Trong khi cảnh sát đang làm việc hầu làm sáng tỏ cái chết của Bò Cái, Harry Magaña tìm ra căn nhà Miguel Montes sống. Một chiều Chủ nhật nọ y canh chừng, và sau hai tiếng đồng hồ, đợi mãi mệt quá, y bèn phá khóa mà vào. Nhà chỉ có một phòng, một bếp và buồng tắm. Trên tường dán ảnh các diễn viên Hollywood. Trên một ngăn kệ là hai bức ảnh Miguel đóng khung, và quả thật anh ta là một gã có bộ mặt thật thà, điển trai, kiểu phụ nữ thích. Y lục lọi hết các ngăn kéo. Trong một ngăn y bắt gặp một cuốn séc và một con dao. Khi lật nệm trải giường lên y thấy có vài ba tạp chí và thư từ. Y lật qua mấy tờ tạp chí. Dưới bếp, bên dưới một cái tủ, y bắt gặp một phong bì cất bốn bức ảnh Polaroid. Một bức chụp một căn nhà giữa sa mạc, một căn nhà bằng gạch sống nom khiêm nhường, có một cổng vòm nhỏ và hai cửa sổ bé tí. Đỗ gần căn nhà là một chiếc xe tải nhỏ dạng truyền động bốn bánh. Một bức khác chụp hai cô gái quàng vai nhau, đầu nghếch sang trái, cùng nhìn vào ống kính với vẻ cực kỳ tự tin giống nhau, như thể họ vừa mới đặt chân lên hành tinh này hoặc đã gói ghém xong hành lý để đi. Bức này chụp ở một con phố đông người, hẳn là ở khu trung tâm Santa Teresa. Bức thứ ba chụp một chiếc máy bay nhỏ trên một đường băng đất, trong sa mạc. Đằng sau máy bay là một ngọn đồi. Mọi thứ khác đều bằng phẳng, chẳng có gì ngoài cát và cây bụi. Bức sau cùng chụp hai người đàn ông không nhìn vào ống kính và có lẽ đang xỉn hoặc đang phê, mặc sơ mi trắng, một người đội mũ, cả hai đang bắt tay nhau như đôi bạn chí thân. Y lùng khắp để tìm cái máy ảnh Polaroid song không thấy. Y cho mấy bức ảnh, thư từ, con dao vào túi rồi lục soát khắp nhà thêm lần nữa đoạn ngồi xuống một cái ghế mà đợi. Đêm đó Miguel Montes không về, đêm sau cũng không. Y nghĩ có thể tay này đã vội vàng rời thành phố hoặc đã chết rồi. Y thấy ngã lòng. Cũng may cho y, từ khi quen Demetrio Águila y không còn phải ở nhà trọ lẫn ở khách sạn hay trắng đêm lang thang hết quán bar này đến quán bar kia uống rượu, thay vì vậy y về ngủ ở một căn nhà trên phố Luciérnaga, quận Rubén Darío, nhà của bạn y, ông này đã trao chìa khóa cho y. Căn nhà nhỏ này, khác với những gì người ta có thể chờ đợi, luôn luôn sạch sẽ, tuy nhiên sự sạch sẽ của nó, sự ngăn nắp chỉn chu của nó, không hề có nét nữ tính nào: đó là một sự sạch sẽ khắc kỷ, hoàn toàn không duyên dáng thanh tao, giống như sự sạch sẽ chỉn chu trong một nhà tù hay trong tu viện, một sự sạch sẽ chỉn chu hướng tới đạm bạc chứ không phải tới sự phong nhiêu. Đôi lần, khi về nhà, y gặp Demetrio Águila đang pha cà phê olla dưới bếp và cả hai cùng ngồi trong phòng khách trò chuyện. Nhờ nói chuyện với người Mexico này mà y thấy an tâm. Người Mexico này nói về cái thời ông còn chăn bò ở nông trại Triple T và về mười cách khác nhau để thuần một con ngựa non hoang. Đôi khi Harry bảo ông nên đi cùng y đến thăm Arizona, người Mexico bèn trả lời rằng đâu cũng như nhau thôi, Arizona, Sonora, New Mexico, Chihuahua, như nhau hết, và Harry liền ngẫm nghĩ rồi cuối cùng thấy không thể chấp nhận rằng đâu cũng như nhau, nhưng y thấy buồn nếu nói ngược lại ý Demetrio Águila cho nên y không nói. Những lần khác thì họ cùng nhau ra ngoài và ông người Mexico có thể nhìn cận cảnh những phương thức mà tay Mẽo sử dụng, về lý thuyết ông không ưa sự nghiệt ngã của các phương thức đó, song ông tin là chúng đều có cái để biện minh. Đêm đó, khi Harry quay về căn nhà trên phố Luciérnaga, y thấy Demetrio Águila còn thức, và trong khi pha cà phê y bảo ông rằng manh mối cuối cùng của y đã bốc hơi. Demetrio Águila không nói gì. Ông rót cà phê rồi làm món trứng bác với thịt hun khói. Hai người bắt đầu lặng lẽ ăn. Tôi tin là chẳng có gì bốc hơi cả, ông người Mexico nói. Có những người những con thú và kể cả những vật này vật kia nữa, vì lý do này khác, đôi khi khiến ta có cảm tưởng là chúng muốn bốc hơi, muốn biến đi. Dù anh không tin, Harry ạ, nhưng đôi khi một tảng đá cũng muốn biến mất, chính mắt tôi thấy rồi. Nhưng Chúa không cho phép. Ngài không cho phép là bởi Ngài không thể cho phép được. Anh có tin Chúa không, Harry? Có, thưa ông Demetrio, Harry Magaña nói. Vậy thì hãy tin ở Chúa, Ngài không cho phép cái gì bốc hơi đi cả.
♣ ♣ ♣
Vào khoảng thời gian này Juan de Dios Martínez vẫn ngủ với bác sĩ Elvira Campos hai tuần một lần. Đôi khi viên thanh tra cảm thấy mối quan hệ này vẫn cứ duy trì được thì quả là phép lạ. Có những khó khăn, có những hiểu lầm, song họ vẫn ở bên nhau. Trên giường, sự lôi cuốn đến từ hai phía, anh tin như vậy. Anh chưa bao giờ ham muốn người phụ nữ nào như ham muốn bà. Giá như có quyền quyết định thì anh đã cưới bà giám đốc mà không cần nghĩ đến lần thứ hai. Đôi khi, những lúc đã lâu không gặp bà, anh bắt đầu nghĩ ngợi lan man về những khác biệt văn hóa giữa hai người, vốn bị anh xem là trở ngại chính. Chẳng hạn, bà giám đốc thích hội họa và có thể nhìn một bức tranh mà biết tác giả là ai. Những cuốn sách bà đọc anh chưa nghe tới bao giờ. Thứ nhạc bà nghe chỉ khiến anh mơ màng buồn ngủ, nghe một chặp là anh chỉ muốn nằm xuống đánh một giấc, song anh cẩn thận không làm vậy ở nhà bà. Ngay cả đồ ăn bà giám đốc thích cũng khác với đồ ăn anh thích. Anh cố gắng thích nghi với hoàn cảnh mới và đôi khi lại đến cửa hàng băng đĩa mua vài món của Beethoven và Mozart đem về nhà nghe một mình. Thường là anh ngủ gật. Song những giấc mơ của anh thì thanh bình và hạnh phúc. Anh mơ thấy mình cùng Elvira Campos sống chung trong một túp lều trên núi. Trong túp lều không có điện hay nước máy, cũng chẳng có gì gợi họ nhớ lại nền văn minh. Họ ngủ trên da gấu, chăn đắp là da sói. Và thỉnh thoảng Elvira Campos cất tiếng cười, rền vang, khi bà chạy vào trong rừng và anh chẳng thấy bà đâu nữa.
♣ ♣ ♣
Đọc thư đi, Harry, Demetrio Águila nói. Ông cần tôi đọc bao nhiêu lần thì tôi sẽ đọc bấy nhiêu. Bức thư đầu là của một người bạn cũ của Miguel sống ở Tijuana, dù phong bì không đóng dấu bưu điện, và là một tập hợp những kỷ niệm về cái thời hạnh phúc hai người chia sẻ cùng nhau. Thư nhắc tới bóng chày, gái làng chơi, xe ăn cắp, đánh nhau, rượu, và nhắc sơ qua ít nhất năm vụ án mà đáng lẽ đã khiến Miguel Montes và bạn anh ta phải ngồi tù. Thư thứ hai là của một người phụ nữ. Thư đóng dấu bưu điện ngay ở Santa Teresa. Người phụ nữ đòi tiền và yêu cầu trả cấp kỳ. Nếu không thì cứ đợi hậu quả, thư nói. Thư thứ ba, xét theo chữ viết, tuy không ký tên, vẫn là của người phụ nữ đó, chưa được Miguel trả nợ, và thư nói anh ta có ba ngày để ló mặt tới mang tiền theo, tới đâu anh ta biết rồi đó, còn nếu không - và ở lá thư này, theo Demetrio Águila, và theo cả Harry Magaña nữa, có thể nhận ra một thoáng cảm thông, thoáng cảm thông kiểu phụ nữ mà Miguel luôn có thể cậy vào, ngay cả trong giờ phút gian khó nhất - người phụ nữ gợi ý hắn hãy rời thành phố càng nhanh càng tốt và đừng nói gì với bất cứ ai. Thư thứ tư là của người bạn kia và có lẽ, dù dấu bưu điện không đọc được, là từ thành phố Mexico. Anh bạn này, vốn là người miền Bắc vừa chuyển về thủ đô, kể với Miguel những ấn tượng của mình về thành phố lớn ấy: anh nói về tàu điện ngầm, mà anh so sánh với một nấm mồ chung, về sự lạnh băng của người dân thủ đô, những kẻ chẳng bao giờ nhấc ngón tay lên giúp một ai, về chuyện đi lại khó khăn, vì sống ở thủ đô mà có một chiếc ô tô chó chết thì là việc hoàn toàn vô ích bởi đường sá cứ tắc hoài không dứt, về sự ô nhiễm và phụ nữ xấu đui xấu mù. Nhân viết về chuyện này anh liền kể một số chuyện tiếu lâm tục tĩu. Thư sau cùng là của một cô gái sống ở Chucarit, gần Navojoa, phía Nam Sonora, và, đúng như có thể dự đoán, là một thư tình. Cô nói dĩ nhiên cô chờ anh, cô sẽ nhẫn nại chờ, và mặc dù cô muốn gặp anh đến chết được song bước đầu tiên phải là của anh còn cô thì không vội gì cả. Nghe như là thư của một cô nàng ở quê nhà, Demetrio Águila nói. Chucarit, Harry Magaña nói. Tôi có linh cảm anh chàng của chúng ta sinh ở Chucarit, ông Demetrio à. Anh có tin là tôi cũng định nói y như vậy không, Demetrio Águila nói.
♣ ♣ ♣
Đôi khi Juan de Dios Martínez ngồi nghĩ anh muốn biết về cuộc đời của bà giám đốc đến nhường nào. Chẳng hạn, những tình bạn của bà. Bạn bè bà là ai? Anh chẳng biết ai trong số đó, ngoại trừ dăm ba nhân viên ở trung tâm y tế, những người mà bà giám đốc cư xử tử tế song luôn luôn giữ khoảng cách. Bà có bạn bè không? Anh ngờ là có, mặc dù bà chẳng bao giờ nói tới chuyện ấy. Một đêm, sau khi họ làm tình, anh nói anh muốn biết nhiều hơn về cuộc đời bà. Bà giám đốc nói anh đã biết nhiều quá rồi còn gì. Juan de Dios Martínez không nài nỉ.
♣ ♣ ♣
Bò Cái bị giết vào tháng Tám năm 1994. Vào tháng Mười nạn nhân kế tiếp được phát hiện ở bãi rác mới của thành phố, một đống thối rữa lên men dài ba cây số rộng một cây số rưỡi trong một thung lũng về phía Nam hẻm núi Ojito, bên rìa xa lộ Casas Negras, nơi ngày ngày có một đoàn hơn trăm xe tải tới đổ rác. Mặc dù kích thước lớn như thế song bãi rác này chẳng bao lâu nữa sẽ hóa ra nhỏ và người ta đã nói tới chuyện, xét vì các bãi rác bất hợp pháp đang mọc lên như nấm, cần phải xây dựng một bãi rác mới ở ven rìa hoặc về phía Tây khu Casas Negras. Theo giám định pháp y, cô gái chết trạc mười lăm mười sáu tuổi, tuy nhiên ý kiến cuối cùng thuộc về chuyên viên bệnh học, vị này khám nghiệm cô gái ba ngày sau đó và tán thành với đồng nghiệp của mình. Cô đã bị hãm hiếp theo đường âm đạo và hậu môn rồi sau đó bị siết cổ. Cô cao một mét bốn mươi. Những người lượm rác phát hiện ra cô bảo rằng cô mặc áo ngực, váy denim xanh dương, mang giày thể thao Reebok. Đến khi cảnh sát tới nơi thì áo ngực và váy denim xanh dương chẳng còn thấy đâu nữa. Trên ngón đeo nhẫn bàn tay phải của cô có một chiếc nhẫn vàng nạm đá đen, khắc tên một học viện tiếng Anh ở trung tâm thành phố. Cô được chụp ảnh rồi sau đó cảnh sát đến chỗ học viện ngôn ngữ kia, song không ai nhận ra cô gái chết. Anh được đăng trên các tờ El Heraldo del Norte và La Voz de Sonora nhưng cũng không có kết quả gì. Thanh tra José Márquez và thanh tra Juan de Dios Martínez thẩm vấn giám đốc trường trong suốt ba giờ và hình như còn động tay động chân, vì luật sư của ông giám đốc đâm đơn kiện rằng thân chủ của mình bị ngược đãi. Vụ kiện chẳng đi đến đâu song cả hai thanh tra bị đại diện bang và cảnh sát trưởng khiển trách. Một bản tường trình về hành vi của họ cũng được gửi cho lãnh đạo cảnh sát tư pháp ở Hermosillo. Hai tuần sau xác cô gái chưa xác định được danh tính được chuyển đi để làm phình thêm nguồn cung xác cho sinh viên khoa Y của Đại học Santa Teresa.
♣ ♣ ♣
Đôi khi thanh tra Juan de Dios Martínez ngạc nhiên trước khả năng làm tình cừ khôi không biết mệt mỏi của Elvira Campos. Bà làm tình giống như sắp chết tới nơi, anh nghĩ. Đã hơn một lần anh muốn bảo bà không cần phải thế, bà không cần phải hùng hục thế kia, rằng với anh chỉ cần cảm thấy bà bên cạnh, chỉ cần khẽ chạm vào bà là đủ rồi, song, gì chứ chuyện tình dục thì bà giám đốc rất thực tế và đâu ra đó. Bà hoàng của anh, đôi khi Juan de Dios Martínez nói với bà, kho báu của anh, tình yêu của anh, và bà, trong bóng tối, bảo anh im đi rồi mút cho kỳ hết giọt cuối cùng của anh - của tinh dịch anh? của linh hồn anh? của chút sự sống thảm hại mà anh cảm thấy còn sót lại ở mình? Họ làm tình, trong vùng tranh tối tranh sáng, bà từng nói là muốn vậy. Đôi lần anh những muốn bật đèn lên để ngắm bà, nhưng lại thôi, vì không muốn làm bà phật lòng. Đừng bật đèn, có lần bà bảo anh vậy, và anh thấy dường như Elvira Campos đọc được ý nghĩ của anh.
♣ ♣ ♣
Vào tháng Mười một, trên tầng hai một tòa nhà đang xây dựng, vài công nhân phát hiện thấy một xác phụ nữ trạc ba mươi, cao một mét năm mươi, da ngăm, tóc nhuộm vàng, có hai răng bịt vàng, mặc độc áo phông và quần lót. Cô đã bị hãm hiếp và siết cổ. Không có giấy tờ gì. Tòa nhà nằm trên phố Alondra, quận Podestá, ở khu thượng Santa Teresa. Do vị trí của công trình nên các công nhân không ngủ đêm lại đó như ở các công trường xây dựng khác, về đêm có một bảo vệ tư trông coi tòa nhà. Khi bị thẩm vấn, anh này thú nhận là, trái với các điều khoản trong hợp đồng lao động, ban đêm anh ta toàn ngủ vì ban ngày anh ta làm việc tại một nhà máy, và có một số đêm anh ta chỉ ở lại công trường đến hai giờ sáng rồi thì về nhà, trên đại lộ Cuauhtémoc, quận San Damián. Cuộc thẩm vấn khá gay gắt, do cánh tay phải của cảnh sát trưởng là Epifanio Galindo tiến hành, tuy nhiên ngay từ đầu đã thấy rõ người gác đêm nói sự thật. Người ta giả định, chẳng phải không có cơ sở, rằng nạn nhân là người mới đến vùng này, và ở đâu đó ắt phải có một cái vali đựng quần áo của cô. Đinh ninh như vậy, người ta tiến hành thẩm tra các nhà trọ và khách sạn ở khu trung tâm, nhưng chẳng nơi nào đang có một vị khách biến mất cả. Ảnh cô được đăng trên các báo của thành phố, song không có kết quả gì: hoặc chẳng ai biết cô hoặc ảnh không rõ hoặc không ai muốn dính tới cảnh sát. Người ta kiểm tra các trình báo có người mất tích ở các bang khác trong cả nước, song chẳng có mô tả nào trùng khớp với người chết xuất hiện ở tòa nhà trên phố Alondra. Chỉ có một điều rõ ràng, hay ít nhất là rõ ràng đối với Epifanio: người phụ nữ này không phải người ở đâu đó quanh đấy, cô không bị siết cổ và hãm hiếp ở đâu đó quanh đấy, vậy thì tại sao lại vứt xác cô ở khu thượng thành phố, trên những con phố đêm đêm cảnh sát hay nhân viên bảo vệ tư luôn cần mẫn đi tuần? Sao lại phải cất công đem xác lên tầng hai một tòa nhà đang xây dựng, chịu mọi rủi ro mà việc đó kéo theo, kể cả là bị ngã xuống cầu thang hẵng còn chưa có tay vịn, trong khi nếu hợp lý ra thì phải vứt xác trong sa mạc hoặc ven một bãi rác? Suốt hai ngày anh nghĩ về chuyện đó. Trong khi đang ăn, trong khi đang nghe cộng sự nói về chuyện thể thao hoặc phụ nữ, trong khi lái chiếc xe của Pedro Negrete, trong khi ngủ. Cho tới khi anh quyết định rằng dù có nghĩ bao nhiêu thì anh cũng chẳng lần ra được câu trả lời thỏa ý, thế là anh thôi không nghĩ về chuyện đó nữa.
♣ ♣ ♣
Đôi khi, nhất là vào ngày nghỉ, thanh tra Juan de Dios Martínez thích đi ra ngoài cùng với bà giám đốc. Tức là, anh muốn thiên hạ thấy anh đi với bà, ăn ở một nhà hàng trên phố cùng bà, không phải nhà hàng rẻ tiền cũng chẳng phải nhà hàng đắt tiền gì lắm mà là một nhà hàng bình thường nơi những cặp bình thường vẫn đến ăn và là nơi anh hầu như chắc chắn sẽ tình cờ gặp ai đó anh quen biết, người mà anh có thể giới thiệu bà giám đốc một cách tự nhiên, thoải mái, điềm tĩnh, đây là bạn gái tôi, Elvira Campos, bác sĩ tâm thần. Ăn xong có lẽ họ sẽ quay về căn hộ của bà để làm tình rồi đánh một giấc. Và đêm đến họ sẽ lại đi chơi, lái chiếc BMW của bà hoặc chiếc Cougar của anh, đi xem phim hoặc đi uống ở một quán ngoài trời nào đó hoặc đi nhảy đầm ở một trong số các hộp đêm ở Santa Teresa. Hạnh phúc quá vẹn toàn, Juan de Dios Martínez nghĩ. Elvira Campos, ngược lại, thậm chí không muốn nghe nói tới chuyện cho bàn dân thiên hạ thấy họ cặp với nhau. Gọi điện tới trung tâm tâm thần, cái đó thì được, với điều kiện nói ngắn thôi. Rồi gặp riêng hai tuần một lần. Một ly whiskey hoặc vodka Absolut và phong cảnh ban đêm. Những lời tạm biệt khô không khốc.
♣ ♣ ♣
Cũng trong tháng Mười một năm 1994 ấy, người ta phát hiện ra xác chết cháy sém một phần của Silvana Pérez Arjona ở một lô đất trống. Cô mười lăm tuổi, mảnh dẻ, da ngăm, cao mét sáu. Mái tóc đen của cô dài quá vai, mặc dù khi người ta phát hiện ra cô thì nửa mái tóc đã bị cháy rụi. Phát hiện xác là mấy phụ nữ sống ở quận Las Flores đến phơi quần áo ven lô đất, và chính họ đã gọi cứu thương. Xe cứu thương do một người trạc bốn lăm tuổi lái, phụ xế là một cậu không quá hai mươi chắc là con ông. Khi xe tới nơi, người đàn ông lớn tuổi hơn hỏi các phụ nữ đó và những người hiếu kỳ xúm xít đứng quanh rằng có ai quen biết người chết không. Vài người xúm lại phía trước cô, nhìn chăm chăm mặt cô rồi lắc đầu. Không ai biết cô. Vậy thì thưa các vị, nếu tôi là các vị tôi sẽ đi chỗ khác, nhân viên y tế lớn tuổi nói, vì cớm sẽ muốn thẩm vấn tất cả mọi người đấy. Ông không nói to, nhưng giọng ông vang khắp, thế là mọi người lục tục tản đi. Giờ thì có vẻ như chẳng còn ai trên lô đất, song hai nhân viên y tế mỉm cười vì họ biết người ta vẫn đang nấp đâu đó nhìn ra. Trong khi một trong hai người, cậu trẻ hơn, ngồi trong xe gọi bộ đàm cho cảnh sát, người lớn tuổi hơn thả bộ dọc mấy con phố bẩn thỉu của quận Las Flores đến một quầy bán taco mà chủ nhân có biết ông. Ông mua sáu suất carnita, ba suất có kem chua ba suất không, cả sáu đều cực cay, và hai lon Coca-Cola. Đoạn ông trả tiền và thong thả quay lại xe cứu thương, ở đó cậu trẻ nom giống con ông đang tựa người vào thanh cản sốc đọc truyện tranh. Khi cảnh sát đến, cả hai đã ăn xong và đang hút thuốc. Trong ba giờ đồng hồ cái xác nằm trên lô đất trống. Theo giám định pháp y cô gái đã bị hãm hiếp. Hai vết dao đâm thẳng vào tim là nguyên nhân tử vong. Sau đó kẻ giết người đã cố đốt xác phi tang, nhưng hình như hắn đã làm như mèo mửa hoặc ai đó đã bán cho hắn nước thay vì xăng hoặc là hắn đã hoảng quá. Ngày hôm sau người ta biết được cô gái đã chết tên là Silvana Pérez Arjona, công nhân một nhà máy ở khu công nghiệp General Sepúlveda, không xa nơi xác cô được phát hiện. Cho đến một năm trước đây Silvana vẫn sống với mẹ và bốn anh chị em, tất cả đều là công nhân tại các nhà máy khác nhau quanh thành phố. Cô là người duy nhất được đi học, tại trường trung học Profesor Emilio Cervantes, quận Lomas del Toro. Tuy nhiên, vì lý do kinh tế, cô phải thôi học và một trong các bà chị tìm cho cô chỗ làm ở Horizon W&E, tại đó cô gặp tay công nhân Carlos Llanos, ba mươi lăm tuổi, bắt đầu hẹn hò với anh ta và cuối cùng chuyển đến sống ở nhà anh ta, trên phố Prometeo. Theo bạn bè của Llanos, anh ta là người tốt tính, có uống rượu nhưng không say sưa bê tha, thì giờ rảnh thì đọc sách, điều này hơi không bình thường và khiến anh ta có vòng hào quang của một người đặc biệt. Theo mẹ của Silvana, chính điều này đã quyến rũ con gái bà, người chưa từng có bạn trai nếu không kể vài ba mối tình ngây thơ lúc còn đi học. Họ ở cùng nhau bảy tháng. Llanos đọc sách, phải, và đôi khi hai người ngồi trong phòng khách nhỏ nhà anh ta bàn luận về những gì họ đang đọc, song anh ta đọc thì ít uống thì nhiều và là một người cực kỳ ghen tuông và bất nhất khó lường. Những lần về thăm mẹ, đôi lúc Silvana thú nhận anh ta có đánh cô. Đôi khi hai người, hai mẹ con, ngồi ôm nhau khóc cả giờ, không bật đèn. Vụ bắt giữ Llanos diễn ra không mấy khó khăn và là vụ đầu tiên Lalo Cura tham gia. Hai xe cảnh sát Santa Teresa xịch đến, họ gọi cửa, Llanos mở cửa, họ chẳng nói chẳng rằng quật anh ta xuống sàn, còng tay anh ta đưa về đồn, ở đó người ta định buộc cho anh ta cả tội giết người phụ nữ vô danh trên phố Alondra hay ít nhất là người phụ nữ được phát hiện ở bãi rác mới của thành phố, nhưng không sao làm được, chính Silvana Pérez là chứng cứ ngoại phạm của anh ta, bởi vào những ngày xảy ra các vụ đó có người thấy anh ta đang đi cùng cô, lòng vòng quanh khu công viên đổ nát của quận Carranza nơi đang có lễ hội, thậm chí ngay cả họ hàng của Silvana cũng nhìn thấy anh ta đi cùng cô. Còn vào các buổi đêm thì, cho đến một tuần trước anh ta vẫn toàn làm ca đêm ở nhà máy, các đồng nghiệp có thể làm chứng cho anh ta. Về vụ giết Silvana thì anh ta nhận tội và chỉ thấy hối tiếc vì đã cố đốt xác cô. Bé Silvana của tôi hay lắm, anh ta nói, bé không đáng bị đối xử như thế.
♣ ♣ ♣
Cũng vào quãng thời gian này trên đài truyền hình Sonora xuất hiện một nhà tiên tri tên là Florita Almada, nhưng những người tin theo bà, số này không nhiều lắm, thì gọi bà là La Santa - Bà Thánh. Florita Almada bảy mươi tuổi và chỉ mới đây thôi, đâu như từ mười năm trước, bà mới được phú cho thiên nhãn. Bà thấy được những thứ không ai thấy được. Bà nghe được những thứ không ai nghe được. Và bà biết cách tìm ra lời giải thích rành mạch cho tất cả những gì xảy ra với bà. Trước khi trở thành nhà tiên tri bà từng là nhà thảo dược, nghề đích thực của bà, hoặc ấy là bà nói vậy, bởi vì tiên tri có nghĩa là người nhìn thấy trước, nhưng bà đôi khi chẳng thấy gì, hình ảnh thì mờ, âm thanh thì nhiễu, tuồng như cái ăng ten đã nảy ra trong não bà không được lắp đặt đúng hoặc là bị bắn thủng lỗ chỗ hoặc là làm bằng giấy bạc và gió muốn bạt hướng nào thì cứ tha hồ bạt. Thành thử mặc dù tự nhận là nhà tiên tri và để cho các môn đồ gọi mình là nhà tiên tri song bà vẫn tin tưởng hơn vào cỏ hoa, vào ăn uống lành mạnh và cầu nguyện. Chẳng hạn, bà khuyên những ai huyết áp cao thôi đừng ăn trứng ăn pho mát và bánh mì trắng, vì các thức ăn ấy có lượng natri cao, mà natri thì hút nước và làm tăng tích nước trong cơ thể, do đó làm tăng huyết áp. Rõ như ban ngày, Florita Almada nói. Cho dù bạn thích ăn điểm tâm bằng món trứng chiên xốt cà chua Mexico hay trứng bác xốt cà chua Mexico đến mấy đi nữa, nhưng nếu đã bị huyết áp cao thì tốt nhất là thôi ăn trứng đi. Và nếu ai đã thôi trứng thì cũng có thể thôi thịt cá, và có thể quyết tâm chỉ ăn cơm với trái cây. Cơm và trái cây, món đó rất tốt cho sức khỏe, nhất là khi người ta đã qua tuổi bốn mươi. Bà cũng phản đối việc tiêu thụ quá nhiều chất béo. Theo bà, tổng lượng chất béo nạp vào cơ thể không bao giờ được vượt quá hai lăm phần trăm tổng năng lượng từ thức ăn. Lý tưởng nhất là lượng tiêu thụ chất béo nên ổn định trong khoảng từ mười lăm đến hai mươi phần trăm. Nhưng người có công ăn việc làm có thể tiêu thụ tới tám, chín mươi phần trăm chất béo, và nếu công việc của họ là kiểu ổn định thì lượng tiêu thụ chất béo có thể lên tới trăm phần trăm, thế thì tai họa, bà nói. Ngược lại, lượng tiêu thụ chất béo ở người thất nghiệp nằm trong khoảng từ ba đến bốn mươi phần trăm, như thế cũng là tai họa nốt, vì những người tội nghiệp ấy không chỉ thiếu ăn mà còn thiếu chất dinh dưỡng, nếu quý vị hiểu ý tôi, Florita Almada nói, quả thực thiếu ăn là tai họa mà thiếu chất dinh dưỡng cũng là tai họa chẳng kém, có lẽ tôi nói thế không rõ ý lắm, ý tôi là ăn bánh tortilla có ớt tốt cho sức khỏe hơn là ăn thịt ba chỉ chó hay thịt ba chỉ mèo hay thịt ba chỉ chuột, bà nói như có ý xin lỗi. Mặt khác, bà cũng chống lại các giáo phái, các lang băm và tất cả những kẻ vô liêm sỉ toàn phỉnh gạt đám dân nghèo. Bà cho rằng botanomancia, hay thuật nhìn cây cỏ đoán tương lai, là trò bịp bợm. Tuy nhiên bà vẫn biết thuật ấy, và có lần bà đã giảng giải cho một tay thầy thuốc hạng ba về ba bốn nhánh khác nhau của thuật tiên tri này, cụ thể là, botanoscopia, dựa trên hình dáng, chuyển động và phản ứng của cây cối, chính nó lại phân thành cromiomancia và licnomancia, nghiên cứu củ hành hoặc quả cây đâm chồi, và dendromancia, nhìn cây mà đoán, rồi filomancia, nghiên cứu lá cây, rồi xilomancia, vốn cũng là một phần của botanoscopia, tiên đoán dựa trên gỗ và nhánh cây, đẹp và nên thơ đấy, song nó liên quan đến chuyện ru ngủ một phần quá khứ cùng với dưỡng nuôi và xoa dịu hiện tại nhiều hơn là chuyện tiên đoán tương lai. Rồi đến botanomancia cleromántica, phân ra thành quiamobolía, dùng vài hạt đậu trắng và một hạt đậu đen, cùng với rabdomancia và palomancia, chuyên dùng các thanh gỗ. Các thuật này thì bà chẳng có lý do gì để chống lại nên cũng chẳng có gì để nói về chúng. Rồi thì có farmacología vegetal, tức là thuật sử dụng những loài cây gây ảo giác và cây chứa ankaloit, các thuật này bà cũng chẳng có gì chống lại để mà nói. Người ta muốn làm gì với cái đầu mình thì cứ làm thôi. Có những người thực hành tốt thuật đấy nhưng cũng có những người, nhất là đám thanh niên đã lười biếng còn đầy thói hư tật xấu, thì không. Bà chẳng nên phán rằng thế nào tốt thế nào không. Rồi đến botanomancia meteorológica, thuật này mới thật thú vị, chỉ có điều rất ít người, số này chỉ đếm trên đầu ngón tay, nắm vững được, đấy là thuật tiên đoán dựa trên quan sát phản ứng của các loài cây. Chẳng hạn: nếu hoa anh túc nâng cánh hoa lên thì thời tiết sẽ tốt. Chẳng hạn: nếu cây bạch dương bắt đầu rung rung thì tức là có điều bất ngờ sắp xảy ra. Chẳng hạn: nếu bông hoa nhỏ có cánh trắng và một tràng hoa nhỏ xíu màu vàng, tên là hoa pijulí, mà nghiêng đầu thì trời sẽ nóng. Chẳng hạn: nếu một loài hoa khác, cánh hơi vàng và đôi khi màu hồng, ở Sonora được gọi là hoa long não, tôi không biết tại sao, còn ở Sinaloa thì kêu là hoa chim ruồi bởi vì nhìn xa nó giống như con chim ruồi, đấy, nếu cái hoa ấy mà khép lại thì trời sẽ mưa. Cuối cùng ta có radiestesia, thuật này hồi đầu dùng một cây gậy gỗ phỉ còn ngày nay thay bằng quả lắc, về thuật này Florita Almada chẳng có gì để nói. Cái nào mình biết thì biết, cái nào chưa biết thì tốt nhất là học. Còn chừng nào chưa học thì đừng nói gì, trừ phi nhằm làm rõ hơn con đường học hỏi của mình. Chính cuộc đời bà, bà giải thích, là một quá trình học hỏi không ngừng. Mãi đến năm hai mươi tuổi - nói thế cho tròn - bà mới bắt đầu học đọc học viết. Bà sinh ở Nácori Grande và không được đi học như trẻ con bình thường bởi mẹ bà bị mù nên bà phải chăm sóc mẹ. Còn về anh chị em ruột, những người bà vẫn lưu giữ những hồi ức mơ hồ và thân ái, thì bà chẳng biết gì. Những cơn cuồng phong của cuộc đời đã khiến anh chị em bà tứ tán khắp mọi miền đất nước và có khi bây giờ họ đã nằm dưới mộ cả rồi. Thời thơ ấu của bà, dẫu có những gian khó tai ương điển hình cho một gia đình nhà nông, vẫn hạnh phúc. Tôi yêu đồng quê, bà nói, mặc dù bây giờ tôi thấy hơi khó chịu vì không còn quen với đám sâu bọ nữa. Cuộc sống ở Nácori Grande, tuy nhiều người chắc không tin, đôi khi có thể rất hấp dẫn. Dẫn đường cho bà mẹ mù cũng có thể thành niềm vui. Nuôi gà cũng có thể thành niềm vui. Giặt quần áo cũng có thể thành niềm vui. Nấu ăn cũng có thể thành niềm vui. Điều duy nhất khiến bà tiếc nuối là không được đi học. Thế rồi, vì những lý do không đáng nói ra ở đây, họ dời đến sống ở Villa Pesqueira, nơi mẹ bà qua đời còn bà thì, tám tháng sau đó, kết hôn với một người đàn ông bà hầu như chẳng biết gì, một người hay lam hay làm và khả kính, tôn trọng mọi người, lớn tuổi hơn bà khá nhiều, thực tế là khi hai người làm lễ ở nhà thờ thì ông ba mươi tám tuổi còn bà mới mười bảy, tức là ông lớn hơn bà những hăm mốt tuổi!, ông làm nghề buôn bán gia súc, chủ yếu là dê và cừu nhưng thỉnh thoảng cũng mua bán cả bò và lợn con, do hoàn cảnh công việc mà ông thường xuyên phải đi đây đi đó khắp các làng trong vùng, như San José de Batuc, San Pedro de la Cueva, Huépari, Tepache, Lampazos, Divisaderos, Nácori Chico, Chorro và Napopa, men theo những con đường đất hay lối mòn do thú qua lại tạo thành hay mấy đường tắt lượn quanh những núi non khúc khuỷu giống như mê cung. Việc làm ăn khá khả quan. Đôi khi bà đi cùng ông trong những chuyến đi ấy, không nhiều, bởi người ta cho rằng một nhà buôn gia súc mà đi xa cùng một phụ nữ, nhất là với vợ ông ta, thì không phải phép, nhưng dù vậy thỉnh thoảng bà vẫn đi. Đó là một cơ hội hiếm hoi để bà nhìn thế giới. Để nhìn thấy những phong cảnh khác, những phong cảnh có vẻ như giống hệt, song nếu nhìn kỹ, với cặp mắt mở to, thì hóa ra vẫn khác nhiều so với phong cảnh ở Villa Pesqueira. Cứ sau trăm mét là thế giới lại đổi thay, Florita Almada nói. Nếu nói có những nơi chốn giống hệt như nhau thì thế là nói láo. Thế giới này như một cơn chấn động. Dĩ nhiên, bà cũng muốn có con cái, song tự nhiên (tự nhiên nói chung hoặc là bản tính tự nhiên của chồng bà, bà nói, cười to) không cho bà gánh cái trách nhiệm ấy. Cái thời gian đáng lẽ dành cho một em bé, bà dùng cho việc học. Ai dạy bà đọc? Trẻ con dạy tôi, Florita Almada nói, chẳng có thầy cô nào tốt hơn đâu. Bọn trẻ con mang theo sách tập đọc, đến nhà bà để được đãi bánh bột ngô. Đời là thế, ngay khi bà nghĩ rằng cơ hội được học hành hay được trở lại trường (chuyện này khó xảy ra, bởi vì ở Villa Pesqueira người ta nghĩ Trường Buổi Tối là tên một ổ điếm ở ngoại ô San José de Pimas) đã vĩnh viễn tan biến, thì bà lại học đọc học viết được mà hầu như chẳng gặp khó khăn gì. Từ đó trở đi bà đọc bất cứ thứ gì rơi vào tay mình. Bà ghi vào sổ tay những ấn tượng và ý nghĩ nảy sinh khi đọc. Bà đọc báo và tạp chí cũ, đọc các tờ rơi cổ động chính trị thi thoảng được đám thanh niên để ria mép lái xe tải phát cho dân. Bà đọc báo mới, đọc số sách ít ỏi bà tìm được và số sách chồng bà đã hình thành thói quen mang về sau mỗi lần đi vắng do bận buôn bán gia súc ở những làng xa, sách ấy đôi khi ông mua không phải vài cuốn mà hàng cân. Năm cân. Mười cân. Có lần ông mang về hai chục cân. Và bà không bỏ sót cuốn nào, bà đọc hết, và không một cuốn nào mà bà không từ đó rút ra được một bài học. Thỉnh thoảng bà đọc những tờ báo từ thủ đô, đôi khi bà đọc sách sử, đôi khi bà đọc sách về tôn giáo, đôi khi bà đọc những cuốn sách tục tĩu khiến bà đỏ mặt, ngồi một mình nơi bàn, các trang sách được chiếu sáng nhờ ánh đèn dầu dường như nhảy múa hoặc mang những hình thù ma quỷ, đôi khi bà đọc sách về kỹ thuật trồng nho hoặc xây lắp nhà tiền chế, đôi khi bà đọc tiểu thuyết kinh dị hoặc truyện ma, bất kỳ thứ văn bản nào được đấng thiêng liêng đặt vào tầm tay bà, và lần nào bà cũng học được gì đấy, đôi khi rất ít, nhưng luôn luôn còn lại gì đó, giống như một mảy vàng giữa núi rác, hay là, để chuốt cho tinh cái ẩn dụ này, Florita nói, giống như một con búp bê đã thất lạc rồi lại được tìm thấy trong núi rác chẳng biết của ai. Dù sao đi nữa, bà không phải người có giáo dục, ít nhất bà không trải qua cái người ta gọi là sự giáo dục kinh điển, bởi vậy bà mong được lượng thứ cho điều này, tuy nhiên bà không thấy có gì đáng phải xấu hổ, vì cái gì bị Chúa lấy đi từ chỗ này thì sẽ được Mẹ đồng trinh trả về ở chỗ khác, và một khi đã thế thì chỉ còn cách lấy làm vui với thế giới này thôi. Và năm tháng cứ qua như thế. Một ngày kia, chồng bà, do những điều kỳ bí vốn vẫn được một số người gọi là luật cân bằng, đâm ra mù. Cũng may bà đã có kinh nghiệm chăm sóc người khiếm thị nên những năm cuối đời của nhà buôn gia súc trôi qua êm ả, bởi vợ ông trông nom ông rất khéo léo và ân cần. Sau đó bà còn lại một mình, và khi ấy bà đã tầm bốn mươi tư tuổi. Bà không đi bước nữa, không phải vì không có người ngấp nghé, mà bởi bà thích ở một mình hơn. Việc bà làm là mua một khẩu súng lục 38 ly, bởi vì khẩu súng chồng bà để lại dùng không tiện lắm, hơn nữa đến lúc này bà đã tiếp quản nghề buôn bán gia súc của ông chồng. Nhưng cái khó nằm ở chỗ, bà giải thích, để mua và đặc biệt để bán súc vật thì cần phải có một sự nhạy cảm nhất định, một chút tập luyện nhất định, một thiên hướng mù quáng nhất định mà bà không sao có được. Theo chân đàn gia súc men theo những con đường mòn trên núi là chuyện rất thú vị, còn bán đấu giá chúng ngoài chợ hay ở lò sát sinh thì thật kinh khủng. Thế nên chẳng bao lâu bà bỏ nghề và tiếp tục đi đây đi đó, cùng con chó của ông chồng quá cố và khẩu súng của bà và đôi khi với đám gia súc của bà, chúng già đi theo bà, song lần này bà đi với tư cách người chữa bệnh, một trong số nhiều người như vậy ở bang Sonora đầy ơn phước, và trong các chuyến đi bà thu thập thảo mộc hoặc ghi lại những ý nghĩ của mình trong khi đàn gia súc gặm cỏ, như Benito Juárez đã làm hồi còn là cậu bé chăn cừu, ôi, Benito Juárez, con người mới tuyệt vời sao, chính trực làm sao, thông thái làm sao, lại còn là chàng trai hấp dẫn vô cùng nữa, về phần đời này của ông người ta chẳng nói gì nhiều, một phần bởi người ta không biết mấy, phần khác là do người Mexico hiểu rõ cứ hễ nhắc đến trẻ con là họ có xu hướng nói toàn chuyện tầm phào ba láp. Bà thì, xin nói rõ nếu ai chưa biết, có nhiều điều để nói về phần đời ấy của ông. Trong số hàng ngàn cuốn sách bà đã đọc, trong đó có sách về lịch sử Mexico, lịch sử Tây Ban Nha, lịch sử Colombia, lịch sử các tôn giáo, lịch sử các giáo hoàng ở Roma, những thành tựu của