Tôi không biết tại sao Hồng Kông lại ra nông nỗi này.
Bốn tháng trước, tôi không ngờ thành phố của chúng tôi sẽ tan tác như bây giờ.
Đứng lặng giữa ranh giới điên cuồng và tỉnh táo.
Ranh giới này ngày càng mờ nhạt. Dần dà, chúng tôi chẳng còn phân biệt nổi lý trí với cảm xúc, chính nghĩa với tội ác, đâu là đúng đâu là sai.
Có lẽ, chúng tôi chỉ còn nước cầu xin bình an. Sinh tồn trở thành lý do và mục đích sống duy nhất.
Nực cười làm sao!
Hoặc là, tại tôi nghĩ ngợi quá nhiều. Tôi chỉ là thằng nhóc chưa đầy hai mươi, không đủ tư cách và chẳng có năng lực để ôm đồm mấy lý lẽ thâm thúy đó.
Mỗi lần tôi đề cập với anh hai về các vấn đề xã hội, anh đều cười nhạo, “Vắt mũi bỏ miệng chưa xong, quan tâm đến mấy đạo lý xa vời làm gì?”
Anh ấy nói đúng.
Anh hai hơn tôi ba tuổi, nhưng chúng tôi không phải máu mủ, chỉ là đôi “anh em cùng khổ” quen biết nhiều năm, hiện đang thuê chung một phòng ván gỗ(78) nhỏ, hoàn cảnh y như hai kẻ nghèo kiết xác lăn lộn vì sinh kế trong bộ phim điện ảnh Anh em cùng khổ(79) do Hồ Phong và Tạ Hiền đóng chính chiếu mấy năm trước. Họ là Ngô Tụ Tài và Chu Nhật Thanh(80), mỉa mai thay đều khố rách áo ôm, ngày ngày phải nghĩ cách lừa người để kiếm bữa cơm. Chúng tôi tuy không đến mức túng quẫn, nhưng ngoài chỗ ở tạm bợ và rau cháo đạm bạc chống đói thì không dành dụm nổi đồng nào.
Bố mẹ mất sớm, chưa hết trung học tôi đã phải đi tìm việc. Mấy năm qua tôi làm thời vụ cho nhiều nơi, nhưng kể từ bạo động tháng Năm(81), kiếm việc còn khó hơn trước. Mọi công đoàn đều hô hào bãi công và đấu tranh, muốn làm công nhân bình thường cũng cực kì chật vật. Độ này tôi chỉ trông tiệm tạp hóa hoặc làm chân chạy hộ chủ nhà để kiếm tí tiền tiêu vặt.
Chủ nhà họ Hà tên Hi, tuổi chừng năm mươi đến sáu mươi, cùng vợ kinh doanh Tạp hóa Hà Hi nho nhỏ trên đường Spring Garden ở quận Loan Tể. Tôi chẳng nhớ tên bà Hà, mà thật ra, nếu không phải ngày nào cũng thấy dòng chữ to đùng trên biển hiệu thì chắc tôi quên luôn cả tên đầy đủ của ông Hà, vì tôi chỉ gọi họ là “bác” hoặc “bác Hà”.
Tiệm nằm ở tầng một của ngôi nhà bốn tầng, tầng hai là nơi ở của hai vợ chồng. Vì con cái chuyển ra ngoài sống đã nhiều năm, ông bà Hà bèn chia ngôi nhà rộng rãi thành mấy gian nhỏ rồi cho những người trẻ tuổi độc thân như chúng tôi thuê.
Mặc dù trọ ở đây đông thì lạnh hè thì nóng, nhiều muỗi lại còn phải chung chạ nhà bếp vệ sinh, sáng nào cả lũ cũng bâu xâu chen trước chen sau, nhưng vì giá thuê rẻ nên tôi không phàn nàn gì, thậm chí còn thấy may mắn hơn nhiều người. Ông bà Hà đều tốt tính, chưa bao giờ giục tiền nhà, ngày lễ tết còn mời chúng tôi ăn cơm. Trông bề ngoài thế thôi, chứ tôi đoán ông Hà cũng có chút của để dành, không phải lo cơm ăn áo mặc, hằng ngày mở hàng là vì thói quen chứ chẳng bận tâm chuyện lời lỗ.
Ông Hà thường dạy, người trẻ phải có chí lớn, đừng an phận cả đời làm công nhân hay giúp việc cho cửa hàng nhỏ. Tôi hiểu rõ điều đó, anh hai cũng hay dặn có thời gian phải cần cù học, chịu khó giở từ điển cày tiếng Anh, mai sau mới mong mở mày mở mặt. Thỉnh thoảng hải quân Mỹ đến cửa hàng mua bia với nước ngọt, tôi lại thử hỏi đáp bằng tiếng Anh, dù không biết họ có hiểu gì không.
Hằng ngày đọc báo tìm việc, tôi vẫn tấp tểnh mơ đến một con đường. Hay mình đi thi làm cảnh sát? Thường nghe “trai khôn không làm cảnh sát(82)”. Nhưng cứ nghĩ vừa trấn áp lưu manh bênh vực kẻ yếu, vừa có thu nhập ổn định, lập gia đình còn được phân nhà tập thể, thì chẳng phải nghề này rất lý tưởng hay sao? Lại có người nói, làm cảnh sát phải nghe thượng cấp người Anh vênh mặt hất hàm sai bảo. Nhưng đi làm nhân viên văn phòng đã chắc đâu tránh được ông chủ là người nước ngoài. Mấy quan điểm dân tộc chủ nghĩa, tinh thần tự tôn, đặt vào xã hội này đều biến thành rỗng tuếch.
Hiềm nỗi anh hai luôn phản đối ý định của tôi, bảo rằng tính mạng cảnh sát rẻ mạt lắm, chính phủ chi tiền là để mua tử sĩ, cảnh sát chẳng qua chỉ là khiên chắn sống của các quan chức cấp cao người Anh, lỡ chính quyền Hồng Kông gặp sóng gió, cảnh sát sẽ thành những quân cờ để họ vứt bỏ.
Anh hai nói thế, không ngờ lại đúng.
Kể ra, sự cố bắt nguồn từ một tranh chấp rất nhỏ. Hồi tháng Tư, một nhà xưởng ở Tân Bồ Cương, Cửu Long xảy ra xích mích giữa chủ thuê và công nhân. Chủ thuê đặt ra nhiều quy định hà khắc, như không cho công nhân xin nghỉ, thế là bị phản đối. Thỏa thuận không xong, chủ thuê còn tìm cớ sa thải những công nhân đại diện đứng ra đàm phán, cuối cùng sự việc phát triển thành biểu tình. Một bộ phận công nhân tập hợp lại cùng lên án các chủ thuê, thành ra gây cản trở hoạt động của nhà xưởng. Cảnh sát nhận lệnh đi giải tán đám đông, biểu tình liền biến thành bạo động. Công nhân tấn công đội chống bạo động bằng đá và bình thủy tinh, cảnh sát dùng đạn gỗ(83) bắn trả. Chính phủ ban lệnh giới nghiêm buổi đêm toàn Đông Cửu Long. Các tổ chức công đoàn cũng hăng hái tham chiến, đứng lên chống đối chính quyền Hồng Kông. Mâu thuẫn nhỏ giữa chủ thuê và công nhân nhanh chóng biến thành phong trào đấu tranh diện rộng.
Tình hình dần dần mất kiểm soát.
Chỉ trong một tháng, mối bất hòa giữa công nhân và chủ tư bản đã lên đến cao trào, bùng phát thành tranh chấp cấp quốc gia giữa Trung và Anh. Nhận hỗ trợ từ Bắc Kinh, công nhân Hồng Kông thành lập “Ủy ban Đấu tranh của đồng bào Hồng Kông-Cửu Long nhằm phản đối chính quyền Hồng Kông”, gọi tắt là ủy ban Đấu tranh, kêu gọi quần chúng bao vây phủ thống đốc, chỉ trích chính quyền là quân phát xít sát hại nhân dân, đàn áp phần tử bạo động bằng các thủ đoạn độc tài. Các nhà cầm quyền quyết không khoan nhượng, điều động cảnh sát đến trấn áp bạo loạn bằng bom cay, bắt giữ “điêu dân” bằng vũ lực. Để chống đối, công nhân phát động phong trào đình công bãi thị, các trường học cũng bãi khóa, được đông đảo dân chúng hưởng ứng. Đáp trả hành động này, chính phủ ban lệnh giới nghiêm buổi đêm. Sau Chiến tranh Thế giới thứ hai, đã hai mươi năm rồi Hồng Kông mới phải chịu lệnh giới nghiêm.
Đầu tháng Bảy, một nhóm dân đại lục lẻn đến phố Trung Anh thuộc cấm địa Sa Đầu Giác(84) ở biên giới Hồng Kông, khích lệ công nhân Hồng Kông tổ chức mít tinh phản đối. Cảnh sát Hồng Kông trực tại đó nổ súng xua đuổi, không ngờ dân quân tự vệ đại lục bắn trả, hai bên đấu súng ác liệt. Cảnh sát cố thủ đến cùng nhưng đạn dược cạn kiệt, tình thế hết sức hiểm nghèo, khi quân Anh cử chi viện tới thì đã có năm cảnh sát hi sinh vì nhiệm vụ.
“Đại lục muốn lấy lại Hồng Kông trước thời hạn à?”
Tôi còn nhớ, ông Hà đã nói thế khi nghe bản tin qua đài phát thanh ở tiệm.
Có người bảo tôi, hạn thuê Hồng Kông phải ba mươi năm nữa (tức năm 1997) mới hết, nhưng trời biết liệu quân giải phóng có sang đảo để đuổi người Anh đi không. 1997 với 1967 chỉ khác nhau một chữ số thôi mà.
Vài ngày sau trận nổ súng, khắp nơi rần rần tin đồn người Anh chuẩn bị rút lui, bỏ mặc Hồng Kông. Rất nhiều người Anh đang sinh sống tại Hồng Kông, nếu chiến tranh Trung-Anh nổ ra, cảnh sát sẽ biến thành con tốt thí mạng, che chắn bọc lót cho họ bỏ trốn thuận lợi. Trong khoảng thời gian đó, tuy anh hai không nhắc lại chuyện làm cảnh sát, nhưng tôi biết trong lòng anh ấy muốn nói, “Thấy chưa, anh đã bảo mà.”
Gần hai tháng trôi qua, quân đội hai nước cũng không phát sinh xung đột nào, nhưng ý nghĩ “đại lục định giải phóng Hồng Kông” vẫn leo lét trong đầu chúng tôi.
Ngày 22 tháng Bảy, chính quyền Hồng Kông ban hành pháp lệnh tình trạng khẩn cấp, theo đó không chỉ tàng trữ vũ khí, mà có mặt tại nơi chứa vật phẩm cấm hoặc đi cùng người có vũ trang cũng bị khởi tố. Các tờ rơi, tờ báo viết bài mang tính phản động đều bị coi là phạm pháp, cứ ba người trở lên đứng cùng nhau cũng tính là tụ tập trái phép. Trừ mấy tờ báo lớn mà người Anh buộc phải kiêng dè vì có Bắc Kinh hậu thuẫn, mấy tòa soạn nhỏ ủng hộ bạo động đều bị niêm phong, đình bản. Tinh thần pháp trị, tự do ngôn luận... tất thảy đều vô nghĩa.
Chỉ hiềm, sợi một khó xe, tay lẻ khó vỗ, công nhân cũng dùng biện pháp cực đoan để “phản đối Anh, chống áp bức”.
Ban đầu, các phần tử bạo loạn tấn công cảnh sát bằng mìn đánh cá và axit. Sau khi cảnh sát Hồng Kông hợp lực với quân đội Anh dùng trực thăng tập kích các cứ điểm của công nhân và ủy ban Đấu tranh rồi bắt giữ lãnh tụ công nhân, phe bạo động liền chuyển sang đánh bom. Hơn một tháng trở lại đây, đâu đâu cũng thấy bom mìn đủ loại. Vì muốn cảnh sát thêm mệt mỏi, họ dàn trận dứa(85) thật dứa giả khắp các đường phố. Bề ngoài trông chúng không khác nhau lắm, đều là hộp thiếc hoặc thùng các tông, nhưng bên trong, một số là hàng giả chỉ gồm bùn trộn vụn kim loại, nhưng số còn lại là bom thật gây chết người. Những quả bom này không chỉ đặt ngoài cổng cơ quan chính phủ, mà còn giấu ở ga tàu điện, bến xe buýt hay các trường học không ủng hộ bạo động(86).
Đi trên đường cũng có nguy cơ mất mạng hoặc bị thương. Ban đầu tôi còn mủi lòng với công nhân, nhưng giờ quả thật không sao đồng tình nổi. Mấy người nổi loạn nói rằng đây là “dĩ độc trị độc”, là “cực chẳng đã”, muốn đối phó người Anh, hi sinh một chút cũng xứng đáng.
Tôi thực sự không hiểu, làm tổn thương chính những người mình nên đùm bọc thì “xứng đáng” nỗi gì.
Chúng ta là người, không phải kiến.
Khi bầu không khí hoang mang bao trùm khắp chốn, chúng tôi chỉ biết cầu xin ông trời chút bình an.
Đặc biệt, tôi hết sức lo lắng cho anh hai, vì tính chất công việc của anh ấy. Anh hai làm môi giới, chuyên tạo lập quan hệ giữa các công ty để lấy tiền hoa hồng. Anh không có thu nhập cố định, đôi khi thất bát đành sống tạm bằng chút tiền mọn tôi làm công cho chủ nhà, nhưng hễ ăn nên làm ra lại mời tôi đi ăn trà quán, còn lên hẳn tầng ba xa xỉ(87). Ngày nào anh cũng bôn ba khắp Cửu Long và đảo Hồng Kông tìm khách hàng, nên nguy cơ đụng phải bom và biểu tình cao hơn tôi nhiều. Tôi dặn phải cẩn thận, anh lại cãi, “Số bảo chết, muốn tránh cũng chẳng được! Sợ chết thì moi đâu ra tiền, mà không tiền thì chết đói. Đằng nào chả thế, sợ cái gì? Sống trên đời á, có chí làm quan có gan làm giàu!”
Mặc dù không cần lang thang khắp nơi như anh hai, nhưng cũng có lúc tôi phải đi giao nhận hàng thay ông Hà. Để đề phòng nguy hiểm, tôi luôn cảnh giác, quan sát tứ phía, đi trên đường đều chú ý xung quanh xem có người và vật khả nghi không.
Các phần tử bạo động thường dán băng rôn khẩu hiệu ngay tại vị trí đặt bom, giống như câu đối xuân dán trước cổng ngày Tết, vế trái đề “Heo sữa kho quẹt”, vế phải đề “Cầy tơ quay giòn”, hoành phi viết “Đồng bào chớ lại gần”, nhưng tại dùng giấy trắng nên tôi thấy hao hao câu đối viếng đám ma hơn. “Heo sữa” chỉ người Anh, “cầy tơ” chỉ cảnh sát người Hoa tiếp tay cho giặc. Có lẽ đối với phe bạo động, dân Hồng Kông mà sẵn lòng bán mạng cho thực dân Anh thì đều là lũ bán nước phản bội đại nghĩa dân tộc, chẳng khác gì bọn Hán gian thời Nhật Bản xâm lược.
Mà dường như cảnh sát người Hoa còn căm phẫn đám nổi loạn hơn cả cảnh sát nước ngoài. Không chỉ một lần, tôi đã chứng kiến họ dùng biện pháp cứng rắn với người dân.
Trong giai đoạn này, dân thường đều biết đường cẩn thận, tránh rước họa vào thân. Nếu cảnh sát tra hỏi, tuyệt đối đừng phát ngôn phản động, chẳng may sơ sểnh gây chú ý là bị tống vào tù ngay. Trước khi xảy ra Sự kiện tháng Năm, cảnh sát đã có vô số đặc quyền. Ví dụ, hàng hóa của ông Hà hơi lấn ra mặt đường là cảnh sát sẽ viết phiếu phạt, nhưng nếu có lời từ trước rồi gửi tí tiền trà nước cho tuần cảnh, mấy vấn đề cỏn con thế này liền êm xuôi. Từ khi nổ ra bạo loạn, cảnh sát còn có thêm quyền bắt giữ các phần tử: khả nghi, cản trở người thi hành công vụ, chống lệnh giam cầm, tham gia bạo động, tụ tập trái phép... Chỉ cần lời nói của cảnh sát là đã đủ lập thành bằng chứng buộc tội trước tòa.
Không ngờ, việc buộc tội vô căn cứ lại có thể xuất hiện trong xã hội Hồng Kông ngày nay.
Ở đường Spring Garden quận Loan Tể, tôi thường bắt gặp hai tuần cảnh mang số hiệu 6663 và 4447.
Đúng là vừa khéo, tôi ngầm gọi họ là “anh Ba” và “anh Bảy”. Trông anh Ba có vẻ lớn tuổi hơn, chắc là bậc tiền bối. Tháng trước có người phát tờ rơi phản đối chính phủ, thế nào lại bị anh Ba với anh Bảy tóm. Anh Ba chẳng thèm nghe phân bua, tay trái túm lấy cánh tay người kia, tay phải cầm dùi cui nện mấy phát liền, đánh cho người đó vỡ đầu chảy máu. Tôi thấy rõ ràng phạm nhân không hề phản kháng, anh Ba đâu cần nặng tay như vậy, nhưng lúc đó chẳng ai chịu đứng ra làm chứng. Ai dám lên tiếng thì sẽ bị coi là đồng đảng, mắc nạn như nhau.
Mặc dù anh Bảy không can ngăn, nhưng tôi biết anh chính trực hơn anh Ba. Hai người họ thường xuyên đến Tạp hóa Hà Hi mua nước giải khát trong lúc tuần tra. Anh Ba toàn lấy không, ông Hà cũng nói chút tiền lẻ chẳng đáng gì, nhưng anh Bảy luôn gửi tiền đầy đủ. Có lần tôi nói với anh, ông chủ bảo không cần trả, nào ngờ anh đáp, “Tôi không trả tiền, thu nhập của ông chủ cậu sẽ ít đi, chẳng may khiến cậu thất nghiệp, biến thành tội phạm, công việc của tôi càng bề bộn hơn.”
Nghe cái giọng điệu này, hơi giống anh hai.
Dân khu phố đều biết anh Bảy là cảnh sát tốt, phải cái làm việc hơi cứng nhắc, tiền bối bảo gì nghe nấy. Cứ nhìn anh Bảy, tôi lại thấy nghề cảnh sát cũng không tồi. Dĩ nhiên đấy là trước khi xảy ra bạo loạn. Thời buổi sóng gió bão bùng, làm cảnh sát không phải lựa chọn đúng đắn, thực dân Anh đi một cái là “cầy tơ” sẽ bị trù dập ngay, biết đâu anh Ba với anh Bảy lại phải đeo biển diễu phố thị chúng để “đền tội”.
Song, nghe nói sau khi bạo loạn bùng phát, yêu cầu tuyển dụng cảnh sát đã bớt khắt khe hơn nhiều. Một số cảnh sát người Hoa đi theo lời kêu gọi của phe bạo động, không thèm đứng chung hàng ngũ với “phát xít” Anh, tự ý thôi việc. Một số khác lại lo gặp phải tình cảnh tương tự vụ nổ súng ở Sa Đầu Giác, hoặc sợ bị người biểu tình giết trong các cuộc nổi dậy, nên xin từ chức.
Ông Hà sống ở Loan Tể đã lâu, quen biết vài cảnh viên. Nghe họ kể, mấy tháng nay cảnh sát đều không được nghỉ phép, phải chờ lệnh 24/24, đang ở nhà mà nhận được điện thoại cũng phải xuất phát ngay, ngoài làm việc của mình còn phải thay ca cho đội chống bạo động. Để cảnh sát an lòng, chính phủ tăng cho họ ba phần trăm lương, tăng phí làm thêm giờ, thậm chí trợ cấp ăn uống. Ông Hà nói, trong cặp công tác của cảnh viên phát lương có khi chứa đến hàng mấy cọc tiền dày cộp.
Chính phủ dùng tiền để giữ chân cảnh sát, phe bạo động cũng chẳng khác là bao.
Công nhân bãi công, không có thu nhập, không có cơm ăn, tất nhiên cũng chẳng có sức để đấu tranh. Lãnh đạo công đoàn sẽ tiếp tế cho họ một hai trăm đô mỗi tháng(88). Tôi không biết công đoàn lấy tiền từ đâu, nghe đồn đại lục âm thầm gửi vốn làm cách mạng. Tôi chỉ biết, cuộc đối đầu này không đơn thuần là đấu tranh ý thức, mà còn gắn với lợi ích tiền bạc. Có lẽ hiện thực chính là như vậy.
Tin công nhân bãi công nhận được trợ cấp là chính tai tôi nghe thấy. Trong số khách trọ tại phòng ván gỗ nhà ông Hà, trùng hợp thế nào hai hàng xóm của anh em tôi lại theo phe bạo động. Ông Hà có ba phòng cho thuê, tôi và anh hai ở một phòng, sát vách là phóng viên Đỗ Tự Cường, phòng còn lại là Tô Tùng, công nhân dệt may.
Cuối tháng Năm, Tô tham gia bãi công theo lời kêu gọi của công đoàn nên bị chủ thuê sa thải. Dù mất việc, nhưng anh vẫn trả tiền nhà đều đặn. Tôi tò mò hỏi thử thì được biết lãnh đạo công đoàn phát lương cho anh ta, hoàn thành nhiệm vụ đặc biệt còn được thêm thù lao. Anh ta khuyên tôi gia nhập hàng ngũ, đồng tâm hiệp lực lật đổ ách thống trị của người Anh, còn bảo giờ là cơ hội hiếm có, khi cách mạng thành công, đồng chí nào tư tưởng ngay thẳng, kịp thời phân rõ địch ta sẽ được làm lãnh đạo. Tôi không gạt phăng ngay, chỉ nói cần bàn bạc với anh hai. Tôi đoán nếu mình từ chối, có lẽ sẽ bị anh ta coi là phần tử phát xít, tương lai ra sao cũng khó đoán.
Tô luôn tỏ rõ thái độ kiên quyết, nhiệt huyết tràn đầy. Trái lại, Đỗ giống như “bị ép lên Lương Sơn Bạc”, buộc phải tham gia bạo động. Anh ta vốn là phóng viên mảng tin kinh tế của một tờ báo nhỏ, nhưng vì tòa soạn của anh là một trong những tòa soạn ủng hộ bạo động bị chính quyền niêm phong, nên dẫu chẳng tội tình gì, anh ta vẫn mất việc. Cực chẳng đã, anh ta đành gia nhập đội ngũ đấu tranh, một là vì tiền tiếp tế giúp giải quyết nhu cầu tất yếu của cuộc sống, hai là nếu đấu tranh thành công, tòa soạn mở lại, anh ta sẽ được tuyển dụng lần nữa. Khi kể chuyện này với tôi, mặt anh ta buồn thiu, có lẽ chính anh cũng không tin chính quyền sẽ nhượng bộ, cho phép tòa soạn hoạt động trở lại.
Thời buổi bây giờ loạn lạc như thế đấy. Ngày ngày tôi đều thấp thỏm, sợ anh hai và mình sẽ chết vì bom nổ, hay trị an ngày một yếu kém, chính quyền sụp đổ, xã hội tê liệt, thành phố chìm trong biển lửa. Nhưng ngoài mặt vẫn phải tỉnh như không, cần mẫn dậy trông hàng cho chủ nhà, chào hỏi mấy anh hàng xóm “phe phản động”, bán nước ngọt cho mấy anh cảnh sát “phe phát xít”. Các phát thanh viên lớn tiếng chỉ trích bạo loạn gây họa cho xã hội, phá hoại an ninh, còn các tòa soạn ủng hộ bạo động lại gay gắt lên án cảnh sát quân đội Hồng Kông-Anh điên cuồng hãm hại tổ chức yêu nước. Hai bên đều tự nhận mình là chính nghĩa, dân thường đành bó tay, mặc cho cường quyền và bạo lực xô đẩy.
Trước ngày 17 tháng Tám, tôi cứ ngỡ mình sẽ tiếp tục cuộc sống bí bách này cho đến khi bạo loạn chấm dứt hoặc người Anh rút lui.
Tôi đâu ngờ, chỉ một câu nói tình cờ lọt tai lại khiến bản thân rơi vào nguy hiểm.
“Dứa sẽ không nổ trong lúc vận chuyển chứ?”
Đương lúc mơ màng, tôi bỗng nghe thấy tiếng ai đó nói. Cứ tưởng mình nằm mơ, nhưng định thần lại, tôi mới nhận ra đây là đời thực.
Tiếng nói vang lên bên kia bức vách.
Sáng nay, tủ lạnh ông Hà đặt mua đã được chuyển tới. Chúng tôi loay hoay dọn bia và nước ngọt từ tủ cũ sang, sau đó tôi dùng xe đẩy đem tủ lạnh cũ đến bán cho cửa hàng thanh lý cách đấy năm con phố. Tôi đưa tiền bán tủ cho ông Hà, ông bảo buổi chiều cứ để mình ông trông tiệm, tôi đã chạy đi chạy lại dưới trời nắng cả sáng rồi chắc cũng mệt, cứ về nghỉ ngơi. Hiếm khi ông Hà quan tâm như thế, tôi thấy từ chối cũng không tiện, ăn cơm xong liền về phòng trọ ngủ trưa.
Và tỉnh giấc vì câu nói kia.
Tôi nhìn đồng hồ báo thức, 2 giờ 10 phút chiều, tôi đã ngủ được một tiếng. Người vừa nói chắc là Tô, giọng anh ta the thé, dễ nhận ra. Nhưng rõ ràng căn phòng sát vách là của tay phóng viên thất nghiệp, sao Tô lại ở đó?
“Anh Tô, đừng oang oang lên thế, lỡ bị người ta nghe thấy thì...” Lần này mới là Đỗ thì phải.
“Vợ lão Hà ra ngoài lúc nãy. Lão Hà với hai anh em phòng bên đều đi làm, không ai nghe thấy đâu.” Tô đáp. Bình thường giờ này tôi đều đang trông tiệm hoặc đi giao hàng, riêng hôm nay lại ngẫu nhiên về sớm.
“Nghe thấy thì đã sao? Chúng ta đường đường là con cháu Trung Hoa, làm việc theo tinh thần cách mạng cao cả, không tiếc đầu rơi máu chảy, dù có thất bại, chủ nghĩa đế quốc Anh sớm muộn cũng sẽ chịu khuất phục trước chủ nghĩa xã hội vĩ đại của tổ quốc ta...” Người này nói to, tuy không thấy mặt nhưng tôi thừa sức hình dung ra một bộ dạng đầy căm phẫn. Nếu tôi nhớ không nhầm, anh ta tên Trịnh Thiên Sinh, là đồng chí của Tô Tùng. Tô từng giới thiệu chúng tôi với nhau, bảo rằng Trịnh cũng là công nhân thôi việc ở xưởng dệt.
“Trịnh, chớ nói bừa, đế quốc Anh gian xảo, chúng ta phải hành động cẩn mật, đừng chừa đường cho kẻ địch lợi dụng.” Một giọng nói tôi chưa từng nghe qua.
“Chú Trâu nói chí phải, lần hành động này nhất định thành công, không được phép thất bại.” Tô bổ sung. Tôi không biết “chú Trâu” là ai, nhưng nghe giọng điệu thì chắc là lãnh đạo của ba người kia.
“Tóm lại, Đỗ Tự Cường với Tô Tùng xuất phát từ North Point, tôi sẽ chờ ở cứ điểm này.” Chú Trâu ra lệnh. “Tập hợp rồi, chúng ta tiếp tục tiến hành theo kế hoạch, xong xuôi lập tức giải tán tại bến phà đường Jordan(89).”
“Chi tiết nhiệm vụ là gì ạ?” Giọng Tô.
“Cậu với Đỗ làm mồi nhử, tôi sẽ ra tay.”
“Chú Trâu, chú nói làm mồi nhử nghe thì đơn giản, nhưng chúng tôi vẫn chưa hiểu gì hết.”
“Đến lúc đó tùy cơ ứng biến, tình hình thực tế tôi cũng không dám chắc.” Chú Trâu đáp, “Tôi chỉ cần nửa phút, không khó lắm đâu.”
“Nhưng chúng tôi sẽ thành công nhanh chóng như thế thật sao? Số 1 đâu dễ đối phó...”
“Cậu Đỗ, cậu cứ yên tâm, tôi xác nhận mấy lần rồi, mục tiêu yếu hơn chúng ta tưởng, đó chính là điểm mù. Lũ heo sữa đâu ngờ chúng ta đi nước cờ này, đến lúc bom nổ lại há hốc mồm khiếp hãi trước trí tuệ người Hoa cho mà xem.”
Tôi giật thót, nhận ra mình vừa nghe phải một chuyện không nên nghe. Bốn người phòng bên đại khái đang lên kế hoạch đánh bom. Trời nóng nhưng tôi cứ đổ mồ hôi lạnh, không dám cựa quậy chỉ sợ cái giường cũ kĩ kêu kẽo kẹt, cũng không có gan thở mạnh, nhỡ bọn họ phát hiện ra tôi ở bên này, không biết có giết người diệt khẩu vì đại nghĩa không.
“Phần còn lại phải trông cả vào anh Trịnh rồi.” Giọng Tô nghe đã nhỏ hơn trước. Tôi đoán ban nãy họ ngồi gần vách, giờ đã dịch ra chỗ khác.
“Chủ tịch đã dạy, ‘Hạ quyết tâm, không sợ hi sinh, đẩy lùi mọi khó khăn, giành lấy thắng lợi.’ Tôi luôn ghi tạc trong lòng. Tôi nhất định hoàn thành nhiệm vụ, giáng đòn phủ đầu lên kẻ địch, kiên trì đấu tranh.”
“Trịnh, cậu yên tâm, xong việc rồi, lãnh đạo sẽ không bạc đãi cậu.”
“Khen thưởng với tôi không quan trọng. Dẫu có bị phát xít bức tử, tôi vẫn đấu tranh đến cùng.”
“Nói hay lắm, cậu Trịnh đúng là tấm gương cho đồng bào yêu nước chúng ta.”
“Nhưng...” Giờ là giọng Đỗ, “Liệu gài bom có đúng là cách hay? Lỡ làm hại đến dân thường...”
“Anh Đỗ, anh nói thế là sai rồi.” Tô ngắt lời. “Chủ nghĩa đế quốc chèn ép chúng ta như vậy, chúng ta dùng bom đáp trả chẳng qua là bần cùng bất đắc dĩ.”
Chú Trâu tán đồng, “Đúng, ăn miếng trả miếng, lũ heo sữa bắn chết đồng bào ta, vu cáo người vô tội gây thương tích trong lúc bạo loạn, bất chấp thủ đoạn đối phó với đồng chí phe ta, chúng ta dùng dứa đánh trả, còn xa mới bằng một phần mười sự tàn bạo của bọn phát xít. Chúng ta đánh bom không phải để gây thương tích cho người khác, mà chỉ muốn làm tê liệt quân đội và cảnh sát Hồng Kông-Anh, đây là chiến lược du kích vô cùng thông minh. Nếu muốn sát hại người dân, việc gì chúng ta phải thêm dòng chữ ‘Đồng bào chớ lại gần’?”
“Làm cách mạng không phải là đãi khách... Hi sinh là chuyện thường... Anh Đỗ, anh quên chỉ thị tối cao của lãnh đạo rồi sao? Nếu mất vài người dân mà đế quốc Anh chịu đầu hàng, thì sự ra đi của những người dân đó là xứng đáng. Họ không thiệt mạng vô ích, vì đã đổi máu lấy chiến thắng cho tổ quốc, cảm tử cho đồng bào!” Lần này là giọng nói sang sảng của Trịnh.
Tô tiếp lời, “Đúng đấy. Hãy nghĩ đến Thái Nam bị bắn chết, đến Từ Điền Ba bị đánh gục trong đồn cảnh sát, chúng ta mà không phản kháng, chưa biết chừng người tiêu ma tiếp theo chính là anh hoặc tôi.”
“Nhưng mà...”
“Đừng nhưng nhị nữa. Anh Đỗ, bản thân anh cũng từng lao đao vì vụ đóng cửa tòa soạn. Cầy tơ ngang nhiên xông vào tòa soạn, hành hung phóng viên, gán tội cho các anh. Chẳng lẽ anh không căm phẫn, không muốn báo thù?”
“Cậu nói cũng không sai...”
Ba người kia mỗi người một câu, vùi dập ý kiến của Đỗ.
“Tóm lại, ngày kia là đợt hành động đầu tiên.” Chú Trâu tổng kết. “Tiếng pháo thứ nhất vang lên sẽ gây hãi hùng cho quân Anh. Rồi lần hành động thứ hai, thứ ba sau ba và bốn ngày nữa sẽ khiến đế quốc Anh phải khuất phục. Quân Bồ ở Ma Cao đã nhận thua, lẽ nào ngày tàn của quân Anh còn chưa đến?”
Tháng Mười hai năm ngoái, ở Ma Cao xảy ra xung đột giữa cảnh sát và người dân, chính phủ Ma Cao-Bồ Đào Nha thi hành lệnh giới nghiêm, nhiều người Hoa thiệt mạng giữa súng đạn dẹp loạn, khiến chính phủ tỉnh Quảng Đông phải lên tiếng phản đối. Sau nhiều lần đàm phán, phía Bồ Đào Nha đành “xin lỗi, nhận tội và bồi thường” cho mọi tầng lớp người Hoa kể cả ở phía đại lục. Có lẽ đây chính là liều thuốc kích thích phe bạo động, thấy người Hoa ở Ma Cao “chống quân Bồ áp bức” thành công, họ mới tự bảo nhau ngày đế quốc Anh bại trận cũng cận kề.
“Tô Tùng! Đỗ Tự Cường! Sau hôm nay, chúng ta sẽ ngừng liên lạc cho đến ngày kia, khi bắt đầu nhiệm vụ.” Chú Trâu nói tiếp, “Lúc nào cần, chúng ta sẽ lấy phòng cậu Đỗ làm căn cứ. Nhà tôi đã bị cầy tơ để mắt, không an toàn cho lắm.”
“Chú Trâu ở gần đây, phối hợp với nhau cũng dễ.” Tô vui vẻ nói, “Chú đừng để bầy cầy tơ bám theo đến chỗ này là được.”
“Ha ha, còn lâu tôi mới sơ ý như vậy!” Chú Trâu cười vang, “Cậu tự lo cho mình đi, đừng có chọc vào chúng trước khi hành động.”
“Hừ, rồi sẽ có ngày tôi khiến chúng phải cúp đuôi mà chạy, sau đấy bắt về làm một nồi rựa mận!” Trịnh chửi toáng lên.
“Mọi người đã nắm rõ nhiệm vụ, chúng ta giải tán thôi. Công tác phí đặc biệt đây, các cậu cầm đi. Hai ngày tới ăn ngon vào, uống tí rượu cho thêm can đảm. Trịnh, vất vả cho cậu rồi.”
“Chú không ăn với bọn tôi sao?”
“Tôi đi cùng sợ liên lụy đến các cậu. Tôi về trước nhé, tốt nhất các cậu nên nán lại một lúc hẵng ra ngoài. Chẳng may bị nhìn thấy cũng có thể phủi sạch quan hệ với tôi.”
“Vâng, vâng, chào chú Trâu, ngày kia gặp lại.” Đó là giọng Tô, rồi tiếng mở cửa vọng sang.
Tôi nhẹ nhàng xuống giường, áp tai vào cửa, nghe ba thanh niên tạm biệt chú Trâu. Trên bức vách chắn giữa phòng ván gỗ và phòng khách có cửa thông gió lắp kính mờ, tôi quỳ chếch sang một bên để họ khỏi thấy bóng người qua ô kính. Ba thanh niên không về phòng Đỗ mà ngồi tán gẫu luôn ở phòng khách, bàn xem trà quán nào vừa rẻ vừa ngon, nửa tiếng sau mới ra ngoài.
Chờ họ đi hẳn rồi, tôi mới dám thở phào.
Đoán rằng mình vẫn chưa bị phát hiện, tôi rón rén mở cửa, thò đầu ra nhìn, sau khi xác nhận trong nhà chẳng còn ai, tôi chạy hộc tốc vào buồng vệ sinh. Tôi nhịn tiểu lâu lắm rồi, suýt nữa phải kiếm cái chai để giải quyết.
Trở về phòng, tôi nghĩ tới cuộc trò chuyện nghe được ban nãy. Nếu bây giờ Đỗ hoặc Tô quay lại, tôi có thể bịa là mình mới về, chắc họ sẽ không nghi ngờ. Nhưng tôi không biết phải xử lý thế nào với mấy “thông tin cơ mật” kia.
Chú Trâu nghe giọng chừng bốn, năm chục tuổi, chắc là cán bộ công đoàn. Đỗ, Tô và Trịnh chỉ ngoài hai mươi, nhiệt huyết đầy mình, phẫn nộ bất bình trước hiện trạng xã hội nhưng không có chỗ giải tỏa, đúng là loại người mà phe bạo động đang cần. Lý tưởng của họ là đúng đắn, đều xuất phát từ mong muốn đấu tranh để tiêu diệt bất công, song dùng đến bom vẫn là hành động ngu xuẩn. Chú Trâu kia ăn nói hùng hồn, nhưng theo tôi thấy, cả đám đều là tốt thí, khác gì những kẻ họ gọi là “cầy tơ” đâu.
Quyền lực là thế. Người ở địa vị cao đem lý tưởng, niềm tin và tiền bạc ra lung lạc kẻ dưới bán mạng cho mình. Nếu không sống vì mục tiêu vĩ đại, con người đều an phận cho qua ngày. Cứ thò ra một mồi nhử hấp dẫn, họ sẽ sẵn sàng làm tôi mọi cho ta. Tôi mà nói thế với Tô, hẳn anh ta sẽ phê bình tôi bị quân phát xít tẩy não, tổ chức không đời nào bỏ mặc những đồng bào yêu nước.
Nhưng tôi dám đảm bảo, mấy kẻ đóng vai trò nhỏ nhặt như họ rồi sẽ bị lãng quên. Được chim bẻ ná, được cá quên nơm là lẽ thường xưa nay chưa từng thay đổi. Giả sử cuối cùng quân Anh không rút lui, đám người gây bạo loạn bị chính quyền bắt giữ, sau này ra tù chắc sẽ được đồng đội tung hô là “chiến sĩ bất khuất”, nhưng về lâu về dài liệu có được quan tâm chăm sóc, thu xếp ổn định cuộc sống? Tôi nghi lắm. Càng nhiều người đóng vai phụ thì vai phụ càng không được coi trọng, cứ tưởng mình đánh bom một lần là đã hoàn thành nhiệm vụ vĩ đại, mà đâu biết ngoài kia có hàng trăm ngàn tử sĩ giống mình.
Trong khi quyền lực và của cải luôn nằm trong tay một nhóm thiểu số.
Tối đến, tôi chạm mặt cả Đỗ lẫn Tô. Thái độ của Tô vẫn vậy, vừa gặp đã thuyết phục tôi gia nhập “công đoàn”, nhưng Đỗ lại hơi dè dặt. Vợ chồng ông Hà không nhận thấy gì bất thường, tôi cũng không kể chuyện này với anh hai. Đúng là nói ra sẽ san sẻ bớt nỗi lo, nhưng thế thì bí mật cũng chẳng còn bí mật. Đêm đó tôi ngủ không ngon, cứ nghĩ đến kế hoạch hành động của đám kia là lòng lại bồn chồn thấp thỏm.
Hôm sau, tôi xuống làm việc dưới tiệm như bình thường. Mặc dù đã thay tủ lạnh mới, nhưng phố xá vẫn vắng hoe, người qua lại vẫn thưa thớt, khách mua hàng tất nhiên chỉ lèo tèo. Ông Hà ngồi sau quầy đọc báo, tôi thì ngồi cạnh cửa, vừa phe phẩy quạt vừa nghe radio. Phát thanh viên hôm nay lại lớn tiếng mắng phe bạo động làm đảo lộn trật tự xã hội, là hạng người “vô sỉ bất lương, hạ lưu bỉ ổi”, giọng điệu vừa hóm hỉnh vừa sâu cay, phát huy hết khả năng trào phúng. Tôi cười vu vơ, nhưng đám nổi loạn chắc đang khó chịu lắm.
Khoảng 11 giờ, một người đàn ông đi tới. Trông anh ta quen quen, tôi nghĩ mãi mới nhận ra đây là Trịnh Thiên Sinh, đồng nghiệp của Tô, người có mặt trong “cuộc họp” hôm qua.
Anh ta đặt bốn hào lên quầy, “Một chai coca.”
Tôi mở tủ lạnh lấy coca cho anh ta, thu tiền rồi quay về ghế vờ đọc báo. Mười phút trước, ông Hà nói có chút việc phải ra ngoài, chỉ còn mình tôi trông hàng. Tôi cầm tờ báo ông bỏ lại, mắt liếc Trịnh, tự nhủ có phải anh ta đến tìm Tô. Trịnh đứng trước tiệm, tay trái đút túi quần, người dựa vào tủ lạnh uống coca, mắt hướng về góc phố, bộ dạng nhàn tản. Lạy anh, anh mau uống xong rồi đi đi cho tôi nhờ. Sắp đến giờ anh Ba với anh Bảy tuần tra qua đây, nào ai biết tay này có sinh sự với họ không.
Ý nghĩ đó còn chưa biến mất, bóng dáng hai cảnh sát đã hiện lên trong tầm mắt. Như mọi ngày, họ chậm rãi sóng đôi qua tiệm mì, hiệu thuốc và hàng may nơi góc phố, đến trước Tạp hóa Hà Hi.
“Phiền cậu cho một chai coca và một chai cola(90).” Anh Bảy nói. Như mọi lần, anh đưa ba hào, trả phần của mình.
Tôi lấy trong tủ lạnh hai chai nước ngọt đưa cho họ. Hai người vừa uống vừa nói chuyện, không hề hay biết tôi phát sốt phát rét trước hoàn cảnh hiện tại, bởi kẻ đánh bom cũng đang nhâm nhi nước ngọt ngay bên cạnh họ.
“Sau đây là bản tin 11 giờ.” Radio vang lên giọng đọc ngọt ngào của nữ phát thanh viên. “Phát hiện bom tại tòa án vịnh Causeway, cảnh sát đã phong tỏa đoạn đường, nghiêm cấm các phương tiện và người dân qua lại. 10 giờ 15 phút sáng nay, một nhân viên tòa án thấy trước cổng có vật phẩm khả nghi nên đã báo cảnh sát, hiện đang xử lý, chưa biết là bom thật hay giả.”
Trịnh hơi nhếch mép. Không phải anh ta làm chứ?
“Tin tiếp theo. Rạng sáng nay, tướng Fletcher(91) phó tham mưu Không quân Hoàng gia Anh đã đến Hồng Kông, bắt đầu chuyến thăm kéo dài năm ngày. Buổi chiều ông hội đàm với thống đốc Hồng Kông. Dự kiến ngày mai ông sẽ đến căn cứ Không quân Hoàng gia để thăm hỏi binh lính và dự buổi dạ tiệc do quân đội và cảnh sát Hồng Kông-Anh đồng tổ chức. Tướng Fletcher bày tỏ, ông tán thành ý kiến của trung tướng Carver(92) tổng tư lệnh quân đội Anh tại Viễn Đông, người ghé thăm Hồng Kông mới đây, rằng có ba phòng tuyến quan trọng để duy trì sự ổn định trên mảnh đất này. Thứ nhất là nhân dân Hồng Kông, thứ hai là cảnh sát và thứ ba là quân đội Anh. Nếu cần thiết, quân đội Anh sẽ hỗ trợ chính quyền...”
“Hừ! Lũ heo sữa chết giẫm!”
Vừa nghe lọt tai, tôi tức khắc nổi da gà, hoảng hốt ngẩng đầu nhìn Trịnh. Khuôn mặt anh ta đầy vẻ khinh miệt, chai coca trong tay chỉ còn non nửa.
Anh Ba với anh Bảy đứng ngay gần đó, trợn tròn mắt nhìn.
“Ê, cậu vừa nói gì?” Anh Ba quát.
“Tôi nói gì không phải sao?” Trịnh chẳng buồn quay đầu, tiếp tục uống coca.
“Tôi vừa nghe cậu chửi heo sữa.” Anh Ba lại nói.
“Ồ, tôi thấy màu da anh khá đậm, hóa ra cũng là heo sữa à?” Trịnh không nhân nhượng, quay sang đấu võ mồm với anh Ba.
Dở hơi rồi, tôi nghĩ.
“Buông chai nước xuống, đứng sát tường!”
“Tôi vi phạm điều luật gì? Dựa vào đâu mà anh ra lệnh cho tôi?”
“Tôi thấy cậu du thủ du thực, nghi ngờ tàng trữ vũ khí hoặc vật phẩm cháy nổ nên muốn khám người!”
Trịnh không những không sợ mà còn rủa xả, “Mới nghe người ta chửi một câu đã chuyện bé xé ra to, đúng là đồ cầy tơ!”
“Lũ phản động chết tiệt, có gan nói lại lần nữa xem!”
“Cầy tơ!”
Nhanh như cắt, anh Ba rút dùi cui vung thẳng vào mặt Trịnh. Chai coca trong tay Trịnh văng ra, rơi xuống sàn vỡ tan tành, mảnh thủy tinh vãi tứ tung trên đất. Cả người anh ta chao về bên phải, anh Ba lia dùi cui lần nữa, vụt mạnh vào ngực Trịnh.
Trịnh mất thăng bằng, tay trái rút khỏi túi quần như muốn túm lấy cổ áo anh Ba. Lúc này, tôi lại bị phân tâm bởi thứ khác. Một mảnh giấy nhỏ bằng bàn tay rơi ra từ túi quần Trịnh, đáp xuống ngay bên chân tôi. Theo bản năng, tôi cúi mình nhặt lên. Nhưng vừa liếc qua chữ viết trên đó, tôi giật mình nhận ra không nên xen vào việc người khác, bèn vội vàng đưa lại cho cảnh sát.
Cũng may người nhận mảnh giấy là anh Bảy, chứ nếu là anh Ba, có lẽ tôi đã bị coi là đồng đảng của Trịnh, bắt luôn về đồn cảnh sát mà không cần nghe giải thích.
Anh Bảy đọc một lượt, nhíu mày, nói nhỏ vài câu với anh Ba vẫn đang bận đánh người, rồi chìa mảnh giấy ra. Mặt anh Ba thoắt biến sắc.
“Điện thoại đâu?” Anh Ba dừng tay, căng thẳng hỏi. Tôi trỏ điện thoại treo trên tường.
Anh Ba còng tay Trịnh mặt be bét máu, bảo anh Bảy trông hộ. Anh ta nhấc ống nghe lên quay số, nói vài câu rồi cúp máy. Một lát sau xe đến, mấy cảnh sát a lô xô nhảy xuống, áp giải Trịnh lên xe. Anh Ba với anh Bảy cũng đi luôn.
Giữa lúc rối ren, chủ tớ mấy cửa hàng lân cận đều thò đầu ra nhìn. Tôi không nghĩ là họ hiếu kì, chẳng qua sợ có bom nên phải xem để biết có cần bỏ chạy hay không. Xe cảnh sát rời đi, hiện trường yên tĩnh trở lại. Dọn dẹp đống thủy tinh vỡ xong, tôi tiếp tục trông quán. Lúc ông Hà về, tôi chỉ báo sơ sơ là cảnh sát bắt một người đàn ông phát ngôn động chạm, làm vỡ một chai nước(93). Ông Hà than thở, “Thời buổi này tốt nhất đừng nói lung tung, cứng đầu cứng cổ chỉ tổ rước thêm phiền phức, im lặng mới là vàng...”
Có thật thế không? Biết đâu vì cứ im im nên cuối cùng lại bị hại chết?
Tôi nhận ra mình đã biết quá nhiều.
Mảnh giấy Trịnh đánh rơi ban nãy, tôi chỉ liếc qua nhưng vẫn nhớ khá rõ. Thì ra trí nhớ tốt đôi lúc cũng không phải ưu điểm. Nội dung trên đó là thế này:
18/8
X. 10:00 am Tòa án vịnh Causeway (thật)
19/8
1.10:30 am Kí túc xá cảnh sát Tiêm Sa Chùy (giả)
2. 01:40 pm Tòa án Trung ương (giả)
3. 04:00 pm Tòa nhà Murray (thật)
4. 05:00 pm Ga tàu hỏa Sa Điền (thật)
Buổi chiều, đài phát thanh đưa tin về vụ đặt bom ở tòa án vịnh Causeway đường Electric. Quân đội Anh cử chuyên gia gỡ bom đến, xác nhận quả bom có khả năng gây sát thương, là “dứa thật”.
Trùng khớp với nội dung trong mảnh giấy của Trịnh.
Ngày giờ và địa điểm trên giấy đều đúng với thực tế, chữ “thật” có lẽ để chỉ bom nổ được. Mặc dù không rõ ý nghĩa của “X”, nhưng ai đọc cũng sẽ suy ra rằng mảnh giấy này chính là chỉ thị phân công nhiệm vụ của phần tử bạo động.
Quả bom đặt ở tòa án vịnh Causeway lúc 10 giờ sáng nay là thật. Ngày mai, phe bạo động sẽ gài bom tại kí túc xá cảnh sát ở Tiêm Sa Chủy, Tòa án Trung ương trên đường Arbuthnot, ga tàu hỏa Sa Điền và tòa nhà chính phủ Murray ở Trung Hoàn. Dù anh Bảy và anh Ba bận đi tuần không nhận được thông báo về quả bom tại vịnh Causeway, hẳn họ cũng đã nghe tin trên radio, nên khi nhìn thấy mảnh giấy, anh Bảy liền hiểu ngay Trịnh có liên quan đến vụ này.
Chưa chắc Trịnh tự tay đặt bom ở vịnh Causeway, nhưng mảnh giấy trên người đã chứng minh anh ta quen biết thủ phạm. Giả như trước đây, mảnh giấy này chẳng nói lên điều gì, vì nó không hề ghi mấy từ then chốt như “bom” hay “tấn công”, Trịnh có thể cãi phăng rằng chỉ là trùng hợp. Nhưng hiện đang thực thi pháp lệnh tình trạng khẩn cấp, kể cả không có ngày giờ cụ thể, riêng cụm từ “Tòa án vịnh Causeway” cũng đủ để cảnh sát vin vào tra khảo đến cùng.
Anh Bảy với anh Ba căng thẳng như vậy hẳn nhiên là vì bốn dòng chữ phía dưới. Biết trước địa điểm tấn công thì có thể giăng thiên la địa võng, ôm cây đợi thỏ.
Nhưng tôi lại thấy có điều không đúng.
Bốn mục tiêu đánh bom đều là các địa điểm dòm ngó của phe bạo động. Kí túc xá cảnh sát là nơi ở của “cầy tơ”, Tòa án Trung ương là tòa án vô liêm sỉ và bất công, tòa nhà Murray là văn phòng của “heo sữa”. Ga tàu hỏa Sa Điền không phải cơ quan chính phủ, nhưng phù hợp với tiêu chí “càng loạn càng tốt”. Nhà ga đông người, tin đánh bom sẽ gây ra hỗn độn, làm giảm uy tín của giới cầm quyền.
Tuy vậy, có một nguyên nhân khiến tôi thấy bất hợp lý.
Trong cuộc họp hôm qua, chú Trâu đã dặn “xong xuôi lập tức giải tán tại bến phà đường Jordan”.
Mảnh giấy không có chữ “bến phà” nào cả.
10 giờ sáng thứ Bảy ngày 19 tháng Tám, tôi ngáp liên mồm, mắt lim dim đếm hàng tồn. Đêm qua tôi gặp ác mộng suốt, choàng tỉnh tận mấy lần. Dù nói sẽ không dính líu gì đến anh Đỗ và anh Tô, nhưng tôi vẫn thấy không dây vào không được.
Tối qua về tới nhà, tôi liên tục để ý hai anh hàng xóm xem phản ứng của họ thế nào khi biết tin Trịnh bị bắt. Tô vẫn thản nhiên như thường, Đỗ thì đứng ngồi không yên. 9 giờ sáng nay, trong lúc phụ việc ở cửa hàng, tôi thấy họ cùng nhau ra ngoài, Tô còn chủ động chào tôi. Tôi cố soi xem họ có xách theo túi đồ khả nghi nào không, nhưng tay họ trống trơn, xem ra không mang bom bên người.
Tôi lơ đãng đếm cho xong hàng rồi ra đằng trước trông tiệm cho ông Hà. Ông nói hẹn bạn cũ đi uống trà, khoảng 12 giờ trưa sẽ về.
Tôi ngó chòng chọc đồng hồ treo tường, ngẫm nghĩ về nội dung mảnh giấy.
Còn mười phút nữa là đến 10 rưỡi. Liệu cảnh sát có đang phục kích ở kí túc xá cảnh sát Tiêm Sa Chủy không? Giả sử Tô hoặc Đỗ đi đặt bom thật, liệu họ có nhận ra cái bẫy và kịp thời dừng hành động? Cũng có thể hay tin Trịnh bị bắt, lãnh đạo công đoàn đã tạm thời đổi kế hoạch?
Hồi sáng anh hai nói, buổi chiều anh hẹn khách đi xem đất ở Tân Giới, nếu thuận lợi sẽ kiếm được một khoản kha khá. Tối anh ngủ lại nhà bạn, bảo tôi không cần đợi. Trong mảnh giấy của Trịnh có ghi sẽ đặt bom thật ở ga tàu hỏa Sa Điền, nhưng tôi không muốn kể về việc hôm qua, nên chỉ dặn anh đừng đi xe lửa vì độ này hay có “dứa” ở bến bãi và trên phương tiện giao thông công cộng, phải cẩn thận một chút.
“Khách của anh có xe riêng, chú không phải lo,” anh cười lớn.
Tôi mở radio, chăm chú nghe thời sự. Nhưng bản tin không đề cập tới bom, chỉ xoay quanh việc phó tham mưu Không quân Anh đến thăm Hồng Kông, và tin tức mới nhất về vụ phóng viên Grey(94) của Anh bị giam lỏng tại Bắc Kinh. Hơn 11 giờ, anh Bảy xuất hiện, cảnh phục chỉnh tề, mua một chai nước ngọt.
Tôi đưa chai nước cho anh, cân nhắc một hồi rồi ra quyết định.
“Hôm nay có mình anh thôi à?” Tôi chưa xác định được có nên bắt chuyện với cảnh sát trong tình hình này không, nhưng chí ít vắng anh Ba, anh Bảy sẽ không bắt bớ vô cớ.
Thái độ của anh Bảy vẫn thế, trả lời ngắn gọn, “Ừ, thiếu người, hôm nay chỉ mình tôi đi tuần.”
“Các anh... canh phòng kí túc xá cảnh sát Tiêm Sa Chủy sao?” Tôi thận trọng hỏi.
Anh Bảy đặt chai nước xuống, nhìn sang. Tôi thoáng lo lắng, nhưng trông vẻ mặt anh, tôi nghĩ anh không bất ngờ gì lắm.
“Quả nhiên là cậu đã trông thấy.” Dứt lời, anh Bảy lại uống nước, chẳng hề để tâm tới câu tôi vừa nói. Tôi không nhìn nhầm người, anh thân thiện hơn anh Ba nhiều. Chứ nếu là anh Ba, chắc anh ta đã hung hăng quát thét và đối xử với tôi như với “bọn phản động chết giẫm”.
Tôi đánh bạo nói, “Tôi... tôi đã trông thấy nội dung viết trên mảnh giấy. Với cả tôi biết người đó.”
“Ồ?”
“Anh ta tên Trịnh Thiên Sinh, vốn là công nhân xưởng dệt, sau bãi công hưởng ứng công đoàn, gia nhập mấy tổ chức.”
“Cậu cũng là người trong tổ chức à?” Giọng điệu anh Bảy vẫn không đổi, nhưng lại làm tôi rờn rợn.
“Không, không phải. Tôi không có quan hệ gì với họ, chẳng qua anh ta là bạn của hàng xóm cùng trọ với tôi. Trước đây tôi từng gặp anh ta mấy lần.”
“Ra vậy. Nên cậu có tin muốn báo với tôi phải không?”
“Vâng...” Tôi ấp a ấp úng, không biết phải nói thế nào mới không mạo phạm người ta. “Hôm kia tôi tình cờ nghe thấy Trịnh bàn kế hoạch tấn công với đông bọn.”
“Hôm kia? Sao cậu không báo ngay với cảnh sát?”
Thôi xong, hình như anh ấy muốn đổ tội lên đầu tôi.
“Tô... tôi không dám chắc. Hôm ấy tôi đang mơ màng giấc trưa thì vô tình nghe lõm bõm mấy câu. Nếu không phải vì hôm qua liếc được mảnh giấy, lại còn biết tin có bom tại tòa án vịnh Causeway, tôi đã không dám khẳng định chuyện mình nghe là thật.”
“Cậu nghe thấy những gì?”
Tôi tóm tắt một lượt, không quên lược bỏ phần “heo sữa” với “cầy tơ”, sau đấy kể qua về bản thân và chỗ ở của mình.
“Tức là ‘chú Trâu’, phóng viên Đỗ Tự Cường và công nhân Tô Tùng có dính dáng đến vụ việc? Được rồi, tôi sẽ báo cho ban loong toong(95) biết để đi bắt nghi phạm.” Nói xong, anh Bảy lấy bút ra ghi lại mấy cái tên. “Trước đây tôi có gặp anh phóng viên vài lần, nhưng Trâu với Tô là ai thì, không hề có ấn tượng...”
“Anh cảnh sát, anh nhầm rồi. Tôi báo cáo không phải để tố giác họ.” Tôi lắc đầu. “Anh không thấy chuyện này có gì kì lạ sao?”
“Kì lạ?”
“Tôi nghe họ nhắc đến ‘bến phà đường Jordan’, nhưng trên mảnh giấy lại không có.”
“Mảnh giấy viết những gì?”
“Tòa án vịnh Causeway, kí túc xá cảnh sát Tiêm Sa Chủy, Tòa án Trung ương, tòa nhà Murray và ga tàu hỏa Sa Điền.”
“Trí nhớ của cậu tốt nhỉ.” Giọng anh Bảy pha chút giễu cợt. Lẽ nào anh nghi ngờ tôi là đồng đảng của Trịnh, đang giăng bẫy lừa anh ấy?
“Bình thường đi giao hàng thay ông Hà, tôi đều phải nhớ bốn, năm địa chỉ, cho nên nhìn là nhớ ngay.” Tôi giải thích.
“Cậu cho rang danh sách không có địa điểm nào liên quan đến ‘bến phà’ là kì lạ?”
“Đúng vậy.”
“Nếu đặt bom đúng theo danh sách này, thủ phạm buộc phải đi thuyền, đương nhiên sẽ liên quan đến bến phà.” Anh Bảy ung dung giải thích. “Tô và Đỗ sống cùng nhà với cậu, Tô lại nói chú Trâu ‘ở gần đây’, họ muốn đến Tiêm Sa Chủy ở Cửu Long để đặt ‘dứa giả’ thì phải đi phà qua biển. Nếu đối chiếu với thời gian và địa điểm trong danh sách, họ cần qua lại đảo Hồng Kông và bán đảo Cửu Long hai lần, bởi vì sau khi đặt bom ở Tiêm Sa Chủy, họ còn về Trung Hoàn để ra tay tại Tòa án Trung ương và tòa nhà Murray, rồi lặn lội sang ga tàu hỏa Sa Điền ở Tân Giới.”
“Không thể có chuyện đó.”
“Không thể?”
“Anh nhớ thời gian ghi trong danh sách chứ?” Tôi hỏi.
“Nhớ. Thì sao?”
“Thời gian hành động tại tòa nhà Murray ở Trung Hoàn là 4 giờ chiều, ở ga tàu hỏa Sa Điền là 5 giờ, trong một tiếng làm sao chạy từ Trung Hoàn đến Sa Điền? Riêng đi phà đã mất nửa tiếng rồi.”
“Vậy thì có khi đấy không phải thời gian hành động mà là thời gian phát nổ.” Anh Bảy phản bác. “Bom nổ lúc 4 giờ, nhỡ đâu được đặt từ 2 giờ? Theo danh sách, địa điểm trước Murray là Tòa án Trung ương, hai nơi cách nhau chỉ mười phút đi xe.”
“Không đúng. Đó chắc chắn là thời gian hành động.”
“Tại sao cậu cam đoan như vậy?”
“Bởi vì quả bom ở tòa án vịnh Causeway hôm qua không nổ lúc 10 giờ.”
Anh Bảy im lặng cúi đầu, dường như đang suy ngẫm lời tôi. Trên giấy ghi “10:00 am Tòa án vịnh Causeway (thật)”. Nếu đây là “thời gian phát nổ”, không đời nào đến 10 giờ 15 phút nhân viên mới phát hiện ra quả bom. Vả lại, trên danh sách có hai địa điểm chú thích là “giả”, mà bom giả thì làm gì có thời gian phát nổ.
“Vậy là,” anh Bảy ngẩng đầu nhìn tôi. “Cậu cho rằng Đỗ, Tô, Trịnh và chú Trâu định chia nhau ra hành động?”
“Không phải. Họ có bốn người, mỗi người phụ trách một quả bom đúng là hợp lý, nhưng tôi thấy Tô và chú Trâu có bàn tới ‘chi tiết nhiệm vụ’, nên chắc là họ sẽ cùng hành động.”
“Suy ra họ còn đồng bọn khác.”
“Cũng có khả năng, nhưng tôi vẫn chưa hiểu một chuyện.”
“Chuyện gì?”
“Hôm nay là thứ Bảy, cơ quan chính phủ chỉ làm việc buổi sáng.” Tôi trỏ tờ lịch treo tường. “Tại sao lại đặt bom buổi chiều? Mức độ mạo hiểm tương đương, cố nhiên phải chọn phương án hữu ích nhất. Họ muốn tấn công quan chức chính phủ thì nên chọn từ thứ Hai đến thứ Sáu, hoặc là sáng thứ Bảy, như thế hiệu quả mới rõ rệt.”
Anh Bảy tỏ ra hơi ngạc nhiên. Dạo gần đây cảnh sát không có ngày nghỉ, bận tối tăm mặt mũi, chắc cũng quên luôn ngày tháng.
“Tóm lại là cậu nghĩ sao?” Anh Bảy hỏi, vẻ nghiêm túc hơn, như thể đã nhận thấy lời tôi có lý.
“Tôi nghi tờ danh sách đó là giả.”
“Giả?”
“Trịnh là mồi nhử để đánh lạc hướng cảnh sát.” Tôi suy luận, “Anh ta biết ngày nào các anh cũng qua đây vào giờ này, nên cố tình phát ngôn phản động trước mặt các anh, rồi để lộ mảnh giấy ghi thông tin giả.”
“Nếu đúng thế, thì mục đích của họ là gì?”
“Dĩ nhiên là để che giấu mục tiêu thực sự rồi. Nếu hôm nay cảnh sát và chuyên gia gỡ bom đều canh phòng ở các địa điểm ghi trong danh sách, công tác liên lạc và điều động nhân lực sẽ khó khăn hơn thường ngày, chưa kể lơi lỏng đề phòng những nơi khác. Lần này, phe bạo động không ghi lời cảnh báo lộ liễu cạnh bom đâu, mà muốn đánh bom để gây hoang mang cao độ. Chú Trâu an ủi Trịnh là ‘vất vả cho cậu rồi,’ nghe giọng Trịnh dường như đã chuẩn bị tâm lý chịu thiệt thòi. Tô cũng bảo ‘phần còn lại’ phải trông chờ vào anh Trịnh. Tôi nghĩ, đây là khổ nhục kế kiêm điệu hổ ly sơn, hi sinh một đồng chí để đổi lấy thắng lợi toàn cục.”
Anh Bảy sa sầm mặt mũi, trầm ngâm một hồi rồi đến bên máy điện thoại, nhấc ống nghe lên.
“Khoan đã!” Tôi gọi lớn.
“Sao?” Anh ngoái đầu lại.
“Anh định gọi điện báo cấp trên à?”
“Còn phải hỏi?”
“Nhưng điều chúng ta vừa nói chỉ là suy đoán.”
Anh Bảy đặt ngón trỏ lên bàn quay số.
Tôi can ngăn, “Giờ anh báo cáo, cấp trên sẽ điều phối lại nhân lực, chẳng may suy đoán trật lất, tòa nhà Murray và ga tàu hỏa Sa Điền nổ tung thật thì anh nguy to. Chính tôi còn không dám khẳng định mình suy luận chính xác đây.”
Chắc thấy tôi nói đúng, anh Bảy mới nhăn nhó đặt ống nghe xuống.
“Cậu có đề xuất gì không?” Anh hỏi.
“Ừm... tìm bằng chứng trước đã.” Tôi chỉ lên trên, “Họ từng nói lấy phòng Đỗ làm căn cứ, chưa biết chừng sẽ để lại manh mối. Dù sao đây cũng là nhà tôi, anh vào lục soát lỡ gặp người khác vẫn có thể nói là tôi mời anh đến chơi.”
“Tôi không thuộc ban loong toong, điều tra thu thập chứng cứ không phải chức trách của t...”
“Nhưng mà anh là cảnh sát! Chẳng lẽ lại để mình tôi làm trinh sát?” Tôi vặn lại. Tay này đúng là suy nghĩ máy móc.
Anh Bảy im lặng hồi lâu rồi nói, “Thôi được. Đi cầu thang bên này đúng không?”
“Anh mặc cảnh phục thế kia, nhìn kiểu gì cũng thấy là người đang thi hành công vụ, giờ mà lên là đánh động ngay!” Tôi lớn tiếng nhắc nhở. “Tôi đang trông tiệm, không đi đâu được. Ông Hà cũng nói khoảng 12 giờ sẽ về.”
Anh Bảy liếc đồng hồ treo tường, “12 rưỡi tôi tan ca, thay thường phục rồi sẽ quay lại. 1 giờ đợi nhau ở góc phố, sau đấy cậu dẫn tôi lên, được chứ?”
“Được. Tốt nhất anh nên đội mũ, đề phòng chạm trán Đỗ hay Tô. Tôi sợ họ nhận ra anh.”
Anh Bảy tuần tra mỗi ngày, không ít người dân trên phố đều biết mặt.
“Tôi sẽ cố gắng nghĩ cách.” Anh gật đầu.
“Nhớ đổi giày đấy.” Tôi dặn thêm.
“Giày?”
“Giày da đen của cảnh sát bắt mắt quá, kể cả thay đổi trang phục và diện mạo, nhìn giày một cái là nhận ra ngay.”
Cảnh sát đều đi giày da cùng kiểu, vì thường xuyên phải luyện bước đều nên giày được thiết kế đặc biệt, khác với các loại giày da thông thường.
“Được rồi, tôi sẽ chú ý.” Anh Bảy cười thích thú. Ai mà ngờ tôi lại ra lệnh cho anh ấy như cấp trên.
Anh Bảy đi chưa bao lâu thì ông Hà quay về. Tôi nói buổi chiều có chút việc riêng, ông liền cho tôi nghi nửa ngày mà không hỏi gì thêm. Đúng 1 giờ, tôi ra hiệu thuốc góc phố, không thấy anh Bảy đâu. Một thanh niên trông như nhân viên văn phòng đột ngột tiến đến trước mặt tôi, tỏ ý muốn bắt chuyện.
“A!” Tôi trừng mắt nhìn, mấy giây sau mới ngớ ra là anh Bảy. Anh mặc áo sơ mi trắng ngắn tay, thắt cà vạt, túi áo ngực gài cây bút, tay phải cầm cặp công sở đen, hệt như nhân viên công ty nước ngoài vừa tan ca trưa thứ Bảy.
Ấn tượng nhất là khuôn mặt, anh đeo kính, dùng keo vuốt tóc rẽ ngôi 3:7, so với ngày thường cứ như hai người khác nhau.
“Đi thôi.” Anh Bảy rõ là hài lòng trước vẻ ngỡ ngàng của tôi. Lúc chúng tôi đi qua tiệm, ông Hà còn hỏi, “Bạn cậu à?” Tôi thoáng thấy anh Bảy khẽ nhếch mép cười.
Tôi e dè rnở cửa lớn, đề phòng đụng phải Tô hoặc Đỗ, cũng may phòng khách không có ai. Họ ra ngoài từ sáng, về nhà thì phải đi qua tiệm, nhưng tôi vẫn có thể bỏ sót lắm chứ. Tôi rón rén đến cửa phòng họ, nghe ngóng cẩn thận, vào cả nhà bếp và buồng vệ sinh, xác nhận không có ai rồi mới ra hiệu cho anh Bảy tiến vào.
Phòng ván gỗ không có khóa, quá tiện cho chúng tôi. Tôi nhẹ nhàng đẩy cửa phòng Đỗ, bên trong không khác gì mọi khi. Bởi phòng không khóa nên chúng tôi bỏ đồ đạc quý giá vào ngăn kéo có khóa, nhưng nói thật, đám nghèo kiết xác bọn tôi lấy đâu ra “đồ đạc quý giá”, tên trộm nào mà nhắm vào đây thì đúng là dại không ai bằng.
Tôi nhìn ngang ngó dọc, vừa quan sát từng góc vừa kháy anh Bảy, “Tôi tưởng anh sẽ phản đối lục soát phi pháp cơ.”
“Trong thời gian thực thi pháp lệnh tình trạng khẩn cấp, cảnh sát có thể chủ động lục soát nơi ở của mọi đối tượng khả nghi. Việc này không phải chức trách của tôi, nhưng tôi có quyền làm vậy.” Anh Bảy dửng dưng đáp, xem chừng không hề nhận ra tôi đang châm chọc.
Phòng Đỗ chẳng có mấy đồ đạc, chỉ có giường, bàn viết, hai ghế gỗ và một tủ ngăn kéo. Giường đặt sát bức tường bên phải cửa ra vào, vừa hay lại liền kề phòng tôi. Tủ ngăn kéo nằm ở đầu giường, bàn viết và ghế gỗ kê bên trái phòng, trên tường có vài cái móc treo hai chiếc sơ mi. Đám nghèo khó chúng tôi chỉ có một móc Âu phục(96), chẳng dùng gì đến tủ quần áo, đương nhiên trong phòng không bày món đồ nội thất ấy.
Bàn viết và tủ ngăn kéo chất đầy sách vở cùng vài quyển sổ tay, chắc là tài liệu hồi làm phóng viên. Trên bàn viết còn để đèn bàn, hộp bút, bình nước nóng, một cái cốc và một hộp thiếc đựng đồ linh tinh. Trên tủ ngăn kéo là radio và đồng hồ báo thức, ngăn thứ nhất có lỗ khóa, tôi kéo thử thì thấy nó đã bị khóa chặt.
“Để tôi xem có mở được không.” Anh Bảy nói.
Tôi lùi lại hai bước, “Tôi đoán bên trong chẳng có gì giá trị đâu.”
“Tại sao? Ngăn kéo này có khóa mà?”
“Đỗ có thể cất đồ quan trọng vào đấy, nhưng chú Trâu kia thì không.” Tôi vừa nói vừa quỳ xuống sàn, cúi đầu nhìn gầm giường. “Giả sử những suy luận lúc trước là đúng, việc Trịnh bị bắt chỉ là trò lừa của phe phản động, thì kẻ nghĩ ra kế này sẽ không bỏ đồ đạc quan trọng vào ngăn kéo rồi khóa lại, vì như thế quá lộ liễu. Lỡ Đỗ bị chú ý, cảnh sát đến lục soát, ngăn kéo sẽ là mục tiêu đầu tiên. Tôi đoán bên trong cùng lắm là tờ rơi mang tính đả kích hoặc đại loại thế thôi, còn lâu mới có manh mối về bom đạn. Cảnh sát tìm được tờ rơi là đủ lý do để khởi tố tội phạm, họ sẽ không bới móc nữa.”
Anh Bảy dừng tay, gật đầu, “Có lý. Để tôi tìm ở sách vở và sổ ghi xem.”
Tôi kiểm tra gầm giường, ván giường, chẳng thấy gì khả nghi. Anh Bảy lật giở từng quyển sách, tôi hỏi có phát hiện được gì không, anh lắc đầu. Tôi mở mấy ngăn kéo không khóa, ngoài đống đồ lặt vặt và quần lót cũ nát ra thì chẳng có gì.
“Khi nghe họ bàn bạc, cậu có để ý điểm nào đặc biệt không?” Anh Bảy hỏi.
Tôi cố nhớ lại từng chi tiết.
“Tóm lại, Đỗ với Tô xuất phát từ North Point, tôi sẽ chờ ở cứ điểm này.” Chú Trâu đã nói như thế. Một ý nghĩ nảy ra trong đầu, tôi hét lớn, “A! Là bản đồ!”
“Bản đồ?”
“Chú Trâu nói sẽ đợi Tô và Đỗ ở ‘cứ điểm này’. Lúc ấy tôi tưởng ông ta nói đến căn phòng này, giờ nghĩ kĩ mới thấy không logic. Nếu là phòng thì phải là nhóm Đỗ chờ ông ta, chứ không phải ông ta chờ bọn họ! Cả tôi và vợ chồng chủ nhà đều chưa từng gặp chú Trâu, Tô và Đỗ đâu thể để khách lạ ở lại phòng. Cho nên lúc đó họ đang xem bản đồ, chú Trâu vừa nói vừa chỉ vào vị trí nào đấy.”
“Nói cách khác, chi tiết kế hoạch được ghi trên bản đồ.” Anh Bảy gật gù đồng tình. “Có điều, bản đồ ở đâu? Tôi lật hết đống sách vở rồi mà không thấy.”
Tôi ngẫm kĩ từng câu trong cuộc hội ý, nhưng không tìm ra thêm manh mối nào.
“Không có, tôi không... A!” Đang định rời khỏi giường, tôi bỗng nhớ đến một chi tiết. Phòng có hai ghế bốn người, hiển nhiên hai người sẽ phải ngồi trên giường. Sau khi Tô bàn với chú Trâu về việc “làm mồi nhử”, giọng anh ta chợt nhỏ đi. Nếu bấy giờ anh ta cầm bản đồ, bàn bạc xong rồi đem giấu, vậy thì giọng nói nhỏ dần chứng tỏ anh ta đã rời khỏi chiếc giường kê sát phòng tôi.
Mé bên kia căn phòng chính là bàn viết.
Tôi ra ngồi xổm trước bàn viết, xem xét tỉ mẩn nhưng không tìm được gì dưới gầm bàn. Tôi chuyển sang săm soi khe hở giữa bàn và tường, vẫn vô ích. Tôi tưởng mình đã nhầm, đang định tìm chỗ khác thì để ý thấy đế đèn bàn hơi to. Tôi nhấc nó lên, dùng ngón trỏ cạy thử phần đáy, “cạch” một tiếng, nắp tròn rơi xuống, trong đế đèn nhét một tấm bản đồ gấp gọn gàng.
Anh Bảy tròn mắt, phấn khích nói, “Ồ! Cậu được đấy!”
Chúng tôi trải bản đồ ra bàn. Đây là bản đồ Hồng Kông, vài địa điểm được đánh dấu bằng bút chì, đôi chỗ còn ghi thêm số. Ở vị trí tòa án vịnh Causeway có dấu “X”, bên cạnh viết “10:00 am 18/8”. Kí túc xá cảnh sát Tiêm Sa Chủy, Tòa án Trung ương, tòa nhà Murray và ga tàu hỏa Sa Điền lần lượt đánh số từ 1 đến 4, không có ngày giờ viết kèm. Nút giao giữa phố Jubilee và đường Des Voeux gần bến phà Thống Nhất(97) ở Trung Hoàn được khoanh tròn, có chua “Thứ nhất, 11:00 am 19/8”. Bến phà đường Jordan ở Du Ma Địa cũng được khoanh tròn.
Tôi nhớ đám Tô Đỗ từng nhắc đến North Point, nhưng trên bản đồ không có kí hiệu nào rõ ràng, chỉ thấy vài vết chọc bút chì ở phố Thanh Hoa gần đó. Một đường thẳng nối bến phà Thống Nhất với bến phà đường Jordan, bên trên cũng có dấu “X”. Ngoài những điểm kể trên, không còn kí hiệu hay ghi chú nào khác.
Anh Bảy lấm bẩm, “Bản đồ này đủ làm bằng chứng để hốt cả đám rồi...”
“Nhưng bây giờ phát lệnh truy nã cũng không ngăn được kế hoạch của họ.” Tôi trỏ chỗ khoanh Trung Hoàn, “Trên này viết 11 giờ sáng ngày 19 tháng Tám, tức là hai tiếng trước, chắc họ đã hành động rồi. Đỗ từng nhắc đến ‘số 1’, có khi nào mục tiêu là đường Des Voeux không? Ở đây viết Thứ nhất’ mà.”
“Không đúng.” Anh Bảy phủ định. “Giao giữa phố Jubilee và đường Des Voeux là Đệ Nhất Đại Trà Lâu, thương hiệu trà quán lâu đời của Trung Hoàn, kinh doanh đã hơn năm mươi năm. Cậu đến bao giờ chưa?”
Tôi lắc đầu. Tôi với anh hai mới ghé qua Song Hỉ và Long Môn quanh đây, trà quán ở Trung Hoàn thì chỉ biết đến Thăng Tiến và Hương Sen. Một năm chúng tôi tới trà quán có vài lần, chứ bình thường toàn vào mấy quán bình dân dùng cơm thôi.
“Có thể Đệ Nhất Trà Lâu là cứ điểm của họ.” Anh Bảy nhìn bản đồ rồi nói, “Chú Trâu chờ ở trà quán lúc 11 giờ, sau khi tập hợp với Tô và Đỗ thì đến bến phà Thống Nhất rồi bến phà đường Jordan... Lẽ nào mục tiêu thực sự là bến phà hoặc phà?”
Tôi nói, “Hay số 1 để chỉ bến phà Thống Nhất, bến phà đường Jordan hoặc một bến phà cụ thể nào? Đường thủy từ Trung Hoàn đến Du Ma Địa là một trong những tuyến giao thông huyết mạch của đảo Hồng Kông và Cửu Long, đặt bom ở đây sẽ gây ách tắc, tầm ảnh hưởng không kém gì ở ga tàu hỏa Sa Điền.”
“Không chừng mục tiêu không phải Thống Nhất ‘hoặc’ Jordan, mà là Thống Nhất ‘và’ Jordan. Họ muốn cho nổ liên tiếp hai nơi. Thống Nhất số 1, Jordan số 2, Quan Đường số 3 và North Point số 4. Bến phà mà nổ thì không còn dịch vụ phà chở ô tô giữa Cửu Long và đảo Hồng Kông nữa.”
Tôi thảng thốt. Tuyến phà Thống Nhất-Jordan là tuyến phà có mật độ chuyên chở cao nhất Hồng Kông. Nếu hai bên đồng thời bị tấn công, việc sửa chữa sẽ mất thời gian, ô tô chỉ còn hai tuyến đường biển để đến North Point, một tuyến xuất phát từ bến Quan Đường, tuyến còn lại mới xây dựng hai năm trước, xuất phát từ bến Cửu Long Thành và vắt ngang cảng Victoria. Nếu thủ phạm tiếp tục đặt bom ở hai chỗ này, xe cộ sẽ không thể lưu thông giữa đảo Hồng Kông và Cửu Long. Chú Trâu còn nhắc đến “lần hành động thứ hai, thứ ba”, có thể bến phà Thống Nhất chỉ là khởi đâu. Không lẽ đây là chiến lược trì hoãn thời gian điều động nhân lực của cảnh sát? Sau khi làm tê liệt bến phà liền tấn công xe cảnh sát, giảm khả năng hành động của cảnh sát trên đất liền?
Họ định phát động chiến tranh toàn diện sao?
Tôi dẹp ý nghĩ đó ra khỏi đầu, nói với anh Bảy, “Anh đã tìm được chứng cứ, phần giúp đỡ của tôi đến đây là hết. Bất kể mục tiêu của họ là gì, cũng hi vọng các anh mau chóng ngăn họ lại.”
Anh Bảy dòm tôi một cái, mặt không cảm xúc, dường như đang tính toán. Anh gấp gọn bản đồ, nhét vào đế đèn, đặt đèn về vị trí cũ.
“Ơ?” Tôi lấy làm lạ nhưng không dám hỏi nhiều.
“Ban nãy cậu nói đúng lắm, bây giờ phát lệnh truy nã cũng không kịp.” Anh Bảy nói. “Chúng ta vốn không biết mục tiêu của họ, cũng không xác định được tòa nhà Murray với ga tàu hỏa Sa Điền có bom thật không. Nếu tùy tiện báo cáo cấp trên, điều động nhân lực tới nhầm chỗ, có khi thương vong còn lớn hơn. Trước hết cứ trả bản đồ về vị trí cũ, chờ Đỗ với Tô quay lại rồi làm một mẻ nhân chứng vật chứng đầy đủ. Còn bây giờ đành phải trông chờ vào chúng ta tiếp tục điều tra, tìm ra mục tiêu thực sự rồi báo cho chuyên gia gỡ bom đến xử lý.”
Tôi không ngờ anh Bảy mà lại có ý tưởng tự tung tự tác như thế. Gần mực thì đen gần đèn thì rạng à? Hay vì anh Ba không ở đây nên anh ấy sẵn sàng nổi loạn? Có vẻ tôi đã tiêm nhiễm một số tư tưởng nguy hiểm cho anh... Khoan đã, anh Bảy vừa nói “trông chờ vào chúng ta” ư?
“Anh bảo tôi đi điều tra cùng anh? Tôi chỉ là dân thường...” Tôi nói.
“Nhưng cậu thông minh, nhờ cậu chúng ta mới tìm ra bản đồ.” Anh Bảy tiến đến gần, vỗ vỗ vai tôi, “Chỉ một mình tôi chắc chắn bế tắc. Ngoài tuân thủ quy định, chấp hành mệnh lệnh cấp trên, tôi chẳng làm được gì cả. Cậu thì khác, suy nghĩ của cậu tưởng lỗ mãng nhưng lại tinh tế, chú tâm đến nhiều manh mối mà tôi không nhìn thấy. Với lại, cậu là nhân chứng quan trọng, chỉ có cậu mới đủ sức tìm ra sơ hở, ngăn cản bọn họ.”
Tôi định từ chối, nhưng chuyện đã đến nước này, đâm lao đành phải theo lao.
Tôi thở dài, “Được rồi, tôi đi với anh.”
Anh Bảy mỉm cười hài lòng, nhưng không rời khỏi phòng Đỗ mà đi về phía ngăn kéo, lấy một cuốn album ra xem. Tôi ghé đầu nhìn, thấy anh rút ra một tấm ảnh.
“Ban nãy tìm kiếm, tôi thấy tấm ảnh này. Nếu tôi không nhầm thì đây là Đỗ Tự Cường?”
Anh Bảy chìa tấm ảnh ra, tôi gật đầu.
“Có ảnh rồi, nghe ngóng sẽ dễ hơn.” Anh vừa nói vừa nhét ảnh vào túi áo.
Tôi định hỏi làm thế có tính là tội ăn cắp không, nhưng chắc anh Bảy sẽ lôi “pháp lệnh tình trạng khẩn cấp” ra để biện minh. Thời buổi này, cảnh sát luôn đứng trên dân thường một bậc, lý do lý trấu tùy thích, muốn làm gì thì làm.
Chúng tôi còn kiểm tra cả phòng Tô Tùng, nhưng không phát hiện được gì, nghĩ cũng phải thôi. Khoảng 1 giờ 40 phút, tôi với anh Bảy rời khỏi nhà trọ. Anh đi dọc đường Spring Garden đến đường Gloucester, tôi không dám hỏi nhiều, chỉ lẳng lặng theo sau.
Hóa ra anh dẫn tôi đến đồn cảnh sát Loan Tể.
“Tại... tại sao chúng ta lại đến đây?” Bây giờ chẳng còn ai nói “sống không vào cửa quan, chết không vào địa ngục”, nhưng tôi vẫn muốn né tránh việc tự dưng bước vào “nha môn” thế này.
“Tôi định lái xe đến Trung Hoàn.” Anh Bảy ngoái lại đáp. “Nếu cậu không muốn vào thì qua đầu phố đằng kia đợi tôi.”
Anh này, cứ như đọc được suy nghĩ của tôi vậy.
Để ngăn chặn phần tử quá khích, đồn cảnh sát được canh phòng nghiêm ngặt, còn dựng cả rào chắn chữ X quấn dây thép gai và chất đống bao cát ở cổng vào. Xem ra càng lại gần đồn cảnh sát sẽ càng cảm nhận rõ mức độ căng thẳng của tình hình hiện tại. Tôi đứng trước cửa một quán bán đồ uống lạnh ở góc phố, không biết cư dân quanh đây hằng ngày nhìn thấy cảnh tượng nặng nề này sẽ có cảm nghĩ gì.
Hai phút sau, một chiếc “con bọ(98)” màu trắng đỗ xịch trước mặt tôi. Anh Bảy vẫn ăn mặc như nhân viên văn phòng, ngồi ở ghế lái vẫy tay ra hiệu cho tôi lên.
“Anh có xe cơ đấy!” Vừa ngồi vào xe, tôi liền thốt lên. Tuy cảnh sát có thu nhập ổn định, nhưng muốn mua xe riêng cũng không dễ dàng. Dĩ nhiên, nếu kiếm thêm từ đám bài bạc chơi gái, đến Jaguar(99) cũng mua được chứ đừng nói là Volk, nhưng tôi cho rằng anh Bảy không phải loại người đó.
“Chỉ là xe second-hand... à không, third-hand thôi. Tôi phải trầy trật gom góp suốt hai năm mới mua được, giờ vẫn trả nợ hằng tháng.” Anh Bảy cười ngại ngùng, “Con này thỉnh thoảng lại dở chứng, có khi phải đạp mạnh chân ga hai lần mới khởi động được...”
Tôi không biết nhiều về các loại xe, cũng không phân biệt nổi second hay third, hàng nguyên tem hay sang tay. Đối với tôi, xe riêng là thứ xa xỉ, tàu điện chỉ mất một hào mà đi được từ Loan Tể đến Shau Kei Wan, còn lái xe ấy à, chẳng biết phải tốn bao nhiêu tiền xăng dầu.
Đoạn đường gần sân bóng gỗ và hội sở Ngân hàng Trung Quốc tại Trung Hoàn đông nghịt, tầm 2 rưỡi chúng tôi mới tới phố Jubilee. Tôi đoán cảnh sát đã chặn đường quanh Tòa án Trung ương và tòa nhà Murray, xe phải vòng lối khác nên ở đây mới tắc như vậy. Anh Bảy trông khá bình tĩnh nhưng ngón trỏ lại gõ liên hồi lên vô lăng, tôi biết tỏng thật ra anh rất sốt ruột. Dẫu sao đến giờ này, nhiều khả năng thủ phạm đã rời trà quán và đặt bom ở nơi không ai biết rồi.
Đỗ xe xong, chúng tôi khẩn trương băng qua đường, đến Đệ Nhất Trà Lâu. Tường ngoài tầng hai và tầng ba của quán treo biển màu xanh lục to bằng hai tầng nhà, in hình tay giơ ngón cái, bên dưới viết “Đệ Nhất Đại Trà Lâu”. Nếu không phải tấm biển “Cửa hàng Điện máy Trung Nguyên” bên cạnh còn to hơn thì biển quán trà treo ở góc phố này chắc chắn sẽ thu hút sự chú ý của tất cả người đi đường.
Tầng một là quầy bán bánh mang về, chúng tôi đi cầu thang lên tầng hai.
Bồi bàn tầm bốn, năm mươi tuổi bê bình trà tới hỏi, “Quý khách đi mấy người ạ?”
“Chúng tôi đến tìm người.”
Anh Bảy đáp. Bồi bàn nghe xong không để ý nữa, tiếp tục phục vụ các khách khác.
2 rưỡi chiều, trà lâu vẫn đông đúc, thực khách ồn ào gần như ngồi kín mọi chỗ. Một nhân viên nữ qua lại giữa các bàn mời dim sum, bưng trên vai khay kim loại đựng đầy lồng hấp cao như núi, bốc hơi nghi ngút. Khách uống trà vẫy tay gọi tới tấp.
“Chắc nhóm Tô Đỗ chưa đi đâu.” Xung quanh quá huyên náo nên anh Bảy phải ghé sát tai tôi mà gào. “Nếu họ chuẩn bị làm việc lớn, có thể chú Trâu sẽ đãi cả bọn một bữa no nê. Cậu tìm ở tầng này, tôi lên tầng ba. Nếu cậu thấy họ thì lên báo với tôi. Tôi cải trang rồi nên chắc Đỗ sẽ không nhận ra. Còn nếu cậu bị phát hiện thì cứ bảo là hẹn bạn đến uống trà rồi kiếm cớ chuồn đi.”
Tôi bèn len lỏi giữa các bàn, mắt láo liên tìm bóng dáng Đỗ hoặc Tô, đi hết một vòng vẫn không thấy. Tôi tiếp tục dò tìm, đặc biệt chú ý những khách nam đi một mình, biết đâu chú Trâu vẫn đang ngồi chờ hai người kia. Khả năng này tuy mong manh nhưng không phải là không có. Hầu hết khách uống trà đều đến theo nhóm, ngang qua bàn nào tôi cũng cố lắng nghe, không ai có giọng giống chú Trâu hết.
Chỉ có bốn người đàn ông đi một mình. Tôi đang nghĩ cách bắt chuyện để nghe giọng thì một trong số họ gọi bồi bàn rót thêm trà, anh ta nói tiếng Quảng Đông giọng Triều Châu, không giống như ấn tượng của tôi. Giờ chỉ còn ba người.
Tôi lần lượt tiếp cận ba người đó, người thứ nhất tôi giả vờ nhận nhầm bạn, người thứ hai tôi lại hỏi anh ta có thấy đồ tôi để quên lúc trước không, người thứ ba đeo đồng hồ trên tay trái nên tôi mon men đến hỏi giờ. Giọng của cả ba đều không giống giọng nói hôm nọ, xem ra tôi đoán sai mất rồi. Chỉ mong anh Bảy có thu hoạch.
Tôi định lên tầng ba thì thấy anh Bảy đi xuống. Anh tiu nghỉu lắc đầu.
“Này, hai anh vẫn chưa tìm được bạn à?” Bồi bàn ban nãy cáu kỉnh hỏi. Chắc thấy chúng tôi cứ đứng tần ngần ở cầu thang nên ông ta nghi chúng tôi không có tiền uống trà mà chỉ là bọn lưu manh côn đồ xông bừa vào quán.
Anh Bảy thản nhiên rút thẻ ngành ra khỏi túi ngực, “Cảnh sát đây.”
“A... A! Ra là sếp! Thất lễ quá, sếp đi hai người đúng không ạ? Mời sếp lên gian riêng tầng ba...” Bồi bàn vừa trông thấy thẻ, thái độ liền quay ngoắt một trăm tám mươi độ, khom lưng cúi người niềm nở.
Anh Bảy giơ ảnh Đỗ lên, “Tôi hỏi ông, ban nãy ông có trông thấy người này không?”
“Ừm... tôi không thấy. Sếp muốn tìm người này sao? Tôi có thể hỏi các phục vụ khác...”
“Không cần, chúng tôi sẽ tự hỏi. Ông đừng cản trở là được.”
“Vâng, vâng!”
Bồi bàn cung kính rời đi cứ như thái giám gặp hoàng đế. Mang danh cảnh sát đúng là tiện lợi. Đối với dân chúng, tuần cảnh bình thường cũng như nhân vật tai to mặt lớn không nên làm mếch lòng. Liệu có phải chính cung cách bất bình đẳng này đã đổ thêm dầu vào lửa, trở thành một lý do kích động người ta chống đối chính phủ, sỉ vả cảnh sát là cầy tơ? Tôi không biết. Nhưng tôi hiểu rõ, nếu anh Bảy không phải cảnh sát, bồi bàn kia chắc chắn đã đuổi cổ chúng tôi.
“Cảnh sát đây, từ 11 giờ sáng đến giờ có nhìn thấy người này không?”
Anh Bảy cầm thẻ ngành và ảnh Đỗ tra hỏi từng bồi bàn. Họ đều đáp “Chưa thấy bao giờ”, “Không để ý” hoặc “Tôi không biết”. Kết quả trên tầng ba cũng không khá hơn.
Một nữ phục vụ dim sum lớn tuổi, chắc phải gọi là bác, nói với anh Bảy, “Sếp à, khách hàng qua lại như đèn cù, hoa hết cả mắt, làm sao chúng tôi nhớ mặt? Khách quen còn nói, chứ khách lạ thì lực bất tòng tâm. Tôi không có ấn tượng về người này.”
Chúng tôi bất đắc dĩ quay lại tầng hai. Tôi hỏi, “Có phải chúng ta đã hiểu nhầm chữ viết trên bản đồ?”
Anh Bảy đang định trả lời thì bồi bàn ban đầu chủ động tiến tới, vẻ nịnh nọt, “Hai sếp chưa tìm được người sao?”
Ông ta tưởng tôi là cảnh sát.
“Chưa.” Anh Bảy đáp gọn.
“Các anh đã hỏi cô Hảo bán bánh ngọt ở tầng dưới chưa? Cô ấy ngồi gần cửa ra vào, có khi đã trông thấy người các anh cần tìm.” Ông ta nói như muốn lấy lòng.
Anh Bảy nghĩ một lát rồi nói, “Ông dẫn chúng tôi đi hỏi cô Hảo được không?”
“Tất nhiên là được! Mời đi bên này!”
Chúng tôi theo ông ta xuống cầu thang. Ngồi sau quầy bánh là một phụ nữ lớn tuổi ăn mặc thời thượng, đang tươi cười trò chuyện với khách.
“Chú Long, lại trốn việc à? Ông chủ mà biết sẽ sa thải cho xem.” Cô Hảo dọa nạt.
“Cô Hảo, hai sếp cảnh sát đây có vài chuyện muốn hỏi.” Chú Long mỉm cười. Tôi đoán thường ngày ông ta chẳng như vậy đâu.
“Hả? Gì cơ?” Cô Hảo kinh ngạc như đám học trò không hiểu mình làm sai chuyện gì mà bị giáo viên bắt phạt.
“Tôi muốn hỏi cô có nhìn thấy người này không.” Anh Bảy đặt tấm ảnh lên quầy. “Sau 11 giờ sáng nay.”
Cô Hảo thở phào nhẹ nhõm, săm soi tấm ảnh rồi nói, “Cậu này... có, tôi có thấy. Khoảng 11 rưỡi sáng, cậu ta đến đây với một thanh niên đồng trang lứa. Họ không phải khách quen, lại còn đứng ngoài cửa ngó ngó nghiêng nghiêng nên tôi mới nhớ.”
“Ngó ngó nghiêng nghiêng?” Tôi thắc mắc.
“Chắc họ chưa tới quán bao giờ.” Cô Hảo nói tiếp. “Khoảng 12 giờ 40 phút thì họ rời đi cùng một ông chú tầm bốn năm mươi tuổi trông hơi đậm người. Ông chú đó còn mua mấy cái bánh bà xã(100), chắc buổi trưa ăn vẫn chưa no.”
Tôi hỏi thêm, “Lúc đến, hai thanh niên có cầm theo vật gì không?”
Cô Hảo cau mày, “Cầm à... hình như là có? Một trong hai người xách túi màu đen, nhưng có thể tôi nhớ nhầm.”
“Thế lúc rời đi, họ còn cầm cái túi đó không?” Anh Bảy hỏi. Tôi đoán anh muốn xác nhận xem bọn họ có đặt bom trong trà quán không. Mặc dù nhà hàng chưa lần nào là mục tiêu đánh bom, nhưng nếu họ đặt bom hẹn giờ trong này, khi phát nổ sẽ gây thương vong nặng nề.
“Chắc là có... A, đúng, có mang. Tôi nhớ ra rồi, thanh niên đi cùng cậu trong ảnh, cả lúc đến và đi đều xách một chiếc túi màu đen. Khi bán bánh cho ông chú, tôi còn tự hỏi không biết họ có bỏ bánh vào túi không, bỏ thì về đến nhà bánh sẽ bẹp mất, vì tôi thấy cái túi có vẻ nặng...”
Tôi thầm giật mình, anh Bảy chắc cũng thế. 9 giờ sáng nay, Tô và Đỗ tay không rời nhà, nhưng đến 11 giờ lại xách túi vào quán. Nói cách khác, họ đã lấy cái túi trong khoảng trống hai tiếng đồng hồ.
“Cô có thấy họ đi về hướng nào không?” Anh Bảy hỏi.
“Tôi chịu. Trời mới biết họ muốn lái xe đi đâu.”
“Lái xe ư?” Tôi nhắc lại.
“Đúng vậy. Họ lên một chiếc xe hơi màu đen đỗ bên đường... chính là chỗ cái xe trắng kia kìa.”
Chúng tôi nhìn ra ngoài, chiếc xe trắng mà cô Hảo nói trùng hợp thay lại là con bọ của anh Bảy.
“Cô có nhận ra loại xe không? Có nhìn thấy biển số không?” Anh Bảy vội hỏi. Biết loại xe và biển số thì cảnh sát dễ dàng tìm ra hơn.
“Cách cả đoạn đường xa lắc, đến Tôn Ngộ Không mắt lửa ngươi vàng cũng chẳng thấy được biển số nữa là! Loại xe cũng chịu, tôi mù tịt xe pháo, tóm lại là một chiếc xe đen, kích thước vừa phải...”
Nghe miêu tả, chúng tôi không hình dung nổi chiếc xe đó thế nào, nhưng khả năng nhóm Đỗ lái xe đến bến phà Thống Nhất rồi đi phà sang bến phà đường Jordan là hợp lý.
“Được rồi, cảm ơn cô.” Anh Bảy cảm ơn cô Hảo rồi quay sang tôi, “Bây giờ đuổi theo chưa chắc đã kịp, nhưng chúng ta cứ ra bến phà xem sao... Cậu chưa ăn cơm à?”
Anh Bảy bỗng dưng hỏi. Hình như tôi vừa vô thức ngó bánh trái trong quầy, không thì cũng đang để lộ bộ mặt đói khát. Tôi bẽn lẽn gật đầu.
Anh Bảy quay sang nói với chú Long, “Ông gói giúp tôi mấy lồng bánh, há cảo hay xíu mại gì đấy đều được, có xôi gà hấp lá sen hoặc bánh bao xá xíu càng tốt.”
“Vâng, vâng! Thưa sếp!” Chú Long chạy tót lên tầng trên, chưa đầy một phút đã xách xuống năm, sáu hộp giấy.
Anh Bảy bật cười, “Nhiều thế! Hai chúng tôi làm sao ăn hết?”
“Các sếp vất vả phá án, ăn nhiều một chút mới phải lẽ.” Chú Long cười tươi rói.
Anh Bảy mở một hộp ra, tôi liếc thấy bên trong chen chúc hơn mười cái bánh. Anh Bảy nói, “Cho chúng tôi ba hộp là được. Bao nhiêu tiền?”
“Đây là chút lòng thành của quán, không cần trả tiền đâu.” Chú Long hí hửng.
“Bao nhiêu tiền? Đừng bắt tôi nhắc lại.” Anh Bảy nghiêm mặt, hằm hằm nhìn chú Long.
Chú Long lắp ba lắp bắp, “Ừm... à... bốn đô hai.” Chắc ông ta không ngờ lại gặp phải kiểu cớm trái ngang thế này.
Anh Bảy đưa tiền, cầm ba hộp bánh ra khỏi trà lâu. Tôi hối hả chạy theo.
Lên xe, tôi nói thẳng, “Tôi không có tiền trả phần của mình...”
“Tôi bắt cậu giúp, đến cơm trưa cũng không cho ăn thì còn ra thể thống gì.” Anh Bảy gỡ kính, tháo cà vạt, vừa cười vừa nói. “Cảnh sát đôi lúc phải nhịn đói làm việc, bận truy bắt tội phạm có khi còn nhịn khát luôn. Nhưng cậu là dân thường, chẳng việc gì phải như tôi. Thật ra tôi cũng chưa ăn. Nếu điều tra một mình chắc tôi sẽ bỏ bữa luôn. Phần ăn này coi như tôi hưởng ké của cậu.”
Tôi định nói cảm ơn, vì bình thường khẩu phần của tôi chỉ một đô là cùng, bữa hôm nay xa xỉ quá đi! Song nghĩ lại, rành rành là việc của anh, vậy mà kéo tôi vào, thôi tôi cứ ăn cho thoải mái. Dù gì tôi cũng là dân thường, có tóm được bọn Tô Đỗ thì công lao cũng về tay anh Bảy hết. Bốn đô còn rẻ chán.
“Tôi lái xe ra bến phà, cậu cứ ăn đi.” Anh Bảy xoay chìa khóa ba lần mới nghe thấy tiếng động cơ.
Đường Des Voeux Trung cách bến phà Thống Nhất một con phố, tôi mới ăn được hai cái há cảo xe đã đến nơi. Bánh của Đệ Nhất Trà Lâu đúng là ngon tuyệt, xem ra hai tiếng “Đệ Nhất” không phải hư danh.
Xe ra ngoài bến, tôi thấy ô tô xếp hàng dài dằng dặc trước lối lên phà. Có lẽ vì là cuối tuần, nhiều người đi làm nửa ngày muốn qua cảng biển để về nhà nên mới đông đúc như vậy. Riêng thời gian chờ lên phà đã mất ba bốn mươi phút. Có điều anh Bảy không đánh xe đến xếp hàng mà lại đỗ bên đường.
“Cậu cứ ăn đi, tôi ra hỏi nhân viên xem có thấy người hay đồ vật nào khả nghi không. Nếu thủ phạm đặt bom ở bến phà thì chỗ này sẽ nguy hiểm. Cậu ngồi đây chờ tôi.” Dứt lời, anh Bảy liền chạy vội đi.
Tôi vừa dùng tăm xiên một miếng bánh ngon lành vừa ngắm xe của anh Bảy. Nội thất xe giản dị, không trang trí gì đặc biệt. Trên tấm kính chắn gió dán tờ giấy có hình huy hiệu Cảnh sát Hoàng gia, tôi đoán là giấy thông hành để tiện ra vào sở cảnh sát. Tôi rời mắt sang táp lô, rồi lại nhìn xuống dưới, thấy nút bật radio. Tôi mở đài lên, chỉnh tần số, từ loa vang ra một bài hát tiếng Anh.
Tôi ăn hết một hộp bánh thì anh Bảy quay lại.
“Dường như tất cả vẫn bình thường. Nhân viên cũng nói từ trưa đến giờ không xảy ra chuyện gì đặc biệt.”
Tôi đưa một hộp bánh cho anh Bảy, vặn nhỏ âm lượng radio và nói, “Tức là họ đã lái xe lên phà đến Cửu Long?”
Bây giờ là 3 rưỡi chiều, tức hai tiếng rưỡi kể từ lúc nhóm Tô Đỗ rời trà quán. Không chừng họ đã “hoàn thành nhiệm vụ” rồi giải tán theo lời chú Trâu.
Anh Bảy bốc một cái bánh bao xá xíu, cắn hai miếng là hết, miệng nhồm nhoàm, “Cũng... có khả năng. Nhưng chúng ta chỉ còn cách tiếp tục lần mò theo họ để thu... thu thập thông tin. Tôi đưa ảnh Đỗ cho... nhân viên xem, họ đều bảo chưa thấy bao giờ.”
“Thật ra tôi nghĩ kĩ rồi...” Tôi mở hộp khác, nhón lấy bánh bao xá xíu, “Bến phà không phải mục tiêu đâu.”
“Tại sao?”
“Anh còn nhớ dấu X trên bản đồ chứ?”
“Ý cậu là cái dấu ở tòa án vịnh Causeway?”
“Đấy mới là một cái, còn một cái khác ngay trên đường thẳng nối liền bến phà Thống Nhất với bến phà đường Jordan.” Tôi vừa ăn vừa nói. “Có khi dấu X đánh dấu vị trí quá bom thật.”
“Bom thật? Cậu đang ám chỉ tòa nhà Murray và ga tàu hỏa Sa Điền?”
“Không, không, tôi bảo rồi, hai cái đó dễ là giả lắm. Tờ danh sách dùng để lòe cảnh sát, tấm bản đồ mới là kế hoạch thực sự. Hôm qua phát hiện bom thật ở tòa án vịnh Causeway, trên bản đồ lại có dấu X ở chỗ đó, suy ra dấu X ghi trên biển cũng chỉ quả bom thật.”
“Thế nên cậu cho rằng mục tiêu của họ là làm nổ phà?” Anh Bảy hỏi.
“Tóm lại họ sẽ không đem bom ‘đổ sông đổ bể’.” Tôi nói một câu đa nghĩa nhạt nhẽo(101).
“Nhưng đánh chìm một chiếc phà thì ích gì?”
Tôi nhún vai tỏ ý không biết.
“Hừm, chúng ta xếp hàng đã, vừa qua phà vừa nghĩ vậy.” Anh Bảy vừa nói vừa lái xe đến cuối hàng.
Suốt ba mươi phút chờ lên phà, chúng tôi liên tục bàn luận ý nghĩa của mỗi kí hiệu trên bản đồ. Tôi cho rằng bốn địa điểm chỉ đánh số mà không đề thời gian, như kí túc xá cảnh sát Tiêm Sa Chủy, đều là bẫy, nhóm kia đang nghĩ những cách tối ưu để gây hao tổn nhân lực cảnh sát và lấp liếm mục tiêu thực sự.
“Cho nên có thể loại trừ bến phà Thống Nhất. Vì nếu bom đặt ở đây, cảnh sát tại tòa nhà Murray và Tòa án Trung ương có thể đến nơi trong thời gian ngắn.” Nghe tôi suy luận, anh Bảy gật đầu đồng ý.
Đáng tiếc, sau đấy chúng tôi không thể suy ra bước tiếp theo của thủ phạm. Tôi đoán, “chi tiết nhiệm vụ” mà họ nói chính là đặt bẫy trên phà, nên chú Trâu mới muốn đám Tô Đỗ làm mồi nhử, gây chú ý cho đội thủy thủ. Nhưng như ban nãy anh Bảy hỏi, nhân viên bến phà đều bảo không xảy ra chuyện gì bất thường. Chúng tôi quyết định đích thân lên phà hỏi các thủy thủ.
Khoảng 4 giờ, hai chuyến phà đi qua rồi, cuối cùng cũng đến lượt chúng tôi. Phà có hai tầng, tên là Dân Định. Tôi áng chừng mỗi tầng chở được khoảng hai, ba chục xe. Tuy tôi thường xuyên đi phà qua biển, nhưng đây là lần đầu ngồi xe riêng. Trên phà, một số tài xế và hành khách ở lại trong xe đọc báo, tranh thủ chợp mắt, nghe đài phát thanh hoặc nói chuyện phiếm, nhưng đa số đều đứng trên boong hóng gió biển.
Tôi theo anh Bảy đi hỏi thăm các thủy thủ.
“Cảnh sát đây.” Anh Bảy giơ thẻ lên. “Tôi muốn hỏi các anh, sau 12 giờ 40 phút hôm nay có nhìn thấy thanh niên này không?”
Mấy thủy thủ làm việc trên boong xúm lại, xem ảnh Đỗ rồi thi nhau lắc đầu.
“Thế có gặp chuyện gì đặc biệt không?” Anh Bảy hỏi tiếp.
Một thủy thủ râu dài đáp, “Không đâu sếp ạ. Hôm nay vẫn đông như mọi khi, chẳng có gì đặc biệt.”
Thủy thủ bên cạnh tuổi chừng bốn mươi bổ sung, “Phà của chúng tôi vẫn bình thường. Nhưng ban nãy thay ca, tôi nghe bảo bên Dân Bang hình như xảy ra xích mích.”
“Xích mích?” Anh Bảy nhắc lại.
“Một tiếng rưỡi trước, trên chuyến phà từ Trung Hoàn đi Du Ma Địa có hai thanh niên cãi vã vì một chuyện nhỏ nhặt. Các thủy thủ đều sợ họ đánh nhau, nhưng hai người ầm ĩ một hồi lại làm hòa. Thật không hiểu đám choai choai nghĩ gì nữa.”
Anh Bảy hỏi tiếp, “Có cách nào để biết cụ thể tình hình từ các thủy thủ bên Dân Bang không?”
“Có chứ, nhưng chúng ta vừa rời Trung Hoàn, Dân Bang chắc cũng mới đi khỏi Du Ma Địa. Các anh xuống phà ở đường Jordan, đợi nửa tiếng là họ cập bờ, lúc đó tha hồ lên phà tra hỏi.”
Chúng tôi xuống phà lúc 4 rưỡi, tức là Dân Bang sẽ về bến đúng 5 giờ.
Quay lại xe, tôi hỏi ý kiến anh Bảy, “Tôi bảo này, hay mục tiêu của Tô Đỗ là Dân Bang?”
“Lại quay về giả thuyết đặt bom đánh chìm phà hả?” Anh Bảy hỏi.
“Đánh chìm phà thì đúng là vô nghĩa, nhưng trên phà này còn chở ô tô. Có thể mục tiêu của họ là người nào đó lái xe lên phà. Họ muốn gây ra tai nạn biển.” Tôi cau mày giải thích. “Nếu thế, nội dung họp bàn của họ bỗng dễ hiểu hơn nhiều. Đỗ với Tô giả vờ cãi cọ, thu hút chú ý, chú Trâu tranh thủ gài bom ở buồng lái hoặc vị trí ít được đề phòng trên phà. Đỗ từng nói mục tiêu không dễ đối phó, chắc là chỉ việc trên phà nhiều tai mắt, nhưng chú Trâu lại bảo mục tiêu yếu hơn họ tưởng, bởi vì hành khách không thể ngờ trên phà lại có bom. Ám sát giữa phố xá náo nhiệt chưa chắc đã thành công, chạy trốn cũng phiền phức. Nhưng trong ba mươi phút vượt biển, con phà bị cô lập tuyệt đối. Cảnh sát thủy và thuyền chữa cháy sẽ gặp khó khăn trong công tác cứu hộ, mà trên phà chưa chắc đã trang bị đầy đủ phương tiện cứu sinh. Quan trọng là thủ phạm đã bỏ chạy từ trước.”
“Nguy rồi.”
Anh Bảy vọt ra khỏi xe, tôi cuống cuồng chạy theo. Anh đến trước mặt thủy thủ râu dài vừa nãy và nói, “Tôi muốn dùng bộ đàm liên lạc với Dân Bang.”
“Sếp à, việc này tôi không có quyền xử lý, anh phải tự đi nói với thuyền trưởng. Nhưng nếu anh muốn hỏi nhân viên trên Dân Bang có thấy người anh đang tìm không thì nên đợi đến lúc cập bến, đâu thể gửi ảnh qua bộ đàm...”
“Không, tôi chỉ muốn thông báo với họ một chuyện.” Anh Bảy túm lấy cánh tay thủy thủ râu dài. “Bảo họ tìm kiếm đồ vật khả nghi, tôi sợ có bom trên phà.”
Các thủy thủ nhất loạt nhìn nhau, ai nấy đều sững sờ, thủy thủ râu dài hỏi, “Sếp nói thật chứ?”
“Tôi không biết, nhưng có khả năng đấy. Xin hãy nhắn thủy thủ phà Dân Bang âm thầm tìm kiếm, đừng làm hành khách hoảng sợ.”
“Tôi hiểu rồi. Các anh đợi ở đây một lát.” Thủy thủ râu dài gật đầu, đi về phía buồng lái. Lát sau, anh ta dẫn thuyền trưởng đến trước mặt chúng tôi. Anh Bảy nói rõ tình hình, thuyền trưởng đồng ý sẽ về buồng lái liên lạc với phà Dân Bang. Tôi và anh Bảy ra một góc ngồi nghỉ ngơi, chờ hồi âm. Cảnh biển đẹp, gió phả vào mặt mát rượi, nhưng chúng tôi chẳng có tâm trạng thưởng thức.
“Đằng kia chính là phà Dân Bang.” Một thủy thủ vừa nói vừa giơ tay trỏ chiếc phà phía trước. Nhìn nó, tôi không khỏi hình dung cảnh chiếc phà đột nhiên phát nổ rồi chìm nghỉm trước mắt, hành khách và thủy thủ rơi xuống biển, đúng là thảm khốc tột cùng, tôi bất giác rùng mình.
Nhưng phà Dân Bang không nổ, chỉ chầm chậm di chuyển cách đó không xa.
Chúng tôi đợi ở đầu phà khoảng mười lăm phút, phà sắp đến bến phà đường Jordan. Thủy thủ râu dài hấp tấp chạy ra báo cáo, “Sếp à, thủy thủ phà Dân Bang nói là không phát hiện được gì.”
“Không ư?”
“Họ đã tìm hai lần, nhưng không thấy đồ vật nào khả nghi. Nguồn tin của anh có chắc chắn không? Thuyền trưởng bên ấy bảo có thể thả neo, dừng vận chuyển sau khi cập bến Trung Hoàn, nhưng nếu thông tin sai, ông ta sẽ gặp rắc rối lớn, không gánh nổi trách nhiệm đâu.”
Anh Bảy khó xử ra mặt, xem chừng không quyết định được.
“Không cần dừng phà, cứ bảo họ khởi hành bình thường.” Tôi xen vào, cố giả giọng quyền uy. “Phà Dân Bang chắc sẽ cập bến Thống Nhất lúc 4 rưỡi, sau đó đi tiếp tới bến phà đường Jordan, khoảng 5 giờ là đến nơi đúng không? Chúng tôi sẽ đợi ở bến phà đường Jordan rồi đích thân lên điều tra. Nhưng hãy bảo thủy thủ đoàn giữ cảnh giác, có khả năng kẻ đánh bom chờ đến lượt phà sau mới ra tay.”
“Tôi hiểu rồi.” Thủy thủ râu dài lại chạy vào buồng lái.
“Chúng tôi đợi trong xe, nếu có bất kì tin tức gì xin hãy báo cho chúng tôi biết.” Tôi dặn các thủy thủ còn lại. Họ gật đầu đồng ý.
Trở về xe, anh Bảy cau có nói, “Tại sao cậu lại để phà Dân Bang đi tiếp? Chẳng may các thủy thủ tìm chưa kĩ, xảy ra tai nạn trên biển thì làm thế nào?”
“Nhưng cũng đâu có gì chứng minh trên phà thực sự có bom!” Tôi thẳng thừng cãi lại. Quen thân đâm nhờn, tôi thậm chí còn cảm thấy mình ngang hàng với anh Bảy. “Chưa suy xét kĩ càng đã bắt dừng phà có thể gây ra hậu quả trầm trọng, không phải anh mất việc là xong đâu. Với lại tôi vừa phát hiện được một chi tiết kì lạ, cho nên mới nghĩ có lẽ chúng ta đã nhầm.”
“Chi tiết gì?”
“Ban nãy các thủy thủ nói, trận cãi vã trên phà Dân Bang xảy ra một tiếng rưỡi trước đúng không?”
“Đúng.”
“Đó là chuyến phà lúc 2 rưỡi. Quãng đường biển từ Trung Hoàn đến Du Ma Địa mất tầm ba mươi phút, cả đi cả về là một tiếng. Căn cứ vào lượt phà tôi để ý thấy trong lúc đợi trên bến, tuyến đường này có bốn phà chở xe hơi, mười lăm phút một chuyến. Cô Hảo ở Đệ Nhất Trà Lâu nói Tô Đỗ rời quán lúc 12 giờ 40 phút, nếu mất nửa tiếng để đợi lên phà thì họ phải đi chuyến 1 giờ 15 phút mới đúng. Nhưng họ lại chờ đến 2 rưỡi mới lên phà. Chuyện này không đáng nghi sao?”
“Có thể họ muốn nhắm vào phà Dân Bang?” Anh Bảy vặn lại.
“Nếu nhắm vào Dân Bang thì vẫn có thể đi chuyến 1 rưỡi.”
“Nhỡ đâu họ có lên chuyến 1 giờ 15 phút hoặc 1 rưỡi, sau khi xuống bến phà đường Jordan lại lên phà rồi về Trung Hoàn chờ chuyến 2 rưỡi?”
“Không thể nào, bởi vì xuống phà xong sẽ phải xếp hàng lại, không đủ thời gian. Nếu cứ ở yên trên phà để đi luôn chiều ngược lại, thì ban nãy khi anh hỏi có gì khác thường không, các thủy thủ đã nhắc đến điểm này. Huống chi, nhân viên trên phà sẽ không cho phép hành khách làm như vậy, vì bao nhiêu xe đi phà thế cơ mà.”
Anh Bảy còn mải suy nghĩ nên không đáp.
“Với cả, giờ nghĩ lại mới thấy, giả thuyết ban nãy có thiếu sót.” Tôi nói tiếp. “Mặc dù giả thuyết gây tai nạn biển để che giấu việc giết người khá hợp lý, nhưng thực tế lại khó thực hiện. Bởi thủ phạm đâu thể xác định mục tiêu lên chuyến phà nào? Cho nên tôi có một giả thuyết mới.”
“Giả thuyết mới?”
“Đặt bom trên xe.”
Anh Bảy ngây người nhìn tôi.
“Như thế có thể lý giải mọi tình tiết.” Tôi chỉ vào những chiếc xe xung quanh, “Mục tiêu là một người Anh. Thủ phạm đợi ở gần bến Thống Nhất, xe mục tiêu vừa xuất hiện liền lái xe bám theo, lên cùng chuyến phà. Sau đó, Tô và Đỗ giả vờ hục hặc, thu hút sự chú ý của mục tiêu, còn chú Trâu lén gài bom vào xe.”
“Tại sao lại là người Anh?”
“Chú Trâu từng nói bọn ‘heo sữa’ không thể ngờ họ lại đi nước cờ này, cho nên có thể mục tiêu là người Anh.”
Hai chúng tôi lại tìm thủy thủ râu dài, nhờ anh ta hỏi nhân viên phà Dân Bang.
“Sếp ơi, phà sắp cập bến rồi, chúng tôi đang bận!”
“Một câu thôi, làm ơn.” Anh Bảy nói.
Thủy thủ râu dài không ngờ cảnh sát lại xuống giọng nhờ vả dân thường, bất đắc dĩ đi vào buồng lái.
“Chỉ hỏi xem chuyến phà từ Trung Hoàn đến Du Ma Địa lúc 2 rưỡi có người nước ngoài không chứ gì? Đây là lần cuối cùng tôi giúp các anh đấy.”
Một phút sau, anh ta quay lại.
“Không có, họ nói không hề có khách nước ngoài.” Anh ta nhìn chúng tôi với ánh mắt ngờ vực.
“Không có?”
“Không, tất cả đều là người Hoa.” Anh ta thở dài, “Sếp ạ, phiền anh đợi ở bến phà cho tôi nhờ, 5 giờ là Dân Bang cập bến rồi, các anh tự đi mà hỏi, muốn hỏi bao lâu cũng được.”
Chúng tôi đành đồng ý, tránh sang bên nhìn các thủy thủ làm công tác chuẩn bị cập bờ. 4 rưỡi, xe chúng tôi rời phà Dân Định, xuống bến phà đường Jordan. Anh Bảy đến gặp nhân viên bến phà, nói rõ mình là cảnh sát, muốn điều tra phà Dân Bang cập bến lúc 5 giờ. Sau đấy chúng tôi chờ ở cạnh đường cho xe lên phà.
Trong lúc chờ đợi, anh Bảy nói, “Thật ra thời buổi này, chẳng còn mấy người Anh đi ô tô lên phà.”
“Nhưng họ cũng phải qua lại giữa đảo Hồng Kông và Cửu Long chứ?” Tôi nói.
“Nếu là quan chức cấp cao thì đều đi thuyền công vụ. Với tình cảnh hiện nay, người Anh hạn chế ra ngoài, một số còn về nước lánh nạn. Gia đình của mấy cảnh sát người nước ngoài mà tôi quen, dạo gần đây đều không dám ra khỏi nhà, cùng lắm chỉ hoạt động trong khu vực lân cận. Họ sợ gặp phải người biểu tình, sợ bị đá thúng đụng nia.”
Anh Bảy nói cũng có lý. Nhưng tôi vẫn thấy suy luận của mình chưa chắc đã sai.
Trong ba mươi phút chờ đợi, chúng tôi như ngồi trên đống lửa. Anh Bảy vặn to âm lượng radio lên, nói là muốn biết lúc 4 giờ có phát hiện gì ở tòa nhà Murray không. Nếu ở đó thực sự có bom, toàn bộ suy luận của chúng tôi sẽ đổ rạp như domino.
Đúng 5 giờ, phà Dân Bang tiến gần về bến, radio cũng phát bản tin thời sự.
“Sáng nay, tướng Fletcher, phó tham mưu Không quân Hoàng gia Anh đã đến thăm căn cứ không quân của Anh tại Hồng Kông, biểu dương lòng dũng cảm của lực lượng không quân trong việc hỗ trợ chính phủ Hồng Kông dẹp bạo động. Tối nay, ông sẽ dự dạ tiệc tại căn cứ, với sự hiện diện của trung tướng Worsley(102) tư lệnh quân đội Anh tại Hồng Kông, cảnh sát trưởng Eates(103) và phó thống đốc Gass(104)...”
“Vậy là tòa nhà Murray không có bom, nếu có thì đã đưa tin đầu tiên.” Anh Bảy nói.
“A!” Tôi bất ngờ thốt lên.
“Sao?”
“A... nhưng hình như không phải...” Tôi lại nói.
Anh Bảy lấy làm lạ, “Cậu đang nói gì thế?”
Tôi gãi đầu, “Xem ra chúng ta đã hiểu nhầm từ khóa. Tuy nhiên, xác suất này không cao lắm.”
“Từ khóa gì?”
“Tôi cứ tưởng đám Tô Đỗ có mục tiêu số 1, suy ra sẽ có mục tiêu số 2, nhưng thực chất ‘số 1’ chính là tên mục tiêu. Họ muốn nhắm vào xe của anh Nhất, chiếc xe mang biển số 1. Nhưng như thế chẳng phải quá vớ vẩn sao? Đường đường cảnh sát trưởng ai lại đi ô tô lên phà? Với cả, cảnh sát trưởng mà ra ngoài đi tuần, thể nào chẳng có một đội xe lớn nhỏ tháp tù...”
Tôi chưa dứt lời, anh Bảy đã nhảy vút ra khỏi xe. Thấy thế, tôi tức tốc chạy theo. Anh Bảy túm một nhân viên bến phà, lớn tiếng quát, “Nói mau! Hôm nay xe số 1 có qua đây không? Xe số 1 của cảnh sát trưởng có qua đây không?”
Nhân viên bến phà bị túm chặt cổ áo, hốt ha hốt hoảng, lắp bắp đáp, “Có... có qua. Xe số 1 đi phà một tháng mấy lần, nhưng chuyện này bình thường mà...”
Anh Bảy thả nhân viên đó ra, chạy ào về xe. Tôi lập tức lên theo.
“Sao thế? Xe số 1 không bị đặt bom chứ?” Tôi lo lắng hỏi.
“Có! Có thể lắm!” Mặt mày sa sầm, anh Bảy vừa xoay chìa khởi động xe vừa nói, “Cảnh sát trưởng đi dự tiệc đều phải ngồi xe số 1, đây là nghi thức bắt buộc! Nhưng nếu địa điểm tổ chức ở Cửu Long, xe số 1 sẽ qua biển trước để đợi, cảnh sát trưởng ngồi xe công vụ khác đến bến phà Queen’s(105) ở đảo Hồng Kông, lên tàu thủy của cảnh sát tới bến phà ở Cửu Long rồi mới đổi sang xe số 1, bởi vì cảnh sát trưởng và đội xe cảnh sát mà đi phà bình dân thì sẽ gây náo loạn! Phụ tá và tùy tùng vẫn đi cùng cảnh sát trưởng, nhưng không dùng xe số 1. Xe số 1 qua biển trước không có ai bảo vệ!”
Tôi kinh hãi trợn mắt nhìn anh Bảy.
“Có thể họ đã đặt bom hẹn giờ vào xe số 1.” Anh Bảy đạp chân ga, chiếc xe lao thẳng về phía trước, “Họ muốn ám sát cảnh sát trưởng!”
“Tài xế của anh Nhất là người Sơn Đông, nên nhân viên trên phà Dân Bang mới báo là không nhìn thấy người nước ngoài.” Anh Bảy vừa nói vừa phi xe như bay đến đường Jordan, tôi chỉ còn nước bấu chặt tay vịn.
“Đám Tô Đỗ hay tin từ trước, biết hôm nay cảnh sát trưởng đi dự tiệc, nên mới bày ra âm mưu này. Họ chờ ở gần bến phà Thống Nhất, thấy xe số 1 liền bám theo, rồi gài bom vào xe như cậu nói. Chú Trâu không biết phải chờ xe bao lâu, nên mới mua ít bánh bà xã dự phòng.”
Nhìn chiếc xe lạng lách trên đường, tôi nói mà suýt cắn vào lưỡi, “Nếu... nếu đã biết mục đích của thủ phạm, chúng ta báo ngay cho cảnh vệ của cảnh sát trưởng là được rồi!”
“Không kịp! Báo cáo cấp trên sẽ phải qua mấy lần điện thoại. Tôi đã đọc thông báo nội bộ, trước dạ tiệc còn có tiệc rượu lúc 5 rưỡi. Tham gia dạ tiệc kiểu này phải đến đúng giờ theo lễ nghi, không có chuyện tư lệnh đến rồi mà cảnh sát trưởng và phó thống đốc lại chưa đến, nên trước đấy cần tính toán kĩ càng cả lộ trình lẫn giờ khởi hành. Vai vế của anh Nhất thấp hơn phó thống đốc và quan chức quân đội Anh, hẳn phải có mặt lúc 5 giờ 25 phút. Xe số 1 hiện đang chờ ở bến phà Cửu Long Thành, mà cảnh sát trưởng cũng sắp xuống tàu. Chúng ta đến đó ngăn cảnh sát trưởng lên xe sẽ nhanh hơn thông báo cho cấp trên...”
“Làm sao thủ phạm nắm được lịch trình của cảnh sát trưởng?”
“Thông tin về các hoạt động của nhà nước đều được công khai, chưa kể chúng ta không thể biết thông tin có bị rò rỉ hay không.” Anh Bảy nói.
“Ch... chúng ta đến kịp chứ?” Tôi hét lớn.
“Chắc kịp! Tám phút là đến nơi!”
Lái xe từ bến phà đường Jordan đến bến phà Cửu Long Thành mà chỉ mất tám phút? Nhưng tôi không dám mở miệng, sợ anh Bảy vì đáp lời mà phân tâm rồi đụng xe, thì chúng tôi sống còn khó chứ đừng nói đến chuyện cứu cảnh sát trưởng.
Anh Bảy phóng điên cuồng, chưa đầy năm phút đã tới Hung Hom mạn phía Đông. Trên đường đi, tôi cầu trời khấn Phật xin bình an, may mà anh Bảy lái xe cũng cừ, tuy đôi lần suýt tông phải người đi bộ sang đường, nhưng tóm lại chỉ đáng sợ chứ không nguy hiểm.
Có điều, khi xe chạy đến gần phố Dock, vận may của chúng tôi chừng như cạn kiệt.
Trên con đường trước mặt, một nhóm khoảng hai ba mươi người đang tụ tập, tuy không đông nhưng vẫn choán gần hết lối đi. Một số người còn cầm biểu ngữ, trông hừng hực khí thế, hình như đang diễn thuyết với đám đông. Anh Bảy đành giảm tốc độ. Lúc tới gần, tôi thấy biểu ngữ có ghi mấy câu “phản đối lục soát trái phép nhà dân”, “truy cứu trách nhiệm những vụ tàn sát đẫm máu”, “yêu nước không có tội, chống áp bức là đúng đắn”, “chúng ta tất thắng, Hồng Kông-Anh tất bại”.
“Thôi xong, là tụ tập trái phép.” Anh Bảy dừng xe. Tháng trước, cảnh sát Hồng Kông tập kích trường học dành cho con em công nhân và Hội liên hiệp Công nhân bến cảng Cửu Long tại Hung Hom, giao tranh nổ ra trên phố, báo đài đưa tin có phần tử bạo động thuộc hội liên hiệp bị bắn chết. Đám đông trước mặt nhiều khả năng là phần tử bạo động đang kêu gọi sự ủng hộ của người dân, phản đối chính quyền.
Anh Bảy không bấm còi mà ngoảnh lại nhìn đằng sau như muốn quay đầu xe. Đúng lúc đó lại có hai chiếc xe chạy tới, thu hẹp khoảng trống để quay xe.
“Sao không bấm còi?” Tôi vừa nói vừa vươn tay ấn còi trước mặt anh Bảy.
“Đừng!” Anh Bảy không kịp giữ tay tôi lại, chiếc xe phát ra tiếng “bim” vang dội.
Chỉ vài giây sau, tôi đã thấm thía hậu quả của hành động này.
Đám đông nghe tiếng còi, liền đổ dồn mắt vào chúng tôi. Họ đứng không xa, chỉ cách khoảng hai ba xe. Ban đầu họ ngó lại với vẻ khó chịu, nhưng rồi họ ghé đầu rỉ tai, mắt bừng lên sát khí. Họ bước từng bước về phía chúng tôi, cứ như bầy sói từ từ áp sát con mồi.
Ờ, đúng rồi. Thần kinh thế không biết!
Trên kính chắn gió của xe anh Bảy có dán huy hiệu cảnh sát.
Chỉ nháy mắt, mấy người đàn ông nhảy xổ tới, vung ống thép đập mạnh vào đầu xe, đèn đóm vỡ vụn.
“Cây tơ quay giòn! Trả thù cho đồng bào ta!”
“Ngồi cho vững!” Anh Bảy đột ngột giật cần số, nhấn ga lùi xe. Anh chẳng buồn quan tâm đến chiếc sedan đỏ đằng sau, cứ thế tông thẳng vào nó. Con bọ khá nhỏ, tôi giật nảy theo xe, suýt nữa nôn sạch đống há cảo xá xíu ăn hồi trưa, hết nhìn đám đông hùng hổ đằng trước lại thấp thỏm liếc đám người chạy trốn đằng sau, không biết phải làm sao.
Bên ngoài, người biểu tình phẫn nộ gào la, “Không cho chúng nó thoát!”
Con bọ không đẩy nổi sedan, anh Bảy bất chợt chuyển cần số, lao vào đám đông. Mấy người cầm vũ khí giật mình dừng bước. Nhưng anh chỉ dọa cho họ dạt ra, rồi vào số lùi chạy giật ngược.
Một người đàn ông đứng không xa lắm đuổi kịp xe, vung gậy sắt đập choang một cái vào cửa sổ phía ghế phụ. Tôi vội che mặt chắn những mảnh thủy tinh. Thấy ông ta sắp nện phát thứ hai, anh Bảy xoay vô lăng, huých thân xe vào ông ta, kịp thời ngăn chặn.
Tài xế sedan đằng sau chắc đã hiểu tình hình, vội đánh lái lùi xe, chúng tôi nhanh chóng ra khỏi đám đông nhốn nháo. Tôi cứ tưởng đã thoát nạn, ai ngờ tình tiết tiếp theo cũng kinh khủng không kém.
Một người đàn ông cầm chai thủy tinh ném thẳng đến chỗ chúng tôi.
Miệng chai hừng hực lửa cháy.
“Trời ạ! Bom xăng!”
Tôi vừa dứt lời, cái chai đập cộp vào đầu xe. Kính chắn gió rực cháy. Lửa tràn vào trong qua cửa kính vỡ nát bên phía tôi. Nhưng tôi chẳng thấy nóng, bởi đã hoảng loạn đến mức mất hết cảm giác rồi.
“Đừng hoảng!” Anh Bảy gào lên, tiếp tục cho xe chạy lùi, dù tốc độ có hạn, nhưng vẫn nhanh hơn nhóm người truy đuổi. Vì xe chạy ngược nên đuôi lửa ở phía trước, tạm thời chưa lan vào trong. Đi gần hết hai con phố mà lửa vẫn không giảm, tôi không khỏi lo sợ rằng chúng tôi sẽ chôn thây trong biển lửa. Anh Bảy từng nói, cái xe thỉnh thoảng lại giở quẻ, nếu nó trục trặc đúng lúc này thì tôi khó mà toàn mạng.
“Xuống xe!”
Anh Bảy bỗng dừng lại, tôi không nghĩ nhiều, đẩy cửa nhào ra khỏi xe. Chúng tôi bỏ lại con bọ rực cháy, chạy về phía sau.
“Bên này! Bên này!” Anh Bảy thét gọi.
Tôi cắm đầu cắm cổ chạy mà không biết anh Bảy đã dừng lại bên đường. Trước mặt anh là một người đàn ông đầu đội mũ bảo hiểm, đứng ngơ ngác cạnh chiếc mô tô.
Anh nói với ông ta, “Cảnh sát đây, bây giờ tôi muốn trưng dụng xe của anh.”
Người đàn ông chưa kịp phản ứng, anh Bảy đã nhảy lên xe, ra hiệu cho tôi lên theo. Thoát thân là trên hết, tôi hối hả trèo lên. Anh Bảy nổ máy, bỏ lại chủ xe vẫn đang hoang mang. Ông ta không phải “cầy tơ”, chắc không bị đám biểu tình đánh đâu...
Nhưng tôi cũng đâu phải “cầy tơ”, mà suýt ăn một gậy đấy thôi...
“Chúng ta đi gọi chi viện à?” Gió thổi vù vù bên tai, tôi phải gào toáng lên, hai tay bấu chặt sườn anh Bảy, chỉ sợ xe rẽ ngoặt là tôi lăn ngay xuống đường.
Anh Bảy gào trả, “Bến phà! Ngăn anh Nhất lên xe quan trọng hơn! Với cả lấy đâu ra đồng nghiệp chi viện!”
Cả đời này, tôi chưa bao giờ đi mô tô hay ngồi xe hơi lên phà, chưa hề bị bom xăng tập kích, càng chưa từng cướp xe của người đi đường, không ngờ trong vòng nửa ngày đều đã nếm trải hết. Chẳng biết hôm nay còn gặp phải chuyện gì kích động nữa không.
Rất nhanh, chúng tôi ra đến bến phà Cửu Long Thành, nhưng chẳng thấy cả phà lẫn xe cảnh sát. Tôi ngó lên đồng hồ lớn trên bến, 5 giờ 16 phút.
Anh Bảy nhìn ngang dọc, nhảy xuống xe, lao thẳng tới chỗ một cảnh binh mặc đồng phục.
“Có phải anh Nhất vừa lên xe ở đây không?” Anh Bảy giơ thẻ ngành.
“Đúng, mới đi được khoảng năm phút.”
“Nguy rồi!” Anh Bảy lại nhớn nhác ngó quanh rồi bảo đồng nghiệp, “Mau báo cấp trên, cảnh sát trưởng đang gặp nguy hiểm, xe bị kẻ xấu giở trò. Tôi sẽ đuổi theo trước.”
Viên cảnh binh chừng như không hiểu lời anh Bảy, mặt cứ đần thối ra. Nhưng anh Bảy không lãng phí thêm thời gian nữa, vội vã chạy về chỗ mô tô, chúng tôi lại lên đường. Đúng là chẳng thể trông chờ vào viên cảnh binh kia được, có báo cáo thì cũng điện thoại tới lui, bấy giờ biết đâu bom đã nổ xong rồi.
“Căn cứ không quân ở đường Quan Đường.” Anh Bảy hét lớn. “Đoàn xe sẽ không đi quá nhanh, chúng ta vẫn có cơ may đuổi kịp!”
Mô tô phóng vun vút, nhưng trên đường xe cộ như mắc cửi. Nơi đây gần sân bay Khải Đức(106), hành khách bay đến bay đi đều phải qua lối này, nên mới đông đúc như vậy.
Tôi phàn nàn, “Chắc gì đã đuổi kịp!”
“Vậy thì đi đường tắt!” Anh Bảy ngoặt vào một khu chợ ngoài trời.
“Tránh ra! Tránh ra! Cảnh sát làm nhiệm vụ!” Anh hét lên.
Người đi đường và các chủ sạp hàng thấy mô tô lao tới đều nhớn nhác né xa, cảnh tượng hỗn loạn vô cùng. Trong chợ có nhiều quầy bán cá và rau, lối đi chật hẹp, sạp gỗ và giỏ tre đựng thực phẩm đâm lỉa chỉa.
“Con bà nó!”
“Làm cái gì đấy!”
“Rau của tôi!”
Tiếng mắng chửi ông ổng khắp chợ. Anh Bảy tông phải mấy sạp hàng, nhưng không vì thế mà giảm tốc độ. Tôi nhủ bụng, nếu đụng xe ở đây rồi rơi vào tay các tiểu thương bừng bừng phẫn nộ, có khi còn thê thảm hơn bị đám phần tử bạo động bắt giữ.
“Đ... đằng trước!” Tôi hét lớn. Phía trước không xa, ngay giữa đường, một người bán rau cầm hai sọt hàng lớn đứng đực ra, dường như không biết nên tránh sang trái hay sang phải. Dù anh Bảy né được người, chắc chúng tôi vẫn đâm vào sọt, ở khoảng cách này xem ra không kịp dừng xe nữa rồi.
Kít....
Anh Bảy giảm tốc độ, đúng lúc sắp đâm vào người bán rau thì mô tô ngoặt phắt sang trái, bánh trước nghiến qua tấm gỗ trên quầy rồi bay lên không, vượt qua một sạp hàng. Khi xe tiếp đất, tôi cũng suýt văng cả người ra ngoài. Trong chớp mắt, chúng tôi về lại đường cái, mùi cá tanh vẫn phảng phất, trên đùi tôi còn vướng mấy lá rau.
“Thấy rồi!”
Phía trước anh Bảy có một đoàn xe, xe đi sau cùng gắn đèn hiệu cảnh sát. Anh Bảy không đuổi theo mà rẽ vào con ngõ nhỏ bên tay phải, vòng ra trước chặn đầu. Anh đỗ mô tô ngay giữa đường, giơ cao thẻ ngành, đối mặt với đoàn xe đang đi tới. Tôi không biết làm gì, đành đứng cách một đoạn, hi vọng đoàn xe thấy chúng tôi sẽ dừng lại, còn không thì tôi cũng kịp chạy thoát, khỏi bị xe cán.
Cũng may, cảnh sát giao thông mở đường đã vẫy tay ra hiệu cho đoàn xe tạm dừng.
“Cậu làm cái gì...” Cảnh sát giao thông định lên giọng quát mắng, nhưng thấy thẻ ngành nên ngừng lại.
Anh Bảy hét lớn, “Mau dừng xe, có khả năng xe số 1 đã bị gài bom!”
Ba, bốn cảnh binh định tiến tới, nghe anh Bảy nói thế thì lập tức dừng bước, chạy về xe số 1. Chắc chắn họ đang đi thông báo với tùy tùng của cảnh sát trưởng. Gặp tình huống này, dù là báo động giả, họ vẫn phải đưa cảnh sát trưởng đi để đảm bảo an toàn.
Cảnh sát mở cửa chiếc sedan màu đen mang biển số 1, hộ tống một người nước ngoài đóng bộ nghiêm chỉnh lên xe bên cạnh rồi tức tốc rời đi cùng hai cảnh sát giao thông lái mô tô. Cùng lúc, một người nước ngoài thân hình vạm vỡ, lông mày rậm rạp bước tới chỗ tôi và anh Bảy, tháp tùng là một thanh tra người Hoa, xem ra là trợ lý.
“Cậu là ai?” Người nước ngoài hỏi anh Bảy bằng tiếng Anh, chắc tôi không đến nỗi nghe nhầm.
“Báo cáo sếp! Tôi, tuần cảnh số hiệu 4447, đóng tại Loan Tể!” Anh Bảy đứng nghiêm chào, đáp bằng tiếng Quảng Đông, “Tôi nhận được tin, có khả năng xe của cảnh sát trưởng bị tội phạm gài bom. Tình hình cấp bách, không kịp đệ trình cấp trên, tôi đành dùng cách này để cảnh báo. Báo cáo hết!”
Trợ lý người Hoa dịch sang tiếng Anh, người nước ngoài liền quay lại nói vài câu với người đằng sau. Chẳng bao lâu, một cảnh binh nai nịt vũ trang đi tới báo cáo, mặt mày căng thẳng. Người nước ngoài nghe xong liền giật mình sửng sốt.
“Phát hiện vật khả nghi gắn cạnh bình xăng dưới gầm xe.” Anh Bảy nói nhỏ với tôi.
“Anh hiểu tiếng Anh à?” Tôi hỏi.
“Hiểu sơ sơ.” Anh Bảy thì thào. “Nhưng nói không tốt lắm, nên không dám mở miệng trước mặt chỉ huy.”
Thì ra cấp bậc của người nước ngoài đó là chỉ huy. Anh hai nói phải, học tiếng Anh quan trọng thật.
Chỉ huy người Anh nói vài câu với anh Bảy, trợ lý liền phiên dịch, “Làm tốt lắm, chuyên gia gỡ bom của quân đội sắp đến rồi. Cậu sang một bên kể rõ sự tình cho chúng tôi nghe.”
“Báo cáo sếp! Có thể quả bom sẽ nổ ngay bây giờ!” Anh Bảy nói, vẫn giữ tư thế nghiêm, “Thủ phạm hành động có tổ chức, tính toán tỉ mỉ. Tôi đoán chừng bom sẽ phát nổ lúc 5 giờ 25 phút khi xe tiến vào căn cứ Không quân Hoàng gia. Đây chính là âm mưu của thủ phạm!”
“Tất cả tránh xa xe số 1! Nhắc lại! Tất cả tránh xa xe số 1!” Theo lệnh chỉ huy, trợ lý cảnh báo các nhân viên tại hiện trường. Cảnh sát phong tỏa hai đầu đường, ngăn phương tiện và người đi đường qua lại.
“Xin hỏi sếp, bây giờ là mấy giờ?” Anh Bảy hỏi trợ lý.
“5 giờ 20 phút.”
“Có thể cho phép tôi tiếp cận xe số 1, kiểm tra quả bom không?”
Anh Bảy hỏi. Trợ lý phiên dịch cho chỉ huy, ông ta kinh ngạc nhìn anh Bảy.
“Tại sao cậu lại muốn mạo hiểm?” Trợ lý hỏi thay chỉ huy.
“Xe số 1 đại diện cho cảnh sát Hồng Kông, nếu nó phát nổ, tinh thần đội ngũ cảnh sát sẽ bị đả kích nặng nề. Chắc hẳn thủ phạm đã tính đến cả bước này, dù không ám sát được cảnh sát trưởng, thì việc phá hủy xe số 1 vẫn là hồi trống cổ động cho phần tử nổi loạn, khiến người dân nghi ngờ năng lực của chúng ta. Giá trị của nó không nằm ở một chiếc xe, mà ở toàn thể đội ngũ cảnh sát. Khi trực ban cùng đội chống bạo động, tôi có học qua về cách gỡ bom với chuyên gia bom mìn, có kinh nghiệm xử lý vật cháy nổ. Nếu quả bom này cấu tạo đơn giản, không chừng tôi lại giữ được chiếc xe.”
Chỉ huy gật đầu, nói vài câu với trợ lý. Người này bèn dịch, “Được, nhưng một mình cậu ổn chứ? Cần ai hỗ trợ không?”
Anh Bảy liếc quanh một vòng, ánh mắt dừng ở tôi.
Này, anh đùa đấy à?
“Nhiệm vụ quá nguy hiểm, trừ phi có người tình nguyện, còn không tôi không thể yêu cầu bất cứ ai giúp đỡ.” Anh Bảy đáp.
Anh nói thế tức là muốn tôi tự xung phong chứ gì? Trời ạ, tôi có phải cảnh sát đâu, tôi chỉ ăn một hộp rưỡi dim sum thôi mà...
Tôi còn đang do dự, một cảnh binh đứng gần đấy đã lên tiếng, “Tôi sẵn lòng, thưa chỉ huy. Tôi đã từng đọc sách về cấu tạo bom.”
Tôi quay sang nhìn, chính là cảnh binh ban nãy đến báo cáo về vật khả nghi cạnh bình xăng. Khuôn mặt anh ta rúm ró, vẻ hồi hộp. May mà anh ta lên tiếng, không thì tôi đã giơ tay, hú hồn hú vía!
“Được, các cậu cứ xem thử đi, đừng tự ép mình quá, phải ưu tiên an toàn của bản thân.” Trợ lý nói thay chỉ huy.
Anh Bảy xách theo thùng dụng cụ vừa tìm được, chạy đến bên xe số 1 cùng anh cảnh binh tình nguyện. Chúng tôi đứng xa chờ đợi. Trợ lý hỏi han thân thế của tôi, tôi bèn trình bày sơ lược để anh ta báo cáo cho chỉ huy. Ông ta gật đâu chứ không có phản ứng gì.
Anh Bảy nẳm ra đường, thân trên khuất bóng dưới gầm xe, người còn lại ngồi xổm bên cạnh, cầm đèn pin soi cho anh. Tôi không dám nhìn họ, chỉ ngó chòng chọc đồng hồ của anh trợ lý, kim phút nhích từng tí một.
Hình ảnh phà Dân Bang phát nổ mà tôi tưởng đến khi qua biển, giờ lại hiện ra trước mắt. Thời gian trôi rất chậm. Biết đâu ngay giây tiếp theo tiếng nổ động trời vang lên, tôi sẽ phải từ biệt người đồng hành vừa thân thiết được một ngày.
Kim phút lê lết đến số 5...
Ù...
Một chiếc máy bay vút qua trên đầu chúng tôi, ồn ã phá tan cuộc trò chuyện. Nghe tiếng động cơ rì rì điếc tai, chúng tôi nhất loạt ngẩng đầu nhìn nó.
Khi nhìn trở lại trước mặt, tôi trông thấy một cảnh tượng đầy bất ngờ.
Anh Bảy và anh cảnh binh nọ đang tươi cười bên cạnh xe cảnh sát trưởng. Anh Bảy giơ cao tay phải, búng ngón cái.
Tôi nghĩ, dấu hiệu đó chứng tỏ họ đã tháo bom thành công, chứ không phải anh Bảy định đi ăn dim sum ở Đệ Nhất Đại Trà Lâu lần nữa.
6 giờ 20 phút, chuyên gia gỡ bom có mặt. Có lẽ vì lúc trước bị điều đến tòa nhà Murray và ga Sa Điền, nên phải mất gần một tiếng họ mới tới nơi. Sau khi kiểm tra, chuyên gia xác nhận thiết bị kích nổ đã được anh Bảy cắt bỏ, có thể di dời bom, không cần cho nổ tại hiện trường. Bom này nổ không to, nhưng vì đặt cạnh bình xăng nên khi phát nổ, nó sẽ làm xăng cháy theo, biến chiếc xe thành quả cầu lửa.
Chỉ huy người nước ngoài hình như chính là lãnh đạo cao nhất tại hiện trường. Tầm 6 giờ 40 phút, tôi với anh Bảy ngồi xe cảnh sát về bến phà Cửu Long Thành, sau đấy ngồi tàu cảnh sát đến đảo Hồng Kông. Trong lúc đó, mấy cảnh sát cấp cao, tôi nghĩ thế, không ngừng hỏi chuyện tôi và anh Bảy. Chúng tôi kể tường tận mọi chi tiết, từ việc tôi vô tình nghe được cuộc hội ý cho đến chuyện Trịnh bị bắt, chuyện tấm bản đồ trong phòng Đỗ, những phát hiện ở Đệ Nhất Trà Lâu và những suy luận khi ở trên phà.
Vẻ mặt mấy người đó hết sức phẫn nộ, trông như sắp phát hỏa đến nơi. Nhưng anh Bảy nói nhỏ với tôi, thật ra họ rất hoan hỉ trước kết quả này. Mặc dù vụ việc rối rắm, nhưng thiệt hại đã giảm đến mức tối thiểu, trước mắt chỉ chờ bắt được thủ phạm là có thể giải quyết xong xuôi.
Nhân lúc các cảnh sát cấp cao đi chỗ khác, anh Bảy bảo tôi, “Công tác an ninh có lỗ hổng lớn, cảnh sát trưởng suýt bị giết hại, họ ít nhiều sẽ chịu khiển trách. Tô Đỗ mà bị bắt chắc sẽ xui xẻo lắm đây.”
7 rưỡi, chúng tôi tới đồn cảnh sát Loan Tể. Rốt cuộc tôi vẫn phải vào “nha môn”, bên ngoài vẫn canh phòng nghiêm ngặt như thế. Trời tối, hàng rào và đống bao cát trông càng đáng sợ, chẳng khác nào đường phố thời chiến.
Tại đồn cảnh sát Loan Tể, tôi và anh Bảy kể lại một lượt với viên cảnh sát mặc thường phục của ban loong toong về những gì đã trải qua, ở đó còn có mấy người nước ngoài mặc vest chỉnh tề. Anh Bảy cho biết, họ là người của Ban Chính trị.
“Cậu nhìn xem trong ảnh có phải Đỗ Tự Cường, Tô Tùng và Trâu Tiến Hưng không?” Một cảnh sát đặt trước mặt tôi ba tấm ảnh.
Tôi đáp, “Đây đúng là Đỗ Tự Cường, đây là Tô Tùng, còn người họ Trâu thì tôi không biết. Tôi mới nghe giọng chứ chưa nhìn thấy mặt.”
Anh cảnh sát nói, “Trâu từng mở cửa hàng sửa xe gần phố Ship, nhưng làm ăn không thuận lợi nên đã đóng cửa lâu rồi. Theo nguồn tin, tên này qua lại mật thiết với người cầm đầu công đoàn phản động, chúng tôi theo dõi hắn đã được một thời gian.”
Phố Ship ở quận Loan Tể, gần đường Spring Garden, đi bộ hai ba phút là đến, chẳng trách Tô nói chú Trâu sống gần đây. Thì ra chú ta vốn là thợ sửa xe, nên giao cho Đỗ với Tô làm mồi nhử, đánh lạc hướng tài xế xe số 1 để mình đi gài bom, phân công quá là hợp lý!
“Bây giờ cậu đừng về phòng trọ, mấy tiếng nữa cảnh sát sẽ ập vào nhà bắt giữ Tô Đỗ.” Anh Bảy nói.
“Họ định dùng vũ lực sao?” Tôi hỏi. “Vợ chồng ông Hà chủ nhà là người tốt, chẳng có tội tình gì.”
“Tôi biết. Để tôi nói rõ với các anh em, họ sẽ không làm bừa đâu.”
May mà tối nay anh hai bận việc không về, nếu không tôi lại càng nóng ruột.
“Tôi muốn gọi điện cho ông Hà, nói là tối nay ngủ lại nhà bạn.”
“Này, cậu định báo thủ phạm chạy trốn hả?” Một cảnh sát mặc thường phục gắt lên, giọng không mấy thân thiện.
“Nếu cậu ấy là đồng bọn thì đã chẳng mạo hiểm vạch trần âm mưu này.”
Anh Bảy giải thích thay tôi. Cảnh sát kia bĩu môi, không gây sự nữa.
Tôi gọi cho ông Hà, báo rằng tối nay mình ngủ ở nhà bạn còn anh hai bận việc không về, ông Hà chỉ “ừ” một câu đơn giản. Mấy tiếng nữa, cảnh sát có vũ trang xông vào nhà, chắc hai ông bà sẽ sợ quắn quéo. Nhưng đây là trường hợp bất khả kháng, ông ấy phải chấp nhận thôi.
Sau đó, cảnh sát để tôi ngồi chờ trong văn phòng ban loong toong, rồi bảo tôi nghe giọng chú Trâu để xác nhận thủ phạm. Anh cảnh sát thiếu thân thiện ban nãy còn chủ động hỏi tôi có muốn ăn cơm không, rồi đến căng tin mua cho tôi một bát cơm sườn đầy tú ụ. Hôm nay quả thật vất vả, trải qua bao nhiêu chuyện đáng sợ, nhưng trưa tối hai bữa đều được ăn no nê, đúng là trong cái rủi có cái may. Trước đây, lần nào anh hai kiếm được tiền cũng dẫn tôi đi ăn ngon, đáng tiếc lần này tôi không thể mời lại anh. Nhưng nhỡ đâu anh cho rằng ăn cơm ở đồn cảnh sát là không may mắn nên nuốt không trôi thì sao, điều này tôi cũng không rõ lắm.
Hơn 10 giờ tối, anh Bảy ghé qua ban loong toong thăm tôi. Anh đã mặc lại cảnh phục, còn cầm theo mũ bảo hiểm, trang bị bên hông cũng nhiều hơn mọi khi. Xem ra họ sắp hành động, cảnh sát hình sự mặc thường phục lo bắt người, còn tuần cảnh hỗ trợ để ổn định trật tự. Đi cạnh anh Bảy là anh Ba mặt mũi như du côn, làm tôi sợ hết hồn, chẳng ngờ anh Ba lại cười bảo, “Thằng nhóc này, được lắm.”
Họ đi rồi, tôi ngồi ngủ gật trên băng ghế trong góc phòng, đến 12 rưỡi thì bị đánh thức bởi tiếng ồn ào.
“Thằng khốn nạn dám vuốt râu hùm, định ám sát cảnh sát trưởng của chúng ta!”
“Yêu nước không có tội! Chống áp bức là đúng đắn!”
“Mẹ kiếp!”
Giọng hô khẩu hiệu the thé là của Tô Tùng. Hồ sơ chất đầy trên cái bàn trước mặt vừa vặn che khuất tôi, lại có khe hở để tôi nhìn lén qua được. Viên cảnh sát đang xử lý giấy tờ bên cạnh, phát hiện động thái của tôi nhưng không ngăn cản. Tôi đoán anh ta cũng hiểu, vì thủ phạm ở cùng nhà nên tất nhiên tôi sẽ muốn tránh mặt.
Khi Tô bị áp giải vào phòng, tôi bất giác thốt lên.
Anh ta bị đánh thê thảm.
Mặt mũi bầm giập, đuôi mắt phải sưng vụ, mặt không chảy máu nhưng quần áo thì đỏ nhầy nhụa, trông mà kinh hoàng. Tôi gần như không nhận ra người hằng ngày vẫn rủ rê mình gia nhập công đoàn nữa. Đỗ theo sau, không thương tích nghiêm trọng như Tô nhưng cũng có dấu vết đấm đá. Anh ta im lặng cúi đầu, khập khiễng lê chân trái, chắc vừa bị cảnh sát nện gãy chân. Cuối cùng là một người đàn ông trung niên hơi mập. Cũng như Tô, mặt mày ông ta bị đánh đến mức biến dạng, không xác định nổi có phải Trâu Tiến Hưng trong ảnh hay không. Cả ba đều bị còng tay, mỗi người được vài cảnh sát áp giải, ngoài ra còn có mấy tuần cảnh hỗ trợ bên cạnh, anh Bảy cũng nằm trong số đó.
“Đi nhanh lên!” Một cảnh sát đạp vào chân người đàn ông trung niên.
“Cầy tơ!” Ông ta chửi váng lên, liền lĩnh hai phát dùi cui.
Cũng nhờ ông ta mở miệng, tôi nhận ra ngay, bèn nói với cảnh sát bên cạnh, “Đúng rồi, đây chính là chú Trâu, giống với giọng nói tôi nghe được hôm nọ.”
Anh cảnh sát gật đầu, rời bàn, ra thì thào với một người mặc sơ mi dài tay màu xanh da trời, hình như là trưởng ban. Đỗ, Tô, Trâu bị áp giải vào ba phòng nhỏ, chắc cảnh sát muốn tiếp tục tra khảo. Tôi không dám tưởng tượng ba người họ còn phải chịu giày vò thế nào nữa.
Anh Bảy đi đến chỗ tôi, cười xòa, “Vợ chồng ông Hà có hơi hoảng sợ, nhưng các anh em đều cẩn thận, không phá hỏng tường phòng cậu đâu. Tấm bản đồ dùng làm vật chứng cũng đã tìm thấy, vụ án coi như kết thúc. Hôm nay vất vả cho cậu rồi.”
Tôi định khách sáo đáp “Không hề gì”, nhưng lăn lộn cả ngày trời, thú thật là mệt chết đi được.
“Attention!”
Ngoài cửa bất chợt có tiếng hô.
Bước vào phòng là viên chỉ huy người nước ngoài mà chúng tôi đã gặp lúc chặn xe số 1. Bên cạnh vẫn là anh trợ lý. Tất cả cảnh sát đứng nghiêm chào theo nghi thức. Trông chỉ huy có vẻ nhẹ nhõm hơn nhiều, chắc vì đã bắt gọn thủ phạm, có thể báo cáo lên cảnh sát trưởng.
Trợ lý dịch lại lời chỉ huy, “Các cậu làm tốt lắm.” Rồi hỏi thêm, “Có muốn gia nhập ngành cảnh sát không? Sau khi nghe kể về biểu hiện của cậu hôm nay, chỉ huy Cát cảm thấy cậu vô cùng xuất sắc. Cảnh sát đang cần những nhân tài có đầu óc linh hoạt như cậu. Muốn vào ngành cần có hai người bảo lãnh(107), nếu cậu không quen ông chủ nào, chỉ huy Cát có thể phá lệ làm người bảo lãnh cho cậu.”
Hóa ra ông chỉ huy này họ Cát... À không, chắc là chữ đầu trong tên khi phiên ra tiếng Quảng.
Tôi gật đâu nói, “Vâng, tôi sẽ suy nghĩ kĩ. Xin cảm ơn.”
Trợ lý trỏ một cảnh sát tầm bốn mươi tuổi đứng bên cạnh, “Vậy cậu để lại thông tin cho Cảnh viên trưởng đi, khi nào muốn đăng kí thì báo với ông ấy.”
Chỉ huy Cát quay sang biểu dương anh Bảy, khen anh đã tự mình phá tan một âm mưu lớn. Anh Bảy lễ phép đáp lời, nói rằng đây là chức trách của mình, tóm lại là mấy câu khách sáo vô vị hay dùng với cấp trên.
Giữa lúc ấy, một cảnh binh mặc thường phục bước đến.
“Xin lỗi đã xen ngang, thưa sếp. Tôi có việc cần tìm 4447.” Anh ta nói.
“Chuyện gì thế?” Anh Bảy hỏi.
“Đỗ Tự Cường nói sẽ tự nguyện cung khai, nhưng anh ta muốn nói với 4447.”
Anh Bảy ngạc nhiên, “Tôi?”
“Cậu đừng mắc lừa.” Người đàn ông mặc sơ mi xanh da trời, có vẻ là trưởng ban loong toong cất tiếng khuyên anh Bảy. “Đám cặn bã này sẽ dùng mọi cách để ngụy biện, thậm chí còn giăng bẫy chúng ta. Gã chỉ đích danh cậu chắc chắn là có động cơ xấu. Tự chúng tôi có cách bắt gã khai thật, cậu là cảnh sát tuần tra, đừng nhúng tay vào thì hơn.”
“Tôi... tôi hiểu rồi, thưa sếp.” Anh Bảy đáp.
Tôi định xen vào, nhưng nghĩ một lát lại thôi.
Viên cảnh binh vừa báo cáo lại quay vào phòng. Tôi nghe láng máng tiếng rên rỉ và kêu khóc vọng ra. Còn các cảnh sát trước mắt tôi thì vui vẻ chúc mừng vụ án được giải quyết. Sự đối lập này khiến tôi có cảm giác không thực.
Quả là một thời đại kì cục.
Đêm đó, tôi ở lại đồn. Tuy cảnh sát nói có thể đưa tôi về, nhưng giờ đang ban lệnh giới nghiêm, tôi mà về phòng lúc nửa đêm thì ông Hà sẽ nghi ngờ. Đâm lao đành theo lao, anh Bảy tìm cho tôi cái giường xếp, để tôi ngủ trong một phòng riêng biệt. Kể ra cũng không tệ, ở đây ít muỗi hơn ở nhà. 7 giờ sáng tôi mới lững thững đi bộ ra từ đồn cảnh sát Loan Tể.
Về đến nơi, tôi giả vờ sửng sốt khi biết tin Tô Đỗ bị bắt, ông Hà kể lại quá trình cảnh sát phá cửa bắt người cực kì sinh động và giật gân. Tôi nghĩ bụng, nếu biết những trải nghiệm của tôi hôm trước, chắc chắn ông sẽ thêm mắm dặm muối thành một truyền kì còn khoa trương hơn cả phim truyền hình để bàn tán với bà con lối xóm.
Buổi sáng, anh hai vừa tạt qua nhà lại vội vã ra đi, nhưng trông rất phấn khởi. Anh bảo chuyện làm ăn có thể sẽ thành công. Chủ nhật mà còn phải hẹn khách, nghề môi giới vất vả thật.
Tôi giúp ông Hà mở hàng như mọi ngày, ông cũng hẹn bạn uống trà như thường lệ. Thời sự không đưa tin về vụ việc hôm qua, xem ra cảnh sát đã phong tỏa tin tức triệt để. Cũng phải thôi, tình hình nghiêm trọng thế cơ mà, kể cả đã giải quyết xong xuôi thì “xe của cảnh sát trưởng suýt bị đánh bom” vẫn chẳng phải sự kiện vẻ vang gì.
Hôm nay anh Bảy không qua đây, tuần cảnh đổi thành người khác. Tôi đoán anh được hưởng đãi ngộ đặc biệt, cho phép nghỉ một ngày.
Chiều tối, tôi bê các hộp kẹo và bánh quy bày bên ngoài vào trong, chuẩn bị đóng cửa. Ông Hà ngồi phe phẩy quạt sau quầy, ngâm nga một khúc hát Quảng Châu lạc điệu.
“Sau đây là bản tin thời sự. Chiều nay ở phố Thanh Hoa, North Point đã xảy ra một vụ nổ bom tự chế gây chết người. Nạn nhân là hai chị em họ Hoàng, chị gái tám tuổi và em trai bốn tuổi. Được biết, nạn nhân sống gần nơi bom nổ, có bố mở xưởng kim khí ngay tại đó. Cảnh sát kịch liệt lên án hành vi vô nhân tính của thủ phạm, đồng thời khẳng định sẽ nhanh chóng điều tra phá án. Một nghị viên cho biết, phố Thanh Hoa chỉ là khu dân cư, không hề có văn phòng chính phủ, chưa hiểu tại sao phe phản động lại đặt bom ở đây. Đúng là một hành vi tàn ác cực độ...”
“Kinh thật...” Ông Hà nói. “Phe phản động càng ngày càng quá đáng.”
Tôi không đáp, chỉ lắc đầu thở dài.
Thì ra là vậy.
Sáng hôm sau, tôi gặp lại anh Bảy. Anh vẫn thế, rảo bước từ góc phố qua đây với vẻ mặt dửng dưng.
Anh đặt ba hào lên quầy, “Một chai cola.”
Tôi đưa chai nước cho anh, sau đó im lặng về vị trí cũ. Ông Hà đã đi uống trà, chỉ còn mình tôi trông hàng.
Một lúc lâu sau, anh Bảy mở miệng trước, “Cậu có định làm cảnh sát không?”
“Tôi đang nghĩ.” Tôi trả lời.
“Có chỉ huy Cát tiến cử, cậu mà làm cảnh sát thì đảm bảo một bước lên mây.”
“Nếu vào ngành cảnh sát tức là phải răm rắp vâng lệnh cấp trên thì tôi chẳng ham.”
Ánh mắt anh Bảy thoáng ngỡ ngàng, “Cảnh sát là đội ngũ có kỉ luật nghiêm minh, chế độ rõ ràng, chức trách của cấp trên cấp dưới được phân định rạch ròi...”
Tôi từ tốn nói để cắt ngang màn thuyết giáo của anh Bảy, “Anh biết hai chị em chết do bom nổ ở North Point mà bản tin hôm qua nhắc đến chứ?”
“Hả? Biết, chúng thật đáng thương. Nhưng đến giờ vẫn chưa tìm ra hung thủ...”
“Tôi biết hung thủ là ai.”
“Cái gì?” Anh Bảy ngạc nhiên nhìn tôi. “Là ai?”
“Người hại chết hai đứa trẻ đó,” tôi nhìn thẳng vào mắt anh ấy, “Chính là anh.”
“Tôi?” Anh Bảy trợn tròn hai mắt. “Cậu đang nói linh tinh gì thế?”
“Tuy anh không đặt bom, nhưng chính sự bảo thủ ngu muội của anh khiến chúng mất mạng.” Tôi giải thích. “Khi Đỗ Tự Cường muốn gặp anh, anh phủi đi ngay chỉ vì vài câu của thanh tra ban loong toong. Điều mà Đỗ muốn truyền đạt chính là chuyện ở North Point.”
“Nói... nói thế là sao?”
“Tôi đã bảo rồi, tôi nghe chú Trâu dặn Tô và Đỗ xuất phát từ North Point rồi gặp nhau tại cứ điểm. Tô Đỗ thảnh thơi ra khỏi nhà, lúc đến Đệ Nhất Trà Lâu lại tay xách nách mang, có nghĩa là họ ghé North Point để lấy bom. Chúng ta không biết họ có bom bằng cách nào, nhưng tôi còn nhớ, trên bản đồ có mấy dấu bút chì ở vị trí phố Thanh Hoa, có thể Trâu đã trỏ vào đó cho Tô Đỗ thấy. Khi lấy bom, họ phải hết sức cẩn thận, không phải vì sợ bom nổ, mà sợ người chế tạo bom bại lộ thân phận. Nếu kẻ đặt bom bị cảnh sát để mắt giống như Trâu, cảnh sát chỉ cần theo dõi kẻ đó là lần ra người chế bom, phe phản động sẽ mất thêm một kĩ thuật viên quý giá.”
Tôi ngừng lại nhìn khuôn mặt thẫn thờ của anh Bảy rồi nói tiếp, “Cho nên, tôi tin chắc rằng họ không giao đồ trực tiếp. Cách đơn giản nhất là hẹn trước thời gian địa điểm, người chế bom để hàng tại vị trí đã thỏa thuận, đội cảm tử sẽ đến lấy. Đây chính là thông tin mà Đỗ muốn tiết lộ cho anh. Họ bị bắt lúc nửa đêm, không kịp báo lại với người chế bom, người này bèn đặt quả bom thứ hai đúng như giao hẹn. Không ai đến lấy, cuối cùng hai đứa trẻ hiếu kì nghịch quả bom nên mới xảy ra cơ sự. Anh có nhớ tôi từng kể rằng, Trâu còn nhắc đến đợt tấn công thứ hai, thứ ba liên tiếp mấy ngày không?”
“Đỗ... muốn nói với tôi chuyện này? Tại sao lại là tôi? Anh ta có thể nói trực tiếp với ban loong toong mà?” Anh Bảy hoảng hốt hét lên, vẻ mặt chẳng ăn nhập gì với bộ đồng phục trên người.
“Bị hình sự đánh đập tra khảo là chuyện quá bình thường. Anh cho rằng nói với đám người đó thì họ sẽ tin sao? Chính vì Đỗ biết anh chính trực, có tiếng lành ở phố nên mới gọi đích danh anh. Nhưng chỉ vì vài câu của cấp trên mà anh bỏ mặc. Khi ấy anh cũng do dự, đúng không? Anh biết Đỗ khác Tô, anh ta không phải kẻ điên mà chỉ là kẻ bất hạnh. Nhưng anh lờ đi sự thật mà mình tin tưởng, chăm chăm nghe lệnh để gìn giữ công việc và mối quan hệ tại đồn cảnh sát.”
“Tôi... tôi...” Anh Bảy không thể phản bác.
“Vì cái gọi là danh dự của đội ngũ cảnh sát, anh không thiết mạng sống, tình nguyện gỡ bom trên xe số 1. Nhưng hôm qua lại có hai đứa trẻ vô tội chỉ vì anh mà mất đi sinh mạng quý giá. Anh muốn bảo vệ hình tượng của ngành hay tính mạng đồng bào? Anh định trung thành với những người xét lương cho anh hay với người dân Hồng Kông?” Tôi bình thản hỏi. “Rốt cuộc, tại sao anh muốn làm cảnh sát?”
Anh Bảy trầm mặc, đặt chai nước ngọt mới uống được hai ngụm xuống, rồi chậm rãi rời đi. Nhìn theo bộ dạng thất thểu đó, tôi nghĩ mình hơi nặng lời. Tôi có tư cách gì mà phát ngôn đao to búa lớn đây? Ngày mai gặp lại, tôi sẽ mời anh một chai coca coi như đền bù.
★
Nhưng hôm sau, anh Bảy không đến, mấy hôm sau nữa cũng chẳng thấy đâu.
Ông Hà quen vài người ở đồn cảnh sát, tôi bèn hỏi ông có biết tại sao dạo này bặt tin anh Bảy không.
“4447? Ai nhỉ? Tôi không nhớ số hiệu của họ đâu.” Ông Hà nói.
“Cái người...” Tôi cố nhớ lại tên họ liếc thấy trên thẻ ngành của anh Bảy tuần trước, “Hình như là Quan Chấn Tắc hay Đặc thì phải.”
“À, cậu Đạc chứ gì.” Ông Hà gật gù, “Nghe bảo cậu ấy vừa lập công lớn, được điều đến Trung Hoàn hay Tiêm Sa Chủy ở Cửu Long rồi.”
Ra là thăng chức. Thế thì thôi, tôi có thể tiết kiệm tiền chai coca.
Mặc dù tôi thuyết giáo hùng hồn, nhưng thật ra chúng tôi cũng cá mè một lứa. Tôi tố giác đám Tô Đỗ đâu phải vì chính nghĩa, mà chỉ vì lo cho mình và anh hai.
Thời buổi này khó nói chuyện đạo lý lắm. Ở cùng nhà với lũ phần tử bạo động như Tô và Đỗ đã đủ thấp thỏm, chẳng biết có bị liên lụy hay không. Đến lúc vô tình nghe được âm mưu đặt bom của họ, tôi càng phấp phỏng. Nếu là tụ tập biểu tình bình thường, cứ ngoan ngoãn nhận tội là đa số tòa án đều chỉ phạt nhẹ, nhưng dính đến “dứa” thì khác. Tôi với anh hai sẽ có nguy cơ bị đổ oan là đồng bọn của họ.
Muốn bảo vệ bản thân thì phải ra tay trước.
Vốn dĩ, tôi chỉ định giúp anh Bảy tìm chứng cứ rồi rút lui. Có người quen trong ngành sẽ dễ được việc hơn. Chỉ cần anh Bảy làm chứng tôi là người tố giác, thì mặc kệ Tô nói thế nào, mặc kệ ban loong toong thích xúc thêm bao nhiêu tên nổi loạn để lập công, tôi với anh hai cũng có cơ thoát nạn. Tôi càng không phải lo đám bạo động phát hiện ra mình là kẻ chỉ điểm. Cảnh sát chỉ mong xã hội có thêm thật nhiều thành phần như tôi ấy chứ, ai lại đi tiết lộ lai lịch nhân chứng và tình tiết vụ án ra.
Chẳng qua do tôi mềm lòng, mới nghe anh Bảy lôi kéo vài câu đã lơ ngơ ngồi lên xe anh ấy, vi vu khắp Cửu Long với đảo Hồng Kông. Xem ra tôi đúng là thằng ngốc dễ bị người khác lợi dụng.
Hai ngày sau, anh hai hớn hở về nhà, nói là có việc muốn bàn bạc.
“Vụ áp phe của anh thắng đậm, thù lao 3000 đô.” Giọng cực kì phấn khích.
“Trời, nhiều thế cơ ạ!” Tôi không ngờ lần này anh hai lại làm ăn lớn như vậy.
“Không, tiền chỉ là thứ yếu. Quan trọng hơn, anh đã tạo dựng quan hệ tốt với một ông chủ. Ông ấy định mở rộng kinh doanh, lập công ty mới, hiện đang tuyển nhân sự. Vụ này thành công đồng nghĩa với việc anh phỏng vấn thành công. Mặc dù chỉ là nhân viên bình thường, nhưng biết đâu mai này lại được thăng quản lý hoặc giám đốc!”
“Chúc mừng anh hai!” Tôi định khoe mình cũng đã “qua vòng phỏng vấn”, nhưng đó là nghề cảnh sát mà anh căm ghét, với cả tạm thời tôi chưa có ý định gia nhập.
“Không cần chúc mừng anh, chú cũng có phần.”
“Em cũng có phần?”
“Anh kể ở nhà có một người em ngoan ngoãn tháo vát lắm, đảm bảo hiệu suất cao. Cho nên chỉ cần chú đồng ý là anh em ta có thể đi làm cùng công ty.”
Đi làm cùng anh hai? Hay đấy, vẫn tốt hơn cái nghề cảnh sát chán ốm kia.
“Được, công ty nào thế anh?”
“Xưởng nhựa Phong Hải, chú nghe tên chưa? Ông chủ họ Du, đang chuẩn bị lấn sân sang thị trường địa ốc. Mặc dù trước mắt mình chỉ làm nhân viên thực tập thôi, nhưng cơ hội thăng tiến xem chừng sáng sủa lắm. Đường à, mặc dù chú họ Vương, anh họ Nguyễn, nhưng mấy năm nay anh đều coi chú như em ruột, có phúc cùng hưởng, có họa cùng chịu. Chúng ta hãy cùng nhau cố gắng, coi công việc này là xuất phát điểm để làm nên sự nghiệp đi...”
(78) Phòng có vách bằng ván gỗ. Vốn là một phần nhỏ ngăn ra từ một căn phòng lớn.
(79) Nan huynh nan đệ (Old Time Buddy). Phim điện ảnh Hồng Kông, phát hành năm 1960, Tần Kiếm đạo diễn. Tạ Hiền diễn viên phim này về sau có người con nổi tiếng là Tạ Đình Phong.
(80) Ngô Tụ Tài đồng âm với “vô tụ tài (không thể tích cóp tiền bạc)”, còn Chu Nhật Thanh nghĩa là “ngày nào cũng rỗng túi”.
(81) Tháng 5/1967, ở Hồng Kông xảy ra các cuộc bạo động chống giới cầm quyền, từ biểu tình bãi công phát triển thành đặt bom khủng bố, đấu súng, thậm chí ám sát. Tình hình hỗn loạn kéo dài đến tháng 12/1967, phe bạo động có 51 người chết, hơn tám trăm người bị thương, chưa kể vô số thường dân (có cả trẻ em) mất mạng vì bom tự chế. Về sau, sự kiện này được gọi là “Bạo loạn 67” hay “Sự kiện tháng Năm”.
(82) Người Hồng Kông trước đây cho rằng cảnh sát không phải nghề tốt.
(83) Một loại vũ khí chống bạo động. Cải tiến từ vũ khí bắn đạn cay, có thể bắn đạn gỗ đường kính 3,5 cm, dài 22 cm, nặng tầm 200 g. Đạn gỗ bắn xuống đất sẽ bật lại theo các hướng ngẫu nhiên, nhưng độ cao không vượt quá 1 m, nên chỉ trúng vào chân người tham gia bạo động mà không gây thiệt mạng.
(84) Khu vực giáp ranh giữa Hồng Kông và đại lục, cụ thể là Tân Giới và Thâm Quyến (Quảng Đông), ngăn cách bằng giới tuyến tự nhiên là sông Sa Đầu Giác. Phố Trung Anh vốn là một phần của sông này, do san lấp mà thành, đây cũng là đỉểm tiếp giáp trên bộ duy nhất giữa Hồng Kông và đại lục.
(85) Tiếng lóng chỉ bom.
(86) Theo Chan Ho Kei, suốt thời kì Bạo loạn 67, cảnh sát tìm được tổng cộng 8352 vật phẩm bị nghi là bom, trong đó 1420 món là bom thật. Tuy nhiên theo số liệu trong cuốn Hong Kong Annual Report 1967 do Hong Kong Government Press phát hành năm 1968, hai con số này lần lượt là 9241 và 1167. Một nhân vật nổi tiếng phản đối bạo động là Kim Dung cũng được gửi tặng bom thật tận nhà, ngụy trang dưới dạng bưu kiện. Sau khi quả bom bưu kiện nổ, để đảm bảo an toàn, ông đành cùng gia đình tạm lánh sang Singapore.
(87) Ở các trà quán Hồng Kông những năm 60, càng lên tầng cao thì giá ăn uống càng đắt, nên mới có câu “Có tiền mời lên lầu trên, không tiền xuống nhà ngồi xổm”.
(88) Vào những năm 1960, lương tháng của công nhân bình thường là 200 đô la Hồng Kông.
(89) Từng là bến phà quy mô nhất khu vực Cửu Long, năm 1998 bị tháo dỡ và biến mất cùng quá trình lấn biển.
(90) Coca tức Coca-Cola, còn cola là một loại nước có ga của hãng Watson’s, giá rẻ hơn coca.
(91) Peter Fletcher (1915-1999), phó tham mưu Không quân Hoàng gia Anh từ 1967 đến 1970.
(92) Richard Michael Power Carver (1915-2001), nam tước Shackleford, thống chế Lục quân Hoàng gia Anh, tổng tư lệnh Quân đội Anh tại Viễn Đông từ 1967 đến 1969. Quân đội Anh có hai đợt đóng ở Viễn Đông, đấy là đợt thứ hai (1963-1971), căn cứ chủ yếu đặt tại Hồng Kông và Singapore. Carver ghé thăm Hồng Kông vào tháng 7/1967.
(93) Vỏ chai sẽ được nhà phân phối thu về, khách đến mua nước ngọt phải uống luôn tại chỗ, nếu muốn mang đi thì phải đưa thêm tiền đặt cọc, sau này trả chai rỗng cho cửa hàng thì nhận lại tiền.
(94) Từ tháng 7/1967, nhiều phóng viên Tân Hoa Xã chi nhánh Hồng Kông lần lượt bị bắt, đại lục chỉ trích chính quyền Hồng Kông-Anh vô cớ hãm hại tự do ngôn luận, nên đáp trả bằng cách giam lỏng Anthony Grey, phóng viên Reuters thường trú tại Bắc Kinh. Ngoại giao ba bên trở nên căng thẳng, các dự định trao đổi “con tin” đều bất thành. Tháng 10/1969, phóng viên Tân Hoa Xã được thả hết, Grey cũng được tự do.
(95) Tên lóng của ban điều ưa hình sự vào thập niên 1960.
(96) Nghĩa là chỉ có một bộ Âu phục. Ở Hồng Kông thập niên 1960, người ta quan niệm “kính quần kính áo rồi mới kính người”. Mặc dù công việc chưa chắc đã dùng đến Âu phục, nhưng phần lớn nam giới phải sắp sẵn ít nhất một bộ để mặc khi cần. Đồng thời, nếu công việc yêu cầu phải mặc Âu phục (như người làm kinh doanh) thì vẫn có thể mặc đi mặc lại cùng một bộ.
(97) United Pier. Còn gọi là bến phà phố Jubilee. Năm 1994 khu vực này được đổ đất lấn biển, bến phà cũng theo đó biến mất.
(98) Volkswagen Beetle hay Volkswagen Type 1, một model của hãng Volkswagen, Đức.
(99) Hãng sản xuất xe hơi của Anh.
(100) Một loại bánh ngọt truyền thống của vùng Triều Châu, Quảng Đông, nguyên liệu chủ yếu là bột mì và trứng gà.
(101) Nghĩa đen là đổ xuống bể thật, nghĩa bóng là hoài công vô ích.
(102) John Francis Worsley (1912-1987), tư lệnh quân đội Anh tại Hồng Kông từ năm 1966 đến 1968.
(103) Edward Caston Eates (1916-2012), cảnh sát trưởng Hồng Kông từ năm 1967 đến 1969.
(104) Michael David Irving Gass (1916-1983), phó thống đốc Hồng Kông từ năm 1965 đến 1969.
(105) Bến phà đặt theo tên nữ hoàng Victoria. Không chỉ là một địa điểm công cộng mà còn là một địa điểm trang trọng dùng cho các nghi thức. Bến phà đã từng nghênh đón hai thế hệ hoàng gia Anh: nữ hoàng Elizabeth II và hoàng tế Philip năm 1975 (nhân đây Hồng Kông lần đầu bắn pháo hoa trở lại kể từ Bạo loạn 1967), thái tử Charles và công nương Diana năm 1989. Dừng hoạt động năm 2007 và bị dỡ bỏ vào năm 2008.
(106) Kai Tak. Sân bay quốc tế duy nhất của Hồng Kông từ 1925 đến 1998. Một mặt là núi đồi, ba mặt là cảng, cuối đường băng là biển, giữa đường băng lại có nhà cửa, Khải Đức trở thành một sân bay cũng tương đối thách thức đối với các phi công. Do quá tải, do gây ô nhiễm tiếng ồn cho khu dân cư gần đó, do cất-hạ cánh bất tiện, từ 1998, Khải Đức đóng cửa và nhường lại vai trò lẫn mã IATA cho Sân bay Quốc tế Hồng Kông.