2666

Lượt đọc: 784 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
PHẦN BỐN
phần về các tội ác

Đứa trẻ chết xuất hiện ở một khoảnh đất hoang trong khu Las Flores. Con bé mặc sơ mi trắng tay rộng, váy màu vàng dài tới gối, dáng rất cao. Vài đứa trẻ đang chơi ở khoảnh đất đó thì gặp cái xác, liền về báo cho cha mẹ. Một bà mẹ gọi điện cho cảnh sát, nửa giờ sau cảnh sát tới. Khoảnh đất hoang mở ra phố Peláez và phố Hermanos Chacón rồi mất hút nơi một con mương, dọc con mương mọc lên những bức tường của một trại bò sữa bỏ hoang nay đã đổ nát. Trên con phố chẳng có ai, khiến ban đầu đám cảnh sát thoáng nghĩ chắc đây là một trò đùa. Dẫu vậy, họ vẫn đỗ chiếc xe tuần tiễu trên phố Peláez rồi một người tiến vào giữa khoảnh đất hoang. Chẳng mấy chốc anh ta phát hiện ra hai người phụ nữ đầu quấn khăn đang quỳ giữa cỏ dại cầu nguyện. Hai bà đó nhìn từ xa có vẻ già, nhưng họ không già. Phía trước họ là cái xác. Không quấy rầy hai người phụ nữ, viên cảnh sát quay lại theo lối ban nãy anh đã tới, vẫy tay gọi người cộng sự đang ngồi hút thuốc đợi trong xe. Hai người (người ngồi đợi trong xe cầm theo súng) quay lại nơi hai bà nọ đang quỳ, xuống xe đứng cạnh hai bà, nhìn cái xác. Viên cảnh sát cầm súng hỏi hai bà có biết con bé không. Không, thưa ông, một bà nói. Chúng tôi chưa gặp nó bao giờ. Con bé không phải người khu này, tội nghiệp.

Chuyện này xảy ra năm 1993. Tháng Một năm 1993. Từ đó trở đi, người ta bắt đầu đếm những vụ giết phụ nữ với bé gái. Nhưng có lẽ trước đó còn có những cái chết khác. Người chết đầu tiên tên là Esperanza Gómez Saldaña, mười ba tuổi. Có lẽ chỉ là để cho tiện, có lẽ vì con bé là người đầu tiên bị giết trong năm 1993, tên nó được đặt ở đầu danh sách. Nhưng chắc chắn còn có những bé gái khác, những phụ nữ khác chết trong năm 1992. Những người không được ghi tên vào danh sách hoặc không bao giờ được tìm thấy, bị chôn trong những ngôi mộ không tên ngoài sa mạc hay tro cốt bị mang ra rải giữa đêm khuya, khi ngay chính kẻ rải tro cũng không biết mình đang ở đâu, mình đã tới nơi nào.

♣ ♣ ♣

Việc nhận diện Esperanza Gómez Saldaña khá dễ. Đầu tiên cái xác được đem tới một trong ba đồn cảnh sát của Santa Teresa, ở đó nó được một viên cảnh sát tư pháp xem xét và được cảnh sát khám nghiệm rồi chụp ảnh. Lát sau, trong khi xe cứu thương đợi bên ngoài sở, Pedro Negrete, cảnh sát trưởng, có hai phụ tá đi kèm, đến khám nghiệm xác thêm lần nữa. Khám nghiệm xong ông liền nhập hội cùng viên cảnh sát tư pháp và ba cảnh sát khác đang chờ ông ở văn phòng, hỏi xem họ đi đến kết luận nào rồi. Con bé bị siết cổ chết, tay cảnh sát tư pháp nói, chuyện rõ như ban ngày. Mấy cảnh sát khác chỉ gật. Có biết con bé là ai không? cảnh sát trưởng hỏi. Ai cũng nói không. Được, ta sẽ tìm ra thôi, Pedro Negrete nói, đoạn quay gót đi cùng tay cảnh sát tư pháp. Một trong hai phụ tá của ông ở lại đồn cảnh sát, yêu cầu được gặp các cảnh sát đã phát hiện xác. Họ đi tuần tra rồi, người ta nói. Thì đưa họ về đây, đồ đầu đất, ông nói. Sau đó người ta đưa xác đến nhà xác của bệnh viện thành phố, cho bác sĩ pháp y tiến hành mổ xác. Theo kết quả giám định thì Esperanza Gómez Saldaña chết vì bị siết cổ. Có vết bầm máu nơi cằm và mắt trái con bé. Bầm máu nghiêm trọng ở hai chân và mạng sườn. Con bé đã bị hãm hiếp qua âm hộ và qua hậu môn, có lẽ trên một lần, vì cả hai chỗ này đều bị rách và trầy xước, chảy máu rất nhiều. Lúc hai giờ sáng bác sĩ pháp y kết thúc giám định và đi khỏi. Một y tá da đen, từ Veracruz di cư lên phương Bắc nhiều năm trước, cho xác vào ngăn lạnh.

♣ ♣ ♣

Năm ngày sau, trước cuối tháng Một, Luisa Celina Vázquez bị siết cổ. Cô mười sáu tuổi, thân hình chắc nịch, da sáng, có thai năm tháng. Người đàn ông cô chung sống và một người bạn của y là dân trộm vặt chuyên ăn cắp các cửa hàng và kho chứa đồ gia dụng. Cảnh sát được cấp báo bởi một cú điện thoại của hàng xóm trong tòa nhà nơi cặp này cư ngụ, tại đại lộ Rubén Darío, quận Mancera. Sau khi phá cửa, người ta bắt gặp Luisa Celina bị siết cổ bằng dây cáp tivi. Đêm đó, tình nhân của cô, Marcos Sepúlveda, và đồng phạm của y, Ezequiel Romero, bị bắt. Cả hai bị tống giam ở phân khu cảnh sát số 2 và suốt đêm bị thẩm vấn bởi phụ tá thứ nhất của cảnh sát trưởng, sĩ quan Epifanio Galindo, với kết quả thật mỹ mãn vì trước khi mặt trời mọc Romero thú nhận y có quan hệ luyến ái với người chết ở sau lưng bạn kiêm đồng bọn của y. Khi biết mình có thai, Luisa Celina đã quyết định chấm dứt quan hệ, nhưng Romero không chịu, bởi y nghĩ chính y mới là cha đứa bé chứ không phải Marcos Sepúlveda. Sau vài tháng, vì Luisa Celina vẫn không chịu đổi ý, y nổi cơn điên quyết định sẽ giết cô và cuối cùng y giết cô thật vào một đêm Sepúlveda đi vắng. Hai ngày sau Sepúlveda được thả, còn Romero, thay vì bị tống vào tù, vẫn bị tạm giam ở phân khu số 2, nơi các cuộc thẩm vấn vẫn tiếp tục, mục đích lần này không phải để làm rõ bất cứ tồn nghi nào về vụ sát hại Luisa Celina mà là để buộc Romero nhận tội giết Esperanza Gómez Saldaña, giờ đã được nhận diện thi thể. Trái với điều cảnh sát chờ đợi, do họ bị đánh lừa khi thu được lời thú tội thứ nhất quá nhanh, Romero tỏ ra rắn hơn người ta tưởng nhiều, khăng khăng không chịu nhận là có dính vào tội ác trước đó.

♣ ♣ ♣

Khoảng giữa tháng Hai, trong một ngõ hẻm ở trung tâm thành phố, vài người hốt rác bắt gặp một xác phụ nữ khác. Cô khoảng ba mươi tuổi, mặc váy đen và áo cánh trắng xẻ ngực sâu. Cô bị đâm chết, mặc dù trên mặt và bụng lộ rõ nhiều vết bầm do bị đánh. Trong ví của cô có một tấm vé xe buýt đến Tucson chuyến chín giờ sáng, chuyến xe cô chẳng bao giờ bắt được. Người ta còn tìm thấy một thỏi son môi, phấn, chì kẻ mắt, khăn giấy, một gói thuốc lá còn phân nửa, một túi bao cao su. Không có hộ chiếu hay sổ hẹn hay bất cứ cái gì để may ra nhận diện được cô. Bật lửa hay diêm cô cũng không mang.

♣ ♣ ♣

Vào tháng Ba, nữ phóng viên làm việc cho đài phát thanh El Heraldo del Norte, cơ quan trực thuộc tờ El Heraldo del Norte, rời trạm phát lúc mười giờ cùng một nam phóng viên và kỹ sư âm thanh. Họ đến nhà hàng Ý Piazza Navona, gọi ba miếng pizza và ba chai vang California nhỏ. Nam phóng viên là người đầu tiên đi khỏi đấy. Nữ phóng viên, Isabel Urrea, và kỹ sư âm thanh, Francisco Santamaría, quyết định ở lại trò chuyện thêm một chút. Họ bàn về công việc, lịch trình công tác, các chương trình, sau đó bắt đầu trò chuyện về một người bạn mới rời khỏi đài, lấy chồng và cùng chồng đến sống ở một thị trấn gần Hermosillo, tên của thị trấn ấy họ không thể nhớ ra nhưng họ tin chắc nó ở gần đại dương và theo lời bạn họ thì năm nào cũng có sáu tháng chỗ đó là nơi giống thiên đường nhất. Cả hai cùng rời khỏi nhà hàng. Viên kỹ sư âm thanh không có ô tô, nên Isabel Urrea đề nghị lái xe đưa anh về. Không cần, viên kỹ sư nói, nhà anh ngay gần đây, với lại anh thích đi bộ hơn. Khi viên kỹ sư cất bước dọc theo phố, Isabel liền về chỗ đỗ xe. Khi cô lôi chùm chìa khóa ra để mở cửa xe, một hình thù đen ngòm xuất hiện trên vỉa hè và bắn vào cô ba phát. Chùm chìa khóa rơi xuống. Một người qua đường cách đó tầm năm mét khuỵu xuống đất. Isabel cố gượng dậy nhưng cô chỉ tì được đầu vào lốp xe trước. Cô không thấy đau. Hình thù đen ngòm lại gần bắn vào trán cô.

♣ ♣ ♣

Vụ sát hại Isabel Urrea, được đài phát thanh và tờ báo nơi cô làm việc đưa tin trong ba ngày đầu tiên, được lý giải là một vụ cướp bất thành, do một thằng điên hay một tên nghiện ma túy hẳn có ý trộm xe cô thực hiện. Giả thuyết này cũng cho rằng hung thủ có thể là một cựu chiến binh người Guatemala hoặc Salvador từ hồi các cuộc chiến tranh Trung Mỹ, một kẻ đang ráo riết kiếm tiền chuyển sang Mỹ. Không có giám định pháp y, theo nguyện vọng của gia đình, còn kết quả phân tích đạn đạo, vốn không bao giờ được tiết lộ công khai, về sau bị thất lạc vĩnh viễn trên đường chuyển tiếp giữa tòa án Santa Teresa và tòa án Hermosillo.

♣ ♣ ♣

Một tháng sau, một thợ mài dao đang đi dọc phố El Aroyo giữa quận Ciudad Nueva và quận Morelos thì thấy một phụ nữ đang ôm chặt một cây cột gỗ, nom chừng say rượu. Một chiếc Peregrino đen kính cửa sổ tối màu chạy ngang qua. Phía đầu kia đường, tay thợ mài dao thấy một người bán kem dạo đang lại gần, ruồi bâu đầy người. Hai người đàn ông cùng đi đến chỗ cây cột gỗ, nhưng người đàn bà đã khuỵu xuống hoặc không đủ sức bám được nữa. Mặt cô, bị cánh tay che một nửa, là một đống thịt sưng phù đỏ ké, bầm tím. Người thợ mài dao nói họ phải gọi xe cứu thương. Người bán kem nhìn chăm chăm người phụ nữ rồi nói trông như cô ta vừa phải qua mười lăm cữ với Ramírez Bò Đực. Người mài dao nhận ra tay bán kem sẽ không nhúc nhích nên bèn bảo anh trông chừng xe cho tôi, tôi đi tí trở lại ngay. Sau khi băng qua con đường bẩn thỉu anh ta ngoái lại kiểm tra xem người bán kem có làm theo không, thì thấy lũ ruồi ban nãy vòng vòng xung quanh người bán kem giờ đã bu cả lại quanh cái đầu bầm giập của người đàn bà. Vài người đàn bà quan sát từ các cửa sổ bên kia đường. Ai đó phải gọi xe cứu thương, người thợ mài dao nói. Cô này sắp chết. Lát sau xe cứu thương từ bệnh viện tới và nhân viên y tế muốn biết ai sẽ trả tiền xe. Người mài dao giải thích rằng anh ta và người bán kem đã phát hiện ra người phụ nữ này nằm giữa đất. Tôi biết, nhân viên y tế nói, nhưng tôi muốn biết ai sẽ chịu trách nhiệm về cô ta. Làm sao tôi có thể chịu trách nhiệm về một người mà thậm chí tên gì tôi cũng chả biết? người mài dao nói. Thì cũng phải có ai đó chịu trách nhiệm chứ, nhân viên y tế nói. Mày điếc hay sao vậy đồ ngu? người mài dao hỏi, rút từ trong ngăn kéo đựng đồ nghề ra một con dao thái thịt khổng lồ. Được rồi, được rồi, nhân viên y tế nói. Nào, cho cô ta lên xe đi, người mài dao nói. Tay nhân viên y tế còn lại, trước đó vừa xua ruồi vừa quỳ xuống xem xét người phụ nữ lúc này đã quỵ, liền bảo chả nhọc công làm chi vô ích, người phụ nữ chết rồi. Mắt người mài dao nheo lại cho tới khi nom như hai đường vẽ bằng than chì. Đù mẹ mày thằng khốn nạn, lỗi là tại mày, anh ta nói, rồi anh ta lao vào tay nhân viên y tế ban đầu. Tay nhân viên y tế kia cố can thiệp, nhưng khi thấy con dao trong tay người mài dao, bèn quyết định giam mình trong xe cứu thương và gọi cảnh sát. Người mài dao rượt theo tay nhân viên y tế một hồi cho đến khi cơn thịnh nộ, hung hăng và khát máu nguôi đi, hoặc đến khi anh ta mệt lử. Chừng đó thì anh ta dừng, túm lấy xe mải miết đẩy đi dọc theo phố El Arroyo cho đến khi đám hiếu kỳ nãy giờ tụ tập quanh xe cứu thương chẳng còn thấy anh ta đâu nữa.

♣ ♣ ♣

Người phụ nữ đó tên là Isabel Cansino, thường được gọi là Elizabeth, làm gái mại dâm. Cô bị đánh đến giập lá lách. Cảnh sát cho rằng hung thủ là một hay một vài khách hàng không thỏa mãn với cô. Cô sống ở quận San Damián, cách khá xa về phía Nam so với nơi người ta tìm thấy cô, và theo người ta biết thì cô không có bạn trai cố định, mặc dù một bà láng giềng có nhắc đến một người tên là Ivan thường hay ghé đến, và dù điều tra thêm người ta vẫn không thể xác định được anh này sống ở đâu. Người ta cũng đã cố truy cho ra tung tích người mài dao, tên là Nicanor, theo lời khai của cư dân các khu Ciudad Nueva và Morelos thì cứ độ một hoặc hai tuần anh ta lại đến mấy khu này một lần, nhưng mọi nỗ lực tìm kiếm anh ta đều vô ích. Hoặc anh ta đã đổi nghề hoặc anh ta đã chuyển từ vùng Đông Santa Teresa đến vùng Nam và vùng Tây hoặc rời hẳn thành phố. Điều chắc chắn là chẳng ai gặp anh ta nữa.

♣ ♣ ♣

Tháng kế tiếp, tháng Năm, người ta phát hiện một xác phụ nữ trong bãi rác giữa quận Las Flores và khu công nghiệp General Sepúlveda. Ở khu phức hợp này có bốn nhà máy lắp ráp thiết bị gia dụng. Mấy tháp điện chuyên cấp điện cho các nhà máy này còn mới, sơn màu bạc. Cạnh đó, giữa vài ngọn đồi thấp, lô nhô những mái nhà ọp ẹp được dựng lên ít lâu trước khi các xưởng lắp ráp này xuất hiện, trải dài suốt đến chỗ đường tàu và cắt qua cả đường tàu, chạy men theo quận La Preciada. Trên quảng trường có sáu cái cây, mỗi góc một cây và hai cây ở giữa, dày bụi đến nỗi nom như có màu vàng. Ở một đầu quảng trường là trạm dừng các tuyến xe buýt chở công nhân từ nhiều khu khác nhau của Santa Teresa. Từ đó phải đi bộ một quãng dài qua những con đường bẩn thỉu thì mới tới chỗ cổng nơi lính canh kiểm tra thẻ ra vào của công nhân, sau đó thì ai làm việc ở nơi nào thì được phép vào nơi nấy. Chỉ một trong các nhà máy có quán cà phê. Ở các nhà máy kia công nhân ăn ngay cạnh máy của mình hoặc tụ tập thành nhóm trong một góc, vừa ăn vừa cười nói cho đến khi còi báo hết giờ ăn trưa. Hầu hết là phụ nữ. Trong đống rác nơi người ta phát hiện người phụ nữ chết không chỉ có rác của dân khu ổ chuột chất đống mà cả rác thải của các nhà máy. Người gọi báo tin cho nhà chức trách về việc phát hiện ra người phụ nữ chết là giám đốc một trong các nhà máy, Multizone-West, công ty con của một tập đoàn đa quốc gia chuyên sản xuất tivi. Viên cảnh sát đến nhận xác gặp ba người quản lý của nhà máy đang đợi anh ta cạnh đống rác. Hai trong số đó là người Mexico, người còn lại là người Mỹ. Một trong hai người Mexico nói họ hy vọng xác được dọn đi càng sớm càng tốt. Viên cảnh sát hỏi cái xác ở đâu, trong lúc đồng sự của anh ta gọi xe cứu thương. Ba người quản lý đi cùng viên cảnh sát vào đống rác. Bốn người bịt mũi, nhưng khi tay người Mỹ thôi không bịt nữa thì mấy người Mexico cũng làm theo. Người phụ nữ chết có nước da sẫm, tóc đen thẳng dài quá vai. Cô mặc áo chui đầu màu đen và quần soóc đen. Bốn người đàn ông đứng nhìn cô. Tay người Mỹ cúi xuống, lấy bút gạt tóc khỏi cổ cô. Thằng cha Mẽo đừng chạm vào cô ta thì tốt hơn, viên cảnh sát nói. Tôi không chạm vào cô ta, tay người Mỹ nói bằng tiếng Tây Ban Nha, tôi chỉ muốn xem cổ cô ta thôi. Hai viên quản lý người Mexico quỳ xuống nhìn những dấu vết trên cổ người phụ nữ chết. Đoạn họ đứng dậy nhìn đồng hồ. Xe cứu thương sao lâu quá vậy, một người nói. Đến ngay thôi mà, viên cảnh sát nói. Được rồi, một trong hai viên quản lý nói, anh lo liệu mọi thứ phải không? Viên cảnh sát nói phải rồi, dĩ nhiên, đoạn nhét chỗ tiền người kia dúi cho vào túi quần đồng phục. Đêm đó người phụ nữ chết nằm trong một ngăn lạnh ở bệnh viện Santa Teresa và ngày hôm sau một trong các trợ lý của chuyên viên pháp y đến khám nghiệm tử thi. Cô ta đã bị siết cổ. Cô ta đã bị hãm hiếp. Cả bằng đường âm hộ lẫn đường hậu môn, trợ lý chuyên viên pháp y nhận xét. Và cô ta có thai năm tháng.

♣ ♣ ♣

Người phụ nữ đầu tiên chết trong tháng Năm không bao giờ được xác nhận danh tính, thành thử người ta đồ rằng cô là dân một bang miền Trung hoặc miền Nam, dừng chân ở Santa Teresa trên đường sang Mỹ. Không ai đi cùng cô, không ai trình báo việc cô mất tích. Cô khoảng chừng ba lăm tuổi và đang có thai. Có thể cô đang trên đường sang Mỹ đoàn tụ với chồng hoặc người yêu, cha của đứa con mà cô sắp sinh, một tay khốn khổ nào đó đang sống bất hợp pháp ở Mỹ và có lẽ chẳng bao giờ biết rằng y đã làm người phụ nữ này có thai hoặc biết rằng, nếu phát hiện ra chỗ của y, cô sẽ sang bên đó tìm y. Nhưng người chết đầu tiên trong tháng này không phải là người duy nhất. Ba ngày sau, Guadalupe Rojas (danh tính cô được biết rõ ngay từ đầu) bị giết. Cô hai mươi sáu tuổi, cư dân phố Jazmin, một trong các con phố song song với đại lộ Carranza, quận Carranza, và làm việc ở nhà máy File-Sis mới xây trên con đường đến Nogales, cách Santa Teresa chừng mười cây số. Tuy nhiên, Guadalupe Rojas không chết trên đường đi làm, điều này cũng dễ hiểu, bởi vì khu vực quanh nhà máy vốn hoang vắng và nguy hiểm, chỉ ô tô qua được còn xe buýt thì không, sau đó thì phải cuốc bộ đi tiếp bởi nhà máy cách trạm xe buýt gần nhất không dưới một cây số rưỡi, mà cô chết ngay cửa vào tòa nhà nơi cô sống tại phố Jazmin. Nguyên nhân gây tử vong là ba phát súng, hai trong số đó được xác định là gây ra vết thương trí mạng. Kẻ giết người hóa ra là bạn trai của cô, y tìm cách trốn ngay đêm đó nhưng bị bắt gần đường ray tàu hỏa, không xa quán rượu Los Zancudos nơi y đã uống say trước đó. Chính chủ quán này, vốn là cựu sĩ quan cảnh sát thành phố, đã gọi cảnh sát. Khi thẩm vấn nghi can, người ta kết luận động cơ của tội ác là ghen tuông, không cần biết có căn cứ hay không, thế rồi, sau khi trình diện trước cảnh sát tư pháp và với sự nhất trí của tất cả các bên có mặt, y được đưa vào nhà lao Santa Teresa ngay tức khắc để chờ được điều chuyển sang nhà lao khác hoặc ra tòa. Người phụ nữ chết sau cùng trong tháng Năm được phát hiện trên triền đồi Estrella, dãy đồi nằm giữa quận cùng tên lô xô vây quanh khu đồi, như thể không một cái gì có thể dễ dàng mọc lên hoặc bành trướng ra ở đó được. Duy chỉ mạn Đông của dãy đồi là xoay mặt ra một quang cảnh ít nhiều trống trải. Đó là nơi người ta phát hiện ra cô. Theo bác sĩ pháp y, cô bị đâm chết. Có dấu hiệu rõ ràng bị hãm hiếp. Cô ắt khoảng hai lăm hai sáu tuổi. Da cô trắng trẻo và tóc cô màu sáng. Cô mặc quần jean, áo sơ mi xanh lục, đi giày Nike. Cô không mang giấy tờ nhận dạng nào. Cho dù kẻ giết cô là ai thì hắn cũng đã cất công mặc quần áo cho cô, bởi cả quần jean lẫn áo sơ mi cô đều không bị xé. Không có dấu hiệu bị hiếp qua đường hậu môn. Dấu vết duy nhất trên mặt cô là một vết bầm nơi hàm trên, gần tai phải. Vài ngay sau vụ phát hiện này, El Heraldo del Norte cũng như La Tribuna de Santa TeresaLa Voz de Sonora, ba tờ báo của thành phố, đăng ảnh của nạn nhân chưa được xác định danh tính ở đồi Estrella, nhưng không ai đến nhận diện cô. Ngày thứ tư sau khi cô chết, Pedro Negrete, cảnh sát trưởng Santa Teresa, thân hành đến đồi Estrella, không có ai đi cùng, kể cả Epifanio Galindo, để xem xét nơi họ phát hiện người chết. Đoạn ông rời những triền đồi thấp cất bước trèo lên đỉnh đồi. Giữa những tảng đá núi lửa là những túi siêu thị đầy nhóc rác. Ông nhớ lại rằng con trai ông, đang học ở Phoenix, có lần bảo ông túi nhựa phải mất hàng trăm, có khi hàng ngàn năm mới phân hủy hết. Những túi này thì không, ông nghĩ, nếu tính đến tốc độ mục rữa nhanh chóng ở đây. Nơi đỉnh đồi vài đứa trẻ con chạy vụt qua rồi mất hút xuống triền đồi, về phía phố Estrella. Trời bắt đầu tối. Về phía Tây ông thấy những mái nhà bằng các tông hay bằng kẽm, những con đường ngoằn ngoèo giữa khu phố tồi tàn phát triển vô tổ chức, về phía Đông ông thấy con đường dẫn lên núi và ra sa mạc, đèn pha xe tải, những ngôi sao đầu tiên, những ngôi sao thật, xuất hiện cùng lúc với đêm từ phía bên kia núi. Về phía Bắc ông chẳng thấy gì, chỉ một đồng bằng mênh mông đơn điệu, như thể sự sống không tiến ra xa hơn Santa Teresa, mặc cho ông hy vọng và tin tưởng. Rồi ông nghe có tiếng chó, càng lúc càng gần, cho đến khi ông nhìn thấy lũ chó. Có lẽ chúng đói và táo tợn, giống như bọn trẻ con ông thoáng thấy khi mới đến đây. Ông rút súng khỏi bao. Ông đếm được năm con chó. Ông bật chốt an toàn và bắn. Con chó không nhảy thốc lên trời mà gục xuống, lực của cú bắn khiến nó văng đi trên đất bụi, cuộn lại thành quả bóng. Bốn con chó kia bỏ chạy. Pedro Negrete nhìn chúng chạy. Hai con cụp đuôi vào giữa hai chân, lom khom sát đất mà chạy. Trong hai con còn lại, một con chạy mà đuôi cứng đơ, còn con thứ tư, không rõ vì lý do gì, vừa chạy vừa vẫy đuôi, làm như có ai vừa cho nó ăn. Ông lại gần con chó chết, lấy chân chạm vào nó. Viên đạn đã găm vào đầu nó. Không ngoái đầu lại, ông bước xuống đồi, đến nơi người ta phát hiện ra xác người phụ nữ vô danh tính. Đến đó ông dừng lại châm một điếu thuốc. Thuốc không đầu lọc, ngon. Đoạn ông leo lên xe. Nhìn từ đây, mọi thứ trông đều khác, ông nghĩ.

♣ ♣ ♣

Không có thêm người phụ nữ nào chết trong tháng Năm, ngoại trừ những người chết vì nguyên nhân tự nhiên, tức là do bệnh, do tuổi già hay khi sinh nở. Nhưng đến cuối tháng thì có kẻ báng bổ nhà thờ xuất hiện. Một hôm một người lạ bước vào nhà thờ San Rafael trên phố Patriotas Mexicanos, trung tâm Santa Teresa, giữa giờ lễ sớm. Nhà thờ hầu như vắng tanh. Chỉ có vài tín hữu xúm xít ở mấy hàng ghế đầu, còn linh mục đang trong phòng xưng tội. Nhà thờ sực mùi nhang khói và sản phẩm lau rửa rẻ tiền. Người lạ ngồi ở một trong mấy hàng ghế sau cùng và quỳ ngay xuống, vùi đầu vào hai tay như đang đau đớn hoặc không khỏe. Vài giáo dân trọng tuổi quay lại nhìn y rồi thì thầm với nhau. Một bà già nhỏ bé ra khỏi phòng xưng tội và đứng im nhìn người lạ chằm chằm, trong khi một thiếu phụ có nét Anh điêng bước vào xưng tội. Khi nào linh mục đã nghe hết mọi tội lỗi của người phụ nữ Anh điêng thì lễ sẽ bắt đầu. Nhưng bà già bé nhỏ ra khỏi phòng xưng tội từ hồi nãy cứ đứng đó nhìn người lạ chằm chằm, mặc dù thỉnh thoảng bà chuyển sức nặng cơ thể từ chân này qua chân kia, nom như một kiểu bước nhảy. Bà biết ngay người đàn ông này có gì đó không ổn và bà định bụng đến báo cho mấy bà già khác biết. Trong khi bước dọc lối đi chính, bà thấy một vũng chất lỏng loang dần ra sàn từ băng ghế nơi người lạ ngồi, và bà ngửi thấy mùi nước đái. Thế là, thay vì đi đến chỗ các bà già đang ngồi túm tụm vào nhau, bà xoay người quay lại phòng xưng tội. Bà gõ mấy lần lên ô cửa sổ nhỏ chỗ linh mục. Ta đang bận con à, ông nói. Trình Cha, bà già bé nhỏ nói, có một người đang làm ô uế ngôi nhà của Chúa. Được rồi, ta ra ngay đây, linh mục nói. Trình Cha, con không thích chuyện này một chút nào, xin Cha hãy làm gì đi, vì tình yêu Chúa. Trong khi nói, bà già nom như đang nhảy múa. Đừng sốt ruột, ta ra ngay đây con à, ta đang bận, linh mục nói. Trình Cha, có một người đang giải quyết nhu cầu riêng tư trong nhà thờ, bà già nhỏ bé nói. Linh mục bèn thò đầu ra từ giữa mấy tấm rèm xác xơ và dòm qua màn tranh tối tranh sáng nâu nâu vàng vàng để nhìn người lạ, đoạn ông bước ra khỏi phòng xưng tội, người phụ nữ có nét Anh điêng cũng ra cùng và cả ba người đứng như trời trồng nhìn người lạ vẫn đang vừa rên khẽ vừa không ngừng tiểu, làm ướt quần và cho ra một dòng sông nước giải chảy về phía cổng nhà thờ, xác nhận điều linh mục trước nay vẫn sợ rằng lối đi chính của nhà thờ không bằng phẳng đến đáng lo. Linh mục liền đi gọi bõ nhà thờ, ông này đang ngồi uống cà phê nơi bàn để đồ thánh và nom mệt mỏi, đoạn hai người tức tốc đi đến chỗ kẻ lạ đặng quở trách y và tống y ra khỏi nhà thờ. Người lạ thấy họ đến thì nhìn họ bằng cặp mắt đẫm lệ và yêu cầu họ để cho y yên. Hầu như ngay lúc đó một lưỡi dao xuất hiện trong tay y, và trong khi các bà già nơi mấy hàng ghế trước thét lên, y đâm ông bõ nhà thờ.