NASA, bà chỉ tình cờ đọc được nhõn mấy trang khắc họa một cách tuyệt đối trung thành, quá sức trung thành, những gì cậu bé Benito Juárez ắt đã cảm thấy, cảm thấy hơn là nghĩ, khi cậu dẫn đàn cừu đi tìm nơi ăn cỏ, đôi khi đi suốt mấy ngày mấy đêm, như lẽ thường. Trong cuốn sách bìa vàng đó mọi điều đều được trình bày sáng rõ đến mức đôi khi Florita Almada nghĩ tác giả ắt phải là bạn của Benito Juárez và cậu bé đã tin cậy kể tận tai người này mọi trải nghiệm thời thơ ấu. Nếu điều này là có thể. Nếu như có thể thông đạt cho người khác những gì ta cảm thấy khi đêm xuống những vì sao xuất hiện và ta chỉ có một mình giữa chốn mênh mông, và những sự thực của cuộc sống (của cuộc sống ban đêm) bắt đầu diễu qua từng cái một, chừng như đang tắt lịm dần hoặc như thể kẻ nào đó ở giữa đất trời đang tắt lịm dần hoặc chừng như có một căn bệnh lạ đang lưu chuyển trong máu mà tự chúng ta không biết. Người làm gì trên đó hở trăng, giữa bầu trời? cậu mục đồng hỏi trong một bài thơ. Người làm gì, hỡi vầng trăng im lặng? Người không mệt sao khi cứ phải lui tới mãi những con đường trên bầu trời? Cuộc đời của người giống như đời kẻ mục đồng, thức dậy cùng tia sáng đầu tiên đặng dẫn đàn gia súc ra bãi thả. Thế rồi, mệt mỏi, y nghỉ ngơi khi tối đến, không mong đợi gì hơn. Đời kẻ mục đồng có ích gì cho y, và ích gì cho người cái cuộc đời của người? Nói tôi nghe, người mục đồng tự nhủ, Florita Almada nói bằng giọng nồng nàn xúc cảm, nó đi về đâu vậy, sự lang thang ngắn ngủi của tôi, và hành trình bất tử của người? Con người sinh ra là khổ đau và đã sinh ra tức là có nguy cơ chết đi, bài thơ nói. Rồi nữa: Nhưng sao lại đưa ra ánh sáng, sao lại giữ cho sống kẻ mà ta cần phải an ủi bởi cái sự rằng y đã sinh ra? Rồi nữa: Nếu sống là đau khổ thì sao cứ chịu đựng mãi làm gì? Rồi nữa: Vầng trăng tinh khiết này, đấy chính là tình trạng chết. Song người không bao giờ chết, và có thể những gì tôi nói chẳng đáng gì đối với người. Rồi nữa, và ngược lại: Người, kẻ mãi mãi lang thang đơn độc, trầm tư đến vậy, có thể là người hiểu rõ sự sống này trên trần thế, nỗi thống khổ và ưu phiền của chúng tôi, có thể người biết rõ cái chết này là gì, sự tái nhợt cuối cùng này của khuôn mặt, rời xa đất, bỏ lại tất cả những gì thân thuộc thương yêu. Rồi nữa: bầu không bất tận làm gì, sự trong xanh yên bình sâu thẳm bất tận làm gì? Nỗi cô đơn mênh mông này có ý nghĩa gì? Và tôi là ai? Rồi nữa: tôi chỉ biết và chỉ cảm thấy rằng từ những vòng quay vĩnh cửu và từ xác thân dễ hoại của tôi người ta hẳn sẽ rút ra được cho mình cái gì đó tốt lành chân phúc. Rồi nữa: Nhưng đời tôi lại chẳng ra gì. Rồi nữa: già, tóc bạc, ốm đau, chân đất và gần như trần trụi, mang gánh nặng trên vai, lên núi xuống thung, băng qua đá nhọn, qua bãi cát qua vùng chăn thả, giữa bão giông, khi nóng như thiêu đốt rồi sau đó là khi đông giá, chạy, chạy nhanh nữa, qua sông, qua đầm lầy, ngã xuống, vùng dậy rồi lại hùng hục chạy, không ngừng nghỉ, tả tơi, đẫm máu, cuối cùng cũng đến được nơi mà con đường và bao nhiêu khổ cực gắng công cuối cùng đã dẫn tới: vực thẳm khôn cùng, khủng khiếp một khi ta đã rơi vào thì tất cả sẽ bị lãng quên. Rồi nữa: ôi vầng trăng trinh bạch, đời người là thế đó. Rồi nữa: ôi bầy gia súc đang ngơi nghỉ, hẳn chúng bay không biết gì về nỗi cùng khốn của mình, ôi sao mà ta ghen với chúng bay! Không phải chỉ vì bay đi đó đi đây như thể hoàn toàn thanh thản vô lo và mọi thống khổ, mọi đau đớn, mọi khiếp sợ điếng hồn bay đều thật chóng quên, mà còn bởi bay không bao giờ biết chán. Rồi nữa: Khi bay nằm dưới bóng râm, trên cỏ, bay thật bình an hạnh phúc và gần như suốt cả năm bay cứ thế thôi, không hề biết chán là gì. Rồi nữa: ta cũng ngồi trên cỏ, dưới bóng râm, nhưng một nỗi âu lo chiếm lấy tâm ta, như có một cây kim chọc vào ta. Rồi nữa: ấy vậy, nhưng ta chẳng mong muốn gì và cho đến giờ không có lý do gì để than van. Rồi đến chỗ này, sau khi thở dài sườn sượt, Florita Almada nói rằng có thể rút ra một số kết luận: 1) rằng những ý nghĩ chiếm lấy tâm trí một kẻ mục đồng có thể dễ dàng vượt quá tầm kiểm soát bởi đó là bản tính con người. 2) rằng đương đầu với sự buồn chán là một hành vi đòi hỏi chí can trường và Benito Juárez đã làm thế và bà cũng đã làm thế và cả hai khi mặt đối mặt với sự buồn chán đều đã tận mắt thấy những điều kinh khủng mà bà không muốn nhắc lại. 3) rằng bài thơ ấy, giờ bà nhớ lại, là về một chàng mục đồng châu Á, chứ không phải một mục đồng Mexico, nhưng có vậy thì cũng chẳng khác gì, bởi mục đồng ở đâu mà chẳng như nhau. 4) rằng nếu đúng là rốt cuộc mọi khổ cực gắng công đều dẫn tới một vực sâu thăm thẳm thì trước hết bà có hai điều muốn khuyên, một là đừng lừa dối người, hai là đối xử tốt với người. Ngoài chuyện đó ra thì còn có thể bàn tiếp. Và bà cứ làm thế, nghe và nói, cho đến cái ngày Reinaldo qua nhà xin bà tư vấn về một người yêu đã bỏ anh, thế rồi anh ra khỏi nhà bà mang theo một thực đơn ăn kiêng và một lô thảo dược an thần cùng một lô thảo dược thơm khác mà anh giắt vào bốn góc nhà, chúng cho anh cái mùi vừa của nhà thờ vừa của tàu vũ trụ, Reinaldo nói với bạn bè như vậy khi họ đến nhà chơi, mùi mới thánh làm sao chứ, nó làm mình thư giãn đồng thời vui vẻ trong lòng, đến nỗi nó khiến mình đâm muốn nghe nhạc cổ điển, các cậu có thấy vậy không? Và bạn bè Reinaldo bắt đầu nài anh đưa họ đến gặp Florita Almada, ôi Reinaldo à, tôi cần Florita Almada, đầu tiên là một người sau đó là người khác rồi người khác nữa, như cả một dây những kẻ ăn năn đội áo trùm đầu màu tía hay màu đỏ son tuyệt đẹp hay kẻ sọc, Reinaldo bèn cân nhắc thiệt hơn, thôi được rồi, các cậu, tớ đồng ý, tớ sẽ giới thiệu các cậu với Florita, và một tối thứ Bảy nọ, khi Florita đến, căn hộ của Reinaldo được trang hoàng rình rang cho dịp này đến nỗi người ta để cả một hộp piñata* ngoài ban công, bà không có vẻ khó chịu hoặc không hài lòng, mà chỉ hỏi sao các cậu lại cất công đến thế vì tôi, đãi tôi mấy món tuyệt vời này, ai nấu vậy, tôi muốn biết để còn khen người ta, bánh này ngon quá, tôi chưa bao giờ được ăn cái bánh nào như thế, cái này là dứa phải không? Nước ép trái cây tươi, bàn ăn bày biện không chê vào đâu được, các cậu trai sao mà dễ thương đến thế, sao mà chu đáo quá chừng, xem kìa, thậm chí còn mang quà đến cho tôi nữa, dù hôm nay có phải sinh nhật tôi đâu, thế rồi bà đi vào phòng ngủ của Reinaldo và các chàng trai lần lượt theo vào để trút hết nỗi lòng mình, và ai bước vào nặng trĩu sầu lo thì khi bước ra đều tràn trề hy vọng, này Reinaldo, cậu kiếm đâu ra bà ấy thế, bà ấy đúng là kho báu, bà ấy là vị thánh, tôi bật khóc là bà khóc theo tôi, tôi không nói được nên lời thế là bà đoán ra luôn tôi mất ăn mất ngủ vì chuyện gì, bà khuyên tôi thử dùng glicôxit sunphua, người ta nói thứ ấy kích thích biểu mô thận và lợi tiểu, bảo tôi nên thử chữa bằng thủy liệu pháp, tôi thấy bà đổ mồ hôi ra máu, tôi thấy trán bà đính đầy hồng ngọc, bà ru tôi trên ngực bà và hát ru tôi ngủ và khi thức dậy tôi cảm thấy như mình vừa tắm hơi ra, Bà Thánh thấu hiểu những bất hạnh của Hermosillo hơn bất kỳ ai, Bà Thánh cảm thông với những ai bị tổn thương, với trẻ con bị lạm dụng và nhạy cảm, với những người bị hãm hiếp và nhục mạ, với những ai là bung xung cho người ta cười cợt trêu đùa, ai bà cũng cho một lời âu yếm, một lời khuyên thiết thực, những kẻ khác người cảm thấy mình như diva khi bà nói chuyện với họ, kẻ ngu ngơ thấy mình mẫn tuệ, người béo bớt gầy, người bệnh AIDS mỉm cười. Thế cho nên chẳng mất mấy năm Florita Almada, người ai cũng quý yêu, đã được lên truyền hình. Song khi Reinaldo mời bà lần đầu bà bảo không, bà chẳng quan tâm, bà không có thì giờ, ngộ nhỡ có người cắc cớ hỏi bà kiếm đâu ra tiền, mà bà thì chưa sẵn sàng nộp thuế, hoàn toàn chưa!, tốt nhất để hôm khác đi, bà chẳng là ai cả. Nhưng mấy tháng sau, khi Reinaldo thôi không nài nữa, chính bà lại gọi điện bảo anh bà muốn có mặt trong show truyền hình ấy bởi bà có một thông điệp muốn đưa ra cho mọi người. Reinaldo muốn biết đó là thông điệp gì thì bà liền nói gì đó về những linh thị, về trăng, những bức tranh trên cát, những thứ bà đọc ở nhà, dưới bếp, ngồi nơi bàn bếp sau khi khách khứa đã về, tờ báo, các tờ báo, những thứ bà đọc, những cái bóng quan sát bà từ bên kia cửa sổ, mặc dù đó không phải những cái bóng, vì thế nên không phải chúng đang nhìn, đúng ra đó là đêm, đôi khi đêm có vẻ như bị ấm đầu, bà cứ nói theo kiểu đó khiến cho Reinaldo chẳng hiểu đầu cua tai nheo gì, nhưng bởi thực lòng yêu quý bà nên anh vẫn tìm được cho bà một suất trong chương trình kế của anh. Studio truyền hình nằm ở Hermosillo và đôi khi tín hiệu ở Santa Teresa cũng mạnh song lúc khác thì lại lẫn đầy những hình ảnh ma quái cùng với sương mù và tạp âm nền. Lần đầu Florita Almada lên sóng, tín hiệu tồi đến nỗi ở Santa Teresa hầu như chẳng ai xem được bà, mặc dù Một giờ với Reinaldo là một trong các show được nhiều người ưa thích nhất ở Sonora. Người ta lên chương trình cho bà xuất hiện sau một người nói giọng bụng ở Guaymas tới, y là một tay tự học từng thành danh ở thủ đô, ở Acapulco, Tijuana và San Diego, và tin rằng con rối của anh ta là một vật sống. Vừa mới xuất hiện là y nói vậy liền. Con rối chó chết của tôi, nó sống đấy. Mấy lần nó toan trốn khỏi tay tôi. Mấy lần nó định giết tôi. Nhưng hai tay nó nhỏ quá không cầm súng cầm dao được, bóp cổ tôi lại càng không. Khi Reinaldo nhìn thẳng vào ống kính mà nở cái nụ cười ma lanh độc nhất vô nhị của mình, nói rằng trong các bộ phim về những tay nói giọng bụng luôn luôn xảy ra cùng một số chuyện, nói cách khác là, chuyện con rối nổi loạn chống lại chủ, thì tay nói giọng bụng ở Guaymas, bằng thứ giọng ngắc ngứ của kẻ bị người ta hiểu lầm vô cùng nhiều, liền đáp rằng mấy chuyện đó y biết rõ, y xem mấy phim ấy rồi, có khi còn xem nhiều hơn cả Reinaldo hay bất cứ ai ở khán phòng đây, và y chỉ nghĩ được mỗi một điều rằng sở dĩ có nhiều phim đến thế là vì những chuyện nổi loạn như vậy vốn phổ biến hơn nhiều so với y nghĩ hồi đầu, đến nỗi bây giờ nó lan tràn ra khắp thế giới. Trong thâm tâm, tất cả những người nói giọng bụng chúng tôi, cách này hay cách khác, đều biết rằng một khi những thằng chó chết kia đạt đến một cấp độ sinh khí nào đó, chúng liền sống thật. Chúng hút lấy sự sống từ các buổi diễn. Chúng hút lấy sự sống từ mao quản của người nói giọng bụng. Chúng hút lấy sự sống từ tiếng vỗ tay. Và nhất là từ sự cả tin của khán giả! Có đúng vậy không, Andresito? Đúng, thưa ngài. Mày ngoan hay thỉnh thoảng mày là một thằng oắt con độc ác khốn nạn, hử Andresito? Ngoan, ngoan cực, ngoan ơi là ngoan. Và mày chưa bao giờ tìm cách giết tao chứ hả, Andresito? Chưa bao giờ, chưa bao giờ, chưa bao giờ! Hóa ra là Florita Almada rất bị ấn tượng trước cái vẻ ngây thơ của thằng rối gỗ và câu chuyện của tay nói giọng bụng, bà đâm khoái y ngay lập tức, và khi đến lượt bà thì việc đầu tiên bà làm là tặng cho y đôi lời khích lệ, dù có những lời nhắc khéo của Reinaldo, anh này mỉm cười nháy mắt với bà như muốn nói thằng cha nói giọng bụng hơi bị ấm đầu, tốt nhất bà lờ y đi đừng để ý làm gì. Nhưng Florita không lờ y đi, bà hỏi han sức khỏe y, bà hỏi mỗi đêm y ngủ mấy tiếng, mỗi ngày y ăn mấy bữa và ăn ở đâu, và tuy các câu trả lời của nghệ sĩ nói giọng bụng hầu hết mang ý châm biếm, nói với khán giả để chờ tiếng vỗ tay hoặc chút cảm thông chóng qua, song Bà Thánh cũng có được thừa đủ thông tin đặng mà khuyến cáo (khá là sốt sắng) rằng y nên đến gặp một nhà châm cứu có đôi hiểu biết về thuật não châm, một kỹ thuật tuyệt hảo nhằm chữa các chứng loạn thần kinh xuất phát từ hệ thần kinh trung ương. Đoạn bà liếc sang Reinaldo, anh này ngồi trên ghế nhấp nha nhấp nhổm, và bà bắt đầu nói về linh thị mới nhất của bà. Bà nói bà đã thấy những người phụ nữ chết và những cô gái chết. Một sa mạc. Một ốc đảo. Như trong mấy bộ phim về Binh đoàn Lê dương Pháp ở hải ngoại và người Ả Rập. Một thành phố. Bà nói là ở thành phố đó người ta giết những cô gái nhỏ. Trong khi nói, vừa cố nhớ lại linh thị của mình một cách chính xác nhất, bà nhận ra mình sắp sửa rơi vào trạng thái xuất thần và thế là bà cứng đờ người lại, bởi vì đôi khi, không phải thường xuyên, những cơn xuất thần của bà có thể dữ dội và kết cuộc là người đồng bò lê giữa đất, mà bà không muốn chuyện ấy xảy ra vì đây là lần đầu tiên bà lên tivi. Nhưng cơn xuất thần, cơn hôn ám, nó đang diễn tiến, bà cảm thấy nó trong ngực bà và trong dòng máu chảy qua bà, chẳng cách nào ngăn nó lại được dù bà căng ra chống chọi dù bà vã mồ hôi và mỉm cười với Reinaldo, anh này hỏi bà có thấy khỏe không, Florita, bà có cần trợ lý của anh đem cho bà một ly nước không, liệu ánh đèn sân khấu và cái nóng có làm bà thấy khó ở không. Bà sợ không dám nói, bởi vì đôi khi thứ đầu tiên bị hồn nhập là lưỡi của bà. Và dẫu có muốn, vì làm thế sẽ nhẹ lòng lắm, bà vẫn sợ không dám nhắm mắt, bởi vì chính khi nhắm mắt lại bà sẽ nhìn thấy những gì mà cái vong linh đang nhập vào bà nhìn thấy, cho nên Florita cứ mở mắt thao láo còn miệng thì ngậm chặt (mặc dù cong lên thành một nụ cười dễ chịu và bí ẩn), quan sát nghệ sĩ nói giọng bụng, y cứ nhìn qua nhìn lại từ bà sang con rối của y, tuồng như y chả hiểu chuyện gì đang xảy ra song y ngửi được mùi nguy hiểm, khoảnh khắc bừng ngộ, cái khoảnh khắc không mong đợi và sau đó không hiểu nổi, thứ bừng ngộ vụt lóe lên và chỉ để lại cho ta một thứ duy nhất chắc chắn là sự rỗng không, một cái rỗng không nhanh chóng chuội thoát khỏi ngay cả cái từ mang chứa nó. Và nghệ sĩ nói giọng bụng biết cái này nguy hiểm. Nguy hiểm nhất là cho những người như y, quá nhạy cảm, mang tính khí nghệ sĩ, các vết thương vẫn còn há miệng. Và khi Florita đã chán nhìn nghệ sĩ nói giọng bụng rồi bà nhìn cả Reinaldo, và anh này bảo bà: đừng sợ, Florita, đừng cả thẹn, cứ coi cái show này như là nhà bà, chỉ là ở xa nhà bà thôi. Và bà cũng liếc nhìn, mặc dù ít hơn, về phía cử tọa, ở đấy có vài người bạn của bà ngồi, đợi nghe bà có gì để nói. Tội nghiệp, bà nghĩ, chắc họ đang thấy thương cho mình lắm. Và rồi bà không cưỡng nổi nữa mà rơi vào trạng thái xuất thần. Bà nhắm mắt. Bà mở miệng. Lưỡi bà bắt đầu cử động. Bà nhắc lại điều bà đã nói: một sa mạc lớn, một thành phố lớn, ở phía Bắc bang chúng ta, những cô gái bị giết, những phụ nữ bị giết. Thành phố nào? bà tự hỏi. Nào, thành phố nào vậy? Mình phải biết tên cái thành phố địa ngục này. Bà tập trung trong mấy giây. Nó ở ngay trên đầu lưỡi mình. Tôi không cấm đoán bản thân đâu, thưa quý bà quý cô, những lúc như thế này lại càng không. Nó là Santa Teresa! Nó là Santa Teresa! Giờ tôi thấy rõ rồi. Phụ nữ và các cô gái trẻ đang bị giết ở đó. Người ta đang giết những đứa con gái của tôi ở đó! Con gái của tôi! Con gái của tôi! bà vừa thét vừa hất một cái khăn quàng tưởng tượng lên trên đầu và Reinaldo thấy một cơn ớn lạnh chạy dọc cột sống từ trên xuống như là xuống thang máy, cũng có thể đi lên, hoặc cả hai cùng một lúc. Cảnh sát chả làm gì hết, sau đó vài giây bà nói, bằng một giọng khác, trầm hơn và nam tính hơn, lũ cảnh sát khốn nạn chả làm gì hết, chúng chỉ nhìn, nhưng nhìn cái gì? chúng nhìn cái gì? Đến đây Reinaldo ra sức kêu gọi bà hãy bình tĩnh lại và tìm cách buộc bà thôi nói, nhưng không được. Tránh xa tôi ra, đồ bợ đỡ, Florita nói. Phải báo cho thống đốc bang biết, bà nói bằng giọng khản đặc. Đây không phải chuyện đùa. José Andrés Briceno phải nghe được chuyện này, ông ấy phải biết người ta đang làm gì với phụ nữ thành Santa Teresa tươi đẹp. Đẹp và cần cù lao động. Sự im lặng này cần phải bị phá vỡ, thưa các bạn. José Andrés Briceho là người tốt, người thông tuệ, ông ấy sẽ không cho phép ngần ấy kẻ giết người cứ nhởn nhơ không ai trừng phạt. Sự vô cảm khủng khiếp nhường ấy và bóng tối khủng khiếp nhường ấy. Thế rồi, bằng giọng một bé gái, bà nói: một số người bị bắt đưa đi trên những chiếc xe màu đen, nhưng người ta giết họ khắp nơi. Đoạn bà nói, bằng giọng bình thường: chẳng lẽ người ta không thể ít nhất thì cũng để các cô trinh nữ được yên hay sao? Một thoáng sau bà nhảy phắt ra khỏi ghế, hình ảnh ấy được các máy quay của Studio 1 ở Đài truyền hình Sonora thu trọn vẹn, đoạn bà sụm xuống sàn như bị đạn tiện ngang. Reinaldo và nghệ sĩ nói giọng bụng lật đật tới giúp bà, nhưng khi họ cố đỡ bà dậy, mỗi người quàng một tay, Florita gầm lên (cả đời chưa bao giờ Reinaldo thấy bà như vậy, một cơn cuồng nộ ghê gớm): đừng đụng vào tôi, lũ côn đồ máu lạnh! Đừng bận tâm tới tôi! Các người không hiểu tôi vừa nói gì sao? Đoạn bà đứng dậy, quay về phía cử tọa, lại gần Reinaldo hỏi chuyện gì vừa xảy ra vậy, và một lát sau bà xin lỗi, nhìn thẳng vào ống kính.
♣ ♣ ♣
Vào khoảng thời gian này Lalo Cura tìm thấy vài cuốn sách trong đồn cảnh sát, những cuốn sách chẳng ma nào đọc dường như số trời đã định là làm đồ ăn cho chuột, để trên mấy cái kệ đầy những báo cáo và hồ sơ bị lãng quên. Cậu đem sách về nhà. Có tám cuốn và lúc đầu, để không gây rắc rối, cậu chỉ lấy ba: Kỹ thuật dành cho huấn luyện viên cảnh sát của John C. Klotter, Người chỉ điểm trong nghề điều tra cảnh sát của Malachi L. Hamey và John C. Cross, Các phương pháp điều tra tội phạm hiện đại của Harry Söderman và John O’Connell. Một chiều nọ, khi cậu cho Epifanio biết cậu đã làm gì thì Epifanio liền nói đó là sách gửi từ thủ đô hoặc Hermosillo và không ai đọc. Thế là cậu đem luôn năm cuốn còn lại về nhà. Cuốn cậu thích nhất (cũng là cuốn cậu đọc đầu tiên) là Các phương pháp điều tra tội phạm hiện đại. Tuy nhan đề là thế nhưng sách viết lâu rồi. Ấn bản đầu tiên ở Mexico là từ năm 1965. Bản cậu đang có là tái bản lần thứ chín, năm 1992. Trên thực tế, trong lời bạt cho ấn bản thứ tư được in lại trong bản này, Harry Söderman than thở rằng cái chết của người bạn hiền, chánh thanh tra John O’Connell quá cố, đã dồn toàn bộ gánh nặng sửa chữa bản thảo lên vai ông. Và ông nói tiếp: trong quá trình hiệu đính [cuốn sách này] tôi nhớ lại mà vô cùng nuối tiếc niềm cảm hứng, kinh nghiệm phong phú và sự hợp tác quý báu mà thanh tra O’Connell quá cố đã đem lại. Có lẽ, Lalo Cura nghĩ trong khi đọc cuốn sách dưới ánh sáng tù mù của bóng đèn độc nhất trong căn hộ lúc đêm khuya hoặc trong những tia nắng đầu tiên rọi qua cửa sổ mở, rằng chính ông Söderman này cũng đã chết một thời gian rồi mà cậu chẳng biết. Nhưng điều đó không quan trọng, ngược lại, chính sự thiếu chắc chắn càng thêm thúc đẩy cậu đọc. Cậu đọc và thỉnh thoảng bật cười trước những câu ông người Thụy Điển và ông người Mỹ nói còn đôi lúc khác thì cậu chết lặng, như thể vừa bị bắn một viên vào đầu. Cũng vào khoảng thời gian này, vụ ám sát Silvana Pérez được phá nhanh chóng đã che mờ phần nào những thất bại trước đó của cảnh sát và tin này được loan báo trên truyền hình Santa Teresa cũng như hai tờ báo lớn của thành phố. Một số cảnh sát có vẻ hân hoan hơn hẳn bình thường. Ở một quán cà phê Lalo Cura gặp mấy tay cảnh sát trẻ, khoảng mười chín hai mươi tuổi, đang bình luận vụ này. Sao thằng Llanos lại hiếp con nhỏ được, hắn là chồng con nhỏ cơ mà? một người nói. Những người kia cười rộ, nhưng Lalo Cura xem câu hỏi đó là nghiêm túc. Hắn hiếp cô là vì hắn ép buộc cô, vì hắn bắt cô làm một việc cô không muốn, cậu nói. Nếu không thì đã chẳng là hãm hiếp. Một trong số các cảnh sát trẻ hỏi cậu đang định đi học Luật phải không. Muốn thành luật sư hả, cậu em? Không, Lalo Cura nói. Mấy người kia nhìn cậu tuồng như cậu là thằng đần. Cùng lúc đó, tháng Mười hai năm 1994 không có thêm vụ giết phụ nữ nào, ít nhất là không có vụ nào mà người ta biết, và năm đó kết thúc yên bình.
♣ ♣ ♣
Trước khi năm 1994 kết thúc, Harry Magaña đến Chucarit và tìm được cô gái đã viết thư tình cho Miguel Montes. Tên cô là María del Mar Enciso Monies và cô là em họ Miguel. Cô mười sáu tuổi và yêu anh ta từ khi cô mười hai. Cô người mảnh dẻ, mái tóc hạt dẻ cháy nắng. Cô hỏi Harry Magaña tại sao muốn gặp anh họ cô, y liền bảo y là bạn và muốn nói chuyện về khoản tiền mà Miguel cho y mượn đêm nọ. Sau đó cô gái giới thiệu y với cha mẹ cô, hai người có một cửa hàng thực phẩm nhỏ bán cá muối, cá này họ đích thân đi mua của ngư dân, lái xe dọc bờ biển từ Huatabampo đến Los Médanos, đôi khi còn xa hơn về phía Bắc, đến Isla Lobos, ở đó hầu hết ngư dân là người Anh điêng và bị ung thư da, chuyện đó có vẻ chẳng khiến hai người bận tâm mấy, và chất cá đầy xe xong họ liền quay về Chucarit tự muối lấy cá. Harry Magaña thấy mến cha mẹ María del Mar. Hôm đó y ở lại ăn tối. Nhưng trước tiên y ra ngoài lái xe vòng vòng Chucarit cùng cô gái; tìm chỗ nào có thể mua gì đó, một món quà nhỏ cho cha mẹ cô, những người đã mở rộng cửa đón y với lòng hiếu khách thế kia. Y chẳng tìm được chỗ nào ngoài một quán bar đang mở cửa, đành mua ở đó một chai vang. Cô gái đợi y ở ngoài. Khi y đi ra cô hỏi y có muốn đến xem nhà của Miguel không. Harry bảo có. Họ lái xe về vùng ven Chucarit. Dưới bóng mấy cái cây là một căn nhà cũ xây bằng gạch sống. Chả ai sống ở đây cả, María del Mar nói. Harry Magaña xuống xe thì thấy một chuồng lợn, một bãi quây súc vật có hàng rào gỗ mục nát, một chuồng gà có gì đó đang chuyển động bên trong, chắc con chuột hay con rắn. Đoạn y đẩy cửa thì mùi thú chết xộc vào mặt y. Y có linh cảm chẳng lành. Y về xe tìm đèn pin rồi quay lại ngôi nhà. Lần này María del Mar đi theo y. Trong phòng y phát hiện thấy nhiều chim chết. Y lia đèn pin lên trên. Xuyên qua những xà nhà bằng cành cây có thể nhìn thấy một phần gác xép chất hàng đống những vật không thể xác định được hoặc chất thải tự nhiên không thể xác định được. Người đầu tiên ra đi là Miguel, María del Mar nói trong bóng tối. Thế rồi mẹ anh ấy chết và cha anh ấy cầm cự một mình được thêm một năm ở đây. Một hôm ông biến mất. Mẹ em nói ông tự sát rồi. Cha em thì nói ông lên miền Bắc tìm Miguel. Hai người có con cái nào khác không? Có, María del Mar nói, nhưng mấy người kia chết khi còn bé tí. Cô cũng là con một à? Harry Magaña hỏi. Không, gia đình em cũng thế. Các anh chị em đều bị bệnh, chưa đầy sáu tuổi là chết cả. Tôi xin lỗi, Harry Magaña nói. Phòng kế bên còn tối hơn. Nhưng nó không bốc mùi chết chóc. Lạ thật, Harry nghĩ. Nó toát mùi sự sống. Có thể là sự sống treo lơ lửng, những chuyến ghé qua chóng vánh, tiếng cười độc địa, nhưng là sự sống. Khi họ ra khỏi căn nhà cô gái chỉ lên bầu trời Chucarit đầy sao. Em có hy vọng ngày nào đó Miguel sẽ về không? Harry Magaña hỏi cô. Em hy vọng anh ấy về, nhưng không biết liệu anh ấy có về không. Theo em giờ này cậu ta ở đâu? Em không biết, María del Mar nói. Ở Santa Teresa? Không, nếu anh ấy đang ở đó thì anh đã không đến Chucarit này, đúng không? Đúng, Harry Magaña nói. Trước khi rời đi, Harry cầm tay cô bảo Miguel Montes không xứng đáng với cô. Cô gái mỉm cười. Cô có răng nhỏ. Nhưng em thì xứng với anh ấy, cô nói. Không, Harry Magaña nói, cô xứng với người tốt hơn thế nhiều. Đêm đó, sau khi ăn tối ở nhà cô gái, y lại lái xe về phía Bắc. Rạng sáng thì y đến Tijuana. Về người bạn của Miguel Montes ở Tijuana y chỉ biết mỗi một điều, anh ta tên là Chucho. Y đã định tìm trong các quán bar và sàn nhảy ở Tijuana một bồi bàn hoặc một tay pha chế rượu có tên như thế, song y không có thì giờ. Mà y cũng chẳng biết ai ở thành phố này có thể giúp y. Đến giữa trưa y gọi điện cho một người quen cũ ở California. Tớ đây, Harry Magaña đây, y nói. Người kia nói anh ta chả biết Harry Magaña nào hết. Năm năm trước tụi mình học cùng khóa ở Santa Barbara, Harry Magaña nói, cậu nhớ không? Mẹ kiếp, dĩ nhiên rồi, cảnh sát trưởng ở Huntsville, Arizona. Cậu vẫn là cảnh sát trưởng chứ? Ừ, Harry Magaña nói. Đoạn họ hỏi han về vợ của nhau. Viên cảnh sát ở Đông Los Angeles nói vợ anh ta khỏe, càng ngày càng béo. Harry bảo vợ y chết bốn năm rồi, vài tháng sau khi y hoàn thành khóa học ở Santa Barbara. Tớ rất tiếc, người kia nói. Không sao mà, Harry Magaña nói, thế rồi có một khoảng im lặng khó xử cho đến khi viên cảnh sát kia hỏi cô ấy chết ra sao. Ung thư, Harry nói, nhanh lắm. Cậu đang ở Los Angeles à, Harry? người kia muốn biết. Không không, tớ ở gần đấy, Tijuana. Cậu làm gì ở Tijuana vậy? Nghỉ phép à? Không, không, Harry Magaña nói. Tớ đang tìm một gã. Tớ tìm với tư cách cá nhân thôi, hiểu ý tớ không? Nhưng tớ chỉ có mỗi cái tên thôi. Cậu cần giúp không? viên cảnh sát nói. Thế thì tuyệt quá, Harry nói. Cậu đang gọi từ đâu? Từ buồng điện thoại. Cho thêm mấy đồng bạc vào rồi chờ vài phút, viên cảnh sát nói. Trong khi chờ, Harry không nghĩ đến vợ y mà nghĩ về Lucy Anne Sander rồi sau đó thôi nghĩ về Lucy Anne mà ngắm thiên hạ trên đường phố, một số người đội mũ sombrero rộng vành bằng giấy bồi sơn màu đen, màu tía hoặc màu cam, tất cả đều xách túi to miệng mỉm cười, và trong đầu y thoáng qua ý nghĩ (mặc dù qua nhanh đến nỗi y không ghi nhận kịp) hay là quay về Huntsville và quên hết mọi chuyện đi. Thế rồi y nghe thấy tiếng viên cảnh sát ở Đông Los Angeles, cung cấp cho y một cái tên: Raúl Ramírez Cerezo, và một địa chỉ: số 401 phố Oro. Nói được tiếng Tây Ban Nha không, Harry? giọng nói từ California hỏi. Ngày một tệ hơn, Harry Magaña nói. Lúc ba giờ chiều, dưới mặt trời chói chang, y bấm chuông nhà số 401 phố Oro. Một cô bé chừng mười tuổi mặc đồng phục học sinh ra mở cửa. Chú tìm Raúl Ramírez Cerezo, Harry nói. Cô bé mỉm cười, để cửa mở rồi biến mất vào bóng tối. Thoạt đầu Harry không biết nên vào hay đợi ở ngoài. Có lẽ chính cái nắng đã thúc y vào. Nó tỏa mùi nước và mùi cây cối vừa mới tưới cùng với mùi những cái lọ đất lúc trước vừa mới ướt nước giờ đã nóng lên. Từ phòng này tỏa ra hai hành lang. Ở cuối một hành lang là một khoảnh sân trong lát gạch xám và một bức tường giăng kín dây leo. Hành lang kia còn tối hơn cả gian ngoài này, gian ngoài hay tiền sảnh muốn gọi sao cũng được. Anh muốn gì? một giọng đàn ông hỏi. Tôi tìm ông Ramírez, Harry Magaña nói. Mà anh là ai? giọng đó hỏi. Bạn của Don Richardson, ở Sở Cảnh sát Los Angeles. À ra thế, giọng đó nói, thú vị đây. Vậy ông Ramírez giúp gì được anh nào? Tôi đang tìm một người, Harry nói. Ai cũng thế cả, giọng đó nói, nghe thoáng chút buồn thoáng chút mệt mỏi. Chiều hôm đó y theo Raúl Ramínez Cerezo đến một đồn cảnh sát ở trung tâm Tijuana, ở đó tay người Mexico để y lại một mình giữa hàng nghìn tập hồ sơ. Cứ kiểm tra đi, ông nói. Sau hai giờ Harry Magaña tìm thấy một hồ sơ xem ra ăn khớp hoàn hảo với tay Chucho mà y đang tìm. Thằng này là tội phạm cò con, Ramírez nói khi quay lại xem bộ hồ sơ. Thỉnh thoảng hành nghề ma cô. Tối nay ta có thể gặp hắn ở hộp đêm Wow, hắn thường lảng vảng ở đó, nhưng trước tiên ta đi ăn tối đã, Ramínez nói. Trong khi họ ăn ở một nhà hàng ngoài trời, viên cảnh sát Mexico kể chuyện đời mình. Tôi có xuất thân nghèo hèn, ông nói, suốt hai mươi lăm năm đầu đời là cả một chuỗi hết trở ngại này tới trở ngại khác. Harry Magaña chẳng thiết nghe mấy mà chỉ muốn nói chuyện với Chucho, nhưng y làm bộ lắng nghe. Những từ Tây Ban Nha có thể trượt khỏi da y khi y muốn thế, và không để lại dấu vết nào, trong khi từ tiếng Anh thì không, mặc dù y cũng từng thử làm rồi. Y bập bõm nghe ra rằng cuộc đời Ramírez quả thực chẳng dễ dàng. Các cuộc mổ, giải phẫu, một bà mẹ đáng thương đã quen chịu vận rủi. Tai tiếng của cảnh sát, đôi khi đúng, đôi khi sai, nỗi thống khổ tất cả chúng ta đều phải mang. Nỗi thống khổ, Harry Magaña nghĩ. Sau đó Ramínez nói về phụ nữ. Phụ nữ giạng chân. Giạng rộng. Nó trông như thế nào? Nó trông như thế nào? Ôi trời ạ, đương ăn ai lại nói chuyện này. Một cái lỗ chó chết. Một con mắt chó chết. Một cái khe chó chết, giống như cái vết nứt trên vỏ trái đất ở California ấy, đường đứt gãy San Bernardino, người ta gọi thế thì phải. Có phải ở California không? Lần đầu tiên tôi nghe đến đấy. Chậc, tôi thì sống ở Arizona, Harry nói. Xa đây lắm, phải rồi, Ramínez nói. Không, ngay gần đây thôi, sáng mai tôi về nhà rồi, Harry nói. Sau đó họ nói chuyện hồi lâu về con cái. Đã khi nào cậu lắng nghe hồi lâu một đứa con nít khóc chưa, Harry? Chưa, Harry nói, tôi không có con. Đúng thế, Ramírez nói, tôi xin lỗi, xin lỗi. Sao lại xin lỗi chứ? Harry nghĩ. Một phụ nữ đàng hoàng, tử tế. Một phụ nữ cậu đã xử tệ, dù không cố ý. Do thói quen. Chúng ta vẫn mù (hay ít nhất là lòa) theo thói quen, Harry ạ, cho đến khi, bỗng dưng, khi đã vô phương cứu chữa, người phụ nữ đó ngã bệnh trong tay ta. Người phụ nữ vốn chăm lo cho tất cả, ngoại trừ bản thân, bắt đầu héo mòn trong tay ta. Và ngay cả khi đó ta vẫn không nhận ra được điều ấy, Ramírez nói. Mình đã kể cho anh ta chuyện mình sao? Harry Magaña nghĩ. Mình đã sa sút đến nước đó hay sao? Mọi sự trông như vậy mà không phải vậy, Ramírez thì thầm. Cậu tin là cái gì cũng giống như vẻ bề ngoài, cứ đơn giản thế, không có vấn đề gì phức tạp, không cần đặt câu hỏi gì? Không, Harry Magaña nói, luôn luôn cần phải đặt câu hỏi. Đúng vậy, viên cảnh sát ở Tijuana nói. Luôn luôn phải đặt câu hỏi, và luôn luôn phải tự hỏi mình tại sao mình hỏi những câu như thế. Cậu biết tại sao không? Bởi vì chỉ cần sểnh ra một cái là những câu hỏi của ta liền đưa ta đến những nơi ta không muốn đến. Cậu có hiểu thực chất vấn đề không, Harry? Những câu hỏi của ta, theo đúng định nghĩa, là sự nghi ngờ. Nhưng ta cần đặt câu hỏi. Đó mới là phần chó chết nhất trong mọi chuyện. Đời là thế, Harry Magaña nói. Sau đó viên cảnh sát người Mexico im lặng và cả hai ngắm thiên hạ đi qua đi lại dọc theo đại lộ, cảm thấy trên cặp má nóng phừng của mình làn gió nhẹ thổi trên Tijuana. Một làn gió mang theo mùi xăng xe, mùi cây khô, mùi quả cam, mùi một nghĩa địa có kích thước khổng lồ. Ta làm thêm chầu bia nữa hay đi tìm tay Chucho luôn? Làm thêm chầu bia nữa đi, Harry Magaña nói. Khi họ đến quán bar Harry để Ramírez cầm trịch. Viên cảnh sát Mexico gọi một bảo vệ có cơ bắp như lực sĩ và mặc áo thun dính sát vào người như bộ da báo, rồi nói nhỏ vào tai y. Tay bảo vệ lắng nghe mắt nhìn xuống sàn, sau đó y nhìn vào mặt viên cảnh sát và dường như toan nói gì đó, nhưng Ramírez bảo đi đi, thế là y biến vào trong những ánh đèn của quán. Harry theo Ramírez đi vào hành lang trong. Họ vào buồng vệ sinh nam. Có hai người đàn ông ở đó, nhưng vừa thấy cảnh sát là họ lỉnh đi ngay. Ramírez đứng soi gương một hồi. Ông rửa tay rửa mặt rồi rút lược ra cẩn thận chải tóc. Harry Magaña chẳng làm gì. Y đứng tựa lưng vào bức tường xi măng thô, cho đến khi Chucho xuất hiện ở cửa hỏi họ cần gì. Lại đây, Chucho, Ramírez nói. Harry Magaña đóng cửa lại. Ramínez hỏi hết câu này đến câu khác và Chucho trả lời tất. Gã biết Miguel Montes. Gã từng là bạn của Miguel Montes. Theo gã biết thì Miguel Montes vẫn đang ở Santa Teresa, sống với một ả điếm. Gã không biết tên ả điếm, nhưng biết ả ta còn trẻ và từng có thời làm việc ở một quán tên là Asuntos Internos. Elsa Fuentes phải không? Harry Magaña nói, thế là Chucho quay lại, nhìn y rồi gật đầu. Gã có cái nhìn oán hận của những tên vô lại đáng thương luôn luôn thua thiệt. Tôi nghĩ tên ả là thế, gã nói. Vậy làm sao tao biết là mày không nói láo tao, Chuchito? Ramírez nói. Bởi vì tôi không bao giờ nói láo ông, sếp ạ, gã ma cô nói. Nhưng tao phải biết chắc, viên cảnh sát Mexico nói, đoạn rút trong túi ra một con dao. Đó là con dao bấm, có tay cầm khảm xà cừ, lưỡi thép mảnh dài chừng mười lăm phân. Tôi không bao giờ nói láo ông sếp ơi, Chucho rền rĩ. Chuyện này rất quan trọng với bạn tao, Chuchito à, làm sao tao biết được là khi tụi tao đi rồi mày sẽ không gọi điện ngay cho Miguel Montes? Tôi không đời nào làm thế, không đời nào, không đời nào, nếu ông đã bảo tôi không được gọi thì không đời nào tôi gọi, thậm chí nghĩ tới tôi cũng chẳng đời nào nghĩ nữa là. Ta làm gì đây, Harry? viên cảnh sát Mexico nói. Tôi tin thằng khốn này không nói láo, Harry Magaña nói. Khi mở cửa buồng vệ sinh ra họ thấy bên ngoài là hai ả điếm và tay bảo vệ. Hai ả điếm đều lùn tịt núng nính và chắc thuộc dạng đa cảm bởi vì khi thấy Chucho còn sống nguyên vẹn thì liền ào tới ôm gã vừa khóc vừa cười. Ramírez là người sau cùng ra khỏi buồng vệ sinh. Có vấn đề gì không? y hỏi tay bảo vệ. Không có gì, tay bảo vệ đáp lí nhí. Vậy mọi chuyện ổn chứ? Êm thắm như nhung, tay bảo vệ nói. Khi ra khỏi quán họ gặp một đám thanh niên đang muốn vào. Nơi cuối vỉa hè Harry Magaña thấy dáng Chucho đang bước, hai tay quàng lưng hai ả điếm. Treo trên y là vầng trăng tròn khiến y nhớ đến biển, một biển mà y từng đến thăm không quá ba lần. Nó đi ngủ đấy, Ramínez nói khi bước lên đi ngang hàng với Harry Magaña. Một khi đã sợ đến vãi đái và cùng một lúc phải qua quá nhiều cảm xúc như thằng đó thì người ta chả muốn gì hơn một cái ghế bành êm, một ly cốc tai ngon, một chương trình hay trên tivi và một bữa ăn ngon do hai mụ kia nấu. Mà thật, hai con mụ đó thì chỉ được mỗi việc là nấu ăn thôi, viên cảnh sát Mexico nói làm như ông ta biết hai ả điếm đó từ khi còn đi học. Trong đám người kia có cả vài khách du lịch Mỹ nói chuyện oang oang. Giờ cậu sẽ làm gì, Harry? Ramínez hỏi. Tôi đến Santa Teresa, Harry Magana nói, mắt nhìn xuống đất. Đêm đó y đi theo đường của các vì sao. Khi băng qua sông Colorado y thấy một sao băng trên trời, hay một ngôi sao xẹt, liền thầm ước ngay một điều giống như mẹ đã dạy y. Y lái xe trên con đường đơn độc dẫn từ San Luis đến Los Vidrios, tại đấy y dừng xe ở một nhà hàng uống hai tách cà phê, đầu óc trống rỗng, cảm thấy thứ chất lỏng nóng này chảy dọc theo thực quản, chảy đến đâu đốt cháy đến đó. Sau đó y rẽ sang đường Los Vidrios-Sonoyta rồi sau đó trực chỉ hướng Nam, về Caborca. Trong khi tìm lối ra, y lái xe qua khu trung tâm thành phố và đâu đâu hình như cũng đều đóng cửa, trừ trạm xăng. Y rẽ về phía Đông và băng qua Altar, Pueblo Nuevo và Santa Ana, cuối cùng thì cũng ra tới xa lộ bốn làn dẫn tới Nogales và Santa Teresa. Khi y vào thành phố thì đã bốn giờ sáng. Ở nhà Demetrio Águila, y không gặp ai, nên thậm chí y còn chẳng ngả lưng một chốc. Y rửa mặt rửa tay, kì cọ ngực và nách bằng nước lạnh rồi lấy trong vali ra một cái sơ mi sạch. Quán Asuntos Internos vẫn chưa đóng cửa khi y đến yêu cầu nói chuyện với má mì. Gã đàn ông tiếp chuyện y nhìn y vẻ chế giễu. Gã đứng trong một góc quây kín bằng gỗ chạm, sân khấu thiết kế cho một người duy nhất, một tay dẫn chương trình hay người xướng số, và trông có vẻ cao hơn thực tế. Ở đây không có má mì nào, thưa ông, gã nói. Vậy tôi muốn nói chuyện với ông quản lý, Harry Magaña nói. Ở đây không có ông quản lý nào, thưa ông. Vậy ai phụ trách? Harry Magaña hỏi. Có một cô quản lý, thưa ông. Cô quản lý chuyên về quan hệ công chúng của chúng tôi, thưa ông. Cô Isela. Harry Magaña cố mỉm cười bảo y muốn nói chuyện với cô Isela một chút. Ông lên trên sàn nhảy mà hỏi cô ấy, tay dẫn chương trình nói. Harry Magaña vào sảnh đón khách thì thấy một người có ria mép trắng đang ngủ trên ghế bành. Các bức tường phủ kín một thứ vải chần màu đỏ, như thể căn phòng khách này là một phòng đệm tường ở một nhà thương điên dành cho gái điếm. Trên cầu thang, với hàng lan can cũng bọc thứ vải đỏ ấy, y đi ngang qua một ả điếm đang đi cùng khách, liền túm tay ả. Y hỏi Elsa Fuentes có còn làm việc ở đây không. Thả tôi ra, ả điếm nói, rồi tiếp tục xuống thang. Trên sàn nhảy có khá nhiều người, tuy người ta đang chơi nhạc bolero hay mấy bản nhạc không lời u sầu của miền Nam. Các cặp lờ đờ dịch chuyển trong bóng tối. Khó khăn lắm y mới tìm ra được một bồi bàn để hỏi xem cô Isela ở đâu. Tay bồi chỉ một cánh cửa ở đầu bên kia sàn nhảy. Cô Isela đang ngồi cùng một ông trạc năm mươi, mặc com lê đen thắt cà vạt vàng. Khi cô mời Harry Magaña ngồi xuống, người đàn ông bèn đứng tránh sang bên tựa người lên bậu cửa sổ nhìn xuống phố. Harry Magaña bảo cô y đang tìm Elsa Fuentes. Sao vậy? cô Isela muốn biết. Không phải chuyện tốt đâu, Harry Magaña mỉm cười nói. Cô Isela phá lên cười. Cô có thân hình mảnh mai cân đối, xăm hình con bướm xanh trên vai trái và chắc không quá hăm hai tuổi. Người đàn ông bên cửa sổ cũng ráng phá lên cười nhưng chỉ thành nhếch mép làm môi trên hơi run lên. Nó không làm ở đây nữa, cô Isela nói. Cô ấy thôi từ khi nào? Harry Magaña hỏi. Một tháng sao đó, cô Isela nói. Cô có biết cô ấy ở đâu không? Cô Isela nhìn người đàn ông bên cửa sổ hỏi liệu có thể nói được không. Sao lại không? người đó nói. Nếu ta không nói thì ông ấy cũng tự tìm được. Tay người Mẽo này có vẻ rắn đấy. Đúng vậy, Harry Magaña nói, tôi rắn đấy. Vậy thì đừng làm trò ú tim nữa, Iselita, nói cho ông ấy biết Elsa Fuentes sống ở đâu đi, người đàn ông nói. Cô Isela lấy trong ngăn kéo ra một cuốn sổ cái dài bìa cứng, lật các trang tìm. Theo chúng tôi biết, Elsa Fuentes sống ở phố Santa Catarina, số 23. Phố đó ở đâu? Harry Magaña hỏi. Ở quận Carranza, cô Isela nói. Ông đến đấy hỏi là ra thôi, người đàn ông nói. Harry Magaña đứng dậy cảm ơn. Trước khi đi, y quay lại toan hỏi hai người kia có biết hay có nghe nói về Miguel Montes không, song đổi ý đúng lúc và chẳng nói gì.
♣ ♣ ♣
Chẳng dễ gì tìm ra phố Santa Catarina, nhưng rốt cuộc thì y cũng tới được đấy. Nhà của Elsa Fuentes có tường quét vôi trắng, cửa sắt. Y gõ cửa hai lần. Các nhà hàng xóm hoàn toàn im ắng, mặc dù trên phố y đã đi ngang qua ba phụ nữ đang trên đường đi làm. Vừa ra khỏi nhà là cả ba túm tụm lại với nhau và nhanh chóng biến mất sau khi liếc nhìn xe y. Y rút dao ra, khom mình và dễ dàng mở cánh cửa ra vào. Phía bên trong cửa có một thanh sắt vốn dùng làm then cài nhưng đang không ở đúng vị trí, bởi vậy y suy ra không có ai ở nhà. Y đóng cửa, cài then rồi bắt đầu lục soát. Các căn phòng không gây cảm giác bị bỏ bê, thay vào đó chúng toát lên vẻ đoan trang không hẳn không pha chút lẳng lơ. Mấy bức tường treo kín thảm, một cây ghita, những bó hương thảo tỏa mùi thơm dễ chịu. Phòng của Elsa Fuentes chưa dọn giường, nhưng ngoài ra mọi thứ không chê vào đâu được. Quần áo trong tủ được xếp ngăn nắp đâu ra đó, trên bàn đầu giường có vài bức ảnh (hai bức chụp chung Elsa và Miguel Montes), bụi hãy còn chưa đủ thì giờ tích lại trên sàn. Trong tủ lạnh không thiếu đồ ăn. Không có gì đang bật, kể cả cây nến điện bên cạnh ảnh một vị thánh, mọi thứ dường như đều đang đợi người phụ nữ ấy trở về. Y tìm dấu vết cho thấy Miguel Montes trọ ở đó nhưng chẳng thấy gì. Y ngồi xuống một cái ghế trong phòng khách và chuẩn bị sẵn sàng để đợi. Y không biết mình thiếp đi lúc nào. Tuy nhiên, khi y thức dậy thì đã giữa trưa mà vẫn chưa ai toan mở cửa vào. Y xuống bếp tìm gì đó ăn sáng. Y uống một cốc sữa to sau khi kiểm tra hạn dùng trên hộp giấy. Sau đó y lấy một quả táo đựng trong túi ni lông bên cửa sổ rồi vừa gặm táo vừa đi săm soi mọi ngóc ngách trong căn nhà. Y không pha cà phê vì không muốn bật lò lên. Thứ duy nhất quá hạn dưới bếp là bánh mì, đã bị cứng lại. Y đi tìm một cuốn sổ địa chỉ, một vé xe buýt, dấu hiệu nhỏ nhất của một cuộc vật lộn mà có thể y đã bỏ sót. Y kiểm tra phòng tắm, y nhòm xuống dưới gầm giường của Elsa Fuentes, y lục tung túi rác. Y mở ba cái hộp giày ra thì thấy chỉ toàn giày. Y nhòm xuống dưới chiếu. Y nhấc ba tấm thảm nhỏ lên, tất cả đều có hoa văn Ả Rập, dấu hiệu cho sự lẳng lơ theo kiểu Elsa Fuentes, và chẳng thấy có gì. Thế rồi y nảy ra ý nhìn lên trần nhà. Trong phòng ngủ và phòng khách chẳng có gì. Tuy nhiên, dưới bếp, y phát hiện ra một vết nứt. Y đứng lên ghế lấy dao thọc vào cho đến khi vữa rơi xuống sàn. Y khoét rộng cái lỗ ra rồi đút tay vào. Y tìm thấy một chai nhựa cất mười ngàn đô và một cuốn sổ. Y nhét tiền vào túi quần rồi bắt đầu lật qua cuốn sổ. Có nhiều số điện thoại nhưng không kèm tên hay chữ viết tắt, tuồng như là bạ đâu ghi đấy. Y đồ rằng đó là số của khách hàng. Chỉ vài số đi kèm tên, Mamá, Miguel, Lupe, Juana và các số khác thì kèm biệt danh, chắc là đồng nghiệp. Lẫn giữa các số điện thoại ở Mexico y nhận ra vài số của Arizona. Y đút cuốn sổ vào túi quần cùng với chỗ tiền rồi quyết định đã đến lúc đi rồi. Y đang bất an và cơ thể y đang gào thét đòi cà phê. Khi khởi động xe y có cảm giác đang bị theo dõi. Nhưng tất cả vẫn im ắng, chỉ có vài thằng nhóc đang chơi bóng đá giữa phố. Y bóp còi, bọn trẻ chùng chình hồi lâu mới chịu dạt ra. Trong kính chiếu hậu y thấy một chiếc Rand Charger xuất hiện ở đầu kia phố. Y lái tà tà, để chiếc Rand Charger bắt kịp. Tay tài xế cùng kẻ đồng hành chẳng mảy may tỏ ra quan tâm đến y và đến góc phố chiếc Rand Charger vượt xe y, để y lại đằng sau. Y lái xe xuống khu trung tâm rồi dừng trước một nhà hàng khá đông người. Y gọi một đĩa trứng bác với giăm bông và một tách cà phê. Trong khi chờ thức ăn y đi tới quầy hỏi một cậu bé xem y có thể gọi điện thoại không. Cậu bé, mặc sơ mi trắng thắt nơ đen, hỏi y muốn gọi về Mỹ hay gọi số Mexico. Ở đây, Sonora, Harry Magaña nói, đoạn lấy cuốn sổ ra cho cậu bé xem các số. OK, cậu bé nói, ông muốn gọi đâu thì gọi, lát tôi sẽ tính tiền, vậy nhé? Hẳn rồi, Harry Magaña nói. Cậu bé đưa điện thoại cho y rồi đi phục vụ khách khác. Đầu tiên y gọi cho mẹ của Elsa Fuentes. Một người phụ nữ nhấc máy. Y xin gặp Elsa. Elsita không có đây, người phụ nữ nói. Nhưng bà có phải mẹ cô ấy không? Harry Magaña hỏi. Tôi là mẹ nó đây, đúng vậy, người phụ nữ nói, nhưng Elsita sống ở Santa Teresa kia, người phụ nữ nói. Vậy tôi đang gọi đến đâu đây? Harry Magaña hỏi. Sao cơ? người phụ nữ nói. Bà đang sống ở đâu, thưa bà? Ở Toconilco, người phụ nữ nói. Chỗ đó ở đâu vậy, thưa bà? Harry Magaña hỏi. Ở Mexico, thưa ông, người phụ nữ nói. Nhưng mà chỗ nào của Mexico? Harry Magaña nói. Gần Tepehuanes, người phụ nữ nói. Còn Tepehuanes thì ở đâu? Harry Magaña kêu lên. Thì ở Durango, thưa ông. Ở bang Durango? Harry Magaña vừa nói vừa ghi vào một mảnh giấy các tên Toconilco rồi Tepehuanes và cuối cùng là Durango. Trước khi gác máy y hỏi xin địa chỉ. Người phụ nữ cho địa chỉ, khá là rối rắm, song không hề lưỡng lự. Tôi sẽ gửi bà một ít tiền cho con gái bà, Harry Magaña nói. Thượng đế phù hộ ông, người phụ nữ nói. Không đâu, thưa bà, không phải tôi, con gái bà chứ, Harry Magaña nói. Vậy thì, người phụ nữ nói, Thượng đế phù hộ con tôi, phù hộ cả ông nữa. Sau đó y ra hiệu với cậu bé đeo nơ, cho biết y vẫn chưa gọi xong, rồi trở lại bàn, nơi món trứng bác với giăm bông và cà phê đang đợi y. Trước khi gọi thêm cuộc điện thoại nữa y yêu cầu châm đầy cà phê cho y, và y cầm tách quay trở lại quầy. Y gọi số của Miguel Montes (mặc dù có thể là một Miguel khác, y nghĩ), và đúng như y đã e ngại, chẳng ai trả lời. Sau đó y gọi số của người phụ nữ tên Lupe và cuộc trò chuyện còn lộn xộn hơn cả lúc y trò chuyện với mẹ của Elsa Fuentes. Điều y thủng ra được là Lupe sống ở Hermosillo, rằng cô không muốn biết gì về Elsa Fuentes hay Santa Teresa hết, đúng là cô có quen Miguel Montes nhưng cô cũng không muốn biết gì về anh ta (nếu anh ta còn sống), quãng đời cô ở Santa Teresa đã là một sai lầm từ đầu cho đến cuối và cô không muốn phạm cùng một sai lầm đó hai lần. Sau đó y gọi cho hai người phụ nữ, người được ghi tên là Juana và người phụ nữ (hoặc đàn ông, vì chẳng rõ người đó có phải là phụ nữ không) có biệt danh Bò Cái. Cả hai số, một giọng ghi âm sẵn thông báo, đều đã ngừng hoạt động. Lần thử cuối hầu như mang tính hú họa. Y gọi một trong các số ở Arizona. Một giọng đàn ông, bị méo đi do thu sẵn vào máy trả lời tự động, đề nghị y để lại tin nhắn và hứa sẽ trả lời. Y kêu tính tiền. Cậu bé đeo nơ rút từ túi quần ra một tờ giấy, tính tính toán toán và hỏi y có ngon miệng không. Ngon lắm, Harry Magaña nói. Y ngủ trưa tại nhà Demetrio Águila, trên phố Luciérnaga, và mơ thấy một con phố ở Huntsville, phố chính, bị bão cát vùi dập tơi bời. Ta phải đi tìm các cô gái ở xưởng hạt vòng! ai đó hét to sau lưng y, song y không để ý mà vẫn đắm mình đọc một tập hồ sơ, những tài liệu photo dường như được viết bằng một thứ tiếng không phải của thế giới này. Khi thức dậy y tắm nước lạnh rồi lau mình bằng một cái khăn tắm to màu trắng, sờ vào dễ chịu. Đoạn y gọi lên tổng đài đọc cho họ số của Miguel Montes. Y hỏi số điện thoại này được đăng ký ở địa chỉ nào trong thành phố. Người phụ nữ bảo y chờ một lát, sau đó đọc cho y tên phố và số nhà. Trước khi gác máy y hỏi số điện thoại này được đăng ký dưới tên ai. Francisco Díaz, thưa ông, nhân viên tổng đài nói. Trời Santa Teresa đang chuyển tối nhanh khi Harry Magaña đến phố Portal de San Pablo, chạy song song với đại lộ Madero-Centro, nằm trong một khu phố vẫn còn lưu dấu vết ngày xưa: những căn nhà một đến hai tầng xây bằng gạch và xi măng, thuộc tầng lớp trung lưu, từng là chỗ sinh sống của nhân viên chính phủ hoặc các chuyên viên trẻ. Giờ đây, ngoài phố chỉ thấy mỗi ông già bà cả và mấy nhóm choai choai chạy bộ hoặc cưỡi xe đạp hay lái ô tô cà khổ ngang qua, luôn luôn vội vã, như thể tối đó chúng có việc gì rất ư cấp bách. Trên thực tế, kẻ duy nhất có việc cấp bách là mình, Harry Magaña nghĩ, và y ngồi trong xe, bất động, cho đến khi tất cả chìm trong bóng tối. Y băng qua con phố không bị ai trông thấy. Cửa bằng gỗ, xem chừng phá không khó. Y rút dao ra và chẳng mấy chốc ổ khóa đầu hàng. Từ phòng khách có một hành lang dài dẫn đến một mảnh sân nhỏ được đèn sân nhà hàng xóm chiếu sáng. Mọi thứ đều vô cùng lộn xộn. Y nghe thấy tiếng tivi nghèn nghẹt từ một nhà khác và một tiếng càu nhàu. Y lập tức hiểu ra y không có một mình. Chỉ khi đó Harry Magaña mới hối tiếc sao không mang theo vũ khí. Y ghé mắt nhìn vào phòng đầu tiên. Một gã thấp lùn nhưng vai rộng đang lôi một cái bọc từ dưới gầm giường ra. Giường vốn thấp nên lôi cái bọc ra không dễ. Khi rốt cuộc gã cũng lôi cái bọc ra được và bắt đầu kéo nó dọc hành lang, gã quay lại nhìn y chẳng tỏ vẻ gì là ngạc nhiên. Cái bọc được quấn ni lông và Harry Magaña cảm thấy cơn buồn mửa cùng phẫn nộ khiến y ngạt thở. Trong một thoáng cả hai bất động. Gã lùn mặc đồ bảo hộ áo liền quần màu đen, có lẽ là bộ đồ bảo hộ chính thức của một nhà máy, và vẻ mặt gã vừa tức giận vừa xấu hổ. Mấy cái việc nhớp nhúa này bao giờ cũng đến tay cái thằng tôi, gã như muốn nói. Với một cảm giác mọi chuyện đều là số phận Harry Magaña hình dung rằng trên thực tế y đang ở một chỗ khác, cách khu trung tâm vài phút, ở nhà Francisco Díaz, mà cũng bằng như chẳng ở nhà ai, mà là ở thôn quê, giữa đất bụi và cây bụi, trong một căn lán có bãi quây súc vật, chuồng gà và bếp củi, ở sa mạc Santa Teresa hoặc bất kỳ sa mạc nào. Y nghe có tiếng ai đó đóng cửa trước rồi tiến vào phòng khách. Một giọng gọi gã lùn. Và y cũng nghe thấy tiếng gã này đáp lại: tao đây, với thằng bạn của chúng ta đây. Cơn phẫn nộ của y bùng lên. Y muốn thọc dao vào tim gã này. Y lao vào gã đồng thời tuyệt vọng liếc nhìn hai hình dáng lờ mờ mà y đã thấy ngồi trên chiếc Rand Charger giờ đang tiến lại gần dọc hành lang.
♣ ♣ ♣
Năm 1995 khởi đầu bằng vụ phát hiện ra, vào ngày 5 tháng Một, một người phụ nữ chết nữa. Lần này là một bộ xương chôn nông ở một cánh đồng thuộc hợp tác xã nông nghiệp Hijos de Morelos. Các công nhân nông nghiệp đào bộ xương lên không biết đó là phụ nữ. Họ cứ nghĩ đấy là một gã đàn ông nhỏ con. Không có quần áo hay bất cứ thứ gì chôn cùng bộ xương giúp nhận diện hài cốt. Hợp tác xã báo cho cảnh sát và sáu giờ sau cảnh sát đến. Ngoài lấy lời khai tất cả những ai có mặt khi phát hiện bộ xương, họ còn hỏi có công nhân nào vắng mặt không, dạo gần đây có xảy ra vụ ẩu đả nào không, có ai dạo này thay đổi tính khí không. Quả nhiên, như mọi năm, đã có hai thanh niên rời khỏi hợp tác xã, đến Santa Teresa hoặc Nogales hoặc Mỹ. Đánh nhau thì bao giờ chả có, song chả khi nào nghiêm trọng cả. Tính khí công nhân thì thay đổi luôn, tùy theo mùa, theo vụ thu hoạch, theo đám gia súc nghèo nàn còn lại, nói gọn là, tùy theo tình hình kinh tế, cũng như bất cứ ai thôi. Bác sĩ pháp y ở Santa Teresa nhanh chóng xác định bộ xương là của phụ nữ. Nếu cộng thêm chi tiết không có quần áo hay mảnh vải nào ở nơi chôn bộ xương thì kết luận đã rõ như ban ngày: đây là một vụ án mạng. Cô ta bị giết như thế nào? Hiện không thể nói được. Khi nào? Có lẽ đã ba tháng rồi, mặc dù bác sĩ pháp y không muốn liều đưa ra kết luận chung quyết nào ở thời điểm này, bởi tốc độ phân hủy của mỗi xác chết một khác, vậy nên nếu ai muốn có ngày chính xác thì tốt nhất là gửi xương đến Viện Giải phẫu Pháp y ở Hermosillo, hay đến thủ đô thì còn tốt hơn nữa. Cảnh sát Santa Teresa đưa ra một thông báo, trong đó rốt cuộc họ lập lờ tránh không nhận lấy bất kỳ trách nhiệm nào. Kẻ sát nhân có thể là một tài xế đi từ Baja California đến Chihuahua, người phụ nữ chết có thể là một người đi nhờ xe lên xe ở Tijuana, bị giết ở Saric rồi chôn quấy quá ở đây.
♣ ♣ ♣
Vào ngày 15 tháng Một xác chết phụ nữ thứ hai xuất hiện. Tên cô là Claudia Pérez Millán. Xác được phát hiện ở phố Sahuaritos. Người chết mặc áo len đen và mỗi tay đeo hai chiếc nhẫn rẻ tiền, thêm một nhẫn đính hôn. Cô không mặc váy hay quần lót, tuy có mang đôi giày đế bằng giả da màu đỏ. Cô đã bị hãm hiếp và bóp cổ rồi bọc trong tấm ga trắng, tuồng như kẻ giết người đã định mang xác đi nơi khác song lại bất thần quyết định, hoặc do tình thế bắt buộc, để nó lại đằng sau một xe rác ở phố Sahuaritos. Claudia Pérez Millán ba mươi mốt tuổi và sống cùng chồng với hai con trên phố Marquesas, không xa nơi người ta phát hiện cái xác. Khi cảnh sát đến nhà cô thì không ai mở cửa, tuy nhiên có thể nghe thấy tiếng khóc lóc la hét từ bên trong vọng ra. Mang theo trát khám nhà theo đúng lệ, cảnh sát phá cửa nhà người phụ nữ chết, và ở một trong các buồng ngủ bị khóa chặt họ tìm thấy thằng con nhỏ là Juan Aparicio Pérez cùng thằng anh là Frank Aparicio Pérez. Trong phòng có một bình nước uống và hai ổ bánh mì sandwich. Khi được thẩm vấn với sự có mặt của một chuyên gia tâm lý trẻ em, hai đứa trẻ thừa nhận rằng chính cha chúng, Juan Aparicio Regla, đã khóa cửa nhốt chúng từ đêm hôm trước. Sau đó chúng nghe thấy tiếng ồn và tiếng hét, nhưng không thể biết chắc ai hét hoặc tiếng ồn từ đâu ra, cứ thế cho đến khi chúng ngủ mất. Sáng hôm sau trong nhà chẳng có ai khác và khi nghe thấy tiếng cảnh sát chúng liền bắt đầu la hét. Nghi phạm Juan Aparicio Regla có ô tô, nó cũng biến mất tăm, vậy nên họ suy ra y đã bỏ trốn sau khi giết vợ. Claudia Pérez Millán làm phục vụ bàn ở một quán cà phê trong khu trung tâm thành phố. Juan Aparicio Regla thì không có nghề nghiệp rõ ràng, một số người nghĩ y làm việc ở một nhà máy, người khác thì cho y là một pollero, dẫn những người di cư bất hợp pháp vượt biên sang Mỹ. Người ta phát lệnh bắt khẩn cấp, song ai biết chuyện thì đều tin chắc y sẽ không bao giờ đặt chân về thành phố này nữa.
♣ ♣ ♣
Vào tháng Hai, María de la Luz Romero chết. Con bé mười bốn tuổi, cao tầm một mét năm tám, tóc dài chấm eo, mặc dù con bé định mấy hôm nữa sẽ cắt tóc ngắn, theo lời nó tiết lộ với một trong các chị em của mình. Con bé vừa bắt đầu làm việc ở EMSA, một trong các nhà máy lâu đời nhất ở Santa Teresa, không nằm trong khu công nghiệp nào cả mà ở ngay giữa quận La Preciada, như một tòa kim tự tháp màu hồng đất, với đài hiến tế ẩn sau các ống khói và hai cánh cổng to đùng nơi công nhân và xe tải đi qua để vào nhà máy. María de la Luz Romero ra khỏi nhà lúc bảy giờ tối, đi cùng mấy người bạn gái đã ghé qua nhà đón con bé. Con bé nói với các anh chị em rằng nó đi nhảy ở Sonorita, một hộp đêm rẻ tiền nằm nơi tiếp giáp giữa quận San Damián và quận Plata, và con bé sẽ kiếm gì ăn ở đấy. Cha mẹ nó lúc đó không có nhà bởi tuần ấy họ làm ca đêm. María de la Luz đúng là đã ăn cùng các bạn gái, đứng ăn, cạnh một xe tải bán taco và quesadilla, đỗ bên đường đối diện hộp đêm. Khi họ vào trong thì đã tám giờ tối, hộp đêm đầy những thanh thiếu niên họ quen biết, hoặc vì cùng làm ở EMSA hoặc vì sống cùng khu phố. Theo lời một trong các bạn thì María de la Luz nhảy một mình, không như những đứa khác vốn đi cùng người yêu hoặc có người quen ở đấy. Tuy nhiên, có hai cậu trai, mỗi lần một đứa, đến gần mời con bé rượu hay soda, nhưng María de la Luz đều từ chối, lần đầu do con bé không thích cậu trai đó còn lần sau là bởi con bé ngượng. Đến mười một rưỡi con bé về cùng một cô bạn. Hai đứa nhà tương đối gần nhau nên cùng về thì hay hơn so với đi một mình. Chúng chia tay ở chỗ cách nhà María de la Luz năm khối nhà. Dấu vết con bé biến mất ở đó. Khi cảnh sát thẩm vấn một số người sinh sống ở khu vực xung quanh tuyến đường cuối cùng con bé đã đi, tất cả họ đều tuyên bố không hề nghe thấy tiếng hét nào, nói gì đến tiếng kêu cứu. Xác con bé xuất hiện hai ngày sau đó, gần xa lộ Casas Negras. Con bé đã bị hãm hiếp và bị đánh vào mặt nhiều lần, một số cú đòn đặc biệt tàn bạo, thậm chí khiến nó bị gãy xương vòm miệng, điều này thật bất thường nếu chỉ là đánh đơn thuần, thành ra bác sĩ pháp y đã suy đoán (mặc dù dĩ nhiên sau đó ông lập tức gạt ý nghĩ đó đi) rằng chiếc xe chở María de la Luz đã bị tai nạn giữa đường. Nguyên nhân tử vong là do những vết dao đâm vào thân trên và cổ, khiến phổi và nhiều động mạch bị tổn thương. Ca này được giao cho thanh tra Juan de Dios Martínez, và anh một lần nữa thẩm vấn mấy đứa bạn đã đi cùng con bé đến hộp đêm, chủ quán và một số bồi bàn, cũng như hàng xóm sống dọc năm khối nhà mà María de la Luz đã đi qua hoặc định đi qua trước khi bị bắt cóc. Kết quả thật đáng thất vọng.
♣ ♣ ♣
Trong tháng Ba không có xác phụ nữ nào được phát hiện trong thành phố, nhưng sang tháng Tư hai cái xác xuất hiện chỉ cách nhau vài ngày, xuất hiện đồng thời với những kêu ca đầu tiên về cảnh sát, vì chẳng những không có khả năng dừng cái làn sóng (hay cơn mưa dầm không ngớt) những tội ác tình dục này lại mà còn không bắt nổi những kẻ giết người, khôi phục sự bình an yên tĩnh cho một thành phố cần lao. Cái xác phụ nữ đầu tiên được phát hiện trong một căn phòng ở Mi Reposo, một khách sạn thuộc trung tâm Santa Teresa. Cô nằm dưới gầm giường, quấn trong ga giường, chỉ mặc độc cái xu chiêng trắng. Theo người quản lý Mi Reposo, phòng của người chết được đăng ký dưới tên một khách nam là Alejandro Peñalva Brown, đã nhận phòng trước đó ba ngày và sau đó biến mất tăm. Trả lời thẩm vấn, nhân viên dọn phòng và hai tiếp tân đều nói rằng lần duy nhất họ thoáng thấy tay Peñalva Brown nói trên là vào ngày đầu y lưu lại khách sạn. Mặt khác, mấy người dọn phòng thề rằng vào ngày thứ hai và thứ ba họ không thấy có gì ở dưới gầm giường hết, mặc dù, theo cảnh sát, họ chỉ nói dối thế để che giấu việc đã dọn phòng qua quýt. Trong sổ đăng ký khách, địa chỉ của Peñalva Brown là ở Hermosillo. Khi cảnh sát Hermosillo được báo về vụ việc; người ta mới phát hiện ra là chẳng có Peñalva Brown nào từng sống ở địa chỉ ấy. Hai cánh tay người chết, một người phụ nữ chừng ba lăm tuổi da ngăm khỏe mạnh, chi chít vết kim tiêm, nên cảnh sát bèn tiến hành điều tra giới nghiện hút trong thành phố, song không tìm được manh mối nào hầu giúp nhận diện xác. Theo bác sĩ pháp y, người phụ nữ chết do dùng quá liều cocain kém chất lượng. Không loại trừ khả năng cocain đó là do nghi phạm Peñalva Brown cung cấp, và y biết thừa nó là thuốc độc. Hai tuần sau, khi mọi nỗ lực đều đang dồn vào việc cố làm sáng tỏ vụ giết người thứ hai thì có hai người phụ nữ đến đồn cảnh sát, khai là họ biết người phụ nữ chết trong khách sạn. Cô này tên Sofia Serrano, đã làm công nhân ở ba nhà máy và làm hầu bàn, dạo gần đây làm điếm ở các khu đất trống của quận Ciudad Nueva, phía sau nghĩa địa. Cô không có gia đình ở Santa Teresa, chỉ có vài người bạn, tất cả đều nghèo, thế nên xác cô được chuyển cho các sinh viên khoa Y của Đại học Santa Teresa.
♣ ♣ ♣
Người phụ nữ chết thứ hai xuất hiện gần một bãi rác ở quận Estrella. Cô bị hãm hiếp và siết cổ. Chẳng bao lâu sau cô được nhận diện là Olga Paredes Pacheco, hai lăm tuổi, bán hàng ở một cửa hàng quần áo trên đại lộ Real, gần trung tâm thành phố, độc thân, cao tầm mét sáu, ngụ tại phố Hermanos Redondo, quận Rubén Darío, cùng em gái Elisa Paredes Pacheco, cả hai đều nức tiếng trong khu phố là nhiệt tình, dễ mến và chu đáo. Cha mẹ họ chết năm năm trước, cách nhau chưa đầy hai tháng, trước là ông bố, vì ung thư, sau là bà mẹ, vì đau tim, và Olga tiếp quản vai trò làm chủ gia đình một cách êm thắm, nhẹ nhàng. Được biết cô chưa có người yêu. Em gái cô, hai mươi tuổi, có bạn trai và đã đính hôn. Vị hôn phu của Elisa, một luật sư trẻ vừa tốt nghiệp Đại học Santa Teresa, làm việc ở văn phòng của một luật sư tiếng tăm chuyên về các doanh nghiệp, và có bằng chứng ngoại phạm vào đêm người ta cho là Olga bị bắt cóc. Chấn động vì cái chết của chị vợ tương lai, trong cuộc thẩm vấn (không chính thức) anh nhận rằng mình không tưởng tượng được ai lại có thể căm ghét Olga tới mức giết cô, và anh tỏ ra bị ám ảnh bởi cái vận rủi, cái số phận bi thảm mà theo anh vẫn hằng đeo đuổi gia đình vị hôn thê, đầu tiên là cái chết của cha mẹ cô rồi sau là cái chết của chị cô. Số bạn gái ít ỏi của Olga xác nhận những điều em gái cô và anh luật sư trẻ nói. Mọi người đều yêu mến cô, cô là típ người ngày càng khó gặp ở Santa Teresa này, đoan trang, chính trực, thật thà, đầy trách nhiệm. Lại còn biết cách ăn mặc nữa, rất lịch lãm và có gu. Về chuyện có gu thì bác sĩ pháp y đồng ý, ngoài ra ông còn phát hiện một điều kỳ quặc trên xác chết: chiếc váy cô mặc vào đêm cô chết, cũng là chiếc váy cô mặc khi người ta phát hiện ra cô, bị lộn từ sau ra trước.
♣ ♣ ♣
Tháng Năm lãnh sự Hoa Kỳ đến thăm thị trưởng Santa Teresa và sau đó, cùng với vị này, đến thăm không chính thức cảnh sát trưởng. Tên ngài lãnh sự là Abraham Mitchell, nhưng vợ và bạn bè gọi ông là Conan. Ông có vóc người cao lớn, tầm mét chín, xấp xỉ một trăm lẻ bốn cân, mặt nhăn nheo và đôi tai có lẽ quá to, thích sống ở Mexico, thích cắm trại ngoài sa mạc và chỉ đích thân can thiệp vào những ca nghiêm trọng. Nói cách khác, hầu như ông chẳng bao giờ phải làm gì, ngoại trừ đại diện cho đất nước dự các buổi tiệc tùng và thỉnh thoảng, hai tháng một lần, cùng với vài ba đồng bào có tửu lượng cao, lén lút đến hai quán rượu thùa nổi tiếng nhất Santa Teresa. Cảnh sát trưởng Huntsville đã biến mất và tất cả các báo cáo hiện có đều cho biết lần cuối cùng người ta nhìn thấy anh ta là ở Santa Teresa. Cảnh sát trưởng muốn biết anh ta đến Santa Teresa vì công vụ hay đi du lịch. Dĩ nhiên là du lịch, ngài lãnh sự nói. Ôi chao, vậy thì tôi có thể biết gì được? Pedro Negrete nói, mỗi ngày có hàng trăm khách du lịch tới đây. Ngài lãnh sự ngẫm nghĩ một hồi rồi cuối cùng đồng ý rằng cảnh sát trưởng nói có lý. Tốt nhất là đừng vầy cứt lên, ông nghĩ. Dù vậy, để tỏ lòng kính trọng ngài thị trưởng, vốn là bạn của Pedro Negrete, người ta cho phép ông lãnh sự hay bất cứ ai ông cho là thích hợp xem qua ảnh chụp tất cả các xác chết chưa được nhận diện đã được phát hiện ra ở Santa Teresa từ tháng Mười một năm 1994 đến nay, và không xác nào trong số đó được Rory Campuzano, trợ lý cảnh sát trưởng, vốn từ Huntsville đến chỉ vì mục đích này, nhận diện. Có lẽ cảnh sát trưởng đã nổi điên rồi tự sát ngoài sa mạc rồi, Kurt A. Banks nói. Hoặc có khi giờ anh ta đang sống với một tên chuyển giới ở Florida, Henderson, một nhân viên lãnh sự quán khác nói. Conan Mitchell cau mày bảo nói năng về một cảnh sát trưởng Hoa Kỳ bằng kiểu đó là bất kính. Mặt khác, trong tháng Năm không một người phụ nữ nào bị giết ở Santa Teresa, tháng Sáu cũng không. Nhưng sang tháng Bảy thì xuất hiện hai người phụ nữ chết, cùng với các cuộc biểu tình đầu tiên của một tổ chức nữ quyền, Phụ nữ Sonora vì Dân chủ và Hòa bình (MSDP)* , vốn đặt trụ sở tại Hermosillo và ở Santa Teresa chỉ có ba thành viên. Cái xác đầu tiên xuất hiện trong sân một cửa hàng sửa chữa ô tô, gần như ở cuối phố Refugio, ngay sát xa lộ đi Nogales. Người này mười chín tuổi, bị hãm hiếp và siết cổ. Xác cô được phát hiện trong một chiếc xe sắp bị nghiền làm phế liệu. Cô mặc quần jean xanh, áo cánh trắng cổ trễ, mang bốt cao bồi. Ba ngày sau người ta được biết tên cô là Paula García Zapatero, ngụ ở quận Lomas del Toro, thợ máy ở nhà máy TECNOSA, sinh ở bang Querétaro. Cô sống cùng ba cô đồng hương Querétaro và nghe nói không có bạn trai, mặc dù cô từng dan díu với hai nam công nhân cùng nhà máy. Người ta cho tìm hai người này và thẩm vấn họ mấy ngày, cả hai đều đưa ra được bằng chứng ngoại phạm chắc chắn, tuy nhiên một người sau đó phải vào bệnh viện do bị chấn động thần kinh và gãy ba xương sườn. Giữa khi người ta đang điều tra vụ Paula García Zapatero thì xuất hiện xác chết phụ nữ thứ nhì trong tháng Bảy. Xác cô được phát hiện phía sau một trong các bể chứa của Pémex, dọc xa lộ đi Casas Negras. Cô mười chín tuổi, mảnh dẻ da ngăm, tóc đen dài. Theo bác sĩ pháp y, cô bị hãm hiếp nhiều lần theo đường âm hộ và đường hậu môn, và trên xác có nhiều vết tụ máu chứng tỏ cô đã bị bạo hành cực kỳ nghiêm trọng. Tuy nhiên, xác cô vẫn đầy đủ quần áo, quần jean, quần lót đen, quần tất nâu nhạt, xu chiêng trắng, áo cánh trắng, cả quần lẫn áo không hề có vết rách nào, từ đó có thể suy ra kẻ giết người hay những kẻ giết người, sau khi lột truồng cô ra và hãm hiếp cô rồi giết cô, đã mặc lại quần áo cho cô trước khi vứt xác cô phía sau các bể chứa của Pémex. Vụ Paula García Zapatero do Efraín Bustelo, cảnh sát tư pháp bang đảm trách, còn vụ Rosaura López Santana thì được giao phó cho thanh tra Ernesto Ortiz Rebolledo và cả hai vụ nhanh chóng đi vào ngõ cụt, vì chẳng có nhân chứng lẫn manh mối nào may ra giúp được cảnh sát.
♣ ♣ ♣
Trong tháng Tám năm 1995 người ta phát hiện được bảy xác chết phụ nữ, Florita Almada xuất hiện lần thứ hai trên truyền hình Sonora, và hai cảnh sát Tucson đến Santa Teresa điều tra. Hai cảnh sát Tucson nói chuyện với các nhân viên lãnh sự quán Kurt A. Banks và Dick Henderson, bởi ngài lãnh sự đang đi nghỉ ở nông trại riêng tại Sage, California, thực ra là một căn nhà gỗ mục nát, ở phía bên kia Khu Bảo tồn Da đỏ Ramona, trong khi vợ ông đến sống vài tháng với bà chị ở Escondido, gần San Diego. Hồi xưa căn nhà gỗ còn kèm theo đất, nhưng đất đã bị cha của Conan Mitchell bán đi nên bây giờ chỉ còn lại mỗi một mảnh sân nghìn mét vuông cây cỏ mọc um tùm nơi Conan Mitchell giết thì giờ bằng cách bắn chuột đồng bằng khẩu Remington 870 Wingmaster, đọc tiểu thuyết cao bồi và xem phim khiêu dâm. Khi nào chán thì ông chui vào xe lái đến Sage, đến quán bar, nơi có vài cụ già biết ông từ thời ông còn bé. Đôi khi Conan Mitchell nhìn mấy cụ già mà nghĩ làm sao có chuyện họ nhớ rõ thời thơ ấu của ông đến thế được, vì vài người có vẻ chẳng già hơn ông là bao. Nhưng các cụ già khua hàm răng giả lách cách mà thuật lại những trò nghịch ác của thằng nhóc Abe Mitchell như thể chúng đang diễn ra ngay trước mắt và Conan chẳng còn cách nào khác đành làm bộ như mình cũng đang cười. Sự thật là ông chẳng nhớ được gì rõ ràng về thời thơ ấu của mình. Ông nhớ cha, nhớ anh và đôi khi nhớ những trận sấm, nhưng mưa thì không phải ở Sage mà ở một nơi khác ông từng sống. Từ bé ông đã mang niềm mê tín mình sẽ chết vì bị sét đánh, và ông vẫn nhớ điều đó, mặc dù trừ vợ ra ông hiếm khi kể với ai. Thật ra Conan Mitchell không phải người hay nói. Đó là một trong những lý do ông thích sống ở Mexico, nơi ông có hai công ty vận tải nhỏ. Người Mexico ưa chuyện, nhưng họ không thích nói chuyện với người quyền cao chức trọng, nếu đấy là người Mỹ thì lại càng không. Ý này, do ông tự nghĩ ra, mặc dù có Chúa mới biết nó nảy ra trong đầu ông như thế nào, giúp ông thấy bình an mỗi khi ở phía Nam biên giới. Tuy nhiên, thỉnh thoảng, và luôn luôn là do vợ khẩn nài, ông phải sống một thời gian ở California hay Arizona, một việc ông đành miễn cưỡng chấp nhận. Mấy ngày đầu sự thay đổi có vẻ không tác động đến ông. Hai tuần sau, không chịu nổi tiếng ồn (cái tiếng ồn hướng thẳng đến ông và đòi được hồi đáp), ông bỏ đi Sage, giam mình trong căn nhà gỗ cũ. Khi hai cảnh sát Tucson đến Santa Teresa, Conan đã đi được hai mươi ngày, một chuyện khiến hai tay cảnh sát kia thầm lấy làm mừng, vì họ đã nghe nói về sự thiếu năng lực của ông. Henderson và Banks đóng vai trò hướng dẫn. Hai cảnh sát đi khắp thành phố, đến các quán bar và hộp đêm, được giới thiệu với Pedro Negrete, trò chuyện hồi lâu với ông này về tình trạng buôn lậu thuốc phiện, họp với thanh tra Ortiz Rebolledo và thanh tra Juan de Dios Martínez, nói chuyện với hai bác sĩ pháp y của nhà xác thành phố, xem xét một số hồ sơ về những xác chết vô danh được phát hiện trong sa mạc, và đến nhà thổ Asuntos Internos, ngủ với gái điếm. Sau đó, cũng đột ngột như khi đến, họ đi mất.
♣ ♣ ♣
Về phần Florita Almada, lần xuất hiện thứ hai của bà trên truyền hình ít ngoạn mục hơn lần thứ nhất. Theo yêu cầu đặc biệt của Reinaldo, bà nói về ba cuốn sách bà đã viết và xuất bản. Có lẽ chúng không phải sách hay, bà nói, nhưng là được viết bởi một phụ nữ quá hai mươi tuổi vẫn còn mù chữ, ba cuốn sách ấy không phải hoàn toàn vô giá trị. Mọi thứ trên thế giới này, bà khẳng định, dù lớn đến đâu đi nữa, cũng vẫn nhỏ nhoi vô cùng nếu đem so với vũ trụ. Bà nói vậy là sao? Thì ý là con người, nếu chú tâm, có thể vượt lên chính mình. Bà không có ý nói là một nông dân, chẳng hạn thế, sẽ đột nhiên có khả năng điều hành NASA, hay thậm chí làm việc cho NASA, nhưng ai dám chắc là con của người nông dân ấy, được tình yêu thương và tấm gương của người cha dẫn lối, lại không thể làm việc ở đấy một ngày nào đó? Để dẫn ra một ví dụ khác thì chính bà lẽ ra đã muốn đi học và làm cô giáo, bởi vì nghề ấy, theo hiểu biết khiêm tốn của bà, có lẽ là nghề hay nhất trên đời, dạy dỗ trẻ con, mở mắt cho lũ trẻ với sự uyển chuyển dịu dàng để chúng có thể chiêm ngưỡng, dẫu chỉ một phần rất nhỏ, những kho báu của thực tại và văn hóa, mà xét cho cùng vốn chỉ là một mà thôi. Nhưng bà đã không làm vậy được và giờ bà vẫn thấy hài lòng với cuộc sống của mình. Đôi khi bà mơ thấy mình làm cô giáo và sống ở thôn quê. Trường của bà nằm trên đỉnh đồi nhìn xuống thị trấn, những căn nhà màu nâu, vài căn màu trắng, những mái nhà màu vàng sẫm thỉnh thoảng được dùng làm nơi cho các ông bà già ngồi nhìn xuống những con phố đường đất. Từ sân trường có thể thấy các cô gái đang trên đường đến lớp. Những mái tóc đen cột đuôi ngựa hoặc tết bím hoặc buộc chặt bằng dây buộc tóc. Những khuôn mặt ngăm ngăm và nụ cười trắng lóa. Đằng xa, các nông dân đang canh tác, thu hoạch trái cây từ sa mạc, chăn những đàn dê. Bà hiểu được lời họ, cách họ nói chào buổi sáng hay chào buổi tối, bà hiểu chúng một cách rõ ràng biết bao, mọi lời họ nói, những lời không bao giờ thay đổi và những lời thay đổi từng ngày, từng giờ, từng phút, bà hiểu hết chẳng chút khó khăn. Chà, giấc mơ thì vẫn thế mà. Có những giấc mơ trong đó mọi thứ ăn khớp với nhau và có những giấc mơ trong đó chẳng cái nào khớp với cái nào và thế giới giống như một cỗ quan tài cót két. Dẫu vậy đi chăng nữa, bà vẫn hài lòng với cuộc sống của mình, bởi dù bà không được học hành để làm cô giáo như hằng mơ ước song nay bà đã là thảo dược sư và trong mắt một số người là nhà tiên tri, và nhiều người hàm ơn bà bởi chút việc cỏn con bà làm cho họ, chẳng có gì hệ trọng, vài lời khuyên, đôi gợi ý vặt vãnh, chẳng hạn đề nghị họ bổ sung xơ thực vật vào chế độ ăn, xơ thực vật không phải thức ăn cho người, nói cách khác hệ tiêu hóa của ta không thể phân giải và hấp thu nó được, nhưng nó giúp ta dễ đi toilet hay đại tiện hay, xin anh Reinaldo và khán giả khả kính bỏ quá cho, đi ỉa. Chỉ hệ tiêu hóa của các động vật ăn cỏ, Florita nói, mới được trang bị những chất có khả năng hấp thu xenluloza và do đó hấp thu các phân tử glucoza cấu tạo nên xenluloza. Xơ thực vật là cái tên chúng ta dùng để gọi xenluloza và các chất tương tự. Việc hấp thu xơ thực vật, cho dù nó không cung cấp cho ta những thành phần hữu ích tạo ra năng lượng, vẫn có lợi. Vì không được hấp thu, xơ làm cho miếng thức ăn nhai, trên đường đi qua ống tiêu hóa, vẫn giữ nguyên khối lượng. Điều đó làm nảy sinh áp lực trong ruột, kích thích nhu động ruột, bảo đảm thức ăn thừa có thể dễ dàng đi qua toàn bộ ống tiêu hóa. Khó có thể coi ỉa chảy là chuyện tốt, chỉ trừ một vài trường hợp ngoại lệ, nhưng đi vệ sinh mỗi ngày một hai lần sẽ mang lại sự thanh thản và điều độ, một dạng bình an nội tại. Không phải một sự bình an nội tại to tát, chúng ta chẳng cần phóng đại làm gì, mà là một sự bình an nội tại nhỏ bé mà ngời sáng. Cái được xơ thực vật đại diện và cái được sắt đại diện mới khác nhau đến nhường nào chứ! Xơ thực vật là thức ăn của loài ăn cỏ, nhỏ bé và cung cấp cho ta không chỉ thức ăn mà còn cả sự bình an có kích cỡ bằng hạt đậu nhảy, sắt thì ngược lại, tiêu biểu cho thái độ tàn nhẫn của chúng ta đối với người khác và với chính mình, sự tàn nhẫn trong dạng thức cực đoan nhất của nó. Tôi đang nói về thứ sắt nào vậy? Chính là thứ sắt dùng để làm gươm. Hay thứ sắt từng được dùng để làm gươm và hiện thân cho sự cứng nhắc. Dù thuộc trường hợp nào, sắt cũng mang lại cái chết. Vua Salomón, vị vua thông thái, có lẽ là vị vua thông thái nhất trong lịch sử, con của vị vua được nhắc đến trong bài Las Manañitas, bài hát sinh nhật của chúng ta, người bảo vệ tuổi thơ, mặc dù nghe nói có lần con người ấy toan dùng gươm xả một đứa bé làm đôi, khi ngài ra lệnh xây đền Jerusalem, đã nghiêm cấm dùng sắt làm trụ đỡ cho công trình, thậm chí trong cả chi tiết nhỏ nhất, và ngài cũng cấm dùng sắt trong lễ cắt bao quy đầu, một nghi thức mà, nhân tiện nói thôi chứ không hề có ý xúc phạm gì, có thể hữu lý vào thời ấy và ở những vùng sa mạc ấy, nhưng ngày nay có các phương pháp vệ sinh hiện đại rồi thì tôi thấy thật không cần thiết. Tôi cho rằng đàn ông nên tự cắt bao quy đầu vào năm hăm mốt tuổi nếu họ muốn, còn nếu không muốn thì cũng chả sao. Quay lại chuyện sắt, Florita nói, cần nói thêm rằng cả người Hy Lạp lẫn người Celt đều không dùng sắt khi đi thu thập các loại thảo dược hay thần dược. Bởi vì sắt tượng trưng cho cái chết, sự cứng nhắc, quyền lực. Mà điều đó thì ngược lại với chức năng chữa lành. Mặc dù về sau người La Mã gán cho sắt hàng loạt phẩm tính trị liệu, cho rằng sắt có thể giảm bớt hay chữa khỏi nhiều loại bệnh, chẳng hạn bị chó dại cắn, xuất huyết, bệnh lỵ, bệnh trĩ. Cách nghĩ này kéo dài đến thời Trung cổ thì được bổ sung thêm quan niệm rằng quỷ sứ, phù thủy và pháp sư hễ thấy sắt là cao chạy xa bay. Làm sao không cao chạy xa bay cho được một khi sắt là công cụ để giết họ! Họa có là hạng ngu đần hết thuốc chữa thì mới không biết đường chạy cho xa! Vào cái thời tăm tối đó sắt được dùng trong thứ thuật tiên tri gọi là sideromancia, người ta sẽ nung một mẩu sắt trong lò cho đến khi nó nóng đỏ lên, sau đó ném các mẩu rơm lên đấy, để chúng cháy bùng, tỏa ánh sáng rực rỡ như những vì sao. Thứ kim loại này, nếu được đánh bóng, có thể bảo vệ mắt trước cái nhìn tàn độc của phù thủy. Điều này, xin quý vị thứ lỗi cho sự lạc đề của tôi, Florita nói, khiến tôi nghĩ tới những cặp kính đen mà một số lãnh tụ chính trị hay chủ nghiệp đoàn hay cảnh sát thường đeo. Không biết họ che mắt để làm gì? Có phải họ đã thức trắng đêm tìm cách để đất nước tiến lên, để công nhân có việc làm ổn định hơn hay được trả lương cao hơn, để tội phạm bị trấn áp? Có lẽ vậy. Tôi không nói là không. Có thể chính vì vậy mắt họ mới có quầng thâm. Nhưng nếu tôi tới gần một trong số họ gỡ kính của họ ra và thấy rằng họ không có quầng mắt thì sao? Mường tượng thế thôi là tôi đã sợ rồi. Nó làm tôi tức giận. Rất ư tức giận, thưa các bạn thân mến. Nhưng nó còn khiến bà sợ hơn tức giận hơn nữa, và điều này bà phải nói ở đây, trước ống kính, trên show truyền hình thú vị của Reinaldo, được gọi bằng cái tên thật xứng là Một giờ với Reinaldo, một chương trình bổ ích hấp dẫn mang lại cho tất cả mọi người cơ hội được cười đùa vui vẻ đồng thời học được điều mới mẻ, vì Reinaldo là một chàng trai trẻ có văn hóa và luôn cất công mời những vị khách thú vị, một ca sĩ, một họa sĩ, một tay nuốt lửa đã giải nghệ nay sống ở thủ đô, một nhà thiết kế nội thất, một người nói tiếng bụng cùng con rối gỗ, một bà mẹ của mười lăm đứa con, một nhà soạn nhạc chuyên viết những bài ballad trữ tình, song bây giờ bà đã ở đây, bà nói, thì nghĩa vụ của bà là tận dụng cơ hội này để nói về những điều khác, tức là không nói về bản thân mình, không thể đầu hàng trước sự cám dỗ của cái tôi, cái sự phù phiếm đó, sự phù phiếm vốn lẽ ra chẳng phải là phù phiếm hay tội lỗi hay gì gì nếu như bà là một cô gái mười bảy mười tám tuổi, song lại là điều không thể tha thứ ở một bà già bảy mươi, mặc dù, bà nói, đời tôi có thể cung cấp chất liệu cho bảy cuốn tiểu thuyết hay ít nhất là một bộ phim truyền hình nhiều tập, song Chúa Trời và đặc biệt là Đức Mẹ đồng trinh chí thánh hẳn sẽ miễn cho bà khỏi phải nói về bản thân, Reinaldo sẽ phải thứ lỗi cho tôi, anh ấy muốn tôi nói về chính mình, nhưng có một điều quan trọng hơn tôi và những thứ gọi là phép mầu của tôi, vốn chả phải phép mầu gì, như tôi vẫn nhắc đi nhắc lại không biết mệt, mà là thành quả của nhiều năm đọc sách và sống cùng cây cỏ, nói cách khác các phép mầu của tôi là sản phẩm của lao động và quan sát và có thể, tôi nói là có thể thôi nhé, cũng là của một tài năng bẩm sinh, Florita nói. Đoạn bà nói: tôi rất giận, tôi vừa sợ vừa tức giận vì những gì đang xảy ra ở bang Sonora tươi đẹp, quê hương tôi, nơi tôi ra đời và có lẽ là nơi tôi sẽ chết. Thế rồi bà nói: tôi đang nói về những linh thị sẽ khiến cho kẻ gan lì nhất trong những kẻ gan lì cũng phải nghẹn thở. Trong mơ tôi thấy những tội ác, như thể một cái tivi nổ tung ra và tôi không ngừng nhìn thấy, trên những mảnh màn hình nhỏ văng tung tóe trong phòng ngủ của tôi, những cảnh rùng rợn, những tiếng khóc không dứt. Và bà nói: sau những linh thị ấy tôi không ngủ được. Cho dù tôi cố sức đến nhường nào để lấy lại tinh thần, vẫn không kết quả. Bụt chùa nhà không thiêng. Thế là tôi thức đến sáng, cố đọc cố làm gì đó hữu ích và thực tế, nhưng rồi cuối cùng tôi lại ngồi xuống bên bàn bếp bắt đầu nghiền ngẫm vấn đề này. Và cuối cùng bà nói: tôi đang nói về những người phụ nữ bị giết chết dã man ở Santa Teresa, tôi đang nói về những đứa con gái và những bà mẹ của gia đình, về những người lao động thuộc mọi ngành nghề ngày ngày xuất hiện chỉ còn là cái xác không hồn khắp các quận các khu và các vùng ven của cái thành phố công nghiệp ở phía Bắc bang chúng ta đó. Tôi đang nói đến Santa Teresa. Tôi đang nói đến Santa Teresa.
♣ ♣ ♣
Về những người phụ nữ chết trong tháng Tám năm 1995, người đầu tiên là Aurora Muñoz Álvarez và xác cô được phát hiện trên lề xa lộ Santa Teresa- Cananea. Cô bị siết cổ. Cô hăm tám tuổi và mặc quần legging xanh lục, áo thun trắng, mang giày tennis hồng. Theo bác sĩ pháp y, cô đã bị đánh đập và bị quất roi: trên lưng cô vẫn còn thấy rõ dấu một cái thắt lưng to bản. Cô làm hầu bàn tại một quán cà phê ở trung tâm thành phố. Người đầu tiên bị tóm là bạn trai cô, theo một số nhân chứng thì cô thường xuyên đánh nhau với anh này. Tên anh ta là Rogelio Reinosa, làm việc ở nhà máy Rem&Co và không có chứng cứ ngoại phạm vào buổi tối Aurora Muñoz bị bắt cóc. Anh ta liên tục bị thẩm vấn trong suốt một tuần. Một tháng sau, sau khi bị chuyển đến nhà tù Santa Teresa, anh ta được phóng thích do thiếu bằng chứng. Không ai khác bị bắt. Theo các nhân chứng tận mắt chứng kiến sự việc, vốn không hề biết đấy là một vụ bắt cóc, Aurora Muñoz đã lên một chiếc xe Peregrino màu đen cùng hai người đàn ông có vẻ quen biết cô. Hai ngày sau khi xuất hiện nạn nhân đầu tiên của tháng Tám, xác Emilia Escalante Sanjuán, ba mươi ba tuổi, được phát hiện, có nhiều vết tụ máu trên ngực và cổ. Xác được phát hiện tại giao lộ giữa Michoacán và General Saavedra, ở quận Trabajadores. Theo báo cáo của bác sĩ pháp y, nguyên nhân tử vong là do siết cổ, sau khi nạn nhân đã bị hãm hiếp vô số lần. Báo cáo của thanh tra Ángel Fernández, phụ trách vụ này, thì ngược lại, chỉ ra rằng nguyên nhân tử vong là ngộ độc cồn. Emilia Escalante Sanjuán sống ở quận Morelos, phía Tây thành phố, làm việc tại nhà máy New-Markets. Cô có hai con nhỏ và sống cùng người mẹ đã được cô nhờ người đưa từ quê nhà Oaxaca lên. Cô không có chồng, tuy nhiên hai tháng một lần cô đến các hộp đêm ở khu trung tâm cùng các đồng nghiệp, uống rượu rồi đi cùng người đàn ông nào đó. Thực ra là một con điếm, cảnh sát nói. Một tuần sau xác Estrella Ruiz Sandoval, mười bảy tuổi, xuất hiện gần xa lộ Casas Negras. Cô đã bị hãm hiếp và siết cổ. Cô mặc quần jean và áo cánh màu xanh dương sẫm. Hai tay cô bị trói quặt sau lưng. Cơ thể cô không có dấu vết bị tra tấn hay đánh đập. Ba hôm trước, cô đã biến mất khỏi căn nhà sống cùng cha mẹ và các anh chị em. Vụ này được giao cho Epifanio Galindo và Noé Velasco, thuộc sở cảnh sát Santa Teresa, nhằm giảm bớt gánh nặng cho các cảnh sát tư pháp vẫn đang kêu ca vì công việc quá tải. Một ngày sau khi xác Estrella Ruiz Sandoval được phát hiện, xác Mónica Posadas, hai mươi tuổi, xuất hiện ở một khu đất trống gần phố Anústad, quận La Preciada. Theo pháp y, Mónica đã bị hãm hiếp theo đường hậu môn và đường âm hộ, tuy nhiên người ta còn thấy dấu vết tinh dịch có cả trong cổ họng cô, khiến cảnh sát kháo nhau về một vụ hãm hiếp “theo ba đường”. Tuy nhiên, một cảnh sát bảo rằng một cuộc hãm hiếp đầy đủ thì phải theo năm đường. Khi được hỏi hai đường kia là gì, anh ta bảo là hai tai. Một cảnh sát khác nói anh ta từng nghe có một gã ở Sinaloa bị hãm hiếp theo bảy đường. Tức là năm đường đã biết, cộng thêm hai mắt. Và một cảnh sát nữa nói anh ta từng nghe kể có một tay ở thủ đô làm chuyện đó theo tám đường, gồm bảy đường đã nói ở trên, tạm gọi là bảy đường kinh điển, cộng thêm lỗ rốn, bị thằng cha ở thủ đô lấy dao khoét một lỗ không quá lớn rồi cắm cây gậy của hắn vào, mặc dù dĩ nhiên phải điên lắm thì anh mới làm thế. Dù sao thì câu chuyện hãm hiếp “theo ba đường” cứ thế lan truyền và được cảnh sát Santa Teresa ưa thích, dần dần giữ vai trò bán chính thức và thi thoảng lại nhảy ra trong các báo cáo, các cuộc thẩm vấn và những cuộc chuyện trò không ghi âm với cánh báo chí. Trong vụ Mónica Posadas, nạn nhân không chỉ bị hãm hiếp “theo ba đường” mà còn bị siết cổ. Cái xác, được tìm thấy nửa khuất nửa lộ phía sau mấy thùng các tông, để trần từ thắt lưng xuống. Hai chân nhuốm máu. Nhiều máu đến nỗi nếu nhìn từ xa hoặc từ một độ cao nhất định, một người lạ (hay một thiên thần, bởi vì xung quanh chẳng có tòa nhà nào đặng từ đó nhìn xuống) hẳn có thể nói: rằng cô gái mặc quần bó màu đỏ. Âm hộ cô rách toác. Cửa mình và hai đùi cô có dấu vết cắn xé rõ ràng, như thể bị một con chó hoang gặm. Các thanh tra tập trung cuộc điều tra vào gia đình và người thân của Mónica Posadas, cô vốn sống cùng gia đình ở phố San Hipólito, cách lô đất trống nơi người ta tìm thấy xác cô sáu khối nhà. Mẹ và cha dượng cũng như anh trai cô làm ở Overworld, nhà máy Mónica từng làm việc ba năm trước khi ra đi thử vận may ở Country&SeaTech. Gia đình Mónica quê ở một thị trấn nhỏ vùng Michoacán và đến Santa Teresa mười năm trước. Ban đầu cuộc sống có vẻ tệ đi chứ chẳng tốt hơn, nên cha Mónica quyết định vượt biên. Chẳng ai còn nghe tin tức gì về ông nữa và sau một thời gian cả nhà coi như ông đã chết. Rồi mẹ Mónica gặp một người đàn ông hay lam hay làm và chu đáo với gia đình, cuối cùng kết hôn với người này. Từ cuộc hôn nhân này ba đứa trẻ ra đời, một đứa làm việc ở một nhà máy nhỏ sản xuất bốt, hai đứa kia đi học. Khi bị thẩm vấn, chẳng mấy chốc cha dượng của Mónica đã tỏ ra tự mâu thuẫn rõ rành rành, và rốt cuộc y thú nhận tội lỗi trong vụ sát nhân này. Theo y tự thú, y đã thầm yêu trộm nhớ Mónica từ khi cô mười lăm tuổi. Đời y từ đó trở thành địa ngục trần gian, y bảo thanh tra Juan de Dios Martínez, thanh tra Ernesto Ortiz Rebolledo và thanh tra Efraín Rebolledo thế, nhưng y luôn kiềm chế và giữ khoảng cách với cô, một phần vì cô là con riêng của vợ y, phần khác vì mẹ cô cũng là mẹ của con y. Lời khai của y về ngày diễn ra tội ác thì mơ hồ, đầy lỗ hổng và nhiều chi tiết bị bỏ quên. Trong lời khai đầu tiên y bảo lúc đó là đêm khuya. Trong lời khai thứ hai y nói đó là sáng tinh mơ, chỉ có y và Mónica trong nhà vì tuần đó cả hai đều làm ca chiều. Cái xác được giấu trong tủ quần áo. Trong tủ quần áo của tôi, y bảo các thanh tra thế, cái tủ ấy chẳng ai đụng tới vì nó là tủ của tôi và tôi yêu cầu mọi người phải tôn trọng đồ đạc của tôi. Đêm đến, khi cả nhà ngủ say, y quấn xác trong một tấm chăn rồi đem vứt ở bãi rác gần nhất. Khi bị hỏi về những vết cắn và máu phủ trên hai chân Mónica, y không biết trả lời sao. Y nói y đã siết cổ cô và chỉ nhớ được thế. Phần còn lại đã bị xóa khỏi trí nhớ y. Hai ngày sau khi người ta phát hiện xác Mónica trong bãi đất trống ở phố Amistad, một xác phụ nữ khác xuất hiện trên xa lộ Santa Teresa-Caborca. Theo bác sĩ pháp y, người phụ nữ này trạc từ mười tám đến hăm hai tuổi, mặc dù cũng rất có thể từ mười sáu đến hăm ba. Nguyên nhân tử vong thì khá rõ. Cô bị bắn chết. Cách chỗ người ta phát hiện ra cô chừng hăm lăm mét, người ta lại tìm thấy bộ xương một phụ nữ khác, bị chôn một nửa trong tư thế nằm sấp, vẫn đang mặc áo khoác xanh dương và đi giày da gót nhọn loại tốt. Tình trạng cái xác khiến người ta không thể xác định nguyên nhân tử vong. Một tuần sau, sắp hết tháng Tám, trên xa lộ Santa Teresa-Cananea, người ta phát hiện ra xác Jacqueline Ríos, hai mươi lăm tuổi, bán hàng ở một cửa hàng nước hoa tại Madero. Cô mặc quần jean áo cánh xám nhạt. Giày tennis trắng và đồ lót màu đen. Cô bị bắn vào ngực và bụng. Cô ở chung căn hộ với một người bạn gái ở phố Bulgaria, quận Madero, và cả hai đều mơ một ngày nào đó sẽ đến California sống. Trong phòng ngủ chung của cô cùng cô bạn, người ta thấy các mẩu báo về các diễn viên Hollywood và ảnh chụp nhiều nơi trên thế giới. Đầu tiên chúng tôi muốn chuyển đến California, tìm việc làm tử tế lương cao, rồi sau đó, khi đã an cư lạc nghiệp, chúng tôi sẽ thăm thú thế giới vào các kỳ nghỉ phép, bạn cô nói. Cả hai đều học tiếng Anh tại một trường tư ở quận Madero. Vụ án đến giờ vẫn chưa phá được.
♣ ♣ ♣
Cái bọn tư pháp chó đẻ này chẳng bao giờ phá được vụ nào hết, Epifanio nói với Lalo Cura. Đoạn anh lục tung giấy tờ cho đến khi tìm thấy một cuốn sổ nhỏ. Chú mày nghĩ đây là gì? anh hỏi. sổ ghi địa chỉ, Lalo Cura nói. Không, Epifanio nói, nó là một vụ án chưa phá được. Vụ này xảy ra trước khi chú mày tới Santa Teresa. Tao không nhớ là năm nào. Ngay trước khi Don Pedro đưa chú mày tới, tao nhớ thế, nhưng không nhớ đích xác năm nào. Có lẽ 1993. Chú mày đến năm nào? Năm 93, Lalo Cura nói. Thế à? Vâng, Lalo Cura nói. Chà, nếu vậy vụ này xảy ra vài tháng trước khi chú mày đến, Epifanio nói. Dạo ấy có một phát thanh viên bị giết. Tên cô ta là Isabel Urrea. Cô ta bị bắn chết. Chẳng ai biết kẻ giết người là ai. Người ta đã cố tìm cho ra hắn nhưng không được. Dĩ nhiên, chẳng ai nghĩ đến chuyện xem cuốn sổ hẹn của Isabel Urrea. Mấy thằng chó chết đó nghĩ chắc chỉ là một vụ cướp không thành mà thôi. Có người nhắc tới một tay Trung Mỹ. Một thằng chó đẻ cùng đường đang cần tiền để vượt biên, một kẻ phi pháp, hiểu chửa? Một kẻ phi pháp kể cả là ở Mexico, nói vậy là hiểu quá rồi, bởi vì ở đây tất cả chúng ta đều là những kẻ phi pháp tiềm tàng thành thử thêm hay bớt một thằng chả có ý nghĩa gì. Tao đã đi cùng những người đến lục soát nhà cô ta để xem có tìm ra manh mối nào không. Dĩ nhiên là chả thấy gì. Sổ lịch hẹn của Isabel Urrea được cất trong túi xách cô ta. Tao nhớ khi đó tao ngồi trên ghế bành, bên cạnh là một ly tequila, ly tequila của Isabel Urrea, và tao bắt đầu ngó qua cuốn sổ lịch hẹn. Một tay thanh tra hỏi tao kiếm tequila ở đâu. Nhưng chả ai hỏi tao lấy cuốn sổ lịch hẹn ở đâu hay có gì quan trọng trong đó không. Tao đọc cuốn sổ, thấy vài cái tên có vẻ quen, và rồi tao bỏ cuốn sổ vào chung với các vật chứng. Một tháng sau tao đảo tới phòng lưu trữ ở đồn cảnh sát và thấy cuốn sổ lịch hẹn, giữa mấy món đồ cá nhân khác của cô phát thanh viên. Tao nhét nó vào túi áo khoác mang đi. Có vậy thì tao mới có thể thảnh thơi hơn mà nghiên cứu nó. Tao tìm thấy số điện thoại của ba tay buôn ma túy. Một trong đó là Pedro Rengifo. Tao còn thấy số của mấy gã tư pháp nữa, trong đó có một tay bự ở Hermosillo. Tại sao những số điện thoại ấy lại xuất hiện trong sổ lịch hẹn của một ả nhà báo quèn? Cô ta phỏng vấn họ à, đưa họ đến đài à? Cô ta là bạn họ à? Mà nếu cô ta không phải bạn họ thì ai cho cô ta mấy số ấy? Bí ẩn. Lẽ ra tao có thể làm gì đó. Gọi cho ai đấy trong số mấy người có tên bên trong sổ đặng đòi tiền. Nhưng tiền thì có là gì đối với tao. Thế là tao cứ giữ cuốn sổ, mẹ nó chứ, và chả làm gì hết.
♣ ♣ ♣
Đầu tháng Chín, xuất hiện xác một cô gái mà về sau được nhận diện là Marisa Hernández Silva. Cô mười bảy tuổi và mất tích từ đầu tháng Bảy trên đường đến trường Dự bị Vasconcelos, quận Reforma. Theo khám nghiệm pháp y, cô đã bị hãm hiếp và bóp cổ. Một bên vú cô hầu như bị đứt lìa còn bên kia thì thiếu núm vú, vì nó đã bị cắn đứt. Xác được phát hiện ở lối vào bãi rác bất hợp pháp Chile. Người gọi điện báo cảnh sát là một phụ nữ tới bãi rác này để vứt một cái tủ lạnh, lúc giữa trưa, thời điểm chẳng có kẻ lang thang nào ở đấy, chỉ thi thoảng mới có một đám trẻ con hay bầy chó. Marisa Hernández Silva nằm giạng háng giữa hai túi ni lông to màu xám đầy vụn vải sợi tổng hợp. Cô mặc đúng bộ quần áo hôm mất tích: quần denim, áo cánh màu vàng, giày tennis. Thị trưởng Santa Teresa ra lệnh đóng cửa bãi rác, tuy nhiên sau đó ông đổi lại (do được thư ký cho biết một thứ vốn đã không hề được mở ra dù là để làm gì thì cũng không thể đóng lại được) thành lệnh tháo dỡ, di dời và phá hủy hoàn toàn cái khoảnh đất độc hại nơi người ta không coi luật pháp ra gì này. Trong vòng một tuần một cảnh sát được cắt canh gác ở rìa Chile và trong suốt ba ngày, mấy xe chở rác, được hỗ trợ bởi hai xe rác thành phố, chở rác đến bãi thải ở quận Kino, nhưng trước mức độ của công việc cộng với tình trạng thiếu nhân lực, chẳng mấy chốc họ đành chịu thua.
♣ ♣ ♣
Vào quãng thời gian này Sergio Gonzáles, nhà báo thủ đô, đã được thăng chức ở ban văn hóa của tờ báo nơi anh làm và nhận mức lương cao hơn, thế nghĩa là nay anh có thể gửi tiền trợ cấp hằng tháng cho vợ cũ mà vẫn còn đủ tiền để sống khá tươm, thậm chí còn có cả nhân tình, một cô nhà báo ở ban thời sự quốc tế, thỉnh thoảng ngủ với anh nhưng không thể chuyện trò được vì tính cách quá khác nhau. Anh chưa quên - mặc dù chính anh cũng không hiểu tại sao ký ức lại dằng dai đến thế - quãng thời gian anh ở Santa Teresa hay những vụ giết phụ nữ, hay kẻ giết linh mục được gọi là Kẻ Ăn Năn, kẻ đã biến mất một cách bí ẩn như khi xuất hiện. Đôi khi anh nghĩ, ở Mexico mà làm phóng viên văn hóa thì cũng chẳng khác gì làm nhà báo chuyên về tội phạm. Và phụ trách mảng tội phạm thì cũng y như làm ở trang văn hóa, mặc dù đối với nhà báo chuyên viết các vấn đề liên quan đến tội phạm, đám nhà báo văn hóa là nhà báo văn họa, họ gọi thế, còn đối với nhà báo văn hóa thì đám nhà báo chuyên về tội phạm thảy là quân cặn bã không có giá trị gì. Có vài đêm, sau giờ làm việc anh đi nhậu với mấy tay nhà báo cứng tuổi ở ban tội phạm, vốn cũng là ban áp đảo về số lượng các nhà báo cứng tuổi, xếp sau đó, nhưng cách một đoạn xa, là ban thời sự trong nước và ban thể thao. Thường thì cuối cùng họ sẽ đến một quán quen của đám gái điếm ở quận Guerrero, một đại sảnh mênh mông ngự trị bởi bức tượng thạch cao Aphrodite cao hơn hai mét, có lẽ từng là nơi lừng danh trụy lạc thời nghệ sĩ Tin-Tan, anh nghĩ, nhưng rồi từ đó trở đi cứ thế mà tuột dốc không phanh, một sự tuột dốc không ngừng đúng kiểu Mexico, tức là một sự tuột dốc đây đó được vá víu bằng một tiếng cười bị nghẹt lại, một phát súng bị nghẹt lại, một tiếng thút thít bị nghẹt lại. Một sự tuột dốc kiểu Mexico ư? Không, tuột dốc kiểu Mỹ La tinh mới đúng. Các nhà báo ban tội phạm thích uống ở đó, nhưng hiếm khi đi với điếm. Họ nói về các vụ án cũ, nhớ lại các chuyện tham nhũng, tống tiền và đổ máu, chào hỏi hoặc tụ tập với đám cảnh sát cũng ghé quán này, trao đổi thông tin, họ bảo thế, nhưng hiếm khi họ đi với điếm. Ban đầu Sergio González bắt chước họ, cho đến khi anh nhận ra lý do khiến các nhà báo cứng tuổi này không ngủ với điếm chủ yếu là vì họ đã từng ngủ với tất tật các ả điếm rồi, từ nhiều năm trước, và bởi họ không còn ở cái tuổi có thể vứt tiền lung tung nữa. Thế là anh không bắt chước họ nữa mà tìm một ả điếm trẻ khá đẹp dẫn đến một khách sạn gần đấy. Có lần anh hỏi một trong các nhà báo cứng tuổi nhất xem ông ta nghĩ gì về các vụ giết phụ nữ ở miền Bắc. Ông nhà báo bảo anh đó là vùng của tụi buôn ma túy và nhất định rằng chẳng có chuyện gì đang xảy ra ở đấy mà lại không liên quan đến nạn buôn ma túy, không cách này thì cách khác. Anh thấy đó là một câu trả lời hiển nhiên, ai cũng có thể nói được, thế nhưng thỉnh thoảng anh lại nghiền ngẫm nó, như thể, mặc cho tính hiển nhiên hay sự đơn giản của lời ông nhà báo, câu trả lời ấy vẫn cứ quay vòng vòng quanh não anh mà phát tín hiệu. Mấy bạn bè văn chương của anh, thi thoảng vẫn đến gặp anh ở ban văn hóa, chả biết gì về chuyện đang xảy ra ở Santa Teresa, mặc dù tin về những người phụ nữ chết vẫn đều đều bay đến thủ đô, và Sergio González đoán có lẽ đối với họ những chuyện đang diễn ra ở một xó xa xôi nào đấy của xứ này chả có gì ghê gớm cả. Các đồng nghiệp của anh, kể cả những người ở ban tội phạm, cũng tỏ ra thờ ơ. Một đêm, sau khi làm tình với ả điếm, trong khi hai người nằm trên giường hút thuốc, anh hỏi cô ta nghĩ gì về những vụ bắt cóc và những xác phụ nữ được phát hiện trong sa mạc, thì cô ta bảo cô ta chẳng hiểu anh đang nói chuyện gì. Vậy là Sergio bèn kể cô ta nghe mọi điều anh biết về những người phụ nữ chết và kể lại chuyến đi của anh đến Santa Teresa và lý do anh đi, vì anh cần tiền, vì hồi ấy anh vừa ly dị, và rồi anh kể về những vụ giết người mà anh đã theo dõi với tư cách độc giả, về các thông cáo báo chí của một tổ chức phụ nữ có tên viết tắt là MSDP, anh nhớ như vậy, mặc dù đã quên mất chúng là viết tắt của chữ gì, Phụ nữ Thành phố Sonora Dân chủ Vì Dân chăng?, và trong khi anh nói thì ả điếm ngáp, không phải vì không quan tâm đến những điều anh nói mà vì cô ta mệt, khiến Sergio nổi giận và cáu tiết nói rằng ở Santa Teresa người ta đang giết gái điếm đấy, ít nhất cô cũng nên thể hiện chút tình đoàn kết đồng nghiệp nào đó chứ, nghe vậy ả điếm liền đáp rằng anh lầm rồi, theo như nãy giờ anh kể thì mấy người phụ nữ chết kia là công nhân nhà máy chứ không phải điếm. Công nhân, công nhân, cô ta nói. Vậy là anh xin lỗi và, như thể đột nhiên sáng tỏ, anh nhìn thấy một khía cạnh của tình hình từ trước đến nay vẫn bị anh bỏ qua.
♣ ♣ ♣
Tháng Chín vẫn còn nhiều bất ngờ khác cho cư dân Santa Teresa. Ba ngày sau khi phát hiện xác chết không toàn vẹn của Marisa Hernández Silva, xác một phụ nữ không rõ danh tính xuất hiện trên xa lộ Santa Teresa- Cananea. Người chết này khoảng hăm lăm tuổi và hông bên phải bị trật khớp bẩm sinh. Tuy nhiên, chẳng ai nhớ gì về cô và sau khi khuyết tật này của cô được đăng tin trên báo, vẫn không ai đến gặp cảnh sát cung cấp thông tin mới ngõ hầu có thể xác định danh tính của cô. Xác cô được phát hiện bị trói hai tay, bằng một cái quai túi nữ. Cô bị lột trần và cả hai tay đều có vết dao đâm. Nhưng điều quan trọng nhất là, cũng như cô gái trẻ Marisa Hernández Silva, một bên vú cô gần đứt lìa còn bên kia thì bị cắn đứt núm vú.
♣ ♣ ♣
Cùng ngày người ta tìm thấy một nạn nhân không rõ danh tính trên xa lộ Santa Teresa-Cananea, các công nhân đang ra sức di dời bãi rác Chile phát hiện ra một xác phụ nữ đang phân hủy. Không thể xác định nguyên nhân tử vong. Cô có mái tóc đen dài. Cô mặc áo cánh sáng màu với những họa tiết sẫm màu không thể nhìn ra rõ do tình trạng phân hủy của xác. Cô mặc quần jean hiệu Jokko. Không ai đến gặp cảnh sát cung cấp thông tin giúp xác định danh tính của cô.
♣ ♣ ♣
Vào cuối tháng Chín, xác một bé gái mười ba tuổi được phát hiện ở sườn Đông đồi Estrella. Cũng như Marisa Hernández Silva và người phụ nữ vô danh trên xa lộ Santa Teresa-Cananea, vú phải con bé bị xẻo mất còn núm vú trái bị cắn đứt. Con bé mặc quần jean Lee chất lượng tốt, áo nỉ và áo khoác đỏ. Con bé rất mảnh mai. Con bé đã bị hãm hiếp nhiều lần rồi bị đâm, và nguyên nhân tử vong là gãy xương móng. Nhưng điều khiến báo giới ngạc nhiên nhất là không ai đến nhận xác hoặc nhận là có biết người chết. Tuồng như con bé đã đến Santa Teresa một mình và sống ở đấy như kẻ vô hình cho đến khi kẻ sát nhân hay những kẻ sát nhân để ý đến và giết con bé.
♣ ♣ ♣
Trong khi các tội ác cứ nối theo nhau, Epifanio một mình tiếp tục điều tra cái chết của Estrella Ruiz Sandoval. Anh nói chuyện với cha mẹ cô và mấy người anh vẫn đang sống cùng nhà. Họ chẳng biết gì. Anh nói chuyện với một người chị, đã lấy chồng và hiện sống ở phố Esperanza, quận Lomas del Toro. Anh xem ảnh chụp Estrella. Cô xinh đẹp, cao, tóc đẹp, nét mặt ưa nhìn. Chị của cô cho anh biết những ai là bạn cô ở nhà máy nơi cô làm việc. Anh chờ họ ở lối ra. Anh để ý thấy anh là người lớn duy nhất đang chờ, còn lại toàn trẻ con, một số thậm chí còn đang cầm sách giáo khoa. Gần đám trẻ con là một người đàn ông có xe kem xanh. Chiếc xe che ô trắng. Như thể muốn cho lũ trