưng tay phải gõ nhẹ hai cái lên mặt bàn, tỏ ý đã nghe thấy. Graham gọi bồi đến thanh toán, rồi cầm túi hồ sơ rời khỏi quán cà phê.
Anh lái xe dọc đường Queen’s Road Central, nháo nhác tìm tiệm kim hoàn. Khu Trung Hoàn là trái tim của đảo Hồng Kông, từ đường Queen’s Road Central chạy về hướng Tây có đủ loại cửa hàng, tiệm kim hoàn cũng có mấy cái. Graham không nghĩ nhiều, vào bừa một tiệm bày đầy vòng nhẫn xuyến. Nhân viên thấy khách nước ngoài liền tỏ thái độ niềm nở. Mặc dù hiện nay địa vị và tài sản của người Hoa bản địa đã gần bắt kịp người nước ngoài, song tư tưởng “Tây tức là giàu” đã ăn sâu vào tiềm thức của dân thành thị thế hệ trước.
“Xin chào quý khách. Tôi có thể giúp gì cho ngài?” Nhân viên hói nửa đầu, mắt đeo kính, nói tiếng Anh không chuẩn lắm nhưng cũng khá lưu loát.
“Vàng, tôi muốn mua vàng.” Graham nói nhanh.
Anh ta vui vẻ hỏi lại, “Ngài mua để tiết kiệm sao? Mua vàng vào thời điểm này là tốt nhất đấy. Xin hỏi ngài mua bao nhiêu?”
“Vàng miếng năm lượng, tôi cần 15 miếng...”
“Ý ngài là... 15 miếng vàng năm lượng?” Nhân viên cửa hàng tưởng mình nghe nhầm.
“Đúng vậy, tổng cộng 75 lượng vàng.” Graham vừa nói vừa rút từng cọc tiền ra khỏi túi hồ sơ. “Cửa hàng anh có không? Tôi cần ngay bây giờ, nếu không thì thôi, tôi đang vội.”
“Có! Có!” Anh nhân viên trợn tròn mắt nhìn mấy cọc “trâu mộng”. Không phải anh chưa từng thấy số tiền lớn như thế bao giờ, mà là chưa từng gặp khách nước ngoài nào hào phóng đến vậy. 70 nghìn đô, đủ mua ba căn nhà cấp bốn ở Loan Tể.
Nhân viên lập tức lui vào trong, một phút sau bưng ra khay đựng 15 hộp gấm. Anh ta mở từng hộp, mỗi hộp đựng một miếng vàng óng ánh khắc khối lượng và mã số, còn có giấy chứng nhận của nhà chế tác.
Anh nhân viên đặt vàng trước mặt Graham, “Thưa ngài, chúng tôi có cân, ngài có thể kiểm tra từng miếng...”
“Khỏi cần, cũng đừng bỏ hộp, đưa tôi vàng là được rồi.”
“Về giá cả, hôm nay tiệm chúng tôi yết giá 88 đô một chỉ bán ra... Tổng cộng là 66 nghìn đô.” Anh nhân viên cung kính chỉ vào tấm bảng đặt trên quầy, bên trên viết dòng chữ “Giá niêm yết, 88,00 HK$/chỉ”, rồi nhanh chóng gảy bàn tính tính tiền. “Xin hỏi, ngài trả bằng tiền mặt chứ?”
Graham đẩy bảy cọc tiền ra như muốn nói, hỏi thừa.
Sợ phật ý khách, anh nhân viên nhún nhường, “Tôi cần kiểm tra tiền, phiền ngài đợi một lát.”
“Nhanh lên.” Graham vừa giục vừa nhìn đồng hồ đeo tay. Từ Trung Hoàn đến Tây Hoàn mất không đến mười phút đi xe, thời gian thư thả hơn ban nãy.
Nhân viên kiểm tra từng tờ tiền một, vì hầu hết đều là tiền mới có số xê ri liền nhau, nên quá trình kiểm đếm khá nhẹ nhàng. Hai phút sau, anh ta đã đếm đủ 66 nghìn đô.
“Đây là tiền thừa của quý khách. Giờ tôi sẽ làm biên lai cho ngài.”
“Hóa đơn thì...”
“Thưa ngài, hóa đơn vẫn nên giữ lại một tờ, tránh sau này có tranh cãi.” Đoán được ý Graham, nhân viên chặn ngay, tay thoăn thoắt làm biên lai. Anh ta không hiểu vì sao vị khách nước ngoài này lại mua vàng gấp gáp như thế, chắc là biển thủ công quỹ, chuẩn bị ôm của bỏ chạy. Dĩ nhiên, anh ta không quan tâm đến hoàn cảnh của khách, tiền là tiền thật, giao dịch là hợp pháp, dù cảnh sát tìm đến, anh ta vẫn có lý do chính đáng để giữ số tiền này.
Trong lúc nhân viên viết hóa đơn, Graham tranh thủ nhét vàng vào túi hồ sơ. Miếng vàng năm lượng chỉ bằng cục tẩy dài, túi cỡ A4 thừa sức đựng hết. Nhưng vàng không nhẹ, 75 lượng xấp xỉ 3 cân, suýt rách cả túi.
Anh nhân viên thấy thế, xé hóa đơn xong liền lấy bịch nylon từ dưới quầy đưa cho Graham.
Dù lòng nóng như lửa đốt, Graham vẫn lịch sự cảm ơn.
“Không có gì, cảm ơn quý khách đã ghé thăm.” Nhân viên nhiệt tình bắt tay anh, “Sau này nếu lại có nhu cầu, hoan nghênh ngài đến tiệm chúng tôi.”
Graham gật đầu, bỏ túi hồ sơ và hóa đơn vào bịch nylon, vội vã rời cửa hàng. Ra khỏi tiệm, anh thấy Lão Từ đang đứng trước tủ kính, giả làm dân thường xem hàng để quan sát quá trình mua vàng. Họ lướt qua nhau mà không hề nhìn nhau. Graham đoán Quan đã gọi điện về đồn cảnh sát, bố trí người đến bể bơi mai phục, hoặc đã cùng Mạch lái xe đến nhà ăn bên bể bơi trước, xem có thấy bóng dáng kẻ bắt cóc không.
Graham chạy một mạch về xe, lên đường đến bể bơi Kennedy Town.
Bể bơi công cộng Kennedy Town nằm trên phố Smithfield(74), Tây Hoàn, đảo Hồng Kông, khai trương hai năm trước để phục vụ người dân Tây Hoàn. Bể bơi không chỉ có các công trình đi kèm như khán đài và phòng thay đồ, mà ở tòa nhà ngay lối vào bên cạnh khán đài còn có một nhà ăn, người dân không cần vào bơi cũng có thể đến dùng bữa. Hằng sáng, kể cả khi khách đi bơi không nhiều, nhà ăn vẫn đông nghịt cư dân ghé vào ăn điểm tâm, những người già tập thể dục buổi sáng về còn xách lồng chim đến ngắm nghía, quang cảnh vô cùng náo nhiệt.
4 giờ 5 phút, Graham đến bể bơi Kennedy Town. Mặc dù chưa tới đây bao giờ, nhưng trong lúc điều tra tham nhũng, anh cũng biết đại khái các địa điểm kinh doanh do nhà nước đầu tư. Xe vừa vào phố Smithfield, anh đã thấy ngay đích đến. Anh tấp vào bãi đỗ xe gần bể bơi rồi nhìn xung quanh. Bên đường có không ít hàng quán, phía đối diện còn mở chợ. Smithfield nằm ở cực Tây của Tây Hoàn, gần đó có hai khu nhà ở xã hội quy mô lớn là Quan Long Lâu và Tây Hoàn Estate(75), tính cả nhà liên kế thì tổng cộng có hơn một trăm nghìn dân. Cạnh các quán ăn vặt bên đường là các hàng quần áo, hoa quả, còn có cả thợ sửa đồng hồ và bán pin, thợ sửa giày kiêm sửa khóa và mấy người mài dao thuê cho các bà nội trợ. Thợ mài dao sẽ cầm đá mài và dụng cụ, đứng ở đầu phố hô lớn “Mài dao kéo đi”, mấy bà nội trợ nghe thấy liền mang dao kéo xuống lầu nhờ bác thợ mài cho rồi trả bằng tiền lẻ.
Vì đúng vào giờ tan học nên các quán ăn vặt đều bận tíu tít, học sinh trung học xúm đông xúm đỏ mải mê mua các món ăn đường phố như cá viên, sách bò, ai hảo ngọt thì vây quanh mấy hàng bánh đường nâu, kẹo lạc hoặc kẹo râu rồng. Graham lách qua đám học sinh bụng đói cồn cào, đến trước lối vào bể bơi thì thấy biển chỉ dẫn lên nhà ăn, bèn theo cầu thang đi lên.
Nhà ăn có khá nhiều chỗ trống chứ không đông đúc như Ổ Rắn ở Trung Hoàn, Graham liếc qua là thấy Quan đang ngồi một mình một bàn. Sợ bị theo dõi, anh chỉ dám ngồi phía sau cách Quan một bàn. Hai người quay lưng vào nhau, nói nhỏ vẫn nghe thấy.
“À... Anh cần gì?” Bồi bàn hỏi bằng tiếng Quảng Đông. Graham tuy không hiểu nhưng đoán người này vô can, kẻ bắt cóc sẽ không cử một người mù tiếng Anh ra giao dịch. Đoán rằng bồi bàn đang đợi mình gọi món, anh bèn chỉ vào cà phê trên menu. Menu viết cả tiếng Hoa lẫn tiếng Anh nên dù giao tiếp khó khăn cũng không thành vấn đề.
Graham vừa uống cà phê vừa ngó quanh quất. Anh không biết ngoài Quan ra, trong nhà ăn còn bao nhiêu mai phục. Bàn tròn phía trước bên trái có hai người đàn ông to cao vạm vỡ, có thể là cảnh sát, nhưng cũng có thể là kẻ bắt cóc. Không xa phía sau là một thanh niên tầm đôi mươi trông có vẻ khả nghi, uống trà chanh đá mà cứ nhìn chòng chọc về phía này. Graham nhìn theo ánh mắt cậu ta, mới biết ra là cậu đang tăm tia cô gái khá xinh xắn ngồi ăn sandwich ở bàn phía trước anh.
Anh đang quan sát, bồi bàn mù tiếng Anh ban nãy lại đến gần và trỏ về phía quầy. Graham thấy một chiếc điện thoại với ống nghe đặt bên cạnh, đoán rằng thủ phạm gọi đến. Anh từng đoán thủ phạm thông đồng với bồi bàn, nhưng nghĩ lại, hắn chỉ cần nói một câu đơn giản “Nhờ anh bảo vị khách người nước ngoài vừa gọi cà phê ra nghe điện thoại” là xong. Kẻ bắt cóc muốn anh đến nhà ăn bình dân chắc là để lợi dụng đặc điểm hiếm khách nước ngoài. Nhờ đó, Graham vỡ ra một chuyện.
Bất kể ở Ổ Rắn hay ở đây, hắn đều có đồng bọn hỗ trợ.
Sau khi xác định Graham đến nơi, kẻ theo dõi sẽ rời hiện trường hoặc dùng cách nào đó thông báo cho đồng bọn ở ngoài gọi điện đến nhà ăn để ra chỉ thị.
Graham đến quầy thanh toán nghe điện thoại, đồng thời nhìn lại một lượt tất cả thực khách trong nhà ăn, xem thử có ai cũng vừa ngồi ở Ổ Rắn không.
Không phát hiện được gì. Tuy chưa đạt đến trình độ thoáng nhìn là nhớ, nhưng dù sao cũng từng làm điều tra viên, nếu chạm mặt cùng một người trong vòng nửa tiếng, anh ắt phải nhận ra.
Nhỡ đâu hắn có hai đồng lõa? Kẻ theo dõi ở Trung Hoàn và Tây Hoàn khác nhau thì sao?
“Mua được vàng chưa?” Lại giọng nói quen thuộc.
“Mua rồi. Tôi đưa vàng và trang sức cho anh, anh trả con cho tôi.” Graham đáp.
“Anh Hill, đừng nóng vội. Tôi nhận tiền chuộc rồi sẽ thả con anh về. Nhưng tôi không ngu đến mức giao dịch trực tiếp đâu.” Hắn lạnh lùng nói. “Cạnh bồn cây ngoài nhà ăn đặt một thùng các tông viết họ của anh, anh mở ra xem đi.”
Người đàn ông cúp máy tức thì, Graham không quay về chỗ mà thanh toán tiền nước luôn. Ra khỏi nhà ăn, anh tìm thấy thùng các tông bên bồn cây, trên đó viết bốn chữ cái tiếng Anh in hoa “HILL”. Anh mở thùng, bên trong có một quần bơi màu đỏ, một túi vải bố màu trắng gạo hình dạng kì quặc và một tờ giấy gập đôi với dòng chữ đánh máy.
Vào bể bơi, đến phòng thay đồ mặc quần bơi, bỏ vàng và trang sức vào túi vải bố, mang bên người. Tìm đồng xu đặc biệt ở giữa đáy bể bơi chính, rồi tự khắc biết bước tiếp theo.
Graham đọc mà hoang mang, nhưng để cứu con trai, anh đành phải làm theo. Anh kiểm tra thùng các tông, đảm bảo không bỏ sót đồ vật hoặc manh mối nào, rồi cầm quần bơi và túi vải xuống cầu thang, tới quầy bán vé. Liếc thấy Quan đi đằng sau, anh bèn gập nhỏ tờ giấy chỉ dẫn rồi lén đặt trên tay vịn. Anh biết Quan sẽ để ý thấy động tác này, có như vậy mới báo được cho cảnh sát động thái của kẻ bắt cóc. Anh không muốn truyền đạt trực tiếp, vì không biết tên theo dõi có còn quanh quẩn đâu đây không.
Mua vé xong, Graham vào phòng thay đồ nam.
Bể bơi này không có tủ để đồ cá nhân, nhưng lại có quầy giống ngân hàng và bưu điện, nhân viên đứng trực phía sau. Trên quầy bày la liệt giỏ sắt to cỡ ngăn kéo bàn, mỗi giỏ treo hai tấm thẻ kim loại, đánh số giống nhau. Khách thay đồ xong sẽ cho quần áo và tài sản cá nhân vào giỏ, giao cho nhân viên trực quầy, rồi nhận lấy một trong hai tấm thẻ. Nhân viên sẽ xếp giỏ sắt lên các giá kê sau lưng. Khách bơi xong lại đưa thẻ cho nhân viên để lấy giỏ. Nhằm đáp ứng lượng khách đông đảo, phòng thay đồ có hơn một trăm giỏ sắt, nhân viên đặt sẵn sáu, bảy cái lên quầy cho khách dùng, khách lấy đi thì bỏ thêm cái mới vào. Mặc dù thứ tự giỏ bị xáo trộn lung tung, nhưng giá để đồ được đánh số kĩ càng, nhân viên luôn đặt giỏ vào đúng vị trí tương ứng, vừa giúp khách lấy đồ nhanh hơn, vừa giảm thiểu tình trạng chen chúc trong phòng thay đồ.
Graham không hiểu trình tự này lắm, nhưng thấy người ta làm nên cũng làm theo. Phòng thay đồ nam không đông, chỉ có sáu, bảy người, khó lòng biết họ là cảnh sát hay thủ phạm. Anh xách giỏ ra góc phòng, cởi sơ mi, quần và tất, rồi mặc chiếc quần bơi bắt mắt vào. Sau khi chắc chắn xung quanh không có ai, anh mới mở túi hồ sơ ra, chuyển từng miếng vàng sang túi vải.
Túi vải bố vừa dài vừa hẹp, trông giống thắt lưng hơn là túi, thậm chí một đầu còn có mặt khóa và đầu kia là lỗ bấm, đến chiều dài cũng tương đương, nhưng dọc thân có một đường phec mơ tuya dài để nhét những vật mảnh nhỏ. Túi may sơ sài, nhìn như đồ nghề buôn lậu, xem ra không phải hàng tử tế bán trên thị trường.
Cộp...
Tiếng bước chân vang lên khiến anh khựng lại, hoảng hốt quay đầu nhìn. Là Quan Chấn Đạc.
Quan ngồi xuống bên cạnh, không hé răng nói nửa lời, chỉ lặng lẽ cởi áo, đúng hơn là “giả vờ” cởi áo, vì chẳng có quần bơi mà thay.
Không mặc quần bơi thì không được bước vào khu vực bơi, bảo vệ sẽ ngăn lại.
Quan đã sai cấp dưới chạy sang chợ mua đồ, nhưng để nắm được mọi hành động của Graham, anh chỉ còn cách theo vào tận đây.
Graham tiếp tục nhét vàng vào “thắt lưng”, rồi nhét nốt cả túi vải đựng trang sức, đang định kéo phéc mơ tuya thì sực nhớ đến chiếc hộp nhỏ màu đen Quan đưa cho trước lúc xuất phát.
“A!”
Graham thình lình kêu lên, làm Quan cũng phải quay sang nhìn.
Ra vậy.
Graham bỗng hiểu vì sao kẻ bắt cóc yêu cầu anh cởi hết đồ và nhảy vào bể bơi tìm đồng xu. Nếu bây giờ anh nhét máy phát tín hiệu vào túi vải, thì sau khi nhảy xuống bể, mười phần chắc chín là máy sẽ hỏng do ngấm nước. Hộp đen trông không có vẻ là loại chống thấm, túi vải cũng đầy lỗ li ti, nước bể tha hồ lọt vào. Vàng và trang sức gặp nước thì không sao, nhưng thiết bị điện tử chắc chắn là mất tác dụng.
Liệu có nên bất chấp thả máy phát tín hiệu vào túi? Hay là giấu nó cạnh bể bơi, khi lên bờ lại nhét vào? Như thế thủ phạm có phát hiện ra không? Nhưng nếu không bỏ vào túi, chẳng may thủ phạm giật tiền chuộc ngay trong bể bơi thì cảnh sát có bắt được hắn không?
Một đống câu hỏi dồn dập trong đầu Graham.
Anh moi máy phát tín hiệu ra khỏi túi chiếc quần vừa cởi ban nãy, giấu trong lòng bàn tay, ra dấu cho Quan.
Quan vươn vai một cái rồi lắc đầu, ngụ ý đừng dùng nữa. Quả thật, nếu máy không phát được tín hiệu, thì sự tồn tại của nó sẽ chỉ làm bại lộ chuyện cảnh sát can thiệp, càng gây nguy hiểm cho con tin.
Graham để máy phát tín hiệu vào giỏ sắt, đặt cạnh đồng hồ và chìa khóa, kéo chặt phéc mơ tuya thắt lưng, sau đó cầm giỏ đến quầy. Nhân viên giật một tấm thẻ đưa cho anh, trên thẻ buộc dây để đeo vào cổ tay.
“Cái thắt lưng kia, không được mang vào đâu.” Nhân viên nhắc nhở khi thấy Graham vắt cái túi trông như thắt lưng trên vai. Đầu tiên anh ta nói bằng tiếng Quảng Đông, nhưng thấy khách không hiểu nên nói lại bằng tiếng Anh.
“Không, tôi nhất định phải mang nó theo.”
Anh nhân viên tỏ vẻ khó chịu, “Phiền anh bỏ đồ đạc cá nhân lại đây, chúng tôi sẽ trông chừng cẩn thận.”
Graham bực mình kéo phéc ra, cho anh ta nhìn đống vàng lấp lánh bên trong.
“Tôi để nó lại mà mất thì anh có chịu trách nhiệm không?”
Anh nhân viên há hốc mồm, nghệt mặt lắp bắp, “M... mời anh mang vào.”
Graham đoán, chắc chưa bao giờ anh ta thấy nhiều vàng đến thế, dù nửa tiếng trước thôi chính anh cũng vậy.
Một chân đã ra khỏi phòng thay đồ, Graham liếc mắt nhìn lại, Quan vẫn đang “cởi áo”. Quan xua tay, bảo anh vào trước. Graham cũng hiểu, càng lề mề, Alfred càng gặp nguy hiểm, anh phải mau chóng tìm được đồng xu mà kẻ bắt cóc nói.
Bể bơi Kennedy Town chia thành bể chính và bể phụ. Bể chính sâu hơn, kẻ bắt cóc đã nói rõ đồng xu đang ở đó. Graham buộc cái túi đựng vàng quanh eo, nhảy thẳng xuống nước. Trong bể có hơn mười người, anh tránh qua họ, bơi ra giữa bể. Đến nơi, anh lặn xuống, cẩn thận dò tìm từng li từng tí dưới đáy.
Không có gì hết.
Anh nôn nóng nhìn quanh, thậm chí còn chúc hẳn đầu xuống tìm, nhưng vẫn chẳng thấy đồng xu nào.
Graham nhô đầu lên khỏi mặt nước, hít một hơi thật sâu rồi lại lặn xuống. Anh nghi nơi mình đứng không phải chính giữa bể, hoặc là đồng xu bị dòng nước cuốn đi, bèn mở rộng phạm vi tìm kiếm, nhưng vô ích.
Không có? Tại sao lại không có? Graham cuống cuồng tìm, lòng nóng như lửa đốt. Đôi lúc anh sơ ý đụng phải người khác hoặc cản trở đường bơi của họ, đành xin lỗi qua loa rồi tiếp tục lần mò, bản thân anh còn không biết mặt mũi đồng xu ra sao.
“Đồng xu đặc biệt... không phải loại trong suốt chứ?” Nghĩ vậy, anh liền thò tay xuống mò đáy bể, chỉ thấy mặt sàn trơn nhẵn.
Có khi nào thủ phạm đã nhầm bể chính với bể phụ? Anh leo lên bờ, chuyển sang tìm ở bể vầy bên cạnh. Lúc này, Quan đã thay quần bơi, đang đứng trên thành bể. Nhưng Graham không định ra nói chuyện, vì đã hơn mười phút mà anh vẫn chưa tìm được đồng xu chết tiệt kia.
Dưới đáy bể vầy cũng chẳng có đồng xu nào. Bên này đông người hơn bể chính, khi anh lặn xuống, mấy cô gái còn tưởng anh định bày trò biến thái nên láo nháo tránh xa.
“Chúa ơi, lẽ nào có người vô tình nhặt mất rồi?” Graham giật mình nghĩ đến khả năng này. Khác với thùng các tông, có đặt ngay cạnh bồn hoa cũng chẳng ai chú ý, đồng xu dưới đáy bể bơi dễ gây tò mò, ai đó nhặt mất cũng là bình thường.
Anh rời khỏi bể phụ, quay về bể chính, hỏi thăm những người đang bơi ở đó, họ đều nói không thấy đồng xu nào, có người còn chẳng thèm để ý mà bơi đi luôn. Anh hỏi nhân viên cứu hộ, họ cũng nói không biết.
Graham choáng váng. Anh không ngờ đến bước này rồi còn trục trặc. Thắt lưng nặng trịch vẫn buộc trên hông anh, không có ai đột ngột xông ra cướp. Anh định cầu cứu Quan, nhưng ngó quanh không thấy bóng dáng viên thanh tra đâu cả.
Hay anh ta phát hiện ra đối tượng nào khả nghi rồi? Giờ đang đuổi theo chăng? Nên thủ phạm mới không thể để đồng xu lại? Dù là thế, Graham cũng không biết phải làm gì, chỉ còn cách tiếp tục tìm kiếm đồng xu chẳng rõ có tồn tại hay không.
Anh nhìn lên đồng hồ lớn cạnh bể bơi. 4 giờ 45 phút, anh đã tìm được nửa tiếng. Người đến bơi càng lúc càng đông, chẳc là mấy học sinh tan trường vào đây nghịch nước. Một lần nữa, anh vẹt đám đông ra, lặn xuống chính giữa bể. Đúng lúc này, đồng xu bằng bạc sáng loáng lọt vào tầm mắt.
Anh không biết tại sao lúc trước mình không phát hiện ra, cứ như có người làm ảo thuật, khiến anh nhìn mà không thấy. Anh gấp gáp bơi tới gần, nhận ra đây là đồng 25 xu Anh do Sở đúc tiền Hoàng gia phát hành tháng Hai năm nay, là đồng xu kỉ niệm 25 năm trị vì của nữ hoàng Elizabeth II. Đồng xu bị đục một lỗ, buộc vào một sợi dây móc tấm thẻ kim loại.
“Tìm đồng xu đặc biệt ở giữa đáy bể bơi chính, rồi tự khắc biết bước tiếp theo.”
Graham hiểu ra ngay. Ban đầu, anh cứ tưởng trên đồng xu có kí hiệu gì đặc biệt, hóa ra chỉ dẫn lại nằm ở tấm thẻ bên cạnh. Anh cũng có tấm thẻ tương tự, là thẻ lấy đồ ở quầy phục vụ.
Không do dự, Graham nhảy vọt lên bờ, lao vào phòng thay đồ. Ở quầy phục vụ, người lấy đồ đang xếp hàng dài, có vẻ nhân viên trông đồ vừa rời đi vệ sinh, để khách đợi mất một lúc. Graham chen lấn lên trước, nhiều người tỏ vẻ bực bội, nhưng thấy người nước ngoài to cao thì không dám ngăn cản. Graham hổn hển đập mạnh tấm thẻ buộc đồng xu lên quầy, làm nhân viên giật bắn mình, phải nhìn ngay số thẻ rồi hấp tấp mang giỏ sắt ra. Anh nhân viên nhìn tấm thẻ buộc đồng xu rồi nhìn đồ trong giỏ, cảm thấy quái lạ nhưng không dám thắc mắc.
Trong giỏ chỉ có đôi giày và tờ giấy gấp tư.
Graham vội vàng lấy giày, mở giấy ra. Anh đã lãng phí quá nhiều thời gian rồi.
Trong vòng ba mươi giây, chạy ngay ra đường cái trước cổng chính bể bơi, quay mặt về hướng Bắc, tay trái giơ cao túi đựng vàng. Hãy nhớ rằng, anh chỉ có ba mươi giây, bạn tôi đang theo dõi anh.
Graham hoảng hốt nhìn đám người trong phòng thay đồ, họ cũng thi nhau ngó anh chằm chằm vì chuyện ban nãy. Anh không nghĩ nhiều, quáng quàng xỏ giày, chạy thẳng ra ngoài trong tình trạng ướt nhèm.
“Tránh ra! Tránh ra!” Anh vừa hét vừa chạy ngược lại lối vào, trông thấy biển chỉ dẫn cửa ra bèn rẽ qua hai khúc ngoặt, đẩy cửa sắt đơn, rời khỏi khu bể bơi. Anh đứng bên đường, tự nhủ đầu dốc Smithfield là hướng Nam, nên quay mặt về phía đuôi dốc, chật vật cởi túi vải sũng nước đang buộc quanh hông, giơ lên bằng tay trái, hoang mang không biết tại sao mình phải làm vậy.
Chỉ vài giây sau, đáp án đã rõ ràng.
Một chiếc mô tô bất ngờ phóng tới, lái xe mặc áo khoác đen, đội mũ bảo hiểm đen, vươn tay túm lấy một đầu túi vải, cướp luôn đống vàng. Kẻ đó vọt qua rồi, Graham mới sực hiểu tiền chuộc vừa bị cướp, bèn gào lên đuổi theo, “Con trai tôi đâu? Trả con cho tôi!”
Người hàng phố nghe thấy tiếng hét đều ngoái lại nhìn. Nhưng diễn biến tiếp theo nằm ngoài dự đoán của mọi người, kể cả thủ phạm.
Kẻ lái mô tô giật túi chưa được ba giây thì một thứ sẫm màu rơi xuống đằng sau gã. Graham không biết đó là thứ gì, nhưng vật rơi ra tiếp theo thì anh thấy rõ.
Một miếng vàng năm lượng óng ánh.
Thế rồi, từng miếng vàng nối đuôi nhau rơi lách cách xuống đường, thứ sẫm màu rơi đầu tiên chính là túi đựng trang sức. Kẻ lái mô tô đang định dừng lại thì một chiếc xe hơi từ sau lưng Graham lao đến. Gã không chân chừ nữa, nổ máy chạy trốn. Xe hơi đuổi sát nút, bỏ lại trên mặt đất một đường thẳng đứt đoạn quái dị bằng vàng miếng.
Graham sực nhớ, tuy ban đầu đã khóa kín, nhưng sau đó anh có mở túi cho nhân viên trông đồ xem bên trong, lúc kéo vào thì sơ suất không kéo chặt. Vì phải lặn xuống nước nhiều lần để tìm đồng xu, các miếng vàng liên tục xô đẩy làm phéc mơ tuya trượt ra.
Cả anh và kẻ lái mô tô đều không ngờ, miệng túi lại mở toang đúng lúc “giao dịch”. Hành động giật túi của gã đã trở thành yếu tố cuối cùng gây nên sự cố bất ngờ này.
Ngồi trên xe hơi đuổi theo mô tô là thành viên của Ban Điều tra Hình sự Đảo Hồng Kông. Hay tin con trai Graham bị bắt cóc, họ vâng lệnh cấp trên đến hiện trường theo dõi, chờ chỉ thị. Khi Graham mặc độc cái quần bơi lao ra cổng, họ lập tức chú ý tới động thái kì cục này. Dù không biết mặt Graham, nhưng vì người báo án là người Anh, nên họ đoán người nước ngoài này chính là bố của con tin. Cùng lúc, thủ phạm phóng mô tô tới cướp tiền chuộc, họ lập tức hiểu ra đây chính là lúc “nộp tiền”. Bắt được tên này sẽ thu về nhiều tin tức quan trọng, nên trong lúc cấp bách họ quyết liều một phen, trực tiếp đuổi theo thủ phạm bất chấp làm lộ việc cảnh sát nhúng tay vào.
Nhưng họ không tóm được gã.
Mô tô linh hoạt hơn ô tô, thủ phạm rẽ vào phố Belcher’s, lợi dụng khoảng cách giữa hai xe để cắt đuôi cảnh sát. Xe hơi nhanh chóng tìm thấy mô tô tại phố Sands gần đó, nhưng thủ phạm đã chạy trốn, bỏ lại xe, áo khoác, mũ bảo hiểm và túi vải.
Các trinh sát tra hỏi người qua đường, nhưng chỉ nhận được những câu trả lời mơ hồ, duy nhất một tuần cảnh tan ca báo cáo có trông thấy một người đàn ông hối hả lên taxi, nhưng anh ta không để ý biển số xe, cũng không biết người đó có phải thủ phạm không. Sau khi điều tra, họ xác nhận chiếc mô tô thủ phạm sử dụng là xe ăn cắp.
Nhìn cảnh vàng rơi vãi dưới đường còn thủ phạm nhớn nhác tháo chạy, đầu óc Graham trở nên trống rỗng. Anh không buồn nhặt vàng lên, chỉ đứng ngây ra, trơ mắt trông theo màn truy đuổi, tưởng như thấy con trai đang dần tuột khỏi tay.
“Mau nhặt vàng, thay quần áo rồi về nhà đi. Có thể kẻ bắt cóc sẽ gọi điện lại. Tôi còn phải điều thêm cảnh sát truy bắt thủ phạm.”
Graham ngoái đầu, thấy Quan đang nói khẽ sau lưng. Quan đã thay quần áo, dứt lời là chạy luôn sang chiếc xe đỗ bên kia đường. Graham lom khom nhặt vàng và túi trang sức. Những người chứng kiến sự việc giờ mới biết thứ rơi dưới đất chính là vàng, ai nấy đều sửng sốt.
Không mang ví ra, không thể trả tiền vé vào cửa, Graham phải cố thuyết phục bảo vệ còn chưa hết ngỡ ngàng cho mình vào trong lấy quần áo. Đến chỗ nhân viên trông đồ vẫn không hay biết gì, anh nhận lại đồ đạc. Máy phát tín hiệu màu đen vẫn nằm cạnh đồng hồ và chìa khóa. Graham quẳng vàng lên băng ghế, nhìn cái máy không dùng đến mà đau khổ đấm mạnh vào tường. Mặc kệ người ướt, anh mặc quần áo, bỏ vàng vào túi hồ sơ, rời khỏi phòng thay đồ trong ánh mắt hiếu kì của người xung quanh.
Graham lên xe, ủ rũ mở máy, lái về cư xá Nam Thị. Anh thấy tình cảnh này không thật chút nào. Cả đời anh chưa bao giờ nghĩ tới việc con trai bị bắt cóc. Những chuyện xảy ra trong hơn một tiếng qua và cả cuộc giao dịch thất bại đều chỉ như giấc mộng. Suốt đường đi, anh nhớ lại dáng vẻ của Alfred, nhớ hình ảnh con hồi còn thơ bé, nhớ nụ cười của con vào lần đầu gọi bố, nhớ con khóc trong ngày nhập học, nhớ con nắm chặt tay mình lúc băng qua đường. Giây phút nghe vợ nói con bị bắt cóc, Graham vẫn chưa ý thức được, câu “Chào buổi sáng!” hai bố con nói với nhau sáng nay có thể sẽ là cuộc trò chuyện cuối cùng.
Con có gặp khó khăn trong học tập không? Bạn bè ở trường ổn chứ? Giáo viên lớp vẽ đã dạy những gì? Có muốn bố mẹ đưa con đi công viên không? Graham hối hận biết bao, tại sao ngày thường không nói mấy câu như vậy? Từ khi đến Hồng Kông, anh và vợ đẩy hết nhiệm vụ chăm sóc con trai cho vú em, suốt ngày vùi đầu vào công việc, những câu này toàn để Liz nói thay. Anh nghĩ, thật ra thằng bé muốn nghe bố mẹ đích thân hỏi han, chẳng qua nó sợ bị mắng nên không dám nói. Một năm trước khi rời Anh, mỗi lần con hỏi xin cái gì, anh và vợ đều đáp, “Giờ nhà mình nợ nần chồng chất, bố mẹ phải cố gắng làm việc để trả nợ, khi nào trả xong hẵng tính.”
Nhưng chẳng phải đã trả hết nợ từ năm ngoái rồi ư? Tại sao mình không chú ý đến con nhiều hơn?
Graham gần như muốn tông xe vào cột đèn đường để tự trừng phạt.
5 giờ 10 phút, Graham về đến nhà. Thấy chồng, Stella liền bật dậy khỏi sofa, nhưng khi phát hiện trước cửa nhà chỉ có mình anh, ánh mắt khao khát tan biến thành tuyệt vọng.
“Alfred đâu...”
Graham lắc đầu, “Giao dịch thất bại, đối phương không lấy được tiền chuộc.”
“Tại sao lại như vậy? Tại sao?”
Stella túm chặt hai vai chồng gào khóc. Ngụy đang ngồi một bên vội chạy tới xem có giúp được gì không.
“Vốn dĩ thủ phạm đã cầm được tiền chuộc, nhưng lại bất cẩn làm rơi khỏi xe mô tô...”
Tuy không phải lỗi của mình, Graham vẫn ân hận, không dám nhìn vào mắt vợ.
“Alfred! Alfred ơi...” Stella khuỵu gối ngồi sụp xuống sàn. Graham và Ngụy vội dìu cô dậy, để cô nằm trên sofa.
Ba người bất đắc dĩ ngồi chờ trong phòng khách. Dù không có cảm tình với ICAC, nhưng lúc này, Ngụy thấy đôi vợ chồng trước mặt quả là đáng thương. Stella vẫn than khóc, thảm thiết như người mẹ tận mắt chứng kiến cái chết của con trai. Nghe Graham kể, e là đứa trẻ đó lành ít dữ nhiều. Để khỏi bị tóm, kẻ bắt cóc sẽ giải quyết triệt để, giết con tin rồi vứt xác đi thật xa.
Mười lăm phút sau, chuông cửa kêu vang. Quan, Lão Từ và Mạch đã trở lại. Vẻ mặt khó đăm đăm cho thấy việc điều tra đang bế tắc.
“Không bắt được thủ phạm lái mô tô.” Quan thông báo. “Ban Điều tra Hình sự Đảo Hồng Kông tìm thấy xe ở phố Sands, nhưng người thì mất tăm. Phòng Giám định đã lấy chứng cứ, mong rằng sẽ dò ra manh mối.”
Câu nói của Quan dập tắt luôn tia hi vọng vừa nhen nhóm trong lòng vợ chồng Graham.
“Ban Điều tra Hình sự manh động quá, nếu họ âm thầm theo đuôi thì tình hình có lẽ đã khả quan hơn. Tạm gác vấn đề trách nhiệm sang bên, giờ chúng ta cần chuẩn bị cho tình thế trước mắt.” Quan gắng giữ giọng bình tĩnh, “Có thể thủ phạm đã biết anh Hill báo cảnh sát, nhưng cũng có khả năng hắn chỉ mới nghi ngờ. Tôi nhờ truyền thông coi sự việc xảy ra ở bể bơi là một vụ cướp, cảnh sát mặc thường phục tình cờ trông thấy kẻ đi mô tô giật túi của người nước ngoài nên tức tốc đuổi theo, nhưng tội phạm trốn thoát, còn người nước ngoài đã bỏ về. Bản tin thời sự trên đài truyền hình và đài phát thanh lúc 6 giờ sẽ đưa tin như vậy, đồng thời cho biết cảnh sát đang tìm người nước ngoài bị cướp, may ra kẻ bắt cóc sẽ cho rằng tất cả chỉ là trùng hợp.”
Graham khẽ gật đầu. Giờ này anh chẳng còn suy nghĩ được gì nữa.
“Nếu thuận lợi, kẻ bắt cóc sẽ gọi điện lại, chúng ta đành tiếp tục chờ vậy.”
Quan hỏi Graham mọi chi tiết trong lúc giao tiền chuộc. Graham trả lời thành thật từng câu, vừa nói vừa nghĩ xem rốt cuộc mình đã làm sai điều gì để giao dịch thất bại.
“Liệu nhân viên bể bơi có nhớ mặt thủ phạm không?” Mạch lên tiếng. “Chỉ gửi mỗi đôi giày và tờ giấy, chắc nhân viên phải để ý chứ?”
“Nếu đồ đạc quá nhiều, đựng một giỏ không hết, lấy thêm giỏ nữa cũng là bình thường.” Lão Từ xen ngang. “Thủ phạm cứ dùng chiêu này là nhân viên phòng thay đồ sẽ không chú ý đâu.”
Thời gian dường như quay ngược lại vài tiếng trước, năm người cùng ngồi chờ điện thoại của thủ phạm. Có điều, bầu không khí bây giờ nặng nề hơn nhiều, cảm giác ngột ngạt vô hình bao phủ khắp nơi. Để chắc chắn truyền thông đưa tin theo chỉ thị của Quan, Graham bật ti vi lên, Ngụy và Lão Từ cũng mở radio theo dõi tin tức.
Đồng hồ trong phòng khách vẫn hờ hững chạy, thời gian trôi đi từng phút từng giây. Điện thoại mãi không đổ chuông, sự im ắng càng lúc càng khiến người ta khó chịu. Túi hồ sơ đựng vàng và trang sức vẫn để trên bàn ăn, Graham chỉ mong đống tài sản ấy biến mất, đổi cho con trai trở về.
Cạch.
Ngoài cửa đột nhiên có tiếng động.
Mọi người đồng loạt quay ra. Cửa vừa mở, Stella kêu lên sửng sốt.
“Ồ, hôm nay có khách à?”
Liz hỏi. Tiếng động vừa rồi là do chị tra chìa mở cửa.
Dựa vào tấm ảnh trong phòng khách, cảnh sát biết người phụ nữ hơn bốn mươi tuổi này là vú em Lương Lệ Bình. Nhưng điều khiến Stella thốt lên kinh ngạc, khiến Graham chết sững, lại là người đứng đằng sau chị.
Alfred Hill mặc đồng phục, đeo cặp sách, ngó cái đầu hung đỏ nhìn mấy cảnh sát trong nhà.
“Alfred!” Stella chạy vụt đến ôm chầm lấy con. Graham cũng lao lên, quỳ gối ôm chặt vợ con.
“Có chuyện gì thế?” Liz ngạc nhiên.
“Tôi là thanh tra Quan Chấn Đạc.” Quan giơ thẻ ngành. “Làm sao chị tìm được Alfred?”
“Sao cơ?”
“Liz, bọn bắt cóc có làm gì hai người không?” Graham vừa hỏi vừa vỗ về đứa con đang bối rối.
“Bắt cóc?”
“Chị với Alfred bị bắt cóc mà!” Graham kêu lên.
“Gì thế? Hôm nay tôi ở với Alfred suốt, có gặp chuyện gì đâu.”
Mọi người trợn tròn mắt nhìn Liz.
“Hai người không bị bắt cóc à?” Mạch xen vào.
“Hôm nay đón Alfred về, tôi dẫn cháu đi ăn trưa rồi cùng tham gia buổi vẽ tranh dã ngoại của lớp học vẽ.”
“Vẽ tranh dã ngoại?” Graham hỏi lại.
“Vâng, tuần trước tôi đã báo với cô Hill rồi. Lớp vẽ có hoạt động đặc biệt, hủy tiết học thứ Hai tuần sau, đổi sang hôm nay.”
“Có chuyện này ư?” Stella sững sờ.
“Lúc tôi thưa với cô, trông cô khá mệt mỏi, nên mới quên mất chăng? Nhưng cô có kí tên vào thông báo của lớp học vẽ. Học sinh phải nộp đơn có chữ kí của phụ huynh cho người dẫn đoàn mới được tham gia vẽ tranh dã ngoại...”
Liz lấy vài tờ giấy trong cặp Alfred, đưa một tờ cho Stella. Đó là thông báo của lớp học vẽ gửi đến phụ huynh, dưới cùng có chữ kí của cô.
“Tôi kí lúc nào... Chẳng có ấn tượng gì cả...”
“Tuần trước tôi đưa cho cô kí cùng các giấy tờ khác của nhà trường, nên cô mới quên chăng?” Liz nói.
“Nhưng... nhưng mà... chị cũng biết chưa chắc tôi đã nhớ, tôi đã dặn hằng ngày có hoạt động gì nhất định phải viết giấy nhắn cho tôi cơ mà!” Stella nhất thời hoảng loạn, vô thức quay sang trách Liz. Thật ra, thấy con trai bình an trở về là cô đã không muốn truy cứu bất cứ chuyện gì nữa rồi.
“Có chứ! Tôi biết cô bận nên sáng nay đã để lại giấy nhắn, báo rằng tôi đưa Alfred đi vẽ tranh dã ngoại, 6 giờ mới về...” Liz vừa nói vừa lại gần giá treo kỉ niệm chương của ICAC, lần mò trên giá rồi lại quỳ xuống tìm ở khoảng trống giữa giá và bồn hoa, moi lên một mảnh giấy.
“Ra là rơi xuống đất.” Liz đưa mảnh giấy cho Stella. Mọi người xúm lại xem, trên giấy là dòng chữ tiếng Anh: Chiều nay lớp vẽ tổ chức hoạt động vẽ tranh dã ngoại, tôi với Alfred ăn tối bên ngoài, chiều muộn sẽ về.
“Liz, hôm nay chị ở cùng Alfred cả ngày à?” Graham hỏi.
“Vâng, tôi đón Alfred lúc 11 rưỡi rồi dẫn cháu đi ăn mì vằn thắn. Ăn xong đến chỗ tập trung đợi ô tô đi Tây Cống cùng các học sinh và phụ huynh trong lớp vẽ. Lũ trẻ ngồi vẽ, tôi thì nói chuyện với mấy phụ huynh và vú em. Lâu lắm mới có dịp ra ngoại ô hít thở không khí trong lành...”
Stella vẫn ôm con, hỏi lại, “Thật không?”
“Cô cứ hỏi Alfred hoặc gọi điện cho giáo viên lớp vẽ là biết.” Liz đáp. “Rốt cuộc đã xảy ra chuyện gì?”
“Có kẻ nói đã bắt cóc Alfred, đòi anh Hill giao 100 nghìn đô tiền chuộc.” Quan giải thích.
“Không thể nào!” Liz há hốc mồm, quay sang Graham, “Anh Hill, anh có đưa tiền cho chúng không đấy? À, tôi nhớ cô Hill từng nói, vợ chồng anh đâu có đủ 100 nghìn đô trong tài khoản...”
Mạch giật mình, chạy ngay đến bàn ăn mở túi hồ sơ. Có khi thủ phạm đã đánh tráo tiền chuộc mất rồi. Cậu dốc mấy thứ bên trong ra, 15 miếng vàng không thiếu miếng nào, cả dây chuyền, khuyên tai với nhẫn đều còn nguyên. Cậu cầm một miếng vàng lên, gõ gõ vài cái, cảm thấy không phải là hàng giả.
“Trời ơi! Nhiều vàng quá!” Liz kêu lớn. “Hóa ra các anh nói thật.”
“Chẳng lẽ lại trêu chị?” Lão Từ châm chọc.
“Vậy... thủ phạm không phải kẻ bắt cóc mà là tên lừa đảo?” Graham lẩm bẩm.
“Nhưng làm sao chúng biết cô Hill quên mất việc con trai tham gia buổi vẽ dã ngoại?” Lão Từ thắc mắc.
“Chị Bình,” Quan hỏi Liz. “Ở trường Alfred có học sinh nào tóc hung đỏ giống cậu bé không?”
Tất cả quay sang nhìn Quan với vẻ khó hiểu.
“Hình như... có ba bốn đứa.” Liz nói.
“Lão Từ, liên lạc với trường Quốc tế Anh, bảo nhà trường cung cấp danh sách học sinh.”
“Ý sếp là...”
“Có thể kẻ bắt cóc đã bắt nhầm người.”
Graham trợn mắt thảng thốt. Anh hoan hỉ khi con mình trở về an toàn, nhưng nghe Quan nói, anh lại thấy lo lắng. Thủ phạm không phải kẻ lừa đảo, con mình may mắn thoát nạn là do trùng hợp. Giờ phút này, một đứa trẻ vô tội khác có thể đang phải chịu khổ thay.
“Nếu đúng là hắn bắt nhầm người, tổng hợp các cuộc gọi của thủ phạm, ta xác định được vài điểm sau. Một, đứa bé có mái tóc hung đỏ giống Alfred. Hai, bố cậu bé cũng công tác tại ICAC, tuy nhiên cũng có khả năng cậu bé trả lời sai do quá sợ hãi, hoặc thủ phạm hiểu nhầm cậu bé nói ICAC, nhưng thực chất lại là tên viết tắt của công ty ICA hay ICC nào đấy. Ba, trong gia đình nạn nhân có người tên Liz hoặc Elizabeth.”
Graham hồi tưởng cuộc đối thoại với thủ phạm. Đương lúc thấp thỏm lo âu, anh mới nghe trong điện thoại có tiếng trẻ con liền nhận định ngay là Alfred. Giờ nghĩ lại, một câu ngắn ngủi quả không đủ khẳng định đó là con mình.
“Anh Hill, đành phiền bốn người nhà anh đến sở cảnh sát hỗ trợ điều tra vậy.” Quan nói. “Nếu giả thuyết trên là thật, các anh chị sẽ là nhân vật then chốt trong vụ án. Chúng tôi cần lời khai tường tận của mỗi người, tìm hiểu mọi chi tiết trong cuộc sống thường ngày, xem có đối tượng khả nghi nào từng tiếp xúc với các anh chị không.”
“Nhỡ lát nữa kẻ bắt cóc liên lạc lại thì sao?” Mạch hỏi.
“Bọn chúng đòi vàng làm tiền chuộc, lợi dụng bể bơi phá kế hoạch dùng máy phát tín hiệu, còn bỏ đồng phục ngoài cổng cư xá... Loại tội phạm tính toán kín kẽ như vậy nhất định sẽ cử đồng bọn theo dõi chỗ này.” Quan lắc đầu. “Thấy vú em và Alfred về nhà, chúng biết ngay là có vấn đề, không gọi điện nữa đâu. Chúng ta tới sở cảnh sát sẽ nắm được thông tin mới nhất, muốn điều động nhân lực cũng nhanh hơn. Đừng quên, có một đứa trẻ đang trên bờ vực cái chết.”
“Stella, chúng ta cứ đi đi.” Graham nói với vợ và con trai. “Nếu có đứa bé đang chịu khổ thay Alfred, anh sẽ dốc toàn lực cứu giúp.”
Stella gật đầu. Qua hôm nay, họ mới nhận ra, mắc nợ chỉ là chuyện nhỏ, rồi sẽ có ngày trả hết. Nhưng gia đình mà tan vỡ, con cái mà mất đi, thì bao nhiêu tiền cũng không thể hàn gắn hay cứu vãn được nữa.
“Tôi cũng phải đi à?” Liz hỏi.
“Tất nhiên, không chừng thủ phạm từng đến lớp học vẽ, thậm chí chị đã gặp hắn rồi cũng nên.” Quan liếc Liz, đoạn quay sang nói với Graham. “Anh Hill, cất vàng và trang sức đi đã. Mai là thứ Bảy, ngân hàng chỉ làm việc buổi sáng. Hôm nay anh đã chịu giày vò nhiều rồi, sang tuần hẵng đổi vàng thành tiền rồi gửi tiết kiệm lại.”
Graham lấy vàng trên bàn ăn đem vào phòng làm việc. Quan lập tức vào theo. Graham vừa xoay núm khóa két vừa nói, “Chỉ cần Alfred quay lại, có mất đống vàng bạc trang sức này cũng không sao.”
“Hồng Kông có câu, ‘Rậm người hơn rậm của’. Mặc dù dân Hồng Kông ham tiền tài, nhưng cái nào nặng cái nào nhẹ, chúng tôi luôn hiểu rất rõ.”
“Vâng, vâng.” Graham xoay số, cắm chìa, mở khóa két sắt. Anh bỏ vàng vào trong, định xếp trang sức vào hộp nhung tím, nhưng nghĩ thế nào lại vứt thẳng túi vải vào két. Rậm người hơn rậm của, giá trị của chúng còn lâu mới bằng gia đình đoàn tụ.
Xong xuôi, Graham trở ra phòng khách với Quan. Trong khi vợ chồng Graham thay quần áo, Quan đi ra ban công. Mạch đoán giờ đây không cần bận tâm chuyện thủ phạm theo dõi nữa nên sếp mới quan sát xung quanh xem có manh mối nào không.
Bốn người nhà Hill theo cảnh sát rời khỏi cư xá. Quan gọi xe cho gia đình họ. Anh biết lúc này vợ chồng Graham chỉ muốn nắm chặt tay con trai, chưa kể hôm nay Graham đã chạy đôn chạy đáo, giờ còn phải lái xe nữa thì vất vả quá.
Hai chiếc xe phóng đến Sở cảnh sát Cửu Long ở Vượng Giác. Quan dặn dò cấp dưới lấy lời khai phải tra hỏi từng chi tiết, quan hệ bạn bè của mỗi người và những điểm bất thường xảy ra quanh căn hộ.
Thấy Quan mặc áo khoác ra cửa, Lão Từ vội hỏi, “Sếp đi đâu đấy?”
“Tôi đi thu xếp mấy chuyện lặt vặt, anh tạm thời phụ trách ở đây nhé.” Quan nói xong liền rời đi.
“Lão Từ, anh có thấy hôm nay sếp cứ là lạ không?” Mạch hỏi.
“Thế sao? Chắc tối qua ngủ không ngon?” Lão Từ nhún vai.
Ra khỏi văn phòng, Quan tiến thẳng đến bãi đỗ xe. Anh cầm theo chìa khóa xe của Mạch, đúng hơn là chìa khóa xe của Ban Điều tra Hình sự, vội vàng phóng khỏi sở cảnh sát.
Cơ hội sẽ vụt qua trong chớp mắt, mình phải nắm lấy nó, Quan nghĩ thầm.
Anh tắt bộ đàm trên xe, tăng tốc tối đa, loáng cái đã quay trở lại nơi chiếc xe vừa đến cách đây không lâu.
Cư xá Nam Thị đường Princess Margaret.
Anh không lái xe vào cư xá mà dừng ở bãi đỗ bên ngoài.
“A, lại là anh à.” Nhân viên bảo vệ chào Quan.
“Đành chịu thôi, hôm nay chỉ huy Kim giao cả đống việc cho tôi mà.” Quan ung dung đáp. Mỗi lần ra vào đây, anh đều lấy cớ đến gặp Campbell ở tầng chín.
Quan bắt thang máy lên tầng chín rồi đi bộ xuống buồng thang bộ tầng bảy.
“Thật chẳng muốn giở mấy trò đạo tặc này...” Quan mở cửa sổ, thò đầu ra nhìn xuống rồi bước lên bệ cửa, ngó sang phải. Cách cửa sổ chừng hai, ba mét chính là ban công nhà Graham.
Sau khi chắc chắn bên dưới không có ai chú ý, Quan vươn tay trái nắm lấy gờ tường, đặt chân lên bậu đá hẹp ngoài cửa sổ, tay phải vẫn giữ chặt khung cửa, nhưng cả người đã bám vào tường ngoài tòa nhà.
Đáng lẽ phải mang dây thừng theo, Quan nghĩ. Nhưng anh không muốn lãng phí thời gian, nên đành thả tay phải ra khỏi khung cửa để bám vào gờ tường, tay trái nắm lấy lan can ban công. Tay Quan rất khỏe, trông thì có vẻ nguy hiểm nhưng thật ra anh đầy tự tin.
Khi tay trái túm chặt lan can, Quan lăng mình ra, cả người liền treo lơ lửng phía ngoài. Chưa đến một giây sau, anh đã xoay người nhảy qua lan can, đáp xuống ban công.
Kiểm tra trong phòng không có người, anh mới ấn tay nắm, mở cửa rồi bước vào phòng khách. Trước lúc rời đi, anh chỉ giả vờ đóng cửa ban công chứ không kéo chốt. Không để mất thì giờ, anh khẩn trương móc đèn pin ra soi, tiến vào phòng làm việc, mở cửa tủ gỗ để lộ két sắt màu xanh xám.
Bởi đây là nhà công vụ, đồ đạc do chính phủ cấp, nên Quan chẳng lạ gì kiểu két này. Nó là két hai khóa do Anh chế tạo, xoay đúng mật mã sẽ mở được một khóa, sau đó dùng chìa mở nốt khóa còn lại. Người dùng có thể thay đổi mật mã bất cứ lúc nào, chỉ cần mở két ra, ấn vào lẫy sau cánh cửa là có thể đặt tổ hợp mã mới. Những gia đình cẩn thận đều lâu lâu đổi mật mã một Tân.
“Trái, 82, phải, 35, trái, 61...” Quan đeo găng tay, xoay núm khóa. Anh từng chứng kiến Graham mở khóa hai lần ngay trước mặt nên nhớ như in.
Cạch, một khóa đã mở.
Còn về chìa khóa, Quan đành dựa vào vận may.
Anh móc trong túi ra một miếng kim loại nhỏ và một cái kìm. Miếng kim loại mỏng dẹt, răng cưa hai bên dài ngắn không đều, trông như chiếc chìa khóa. Mà đây đúng là bản sao chìa khóa két của Graham.
Tranh thủ lúc Graham hốt hoảng xuống bể bơi tìm đồng xu, cộng thêm nhân viên trông đồ đi vệ sinh, Quan lẻn vào phòng giữ đồ. Vì lúc trước đã quan sát Graham thay đồ nên anh nhận ra ngay giỏ sắt cần tìm. Anh lấy vội chùm chìa khóa để kiểm tra. Vừa sờ đến chìa khóa két, anh liền biết mình phải làm gì.
Anh lôi ra một cái hộp nhỏ cỡ hộp diêm, có thể đóng mở như cuốn sách, bên trong có hai miếng đất sét màu xanh lục dùng để lấy mẫu chìa. Quan rút một bình nhỏ đựng bột tan rắc lên hai miếng đất sét, dùng ngón trỏ dàn đều rồi đặt chìa khóa vào giữa, đóng lại, ấn chặt hai nửa hộp. Sau khi mở hộp và gỡ chìa ra, trên miếng đất sét in hân hình chìa khóa. Anh phủi sạch bụi trên chìa, bỏ vào giỏ sắt rồi tức tốc rời đi.
Ban nãy, dẫn gia đình Graham về sở cảnh sát rồi, Quan kiếm cớ về phòng một mình, lôi bản dập chìa khóa ra, mở ngăn kéo lấy bật lửa, một thìa kim loại nhỏ và miếng hợp kim có nhiệt độ nóng chảy thấp. Đây là hai món đồ đi kèm với đất sét, đều nằm trong bộ đánh chìa, anh vô tình bắt gặp ở cửa hàng chuyên bán phụ tùng. Anh bỏ miếng hợp kim vào thìa rồi bật lửa hơ. Thành phần chủ yếu của hợp kim là chì, nung chảy xong thì cẩn thận đổ vào khuôn. Chờ một lát, anh mở hộp ra, trong khuôn đất sét là nửa chiếc chìa khóa màu xám bạc.
Dù đã đánh chìa xong, nhưng không có nghĩa là mọi việc suôn sẻ. Thứ nhất, bộ dụng cụ thô sơ này chưa chắc đã tái tạo nguyên dạng chìa khóa, có thể sẽ không mở được két. Thứ hai, hợp kim khá mềm, dễ gãy khi đang xoay chìa, có khi lại mắc kẹt trong ổ khóa. So với khả năng thứ nhất, khả năng thứ hai còn rắc rối gấp bội.
Nhưng Quan vẫn đánh bạo thử nghiệm.
Đổ khuôn đã được một lúc, miếng hợp kim có vẻ cứng cáp hơn. Anh lấy kìm kẹp chìa, từ từ cắm vào ổ, điều chỉnh vị trí chính xác rồi chầm chậm xoay...
Cạch. Khóa thứ hai cũng mở xong.
Quan nhả kìm, nín thở chiếu đèn pin vào két. Trước mắt anh, vàng miếng phản xạ lại ánh đèn pin, sáng lấp lánh. Nhưng anh chẳng màng, mục tiêu của anh không phải chúng.
Cái anh cần là tài liệu.
Tài liệu do nhân chứng chỉ điểm trong vụ buôn ma túy chợ hoa quả Du Ma Địa cung cấp.
Cuốn sổ ghi chép thông tin về những cảnh sát nhận hối lộ.
Đối với ICAC, đây là vũ khí mạnh nhất để đối phó với cảnh sát. Nếu nó rơi vào tay cảnh sát, cả kế hoạch sẽ đổ sông đổ bể. Trong đội ngũ cảnh sát có không ít người đang đứng ngồi không yên vì những thông tin này, sợ hành vi phạm tội của mình bị bóc trần.
Vậy mà giờ đây, người đọc nó lại chính là thanh tra Quan Chấn Đạc của Ban Điều tra Hình sự Sở cảnh sát Cửu Long. Cuốn sổ toàn ám hiệu, nhưng Quan biết khá nhiều tiếng lóng của xã hội đen, móc nối đôi chút là hiểu được đại khái danh sách này đề cập đến phòng ban nào, thậm chí là cá nhân nào. Anh đặc biệt lưu tâm tới những thông tin về thành viên Sở cảnh sát Cửu Long.
“Hừ, xem ra lần này đám kia nợ mình một món to.”
Quan lấy tập tài liệu, đóng két, dùng kìm xoay chìa, xác định không để rơi vãi mảnh vụn nào trong lỗ khóa rồi đóng nốt cửa tủ gỗ. Nhiệm vụ hoàn thành, tiếp theo là rút lui.
Quan lại mạo hiểm leo ban công để ra khỏi nhà Graham. Được cái tay chân nhanh nhẹn, anh chẳng hề hoảng hốt, loáng cái đã quay lại cầu thang. Anh chào nhân viên bảo vệ, lái xe về sở cảnh sát. Tổng thời gian mất gần một tiếng.
“Sếp!” Quan vừa vào đến văn phòng, Mạch lập tức báo cáo, “Đã xác nhận với trường học, không có đứa trẻ nào mất tích!”
“Không có?” Quan vờ tỏ vẻ ngỡ ngàng.
“Vâng. Cả năm học sinh tóc hung đỏ đều đang ở nhà, cũng không nhận được yêu cầu cứu giúp hay tìm người mất tích nào.” Mạch nói. “Để chắc chắn, em còn nhờ nhà trường báo giáo viên chủ nhiệm các lớp gọi điện xác nhận lũ trẻ vẫn an toàn. Chỉ có phụ huynh Alfred Hill là không liên lạc được.”
“Bởi vì họ đang ở đây.”
“Chính thế. Nói cách khác, tất cả học sinh đều an toàn.”
“Cho nên thủ phạm không phải kẻ bắt cóc mà chỉ là tên lừa đảo.” Quan thản nhiên nói.
“Vâng... Nhưng khó tin thật, lừa đảo mà làm được đến mức ấy, suýt nữa thì cuỗm hết tài sản của anh Hill.”
“Gia đình anh ta đâu?”
“Biết tin không có học sinh nào bị hại, họ thở phào nhẹ nhõm và đi dùng bữa ở căng tin rồi.”
“Không ai đi cùng họ?”
“Không ạ.”
“Cậu để người của ICAC nghênh ngang ăn cơm trong căng tin sở cảnh sát sao? Không sợ có đồng nghiệp nhận ra anh ta mà gây sự à?”
“Á!”
Mạch thất kinh, lập tức lao ra hành lang, chạy thẳng đến nhà ăn. Quan bật cười, anh chỉ nói đùa thôi. Nếu Graham đi một mình, không chừng sẽ gặp rắc rối thật. Nhưng có vợ con, cùng lắm chỉ bị lườm nguýt. Ở cả xã hội đen lẫn trắng, “không hại đến vợ con” đều là quy tắc vàng ngọc.
Quan đến căng tin nói vài câu với Graham cho phải phép, tiễn họ về rồi quay lại phòng làm việc. Anh khóa cửa, lôi tài liệu vừa lấy trộm ở nhà Hill ra, cẩn thận xem từng trang.
Không biết gửi đống tài liệu này đi sẽ kiếm chác được bao nhiêu đây, anh nghĩ.
★
Trưa thứ Hai, Quan kiếm cớ rời văn phòng một mình. Anh bắt xe buýt đến quận Nam đảo Hồng Kông, xuống xe ở vịnh Repulse.
Mới đầu tuần nên du khách đi biển không đông, Quan đến đây cũng không phải để tranh thủ nghỉ ngơi, mà để bí mật gặp một người. Trong thành phố nhan nhản tai mắt, tuy có thể tìm cách biện bạch, nhưng lỡ bị bắt quả tang thì cả anh và người kia đều khó tránh rắc rối.
Men theo bờ biển, chẳng bao lâu anh đã thấy một chiếc xe hơi. Anh tiến lại gần, biết chắc ở ghế lái là ai rồi mới mở cửa, lách mình ngồi vào ghế phụ.
“Hôm nay anh hẹn tôi có chuyện gì thế? Lại còn ở cái nơi khỉ ho cò gáy này nữa.”
Quan không nói không rằng, lấy tập tài liệu trong ngực, đưa cho đối phương. Người kia vẫn còn ngơ ngác, nhưng vừa mở ra xem, mặt mũi lập tức tái mét, lật loạt soạt liên hồi. Là danh sách viết bằng ám hiệu về vụ tham ô!
Trước bộ dạng ngơ ngác đó, Quan bật cười, “May mà có tôi đấy, không thì anh nguy to rồi.”
“Anh... anh... anh lấy nó ở đâu...”
“Anh nghĩ sao?” Quan liếc mắt. “Tất nhiên là ở nhà anh.”
Người kia càng sửng sốt. Đó chính là Graham Hill, trưởng ban điều tra của ICAC.
“Nhà tôi?” Graham kêu lên. “Anh lấy lúc nào...”
“Chiều muộn thứ Sáu tuần trước, lúc gia đình anh làm bản tường trình ở sở cảnh sát. Chắc mấy ngày qua anh đều không mở két nhỉ?”
Graham ngớ người, “Ừ, hai hôm nay tôi và Stella đều ở bên Alfred. Đáng lẽ Stella phải trực ban, tôi cũng phải tăng ca cuối tuần, nhưng chúng tôi đều xin nghỉ để đưa Alfred đi xem phim và đi chơi công viên. Hôm nay tôi vừa quay lại ICAC thì anh triệu hồi tôi đến cái nơi hẻo lánh này.”
“Chung quy, Alfred bình an vô sự, tài liệu cũng về lại tay anh, thế là phúc tổ rồi.”
“Chúa ơi, tôi không hiểu gì hết! Sao anh lại lấy trộm tài liệu mật ở nhà tôi? Anh không biết hành động này rất nghiêm trọng sao? Nếu bại lộ là cả anh và tôi đều sẽ bị xử phạt!”
“Anh vẫn không hiểu à?” Quan cười trừ. “Tôi hỏi anh, anh tưởng việc Alfred bị bắt cóc chỉ là vụ lừa đảo thôi sao?”
“Lẽ nào không phải?”
“Đương nhiên là không rồi. Lừa đảo cao tay như thế, đừng nói 100 nghìn đô, muốn kiếm 1 triệu đô cũng dễ như trở bàn tay. Đương nhiên, nếu người ta thực sự cần 1 triệu đô thì đã chẳng nhắm vào kẻ nghèo rớt mồng tơi như anh.”
“Tôi không hiểu.”
“Ý tôi là, bắt cóc hay lừa đảo đều là ngụy trang, để đối phó với anh thôi.”
“Ngụy trang? Vậy mục đích thực sự của thủ phạm là gì?”
Quan gõ vào tập tài liệu trên tay Graham.
“Tài liệu này ư?”
“Chính xác.” Quan nói. “Đối với thủ phạm, thứ có giá trị nhất trong nhà anh không phải số tiền tiết kiệm lèo tèo, cũng chẳng phải vòng vèo khuyên tai, mà là danh sách viết bằng ám hiệu này.”
“Vậy ra... thủ phạm là cảnh sát?” Graham kinh ngạc hỏi.
“Đúng. Với cả, e rằng không chỉ một hai người, mà là toàn bộ đám cảnh sát từng nhận hối lộ của tội phạm ma túy và biết mình có nguy cơ vào tù.”
“Nhưng... trộm cái này thì ích gì? Đây chỉ là bản phô tô, không có hiệu lực pháp lý, cuốn sổ gốc đang nằm trong kho tuyệt mật của ICAC. Trộm bản phô tô đâu ngăn chặn được chuyện bị tố cáo sau này?”
“Anh đúng là máy móc. Cái chúng cần không phải bằng chứng, mà là thông tin.”
“Thông tin?”
“Anh công tác ở ICAC ba năm, chắc cũng biết đến nguyên tắc ‘giấy thông hành’.” Quan nói. “Bọn buôn ma túy đáp ứng mọi cái giá cảnh sát đưa ra, vì mua chuộc được càng nhiều người thì chúng càng an toàn. Phía cảnh sát tuy tham nhũng bầy đàn nhưng không có tổ chức. Đôi lúc, các nhóm truyền tai nhau chỗ này chỗ kia có tội phạm chịu chi lắm, thế là đi ‘húp tí canh’. Đương nhiên, tội phạm muốn lấy giấy thông hành sẽ sẵn sàng mua chuộc thêm vài người, chứ không muốn nộp đi nộp lại cho cùng một người, nên ‘cảnh sát đen’ không biết ai từng nhận hối lộ, trong khi bọn buôn ma túy đều ghi hết vào sổ sách.”
“Vậy họ muốn danh sách này là để...”
“Để tìm đồng bọn. Một đám cảnh sát ăn hối lộ sợ bị ICAC bắt nên muốn ra tay trước, tìm những đồng nghiệp dính dáng đến tham ô rồi đoàn kết lại, tạo tin đồn hoặc dụ dỗ ép buộc người khác hợp tác. Nếu trong danh sách có cả cảnh sát cấp thanh tra hoặc chỉ huy thì càng dễ tác động lên trên, xúi bẩy để cảnh sát và ICAC đối đầu. Đáng sợ hơn nữa, vì e ngại một số trung gian có tên trong danh sách sẽ làm chỉ điểm để tự cứu mình giống bọn buôn ma túy, họ sẽ xử lý mấy kẻ đó trước.”
“Ý anh là... ám sát?”
“Có thể lắm. Thiếu gì cách thủ tiêu, như vu cáo đối phương phản kháng trong lúc bắt giữ, có ý đồ tấn công cảnh sát thi hành công vụ, buộc cảnh sát phải nổ súng để tự vệ, hoặc nói rằng đối phương gặp tai nạn trên đường tháo chạy, rơi xuống vực thẳm hay đại loại thế. Những người trung gian hầu hết đều dính líu đến tội phạm ma túy hoặc xã hội đen, muốn gán thêm vài tội danh cũng không khó. Có thể tôi đa nghi, nhưng đôi khi tôi cảm thấy cái chết của một số nghi can có uẩn khúc, chẳng qua đã đóng hồ sơ nên không thể điều tra.”
Graham há hốc miệng, “Vậy... tại sao họ muốn có tập tài liệu nhưng lại nói dối chuyện bắt cóc Alfred? Hai việc này đâu liên quan gì.”
“Liên quan chứ.” Quan khẳng định như đinh đóng cột. “Nhưng trước đó, anh nên hỏi tôi câu này mới phải. Rốt cuộc chúng làm thế nào mà qua mắt được cả hai vợ chồng anh?”
“Đúng đúng, đến giờ tôi vẫn thấy mù mờ, tại sao tên lừa đảo lại gặp nhiều may mắn trùng hợp thế, chính tôi còn tưởng Alfred bị bắt đi thật. Chúng không bắt nhầm đứa trẻ khác phải không?”
“Anh vẫn không quên cái cớ vớ vẩn đó của tôi à.” Quan cười lớn. “Chúng không bắt nhầm, vì từ đầu có đứa trẻ nào bị bắt đầu. Anh nói kẻ lừa đảo gặp ‘nhiều may mắn trùng hợp’, là những gì, anh chỉ ra xem?”
“Nhiều lắm.” Graham xoa cằm, vừa nghĩ vừa nói, “Kể cả nắm rõ lịch học của Alfred, thủ phạm cũng không thể biết Stella có quên thông báo của lớp vẽ hay không. Nếu cô ấy vẫn nhớ, hắn đã thất bại ngay từ cuộc gọi đầu tiên. Với lại, nếu giấy nhắn của Liz không tình cờ rơi xuống đất, quỷ kế này làm sao êm thấm. Hơn nữa, nếu sáng thứ Sáu Alfred kể với vợ chồng tôi về buổi vẽ tranh phong cảnh thì kế hoạch lừa đảo càng không thể thực hiện. Mấy điểm này là trùng hợp.”
“Trùng hợp cái con khỉ.” Quan cười khẩy. “Ba điểm anh liệt kê đều dính dáng đến một người, đó là vú em Lương Lệ Bình. Mọi may mắn trùng hợp đều do chị ta tạo ra.”
“Liz?” Graham bàng hoàng hỏi lại. “Chị ấy bị mua chuộc ư?”
“Hẳn nhiên.”
“Nhưng tôi không tin chị ấy lại làm tổn thương Alfred!”
“Quả thật là không. Nhưng chị ta tốt với Alfred không có nghĩa là cũng tốt với bố mẹ cậu bé.”
Graham trân trân nhìn Quan.
“Vì anh nhận định đây là vụ bắt cóc nên mới suy diễn theo thói thường, coi Alfred là nạn nhân, đồng thời cho rằng Bình sẽ không làm hại Alfred và loại chị ta khỏi diện tình nghi.” Quan giải thích. “Nhưng anh đã nhầm ngay từ đầu. Nạn nhân thực sự là anh, có điều mức độ thiệt hại chỉ là thấp thỏm lo lắng nửa ngày và tổn thất tài sản. Miễn có đủ lý do, chậc, hoặc có đủ tiền, không thiếu người sẵn lòng ra tay. Hay táo bạo hơn, có thể Bình cho rằng đây là lựa chọn tốt nhất cho Alfred. Anh xem, nhờ vụ này, không phải cậu bé được bố mẹ quan tâm hơn đó sao?”
“Nhưng chị ấy tạo ra các trùng hợp bằng cách nào? Đâu thể dàn xếp việc Stella quên mất buổi vẽ dã ngoại.”
“Vợ anh không quên, mà cô ấy vốn không biết.”
“Liz không báo cho cô ấy ư? Nhưng trên tờ thông báo có chữ kí mà?”
“Chữ kí có thể giả mạo.” Quan nhún vai. “Tôi mà thường xuyên nhìn thấy chữ kí của ai đó thì thừa sức bắt chước. Biết điểm yếu của vợ chồng anh là công việc bận rộn, đã thế Stella còn chưa hoàn hồn sau cơn chấn động, Bình chỉ việc đẩy trách nhiệm lên đầu vợ anh thì chín mươi phần trăm sẽ không bại lộ.”
“Giấy nhắn thì sao?”
“Sau khi chị ta về nhà, mảnh giấy mới xuất hiện. Chắc tranh thủ lúc lấy tờ thông báo, chị ta đã lôi giấy nhắn ra rồi giấu trong tay, xong lại giả vờ tìm thấy nó dưới sàn. Từ khi đặt chân vào nhà anh, tôi đã để ý cách bố trí đồ đạc, dưới mặt đất cạnh giá treo không có giấy má gì sất.”
“Nhỡ sáng hôm đó Alfred báo với chúng tôi về việc đi vẽ dã ngoại thì sao?”
“Hủy hành động, hoặc thay đổi kế hoạch. Nếu con trai anh kể chuyện này từ sáng, Bình sẽ nắm được vì chị ta có mặt ở đó. Còn không, vợ anh cũng nhận ra mình gặp phải lừa đảo ngay từ cuộc gọi đầu tiên, như vậy chẳng gây tổn thất gì lớn cho thủ phạm, cũng chẳng làm lộ tay trong. Trên thực tế, Bình thừa biết Alfred sẽ không kể với bố mẹ. Vợ chồng anh bận bù đầu bù cổ, ngày càng xa cách con trai, Bình hiểu rõ mà.”
Graham nhớ lại buổi sáng thứ Sáu. Dù không nói gì, nhưng đứa con trai không thích đi học của anh trông phấn khởi hơn bình thường, chính là vì buổi chiều được ra ngoại ô vẽ tranh.
“Khoan đã.” Graham thắc mắc. “Thế đồng phục, tóc và giọng Alfred tôi nghe trong điện thoại...”
“Mua thêm một bộ đồng phục là xong. Tóc thì chắc là của Alfred thật, Bình chỉ cần giấu một lọn nhỏ khi đưa cậu bé đi cắt tóc. Giọng nói thì dùng máy ghi âm. Cậu bé nói, ‘Liz? Cô ở đâu?’ Trong lúc vợ chồng anh vắng nhà, có thể Bình cố tình đi trốn để Alfred phải gọi, rồi ghi âm lại.”
Graham á khẩu. Tổng hợp các chi tiết, đúng là chỉ có một nhân vật mấu chốt đáp ứng mọi điều kiện.
“Được rồi, bây giờ tôi sẽ trình bày tại sao vụ bắt cóc giả lại liên quan đến việc trộm tài liệu.” Quan lấy trong túi áo một miếng kim loại nhỏ, quẳng về phía Graham. “Một trong những mục đích của kẻ bắt cóc chính là lấy được thứ tương tự thế này.”
Graham cẩn thận quan sát, trông hình dáng lập tức hiểu mẩu chìa khóa này là bản sao chìa khóa két của anh.
“Anh... làm sao anh có được?”
“Thừa lúc anh vùng vẫy dưới bể, tôi đã dùng biện pháp đơn giản để copy nó.” Quan mỉm cười. “Nhưng anh không phải lo. Cái đáng lo là trong tay thủ phạm cũng có một chiếc y hệt.”
Graham hết nhìn miếng kim loại lại nhìn Quan, vẻ không hiểu nổi.
“Ý tôi là, nhìn bề ngoài, vụ lừa đảo có vẻ thất bại, nhưng thủ phạm đã đạt được mục đích thực sự. Chúng đã có đầy đủ điều kiện để ăn trộm tài liệu.”
Graham nhìn thẳng vào Quan, chờ giải thích.
“Tất cả các yêu cầu như tới Lạc Hương Viên chờ chỉ dẫn, mua vàng, ấn định thời gian đến địa điểm tiếp theo... đều nhằm làm anh tin vào vụ bắt cóc và bỏ qua các khả năng khác. Thoạt trông, việc tìm đồng xu trong bể bơi là để đảm bảo anh không thể giở trò với tiền chuộc như đặt máy phát tín hiệu, nhưng thực tế là muốn tách anh khỏi số đồ đạc luôn mang bên người.”
“Chìa khóa của tôi...”
“Đúng vậy. Nếu kẻ bắt cóc chỉ đơn giản muốn ngăn anh đặt bẫy vào tiền chuộc, chúng sẽ không bắt anh ngụp lặn trong bể bơi nửa tiếng đồng hồ. Các bước trước đó đều được tính toán chuẩn xác, ngay cả gọi điện cũng tuyệt đối đúng giờ, sao còn mắc lỗi ở bước đặt đồng xu? Giả sử đúng là có người lạ vô tình nhặt mất, đời nào nửa tiếng sau anh lại tự nhiên tìm thấy nó. Đứng trên thành bể nhìn anh loay hoay tìm kiếm, tôi bỗng vỡ lẽ thủ phạm đang tiến hành một kế hoạch. Kết hợp với phán đoán lúc trước, tôi biết kế hoạch đó là nhằm vào chìa khóa của anh.”
“Gượm đã!” Graham ngắt lời. “Phán đoán lúc trước là sao? Anh đã sớm biết vụ bắt cóc là giả ư?”
“Tôi ngờ ngợ lúc ngồi cạnh anh ở quán cà phê Lạc Hương Viên.”
“Từ tận lúc đó? Anh dựa vào manh mối nào?”
“Anh có nhớ bồi bàn không giỏi tiếng Anh đã nói gì với mình không?”
“Anh ta chỉ... bảo tôi ra nghe điện thoại.”
“Anh ta gọi tên anh, nhưng không phải tên thật.”
Graham sực nhớ, khi ấy bồi bàn hỏi anh có phải “Mr. Hạ” không.
“Thì sao? Nhiều đồng nghiệp cũng gọi tôi là Mr. Hạ mà.”
“Kẻ bắt cóc phàn nàn rằng, cứ tưởng anh là dân kinh doanh giàu có. Nói cách khác, hắn không biết rõ nhân thân anh. Tất cả giấy tờ ở trường Alfred đều viết bằng tiếng Anh, họ của hai bố con sẽ là Hill chứ không phải Hạ. Vậy tại sao khi nhờ bồi bàn gọi anh, thủ phạm lại nói họ Hạ? Đây là chi tiết đáng lẽ hắn không thể biết. Tôi cho rằng thủ phạm dùng tiếng Quảng Đông nói chuyện với bồi bàn, nhờ anh ta tìm giúp một vị khách nước ngoài, khi phục vụ hỏi tên thì buột miệng đáp là ‘Mr. Hạ’. Bấy giờ tôi liền sinh nghi thủ phạm vẫn luôn nói dối. Thật ra, ngay từ đầu tôi đã cảm thấy vụ bắt cóc này quá là khó tin. Các vụ bắt cóc thường chú trọng bước chuẩn bị trước khi hành động, đào đâu ra loại tội phạm nhầm lẫn nghiêm trọng, bắt con trai của một viên chức chẳng có mấy tài sản như thế? Nhưng trên đời không thiếu chuyện ly kì, tôi đành phải nghiêm túc điều tra, biết đâu vụ việc lại liên quan đến tính mạng của cháu nhà thật.”
“Chính câu buột miệng ấy khiến anh đoán ra thủ phạm đang nói dối à?”
“Đây chỉ là khởi đầu, gợi ý thứ hai là chiếc thắt lưng đựng vàng và yêu cầu tìm chỉ dẫn ở bể bơi. Chiếc túi vải trông như thắt lưng đó vừa đủ đựng vàng, đúng không?”
“Đúng, thì sao?”
“Anh có nhớ thủ phạm định đòi bao nhiêu tiền chuộc không? 500 nghìn đô! Từng ấy tiền phải mua được 113 miếng vàng năm lượng, túi vải kia đựng sao xuể? Hơn nữa, số vàng trị giá 500 nghìn đô nặng hơn hai mươi cân. Anh cõng hai mươi cân vàng lặn xuống nước tìm đồng xu kiểu gì? Các bước tiến hành cho thấy thủ phạm đã tính toán kĩ càng cách thức nhận tiền chuộc chứ tuyệt đối không phải mới phác ra xong. Tức là, hắn thừa biết số vàng anh mang xuống nước chưa đến ba cân. Và sâu xa hơn, hắn nắm rõ nhân thân, gia đình, tình hình tài chính nhà anh. Những diễn biến trước đó đều chỉ là đóng kịch.”
Graham vỗ trán. Anh nghĩ nếu mình bình tĩnh hơn thì đã chẳng rơi vào bẫy.
“Dù biết thủ phạm nói dối, tôi vẫn phải ứng biến theo để moi ra mục đích thực sự của chúng, vì chẳng may anh có hành động khác thường là chúng sẽ đánh hơi được ngay. Ở bể bơi, thấy anh bươn bả gần hai mươi phút mà chưa có kết quả, phán đoán của tôi mới rõ nét dần. Để xác nhận, tôi lập tức quay lại phòng thay đồ lấy quần áo. Bấy giờ, tôi đã chắc đến tám chín phần là thủ phạm muốn copy chìa khóa két của anh. Thế là tôi quay ra xe, lấy đất sét sao chép chìa khóa trong cốp, rồi lén lút đứng ở cửa vào dành cho nhân viên bể bơi, chờ cơ hội.”
Quan vẫn cất một hòm dụng cụ trong cốp xe, bên trong là mấy món đồ vừa hiếm vừa kì quặc như bột lấy dấu vân tay, nước rửa ảnh hay thuốc thử phản ứng máu. Mạch đang canh xe, đã rất ngạc nhiên trước bộ dạng vội vội vàng vàng chạy từ bể bơi ra lấy vài thứ rồi lại chạy vào của sếp.
“Tôi đợi một lúc thì nhân viên phòng thay đồ đi vệ sinh, đúng là cơ hội trời cho, khỏi phải lôi danh cảnh sát ra uy hiếp như dự tính ban đầu.” Quan khẽ cười, “Tôi lẻn vào phòng giữ đồ, tìm cái giỏ của anh và kiểm tra chìa khóa. Đúng như dự đoán, trên chìa có vụn kim loại. Tôi liền dùng đất sét lấy mẫu rồi tức tốc rời đi.”
“Vụn kim loại?”
“Lúc anh tung tăng ngụp lặn dưới làn nước trong xanh, thủ phạm đã cầm chìa khóa đi đánh rồi.”
“Hả?”
“Tôi nghĩ trong phòng thay đồ có ít nhất một khách bơi là đồng bọn của thủ phạm. Hắn vào thay đồ trước anh, ghi nhớ số thứ tự của các giỏ sắt trống để trên quầy, khi anh lấy một cái trong số đó, hắn sẽ biết ngay. Thủ phạm chuẩn bị sẵn một tấm thẻ giống hệt nhưng chưa viết số, chờ anh thay quần áo xong mới viết số lên. Hắn dùng thẻ giả ra mượn lại đồ, lấy chìa khóa của anh rồi giao cho đồng bọn. Tên kia cầm chìa ra phố tìm thợ khóa, xong xuôi quay về bể bơi, trả chìa khóa vào giỏ sắt rồi gửi cho nhân viên như cũ. Thời gian sít sao, vụn kim loại dính lại trong quá trình đánh chìa vẫn chưa kịp lau sạch, nhưng anh đang sốt ruột, cũng chẳng để ý.”
“Nghĩa là đánh chìa xong, chúng mới bảo đồng bọn đang đóng giả khách bơi ném đồng xu xuống bể?”
“Chắc thế.”
“Làm rơi vàng cũng là cố tình?”
“Không, đây hẳn là sự cố ngoài ý muốn.” Quan nhếch mép. “Mất bao nhiêu công sức, không lấy vàng cũng phí. Anh giữ được tài sản, chắc là nhờ ông bà phù hộ.”
“Vậy thì cái tên lái mô tô đúng là xui xẻo.” Graham phì cười. “Gã còn suýt bị bắt nữa chứ.”
“Không, gã sẽ không bị bắt đâu. Kẻ lấy tiền chuộc đã chuẩn bị chu đáo. Viên tuần cảnh tan ca kể về người đàn ông lên taxi ấy, chính là tên lái mô tô.”
“C... CÁI GÌ?”
“Tôi bảo rồi, thủ phạm là một đám cảnh sát. Anh thử nghĩ xem, đối tượng nào ít bị nghi ngờ nhất? Tất nhiên là chiến hữu của mình. Tên lái mô tô vứt áo khoác và mũ bảo hiểm đi, báo với các đồng nghiệp là vừa trông thấy một kẻ có khả năng là thủ phạm đã chạy theo hướng nào đó, họ sẽ tin ngay. Túi vải làm thành hình thắt lưng chính là để giấu trong áo, qua mặt nhóm truy bắt. Không cảnh sát nào lại đi lục soát đồng nghiệp cả.”
Graham ngả người ra ghế, hai tay đặt trên vô lăng. Giờ nghĩ lại, suýt nữa anh đã bị lừa trắng số tiền tích lũy hơn một năm trời. Mấy năm trước, tiền đầu tư tưởng là ổn định thì khiến anh mắc nợ, lần này toàn bộ tài sản sắp mất sạch lại trở về một cách diệu kì. Thượng đế đúng là thích trêu ngươi.
“Được rồi, cứ cho là thủ phạm đánh chìa đi, nhưng két sắt còn khóa mật mã nữa mà.” Graham nói.
“Tôi vẫn mở ngon lành đấy thôi.” Quan trỏ vào tập tài liệu.
“Anh... A, chết tiệt, anh ghi nhớ mật mã của tôi!” Graham mắng vui.
“Phải, tôi đã thầm ghi nhớ sau khi nhìn thấy.” vẻ mặt Quan chợt nghiêm túc, “Nhưng anh phải biết, người trông thấy không chỉ có mình tôi.”
Graham căng thẳng nhìn Quan. Anh hồi tưởng từng chi tiết xảy ra vào hôm thứ Sáu, nhất là cảnh mình lấy hộp trang sức trong phòng làm việc.
Anh nhớ ra kẻ đó rồi.
“Lão Từ là một trong những cảnh sát nhận hối lộ.” Quan nhăn trán. “Tôi vẫn luôn hoài nghi cấp dưới của mình có kẻ không trong sạch, nhưng chưa tìm ra cách kiểm chứng. Sau vụ việc lần này, anh ta đã lòi đuôi cáo.”
“Nhưng... chỉ vì anh ta cũng có mặt khi tôi mở két, mà kết luận anh ta đồng lõa với thủ phạm, liệu có võ đoán quá không?”
“Còn nhớ lúc tôi đề nghị cho anh mượn tiền chứ? Lão Từ lập tức ngăn cản. Không phải anh ta bận tâm tới quy định của ngành, mà là bởi nếu có tiền vay, anh không cần mở két lấy trang sức, cơ hội nhìn trộm mật mã cũng đi tong. Trước đó anh ta còn đưa ra giả thuyết Bình là đồng phạm. Không sao hết, vì giả thuyết này sẽ tự sụp đổ khi chúng ta biết hóa ra không có vụ bắt cóc nào cả. Nhưng ai ngờ Bình không phải đồng phạm bắt cóc, mà là đồng phạm lừa đảo?”
“Chuyện như thế...” Graham không thốt nên lời. Anh biết Quan chẳng dễ chịu gì khi cấp dưới cùng hội với thủ phạm.
“Không phải lo cho tôi, tôi tự biết chừng mực.” Quan lấy lại vẻ mặt thoải mái.
“Làm sao thủ phạm biết về số trang sức?”
“Tất nhiên là qua cái mồm của Bình, có lẽ chị ta từng thấy vợ anh đeo. Các chi tiết về gia đình anh hầu như đều do Bình tiết lộ cho thủ phạm. Khi tôi nói có kẻ đòi anh 100 nghìn đô tiền chuộc, chị ta liền phản ứng anh đào đâu ra lắm tiền thế. Thấy chưa, người ta đã âm thầm ghi nhớ không ít thông tin đâu.”
Graham bỗng sinh ác cảm. Ai ngờ lại có một kẻ hèn hạ bỉ ổi ở sát sườn, suốt ngày dòm ngó mình và gia đình.
“Đối với Bình, chị ta không cho rằng việc bán tin là sai.” Quan tiếp tục, “Đơn giản là một vài thông tin thôi, người ta cho tôi tiền, tôi không nói thì cũng có kẻ khác nói... Nhân tiện ấy mà... Nhấc một ngón tay lại được cả mớ lợi ích... Tất thảy nghe đều hợp lý. Chính vì xã hội đã biến chất đến vậy, thống đốc Hồng Kông mới phải thành lập ICAC.”
“Làm sao Liz biết tôi mang tài liệu của vụ tham ô về nhà?”
“Có lẽ chị ta không biết, nhưng chỉ cần tổng hợp thông tin chị ta cung cấp, cộng với những gì thủ phạm đã thăm dò được là có thể suy ra. Chuyện anh công tác tại ICAC không phải bí mật, tổ nào đang điều tra vụ nào, bọn chúng đều nắm sơ sơ. Với tác phong của anh, chín mươi phần trăm là sẽ mang việc về nhà làm. Giả sử Bình nói ‘Ông chủ tan sở vẫn nhốt mình trong phòng làm việc’, tất nhiên thủ phạm đoán ra ngay là anh cầm tài liệu quan trọng về.”
“Nhưng, có chuyện này tôi không hiểu.” Graham hỏi, “Chỉ vì chìa khóa thì đâu cần tốn công tốn sức thế? Dù sao Liz cũng là tay trong, bảo chị ta ăn trộm là được mà?”
“Chị ta thử rồi, nhưng không thành.”
“Làm sao anh biết?”
“Anh nói.”
“Tôi nói?”
“Anh kể là nửa tháng trước, Bình từng vào phòng ngủ chính trong lúc anh tắm. Chắc là bị thủ phạm xúi giục ăn trộm chìa khóa. Tôi không biết chị ta định lấy luôn hay chỉ dùng đất sét lấy mẫu giống tôi, nhưng dù chị ta thành công thì vẫn phải biết mật mã nữa. Anh có thường xuyên đổi mật mã két không?”
“Có chứ, nửa tháng một lần.”
“Ừ, điều này khiến bọn tội phạm đau đầu. Cho nên chúng lập ra kế sách nhắm trúng hai đích. Nếu việc lừa lấy tiền tiết kiệm của anh cũng nằm trong số mục tiêu thì sẽ là một mũi tên trúng ba đích.”
“Đúng ra hôm ấy anh nên báo ngay cho tôi.” Graham huơ huơ tập tài liệu trước mặt Quan, “Anh chỉ cần nói có người muốn lấy trộm thứ này, tôi đã cất đi chỗ khác hoặc đổi mật mã.”
“Ai bảo có người muốn lấy trộm?”
“Anh, vừa xong!”
“Thủ phạm không muốn ‘trộm’ tài liệu, mà chỉ cần thông tin bên trong. Hơn nữa, chúng càng không muốn anh phát giác.”
Graham nghiêng đầu, chăm chú nhìn Quan tỏ vẻ không hiểu.
“Việc mất tài liệu sẽ đánh động ICAC. Bọn tội phạm cố tránh hậu quả đó. Chúng chuyên hành sự trong bóng tối, dù muốn nắm quyền chủ động cũng không thể để các anh đọc được lá bài trong tay mình. Cuối tuần vừa rồi cả nhà đi xem phim và đi công viên, Bình có tham gia không?”
“A... không... nói là muốn để gia đình tôi vui vẻ bên nhau, không làm phiền...”
“Cho nên, hôm qua hoặc hôm kia, thủ phạm đã đưa chị ta mật mã và chìa khóa để mở két rồi.”
“A!”
“Chắc thủ phạm dặn chị ta dùng máy ảnh chụp lại, xong xuôi trả tài liệu về chỗ cũ. Anh không hề biết thông tin đã bị lộ, chúng sẽ có đủ thời gian cản trở việc điều tra của anh.”
“Vậy khi Liz phát hiện ra trong két không có tài liệu...”
Quan hất hàm, “Anh xem cho kĩ đi.”
Graham lại rút tài liệu ra kiểm tra.
“Ôi, thiếu tám trang?”
“Tôi để lại tám trang trong két.” Quan cười khì. “Thủ phạm muốn có thông tin thì tôi cho. So với giấu phỉnh(76), tôi thích khoe ra hơn. Có điều, hắn sẽ chỉ thấy số phỉnh trên tay tôi và tưởng đó là tất cả, mà không ngờ dưới mông tôi còn hàng đống. Như vậy mới thú vị.”
“Anh... cố tình đánh lừa thủ phạm?”
“Bình chỉ tìm được tám trang trong két, cộng thêm chuyện anh hay vùi đầu nghiên cứu sau giờ làm việc, thủ phạm sẽ tưởng lũ buôn ma túy không cung cấp toàn bộ sổ sách, chỉ đổi một ít thông tin để xin giảm hình phạt. Chúng sẽ bớt cảnh giác về quá trình điều tra của ICAC, không tìm cách lấy thông tin từ anh, cũng không cần dựng vở bắt cóc giết người lần thứ hai, thứ ba nữa.”
Cuối cùng Graham cũng hiểu ý nghĩa của việc Quan lấy trộm tài liệu. Quan muốn tương kế tựu kế, giúp ICAC giăng lưới xúc cả ổ.
“Đúng rồi, anh có từng nghĩ đến chuyện thủ phạm bắt cóc Alfred thật không? Ý tôi là, vì tôi làm trưởng ban điều tra của ICAC, chúng muốn dạy cho tôi một bài học, lên kế hoạch xem trộm tài liệu nhân tiện bắt cóc con tôi luôn. Anh đâu thể đoan chắc chúng có chơi thật hay không.”
“Không, từ khi xác nhận mục tiêu đánh chìa là tôi đã yên tâm rồi. Bởi vì đánh trộm chìa tức là phải có người mở lén. Anh chỉ giữ bản phô tô, thủ phạm sẽ không bứt dây động rừng, cho nên cần nội gián. Nếu Alfred bị bắt cóc, Bình không đổ trách nhiệm cho ai được, dù sau đó Alfred bình an trở về thì chị ta vẫn bị sa thải. Tội gì thủ phạm phải làm phức tạp tình hình? Bắt cóc Alfred chỉ tốn công vô ích.”
Một lần nữa, Graham không khỏi khâm phục tài trí của viên thanh tra trẻ tuổi. Anh vẫn biết Quan là một cảnh sát thông minh, nhưng không ngờ mấy năm nay lại tiến bộ nhiều đến vậy. Cả suy luận lẫn bày mưu đều chặt chẽ, nhìn thấu mọi chi tiết. Nhớ năm đó anh còn ra vẻ tiền bối, dạy bảo người ta kĩ năng phá án, nghĩ lại thật xấu hổ. Bảy năm trước, Quan mới 23 tuổi, một thân một mình lặn lội sang Anh tập huấn, thực tập tại nhóm do Graham phụ trách.
“Kể ra, tôi đến Hồng Kông ba năm rồi mà chưa ăn với anh bữa nào.” Graham cười nói.
“Hầy, bây giờ anh là trưởng ban ICAC, tôi là thanh tra hình sự. Thiên hạ mà thấy chúng ta gặp nhau rồi thêm mắm dặm muối thì nguy to. Chừng nào cảnh sát và ICAC còn mâu thuẫn, tôi và anh không nên giáp mặt thì hơn.”
Dù là người quen cũ, nhưng với tình hình này, Quan buộc phải giữ khoảng cách với Graham, như vậy làm việc mới thuận lợi được. Trưa thứ Sáu tuần trước, anh đã ngạc nhiên khi nhận điện thoại của Graham. Anh biết, nếu không gặp rắc rối lớn, Graham sẽ không chủ động liên lạc. Nghe tin Alfred bị bắt cóc, một dự cảm khác thường thoáng qua trong đầu, nhưng vì chưa có manh mối, anh đành giải quyết đúng trình tự. Quan nghĩ, có thể thủ phạm đã cài tận mấy nội gián vào Ban Điều tra Hình sự, nếu Graham không gọi anh mà báo với cảnh sát chung chung, vụ án do người khác tiếp nhận, thì vẫn sẽ có đồng phạm làm thay việc của Lão Từ. Tuy Lão Từ bị lộ, nhưng nhiều kẻ ăn ở hai lòng vẫn đang náu mình trong đội ngũ cảnh sát. Muốn giải quyết triệt để thì chỉ có thể dựa vào Graham và ICAC.
“Hỏi thế này có hơi thất lễ, nhưng tại sao anh lại giúp tôi? Anh nên đứng về phía cảnh sát mới phải chứ?” Graham trầm tư hỏi.
“Tôi tán thành quan điểm cảnh sát cần hỗ trợ lẫn nhau, cùng tiêu diệt kẻ địch. Nhưng điều kiện tiên quyết là chung lý tưởng bảo vệ công bằng. Chỉ vì cùng mặc cảnh phục mà xuê xoa coi là người một nhà rồi mù quáng ủng hộ á? Như thế ngu xuẩn quá. Nạn tham nhũng của cảnh sát đã trầm kha đến mức không thể tự chữa trị, phải dựa vào người ngoài thôi. Tôi luôn ghét lối suy nghĩ hèn nhát là ‘chạy theo xe’. Nhưng đứng trước mũi xe thì bị đâm hả? Nên tôi sẽ đứng cạnh xe giở trò, âm thầm hủy hoại nó.”
“Anh nghĩ ICAC có thành công không?”
“Tôi không biết. Nếu liên quan đến quá nhiều cảnh sát, thống đốc Hồng Kông buộc phải đối mặt với hiện thực và ban bố lệnh đặc xá(77). Chẳng may đến nước ấy, tôi vẫn hi vọng lũ người tàn ác nhất, nham hiểm nhất sẽ bị tố giác, đưa ra trước vành móng ngựa, chịu tội trước công lý, để răn đe đám cảnh sát đen may mắn thoát nạn rằng, nếu không hối cải sẽ gặp kết cục tương tự.”
Quan nhìn ra mặt biển xanh thẳm, như đang dõi mắt về viễn cảnh của đội ngũ cảnh sát. Anh thấy lo lắng cho tương lai của ngành, nhưng vẫn ôm ấp hi vọng. Anh đâu biết, Graham ngồi bên cũng có ý nghĩ tương tự. Lập trường tuy khác nhau, nhưng suy nghĩ lại đồng nhất.
“Tôi sẽ không hỏi anh có sa thải Bình không, dù sao anh cũng tự có quyết định của mình.” Quan vừa nói vừa mở cửa xe. “Mau mau xin két mới, thay cho cái ở nhà đi.”
Thấy Quan ra khỏi xe, Graham hỏi, “Không cần tôi chở anh về thành phố sao?”
“Thôi, ai bắt gặp thì phiền lắm. Tôi đi xe buýt được rồi.”
“Lần này anh đã giúp tôi nhiều, thật lòng cảm ơn anh. Nợ anh bao nhiêu như thế, anh cần gì cứ nói, khó khăn đến mấy tôi cũng không từ nan.”
“Ha ha, nói mới nhớ, anh còn nợ tôi một bữa cơm nhỉ, dù tôi nghĩ trong hai năm tới khó mà ăn nổi.” Quan ngó vào qua cửa xe, cười lớn. “Tôi phải chạy như ngựa khắp đảo Hồng Kông và bán đảo Cửu Long để tìm tài liệu và chương trình tuyển sinh của các trường tiểu học cho anh đấy. Hôn thê còn tưởng tôi có con riêng sắp lên tiểu học nữa cơ...”
(63) Một bộ lạc cổ, xuất hiện rất sớm ở châu Âu (khoảng năm 1200 TrCN), phân bố chủ yếu ở nước Anh, xứ Wales, xứ Gauls, Iceland, Scotland...
(64) Nay là Hải quan Hồng Kông.
(65) Nằm ở chợ đầu mối hoa quả Du Ma Địa, đi vào hoạt động từ năm 1913, đến nay vẫn là đầu mối giao dịch, phân phối hoa quả cho khu Cửu Long cũng như Hồng Kông. Du Ma Địa thời những năm 50-70 là khu giang hồ khét tiếng.
(66) Trước kia Hồng Kông chỉ có ba sở cảnh sát khu vực: Đảo Hồng Kông, Cửu Long và Tân Giới. Từ năm 1982 trở đi mới tách thành sáu sở.
(67) Một xe đến, một xe đi, hai xe hôn nhau. Nghĩa có thể hiểu được, nhưng đây là một câu sai văn phạm tiếng Anh.
(68) Huân chương do nữ hoàng Anh ban tặng, hình dạng và hoa văn trông khá giống nắp chai. “Nước Hà Lan” là cách gọi dân gian của nước có ga, cũng như chúng ta xưa quen gọi “xe Honda” để chỉ xe máy, “bò húc” để chỉ nước tăng lực. Những chai nước có ga đầu tiên trên thị trường Hồng Kông được nhập khẩu từ Hà Lan, nên chết tên từ đó.
(69) Special Branch/SB. Thuộc biên chế Cục B, nhưng đã giải tán vào năm 1995.
(70) Bịp đấy.
(71) Năm 1977, Hồng Kông có hai ngân hàng phát hành tiền là HSBC và Standard Chartered. Trước năm 1977, tờ giấy bạc mệnh giá lớn nhất của Hồng Kông là 500 đô. Đến ngày 31/3/1977, HSBC phát hành tờ 1000 đô. Đến 1/1/1979, Standard Chartered cũng bắt đầu phát hành loại giấy bạc này.
(72) Mặt trên của tờ 500 đô do HSBC phát hành năm 1909 có in hình một con trâu, bởi vậy mới gọi là “trâu mộng”.
(73) Lok Heung Yuen Coffee Shop, tên lóng là Ổ Rắn. Tên lóng vẫn phổ biến đến nay, nhưng địa điểm đã chuyển từ phố Wellington sang phố Gilman’s Bazaar. Món được các du khách khen ngợi nhiệt liệt dạo gần đây lằ cơm thịt heo BBQ.
(74) Bể bơi này đã bị phá bỏ vào năm 2010. Năm 2011, người ta xây bể bơi Kennedy Town mới ở giao điểm giữa đường Thành Tây và phố Tây Tường, cách địa chỉ cũ hơn 500 m về phía Đông.
(75) Sai Wan Estate. Khu nhà ở xã hội lâu năm thứ hai ở Hồng Kông, xây năm 1958, vẫn còn đến ngày nay. Đây cũng là cư xá duy nhất ở Hồng Kông không đặt tên các tòa nhà là “block”, mà đặt là “terrace”.
(76) Dụng cụ đánh bạc, hình tròn, tương tự đồng xu nhưng dày hơn, nhiều màu, dùng để đặt cược thay cho tiền mặt hoặc đá quý vì lý do an toàn.
(77) Vụ án này thực sự liên quan đến rất nhiều cảnh sát. Từ tháng 2 đến tháng 10/1977, ICAC vạch trần hơn 260 ca liên quan. Đám mây khủng hoảng lan rộng trong ngành, người xin nghỉ hưu sớm, người trốn chạy đến những quốc gia và lãnh thổ không có thỏa thuận dẫn độ với Hồng Kông, người thậm chí tự sát. Số đông không có khả năng lựa chọn như trên thì tập hợp gây rối ở văn phòng ICAC hoặc đứng xin ân xá trước cửa Bộ chỉ huy HKPF và văn phòng thống đốc. Cân nhắc phản ứng xã hội và sức khỏe của ngành, đầu tháng 11 cùng năm, thống đốc Hồng Kông đành ra lệnh đặc xá gần như toàn bộ, trừ những trường hợp đã có kết luận điều tra, đã có lệnh truy nã hoặc đã bỏ trốn.