♣ ♣ ♣

Vụ án được giao cho thanh tra Juan de Dios Martínez vốn được tiếng đầy năng lực và uy tín, phẩm chất mà một số cảnh sát cho là gắn liền với đức tin tôn giáo. Juan de Dios Martínez nói chuyện với linh mục, linh mục mô tả kẻ lạ là một người đàn ông trạc ba mươi, vóc trung bình, da nâu, rắn chắc, một thanh niên Mexico bình thường. Sau đó thanh tra nói chuyện với các bà già. Với các bà này, người lạ chắc chắn không giống một người Mexico bình thường mà giống một con quỷ. Vậy con quỷ này làm gì vào giờ lễ sớm? viên thanh tra hỏi. Hắn ở đó để giết hết thảy tụi tôi, mấy bà già nói. Lúc hai giờ chiều, với một họa sĩ vẽ phác họa đi kèm, Juan de Dios Martínez đến bệnh viện lấy lời khai của bõ nhà thờ. Mô tả của ông bõ khớp với của linh mục. Người lạ có mùi rượu. Mùi rất nặng, làm như đêm trước y đã giặt cái áo trong một chậu cồn chín mươi độ. Y không cạo râu đã nhiều ngày, mặc dù cũng khó nói bởi y không có nhiều râu lắm. Làm sao ông bõ biết y không có nhiều râu lắm? Juan de Dios Martínez muốn biết. Thì nhìn cái kiểu tóc mọc trên đầu nó, vừa lơ thơ lại vừa lộn xộn chả ra thể thống gì, cứ như là do con mẹ đĩ chó của nó với thằng bố bú cặc của nó mò mẫm dán lên đầu nó trong bóng tối, ông bõ nhà thờ nói. Rồi nữa: nó có hai bàn tay to khỏe. Hai bàn tay quá to so với thân hình. Và nó còn khóc nữa, cái đó thì chẳng nghi ngờ gì, nhưng mà nó lại có vẻ đang cười nữa, vừa khóc vừa cười cùng lúc. Có hiểu ý tôi không? ông bõ hỏi. Kiểu như đang phê phải không? thanh tra hỏi. Chính xác. Là thế đấy. Sau đó Juan de Dios Martínez gọi điện tới nhà thương điên Santa Teresa hỏi xem có bệnh nhân nào khớp với mô tả mà anh ghi lại được không. Họ nói có hai người, nhưng chẳng người nào hung dữ cả. Anh hỏi hai người này có được cho ra ngoài không. Một người có một người không, người ta đáp. Tôi đến gặp họ đây, thanh tra nói. Lúc năm giờ chiều, sau khi ăn trưa ở một quán cà phê nơi cảnh sát chẳng bao giờ đến, Juan de Dios Martínez đỗ chiếc Cougar màu xám kim loại của mình vào bãi đỗ xe của nhà thương điên. Anh được giám đốc nhà thương đón tiếp, đấy là một phụ nữ chừng năm mươi, tóc nhuộm vàng, bà sai người mang cà phê đến cho anh. Văn phòng giám đốc khá đẹp và được trang trí có gu, anh cảm thấy thế. Trên tường có hai bức tranh in lại, một của Picasso còn một của Diego Rivera. Juan de Dios Martínez ngắm bức tranh của Diego Rivera hồi lâu trong khi đợi bà giám đốc. Trên bàn có hai tấm ảnh: một tấm chụp bà giám đốc hồi còn trẻ, choàng tay ôm một cô bé đang nhìn thẳng vào ống kính. Cô gái có vẻ mặt duyên dáng, không cảm xúc. Ở tấm ảnh kia bà giám đốc còn trẻ hơn. Bà đang ngồi cạnh một phụ nữ trọng tuổi và ngắm bà kia ra chiều thích thú. Bà trọng tuổi thì ngược lại, có vẻ nghiêm trang, nhìn vào ống kính như thể đối với bà cho người ta chụp ảnh là một việc nhố nhăng. Khi cuối cùng bà giám đốc bước vào, thanh tra nhận thấy ngay lập tức rằng từ khi bà chụp hai tấm ảnh kia đến giờ đã nhiều năm lắm rồi. Và anh cũng nhận ra bà giám đốc vẫn còn đẹp lắm. Họ nói chuyện một hồi về những bệnh nhân tâm thần. Mấy người nguy hiểm thì không được phép ra ngoài, bà giám đốc cho anh biết. Nhưng dù sao thì số người nguy hiểm không nhiều. Thanh tra đưa cho bà xem phác họa chân dung người họa sĩ đã vẽ và bà giám đốc chăm chú nhìn mấy giây. Juan de Dios Martínez nhìn chăm chăm vào hai tay bà. Móng tay bà được sơn màu và các ngón tay bà dài, có vẻ mềm mại. Trên mu bàn tay bà anh đếm được vài nốt tàn nhang. Bà giám đốc nói với anh bức vẽ không tốt, đó có thể là bất kỳ ai. Thế rồi họ đi gặp hai bệnh nhân kia. Hai bệnh nhân đang ở trong sân, một cái sân rất rộng chẳng cây cối gì, một cái sân bẩn thỉu giống như sân bóng đá ở khu ổ chuột. Một nhân viên bảo vệ mặc áo phông trắng quần trắng đưa bệnh nhân đầu tiên tới. Juan de Dios Martínez nghe bà giám đốc hỏi sức khỏe anh ta thế nào. Rồi họ trò chuyện về đồ ăn. Bệnh nhân nói anh ta hầu như chẳng còn ăn thịt được nữa, nhưng anh ta nói câu nọ xọ câu kia đến nỗi viên thanh tra không thể hiểu anh ta đang than phiền về thực đơn hay đang báo cho bà giám đốc về chứng sợ ăn thịt mà anh ta mới bị. Bà nói về protein. Làn gió nhẹ trong sân thi thoảng thổi bồng tóc người bệnh. Chúng ta cần xây một bức tường, anh nghe bà giám đốc nói. Mỗi khi gió thổi là họ lại bồn chồn, bà nói với anh bảo vệ mặc đồ trắng. Đoạn người ta đưa bệnh nhân thứ hai tới. Juan de Dios Martínez ban đầu nghĩ hai người này là anh em, mặc dù khi hai người đứng cạnh nhau thì anh nhận ra thoạt trông có vẻ giống nhưng không phải. Có thể nhìn từ xa thì người điên ai cũng giống như ai, anh nghĩ. Về lại văn phòng giám đốc, anh hỏi bà điều hành nhà thương điên này được bao lâu rồi. Hàng thế kỷ rồi, bà bật cười đáp. Tôi chả nhớ là bao lâu nữa. Trong khi họ uống thêm cà phê, bà giám đốc rõ là rất thích cà phê, anh hỏi bà có phải dân Santa Teresa không. Không, bà giám đốc nói. Tôi sinh ở Guadalajara và học ở thủ đô, sau đó học ở San Francisco, trường Berkeley. Juan de Dios Martínez lẽ ra muốn cứ tiếp tục ngồi uống cà phê trò chuyện với bà, có thể sẽ hỏi bà đang có chồng hay đã ly dị, nhưng anh không có thì giờ. Tôi mang họ đi được không, anh nói. Bà giám đốc nhìn anh không hiểu. Tôi mang hai bệnh nhân đó đi được không, anh nói. Bà giám đốc cười vào mặt anh mà hỏi anh có bình thường không vậy. Anh muốn đưa họ đi đâu? Kiểu như một cuộc nhận diện hung thủ, thanh tra nói. Nạn nhân đang ở bệnh viện và chẳng đi đâu được. Bà cho tôi mượn mấy bệnh nhân này trong vài giờ, tôi cho xe đưa họ đến bệnh viện, rồi trước khi trời tối tôi lại đưa họ về cho bà. Anh yêu cầu tôi đấy à? giám đốc nói. Bà là chủ, thanh tra nói. Đem trát tòa đến đây cho tôi, giám đốc nói. Tôi đem đến được, nhưng nó chỉ là giấy tờ thủ tục thôi. Với lại, nếu tôi đem trát tòa đến, bệnh nhân của bà sẽ được đưa đến đồn, họ có thể bị giữ ở đó một hai đêm, không hay ho gì đâu. Nhưng nếu tôi đem họ đi bây giờ thì sẽ không sao cả. Họ đi cùng xe với tôi, cảnh sát duy nhất là tôi, và nếu nạn nhân có nhận diện được một trong hai người, bà vẫn nhận lại được những người điên của bà, cả hai người. Thế chẳng phải dễ hơn sao? Không, với tôi thì không, giám đốc nói, đem trát tòa tới đây rồi ta sẽ xem. Tôi không có ý xúc phạm bà, thanh tra nói. Tôi bị sốc quá, giám đốc nói. Juan de Dios Martínez cười to. Thôi được, tôi sẽ không mang họ đi, coi như xong nhé, anh nói. Nhưng bà hứa cho là sẽ không ai trong số hai người này ra khỏi nhà thương, được không? Bà giám đốc đứng dậy và trong một khoảnh khắc anh cứ ngỡ bà sắp đá anh. Thế rồi bà nhấc điện thoại gọi thư ký đem thêm một tách cà phê tới. Anh muốn tách nữa không? Juan de Dios Martínez gật đầu. Đêm nay mình không ngủ được rồi, anh nghĩ.

♣ ♣ ♣

Đêm đó kẻ lạ ở nhà thờ San Rafael mò vào nhà thờ ở San Tadeo, quận Kino, một khu dân cư bung ra giữa vùng cây bụi và những ngọn đồi thoai thoải phía Tây Nam Santa Teresa. Thanh tra Juan de Dios Martínez nhận được điện thoại lúc nửa đêm. Anh đang xem tivi và sau khi gác máy anh thu dọn hết mớ đĩa bẩn trên bàn cho vào chậu rửa. Từ trong ngăn kéo bàn ngủ anh lấy ra khẩu súng lục và bức phác họa được anh gấp làm tư, rồi xuống cầu thang đến nhà để xe nơi anh đỗ chiếc Chevy Astra màu đỏ. Khi anh đến nhà thờ San Tadeo, mấy phụ nữ đang ngồi trên các bậc thang bằng gạch sống. Họ không đông lắm. Phía trong nhà thờ anh thấy thanh tra José Márquez đang thẩm vấn linh mục. Anh hỏi một viên cảnh sát xem xe cứu thương đã tới chưa. Viên cảnh sát nhìn anh mỉm cười rồi bảo không có thương vong. Vụ này là chuyện khốn kiếp gì vậy? Hai người bên kỹ thuật hiện trường đang cố gắng tìm dấu tay trên một bức tượng Chúa gần ban thờ, trên sàn nhà. Lần này gã điên không làm hại ai, José Márquez nói với anh sau khi thẩm vấn linh mục xong. Juan de Dios Martínez muốn biết đã xảy ra chuyện gì. Một thằng say chó chết nào đó xuất hiện ở đây vào khoảng mười giờ đêm, Márquez nói. Hắn mang theo một cái dao cạo hoặc một con dao. Hắn ngồi ở dãy ghế cuối. Đằng kia. Chỗ tối nhất. Một bà già nghe tiếng hắn khóc. Thằng đó khóc vì buồn hay vì vui tôi không biết. Hắn đái. Thế là bà già đi gọi linh mục và thằng đó nhảy xổ lên bắt đầu đập mấy bức tượng. Một tượng Chúa, một tượng Guadalupana và hai ba thánh nữa. Rồi hắn bỏ đi. Thế thôi sao? thanh tra Juan de Dios Martínez hỏi. Thế thôi, Márquez nói. Hai người nói chuyện một hồi với các nhân chứng. Mô tả về kẻ gây rối trùng với mô tả về kẻ ở nhà thờ San Rafael. Juan de Dios Martínez đưa bức phác họa cho linh mục xem. Linh mục rất trẻ và có vẻ rất mệt mỏi, nhưng không phải vì chuyện xảy ra hồi tối mà bởi cái gì đó đã bào mòn vị linh mục suốt nhiều năm. Trông cũng giống, vị linh mục nói vẻ thờ ơ. Nhà thờ sực mùi nhang khói và nước tiểu. Những mảng vữa rơi tung tóe trên sàn khiến anh liên tưởng tới một bộ phim, nhưng phim gì anh không nhớ. Anh đá mũi bàn chân vào một mẩu vữa. Nó trông như một mẩu bàn tay và ướt sũng. Anh có nghĩ thế không? Márquez hỏi. Cái gì? Juan de Dios Martínez hỏi. Thằng chó chết chắc phải có một bọng đái bự tổ chảng. Hoặc không thì hắn phải cố cầm cự lâu được chừng nào hay chừng nấy rồi chờ đến khi vào trong nhà thờ mới hành sự. Khi Juan de Dios Martínez ra ngoài, anh thấy mấy nhà báo từ El Heraldo del NorteLa Tribuna de Santa Teresa đang nói chuyện với những kẻ hiếu kỳ. Anh tản bộ qua mấy con phố gần đó. Ở đó không có mùi nhang, mặc dù không khí thỉnh thoảng như từ một hố rác tự hoại bốc thẳng ra. Mấy con phố này đèn đóm tù mù. Mình chưa bao giờ tới đây, Juan de Dios Martínez tự nhủ. Ở cuối phố anh thấy bóng một cây to. Cây ấy đứng giữa một quảng trường thật ra chỉ là mô phỏng thảm hại một quảng trường, và là thứ độc nhất khiến cho khoảnh đất hình bán nguyệt trụi lủi đó hao hao giống một nơi công cộng. Quanh cái cây ấy là dăm ba băng ghế dựng quấy quá để cho dân trong khu xóm ngồi hít thở khí trời. Ở đây trước kia là một khu định cư của dân Anh điêng, thanh tra nhớ lại. Một cảnh sát sống ở quận này từng kể với anh thế. Anh ngồi phịch xuống một băng ghế rồi ngước nhìn lên bóng đen đáng ngại của cái cây hung hãn in hình lên bầu trời sao. Mấy người Anh điêng đó nay đâu rồi? Anh nghĩ đến bà giám đốc nhà thương điên. Giá ngay lúc này được nói chuyện với bà thì anh cũng thích, nhưng anh biết mình sẽ không có gan gọi điện cho bà.

♣ ♣ ♣

Hai vụ gây rối ở nhà thờ San Rafael và nhà thờ San Tadeo được báo chí địa phương đăng tải nhiều hơn so với những người phụ nữ bị giết mấy tháng trước. Ngày hôm sau, Juan de Dios Martínez và hai cảnh sát trở lại quận Kino và quận La Preciada cho mọi người xem chân dung phác họa kẻ gây rối. Không ai nhận ra hắn. Đến giờ ăn trưa hai cảnh sát đi xuống phố và Juan de Dios Martínez gọi cho giám đốc nhà thương điên. Bà giám đốc không đọc báo nên chẳng biết gì về chuyện xảy ra hồi đêm. Juan de Dios Martínez mời bà đi ăn trưa. Trái với anh dự đoán, bà giám đốc nhận lời và họ đồng ý gặp nhau tại một nhà hàng chay trên phố Río Usumacinta, quận Podesta. Anh chưa tới nhà hàng đó bao giờ, và khi đến đó anh gọi một bàn cho hai người và một chai whiskey trong khi chờ đợi, nhưng ở đó người ta không phục vụ đồ uống có cồn. Tay bồi mặc sơ mi ca rô, mang xăng đan và nhìn anh làm như anh có gì không ổn hoặc đã vào nhầm nhà hàng. Chỗ này thích đấy, anh nghĩ. Người ngồi ở các bàn khác nói năng khẽ khàng còn tiếng nhạc nghe như nước tuôn trên đá phẳng. Bà giám đốc bước vào là nhìn thấy anh ngay, nhưng bà không chào mà đến nói chuyện với anh bồi lúc ấy đang ép nước trái cây sau quầy. Sau khi trao đổi dăm lời với anh ta, bà đi lại bàn. Bà mặc quần xám và áo len hở cổ màu ngọc trai. Juan de Dios Martínez đứng dậy khi bà đến gần và cảm ơn bà đã nhận lời mời. Bà giám đốc mỉm cười: bà có hai hàm răng nhỏ đều, rất trắng rất bén, khiến nụ cười của bà phần nào giống của loài thú ăn thịt và trật nhịp với cái nhà hàng này. Anh bồi hỏi họ muốn ăn gì. Juan de Dios Martínez nhìn thực đơn rồi bảo bà chọn cho anh. Trong khi chờ thức ăn anh kể cho bà nghe vụ San Tadeo. Bà giám đốc nghe chăm chú và cuối cùng hỏi còn gì nữa không. Có thế thôi, thanh tra nói. Đêm hôm qua hai bệnh nhân của tôi ngủ ở trung tâm, bà nói. Tôi biết, anh nói. Làm sao ông biết? Sau khi rời nhà thờ tôi có đến nhà thương điên. Tôi yêu cầu bảo vệ và y tá trực cho tôi vào phòng các bệnh nhân của bà. Cả hai người đang ngủ. Chẳng có quần áo hôi mùi nước tiểu nào hết. Chẳng ai cho họ ra ngoài hết. Chuyện ông vừa kể là bất hợp pháp đấy, giám đốc nói. Nhưng giờ thì họ không còn là nghi can nữa, thanh tra nói. Với lại tôi chả hề đánh thức họ dậy. Họ có hay biết gì đâu. Bà giám đốc ngồi ăn một hồi không nói gì. Juan de Dios Martínez càng lúc càng thích tiếng nhạc đệm tiếng nước. Anh nói với bà giám đốc thế. Tôi muốn mua cái đĩa này, anh nói. Anh nói một cách chân thành. Bà giám đốc có vẻ không nghe thấy anh. Họ chọn tráng miệng bằng quả vả. Juan de Dios Martínez bảo đã nhiều năm rồi anh không ăn vả. Bà giám đốc gọi cà phê rồi muốn trả tiền, nhưng anh không chịu. Cũng không dễ. Anh phải nài nỉ không ít và bà có vẻ như hóa đá. Khi ra khỏi nhà hàng họ bắt tay như thể sẽ không bao giờ còn gặp nhau nữa.

♣ ♣ ♣

Hai ngày sau kẻ lạ mặt bước vào nhà thờ Santa Catalina, quận Lomas del Toro, vào đêm khuya khi nhà thờ đã đóng cửa, hắn đái và ị lên bàn thờ, lại còn hầu như đi đến đâu là đập vỡ đầu các tượng đến đó. Lần này vụ việc được đưa lên báo chí quốc gia và một phóng viên tờ La Voz de Sonora đặt biệt danh cho kẻ quấy rối là Kẻ Ăn Năn Quỷ Ám. Theo Juan de Dios Martínez biết thì can phạm có thể là bất cứ ai, nhưng cảnh sát quả quyết đó phải là Kẻ Ăn Năn và anh nghĩ tốt nhất là cứ thuận theo. Anh không lấy làm lạ rằng chẳng ai sống gần nhà thờ nghe thấy gì sất, cho dù đập vỡ cho hết ngần ấy thứ đồ thiêng mà không gây nhiều tiếng ồn thì mất nhiều thời gian lắm. Chẳng ai sống trong nhà thờ. Linh mục hành lễ có mặt ở đấy từ chín giờ sáng đến một giờ chiều, sau đó ngài đến làm việc ở một trường học thuộc giáo khu ở quận Ciudad Nueva. Không có bõ trông coi nhà thờ còn mấy chú bé phụ lễ thì khi tới khi không. Kỳ thực, Santa Catalina là một nhà thờ hầu như không có giáo dân, các đồ trong nhà thờ đều là thứ rẻ tiền, do giáo khu mua ở một cửa hàng dưới phố chuyên bán vừa sỉ vừa lẻ áo lễ và tượng thánh. Linh mục là người đầu óc cởi mở, suy nghĩ thoáng, hoặc theo Juan de Dios Martínez là vậy. Họ nói chuyện một hồi. Nhà thờ chẳng mất thứ gì. Linh mục không có vẻ bức xúc hay tức tối vì vụ việc xảy ra. Ông nhanh nhảu tính toán tổng thiệt hại rồi nói rằng đối với giáo khu đấy chỉ như một giọt trong xô nước. Ông không kinh hoảng vì đống phân trên bàn thờ. Sau khi anh đi khỏi thì cái thứ này sẽ được dọn sạch trong vài tiếng, ông nói. Nhưng lượng nước tiểu thì làm ông hoảng. Vai sát vai, như hai anh em sinh đôi dính liền, thanh tra và linh mục kiểm tra mọi xó xỉnh đã bị Kẻ Ăn Năn tiểu vào, và cuối cùng linh mục bảo thằng cha này chắc phải có bàng quang to cỡ quả dưa. Đêm đó, Juan de Dios Martínez tự nhủ anh bắt đầu đâm thích Kẻ Ăn Năn rồi. Vụ tấn công đầu tiên thì hung tợn và bõ nhà thờ bị đâm suýt chết, nhưng càng ngày thằng cha càng hoàn thiện kỹ năng. Đến vụ thứ hai hắn chỉ làm vài người đi lễ sợ hết hồn, đến lần thứ ba thì chẳng ai thấy hắn và hắn có thể hành sự rất chi êm thắm.

♣ ♣ ♣

Ba ngày sau vụ báng bổ ở nhà thờ Santa Catalina, sáng tinh mơ, Kẻ Ăn Năn lẻn vào nhà thờ Nuestro Señor Jesucristo, quận Reforma, nhà thờ lâu đời nhất thành phố, xây hồi thế kỷ mười tám và từng là nơi tọa lạc giáo khu Santa Teresa. Ba linh mục và hai chủng sinh trường dòng Anh điêng Pápago đang học khoa nhân loại học và lịch sử ở Đại học Santa Teresa ngủ trong tòa nhà bên cạnh, nằm ở góc giữa phố Soler với phố Ortiz Rubio. Ngoài việc theo học, các chủng sinh còn đảm trách vài việc vặt, như là rửa bát mỗi tối hay thu quần áo bẩn của các linh mục mang đến chỗ bà thợ giặt. Đêm đó một trong hai chủng sinh không ngủ. Anh ta ráng ngồi học trong phòng và rồi đứng dậy vào thư viện lấy cuốn sách, và ở thư viện, chẳng vì lý do gì, anh ta ngồi xuống ghế bành đọc sách cho đến khi ngủ thiếp đi. Tòa nhà này ăn thông với nhà thờ bằng một hành lang dẫn thẳng tới phòng linh mục. Người ta nói còn có một hành lang khác ngầm dưới đất mà các linh mục từng dùng dưới thời Cách mạng và hồi Chiến tranh Cristero, nhưng anh chủng sinh người Pápago chưa bao giờ nghe nói tới chuyện ấy. Anh ta bị đánh thức đột ngột bởi tiếng thủy tinh vỡ. Thoạt đầu, rõ là kỳ cục, anh ta tưởng trời đang mưa, nhưng rồi anh ta nhận ra tiếng động phát ra từ trong chứ không phải ngoài nhà thờ, vậy là anh ta bèn đi xem thế nào. Khi đến phòng linh mục anh ta nghe có tiếng rên rỉ, liền nghĩ hay là ai đó đang bị nhốt ở một trong mấy phòng xưng tội, nhưng chuyện ấy tuyệt không thể xảy ra, bởi các cửa đâu có khóa. Anh chủng sinh người Pápago, không như người ta thường nghĩ về tổ tiên anh ta, chẳng gan dạ chút nào và không dám vào trong nhà thờ một mình. Đầu tiên anh ta đi đánh thức chủng sinh kia dậy, rồi hai người gõ rất khẽ lên cửa phòng Cha Juan Carrasco, như bất cứ ai khác trong tòa nhà, lúc ấy đang ngủ. Cha Juan Carrasco lắng nghe anh chàng người Pápago thuật lại chuyện nơi hành lang và bởi đã đọc báo nên Cha nói: ắt là Kẻ Ăn Năn rồi. Lập tức Cha vào lại phòng, mặc quần và mang đôi giày Cha thường mang để đi chạy bộ hay chơi frontón, rồi lấy một cây gậy bóng chày cũ để trên tủ. Đoạn Cha cử một trong hai anh chủng sinh Pápago đi đánh thức bảo vệ, ông này ngủ trong một phòng nhỏ nơi tầng một, cạnh cầu thang, thế rồi Cha tiến đến nhà thờ, theo sau là anh chủng sinh người Pápago đã phát hiện vụ việc. Thoạt nhìn hai người có ấn tượng ở đó chả có ai. Làn khói nến đùng đục chầm chậm bốc lên trần vòm và một đám mây dày đặc hung hung nâu nâu lơ lửng bất động bên trong giáo đường. Một thoáng sau họ nghe có tiếng rên, như một đứa con nít cố nhịn để không ọe, rồi một tiếng rên nữa và một tiếng nữa, rồi thì đến âm thanh quen thuộc của tiếng ọe. Chính là Kẻ Ăn Năn, anh chủng sinh thì thầm. Cha Carrasco cau mày cương quyết đi về phía phát ra tiếng động, hai tay nắm chặt cây gậy bóng chày, làm như Cha đang bước lên vị trí đánh bóng. Anh chàng người Pápago không đi theo Cha. Có thể anh ta đã bước một hai bước theo hướng Cha vừa đi, nhưng rồi anh ta khựng lại, hoàn toàn tê liệt trước một nỗi khiếp đảm thánh thiêng. Sự thực là đến cả răng anh ta cũng gõ vào nhau cành cạch. Anh ta không tiến nổi cũng không lùi nổi. Thế là, như về sau anh ta phân trần với cảnh sát, anh ta bắt đầu cầu nguyện. Cầu gì? thanh tra Juan de Dios Martínez hỏi. Anh chàng người Pápago không hiểu câu hỏi. Kinh Lạy Cha hả? thanh tra hỏi. Không, không, không, đầu óc tôi trống trơn, anh chàng người Pápago nói, tôi cầu nguyện cho linh hồn mình, tôi cầu Đức Mẹ, tôi van xin Đức Mẹ đừng bỏ rơi tôi. Từ chỗ đang đứng anh ta nghe có tiếng gậy bóng chày quật cái rầm vào một cây cột. Đó có lẽ là (lúc đó anh ta nghĩ hoặc anh ta nhớ là lúc đó mình nghĩ) cột sống của Kẻ Ăn Năn hoặc là cây cột cao mét chín trên đó có tượng Tổng Thiên thần Gabriel đẽo bằng gỗ. Rồi anh ta nghe có tiếng ai thở hổn hển. Anh ta nghe tiếng Kẻ Ăn Năn rên. Anh ta nghe tiếng Cha Carrasco chửi tục với ai đó, một tiếng chửi tục thực sự là nghe rất lạ, anh ta không biết đó là Cha chửi Kẻ Ăn Năn, chửi anh ta vì anh ta đã không đi theo Cha, hay chửi ai đó không rõ là ai trong quá khứ của Cha, người nào đó mà anh chàng người Pápago sẽ không bao giờ biết và Cha sẽ không bao giờ gặp lại. Rồi vang lên tiếng gậy bóng chày rơi xuống những tảng đá đẽo khéo léo và chuẩn xác. Cái vật bằng gỗ đó, cây gậy, nẩy lên mấy lần cho đến khi cuối cùng tiếng ồn chấm dứt. Gần như cùng lúc, anh ta nghe thấy một tiếng thét khiến anh ta lại nghĩ tới nỗi khiếp đảm thánh thiêng. Nghĩ mà bằng như không nghĩ. Hay là nghĩ thông qua những hình ảnh rung rung chuệch choạc. Thế rồi anh ta thấy, như được soi bằng ánh nến mặc dù cũng rất có thể là được soi bởi một tia sét, hình ảnh Kẻ Ăn Năn đang bằng một cú độc nhất vụt cây gậy bóng chày đập nát xương ống quyển của vị tổng thiên thần và quật ngài rơi khỏi bệ. Một lần nữa tiếng gỗ, lần này là gỗ rất xưa, chạm vào đá, như thể gỗ và đá, ở nơi đó, là hai thứ hoàn toàn đối nghịch nhau. Và lại thêm những cú đánh nữa. Thế rồi đến tiếng chân của người bảo vệ, ông này chạy tới và cũng mất hút vào trong bóng tối, rồi tiếng của cậu đạo hữu người Pápago hỏi anh ta, bằng tiếng Pápago, rằng chuyện gì vậy, đánh đấm gì vậy. Thế rồi thêm tiếng la hét thêm nhiều linh mục thêm những giọng kêu gọi cảnh sát và một bầy sơ mi trắng phấp phới và mùi chua loét, như thể ai đó vừa đổ hàng mấy lít ammoniac lên các mặt đá của nhà thờ, mùi nước tiểu, như anh ta được thanh tra Juan de Dios Martínez cho biết, quá nhiều nước tiểu nếu chỉ là một người, một người có cái bàng quang bình thường như mọi người.

♣ ♣ ♣

Lần này Kẻ Ăn Năn đã nổi khùng, thanh tra José Marquéz nói trong khi quỳ xuống xem xét xác của Cha Carrasco và người bảo vệ. Juan de Dios Martínez kiểm tra ô cửa sổ Kẻ Ăn Năn đã chui qua để vào nhà thờ, đoạn anh đi ra ngoài thả bộ một hồi dọc phố Soler rồi phố Ortiz Rubio và rồi băng qua một quảng trường mà về đêm dân trong khu lân cận dùng làm bãi đỗ xe miễn phí. Khi anh quay lại nhà thờ, Pedro Negrete và Epifanio đã ở đó, và ngay khi anh bước vào, cảnh sát trưởng liền ra hiệu bảo anh nhập hội. Họ ngồi nơi mấy băng ghế cuối, vừa hút thuốc vừa nói chuyện một hồi. Bên dưới áo khoác da, Negrete mặc áo pijama. Ông tỏa mùi nước hoa đắt tiền và không có vẻ mệt. Epifanio thì mặc bộ com lê màu xanh dương nhạt trông ưa nhìn trong cảnh tranh tối tranh sáng của nhà thờ. Juan de Dios Martínez bảo cảnh sát trưởng rằng Kẻ Ăn Năn ắt có xe hơi. Làm sao anh biết? Hắn không thể đi bộ mà không gây chú ý, thanh tra nói. Nước tiểu của hắn hôi rình. Kino cách Reforma rất xa. Reforma cũng cách Lomas del Torro xa như vậy. Cứ giả định là Kẻ Ăn Năn sống ở khu trung tâm. Từ Reforma đến khu trung tâm có thể đi bộ, nếu ban đêm thì chẳng ai để ý thấy hắn hôi mùi nước tiểu cả. Nhưng nếu từ trung tâm đến Lomas del Torro thì phải mất, coi nào, ít nhất một tiếng. Có khi còn hơn, Epifanio nói. Còn từ Lomas del Torro đến Kino thì sao? Ít nhất bốn lăm phút, nếu hắn không lạc đường, Epifanio nói. Ấy là còn chưa nói từ Reforma đến Kino, Juan de Dios Martínez nói. Vậy thì thằng chó đẻ đi bằng xe hơi, cảnh sát trưởng nói. Mình chỉ chắc được có một điều duy nhất đó thôi, Juan de Dios Martínez nói. Với lại thằng đó chắc có đem theo trong xe áo quần để thay. Để làm gì? cảnh sát trưởng hỏi. Để phòng xa. Vậy nói cách khác anh nghĩ Kẻ Ăn Năn không phải thằng đần, Negrete nói. Hắn chỉ nổi điên khi vào trong nhà thờ, còn ra khỏi nhà thờ thì hắn bình thường như ai, Juan de Dios Martínez thì thầm. Mệ nội nó, cảnh sát trưởng nói. Cậu thì nghĩ sao, Epifanio? Có thể, Epifanio nói. Nếu hắn ở một mình, hắn có thể về nhà người hôi như cứt, bởi chỉ mất chưa quá một phút là hắn có thể từ ngoài xe đi vào trong ổ của hắn. Còn nếu hắn ở với một ả phụ nữ hay người thân thì hắn phải thay đồ xong mới vào. Nghe có lý, cảnh sát trưởng nói. Nhưng vấn đề là làm sao chúng ta ngăn chặn được toàn bộ chuyện này. Có ý gì không? Tạm thời ta cử một cảnh sát trực ở mỗi nhà thờ, chờ cho Kẻ Ăn Năn động thủ lần kế, Juan de Dios Martínez nói. Anh tôi là người sùng đạo, cảnh sát trưởng nói, như đang nói thành lời các suy nghĩ của mình. Tôi phải hỏi anh ấy đôi điều. Còn cậu, Juan de Dios, theo cậu Kẻ Ăn Năn sống ở đâu? Tôi không biết sếp à, viên thanh tra nói, có thể là bất cứ đâu, chỉ là nếu có xe hơi thì chắc hắn không sống ở Kino rồi.

Lúc năm giờ sáng, khi thanh tra Juan de Dios Martínez về tới nhà, có một tin nhắn của giám đốc nhà thương điên lưu trong máy trả lời tự động. Người các anh đang tìm là một kẻ mắc chứng ghét thánh thần, giọng bà giám đốc nói. Gọi điện cho tôi rồi tôi giải thích cho nghe. Dù mới sáng tinh mơ, anh vẫn gọi ngay cho bà. Giọng bà giám đốc trong hòm thư thoại trả lời anh. Martínez đây, ở Sở Cảnh sát, Juan de Dios Martínez nói, xin lỗi đã gọi bà vào giờ này… Tôi vừa nhận được tin nhắn của bà… Tôi mới về xong… Đêm rồi Kẻ Ăn Năn… Cơ mà, mai tôi gọi cho bà… À không, hôm nay… Chúc ngủ ngon, cảm ơn bà đã gửi tin nhắn. Đoạn anh tháo giày, cởi quần và ngã vật xuống giường, nhưng không ngủ được. Chưa tới sáu giờ sáng anh đã đến đồn. Một nhóm lính tuần tra đang mừng sinh nhật một đồng nghiệp, họ mời anh uống nhưng anh bảo không. Ngồi trong văn phòng thanh tra cảnh sát lúc này còn đang vắng hoe, anh nghe họ hát đi hát lại “Chúc mừng sinh nhật” ở tầng trên. Anh lập danh sách các cảnh sát anh muốn làm việc cùng. Anh viết báo cáo gửi cho văn phòng ở Hermosillo rồi đứng dậy ra chỗ máy bán hàng tự động lấy một cốc cà phê. Anh thấy hai lính tuần tra đang quàng vai nhau đi xuống cầu thang, liền đi theo họ. Ở hành lang anh gặp mấy cảnh sát đang chuyện vãn, thành từng nhóm hai, ba, bốn người. Thỉnh thoảng một nhóm lại phá lên cười. Một người áo vét trắng nhưng mặc quần jean, đang đẩy một cái cáng. Trên cáng, phủ kín một tấm nhựa xám, là xác Emilia Mena Mena. Chẳng ai để ý.

♣ ♣ ♣

Emilia Mena Mena chết vào tháng Sáu. Người ta phát hiện xác cô ở bãi rác bất hợp pháp gần phố Yucatecos, trên đường đến nhà máy gạch Anh Em Nhà Corinto. Báo cáo pháp y viết rằng cô đã bị hãm hiếp, đâm chết và bị bỏng, không nói rõ các vết đâm hay vết bỏng là nguyên nhân tử vong, cũng không nói rõ khi lửa được châm lên thì Emilia Mena Mena đã chết hay chưa. Thường xuyên có người báo cáo về các đám cháy ở bãi rác nơi cô được phát hiện, hầu hết là phóng hỏa có chủ ý, những vụ khác thì chỉ tình cờ bùng lên, cho nên cũng có khả năng xác bị cháy do một ngọn lửa ngẫu nhiên chứ không phải bị kẻ giết người châm lửa đốt. Bãi rác không có tên chính thức, bởi nó là bãi rác lậu, nhưng tên không chính thức thì có: nó được gọi là Chile. Ban ngày chẳng có ma nào ló mặt ở Chile hay ở những cánh đồng xung quanh chẳng mấy chốc sẽ bị bãi rác nuốt chửng, về đêm thì xuất hiện những kẻ chẳng có gì hoặc còn tệ hơn chẳng có gì. ở Mexico người ta gọi họ là teporocho, nhưng teporocho là một người có khả năng sinh tồn, một người yếm thế biết phản tỉnh và có óc hài hước, nếu so sánh với những con người lúc nhúc một mình hay theo từng cặp ở Chile này. Số này không có nhiều. Họ nói một thứ tiếng lóng khó hiểu. Cảnh sát tiến hành một cuộc bố ráp vào buổi đêm sau khi xác Emilia Mena Mena được phát hiện song chỉ bắt được mỗi ba đứa con nít đang gom thùng các tông nơi đống rác. Cư dân về đêm ở Chile không nhiều. Tuổi thọ của họ ngắn. Họ chết sau tối đa bảy tháng sống bằng cách nhặt rác trong bãi. Thói quen ăn uống và đời sống tình dục của họ là một bí ẩn. Cũng có thể họ đã quên ăn và quên làm tình. Hay đồ ăn và tình dục đối với họ là một thứ ngoài tầm với, vô phương đạt tới, vô phương miêu tả, nằm ngoài hành động và ngôn từ. Tất cả, không ngoại lệ, đều đau ốm. Lột quần áo một cái xác ở Chile tương đương với lột da. Dân cư ở đấy ổn định: không bao giờ dưới ba người, không bao giờ trên hai chục.

♣ ♣ ♣

Nghi phạm chính trong vụ giết Emilia Mena Mena là bạn trai cô. Khi cảnh sát đến tìm anh ta ở căn nhà anh ta sống cùng cha mẹ và ba anh em trai thì anh ta đã đi mất. Theo gia đình cho biết, anh ta đã lên một chiếc xe buýt khoảng một hai hôm trước khi người ta phát hiện xác chết. Người cha và hai anh em trai phải ngồi xà lim ít hôm, nhưng thông tin nhất quán duy nhất người ta moi ra được từ họ là địa chỉ ông anh trai của người cha, ở Ciudad Guzmán, đoán chừng là nơi nghi phạm đã đến. Khi cảnh sát ở Ciudad Guzmán được cảnh báo, một số nhân viên liền đến chỗ ngôi nhà trong diện nghi vấn, mang theo đầy đủ trát đòi các thứ, nhưng không tìm thấy dấu vết nào của gã bạn trai đồng thời là nghi phạm sát nhân. Vụ án được để ngỏ và chẳng mấy chốc bị quên lãng. Năm ngày sau, trong khi cuộc điều tra vẫn chưa đi đến kết luận, người gác cổng ở Trường Dự bị Morelos phát hiện ra một xác phụ nữ khác. Nó nằm trên một khoảnh đất nơi sinh viên hay tụ tập chơi bóng đá và bóng chày, một cánh đồng có tầm nhìn sang Arizona và lán trại của các nhà máy lắp ráp về phía bên này biên giới Mexico cùng những con đường đất dẫn từ các nhà máy đến mạng lưới đường rải nhựa. Dọc một bên, được ngăn cách khỏi cánh đồng bởi hàng rào kẽm gai, là sân trường, xa hơn một chút là các tòa học xá ba tầng, nơi thầy dạy trò học trong những lớp học rộng rãi sáng sủa. Trường này mở cửa năm 1990 và người gác cổng này có mặt ở trường ngay từ buổi đầu. Ông là người đến sớm nhất mỗi sáng và ra về muộn nhất. Buổi sáng ông phát hiện ra người phụ nữ chết, có cái gì đó khiến ông chú ý khi ông đang lấy chùm chìa khóa tổng trong phòng hiệu trưởng. Thoạt tiên ông không chắc đó là gì. Đến khi bước vào phòng vật tư thì ông nhận ra. Nhặng. Nhặng đang bay trên cánh đồng cạnh sân trường. Nhưng còn nhiều việc phải làm nên ông quyết định hẵng để đấy, sẽ xem xét sau. Một chốc sau đó bà bếp và cậu phụ bếp đến, ông liền xuống bếp uống cà phê với họ. Họ chuyện vãn tầm mười phút về những thứ thường ngày, cho đến khi ông gác cổng hỏi ban nãy lúc đi vào hai người kia có nhìn thấy nhặng không. Họ bảo không. Ông gác cổng liền uống nốt cốc cà phê rồi bảo ông ra ngoài cánh đồng đi dạo một tí. Ông e sẽ thấy một con chó chết. Nếu vậy, ông sẽ về lại trường, vào phòng cất dụng cụ, lấy một cái xẻng rồi quay lại cánh đồng đặng chôn con chó đủ sâu để lũ học trò đừng bới lên. Nhưng ông lại thấy một người phụ nữ. Cô ta mặc sơ mi đen, mang giày đen, váy cô ta bị tốc lên quanh eo. Cô ta chẳng mặc gì bên trong áo váy. Đó là thứ đầu tiên ông thấy. Đoạn ông nhìn mặt cô ta và nhận ra không phải cô ta chết hồi đêm. Một con nhặng đậu lên hàng rào nhưng ông xua nó đi. Người phụ nữ có mái tóc đen dài ít nhất là đến giữa lưng. Vài lọn tóc bết lại vì máu vón. Trên bụng và giữa hai chân cô ta có máu khô. Ông làm dấu thánh hai lần rồi chậm chạp đứng dậy. Về lại trường ông liền kể sự tình cho bà bếp. Cậu phụ bếp đang cọ nồi nên ông gác cổng nói nhỏ để cậu không nghe thấy. Ông vào văn phòng gọi điện cho hiệu trưởng, nhưng hiệu trưởng đã ra khỏi nhà rồi. Ông tìm thấy một cái chăn liền đem ra đắp lên người phụ nữ chết. Chỉ khi đó ông mới nhận ra là có một cây cọc đâm xuyên qua cô ta. Mắt ông đẫm lệ khi ông quay lại trường. Bà bếp ngồi đó ngoài sân, hút thuốc. Bà phác cử chỉ như muốn hỏi vụ đó sao rồi. Ông gác cổng trả lời bằng một cử chỉ khác, không thể giải mã được, rồi đi đến chỗ cổng chính đợi thầy hiệu trưởng. Khi hiệu trưởng đến cả hai cùng ra ngoài cánh đồng. Đứng giữa sân, bà bếp quan sát trong khi hiệu trưởng nhấc một mé chăn lên và nhìn chăm chăm từ nhiều góc độ vào cái hình thù khó nhìn thấy đang nằm giữa đất. Lát sau có thêm hai thầy giáo nhập hội, cách đó khoảng mươi mét là một đám học sinh. Đến trưa, hai ô tô cảnh sát, thêm một ô tô thứ ba không có dấu hiệu gì đặc biệt cùng một xe cứu thương tới và họ mang người phụ nữ chết đi. Tên của người phụ nữ là gì người ta không bao giờ biết được. Bác sĩ pháp y cho hay cô ta chết đã mấy ngày, song không nói rõ mấy ngày. Các vết đâm ở ngực có lẽ là nguyên nhân tử vong, nhưng pháp y không loại trừ khả năng nứt sọ là nguyên nhân chính. Tuổi người phụ nữ chết nằm trong khoảng từ hai mươi ba đến hai mươi lăm. Cô cao một mét bảy mươi.

♣ ♣ ♣

Người phụ nữ chết cuối cùng được phát hiện vào tháng Sáu năm 1993 là Margarita López Santos. Cô biến mất từ hơn bốn mươi ngày trước đó. Ngày thứ hai sau khi cô biến mất, mẹ cô đi trình báo ở phân khu cảnh sát số 2. Margarita Lopez làm việc ở K&T, một nhà máy lắp ráp thuộc khu công nghiệp Progreso gần xa lộ Nogales và các ngôi nhà xa nhất của quận Guadalupe Victoria. Hôm mất tích cô làm ca ba ở nhà máy, từ chín giờ đêm đến năm giờ sáng. Theo các đồng nghiệp của cô, cô đến đúng giờ, như mọi khi, bởi Margarita là người tận tụy và có trách nhiệm hơn hầu hết mọi người, nghĩa là có thể khoanh vùng thời điểm mất tích của cô là vào lúc đổi ca và cô đi bộ về nhà. Nhưng lúc đó thì chẳng ai thấy gì, một phần bởi lúc năm giờ hay năm rưỡi sáng trời còn tối mịt, và bởi đèn đường không đủ sáng. Hầu hết nhà cửa ở mạn Bắc của quận Guadalupe Victoria không có điện. Các con đường từ khu công nghiệp đi ra, ngoại trừ đường dẫn đến xa lộ Nogales, cũng không đủ đèn chiếu sáng, ít rải nhựa và thiếu cống thoát nước: hầu hết chất thải từ khu công nghiệp rốt cuộc đều dồn về quận Las Rositas, ở đó chúng làm thành một hồ bùn bị bợt ra thành màu trắng dưới ánh nắng. Vậy là Margarita López xong việc và rời nhà máy lúc năm rưỡi. Người ta chỉ xác định chắc chắn được ngần ấy. Thế rồi cô cất bước dọc những con đường tối tăm của khu công nghiệp. Có thể cô có gặp chiếc xe tải nhỏ đậu hằng đêm ở một quảng trường trống cạnh bãi đỗ xe của nhà máy WS-Inc, bán cà phê cùng nước giải khát và nhiều loại bánh sandwich cho công nhân trên đường đi làm hoặc đi làm về. Hầu hết họ là phụ nữ. Nhưng hoặc không đói hoặc biết bữa ăn đang đợi mình ở nhà nên cô không dừng lại. Cô rời khỏi bãi đỗ xe và những ánh đèn xa xăm hơn bao giờ hết của các nhà máy. Cô băng qua xa lộ Nogales và rẽ sang các phố đầu tiên của quận Guadalupe Victoria. Cô sẽ mất không quá nửa tiếng để đi qua Guadalupe Victoria. Sau đó cô hẳn sẽ về tới quận San Bartolomé nơi cô ở. Tổng cộng trên dưới năm mươi phút đi bộ. Nhưng ở đâu đó dọc đường có gì đó đã xảy ra hoặc có gì đó đã làm hỏng bét hết cả và sau đó người ta bảo mẹ cô có khả năng cô đã bỏ trốn với một gã đàn ông. Cô mới mười sáu, mẹ cô nói, và cô là đứa con gái ngoan. Bốn mươi ngày sau vài đứa con nít phát hiện thấy xác cô gần một căn nhà xập xệ ở quận Maytorena. Bàn tay trái cô đặt trên vài cái lá guaco. Do tình trạng cái xác, bên pháp y không xác định được nguyên nhân tử vong. Tuy nhiên, một trong các cảnh sát có mặt khi người ta mang xác đi đã nhận diện được cây guaco. Cây này trị muỗi cắn rất tốt, anh ta nói khi cúi xuống ngắt vài cái lá xanh nhỏ, nhọn và cứng.

♣ ♣ ♣

Trong tháng Bảy không ai chết. Tháng Tám cũng không.

♣ ♣ ♣

Vào khoảng thời gian này tờ báo La Razón ở thủ đô cử Sergio González đến viết một bài về Kẻ Ăn Năn. Sergio González ba mươi lăm tuổi, mới ly hôn và cần kiếm tiền bằng mọi cách. Bình thường ra thì anh sẽ không nhận nhiệm vụ này, vì anh là phóng viên mảng văn hóa chứ không phải mảng tội phạm. Anh viết bài điểm những cuốn sách triết chẳng ai đọc, sách cũng không mà bài điểm của anh cũng không, và thỉnh thoảng anh cũng viết về âm nhạc hay triển lãm tranh. Anh làm cho La Razón đã được bốn năm và tình hình tài chính không đến nỗi nào, nếu không nói là dư dả, cho đến khi ly hôn, sau đó thì anh lúc nào cũng thiếu tiền. Bởi anh chẳng thể viết gì khác cho mảng của mình được nữa (ở đấy đôi khi anh dùng bút danh để người đọc không thể nhận ra rằng bài nào cũng là của anh tất) nên anh phải cầu cạnh biên tập viên những mảng khác giao việc cho anh kiếm thêm thu nhập. Vậy nên mới có đề nghị anh đến Santa Teresa viết bài về Kẻ Ăn Năn. Người giao cho anh việc này là biên tập viên phụ trương Chủ nhật của tờ báo, rất coi trọng González và nghĩ rằng với đề nghị này ông có thể bắn một phát trúng hai con chim: một mặt González kiếm thêm được chút tiền, mặt khác anh có được ba bốn hôm rảnh rỗi đi lên miền Bắc, nơi có đồ ăn ngon, không khí trong lành, và quên vợ anh đi. Thế là vào tháng Bảy năm 1993 Sergio González đáp máy bay đến Hermosillo và từ đó đi xe buýt đến Santa Teresa. Và quả thật anh thấy chuyến đổi gió này thật tuyệt vời. Bầu trời Hermosillo, xanh ngăn ngắt, gần như màu kim loại, được chiếu sáng từ bên dưới, khiến anh lên tinh thần ngay lập tức. Thiên hạ ở sân bay và sau đó trên phố xá trong thành phố, anh thấy họ thật thân thiện, thư thái, như thể anh đang ở nước ngoài và chỉ thấy mặt tốt của cư dân ở đấy mà thôi. Ở Santa Teresa, nơi anh vẫn nghĩ là một thành phố siêng năng làm lụng và rất ít người thất nghiệp, anh thuê phòng ở một khách sạn rẻ tiền gọi là Oasis ở khu trung tâm, trên một con phố mà đá lát đường có từ thời Cải cách, rồi lát sau anh đến thăm trụ sở mấy tờ El Heraldo del NorteLa Voz de Sonora, trò chuyện hồi lâu với các phóng viên đang theo vụ Kẻ Ăn Năn. Họ chỉ đường cho anh đến bốn nhà thờ bị báng bổ kia và anh đến thăm chúng trong vòng một ngày, cùng một tài xế taxi luôn chờ anh ở bên ngoài. Anh xoay xở tìm cách nói chuyện với hai linh mục ở San Tadeo và Santa Catalina, các vị này chẳng có tin gì mới để bổ sung, tuy nhiên linh mục ở Santa Catalina đề nghị anh mở to mắt mà nhìn, bởi theo ý ngài thì cái tên báng bổ nhà thờ và sau đó trở thành kẻ giết người này không phải là tai họa ghê gớm nhất của Santa Teresa. Cảnh sát thì đưa cho anh một bản phác họa chân dung nghi phạm và anh xin hẹn gặp Juan de Dios Martínez, thanh tra phụ trách vụ này. Buổi chiều anh nói chuyện với thị trưởng, ông này mời anh ăn trưa ở nhà hàng cạnh tòa thị chính, một nhà hàng với các bức tường đá cố làm sao cho giống những tòa nhà thời thuộc địa nhưng không được. Song đồ ăn thì rất ngon, và ngài thị trưởng cùng hai quan chức cấp thấp hơn trong chính quyền thành phố ra sức giữ cho không khí vui tươi thoải mái bằng cách kể những chuyện ngồi lê đôi mách ở vùng này và những chuyện cười tục tĩu. Hôm sau anh cố tìm cách phỏng vấn cảnh sát trưởng, nhưng chỉ gặp được một nhân viên, có lẽ là phát ngôn viên báo chí của sở cảnh sát, một tay trẻ măng mới chân ướt chân ráo rời trường Luật, cậu này đưa cho anh một cặp hồ sơ gồm đầy đủ các thông tin mà một nhà báo có thể cần để viết bài về Kẻ Ăn Năn. Họ cậu ta là Zamudio và đêm đó cậu ta chẳng có việc gì hay hơn để làm ngoài lôi Sergio González đi cho có bạn. Họ ăn tối với nhau. Rồi họ đến một hộp đêm. Sergio González không nhớ nổi từ năm mười bảy tuổi đến giờ mình đã tới hộp đêm bao giờ chưa. Anh nói với Zamudio như thế, cậu này cả cười. Họ mua đồ uống cho nhiều cô gái. Các cô này từ Sinaloa đến và chỉ cần nhìn quần áo là biết ngay các cô làm công nhân nhà máy. Sergio González hỏi một cô anh đứng cùng cho có cặp rằng cô có thích nhảy không, cô liền nói cô thích nhảy hơn mọi thứ trên đời. Câu trả lời ấy anh thấy sáng ngời, dù anh không biết tại sao, mà cũng lại buồn thấu tâm can. Đến lượt mình cô gái hỏi một chilango dân thủ đô như anh đến Santa Teresa để làm gì, thì anh bảo anh là nhà báo và đến để viết về Kẻ Ăn Năn. Cô gái không có vẻ bị ấn tượng trước tiết lộ này. Cô cũng chưa bao giờ đọc La Razón, một chuyện González thấy khó mà tin được. Đến một lúc Zamudio kéo anh sang một bên bảo mình đưa các cô lên giường được đấy. Khuôn mặt Zamudio bị ánh đèn cực mạnh làm biến dạng, cậu ta nom như thằng điên. González nhún vai.

♣ ♣ ♣

Hôm sau anh thức dậy một mình trong buồng khách sạn với cảm giác mình đã nhìn thấy hay nghe thấy cái gì đó cấm kỵ. Dù thế nào thì cũng không phải lối, khó xử. Anh cố tìm cách phỏng vấn Juan de Dios Martínez. Ở văn phòng cảnh sát anh chỉ gặp mỗi hai người đang chơi xúc xắc, người thứ ba ngồi xem. Cả ba đều là thanh tra cảnh sát. Sergio González tự giới thiệu rồi ngồi xuống ghế đợi, vì người ta bảo anh rằng Juan de Dios Martínez đến ngay đây thôi. Các thanh tra cảnh sát mặc áo khoác và bộ đồ thể thao. Mỗi người chơi có một tách đựng đậu và mỗi lần tung xúc xắc họ lại lấy vài hạt đậu từ tách của mình ra đặt vào giữa bàn. González lấy làm lạ rằng họ là người lớn hẳn hoi mà lại cược bằng hạt đậu, nhưng còn lạ hơn khi anh thấy vài hạt đậu ở giữa bàn nhảy tanh tách. Anh nhìn kỹ thì thấy quả vậy thật, thi thoảng một hoặc có khi hai hạt đậu nhảy lên, không cao lắm, chừng nửa xentimét, hoặc hai xentimét, nhưng đúng là nó nhảy thật. Những người chơi không quan tâm đến mấy hạt đậu. Họ thả xúc xắc, có năm cái tất cả, vào trong hộp, lắc lắc hộp rồi dốc nhanh một cái đổ hết xúc xắc lên bàn. Mỗi lần gieo, họ lại nói những từ González không hiểu. Họ nói: engarróteseme ahí, hay metateado, hay peladeaje, hay combiliado, hay biscornieto, hay bola de pinole, hay despatolado, hay sin desperdicio, làm như họ đang phát âm tên các thánh thần hoặc những bước trong một nghi lễ bí mật mà chính họ cũng không hiểu nhưng đều phải tuân hành. Tay thanh tra cảnh sát không chơi gục gặc đầu tán đồng. Sergio González hỏi họ đậu kia có phải đậu nhảy không. Viên thanh tra nọ nhìn anh nói phải. Tôi chưa bao giờ thấy nhiều đậu nhảy thế, anh nói. Thật ra anh chưa nhìn thấy bao giờ. Khi Juan de Dios Martínez đến, các thanh tra vẫn chơi tiếp. Juan de Dios Martínez mặc bộ com lê xám hơi nhàu, đeo cà vạt xanh lơ sẫm. Họ ngồi vào một cái bàn, theo González quan sát thấy thì bàn này ngăn nắp nhất, rồi nói chuyện về Kẻ Ăn Năn. Theo anh thanh tra, mặc dù Martínez yêu cầu anh đừng thu âm chi tiết này, thì Kẻ Ăn Năn bị bệnh. Hắn bệnh kiểu gì? González thì thầm, đương nói chuyện thì anh nhận ra Juan de Dios Martínez không muốn các đồng nghiệp nghe thấy. Chứng kỵ thánh thần, thanh tra nói. Là cái gì? González hỏi. Sợ và ghét những vật thiêng, thanh tra nói. Theo anh, Kẻ Ăn Năn không báng bổ các nhà thờ với chủ định giết người. Mấy vụ chết người chỉ là ngẫu nhiên. Kẻ Ăn Năn chẳng qua chỉ muốn trút cơn thịnh nộ của mình vào hình ảnh các thánh thôi.

♣ ♣ ♣

Chẳng bao lâu các nhà thờ bị Kẻ Ăn Năn báng bổ đã được dọn dẹp sạch sẽ và mọi tổn thất đều được đền bù đầy đủ, ngoại trừ ở Santa Catalina, nơi này mãi một thời gian vẫn trong tình trạng như khi Kẻ Ăn Năn gây ra sự việc. Chúng tôi cần tiền cho nhiều thứ, Sergio González được linh mục Ciudad Nuea cho biết, một hôm nọ ngài đã đến quận Lomas del Torro để giảng lễ misa và để dọn dẹp, lời ông hàm ý rằng có những việc cần ưu tiên hơn hoặc cấp thiết hơn là thay thế những vật thiêng đã bị hủy hoại. Chính nhờ linh mục này, trong lần thứ hai cũng là lần cuối họ gặp nhau trong nhà thờ, Sergio González mới biết được rằng ngoài tội ác của Kẻ Ăn Năn còn có những kẻ khác đang gây tội ở Santa Teresa, những tội ác mà nạn nhân là phụ nữ, hầu hết chưa tìm ra thủ phạm. Suốt một hồi, linh mục vừa quét vừa nói, nói hoài nói mãi: về thành phố, về mưu mẹo của dân di cư Trung Mỹ, về hàng trăm người Mexico hằng ngày đến tìm việc ở các nhà máy hoặc hy vọng vượt qua biên giới, về nghề buôn người của các pollerocoyote, về đồng lương chết đói ở các nhà máy, về chuyện cái đồng lương ấy vẫn là thứ đáng thèm muốn đối với những kẻ tuyệt vọng từ Queretaro từ Zacatecas từ Oaxaca đến, những người Cơ đốc tuyệt vọng, linh mục nói (mô tả họ như thế thì thật lạ, nhất là với một linh mục), những kẻ dấn vào các chuyến đi khó mà tin nổi, có khi một mình có khi cả gia đình dắt díu nhau đi, cho tới khi đến được biên giới và chỉ chừng đó họ mới nghỉ ngơi hay khóc hay cầu nguyện hay uống cho say khướt hay hút cho sướng mê tơi hay nhảy múa cho đến khi kiệt sức gục xuống. Linh mục nói y như đang ngâm nga một bài kinh nguyện, và có lúc, trong khi nghe, Sergio González nhắm mắt lại gần như ngủ gục. Sau đó họ ra ngoài ngồi trên mấy bậc thềm gạch của nhà thờ. Linh mục mời anh một điếu Camel và họ vừa hút vừa ngắm chân trời. Vậy là ngoài làm báo, anh còn làm gì ở thủ đô nữa? linh mục hỏi. Trong vài giây, trong khi hít khói thuốc vào phổi, Sergio González tính xem nên trả lời thế nào và không nghĩ ra được. Tôi mới ly dị, anh nói, và tôi đọc nhiều. Loại sách gì? linh mục muốn biết. Triết học, nhiều nhất là triết học, González nói. Cha cũng thích đọc chứ ạ? Hai ba cô gái chạy ngang qua, gọi tên chào linh mục mà không dừng lại. González quan sát họ băng qua một lô đất đang nở rộ những đóa hoa to màu đỏ rồi băng qua phố. Dĩ nhiên, linh mục nói. Loại sách gì? González hỏi. Nhiều nhất là thần học giải phóng, linh mục nói. Tôi thích Boff và các tác gia Brazil. Nhưng tôi đọc cả tiểu thuyết trinh thám nữa. González đứng dậy dụi điếu thuốc đang hút vào đế giày. Rất vui được gặp Cha, anh nói. Linh mục bắt tay anh và gật đầu.

♣ ♣ ♣

Sáng hôm sau Sergio González bắt xe buýt đến Hermosillo và, sau bốn giờ chờ đợi, bay về thủ đô. Hai ngày sau anh nộp bài báo về Kẻ Ăn Năn cho biên tập viên phụ trương Chủ nhật và lập tức quên toàn bộ vụ việc.

♣ ♣ ♣

Cụ thể ra thì chứng kỵ thánh thần là thế nào? Juan de Dios Martínez hỏi bà giám đốc. Giảng qua cho tôi về nó đi. Bà giám đốc bảo tên bà là Elvira Campos rồi gọi một cốc whiskey. Juan de Dios Martínez gọi bia rồi nhìn quanh quán. Trên hàng hiên một nhạc công accordeon, được đệm bởi một nhạc công vĩ cầm, đang ra sức thu hút sự chú ý của một người ăn mặc kiểu chủ nông trại, song không được. Một tay buôn ma túy, Juan de Dios Martínez nghĩ, tuy rằng bởi gã kia đang quay lưng lại anh nên anh không thể biết đó là ai. Kỵ thánh thần là chứng sợ hoặc thù ghét cái thánh thiêng, những thứ đồ thiêng, nhất là những thứ của chính tôn giáo mình đang theo, Elvira Campos nói. Anh định nhắc tới Dracula, cứ nhìn thấy thánh giá là chạy, nhưng lại e bà giám đốc sẽ cười anh. Và bà tin Kẻ Ăn Năn mắc chứng kỵ thánh thần? Tôi đã nghĩ kỹ về chuyện đó, và tôi tin vậy. Mới cách đây vài hôm hắn phanh bụng moi ruột một linh mục và một người nữa, Juan de Dios Martínez nói. Tay chơi accordeon còn rất trẻ, cùng lắm hai mươi, tròn xoay như quả táo. Tuy nhiên, cung cách của cậu khiến cậu có vẻ như ít nhất cũng hai lăm, trừ lúc cậu mỉm cười, vốn khá thường xuyên, thì đột nhiên mới lộ rõ ra cậu còn trẻ và non nớt đến thế nào. Hắn mang dao theo không phải để giết ai, không phải để giết một sinh linh nào, tôi muốn nói thế, mà là để hủy hoại các tượng và tranh thánh hắn gặp trong mấy nhà thờ ấy, bà giám đốc nói. Chúng ta gọi nhau bằng tên riêng nhé? Juan de Dios Martínez hỏi bà. Elvira Campos mỉm cười gật đầu. Bà là một phụ nữ rất hấp dẫn, Juan de Dios Martínez nói. Mảnh mai mà hấp dẫn. Anh không thích phụ nữ mảnh mai sao, anh thanh tra? bà giám đốc hỏi. Nhạc công vĩ cầm cao hơn tay accordeon, cô mặc áo cánh đen quần tất đen. Cô có mái tóc dài tới eo và thỉnh thoảng lại nhắm mắt, nhất là ở những đoạn tay accordeon vừa chơi vừa hát. Điều buồn nhất, Juan de Dios Martínez nghĩ, là tay buôn ma túy, hay cái lưng mặc com lê của gã mà anh nghĩ là tay buôn ma túy, lại chẳng mấy khi để ý đến họ, gã còn bận trò chuyện với một người đàn ông có bộ mặt như chồn hôi và một ả gái mồi có bộ mặt mèo. Chúng ta gọi nhau bằng tên riêng không được sao? Juan de Dios Martínez hỏi. Phải vậy, bà giám đốc nói. Vậy bà tin chắc Kẻ Ăn Năn mắc chứng kỵ thánh thần? Bà giám đốc nói bà đã xem hết hồ sơ lưu trữ ở nhà thương điên để xem liệu có tìm được bệnh nhân nào trước đây có bệnh sử giống Kẻ Ăn Năn không. Bà không tìm được gì cả. Nếu hắn trạc tuổi như anh nói thì tôi tin chắc là trước đây hắn từng nhập viện rồi. Tay accordeon bỗng dưng bắt đầu giậm chân theo nhịp nhạc. Từ chỗ ngồi họ không nghe được tiếng cậu, nhưng cậu đang nhăn mặt làm trò, méo mồm nhướng mắt, rồi cậu lấy một tay vò tóc và dường như hú lên cười. Nhạc công vĩ cầm cứ nhắm tịt mắt. Đầu tay buôn ma túy đã xoay sang. Juan de Dios Martínez tự nhủ cuối cùng cậu nhóc cũng đạt được mong muốn. Có lẽ ở một trung tâm tâm thần nào đó ở Hermosillo hay Tijuana có hồ sơ về hắn. Tôi không tin đó là một hồ sơ quá dị biệt. Có khi mới gần đây thôi hắn vẫn đang được điều trị. Có khi hắn đã thôi uống thuốc, bà giám đốc nói. Bà lấy chồng chưa, hiện bà có sống chung với ai không, Juan de Dios Martínez hỏi bằng giọng hầu như không nghe được. Tôi ở một mình, bà giám đốc nói. Nhưng bà có con, tôi thấy ảnh trong phòng làm việc của bà. Tôi có con gái, nó lấy chồng rồi. Juan de Dios Martínez cảm thấy lòng nhẹ nhõm hẳn, và anh bật cười. Đừng bảo tôi bà đã lên chức bà ngoại đấy nhé. Đừng bao giờ nói thế với phụ nữ, thanh tra ạ. Anh bao nhiêu tuổi? bà giám đốc hỏi. Ba mươi tư, thanh tra nói. Trẻ hơn tôi mười bảy tuổi. Trông bà không quá bốn mươi, thanh tra nói. Bà giám đốc cả cười: tôi ngày nào cũng tập thể dục, tôi không hút thuốc, tôi uống rượu rất ít, sinh hoạt lành mạnh, hồi trước tôi thường chạy bộ mỗi sáng. Nay thì không à? Không, giờ tôi đã mua máy chạy bộ. Cả hai cùng cười. Tôi thường nghe Bach qua headphone và hầu như ngày nào cũng chạy sáu bảy cây số. Chứng kỵ thánh thần. Nếu tôi bảo các đồng nghiệp rằng Kẻ Ăn Năn mắc chứng kỵ thánh thần, họ sẽ cười tôi. Gã có bộ mặt chồn hôi đứng dậy nói gì đó vào tai tay chơi accordeon. Đoạn gã lại ngồi vào ghế và mồm tay chơi accordeon liền dẩu ra. Như đứa con nít sắp òa khóc. Nhạc công vĩ cầm đã mở mắt và mỉm cười. Tay buôn ma túy và người phụ nữ mặt mèo đang châu đầu vào nhau. Mũi của tay buôn ma túy to gộ xương xẩu và có nét quý phái. Nhưng có nét quý phái là thế nào? Vẻ cuồng dại toát lên trên mặt tay chơi accordeon, ngoại trừ cặp môi. Những dòng chảy lạ lẫm cồn lên trong ngực thanh tra. Thế giới này là một chốn kỳ lạ và kỳ thú, anh nghĩ.

♣ ♣ ♣

Có những thứ còn kỳ quặc hơn cả chứng kỵ thánh thần nữa kia, Elvira Campos nói, nhất là nếu xét rằng chúng ta đang ở Mexico và tôn giáo luôn là vấn đề lớn ở đây. Quả vậy, tôi dám nói tất cả người Mexico về thực chất đều là những kẻ mắc chứng kỵ thánh thần. Hay là chứng gephyrophobia, một chứng sợ kinh điển. Vô số người mắc chứng ấy. Gephyrophobia là gì? Juan de Dios Martínez hỏi. Chứng sợ đi qua cầu. Đúng thế, tôi có biết một người, ờ, thực ra là một đứa trẻ con, nó cứ sợ rằng khi nó đi qua cầu thì cầu sẽ gãy, nên lần nào nó cũng chạy vù qua, thế lại càng nguy hiểm hơn nhiều. Một chứng kinh điển. Một chứng kinh điển khác: claustrophobia. Sợ không gian kín. Một chứng nữa: agoraphobia. Sợ không gian mở. Mấy chứng đó tôi có nghe nói, Juan de Dios Martínez nói. Và một chứng nữa: necrophobia. Sợ người chết, Juan de Dios Martínez nói, tôi có biết những người như thế. Ấy là một khuyết tật đối với một tay cảnh sát. Rồi có chứng hemophobia, sợ máu. Đúng quá, Juan de Dios Martínez nói. Rồi peccatophobia, chứng sợ phạm tội. Nhưng còn những chứng sợ khác, hiếm hơn. Chẳng hạn clinophobia. Ông có biết đó là gì không? Nào tôi có biết, Juan de Dios Martínez nói. Sợ giường. Liệu có ai lại sợ hay ghét giường không? Có thể có, nhiều là khác. Nhưng họ có thể giải quyết bằng cách ngủ trên sàn và không bao giờ bước chân vào phòng ngủ. Rồi còn tricophobia, sợ lông tóc. Cái này thì phức tạp hơn chút, phải không? Phức tạp quá đi chứ. Có nhiều trường hợp mắc chứng tricophobia mà rốt cuộc phải tự tử đấy. Rồi có verbophobia, sợ lời nói. Nghĩa là khi ấy cách tốt nhất là im miệng, Juan de Dios Martínez nói. Không phải chỉ thế đâu, bởi vì lời nói ở khắp nơi, kể cả trong im lặng, cho nên im lặng chẳng bao giờ là im lặng hoàn toàn cả, đúng không? Rồi lại có vestiphobia, chứng sợ quần áo. Nghe thì có vẻ lạ, nhưng thật ra nó phổ biến hơn anh tưởng nhiều. Và chứng này thì tương đối hay gặp: iatrophobia, tức là sợ bác sĩ. Hay gynophobia, sợ phụ nữ, và lẽ tự nhiên chỉ đàn ông mới mắc thôi. Rất phổ biến ở Mexico, mặc dù nó biểu hiện ra bằng nhiều cách rất khác nhau. Bà nói thế có hơi phóng đại không? Không một tí nào: hầu như tất cả đàn ông Mexico đều sợ phụ nữ. Tôi không biết nói thế nào, Juan de Dios Martínez nói. Rồi có hai chứng mà xét về bản chất thì rất lãng mạn: ombrophobia và thalassophobia, tức là sợ mưa và sợ biển. Và hai chứng khác cũng có chút lãng mạn: antophobia, sợ hoa, và dendrophobia, sợ cây cối. Một số đàn ông Mexico có thể mắc chứng sợ phụ nữ, nhưng tất cả thì không thể, bà đừng nói quá lên thế, Juan de Dios Martínez nói. Theo anh thì optophobia là gì? Opto, opto, chắc có liên quan gì đó đến mắt phải không, a, phải rồi, chứng sợ mắt à? Còn tệ hơn thế: sợ mở mắt. Theo nghĩa bóng, đó là câu trả lời cho điều anh vừa nói về chứng sợ phụ nữ. Theo nghĩa đen, nó dẫn tới những hành vi hiếu chiến bạo lực, mất ý thức, ảo thị ảo thanh, nói chung là hành vi hung hăng dữ tợn. Tôi có biết, dĩ nhiên là không phải tôi quen ngoài đời, hai trường hợp người bệnh đi xa đến mức tự cắt xẻo thân mình. Hắn tự moi mắt mình ra à? Bằng ngón tay, bằng móng tay, bà giám đốc nói. Ôi Chúa lòng lành, Juan de Dios Martínez nói. Rồi có pedophobia, dĩ nhiên, tức là sợ trẻ con, và ballistophobia, sợ đạn. Là chứng sợ của tôi, Juan de Dios Martínez nói. Phải, tôi đoán đó là lẽ thường thôi, bà giám đốc nói. Rồi một chứng sợ khác nữa, cái này đang ngày một tăng, là tropophobia, sợ thay đổi hay di chuyển. Có thể càng trầm trọng hơn nếu nó trở thành agyrophobia, sợ đường phố hay sợ băng qua đường. Đừng quên chromophobia, là sợ một số màu nhất định, và nyctophobia, tức là sợ đêm, hay ergophobia, sợ làm việc. Một chứng thường gặp là decidophobia, sợ ra quyết định. Và có một chứng sợ chỉ mới bắt đầu phổ biến, là anthrophobia, sợ người. Một số người Anh điêng mắc chứng astrophobia thể nặng, tức là sợ những hiện tượng khí tượng như sấm chớp. Song những chứng sợ tồi tệ nhất, theo ý kiến tôi, là pantophobia, sợ mọi thứ, và phobophobia, tức là sợ chính nỗi sợ. Nếu anh buộc phải mắc một trong hai chứng, anh chọn chứng gì? Sợ nỗi sợ, Juan de Dios Martínez nói. Nghĩ kỹ đi, nó có những mặt trái đó, bà giám đốc nói. Giữa một đằng là sợ mọi thứ và một đằng là sợ chính nỗi sợ, tôi chọn cái sau. Đừng quên tôi là cảnh sát, nếu tôi sợ mọi thứ thì tôi không làm việc được. Nhưng nếu anh sợ những nỗi sợ của chính anh, cuộc đời anh có thể biến thành một cuộc chiêm nghiệm triền miên về những nỗi sợ, và một khi đã được kích hoạt, nó sẽ sinh ra một hệ thống tự nuôi dưỡng nó, một vòng luẩn quẩn mà anh không thể thoát ra, bà giám đốc nói.

♣ ♣ ♣

Ít hôm trước khi Sergio González đến Santa Teresa, Juan de Dios Martínez và Elvira Campos lên giường với nhau. Chuyện này chả có gì nghiêm túc cả đâu, bà giám đốc cảnh báo, tôi không muốn anh nghĩ sai về chiều hướng mối quan hệ giữa chúng ta. Juan de Dios Martínez hứa bà là người sẽ định ra giới hạn và anh chỉ việc tuân theo quyết định của bà. Bà giám đốc lấy làm thỏa mãn về cuộc ái ân đầu tiên của hai người. Lần kế tiếp họ gặp nhau, mười lăm ngày sau đó, kết quả còn mỹ mãn hơn. Đôi khi chính anh là người gọi điện, thường vào buổi chiều, khi bà vẫn đang làm việc, họ chuyện trò năm phút, có khi mười phút, về những chuyện xảy ra trong ngày. Còn khi nào muốn hẹn gặp nhau thì bà gọi cho anh, thường là gặp tại căn hộ của bà trong một tòa nhà mới ở quận Michoacán, trên một con phố gồm những ngôi nhà của giới thượng trung lưu nơi bác sĩ, luật sư, vài nha sĩ và một hai giáo sư đại học sinh sống. Những cuộc gặp giữa hai người luôn diễn ra theo cùng một khuôn mẫu. Thanh tra đỗ xe trên phố rồi đi thang máy lên, soi mình trong gương để đảm bảo ngoại hình mình thật hoàn hảo, ít nhất là trong chừng mực có thể - xét vì anh có những hạn chế của mình, mà chỉ có anh là thấy chúng, rồi anh bấm chuông cửa nhà giám đốc. Bà sẽ mở cửa, hai người chào nhau bằng một cái bắt tay hoặc không chạm vào nhau, và lập tức họ sẽ ngồi uống trong phòng khách, vừa uống vừa ngắm những ngọn núi về phía Đông ngày một tối dần phía bên kia cánh cửa kính dẫn ra ban công rộng rãi nơi mà, ngoài một cặp ghế khung gỗ căng vải bạt và một cái ô tránh nắng vào tầm giờ này đang gập lại, chỉ có một chiếc xe đạp thể thao màu xám thép. Thế rồi, chẳng có màn dạo đầu, họ vào buồng ngủ làm tình trong ba tiếng đồng hồ. Khi đã xong, bà giám đốc sẽ mặc áo choàng tắm bằng lụa đen vào rồi đi tắm. Khi bà đi ra, Juan de Dios Martínez đã mặc áo quần xong, ngồi trong phòng khách, không ngắm núi mà ngắm những ngôi sao nhìn thấy được từ ngoài ban công. Sự im lặng bao trùm tuyệt đối. Đôi khi có một buổi tiệc đang được tổ chức ngoài sân một trong mấy ngôi nhà hàng xóm và họ sẽ ngắm ánh đèn cùng những con người đi lại hoặc ôm nhau cạnh hồ bơi hoặc đi ra đi vào, như thể chỉ do tình cờ, rồi mấy cái lều bạt dựng lên dành cho dịp này hay những cái mái che bằng gỗ và sắt rèn. Bà giám đốc sẽ chẳng nói chuyện gì và Juan de Dios Martínez sẽ mang trong lòng nỗi thôi thúc mà đôi khi anh có, muốn gặng hỏi một loạt câu hỏi hoặc kể cho bà nghe chuyện này chuyện kia về cuộc đời anh, những chuyện anh chưa từng kể với ai. Đoạn bà sẽ nhắc anh, như thể anh đã yêu cầu bà làm vậy, rằng anh phải về và thanh tra sẽ bảo bà nói đúng đoạn nhìn vu vơ đồng hồ đeo tay và rồi về ngay lập tức. Mười lăm ngày sau họ lại gặp nhau và mọi chuyện diễn ra y hệt lần trước. Dĩ nhiên, không phải khi nào cũng có tiệc tùng bên nhà hàng xóm và đôi khi bà giám đốc không thể hoặc không muốn uống, tuy nhiên ánh sáng lờ mờ thì lần nào cũng như nhau, vụ đi tắm lần nào cũng lặp lại, hoàng hôn và núi chẳng khi nào thay đổi, sao thì vẫn là những ngôi sao ấy.

♣ ♣ ♣

Vào khoảng thời gian đó, Pedro Negrete đến Villaviciosa để thuê người nào đó đáng tin cậy cho ông bạn cũ Pedro Rengifo. Ông gặp vài thanh niên. Ông săm soi họ, hỏi họ vài câu. Ông hỏi họ có biết bắn súng không. Ông hỏi liệu ông có thể tin họ không. Ông hỏi họ có muốn kiếm tiền không. Đã lâu rồi ông không trở lại Villaviciosa và thị trấn nom chẳng khác gì lần cuối ông ở đó. Cũng những căn nhà thấp bằng gạch sống, có khoảnh sân nhỏ đằng trước, vỏn vẹn hai quán rượu và một tiệm tạp phẩm, về phía Đông, chân một dãy núi có vẻ như lùi xa hoặc tiến lại gần tùy theo sự dịch chuyển của mặt trời và những cái bóng. Khi đã quyết định rồi, ông gọi Epifanio lại hỏi riêng xem anh nghĩ sao. Là cậu nào hở sếp? Cậu trẻ nhất, Negrete nói. Epifanio đưa mắt nhìn cậu nhóc như thể chỉ vô tình rồi sau đó nhìn các cậu khác, và trước khi quay về xe anh bảo cậu kia không tồi, nhưng ai mà biết được. Sau đó Negrete để cho hai ông già ở Villaviciosa mời một cốc rượu. Một ông rất gầy, mặc đồ trắng, đeo đồng hồ mạ vàng. Xét theo những nếp nhăn trên mặt, ông hẳn phải ngoài bảy mươi. Người kia còn già hơn gầy hơn và không mặc sơ mi. Ông này thấp lùn, toàn thân chằng chịt những vết sẹo bị các nếp da nhăn che mất một phần. Họ uống pulque và chốc chốc lại nốc từng ly nước to đùng bởi pulque mặn làm họ khát. Họ trò chuyện về mấy con dê bị lạc trên dãy Núi Xanh và về những cái hố sâu trên núi. Giữa lúc nghỉ giải lao, không làm ra vẻ quan trọng gì, Negrete gọi cậu trai tới bảo cậu đã được chọn. Đi đi, về chia tay mẹ mày đi, ông già không mặc sơ mi nói. Cậu trai nhìn Negrete rồi nhìn xuống đất, như đang nghĩ xem nên nói gì, nhưng rồi đổi ý, chẳng nói gì mà bỏ đi. Khi Negrete ra khỏi quán, ông thấy thằng bé và Epifanio đang tựa vào thanh chắn bùn xe chuyện gẫu.

♣ ♣ ♣

Cậu trai ngồi cạnh ông, ở ghế sau. Epifanio ngồi sau vô lăng. Khi họ đã rời khỏi những con phố bẩn thỉu của Villaviciosa và xe đang ruổi qua sa mạc, cảnh sát trưởng hỏi cậu trai tên gì. Olegario Cura Expósito, cậu nói. Olegario Cura Expósito, Negrete nói, nhìn những ngôi sao, tên lạ nhỉ. Họ im lặng một hồi. Epifanio thử bật một kênh truyền thanh của Santa Teresa nhưng không được, bèn tắt radio đi. Từ cửa sổ chỗ mình ngồi cảnh sát trưởng thoáng thấy một ánh chớp cách nhiều cây số. Ngay khi đó chiếc xe giật lên, Epifanio liền dừng xe chui ra ngoài xem mình va phải cái gì. Cảnh sát trưởng nhìn Epifanio bước dọc theo con đường và sau đó thấy ánh đèn pin của anh. Ông vặn kính xe xuống hỏi cái gì vậy. Họ nghe thấy tiếng súng. Cảnh sát trưởng mở cửa xe bước ra. Ông bước vài bước để duỗi chân duỗi cẳng, và Epifanio đủng đỉnh quay lại. Tôi giết chết một con sói rồi, anh nói. Để xem nào, cảnh sát trưởng nói, rồi hai người lại tiến vào bóng tối lần nữa. Không thấy ánh đèn pha nào trên xa lộ. Không khí khô nhưng thi thoảng có một đợt gió mặn, như thể trước khi đến được sa mạc này luồng không khí ấy đã quét qua bề mặt một đầm muối. Cậu bé nhìn bảng táp lô sáng đèn của chiếc xe rồi lấy hai tay ôm mặt. Cách đó vài mét cảnh sát trưởng bảo Epifanio đưa đèn pin cho ông, đoạn ông rọi đèn vào xác con vật nằm dài giữa đường. Không phải sói, ông nói. Ồ, không phải à? Nhìn coi, lông sói mướt hơn, sáng hơn, đó là chưa kể tụi nó không đần đến nỗi mò ra giữa xa lộ trong sa mạc để bị xe cán. Xem nào, đo xem nó dài bao nhiêu, cầm đèn pin đi. Epifanio soi đèn vào con vật trong khi cảnh sát trưởng kéo thẳng nó ra và ước lượng bằng mắt. Bọn chồn, ông nói, dài từ bảy mươi đến chín mươi xentimét kể cả đầu. Theo anh thì nó dài chừng bao nhiêu? Khoảng tám mươi? Epifanio nói. Đúng, cảnh sát trưởng nói. Rồi ông nói thêm: chồn thường nặng từ mười đến mười sáu cân. Đưa đèn pin đây cho tôi rồi nhấc nó lên đi, nó không cắn đâu. Epifanio nhấc con thú chết lên, ôm nó trên hai tay. Anh bảo nó nặng bao nhiêu? Từ mười hai tới mười lăm cân, Epifanio nói, nặng như con chồn. Thì nó là chồn mà, đồ thộn, cảnh sát trưởng nói. Họ soi đèn pin vào mắt con vật. Chắc nó mù nên không thấy tôi, Epifanio nói. Không, nó không mù, cảnh sát trưởng nhìn vào cặp mắt to đã chết của con thú mà nói. Đoạn họ bỏ con thú bên vệ đường và quay lại xe. Epifanio lại cố dò sóng truyền thanh của Santa Teresa lần nữa. Nhưng anh chỉ nghe được mỗi tiếng sóng nhiễu bèn tắt radio đi. Anh hình dung con chồn bị anh cán chết là chồn cái, nó đang tìm một chỗ an toàn để sinh con. Vì vậy nó mới không thấy mình, anh nghĩ, nhưng cách giải thích đó không làm anh thỏa mãn. Đến Altillo, khi những ánh đèn đầu tiên của Santa Teresa xuất hiện, cảnh sát trưởng phá vỡ sự im lặng mà ba người đã rơi vào. Này Olegario Cura Expósito, ông gọi. Vâng thưa ông, cậu bé nói. Bạn bè gọi mày là gì? Lalo, cậu bé nói. Lalo á? Vâng, thưa ông. Anh đã nghe chưa, Epifanio? Tôi có nghe, Epifanio nói, vẫn đang bận nghĩ về con chồn. Lalo Cura hả? cảnh sát trưởng hỏi. Vâng, cậu bé nói. Mày đùa đúng không? Không ạ, bạn bè gọi tôi thế mà, cậu bé nói. Anh đã nghe chưa, Epifanio? cảnh sát trưởng nói. Có chứ, tôi nghe rồi, Epifanio nói. Tên nó là Lalo Cura, cảnh sát trưởng nói, đoạn phá lên cười rộ. La locura, chứng điên, anh có hiểu không? Tất nhiên rồi, tôi hiểu chứ, Epifanio nói, rồi cũng cười rộ. Ngay sau đó, cả ba đều cười rộ.

♣ ♣ ♣

Đêm đó cảnh sát trưởng Santa Teresa ngủ say. Ông mơ thấy người anh sinh đôi của mình. Họ mười lăm tuổi, nghèo, lang thang trên mấy ngọn đồi đầy cây bụi nơi nhiều năm sau khu Lindavista sẽ mọc lên. Họ băng qua một cái mương nơi vào mùa mưa tụi con trai thỉnh thoảng tới để bắt cóc, lũ cóc có độc phải lấy đá để giết, tuy nhiên ông và người anh trai chỉ quan tâm đến thằn lằn chứ cóc thì không. Đến khi mặt trời lặn họ quay về Santa Teresa, đám trẻ con đi thành từng nhóm rời rạc trên cánh đồng như những người lính chiến bại. Ven thành phố luôn đông xe cộ, xe tải đi đến Hermosillo hoặc lên hướng Bắc hoặc đang trên đường tới Nogales. Một vài chiếc có ghi những câu kỳ cục. Một chiếc ghi: Vội à? Chui qua dưới tớ đi. Chiếc khác ghi: Vượt trái đi. Đừng có sờ vào cu tớ nữa. Chiếc khác nữa: Muốn quá giang không? Trong mơ cả ông lẫn người anh không ai nói chuyện, nhưng mọi cử động của hai người giống hệt nhau, cùng dáng đi, cùng nhịp điệu, cùng dáng tay vung vẩy. Người anh trai đã cao hơn ông một chút, nhưng cả hai trông vẫn giống nhau. Thế rồi họ về tới những con phố của Santa Teresa và tha thẩn dọc vỉa hè và rồi dần dần giấc mơ tan biến trong một làn sương dễ chịu màu vàng.

♣ ♣ ♣

Đêm đó Epifanio mơ thấy con chồn cái bị bỏ lại bên vệ đường. Trong mơ anh ngồi cách vài mét, trên một tảng đá bazan, nhìn bóng tối, rất cảnh giác, lắng nghe tiếng rên rỉ của con chồn đã bị xé nát nội tạng. Có lẽ nó biết mình đã mất đứa con, Epifanio nghĩ, nhưng thay vì đứng dậy cho một viên đạn vào đầu nó anh cứ ngồi chẳng làm gì. Đoạn anh thấy mình lái chiếc xe của Pedro Negrete dọc theo một con đường dài kết thúc nơi triền dốc một dãy núi lởm chởm đá nhọn. Không có hành khách nào trong xe. Anh không biết mình đã ăn cắp chiếc xe hay là sếp cho anh mượn. Con đường thẳng tắp nên anh có thể dễ dàng phóng với tốc độ hai trăm cây số một giờ, mặc dù cứ hễ tăng tốc là anh lại nghe một tiếng động lạ từ dưới khung xe, như là có ai đang nhảy lên nhảy xuống. Đằng sau anh một bụng khói khổng lồ dựng lên, như cái đuôi một con chồn bằng ánh huỳnh quang. Song những ngọn núi vẫn có vẻ cứ xa như thế, nên Epifanio liền phanh lại rồi ra khỏi xe để kiểm tra. Thoạt nhìn mọi thứ đều ổn. Hệ khung treo, động cơ, ắc quy, trục xe. Đột nhiên, dù xe đang dừng, anh lại nghe thấy tiếng gõ, liền ngoái lại. Anh mở cốp xe ra. Có một thân người trong đó. Tay chân nó bị trói. Một tấm vải đen trùm lên đầu nó. Cái chó gì thế này? Epifanio hét lên trong mơ. Khi đã kiểm tra thấy thân người đó vẫn còn sống (ngực nó phập phồng, có lẽ hơi quá mạnh, nhưng mà có phập phồng), anh đóng cốp xe lại mà không dám tháo tấm vải để xem đó là ai. Anh chui lại vào xe, vừa nhấn ga một cái là xe liền nhảy chồm lên. Nơi chân trời những ngọn núi có vẻ như đang cháy hoặc đang rụm đổ, nhưng anh vẫn lái về phía đó.

♣ ♣ ♣

Đêm đó Lalo Cura ngủ ngon. Cái chõng quá mềm, nhưng cậu nhắm mắt lại và bắt đầu nghĩ về công việc mới của mình, rồi chẳng mấy chốc cậu thiếp đi. Cậu tới Santa Teresa chỉ mới một lần, cùng với vài bà già mang rau cỏ ra chợ bán. Nay thì cậu khó mà nhớ được chuyến đi ấy, bởi hồi đó cậu còn nhỏ quá. Lần này cậu cũng chẳng thấy được gì nhiều. Những ánh đèn xa lộ rồi thì một khu toàn những con phố tối om rồi một khu gồm những ngôi nhà to đùng đằng sau những bức tường cao lởm chởm mảnh kính. Rồi lại một con đường nữa, về phía Đông, và những âm thanh của vùng quê. Cậu ngủ trong một căn lán thấp cạnh nhà người làm vườn, trên một cái chõng kê trong góc chả ai dùng. Tấm chăn bốc mùi mồ hôi chua loét. Không có gối. Trên chõng có một chồng báo và tạp chí cũ có ảnh phụ nữ trần truồng, cậu liền đem nhét cả xuống dưới giường. Lúc một giờ sáng có hai người đàn ông bước vào, họ vẫn thường ngủ trên hai cái chõng cạnh chõng của cậu. Cả hai đều mặc com lê, thắt cà vạt rộng bản, đi giày cao bồi bảnh chọe. Họ bật đèn rồi nhìn cậu. Một người nói: thằng này oắt con mà. Lalo ngửi mùi họ mà không mở mắt ra. Họ có mùi tequila và chilaquiles và bánh gạo và nỗi sợ. Rồi cậu ngủ thiếp đi, chẳng mơ thấy gì. Sáng hôm sau hai người kia ngồi nơi cái bàn trong bếp nhà người làm vườn. Họ đang ăn trứng và hút thuốc. Cậu ngồi xuống cạnh họ uống một cốc nước cam và một tách cà phê. Cậu chẳng muốn ăn gì. Trưởng đội bảo vệ của Pedro Rengifo là một người Ireland tên Pat, chính anh này là người chính thức giới thiệu mọi người với nhau. Hai người đàn ông không phải quê ở Santa Teresa hay bất cứ vùng nào ở quanh đây. Người cao to hơn vốn gốc gác ở bang Jalisco. Người kia thì ở Ciudad Juárez, bang Chihuahua. Lalo bắt gặp cái nhìn của họ và cậu thấy họ không giống những tay súng mà giống hai tên hèn nhát. Khi cậu đã xong bữa sáng, trưởng đội bảo vệ dẫn cậu đến góc xa nhất của khu vườn, đưa cho cậu một khẩu súng lục Desert Eagle .50 Magnum. Anh ta hỏi cậu có biết dùng súng không. Lalo bảo không. Đội trưởng liền nạp một băng đạn bảy viên vào súng rồi kiếm vài cái vỏ lon trong đống cỏ dại, xếp cả lên nóc một chiếc xe hỏng không có bánh. Cả hai bắn một hồi. Rồi đội trưởng chỉ dẫn cách nạp đạn, dùng lẫy an toàn, cách mang súng theo người. Anh ta bảo việc của cậu là bảo đảm an toàn cho bà Rengifo, phu nhân của ông chủ, và cậu sẽ phải làm việc với hai người mà cậu vừa làm quen. Anh ta hỏi cậu đã biết lương cậu bao nhiêu chưa. Anh ta bảo cậu lương được phát hai tuần một lần, ông chủ tự tay phát cho từng người, và chưa có ai than phiền gì về chuyện đó. Anh ta hỏi tên cậu. Lalo Cura, cậu đáp. Tay người Ireland không cười cũng không nhìn cậu với vẻ quái lạ hoặc nghĩ cậu đang đùa, anh ta chỉ ghi cái tên ấy vào một cuốn sổ nhỏ màu đen nhét trong túi sau quần jean, và thế là cuộc gặp chấm dứt. Trước khi đi anh ta bảo Lalo tên anh là Pat O’Bannion.

♣ ♣ ♣

Vào tháng Chín người ta phát hiện thêm một người phụ nữ chết, lần này là trong một chiếc xe hơi ở phân khu Buenavista, ngoại vi quận Lindavista. Chỗ đó rất heo hút. Công trình xây dựng duy nhất ở đấy là một căn nhà tiền chế được mấy đại lý nhà đất dùng làm văn phòng. Còn lại toàn đất trống, lơ thơ dăm thứ cây cối còi cọc, thân sơn trắng, những cây cuối cùng sót lại của cánh đồng và khu rừng ngày xưa từng được tưới bằng nước ngầm. Chủ nhật là ngày có nhiều người lui tới quanh khu này nhất. Người ta đi cả gia đình, không thì là các tay môi giới đến xem đất, mặc dù chẳng mấy hào hứng, bởi hầu hết các lô tốt nhất đều đã bán rồi, tuy chưa ai xây dựng cả. Những ngày khác trong tuần thì ai đến xem đều phải hẹn trước, và đến tám giờ tối thì chẳng còn ai trừ thi thoảng dăm ba đứa trẻ hay con chó từ quận Maytorena mò đến và không biết đường nào về. Cái xác là do một tay môi giới nhà đất phát hiện ra. Anh ta đến phân khu lúc chín giờ sáng, đỗ xe vào nơi quen thuộc, cạnh căn nhà tiền chế. Anh đã toan bước vào nhà thì chợt thấy một chiếc xe khác đỗ ở một lô đất chưa bán, ngay sau một mô đất nhô lên, trước đó vì mô đất này mà chiếc xe bị che khuất. Thoạt tiên anh nghĩ chắc đó là xe của một tay môi giới nhà đất khác, nhưng rồi xua ngay ý nghĩ đó đi vì thấy nó thật dớ dẩn, bởi vì ai đời lại đi đỗ xe xa thế trong khi có thể đỗ ngay cạnh căn nhà? Thế nên thay vì đi vào, anh tiến về phía chiếc xe lạ. Anh nghĩ có thể là xe của một tay xỉn đã quyết định đỗ lại đó ngủ, hoặc của một người bị lạc đường, bởi lối rẽ vào xa lộ đi về phía Nam chẳng xa đây lắm. Thậm chí anh còn nghĩ có thể đây là một người mua đất quá háo hức đến nỗi không chờ được. Khi đã đi vòng qua mô đất (lô đất này thật tuyệt, có tầm nhìn tốt, đủ rộng để sau này xây bể bơi), anh nhận thấy chiếc xe có vẻ quá cũ không thể là của một người mua đất. Anh lại nghiêng về ý nghĩ đó là một tay xỉn và đã toan quay lui, nhưng rồi anh thấy một cái đầu phụ nữ tì lên một trong các cửa kính sau nên quyết định đi tiếp. Người phụ nữ mặc váy trắng, chân đi đất. Cô cao một mét bảy mươi. Trên tay trái có ba chiếc nhẫn rẻ tiền, nơi ngón trỏ, ngón giữa và ngón đeo nhẫn. Trên tay phải có một đôi vòng tay và hai chiếc nhẫn to đính đá giả. Theo báo cáo giám định pháp y, cô đã bị hiếp qua đường âm hộ và hậu môn rồi bị siết cổ. Cô không mang giấy tờ tùy thân nào. Vụ này được giao cho thanh tra Ernesto Ortiz Rebolledo, ông này đầu tiên thẩm vấn các gái điếm cao cấp ở Santa Teresa xem có ai biết người phụ nữ chết không, sau đó, khi các cuộc thẩm vấn không mang lại bao nhiêu kết quả, liền hỏi đến các gái điếm rẻ tiền, nhưng chẳng ai trong cả hai nhóm này từng gặp cô. Ortiz Rebolledo đến các khách sạn và nhà trọ, kiểm tra một số nhà nghỉ ven thành phố, huy động các kẻ chỉ điểm, nhưng rồi vẫn không hiệu quả, và vụ này chẳng mấy chốc bị xếp lại.

♣ ♣ ♣

Cũng trong tháng Chín, hai tuần sau vụ phát hiện người phụ nữ chết ở phân khu Buenavista, một xác chết khác xuất hiện. Nạn nhân là Gabriela Morón, mười tám tuổi, bị bạn trai là Feliciano José Sandoval, hai mươi bảy tuổi, bắn chết, cả hai người là công nhân nhà máy Nip-Mex. Vụ việc này, theo cảnh sát điều tra, xoay quanh vụ lục đục do Gabriela Morón không chịu di cư sang Mỹ. Nghi can Feliciano José Sandoval đã toan vượt biên hai lần và lần nào cũng bị cảnh sát biên phòng Mỹ trả về, nhưng chuyện đó vẫn không làm anh ta nguôi mong muốn thử vận may thêm lần thứ ba. Theo vài người bạn, Sandoval có người thân ở Chicago. Gabriela Morón, ngược lại, chưa hề sang bên kia biên giới, và sau khi cô tìm được việc làm ở Nip-Mex, nơi cô được các sếp yêu mến, có nghĩa là cô có thể trông mong được cất nhắc nhanh và được tăng lương, mối quan tâm của cô về việc tìm thời vận ở bên kia biên giới đã giảm xuống hầu như bằng không. Suốt mấy ngày cảnh sát tìm Feliciano José Sandoval ở cả Santa Teresa lẫn Lomas de Poniente, thị trấn ở bang Tamaulipas vốn là quê anh ta, cũng như gửi lệnh truy nã cho giới chức đồng cấp ở Hoa Kỳ, phòng trường hợp nghi phạm đã đạt được ước mơ, tìm được đường sang Mỹ, mặc dù cũng lạ, người ta chẳng hề thẩm vấn dù chỉ một coyote hay một pollero nào đấy có thể là người đã giúp anh ta vượt biên. Dù thế nào thì vụ án cũng khép lại.

♣ ♣ ♣

Vào tháng Mười xuất hiện thêm một xác phụ nữ chết nữa, lần này ở bãi rác khu công nghiệp Arsenio Farrell. Tên cô là Marta Navales Gómez. Cô hai mươi tuổi, cao mét bảy, tóc dài nâu. Cô mất tích khỏi nhà đã hai hôm. Cô mặc áo choàng tắm và mang đôi tất mà cha mẹ cô không cho là của cô. Cô đã bị hiếp nhiều lần qua đường hậu môn và đường âm hộ. Nguyên nhân tử vong là bị siết cổ. Vụ này lạ ở chỗ Marta Navales Gómez vốn làm việc tại Aiwo, một nhà máy của Nhật nằm ở khu công nghiệp Progreso, nhưng xác cô lại được tìm thấy ở khu công nghiệp Arsenio Farrell, trong bãi rác, một nơi khó mà đến được trừ phi đi bằng xe chở rác. Cái xác được phát hiện bởi mấy đứa trẻ, vào buổi sáng, và đến trưa, khi người ta đến mang xác đi, một nhóm công nhân khá đông đã tụ tập quanh xe cứu thương để xem nạn nhân có phải là bạn, đồng nghiệp hay người quen không.

♣ ♣ ♣

Cũng trong tháng Mười, người ta phát hiện một xác phụ nữ khác trong sa mạc, cách xa lộ nối giữa Santa Teresa và Villaviciosa dăm mét. Cái xác đang trong giai đoạn phân hủy sâu, úp mặt xuống đất, và nạn nhân mặc áo len chui đầu, quần bằng vải sợi tổng hợp, trong túi quần có thẻ căn cước mang tên Elsa Luz Pintado, nhân viên siêu thị Del Norte. Kẻ, hoặc những kẻ giết người, không buồn đào mộ. Cũng không buồn đi quá xa vào trong sa mạc. Chúng chỉ lôi cái xác đi vài mét rồi bỏ đó. Các cuộc thẩm vấn sau đó ở siêu thị Del Norte cho kết quả như sau: không có thu ngân hay nhân viên bán hàng nào mất tích gần đây; Elsa Luz Pintado có tên trong bảng lương, cái đó thì đúng, nhưng đã một năm rưỡi nay cô chẳng hề làm việc cho chi nhánh đó hay chi nhánh nào khác của chuỗi siêu thị trải dọc theo mạn Bắc Sonora này; những người từng quen biết Elsa Luz Pintado mô tả cô là người cao, trên mét bảy, trong khi cái xác được phát hiện trong sa mạc có lẽ chỉ cao mét sáu là cùng. Người ta thử truy tìm tung tích Elsa Luz Pintado ở Santa Teresa nhưng hoài công. Viên chức đảm trách vụ này là thanh tra Ángel Fernández. Báo cáo pháp y không xác định được nguyên nhân tử vong, chỉ gợi ý mơ hồ là có khả năng do bị siết cổ, tuy nhiên báo cáo khẳng định rằng cái xác đã ở đó không dưới bảy ngày và không quá một tháng. Ít lâu sau thanh tra Juan de Dios Martínez tham gia vào vụ án, phát lệnh chính thức tìm kiếm Elsa Luz Pintado, người có thể được cho là cũng đã biến mất. Anh yêu cầu gửi công văn đến các đồn cảnh sát trên toàn bang, nhưng kiến nghị của anh bị gửi trả lại với lời khuyến cáo rằng anh nên tập trung vào vụ án cụ thể đang điều tra dở.

♣ ♣ ♣

Vào giữa tháng Mười một, Andrea Pacheco Martínez, mười ba tuổi, bị bắt cóc khi đang trên đường từ trường Hướng nghiệp 16 về. Mặc dù đường phố lúc đó còn khướt mới được xem là vắng vẻ, song không có nhân chứng, chỉ có hai bạn cùng lớp của Andrea đã thấy con bé tiến về phía một chiếc xe hơi màu đen, có lẽ là Peregrino hoặc Spirit, ở đó có một người đeo kính râm đang đợi nó. Có thể trong xe còn có người khác, nhưng các bạn cùng lớp của Andrea không nhìn thấy, một phần lý do là bởi cửa sổ xe lắp kính đen. Chiều hôm đó Andrea không về nhà và ít giờ sau cha mẹ con bé đến trình báo cảnh sát, sau khi đã gọi điện đến nhà vài bạn bè của nó. Cảnh sát thành phố và cảnh sát tư pháp đảm trách vụ này. Khi người ta phát hiện ra con bé, hai ngày sau đó, xác con bé có những dấu hiệu không thể nhầm lẫn cho thấy nó bị siết cổ, xương móng bị rạn. Con bé đã bị hãm hiếp qua đường hậu môn và âm hộ. Có vết sưng ở cổ tay, như là bị trói. Cả hai cổ chân đều bị trầy xước, từ đó suy ra cả hai bàn chân con bé cũng bị trói. Một người nhập cư đến từ El Salvador phát hiện ra xác ở đằng sau trường Francisco I, tại Madero, gần quận Alamos. Xác mặc nguyên quần áo, và tất cả đều nguyên vẹn, chỉ trừ sơ mi bị mất vài cúc. Người Salvador này bị buộc tội giết người và phải ngồi hai tuần trong xà lim phân khu cảnh sát số 3, sau đó thì được thả. Khi ra khỏi xà lim anh ta hoàn toàn suy sụp. Ít lâu sau anh ta vượt biên với một pollero. Tại Arizona anh ta bị lạc trong sa mạc và sau ba ngày lang thang anh ta đến được Patagonia, mất nước trầm trọng, và ở đó anh ta bị một chủ trại đánh nhừ tử vì đã nôn mửa trên đất nhà ông. Anh ta bị cảnh sát trưởng tóm giam một ngày, sau đó được đưa đi nhà thương, ở đó anh ta chỉ còn làm được mỗi một việc là chết thanh thản, và anh ta làm thế thật.

♣ ♣ ♣

Vào ngày 20 tháng Mười hai, người ta ghi nhận được trường hợp chết thảm cuối cùng trong năm 1993 mà nạn nhân là phụ nữ. Nạn nhân năm mươi tuổi và, như để phủ nhận một vài tiếng nói đã bắt đầu dè dặt cất lên, bà chết ở nhà và xác bà được phát hiện ở nhà, không phải trong một lô đất trống, cũng không phải trong bãi rác hay giữa những cây bụi vàng khè trong sa mạc. Tên bà là Felicidad Jiménez Jiménez và bà làm việc ở nhà máy Multizone-West. Hàng xóm phát hiện thấy bà nằm trên sàn phòng ngủ, trần trụi từ thắt lưng trở xuống, một mẩu gỗ cắm vào trong âm hộ. Nguyên nhân tử vong là nhiều vết thương do dao đâm, hơn sáu mươi vết theo giám định pháp y đếm được, hung thủ là Ernesto Luis Castillo Jiménez, con trai bà, đang sống chung nhà với bà. Cậu trai này, theo một số hàng xóm làm chứng, thường lên cơn điên, nên đôi khi, tùy theo tình hình tài chính của gia đình, được điều trị bằng thuốc an thần hay những thuốc mạnh hơn. Cảnh sát tìm được kẻ giết mẹ ngay đêm đó, vài giờ sau khi vụ giết người rùng rợn được phát hiện, khi y đang lang thang trên những con phố tối tăm của quận Morelos. Trong lời khai y thừa nhận mà không cần bị gây chút sức ép nào rằng chính y đã giết mẹ. Y cũng thừa nhận mình là Kẻ Ăn Năn, kẻ báng bổ các nhà thờ. Khi người ta hỏi tại sao y cắm mẩu gỗ vào âm hộ xác mẹ y, ban đầu y bảo không biết, nhưng sau đó, nghĩ kỹ hơn, y trả lời làm thế là để dạy cho bà biết. Biết cái gì? cảnh sát hỏi, trong số các cảnh sát có Pedro Negrete, Epifanio Galindo, Ángel Fernández, Juan de Dios Martínez và José Márquez. Biết là với tôi thì đừng có mà đùa. Sau đó lời lẽ y bắt đầu đâm ra lộn xộn, và người ta liền đưa y đến bệnh viện thành phố. Felicidad Jiménez Jiménez còn có một con trai nữa, lớn hơn Ernesto, đã di cư sang Mỹ. Cảnh sát đã cố liên lạc với anh ta, nhưng không ai có thể cho địa chỉ đáng tin cậy. Khi khám xét nhà sau vụ việc, cảnh sát không tìm được bức thư nào từ người con trai này, không một vật dụng cá nhân nào anh ta để lại sau khi ra đi, không một cái gì minh chứng cho sự tồn tại của anh ta. Chỉ có hai bức ảnh: trên một bức là Felicidad cùng hai đứa con trai khoảng mười đến mười ba tuổi, cả hai đều nhìn ống kính vẻ rất nghiêm trang. Ở bức kia, cũ hơn, cũng vẫn là Felicidad cùng hai đứa con trai, một đứa chừng vài tháng tuổi, đang ngước lên bà (đứa về sau sẽ giết bà), đứa kia chừng ba tuổi, đứa về sau sẽ di cư sang Mỹ và không bao giờ trở lại Santa Teresa. Khi Ernesto Luis Castillo Jiménez được bệnh viện tâm thần cho về, y bị đưa vào nhà tù Santa Teresa, ở đó y tỏ ra lắm lời một cách khác thường. Y không thích ở một mình mà luôn đòi cảnh sát hay nhà báo phải có mặt. Cảnh sát cố tìm cách buộc cho y những vụ giết người chưa phá được khác. Tính thân thiện của người tù khiến họ nảy ra ý đó. Juan de Dios Martínez tin chắc Castillo Jiménez không phải Kẻ Ăn Năn và có lẽ người duy nhất y từng giết là mẹ y và thậm chí y không thể chịu trách nhiệm về việc đó bởi rõ ràng thần kinh y không ổn định. Và đây là vụ giết phụ nữ cuối cùng trong năm 1993, năm bắt đầu những vụ giết phụ nữ ở bang Sonora của Mexico, dưới quyền thống đốc José Andrés Biceño thuộc Đảng Hành động Quốc gia (PAN) và thị trưởng Santa Teresa, José Refugio de las Heras của Đảng Cách mạng Hiến pháp (PRI), những con người quang minh chính trực luôn luôn làm điều phải, không sợ bị trách cứ, sẵn sàng chịu mọi điều khó chịu.

♣ ♣ ♣

Tuy nhiên, trước khi năm 1993 kết thúc, xảy ra một sự kiện đáng buồn khác không liên quan gì đến những vụ giết phụ nữ, ấy là nếu đặt ra giả thiết các vụ giết người đó có liên quan đến nhau, nhưng điều này chưa được chứng minh. Dạo đó, Lalo Cura và hai cộng sự thảm hại của cậu ngày ngày làm cận vệ cho vợ của Pedro Rengifo, người này Lalo nhìn thấy có mỗi một lần, từ xa. Ngược lại, giờ thì cậu đã quen biết một số vệ sĩ làm việc cho ông ta. Có một số người cậu thấy khá thú vị. Pat O’Bannion chẳng hạn. Hay một tay Anh điêng thuộc tộc Yaqui gần như chả bao giờ nói chuyện. Còn hai tay thường làm việc cùng cậu thì cậu chỉ cảm thấy không tin cậy được. Cậu chẳng học được gì ở họ. Tay cao to dân Tijuana thích nói về California và về những người phụ nữ y từng gặp ở đó. Y nói tiếng Tây Ban Nha xọ tiếng Anh. Y nói dóc, những câu chuyện dóc tổ chỉ hợp ý tay cộng sự của y, quê Juarez, kẻ ít lời hơn nhưng Lalo thấy còn khó tin cậy hơn tay kia. Một sáng nọ, cũng như mọi sáng, vợ Pedro Rengifo đưa mấy đứa con đi học. Họ đi hai xe, chiếc của phu nhân, một chiếc Mercedes màu xanh lơ nhạt, và chiếc Grand Cherokee màu nâu, đỗ ở góc trường suốt buổi sáng, trong có hai vệ sĩ. Hai người này được gọi là vệ sĩ của bọn trẻ, cũng như Lalo và hai cộng sự được gọi là vệ sĩ của phu nhân, tất cả đều dưới cơ so với ba người bảo vệ Pedro Rengifo, được gọi là vệ sĩ của sếp hay người của sếp, điều này hàm ý một sự phân chia thứ bậc không chỉ về lương lậu và nhiệm vụ mà cả về lòng can đảm, táo bạo, sự coi thường tính mạng bản thân. Sau khi thả bọn trẻ ở trường, phu nhân Pedro Rengifo đi mua sắm. Đầu tiên bà ghé một cửa hàng quần áo sau đó đến một hàng mỹ phẩm và rồi quyết định đến thăm một bà bạn sống trên phố Astronomos, quận Madero. Lalo và hai vệ sĩ kia đợi bà gần một tiếng đồng hồ, tay Tijuana ngồi trong xe còn Lalo và gã Juárez thì tựa vào tấm chắn bùn, lặng thinh. Khi vợ Pedro Rengifo đi ra (bà bạn tiễn ra tận cửa), tay Tijuana ra khỏi xe còn Lalo và tay vệ sĩ kia thẳng người lên. Trên phố có vài ba người. Không nhiều nhưng có, vài ba người. Người ta lên phố làm việc này việc nọ ai mà biết việc gì, người ta chuẩn bị cho lễ Giáng sinh, người ta đi mua tortilla để ăn trưa. Vỉa hè màu xám, nhưng mặt trời ló qua cành nhánh mấy cái cây khiến cho vỉa hè có vẻ xanh xanh, giống như dòng sông. Phu nhân Pedro Rengifo hôn bà bạn rồi bước ra vỉa hè. Tay Juárez vội tới mở cổng sắt cho bà. Ở một phía đường, vỉa hè vắng hoe. Ở phía bên kia, hai cô hầu đang đi về phía họ. Đang đi qua cổng, vị phu nhân quay lại nói gì đó với bà bạn vẫn đứng nơi cửa nhà. Thế rồi tay vệ sĩ người Tijuana thấy có hai người đàn ông đi đằng sau hai cô hầu, thế là y cứng đờ ra. Lalo nhìn thấy mặt y, rồi thấy hai người đàn ông và hiểu ngay lập tức đó là hai tay súng và chúng đến để giết phu nhân Pedro Rengifo. Tay Tijuana lại gần nói gì đó với tay Juárez lúc đó vẫn đang giữ cánh cổng sắt, mặc dù không rõ y nói bằng lời hay bằng cử chỉ. Phu nhân Pedro Rengifo mỉm cười. Bạn bà bật ra một tiếng cười mà Lalo nghe như đến từ xa lắm, từ trên đỉnh một ngọn đồi. Thế rồi cậu thấy cái lối mà tay Juárez đang nhìn tay Tijuana: lên rồi xuống, giống như con lợn nhìn thẳng vào mặt trời. Cậu lấy tay trái mở chốt an toàn của khẩu Desert Eagle và rồi cậu nghe thấy tiếng gót giày khua lóc cóc, phu nhân Pedro Rengifo đang đi ra xe, và giọng hai cô hầu, đầy những nghi vấn, tuồng như thay vì tán gẫu hai cô đang không ngừng tra vấn nhau và đều sửng sốt, tuồng như những gì hai cô đang nói chính hai cô cũng không tin nổi. Chẳng cô nào quá hai mươi. Họ mặc váy màu đất son và áo cánh màu vàng. Bà bạn của phu nhân đang đứng nơi ngưỡng cửa vẫy tay chào thì mặc quần bó và áo len chui đầu màu xanh lục. Phu nhân Pedro Rengifo mặc bộ váy trắng, đi đôi giày cao gót cũng trắng. Lalo nghĩ về trang phục của phu nhân sếp mình đúng lúc hai vệ sĩ kia vụt chạy xuống đường. Cậu muốn hét lên: đừng chạy, đồ chó đẻ, nhưng cậu chỉ có thể lẩm bẩm đồ chó đẻ. Phu nhân Pedro Rengifo không hay biết gì. Hai tay súng xô các cô hầu ra. Một tên mang súng máy Uzi. Hắn gầy gò và da đen. Tên kia mang súng lục, mặc com lê tối màu và sơ mi trắng, không cà vạt, có vẻ đúng là tay chuyên nghiệp. Ngay khi hai cô hầu bị đẩy sang bên cho rộng đường bắn, phu nhân Pedro Rengifo cảm thấy ai đó giật mạnh áo bà lôi bà xuống đất. Trong khi ngã rạp xuống bà thấy hai cô hầu ngã trước mặt bà và bà nghĩ chắc đang có động đất. Bà cũng thấy, qua khóe mắt, Lalo đang quỳ gối, súng trong tay, rồi bà nghe thấy một tiếng ồn và thấy một vỏ đạn bật ra từ khẩu súng Lalo đang siết chặt và rồi bà không thấy gì nữa bởi trán bà đập xuống vỉa hè xi măng. Bà bạn, bấy giờ vẫn đang đứng nơi ngưỡng cửa nhà mình và nhờ vậy có tầm nhìn bao quát hơn, liền dợm hét lên, không sao nhúc nhích được, mặc dù sâu trong óc bà có một giọng nói nhỏ bảo bà thay vì hét lên thì hãy quay vào nhà khóa cửa lại, hoặc nếu không làm vậy được thì ít nhất cũng nằm rạp xuống núp sau mấy bụi phong lữ. Đến lúc này thì tay Tijuana và tay Juárez đã chạy được một quãng khá xa và mặc dù họ vừa mồ hôi mồ kê vừa hổn hà hổn hển vì không quen vận động chân tay, họ vẫn cứ chạy. Về phần hai cô hầu, ngay khi ngã xuống đất các cô đã co rúm người lại và bắt đầu cầu nguyện hoặc nhớ lại gương mặt những người thân yêu và cả hai nhắm mắt lại, chỉ khi mọi chuyện đã kết thúc thì mới mở mắt ra. Trong khi đó, vấn đề của Lalo Cura là phải đoán xem tay súng nào sẽ bắn cậu trước, tay cầm khẩu Uzi hay tay có vẻ dân chuyên nghiệp. Lẽ ra cậu nên bắn gã thứ hai, nhưng cậu lại bắn gã thứ nhất. Viên đạn cắm vào ngục gã gầy nhom da đen và quật ngã gã lập tức. Tay súng kia kín đáo dịch chuyển sang phải và đâm ra nghi ngại. Sao thằng nhóc này lại có súng? Sao nó không bỏ chạy như hai thằng vệ sĩ kia? Viên đạn của tay chuyên nghiệp xuyên vào vai trái Lalo Cura, cắt đứt mạch máu và làm gãy xương. Lalo Cura run bắn cả người nhưng vẫn bắn phát nữa mà không thay đổi tư thế. Tay chuyên nghiệp ngã đập mặt xuống đất và phát súng thứ hai của y bắn vào không khí. Y vẫn còn sống. Y thấy mặt vỉa hè xi măng, những nhánh cỏ mọc xuyên qua các kẽ nứt, bộ váy trắng của phu nhân Pedro Rengifo, đôi giày thể thao của thằng nhóc đang tiến lại gần để bắn chết y. Thằng ôn chó chết, y lầm bầm. Đoạn Lalo Cura quay gót lại và thấy bóng hai gã cựu-cộng-sự ở đằng xa. Cậu nhắm cẩn thận rồi bắn. Tay Juárez biết cậu bắn hai gã, bèn co giò chạy nhanh hơn. Hai gã biến mất ngay góc đường đầu tiên.

♣ ♣ ♣

Hai mươi phút sau một xe tuần tra xuất hiện. Phu nhân Pedro Rengifo bị rách trán nhưng không chảy máu nữa và chính bà là người hướng dẫn các bước đầu tiên cho cảnh sát. Bà lo trước hết là cho bà bạn đang bị sốc. Rồi bà nhận ra Lalo Cura bị thương, liền yêu cầu gọi xe cấp cứu khác cho cậu và bảo người ta đưa cả cậu lẫn bà bạn đến bệnh viện Pérez Guterson. Trước khi xe cứu thương tới, thêm nhiều cảnh sát nữa đến và vài người nhận ra tay chuyên nghiệp đang nằm chết trên vỉa hè là đặc vụ thuộc cảnh sát tư pháp bang. Ngay khi người ta sắp đưa Lalo Cura lên xe cứu thương, hai cảnh sát túm tay cậu, dúi cậu vào ô tô, chở cậu đến phân khu số 2. Khi phu nhân Pedro Rengifo đến bệnh viện, sau khi để bà bạn nằm lại một trong những phòng tốt nhất, bà muốn biết tình trạng chú vệ sĩ của mình ra sao thì mới được cho hay cậu chưa tới. Phu nhân bèn yêu cầu tìm ngay các y tá của chiếc xe cứu thương kia đặng hỏi cho ra lẽ, thì mấy người này mới xác nhận rằng Lalo Cura đã bị bắt. Phu nhân Pedro Rengifo liền nhấc điện thoại gọi cho chồng. Một giờ sau cảnh sát trưởng Santa Teresa xuất hiện ở phân khu số 2. Đi cùng ông là Epifanio, nom như đã ba ngày không ngủ. Chẳng ai trong hai người có vẻ hài lòng. Họ gặp Lalo ở một trong các xà lim ngầm. Mặt cậu trai đầy máu. Hai cảnh sát đang thẩm vấn cậu muốn biết tại sao cậu lại kết liễu hai tay súng kia, và khi thấy Pedro Negrete đến họ liền đứng dậy. Cảnh sát trưởng ngồi xuống một cái ghế trống rồi ra hiệu cho Epifanio. Epifanio liền túm cổ một cảnh sát, lôi trong túi áo khoác ra một con dao bấm rồi rạch mặt tay kia từ miệng đến tai. Anh rạch sao cho không một giọt máu nào rỏ lên người anh. Có phải đây là thằng đã chơi mày không? Epifanio hỏi. Cậu trai nhún vai. Tháo cùm cho nó, Pedro Negrete nói. Tay cảnh sát kia vừa tháo cùm vừa lẩm bẩm ôi, ôi, ôi suốt. Có chuyện gì hả? Pedro Negrete hỏi. Chúng tôi nhầm, thưa sếp, viên cảnh sát nói. Lấy cho Pepe cái ghế, coi bộ nó sắp ngất rồi kìa, Pedro Negrete nói. Họ cho tay cảnh sát bị thương ngồi giữa Epifanio và tay cảnh sát còn lại. Thấy sao rồi? Tốt, sếp à, không sao, hơi chóng mặt, vậy thôi, tay bị thương vừa nói vừa lục túi tìm cái gì đó để thấm máu. Pedro Negrete đưa cho hắn tờ khăn giấy. Tại sao bắt nó? ông hỏi. Một trong hai người bị nó bắn là Patricio López, cảnh sát tư pháp bang, tay cảnh sát thứ hai nói. Ấy chà, ừ thì Patricio López, nhưng sao mấy cậu lại nghĩ thằng này bắn chứ không phải một trong hai cộng sự của nó? Mấy cộng sự của hắn đã chạy mất, tay cảnh sát thứ hai nói. Ấy chà, cộng với chả sự, Pedro Negrete nói. Vậy thằng nhóc của tôi đã làm gì? Hai tay cảnh sát nói rằng theo người ta xác định được thì Lalo Cura đã giương súng bắn các cộng sự. Bắn chính cộng sự của nó? Dạ phải, chính mấy cộng sự của nó, nhưng trước đó, bị thương ở vai và có vẻ chẳng có lý do gì chính đáng, nó đã giết Patricio López và một thằng chết bầm cầm khẩu Uzi. Chắc nó bị sốc thôi, Pedro Negrete nói. Chắc là vậy rồi, tay cảnh sát bị rạch mặt nói. Dù sao thì nó còn làm được gì khác chớ? Pedro Negrete nói. Nếu Patricio López mà có cơ hội thì hắn cũng đã cho thằng nhóc xong đời rồi. Đúng như thế đấy ạ, tay cảnh sát thứ hai nói. Thế rồi họ hút thuốc trò chuyện thêm chốc nữa, thỉnh thoảng dừng một chút để tay cảnh sát bị rạch mặt thay khăn giấy, sau đó Epifanio hộ tống Lalo Cura ra khỏi xà lim và đưa cậu đến chỗ chiếc xe nơi Pedro Negrete đang đợi, cũng chính chiếc xe mấy tháng trước đã đến đưa cậu đi khỏi Villaviciosa.

♣ ♣ ♣

Một tháng sau Pedro Negrete đến thăm nông trại của Pedro Rengifo, ở phía Đông Nam Santa Teresa, và đòi trả Lalo Cura về. Tôi đã đưa cậu ta cho anh, Pedro, giờ tôi mang cậu ta về, ông nói. Nhưng sao lại thế, hở Pedro? Pedro Rengifo hỏi. Bởi vì cái kiểu anh đối xử với cậu ta, Pedro Negrete nói. Thay vì cho cậu ta bắt cặp với một người từng trải, như tay Ireland của anh chẳng hạn, để thằng nhóc của tôi có chỗ mà học hỏi, anh lại cho nó chung nhóm với hai thằng giẻ rách. Về chuyện đó thì anh nói đúng, Pedro Rengifo nói, nhưng tôi muốn anh nhớ cho rằng một trong hai thằng giẻ rách đó đến chỗ tôi theo sự tiến cử của anh. Đúng, tôi thừa nhận, và chỉ cần tóm được nó là tôi sẽ sửa chữa sai lầm ngay, Pedro Negrete nói, nhưng lúc này chúng ta ở đây là để sửa chữa sai lầm của anh. Thôi được, về phần tôi thì chả có vấn đề gì Pedro à, nếu anh muốn đòi thằng nhóc lại thì nó là của anh, đoạn Pedro Rengifo sai thuộc hạ đến chỗ người làm vườn dẫn Lalo Cura về. Trong khi đợi, Pedro Negrete hỏi thăm vợ con Pedro Rengifo. Về gia súc. Về việc kinh doanh thực phẩm của Pedro Rengifo ở Santa Teresa và các thành phố miền Bắc khác. Bà vợ ở suốt ở Cuernavaca, Pedro Rengifo nói, còn con cái thì chúng tôi cho sang Mỹ học (ông ta thận trọng không nói rõ ở đâu), đàn gia súc là tội nợ nhiều hơn là việc làm ăn, còn mấy siêu thị thì lúc lên lúc xuống. Rồi Pedro Negrete hỏi vai Lalo Cura giờ sao rồi. Hoàn hảo như mới, Pedro Rengifo nói. Công việc có gì đâu. Thằng nhóc suốt ngày ngủ với đọc báo. Ở đây nó sướng lắm. Tôi biết nó sướng, Pedro ạ, Pedro Negrete nói, nhưng cứ tình hình này thì có ngày nó bị người ta lấy mất mạng. Đừng nói năng xúi quẩy, Pedro, Pedro Rengifo nói, nhưng rồi ông tái người đi. Trên đường quay về Santa Teresa, Pedro Negrete hỏi thằng bé có muốn làm cảnh sát không. Lalo Cura gật. Chẳng mấy chốc sau khi rời khỏi trang trại họ đi ngang qua một tảng đá đen khổng lồ. Cậu nghĩ đã nhìn thấy trên tảng đá một con quái vật Gila, bất động, nhìn chăm chăm về phía Tây vô tận. Người ta nói thật ra tảng đá này là thiên thạch, Pedro Negrete nói. Nơi một rãnh xói sâu, xa hơn về phía Bắc, dòng Río Paredes uốn khúc, và từ trên con lộ có thể nhìn thấy những ngọn cây giống như một tấm thảm màu lục ngả đen, một đám mây bụi treo lơ lửng trên đó nơi bầy gia súc của Pedro Rengifo đến uống nước mỗi chiều. Nhưng nếu là thiên thạch thì nó phải để lại một cái hố, vậy cái hố đâu? Pedro Negrete nói. Khi Lalo Cura nhìn tảng đá đen qua kính chiếu hậu thì con quái vật Gila không còn đó nữa.

♣ ♣ ♣

Người phụ nữ chết đầu tiên trong năm 1994 được mấy tài xế xe tải phát hiện trên một đường nhánh của xa lộ Nogales, giữa sa mạc. Hai tài xế này, cả hai đều người Mexico, làm việc cho nhà máy Key Corp., và chiều hôm đó, tuy đang chở nặng, họ vẫn quyết định dừng lại ăn uống ở một quán bar tên là Ajo, vốn là quán quen của một trong hai tài xế, Antonio Villas Martínez. Trên đường đến quán bar nói trên, người tài xế còn lại, Rigoberto Reséndiz, thấy một ánh lóe trong sa mạc khiến anh chói mắt mất một lúc. Tưởng đấy là trò đùa, anh gọi bộ đàm cho anh bạn Villas Martínez, hai xe liền đỗ lại. Đường vắng ngắt. Villas Martínez toan thuyết phục Reséndiz rằng có lẽ đó là ánh mặt trời phản chiếu từ một cái chai hay tấm kính bể nào đó, nhưng rồi Reséndiz lại thấy một hình thù cách xa lộ khoảng ba trăm mét, liền sải bước về phía đó. Lát sau, Villas Martínez nghe Reséndiz huýt sáo gọi, liền cất bước đi theo anh ta, chẳng hề kiểm tra xem cả hai xe đã khóa kỹ chưa. Khi đến chỗ bạn mình đang đợi anh thấy một cái xác, rõ là xác phụ nữ, mặc dù khuôn mặt bầm giập máu me. Cũng lạ, vật đầu tiên anh để ý là đôi giày. Cô ta mang đôi xăng đan rất đẹp bằng da dập hoa văn. Villas Martínez làm dấu thánh giá. Mình làm gì đây, người anh em, anh nghe tiếng Reséndiz hỏi. Qua giọng điệu người bạn, anh hiểu đó chỉ là câu hỏi tu từ. Gọi cảnh sát, anh nói. Ý hay, Reséndiz nói. Villas Martínez thấy quanh eo người phụ nữ có một cái thắt lưng gắn khóa kim loại to. Chói mắt là do cái này đây, người anh em ạ, anh nói. Phải, tớ biết rồi, Reséndiz nói. Người phụ nữ chết mặc quần soóc ngắn và áo lụa vàng in trên ngực hình một bông hoa to màu đen còn sau lưng là bông hoa màu đỏ. Khi xác được đưa đến chỗ bác sĩ pháp y, ông này sửng sốt nhận ra bên dưới quần soóc ngắn người phụ nữ còn mặc quần đùi trắng đính những cái nơ con bướm nhỏ ở hai bên hông. Ông cũng phát hiện thấy cô đã bị hãm hiếp qua đường hậu môn và đường âm hộ, còn nguyên nhân tử vong là chấn thương sọ não nghiêm trọng, mặc dù cô còn bị đâm hai nhát, một ở ngực và một ở lưng, khiến cô mất máu nhưng không hẳn là vết thương chí tử. Mặt cô, như các tài xế xe tải quan sát thấy, không thể nhận diện. Ngày tử vong được xác định đại khái giữa mùng 1 đến mùng 6 tháng Một năm 1994, tuy cũng có khả năng cái xác bị vứt vào sa mạc hôm 25 hay 26 tháng Mười hai năm ngoái, cái năm mà may mắn thay giờ đã trôi qua.

♣ ♣ ♣

Người phụ nữ chết kế tiếp là Leticia Contreras Zamudio. Cảnh sát đã vào La Riviera, một hộp đêm nằm giữa phố Lorenzo Sepúlveda và phố Álvaro Obregón, trung tâm Santa Teresa, sau khi nhận được một cú điện thoại nặc danh. Tại một trong các phòng riêng ở La Riviera họ tìm thấy cái xác, lộ ra nhiều vết thương ở vùng bụng và ngực, cũng như hai cánh tay trước, điều này dẫn đến kết luận rằng Leticia Contreras đã chiến đấu giành mạng sống cho đến giây phút cuối cùng. Người phụ nữ chết hai mươi ba tuổi, đã làm điếm được hơn bốn năm, chưa bao giờ gặp rắc rối nào với nhà chức trách. Khi bị thẩm vấn, không cô bạn nào của Leticia Contreras có thể biết ai đã ở cùng Leticia Contreras trong buồng riêng ấy. Vào thời điểm cô bị giết, có người cho là cô đang ở trong buồng vệ sinh. Người khác thì bảo cô đang ở dưới tầng hầm, nơi đó có bốn bàn bi a, một trò cô rất mê và chơi không tồi chút nào. Một cô còn đi xa đến mức khẳng định rằng lúc ấy Leticia chỉ có một mình, nhưng một ả điếm thì ngồi một mình trong buồng riêng để làm gì kia chứ? Lúc bốn giờ sáng toàn bộ nhân viên quán La Riviera được đưa về phân khu số 1. Dạo ấy, Lalo Cura đang làm cảnh sát giao thông tập sự. Cậu làm việc về đêm, đi bộ, lượn lờ như một bóng ma qua quận Álamos và Rubén Darío, từ Bắc về Nam, nhẩn nha, cho đến khi tới khu trung tâm, rồi sau đó cậu có thể quay về phân khu số 1 hoặc thích làm gì thì làm. Cậu đang cởi đồng phục thì nghe có tiếng la hét. Cậu đi tắm, không mấy để tâm, song khi cậu tắt vòi hoa sen thì lại nghe thấy tiếng hét. Tiếng hét vọng từ phía các xà lim. Cậu liền nhét súng lục vào thắt lưng rồi đi ra hành lang. Ban đêm, vào giờ đó, phân khu số 1 hầu như vắng tanh, trừ phòng đợi. Trong phòng làm việc của lực lượng chống trộm cậu gặp một cảnh sát khác đang ngủ. Cậu đánh thức anh ta, hỏi anh ta có biết đang xảy ra chuyện gì không. Tay cảnh sát bảo đang có tiệc tùng trong xà lim, nếu muốn cậu có thể tham gia. Khi Lalo Cura bỏ đi, tay cảnh sát lại ngủ tiếp. Từ trên cầu thang Lalo Cura ngửi thấy mùi rượu. Có hai mươi người lèn chật ních một trong các xà lim. Cậu nhìn họ không chớp. Vài người ngủ đứng. Một người đứng tựa vào chấn song đã cởi hết cúc quần ra. Những người ở sâu trong xà lim là một khối chẳng đặng hình thù toàn bóng tối và lông lá. Mùi nghe mà lộn mửa. Xà lim không thể rộng quá hai lăm mét vuông. Trên hành lang cậu gặp Epifanio, đang quan sát tình hình trong các xà lim khác, miệng ngậm điếu thuốc. Cậu tiến lại gần để bảo anh ta đám người này sắp bị ngạt thở hay bị đè chết, nhưng ngay khi cất bước đầu tiên cậu đã cứng họng. Trong các xà lim khác cảnh sát đang hiếp các cô điếm của quán La Riviera. Thấy sao, Lalito? Epifanio nói, có muốn nhào vô luôn không? Không, Lalo Cura nói, còn anh? Tao cũng không, Epifanio đáp. Khi đã nhìn đủ rồi họ ra ngoài hít thở khí trời. Mấy cô điếm đó đã làm gì? Lalo nói. Tuồng như tụi nó cho đi đời một con điếm khác, Epifanio nói. Lalo Cura im lặng. Làn gió buổi sớm thổi dọc các con phố Santa Teresa thật mát mẻ trong lành, vầng trăng sứt sẹo vẫn chiếu sáng trên nền trời.

♣ ♣ ♣

Hai trong số các cô gái cùng làm với Leticia Contreras Zamudio bị kết tội đã giết chết cô, mặc dù không có chứng cứ nào cho thấy họ có tội, ngoại trừ chuyện họ có mặt ở La Riviera vào thời điểm xảy ra vụ việc. Nati Gordillo ba mươi tuổi và quen biết người chết từ khi cô kia đến làm việc ở hộp đêm này. Tại thời điểm nói trên Nati đang ở trong buồng vệ sinh. Rubí Campos hai mốt tuổi và mới đến La Riviera được hơn năm tháng. Tại thời điểm diễn ra vụ giết người, Rubí đang đợi Nati trong buồng vệ sinh, ngăn giữa hai người chỉ có một cánh cửa. Người ta xác minh được rằng hai cô này có quan hệ rất thân thiết. Và có bằng chứng cho thấy Rubí đã bị Leticia mạt sát hai hôm trước khi Leticia bị giết. Một cô khác nghe Rubí nói Leticia sẽ phải trả giá. Nghi can không phủ nhận điều này, nhưng cô nói rõ cô chưa từng có ý định giết cô kia, mà chỉ định đập cho cô ta một trận. Hai cô điếm được chuyển đến Hermosillo rồi bị giam ở Paquita Avendano, nhà tù nữ, và ở đó cho đến khi vụ án được chuyển giao cho một thẩm phán khác, vị này nhanh chóng tuyên bố họ vô tội. Tổng cộng hai người ngồi tù hai năm. Khi ra khỏi tù họ bảo sẽ đi tìm vận may ở thủ đô hoặc cũng có thể sang Mỹ, điều duy nhất chắc chắn là ở Sonora không ai còn nhìn thấy họ nữa.

♣ ♣ ♣

Nạn nhân kế tiếp là Penélope Méndez Becerra. Con bé mười một tuổi. Mẹ con bé làm việc ở nhà máy Interzone-Berny. Chị nó, mười sáu tuổi, cũng là công nhân ở Interzone-Berny. Anh trai nó, mười lăm tuổi, làm chân giao hàng và đưa tin cho một hiệu bánh không xa phố Industrial nơi họ sống ở quận Veracruz. Con bé là con út và là đứa duy nhất được đi học. Bảy năm trước, cha lũ trẻ bỏ nhà đi. Lúc đó cả nhà sống ở quận Morelos, gần khu công nghiệp Arsenio Farrell, trong một căn nhà được cha của Penélope tự xây bằng thùng các tông, gạch bỏ đi và các tấm kẽm, gần một cái hào do hai trong các nhà máy đào để xây một hệ thống thoát nước rốt cuộc chẳng bao giờ hoàn tất. Cha mẹ con bé đều quê ở bang Hidalgo, miền Trung đất nước, di cư lên miền Bắc vào năm 1985 để kiếm việc làm. Nhưng một ngày kia người cha đi đến kết luận rằng với số tiền kiếm được ở nhà máy ông sẽ chẳng làm sao cải thiện nổi điều kiện sống của gia đình, nên liền quyết định vượt biên. Ông ra đi cùng năm người khác, đều quê ở Oaxaca. Một người đã đi như thế ba lần rồi và bảo anh ta biết cách lẩn lính biên phòng, những người còn lại thì mới thử lần đầu. Gã pollero dẫn họ vượt biên bảo họ đừng lo. Nếu chẳng may bị tóm, họ nên nộp mạng chứ đừng chống cự. Cha của Penélope Méndez chi sạch tiền dành dụm vào chuyến đi. Ông hứa sang đến California sẽ viết thư về ngay. Ông dự định trong vòng chưa đầy một năm sẽ đưa gia đình sang đoàn tụ. Họ chẳng bao giờ nghe tin gì về ông nữa. Mẹ Penélope cho rằng có thể chồng mình đã gặp một người phụ nữ khác, người Mỹ hoặc người Mexico, và cả hai đang sống vui vầy bên nhau. Bà cũng băn khoăn, nhất là trong mấy tháng đầu, không biết có phải ông đã chết trong sa mạc, giữa đêm khuya, một mình, lắng nghe lũ sói tru hoặc nghĩ đến đàn con, hoặc chết trên đường phố nước Mỹ, bị một tên tài xế đâm xe rồi bỏ mặc cho chết, song những ý nghĩ loại đó khiến bà tê liệt (những ý nghĩ trong đó tất cả mọi người, kể cả chồng bà, đều nói một thứ tiếng khác, không hiểu được) nên bà quyết định không nghĩ nữa. Vả lại, nếu chồng bà chết rồi thì ai đó phải báo cho bà biết chứ, phải không nào, bà lý luận vậy. Dù thế nào thì bà cũng đã có đủ chuyện đau đầu ở nhà rồi, hơi đâu đoán già đoán non về số phận ông chồng. Giữ cho gia đình trụ nổi đã đủ gian nan rồi. Nhưng bởi bà là một phụ nữ cởi mở và ý tứ, với bản tính lạc quan, và bởi bà biết lắng nghe, nên bà không thiếu bạn. Nhất là phụ nữ, với các bà này thì câu chuyện của bà chẳng có gì lạ hay khác đời, chỉ là chuyện thường tình dễ gặp dễ xảy ra. Một trong các bà bạn đó giúp bà tìm được việc ở Interzone-Berny. Ban đầu bà phải đi bộ một quãng xa từ nhà để đi làm. Đứa con gái lớn của bà trông nom mấy đứa kia. Tên cô là Livia, và chiều nọ một hàng xóm say rượu toan hiếp cô. Khi mẹ Livia đi làm về, cô cho bà biết chuyện, thế là bà liền sang nhà hàng xóm, mang theo con dao trong túi tạp dề. Bà nói chuyện với ông ta rồi nói chuyện với vợ ông ta sau đó lại nói với ông ta: hãy cầu Mẹ đồng trinh sao cho đừng có chuyện gì xảy ra với con gái tôi, bà bảo, bởi nếu có chuyện gì tôi sẽ đổ tội cho ông và sẽ giết ông bằng con dao này. Ông hàng xóm bảo từ nay trở đi mọi chuyện sẽ thay đổi. Nhưng đến lúc này bà chẳng còn tin lời đàn ông nữa, thế nên bà làm việc cật lực, làm thêm giờ lại còn bán bánh kẹp cho đồng nghiệp vào giờ ăn trưa, cho đến khi bà kiếm đủ tiền mua một căn nhà nhỏ ở quận Veracruz, xa Interzone-Berny hơn so với cái lều ọp ẹp bên con hào, nhưng là một cái nhà ra nhà, có hai phòng ngủ, tường chắc, cửa khóa được hẳn hoi. Bà chẳng nề hà gì chuyện hằng sáng phải đi bộ thêm hai mươi phút. Ngược lại, bà còn vừa đi vừa hát. Bà chẳng nề hà gì chuyện đêm không ngủ, làm hai ca thông tầm, hay là thức tới hai giờ sáng ở dưới bếp làm món bánh torta nêm đẫy ớt bán cho đồng nghiệp ăn ngày hôm sau, trong khi sáu giờ sáng bà đã lại phải đi làm. Ngược lại, sự gắng sức khiến bà đầy năng lượng, sự kiệt sức của bà chuyển hóa thành sức sống và nét duyên dáng, ngày này qua ngày nọ vừa dài vừa chậm rì rì, và thế giới (được sánh với một nạn đắm tàu kéo dài bất tận) trưng ra cho bà bộ mặt ngời sáng nhất của nó và khiến bà ý thức được, đương nhiên rồi, về sự ngời sáng của chính mình. Lên mười lăm tuổi thì con gái lớn của bà cũng bắt đầu đi làm. Họ vẫn đi bộ đến nhà máy, song đường đi có vẻ ngắn hơn do họ vừa đi vừa nói cười. Cậu con trai bỏ học hồi mười bốn tuổi. Cậu làm việc ở Interzone-Berny vài tháng, nhưng sau vài lần cảnh cáo người ta đuổi cậu vì tội lề mề. Hai bàn tay cậu quá to và vụng về. Sau đó bà mẹ tìm được cho cậu việc làm ở một hiệu bánh trong khu xóm. Đứa con duy nhất còn đi học là Penélope. Trường của con bé là Trường tiểu học Aquiles Serdán, ở phố Aquiles Serdán. Ở đó có trẻ con của quận Carranza, quận Veracruz và quận Morelos và cả một số trẻ sống trong khu trung tâm thành phố. Penélope Méndez Becerra học lớp năm. Con bé tính trầm lặng, song luôn được điểm cao. Con bé có mái tóc đen, dài, suôn thẳng. Một hôm con bé tan học về và sau đó chẳng ai còn gặp lại nó. Ngay tối hôm đó mẹ nó xin nghỉ làm để đến phân khu số 2 trình báo có người mất tích. Cậu con trai đi cùng bà. Ở phân khu, một cảnh sát ghi tên bà rồi bảo bà phải đợi vài hôm. Con gái lớn của bà, Livia, không đi cùng vì Interzone cho rằng cho phép bà mẹ nghỉ việc là đủ rồi. Ngày hôm sau Penélope Méndez Becerra vẫn mất tích. Mẹ và anh trai con bé lại đến phân khu đòi biết tình hình tiến triển ra sao rồi. Viên cảnh sát ngồi sau bàn bảo họ đừng mè nheo. Hiệu trưởng trường Aquiles Serdán cùng ba giáo viên lúc ấy đang ở phân khu hỏi về chuyện Penélope, và chính họ đã đưa hai mẹ con đi khỏi đấy trước khi người ta phạt họ vì quấy rối nơi công cộng. Ngày hôm sau anh của Penélope nói chuyện với vài bạn học của Penélope. Một đứa bảo hình như Penélope đã chui vào một chiếc ô tô cửa kính đen và sau đó không thấy ra. Theo mô tả thì có vẻ đó là một chiếc Peregrino hoặc MasterRoad. Anh trai và thầy giáo của Penélope nói chuyện với đứa bé này hồi lâu, nhưng chỉ làm rõ được một điều duy nhất: đấy là một chiếc xe đắt tiền màu đen. Suốt ba ngày anh trai Penélope rảo cùng khắp Santa Teresa, đi bộ đến rạc người, để tìm một chiếc xe hơi đen. Cậu tìm thấy nhiều chiếc, thậm chí vài chiếc có cửa sổ đen, sáng choang như mới từ nhà máy chạy ra, song những người ngồi trong đó trông không giống kẻ bắt cóc, hoặc là những cặp trẻ (hạnh phúc của họ khiến anh trai Penélope bật khóc) hoặc là phụ nữ. Dù vậy, cậu vẫn ghi lại tất cả biển số xe. Đêm đêm cả nhà quây quần nói về Penélope bằng những lời vô nghĩa hoặc những lời chỉ họ mới hiểu được ý nghĩa tối hậu. Một tuần sau xác con bé xuất hiện. Xác được phát hiện nhờ mấy công nhân bảo trì một đường ống thoát nước chạy dưới lòng thành phố từ quận San Damián đến hẻm núi Ojito, gần xa lộ đi Casas Negras, băng qua bãi rác lậu Chile. Cái xác lập tức được đưa đến phòng khám nghiệm pháp y, ở đó người ta xác định rằng con bé đã bị hãm hiếp qua đường hậu môn và đường âm hộ, cả hai chỗ này đều bị rách trầm trọng, sau đó thì bị bóp cổ. Tuy nhiên, đến lần khám nghiệm thứ hai thì hóa ra Penélope chết vì một cơn đau tim trong khi phải chịu những sự bạo hành mô tả ở trên.

♣ ♣ ♣

Vào khoảng thời gian này Lalo Cura tròn mười bảy tuổi, lớn hơn sáu tuổi so với Penélope Méndez khi con bé bị giết, và Epifanio tìm được cho cậu một chỗ ở. Đó là một trong những tòa căn hộ cho thuê vẫn còn tọa lạc ở trung tâm thành phố. Tòa nhà nằm trên phố Obispo, và sau khi đi qua một hành lang có mấy cầu thang đâm từ đó ra, khách bước vào một khoảnh sân rộng thênh, chính giữa có đài phun nước lớn, bọc vòng quanh sân là bức tường với ba tầng đường mái vòm tróc lở, ở nơi đó trẻ con chơi đùa và phụ nữ trong khu xóm chuyện trò, những đường mái vòm được che phân nửa bằng các mái gỗ đỡ bằng những cột sắt hẹp tí gỉ sét vì thời gian. Phòng của Lalo Cura rộng, đủ chỗ cho một cái giường, một bàn ba ghế, một tủ lạnh (kê cạnh bàn), và một cái tủ quá rộng so với dăm ba món áo quần cậu có. Còn có cả một bếp lò nhỏ và một cái chậu mới bằng xi măng để cậu rửa bát đĩa nồi niêu bẩn hay rửa mặt. Buồng vệ sinh cũng như nhà tắm thì dùng chung, và mỗi tầng có hai toilet công cộng, thêm ba cái nữa trên mái nhà. Epifanio trước hết cho cậu xem phòng của anh ở tầng trệt. Quần áo của anh treo trên một sợi dây căng từ vách này sang vách nọ và bên cạnh cái giường còn nguyên chăn đệm Lalo Cura nhác thấy một chồng báo cũ, hầu như tất cả là báo của Santa Teresa. Các tờ ở dưới cùng đã ngả vàng. Bếp lò có vẻ đã lâu không được dùng tới. Epifanio bảo với cảnh sát tốt nhất là sống một mình, nhưng chú mày muốn làm gì thì làm. Sau đó anh dẫn cậu về phòng cậu ở tầng ba, đưa chìa khóa cho cậu. Giờ thì chú mày có nhà rồi, Lalito, anh nói. Nếu muốn quét nhà thì mượn chổi của bà hàng xóm. Trên tường ai đó đã viết một cái tên: Ernesto Arancibia. Họ Arancibia được viết với chữ v thay cho chữ b. Lalo trỏ cái tên, Epifanio liền nhún vai. Tiền nhà trả vào cuối tháng, anh nói, đoạn bỏ đi mà không giải thích gì thêm.

♣ ♣ ♣

Cũng vào khoảng thời gian này Juan de Dios Martínez được lệnh thôi không làm vụ Kẻ Ăn Năn nữa mà tập trung vào một loạt vụ cướp có vũ trang diễn ra ở quận Centeno và quận Podestá. Khi anh hỏi có phải như thế nghĩa là vụ Kẻ Ăn Năn đã khép lại, người ta bảo không, nhưng vì Kẻ Ăn Năn dường như đã biến mất và cuộc điều tra không tiến triển tí nào, và xét vì số điều tra viên được phân bổ cho Santa Teresa không nhiều nhặn gì, nên họ phải ưu tiên cho những vụ cấp bách hơn. Dĩ nhiên, thế không có nghĩa là họ đã quên Kẻ Ăn Năn hay Juan de Dios Martínez không còn đảm trách điều tra vụ đó, nhưng các sĩ quan dưới quyền anh, vốn đang phí thì giờ canh gác các nhà thờ trong toàn thành phố suốt hai tư tiếng một ngày, lẽ ra nên cống hiến sức mình cho những việc có lợi hơn cho an ninh công cộng. Juan de Dios Martínez nhận lệnh mà không phản đối.

♣ ♣ ♣

Người phụ nữ chết kế tiếp là Lucy Anne Sander. Cô sống ở Huntsville, cách Santa Teresa chừng năm mươi cây số, ở Arizona, đầu tiên cô đến El Adobe, cùng một người bạn, sau đó họ lái xe qua biên giới, sẵn sàng nếm trải, dù chỉ một phần, cái đời sống về đêm không ngừng nghỉ của Santa Teresa. Bạn cô, Erica Delmore, là chủ chiếc xe và cũng là người lái. Cả hai đều làm việc cho một nhà máy thủ công mỹ nghệ ở Huntsville chuyên sản xuất tràng hạt Anh điêng bán sỉ cho các cửa hàng đồ lưu niệm cho khách du lịch ở Tombstone, Tucson, Phoenix và Apache Junction. Chỉ có hai người họ là phụ nữ da trắng ở nhà máy này, bởi tất cả công nhân còn lại đều là người Mexico hoặc Anh điêng. Lucy Anne sinh ở một thị trấn nhỏ bang Mississippi. Cô hai mươi sáu tuổi và mơ ước được sống gần biển. Thỉnh thoảng cô lại nhắc đến dự định trở lại quê nhà, nhưng đấy thường là khi cô mệt mỏi hay bực bội, mà chuyện đó thì chẳng mấy khi. Erica Delmore bốn mươi tuổi và đã kết hôn hai lần. Chị quê ở California, nhưng chị thấy thoải mái ở Arizona, không đông người lắm và dễ sống hơn. Vừa đến Santa Teresa là họ thẳng tiến tới khu các hộp đêm, đầu tiên là Pelícano, sau đó đến Domino. Trên đường họ nhập hội với một anh chàng Mexico hai mươi tuổi, tự giới thiệu tên là Manuel hay Miguel. Theo lời Erica, đấy là một anh chàng dễ thương, cố gắng ve vãn Lucy Anne, rồi khi Lucy Anne cự tuyệt, anh ta bèn ve vãn Erica, và không thể nào xem anh ta là một tay chim gái hay một gã vũ phu. Đến một lúc, khi họ đang ở quán Domino’s, Manuel hay Miguel (Erica không thể nhớ chính xác tên anh ta) đi ra ngoài và hai cô bị bỏ lại trong quán. Thế rồi họ lái xe lòng vòng quanh khu trung tâm, thăm thú các thắng cảnh lịch sử của thành phố: giáo đường, tòa thị chính, mấy tòa nhà thời thuộc địa xưa, quảng trường Armas có những hàng cột. Theo Erica, chẳng ai làm phiền họ, cũng không ai bám theo họ. Trong khi họ đánh xe vòng quanh quảng trường, một khách du lịch Mỹ gọi to: này các cô, các cô phải đến xem sân khấu ngoài trời đi, hay tuyệt. Đoạn anh ta biến mất vào trong bụi rậm và hai cô quyết định rằng để xe lại đi bộ một chút cũng chẳng phải ý tồi. Đêm sáng sủa, mát mẻ, đầy sao. Trong khi Erica tìm chỗ đỗ xe, Lucy Anne ra khỏi xe, cởi giày, chạy ra bãi cỏ vừa mới tưới. Sau khi đỗ xe, Erica đi tìm Lucy Anne nhưng không thấy. Chị quyết định đi vào quảng trường, về phía sân khấu ngoài trời nổi tiếng. Một vài lối đi là đường đất, song các lối đi chính thì vẫn còn lát đá xưa. Trên các băng ghế dài chị thấy các cặp đôi đang trò chuyện hoặc hôn nhau. Sân khấu ngoài trời dựng bằng sắt rèn, và, dù đêm đã khuya, vẫn có những đứa trẻ mất ngủ đang chơi nhạc. Eria nhận thấy ánh đèn khá mờ, chỉ đủ soi đường, song vì xung quanh có nhiều người đến thế nên không gợi cảm giác hung hiểm. Chị không gặp Lucy Anne, nhưng có lẽ chị nhận ra tay khách du lịch Mỹ đã kêu to bảo họ đến chỗ quảng trường. Anh ta đang cùng ba người khác vừa chuyện trò vừa chuyền tay uống chai rượu tequila. Chị lại gần hỏi về bạn mình. Tay khách du lịch Mỹ nhìn chị như thể chị mới trốn trại tâm thần. Cả đám đều xỉn, nhưng Erica biết cách đối phó với dân xỉn và giải thích sự tình cho họ. Bọn họ rất trẻ và chẳng có gì khác hay hơn để làm, nên bèn đồng ý giúp chị. Mãi một hồi cả quảng trường vang vọng tiếng hét gọi tên Lucy Anne. Erica quay lại chỗ đỗ xe. Chẳng có ai. Chị vào xe, khóa cửa rồi nhấn còi mấy lần. Sau đó chị hút thuốc cho đến khi không khí trong xe không thể thở được nữa khiến chị phải mở cửa sổ. Sáng ra chị đến đồn cảnh sát hỏi xem ở thành phố này có lãnh sự quán Mỹ không. Viên cảnh sát chị gặp không biết liệu có hay không nên phải đi hỏi vài người khác. Một người bảo có. Erica làm bản tường trình có người mất tích rồi cầm một bản sao đến chỗ lãnh sự quán. Lãnh sự quán nằm ở phố Verdejo, ở quận Trung-Bắc, không xa những con phố chị đã đi qua tối vừa rồi, và còn đang đóng cửa. Cách đó vài mét có một quán cà phê, chị liền vào ăn sáng. Chị gọi bánh sandwich chay và nước dứa rồi sau đó dùng điện thoại trong quán để gọi về Huntsville, theo số nhà Lucy Anne, nhưng không ai nhấc máy. Ngồi bên bàn, chị quan sát đường phố đang rục rịch tỉnh giấc. Uống nước dứa xong chị lại gọi về Huntsville lần nữa, song lần này chị quay số của cảnh sát trưởng. Nghe máy là một cậu nhóc tên Rory Campuzano, cậu này thì chị biết rõ. Cậu bảo cảnh sát trưởng chưa tới. Erica bảo cậu Lucy Anne Sander đã mất tích ở Santa Teresa và với tình hình này chắc chị sẽ ở suốt buổi sáng trong tòa lãnh sự hoặc đảo một vòng các bệnh viện. Bảo ông ấy gọi cho tôi ở lãnh sự quán nhé, chị nói. Tôi sẽ bảo, cứ bình tĩnh nhé, Rory nói, đoạn cúp máy. Chị ngồi đó khoảng một tiếng, chọc chọc cái bánh sandwich chay, cho tới khi thấy tòa lãnh sự bắt đầu động đậy. Người tiếp chị là một tay tên Kurt A. Banks, hỏi chị đủ câu về cả người bạn nọ lẫn chị, làm như anh ta không tin câu chuyện Erica kể. Chỉ khi ra khỏi đó rồi Erica mới hiểu ra thằng cha kia nghi ngờ cả Lucy Anne lẫn chị đều là gái điếm. Rồi chị đến đồn cảnh sát, và phải giải thích toàn bộ câu chuyện thêm hai lần nữa, với những tay cảnh sát chẳng biết gì về tờ trình chị đã nộp, và cuối cùng họ cho biết chẳng có tin gì mới về vụ cô bạn chị mất tích, rất có thể cô ấy đã sang bên kia biên giới rồi. Một cảnh sát khuyên chị cũng làm thế, rằng tốt nhất là phó thác vụ này cho tòa lãnh sự rồi đi về nhà. Erica nhìn vào mắt anh ta. Anh ta có vẻ mặt tử tế và lời khuyên của anh ta có vẻ đầy thiện ý. Từ đó cho đến hết buổi sáng và cả phần lớn buổi chiều chị đi khắp các bệnh viện. Mãi cho đến lúc đó chị vẫn không sao thôi ngẫm nghĩ làm thế nào Lucy Anne có thể vào bệnh viện được. Chị loại trừ khả năng cô ấy bị tai nạn, bởi cô ấy biến mất trên quảng trường hoặc quanh quanh đấy mà ở đó chị không nghe thấy tiếng ồn nào, không tiếng kêu nào, không tiếng phanh rít, bánh trượt. Sau khi cố tìm những khả năng khác hầu lý giải được vì sao Lucy Anne lại vào nhà thương, chị chỉ nghĩ ra độc một điều là do một cơn mất trí nhớ. Khả năng đó xa vời đến nỗi mắt chị đẫm lệ. Mặt khác, không một bệnh viện nào chị đến có nhận một ca bệnh nhân nữ người Mỹ. Cuối cùng một cô y tá gợi ý chị đến Clínica América, một bệnh viện tư, nhưng chị trả lời bằng một tiếng cảm thán chua chát. Tụi tôi là dân làm công, cưng ơi, chị nói bằng tiếng Anh. Tôi cũng thế, cô y tá đáp cũng bằng tiếng Anh. Hai người trò chuyện một hồi, sau đó cô y tá mời chị xuống căng tin bệnh viện uống cà phê, rồi ở đó, cô cho biết ở Santa Teresa có nhiều vụ phụ nữ mất tích. Ở nước tôi cũng thế, Erica nói. Cô y tá nhìn thẳng vào mắt chị rồi lắc đầu. Ở đây tệ hơn, cô nói. Khi chia tay hai người cho nhau số điện thoại và Erica hứa có gì mới chị sẽ cho cô biết. Chị ăn nơi hàng hiên một nhà hàng ở trung tâm thành phố và có hai lần chị ngỡ đã thấy Lucy Anne đi dọc vỉa hè, một lần đi về phía chị còn một lần đi ra xa, nhưng lần nào cũng không phải Lucy Anne. Hầu như chẳng để ý mình đang chọn món gì, chị trỏ đại một hai món không đắt lắm. Cả hai món đều nêm rất nhiều ớt nên sau một hồi nước mắt chị ứa ra, nhưng chị vẫn ăn. Đoạn chị lái xe đến quảng trường nơi Lucy Anne mất tích, đỗ xe dưới bóng một cây sồi to, rồi ngủ thiếp đi hai tay nắm chặt vô lăng. Khi thức dậy chị đến tòa lãnh sự, và người tên là Kurt A. Banks giới thiệu chị với một người khác, người này bảo tên ông ta là Henderson. Ông này bảo chị rằng hãy còn quá sớm nên chưa thể có tiến triển nào trong vụ mất tích của bạn chị. Chị hỏi thế khi nào thì mới không phải quá sớm. Henderson nhìn chị hờ hững nói: ba ngày nữa. Rồi nói thêm: ít nhất là vậy. Khi chị đang dợm rời khỏi đồn, Kurt A. Banks bảo cảnh sát trưởng Huntsville có gọi điện hỏi về chị, tỏ ý muốn biết thêm về vụ Lucy Anne Sander. Chị cảm ơn anh ta rồi đi. Ra đến ngoài phố chị tìm điện thoại công cộng gọi về Huntsville. Rory Campuzano trả lời điện thoại, cho biết cảnh sát trưởng đã cố gọi cho chị ba lần. Giờ anh ấy ra ngoài rồi, Rory nói, nhưng khi nào anh ấy về em sẽ bảo gọi cho chị. Không, Erica nói, hiện giờ chị chưa có chỗ ở cố định, lát chị sẽ gọi lại. Trước khi đêm xuống chị đến xem thử vài khách sạn. Những khách sạn trông có vẻ tốt thì quá đắt nên cuối cùng chị chọn một nhà nghỉ ở quận Rubén Darío không có buồng tắm hay tivi. Buồng tắm hoa sen ở dưới hành lang, có một cái móc nhỏ để gài từ trong. Chị cởi quần áo, nhưng không tháo giày vì sợ bị nấm ăn chân, rồi đứng dưới vòi nước hồi lâu. Nửa giờ sau, vẫn quấn cái khăn tắm đã dùng để lau mình, chị ngã vật xuống giường và quên mất phải gọi cho cảnh sát trưởng Huntsville hay tòa lãnh sự mà ngủ một giấc sâu đến tận ngày hôm sau.

♣ ♣ ♣

Ngày hôm đó người ta tìm thấy Lucy Anne Sander không xa hàng rào biên giới, vài mét cách mấy thùng xăng cũ trong một con mương chạy dọc xa lộ Nogales. Cái xác có nhiều vết đâm, hầu hết rất sâu, ở cổ, ngực và vùng cơ hoành. Phát hiện xác là mấy công nhân, họ lập tức báo cảnh sát. Khi khám nghiệm pháp y người ta tìm thấy một lượng lớn mẫu tinh dịch trong âm đạo, và xác định rằng Lucy Anne Sander đã bị hãm hiếp nhiều lần. Nguyên nhân tử vong là một trong năm vết đâm, vết nào cũng có thể gây chết người. Erica Delmore được báo tin khi chị gọi đến lãnh sự quán Mỹ. Kurt A. Banks yêu cầu chị đến ngay, nói anh ta có tin buồn cho chị, nhưng Erica quá khẩn khoản và giọng chị chuyển thành tiếng hét to đến nỗi anh ta không còn cách nào khác ngoài kể hết sự thật cho chị không rào trước đón sau. Trước khi đến tòa lãnh sự Erica gọi cho cảnh sát trưởng Huntsville và lần này thì nói chuyện được với y. Chị cho y hay Lucy Anne Sander đã bị giết ở Santa Teresa. Chị có muốn tôi đến đón không? cảnh sát trưởng hỏi. Được thế thì hay, nhưng nếu anh không đến được thì cũng không sao, tôi có xe, Erica nói. Tôi sẽ đến đón chị, cảnh sát trưởng nói. Sau đó chị gọi cho cô y tá chị đã kết bạn, thông báo tin tức mới nhất và có lẽ là cuối cùng. Chắc người ta sẽ yêu cầu chị nhận diện tử thi, cô y tá nói. Nhà xác nằm ở một trong các bệnh viện chị đã đến hôm trước. Chị đi cùng Henderson, thân thiện dễ gần hơn Kurt A. Banks, nhưng kỳ thực chị thích đi một mình hơn. Họ đang ngồi đợi nơi hành lang dưới tầng hầm thì cô y tá bạn chị đến. Hai người ôm nhau và hôn má nhau. Rồi chị giới thiệu cô y tá với Henderson, ông này chào cô với vẻ lơ đãng nhưng lại muốn biết họ quen nhau được bao lâu rồi. Cô y tá bảo hai tư giờ. Có khi còn chưa tới hai tư giờ. Đúng vậy, Erica nghĩ, chỉ mới một ngày thế nhưng mình cảm thấy đã quen cô ấy từ lâu lắm rồi. Khi bác sĩ pháp y xuất hiện, ông bảo Henderson không được vào cùng chị. Tin tôi đi, tôi chả muốn đâu, Henderson nói, cười nửa miệng, nhưng đó là bổn phận của tôi mà. Cô y tá ôm chị rồi sau đó hai người phụ nữ cùng vào, theo sau là viên chức người Mỹ. Hai cảnh sát Mexico đang ở trong phòng xem xét người chết. Erica vào nhìn rồi bảo đó là bạn chị. Các cảnh sát yêu cầu chị ký vài giấy tờ. Erica cố đọc nhưng các giấy đó viết bằng tiếng Tây Ban Nha. Chả có gì đâu, Henderson nói, ký đi. Cô y tá đọc các giấy tờ rồi bảo chị có thể ký. Vậy thôi à? Henderson hỏi. Vậy thôi, một trong hai cảnh sát Mexico nói. Ai đã làm chuyện này với Lucy Anne? chị hỏi. Các cảnh sát nhìn chị không hiểu. Cô y tá dịch lại và cảnh sát nói họ chưa biết. Quá trưa, cảnh sát trưởng Huntsville lái xe đến lãnh sự quán Mỹ. Khi y đến, Erica đang ngồi hút thuốc trong xe, cửa khóa. Cảnh sát trưởng nhìn thấy chị từ xa và họ nói chuyện, chị vẫn ngồi trong xe còn y cúi xuống chị, một tay tì lên cửa xe đang mở còn tay kia đặt lên thắt lưng. Đoạn y vào trong tòa lãnh sự yêu cầu cung cấp thêm thông tin trong khi Erica vẫn ngồi trong xe, lại khóa cửa, hút hết điếu này đến điếu khác. Khi cảnh sát trưởng đi ra, y nói họ nên về nhà thôi. Erica chờ cho y khởi động xe của y, thế rồi, như trong mơ, chị lái theo y dọc theo những con phố Mexico rồi băng qua biên giới và ngang qua sa mạc, giờ thì đã ở Arizona, cho đến khi cảnh sát trưởng bấm còi rồi vẫy tay, thế là hai xe dừng ở một trạm xăng có bán cả đồ ăn. Nhưng Erica không đói nên chỉ ngồi nghe những gì cảnh sát trưởng nói với chị: rằng ba ngày nữa xác Lucy Anne sẽ được đưa về Huntsville, rằng cảnh sát Mexico đã hứa sẽ bắt được tên giết người, rằng toàn bộ vụ này thối hoắc. Đoạn cảnh sát trưởng gọi trứng tráng kèm đậu rán và một cốc bia còn chị thì đứng dậy khỏi bàn đi mua thêm thuốc lá. Khi chị quay lại, cảnh sát trưởng đang lấy mẩu bánh mì vét đĩa. Tóc y vừa dày vừa đen làm y trông trẻ hơn tuổi. Anh nghĩ họ nói thật với anh sao, Harry? chị hỏi. Không hề, y nói, nhưng đích thân tôi sẽ tìm hiểu cho ra chuyện này. Tôi tin anh, Harry, chị nói, rồi bật khóc.

♣ ♣ ♣

Cái xác phụ nữ kế tiếp được phát hiện gần xa lộ Hermosillo, cách Santa Teresa mười cây số, hai ngày sau khi xác Lucy Anne Sander xuất hiện. Người phát hiện là bốn thợ làm thuê ở nông trại và cháu của chủ nông trại. Họ đã đi lùng tìm lũ gia súc đi lạc trong hơn hai mươi tư giờ. Năm người bọn họ đều cưỡi ngựa, và khi nhìn ra đó là xác một người phụ nữ, người cháu liền cử một người quay về nông trại báo cho ông chủ, những người kia thì ở lại, hoang mang trước tư thế kỳ quặc của cái xác. Đầu của xác vùi trong một cái lỗ. Như thể kẻ giết người, rõ là một tên khùng, cho rằng chôn cái đầu là đủ rồi. Hoặc làm như hắn cho rằng lấy đất lấp cái đầu đi thì toàn thân còn lại cũng sẽ vô hình không ai thấy. Cái xác úp mặt xuống đất, hai tay ép vào người. Cả hai bàn tay đều thiếu ngón trỏ và ngón út. Ngực có vết máu đông. Người phụ nữ mặc váy mỏng, màu tía, loại thắt dây phía trước. Cô không mang tất hay giày. Giám định pháp y sau đó nhận định rằng tuy có nhiều vết giống dao rạch ở ngực và tay song nguyên nhân tử vong là bị siết cổ, gây gãy xương móng. Không có dấu vết bị hãm hiếp. Vụ này được giao cho thanh tra José Márquez, ông này nhanh chóng xác định được người chết là América García Cifuentes, hai mươi ba tuổi, làm hầu bàn ở quán bar Serafino thuộc sở hữu của Luis Chantre, một tay ma cô có nhiều tiền án tiền sự và nghe nói là chỉ điểm của cảnh sát. América García Cifuentes sống cùng hai bạn gái, cả hai đều làm hầu bàn và đều không cung cấp được thông tin gì đáng kể cho công tác điều tra. Điều duy nhất có thể xác định chắc chắn là América García Cifuentes rời nhà lúc năm giờ để đến quán Serafino và làm việc ở đó đến bốn giờ sáng, giờ quán bar đóng cửa. Cô không về nhà, theo lời các bạn ở chung. Thanh tra José Márquez tạm giữ Luis Chantre mấy ngày, song người này có bằng chứng ngoại phạm hoàn hảo. América García Cifuentes quê ở bang Guerrero và đã sống ở Santa Teresa được năm năm, cô đến đây cùng người anh trai, theo lời chứng của bạn bè cô thì hiện đang sống ở Mỹ, và cô không thư từ gì với người anh này. Trong vài ngày, thanh tra José Márquez điều tra thêm một số khách quen của quán Serafino nhưng không thu được kết quả gì.

♣ ♣ ♣

Hai tuần sau, vào tháng Năm năm 1994, Mónica Durán Reyes bị bắt cóc trên đường rời khỏi trường trung học Diego Rivera ở quận Lomas del Toro. Con bé mười hai tuổi và hơi đuểnh đoảng nhưng học giỏi. Đây là năm đầu của con bé ở trường trung học. Cha mẹ nó đều làm việc ở Maderas de Mexico, một nhà máy chuyên đóng đồ gỗ kiểu thuộc địa mộc mạc để xuất sang Mỹ và Canada. Con bé có một em trai, cũng đang đi học, và một anh một chị, chị gái mười sáu tuổi làm ở nhà máy sản xuất dây cáp, anh trai mười lăm tuổi làm cùng cha mẹ ở Maderas de Mexico. Xác con bé xuất hiện hai ngày sau vụ bắt cóc, dọc theo xa lộ Santa Teresa-Pueblo Azul. Trên người con bé vẫn mặc quần áo và cạnh nó là cặp học sinh đầy đủ sách vở. Theo giám định pháp y thì con bé bị hãm hiếp và siết cổ. Trong quá trình điều tra sau đó, mấy người bạn của nó cho biết đã thấy Mónica leo lên một chiếc ô tô màu đen, cửa kính màu, có thể là một chiếc Peregrino hoặc MasterRoad hoặc Silencioso. Trông không có vẻ là con bé bị ép lên xe. Con bé có đủ thì giờ để kêu la, nhưng nó không kêu la. Khi trông thấy một người bạn, con bé vẫy tay với bạn mình. Nó không có vẻ sợ.

♣ ♣ ♣

Cũng ở quận Lomas del Toro, một tháng sau, xác của Rebeca Fernández de Hoyos, ba mươi ba tuổi, được phát hiện. Cô có tóc đen dài tới eo, từng làm hầu bàn ở Catrín, một quán bar trên phố Xalapa, ở quận Rubén Darío lân cận. Trước đó cô làm ở các nhà máy Holmes & West và Aiwo, rồi bị đuổi việc vì tội tổ chức công đoàn. Rebeca Fernández de Hoyos quê ở Oaxaca, nhưng cô đã sống ở Bắc Sonora hơn mười năm nay. Năm mười tám tuổi cô đã sống ở Tijuana, có tên trong sổ đăng ký gái mại dâm ở đó, và cô đã bốn lần toan vượt biên trái phép sang Mỹ sống nhưng bị lực lượng biên phòng Mỹ đưa về lại Mexico. Xác cô được phát hiện bởi một người bạn có chìa khóa nhà cô và ngạc nhiên khi thấy Rebeca không đến Catrín làm bởi vì, như cô này tuyên bố về sau, người đã khuất vốn cúc cung tận tụy với công việc, chỉ ốm mới nghỉ. Căn nhà, theo cô bạn nói, vẫn bình thường như mọi khi, nghĩa là cô ta không phát hiện ra dấu hiệu nào báo trước cảnh tượng mình sắp trông thấy. Đó là một căn nhà nhỏ, có phòng khách, phòng ngủ, bếp và buồng tắm. Khi vào buồng tắm cô này phát hiện ra xác bạn mình nằm sõng soài trên sàn, tuồng như Rebeca bị ngã đập đầu, dù không thấy máu. Chỉ khi cố làm cho bạn tỉnh lại, vỗ nước lên mặt Rebeca, cô này mới nhận ra là cô đã chết. Cô ta gọi điện báo cảnh sát và xe cứu thương từ một điện thoại công cộng rồi quay lại căn nhà, chuyển xác chết lên giường, ngồi vào một trong hai ghế bành trong phòng khách, bật tivi xem trong khi đợi. Xe cứu thương đến sớm hơn nhiều so với cảnh sát. Có hai nhân viên y tế, một người rất trẻ, cùng lắm hai mươi, người kia chừng bốn mươi lăm, nom như cha của người thứ nhất. Chính người lớn tuổi này bảo cô ta rằng chẳng thể làm gì được nữa. Rebeca đã chết. Đoạn ông hỏi cô ta thấy xác chết ở đâu và cô ta bảo trong buồng tắm. Vậy ta mang xác cô ta vào lại buồng tắm đi, đừng có gây rắc rối với cảnh sát, ông nói, ra hiệu cho cậu trẻ nắm hai chân người chết còn ông thì nhấc vai cô lên, đưa cô về lại hiện trường tử vong ban đầu. Đoạn nhân viên y tế hỏi cô bạn phát hiện xác người chết trong tư thế nào: ngồi trên bồn cầu, tựa vào bồn cầu, nằm trên sàn, thu lu trong góc? Cô ta liền tắt tivi rồi lại chỗ cửa buồng tắm chỉ dẫn cho đến khi hai người đàn ông chỉnh cho Rebeca nằm đúng như khi cô ta phát hiện ra cô. Ba người đứng nơi ngưỡng cửa nhìn chằm chằm. Rebeca nom như chết chìm trong một biển gạch men trắng. Khi đã thấy mệt hoặc thấy buồn mửa trước cảnh đó, họ ngồi xuống, cô bạn ngồi vào ghế bành còn hai nhân viên y tế ngồi ở bàn, và họ châm mấy điếu thuốc ông nhân viên y tế lớn tuổi hơn rút trong túi quần ra. Các anh chắc phải quen với chuyện này rồi, cô bạn nói, hơi ngắc ngứ. Còn tùy, ông nhân viên y tế nói, không hiểu cô ta đang nói đến thuốc lá hay đến chuyện ngày ngày phải lôi phải nhấc người chết với người bị thương. Sáng hôm sau bác sĩ pháp y ghi vào báo cáo rằng nguyên nhân tử vong là bị bóp cổ. Người phụ nữ chết đã quan hệ tình dục trước khi bị giết vài giờ, song pháp y không xác định được cô có bị hãm hiếp hay không. Có lẽ không, ông nói khi bị buộc phải đưa ra ý kiến dứt khoát. Cảnh sát định bắt tình nhân của cô, một người tên Pedro Pérez Ochoa, nhưng khi người ta tìm được nơi anh ta ở, một tuần sau đó, thì kẻ tình nghi đã đi mất từ vài hôm trước đấy. Pedro Pérez Ochoa sống ở cuối phố Sayuca, quận Las Flores, trong một căn nhà tồi tàn dựng khá khéo bằng gạch sống và vài thứ phế thải, có chỗ cho một tấm chiếu và một cái bàn, cách mương nước thải của nhà máy EastWest nơi anh ta làm việc có vài mét. Hàng xóm mô tả anh ta là người lịch sự và nói chung trông sạch sẽ, từ đó có thể suy ra anh ta thường đến tắm ở nhà Rebeca ít nhất là trong mấy tháng gần đây. Chẳng ai biết anh ta ở đâu, nên trát bắt giữ chẳng được gửi đi đâu cả. Ở EastWest hồ sơ lao động của anh ta đã thất lạc, một chuyện cũng bình thường ở các nhà máy, bởi người lao động đến rồi đi suốt, nhân công quay vòng rất nhanh. Trong nhà, người ta thấy vài tạp chí thể thao, một cuốn tiểu sử về Flores Magón, mấy cái áo nỉ, một đôi xăng đan, hai cái quần soóc và ba tấm ảnh chụp các võ sĩ quyền Anh người Mexico cắt từ họa báo ra dán lên tường cạnh cái chiếu, tuồng như Pérez Ochoa muốn gương mặt và tư thế của các nhà vô địch đó khắc sâu vào võng mạc anh ta trước khi anh ta ngủ.

♣ ♣ ♣

Trong tháng Bảy năm 1994 không có người phụ nữ nào chết, nhưng xuất hiện một người đàn ông hay hỏi này hỏi nọ. Y thường đến vào khoảng giữa trưa Chủ nhật và đi lúc tối khuya Chủ nhật hoặc sáng sớm thứ Hai. Y vóc trung bình, tóc đen, mắt nâu, ăn mặc như cao bồi. Ban đầu y đi loanh quanh trên quảng trường trung tâm, làm như đang đo đạc, nhưng rồi y trở thành khách quen ở một số hộp đêm, đặc biệt là Pelícano và Domino. Y không bao giờ hỏi gì trực tiếp. Y trông như người Mexico, nhưng nói tiếng Tây Ban Nha với giọng Mỹ, từ vựng không nhiều lắm. Chơi chữ thì y không hiểu, mặc dù khi đã nhìn thấy mắt y rồi thì người ta cẩn thận không dám chơi chữ với y. Y nói tên y là Harry Magaña, hay ít nhất y viết tên như thế, nhưng y phát âm thành Magana, nên khi y nói tên thì người ta nghe ra thành Macgana, làm như cái thằng giòi bọ tự bú cặc mình này là dân Scotland. Lần thứ hai tới Domino y hỏi về một người tên Miguel hoặc Manuel, một tay trẻ, mới ngoài hai mươi, vóc cao ngần này, dáng người như vầy, một thằng dễ thương mặt mày tử tế, cái tay Miguel hay Manuel ấy, nhưng chẳng ai có thể hoặc muốn cho y biết điều gì. Một đêm khác y đánh bạn với một trong mấy bartender của hộp đêm và khi anh này xong việc ra khỏi quán thì Harry Magaña đang ngồi trong xe y đợi anh ta ở ngoài. Hôm sau tay bartender không đi làm được, nghe đâu bị tai nạn. Bốn ngày sau khi anh ta trở lại Domino với bộ mặt đầy vết bầm vết trầy vết xước, ai cũng đều sửng sốt. Anh ta mất ba cái răng, và nếu anh ta kéo áo lên người ta sẽ thấy vô số những vết bầm với màu sắc nổi bần bật trên cả lưng lẫn ngực. Anh ta không cho xem hai hòn dái, nhưng trên hòn bên trái vẫn còn vết bỏng thuốc lá. Dĩ nhiên, người ta hỏi anh ta bị tai nạn kiểu gì và anh ta trả lời đêm hôm ấy anh ta đi uống rượu đến khuya cùng Harry Magaña, đúng như vậy, và khi anh ta chia tay gã người Mỹ đặng đi về nhà trên phố Ba Trinh Nữ, một toán du côn khoảng năm thằng đã tấn công, đập anh ta một trận thừa sống thiếu chết. Cuối tuần kế tiếp Harry Magaña không ló mặt đến cả Dominio lẫn Pelícano, thay vì vậy y đến một ổ điếm gọi là Asuntos Internos, trên đại lộ Madero Norte, ngồi uống cocktail một chặp rồi đến chỗ bàn bi a chơi với một người tên là Demetrio Águila, một ông hộ pháp cao mét chín nặng hơn trăm mốt cân, y kết thân với ông này, bởi ông này từng sống ở Arizona và New Mexico, phụ việc ngoài đồng, ý là chăn nuôi gia súc thuê, và sau đó quay về Mexico bởi ông không muốn chết xa gia đình, ông nói, mặc dù sau đó ông thú nhận rằng gia đình, cái gọi là gia đình ấy, thật ra ông chẳng có hoặc có nhưng mà chẳng đúng nghĩa gia đình cho lắm, một bà em gái chắc đã sáu mươi tuổi và một cháu gái chẳng bao giờ lấy chồng, cả hai sống ở Cananea, cũng là quê ông, nhưng Cananea cũng đã trở nên quá nhỏ, ngột ngạt, heo hút, cho nên lâu lâu ông lại thấy có nhu cầu phải đến thành phố lớn, cái thành phố không bao giờ ngủ, và mỗi khi nhu cầu ấy đến ông liền nhảy lên chiếc xe tải nhỏ, chẳng nói năng gì với ai, có chăng chỉ nói với bà em gái rằng hẹn gặp lại, thế rồi bất kể lúc ấy mấy giờ ông sẽ rẽ sang xa lộ Cananea-Santa Teresa, một trong những xa lộ đẹp nhất ông từng thấy trong đời, nhất là về đêm, lái một mạch đến Teresa, nơi ông có một căn nhà nhỏ tiện nghi trên phố Luciérnaga, quận Rubén Darío, cậu ghé đấy thì cứ coi như nhà mình, bạn Harry à, một trong những căn nhà cổ vẫn còn sót lại sau bao nhiêu vật đổi sao dời và sau bao chương trình tái định cư hầu hết được chăng hay chớ. Demetrio Águila ắt phải độ sáu mươi lăm tuổi và thấy Harry Magaña có lẽ là người tốt. Thỉnh thoảng ông vào một gian buồng cùng một ả điếm, song phần lớn thời gian ông thích ngồi uống rượu và ngắm thiên hạ hơn. Harry hỏi ông có biết cô nào tên Elsa Fuentes không. Demetrio Águila muốn biết cô ta trông ra sao. Cao ngần này, Harry Magaña vừa nói vừa giơ tay lên ra dấu cho thấy cô cao chừng một mét sáu. Tóc nhuộm vàng. Xinh. Nhũ hoa đẹp. Tôi biết cô ta, Demetrio Águila nói, Elsita, phải, cô bé dễ thương lắm. Cô ấy có đây không? Harry Magaña muốn biết. Demetrio Águila bảo y là vừa nãy còn thấy cô ta trên sàn nhảy. Chỉ cho tôi cô ấy nhé, ông Demetrio, Harry nói, ông làm thế được không? Sao lại không, bạn hiền. Trong khi leo cầu thang dẫn lên sàn nhảy, Demetrio Águila hỏi có phải Harry có chuyện cần thanh toán với cô ta không. Harry Magaña lắc đầu. Elsa Fuentes đang ngồi bên bàn, cùng hai cô điếm khác và ba ông khách, đang cười ngặt nghẽo bởi chuyện gì đó mà một trong hai cô bạn nói thầm vào tai cho nghe. Harry Magaña tì một tay lên bàn còn tay kia giắt sau lưng quần. Y bảo Elsa đứng dậy. Cô điếm thôi cười và ngước mặt lên để nhìn y cho rõ. Các ông khách dợm nói gì đó nhưng khi thấy có Demetrio Águila đứng sau lưng Harry thì bèn nhún vai. Ta nói chuyện ở đâu được? Đi vào phòng nào đó đi, y ghé tai Elsa nói. Trên đường lên cầu thang Harry Magaña quay lại bảo Demetrio Águila không cần đi theo y. Dĩ nhiên rồi, ông này nói rồi quay trở xuống. Trong phòng Elsa Fuentes mọi thứ đều màu đỏ: tường, ga trải giường, chăn, gối, đèn, bóng đèn, thậm chí cả một nửa gạch lát sàn cũng đỏ. Qua cửa sổ, có thể quan sát cảnh nhộn nhịp của Madero-Norte tầm giờ này, đầy xe cộ qua qua lại lại và người chật cứng vỉa hè, chen giữa những xe bán đồ ăn nước quả và những nhà hàng rẻ tiền tranh nhau giành khách với những tấm bảng đen to đùng ghi nguệch ngoạc giá tiền và thường xuyên bị xóa đi viết lại. Khi Harry Magaña quay lại nhìn Elsa thì cô này bắt đầu cởi áo cởi xu chiêng. Quả là cặp nhũ hoa to thật, y nghĩ, nhưng y không định làm tình với cô đêm nay. Đừng cởi đồ, y nói. Cô gái ngồi xuống giường bắt tréo hai chân. Có thuốc lá không? cô hỏi. Y rút ra một gói Marlboro, đưa cô một điếu. Mồi cho tôi đi, cô nói bằng tiếng Anh. Y châm một que diêm chìa cho cô. Mắt Elsa Fuentes màu nâu nhạt đến nỗi nom vàng như sa mạc. Con nhỏ ngu ngốc, y nghĩ. Đoạn y hỏi về Miguel Montes, hắn ở đâu, đang làm gì, lần cuối cô gặp hắn là khi nào. Anh tìm Miguel à? cô điếm nói. Có thể cho tôi biết tại sao không? Harry Magaña không trả lời: y cởi thắt lưng ra quấn quanh tay phải, để cho đầu khóa đong đưa như cái chuông. Tao không có thì giờ, y nói. Lần cuối tôi gặp anh ấy là cách đây đâu chừng một tháng, có khi hai, cô nói. Nó làm việc ở đâu? Chả ở đâu nhưng mà đâu cũng làm. Anh ấy muốn lấy bằng, tôi cho là anh ấy đi học buổi tối. Nó kiếm tiền ở đâu? Việc linh tinh chỗ này chỗ kia, cô gái nói. Đừng nói láo với tao, Harry Magaña nói. Cô gái lắc đầu và phà một luồng khói lên trần nhà. Nó sống ở đâu? Tôi không biết, anh ấy chuyển nhà luôn. Cái thắt lưng rít lên trong không khí và để lại một dấu đỏ trên tay cô điếm. Cô chưa kịp hét thì Harry Magaña đã lấy tay bịt miệng cô đẩy cô nằm xuống giường. Mày hét là tao giết, y nói. Khi cô điếm ngồi dậy thì vết đỏ trên tay cô đang chảy máu. Lần sau sẽ là mặt mày, Harry Magaña nói. Nó sống ở đâu?

♣ ♣ ♣

Cái xác phụ nữ kế tiếp xuất hiện vào tháng Tám năm 1994, trên ngõ Las Ánimas, gần cuối con ngõ, nơi có bốn căn nhà bỏ hoang, nếu kể cả nhà của nạn nhân thì là năm. Cô không phải người lạ, nhưng lạ là chẳng ai biết tên cô. Trong căn nhà nơi cô sống một mình đã ba năm, người ta không tìm thấy giấy tờ cá nhân nào hay bất cứ thứ gì có thể giúp nhanh chóng xác minh nhân thân của cô. Vài người, không nhiều, biết tên riêng của cô là Isabel, nhưng hầu như ai cũng gọi cô là La Vaca - Bò Cái. Cô có thân hình săn chắc, cao một mét bảy mươi, da ngăm, tóc xoăn ngắn. Tuổi cô hẳn quãng ba mươi. Theo một số hàng xóm, cô làm nghề chài khách tại một hộp đêm ở khu trung tâm hoặc ở Madero-Norte. Theo những người khác thì Bò Cái chưa bao giờ làm việc. Thế nhưng không thể nói là cô thiếu tiền. Khi khám xét nhà cô, người ta thấy các ngăn kệ bếp chất đầy thức ăn đóng hộp. Cô còn có tủ lạnh (cô câu trộm điện lưới của thành phố, cũng như hầu hết hàng xóm trong con ngõ), bên trong chật cứng thịt, sữa, trứng, rau. Cô ăn mặc xuềnh xoàng, và không ai có thể nói cô làm bộ làm tịch. Cô có một cái tivi mới và đầu video mới, và cảnh sát đếm được hơn sáu chục cuốn băng, hầu hết là phim lãng mạn hay tâm lý tình cảm, mà cô đã mua trong mấy năm cuối đời. Ở phía sau nhà có một mảnh sân nhỏ trồng kín cây, trong một góc có một chuồng gà nhốt một con trống và mười con mái. Vụ này được giao cho Epifanio Galindo và thanh tra Ernesto Ortiz Rebolledo phối hợp đảm trách, Juan de Dios Martínez hỗ trợ khi cần, cả hai bên chẳng bên nào vui vẻ gì lắm khi nhận nhiệm vụ. Chẳng cần phải đào sâu động não gì ghê gớm cũng có thể phát hiện rằng cuộc đời Bò Cái thật khôn lường và đầy mâu thuẫn. Theo một bà già sống ở đầu ngõ thì cô là một phụ nữ hiếm có. Một phụ nữ đích thực. Đêm nọ một tay hàng xóm say rượu đánh vợ. Ai sống trên ngõ Las Ánimas cũng đều nghe thấy tiếng hét, lúc mạnh lúc yếu, như thể người phụ nữ bị đánh tơi bời kia đang trong ca khó sinh, một ca thuộc dạng sẽ làm cả người mẹ lẫn thiên thần bé nhỏ mất mạng. Nhưng người phụ nữ không phải đang đẻ, chỉ là chị ta đang bị đánh. Thế rồi bà già nghe thấy tiếng bước chân, liền tiến lại cửa sổ nhìn xem. Trong con ngõ tranh tối tranh sáng bà thấy hình dáng không thể lẫn với ai của Isabelita. Là ai khác thì chắc đã cứ thế đi thẳng về nhà, nhưng bà thấy Bò Cái dừng bước đứng đó. Lắng nghe. Ngay lúc đó thì những tiếng hét không to lắm, nhưng sau vài phút thì âm lượng lại tăng lên và suốt quãng thời gian đó, bà già mỉm cười nói với cảnh sát, Bò Cái đứng bất động, chờ đợi, như kiểu ai đó đang đi dọc con đường nào đấy thì bất ngờ nghe thấy bài hát ưa thích, bài hát buồn nhất thế gian, từ một cửa sổ vọng ra. Và đó là cửa sổ nào thì quá rõ. Chuyện xảy ra sau đó thật khó tin. Bò Cái bước vào trong căn nhà và khi đi ra thì cô đang nắm tóc gã đàn ông mà lôi. Chính mắt tôi thấy, bà già nói, và có lẽ ai cũng thấy, chỉ là xấu hổ quá nên không ai nói gì thôi. Cô đánh đấm như đàn ông, và nếu chị vợ gã say không ra khỏi nhà van xin cô vì tình yêu Chúa đừng đánh chồng chị nữa thì chắc Bò Cái đã giết chết gã rồi. Một hàng xóm khác làm chứng rằng cô là một phụ nữ dữ dằn, rằng cô hay về muộn, thường say bí tỉ, những hôm như thế chẳng ai sẽ thấy mặt mũi cô cho mãi tới sau năm giờ chiều. Epifanio chẳng cần mất nhiều thì giờ để xác định mối liên hệ giữa Bò Cái và hai người đàn ông đến nhà cô gần đây, một người gọi là Mariachi còn người kia là Con Quạ, hai người này thường ngủ lại hoặc ghé tìm cô hằng ngày, những lúc khác thì biến mất như chưa hề hiện hữu. Hai người bạn của Bò Cái có lẽ là nhạc công, không chỉ do biệt danh của người thứ nhất* , mà còn bởi thỉnh thoảng người ta lại thấy hai người đi qua con ngõ tay ôm đàn ghita. Trong khi Epifanio đến các hộp đêm có nhạc sống ở khu trung tâm Santa Teresa và khu Madero-Norte, thanh tra Juan de Dios Martínez tiếp tục điều tra trong ngõ Las Ánimas. Các kết luận anh rút ra được là: 1) Bò Cái là người tốt, theo ý kiến của phần đông phụ nữ. 2) Bò Cái không làm việc, nhưng chả bao giờ thiếu tiền. 3) Bò Cái có thể hết sức dữ dằn và có ý niệm rõ ràng về chuyện đúng sai, đành rằng chỉ là ý niệm sơ khai, nhưng vẫn là một ý niệm. 4) Ai đó cho Bò Cái tiền để đổi lấy cái gì đấy. Bốn ngày sau người ta bắt Mariachi và Con Quạ. Té ra họ là các nhạc công Gustavo Domínguez (Mariachi) và Renato Hernández Saldana (Con Quạ), và sau khi bị thẩm vấn tại phân khu số 3 họ tuyên bố họ đã gây ra vụ án mạng trên ngõ Las Ánimas. Nguồn cơn tội ác là một bộ phim mà Bò Cái muốn xem nhưng hai ông bạn cứ phá lên cười suốt không cho cô xem, vì cả ba đã say khướt rồi. Bò Cái khởi đầu trước, thụi Mariachi thình thịch. Thoạt đầu Con Quạ không muốn dây vào, nhưng khi Bò Cái bắt đầu tấn công anh ta thì anh ta phải tự vệ. Cuộc ẩu đả kéo dài và ngang sức, Mariachi nói. Bò Cái đã yêu cầu họ ra ngoài phố để khỏi làm hỏng bàn hỏng ghế, và họ nghe theo. Khi họ đã ra ngoài rồi, Bò Cái cho họ biết đây sẽ là một trận đánh đường hoàng, chỉ dùng nắm đấm thôi, và họ đồng ý, mặc dù họ biết cô bạn mình mạnh đến cỡ nào, cô ấy nặng gần tám chục ký, mà lại không có mỡ, toàn cơ bắp, Con Quạ nói. Ngoài phố, trong bóng tối, họ bắt đầu ục nhau túi bụi. Họ cứ thế đánh nhau trong gần nửa tiếng đồng hồ, đấm qua đấm lại, không ngừng lấy một phút. Khi trận đánh chấm dứt, Mariachi bị gãy mũi và máu từ cả hai mi mắt tóe ra còn Con Quạ than là gãy mất một xương sườn. Bò Cái nằm dài trên đất. Chỉ khi toan dựng cô dậy thì họ mới nhận ra cô đã chết. Vụ án được khép lại.

♣ ♣ ♣

Ít lâu sau đó thanh tra Juan de Dios Martínez đến gặp hai tay nhạc công ở trại tạm giam Santa Teresa. Anh mang cho họ thuốc lá và ít tạp chí rồi hỏi họ mọi chuyện thế nào. Tụi tôi không thể phàn nàn gì cả sếp ạ, Mariachi nói. Thanh tra bảo họ là anh có bạn bè trong tù, nếu họ muốn anh có thể giúp họ. Đổi lại ông muốn gì ở chúng tôi? Mariachi nói. Chỉ cần ít thông tin, thanh tra nói. Thông tin gì? Rất đơn giản. Các anh với Bò Cái là chỗ bạn bè, bạn thân. Tôi sẽ hỏi các anh vài câu, các anh trả lời, thế thôi. Nghe câu hỏi xem nào, Mariachi nói. Các anh có ngủ với Bò Cái không? Không, Mariachi nói. Còn anh? Tôi lại càng không, Con Quạ nói. Sao lại thế? Bò Cái không thích đàn ông, bản thân cô ấy đã đàn ông quá rồi còn gì, Mariachi nói. Các anh có biết tên đầy đủ của cô ta không? thanh tra hỏi. Tụi tôi nào có biết, Mariachi nói, tụi tôi chỉ toàn gọi là Bò Cái thôi. Ái chà, bạn thân ghê cơ, thanh tra nói. Sự thật là thế sếp à, Mariachi nói. Thế các anh có biết cô ta lấy đâu ra tiền không? thanh tra hỏi. Chính tụi tôi cũng tự hỏi thế sếp ạ, Con Quạ nói, vì tụi tôi cũng muốn kiếm thêm dăm đồng, nhưng Bò Cái chả bao giờ nói tới chuyện đó hết. Vậy cô ta không có bạn bè à, ý tôi là ngoài các anh và các bà các cô trong xóm ra? thanh tra hỏi. Có chứ, có lần tụi tôi đang ngồi trong xe tôi thì cô ấy trỏ cho tôi một cô bạn gái, Mariachi nói, một cô làm ở quán cà phê dưới phố, chả có gì đặc biệt, trông ốm o thì có, nhưng Bò Cái trỏ cô ta cho tôi thấy rồi hỏi tôi đã bao giờ thấy một phụ nữ đẹp đến thế chưa. Tôi bảo là chưa, để cho cô ấy khỏi sửng cồ lên, nhưng thực ra cô kia chả có gì đặc biệt hết. Cô kia tên gì? thanh tra hỏi. Cô ấy không nói tên cô kia, Mariachi nói, cũng không giới thiệu với tôi.

♣ ♣ ♣

« Lùi
Tiến »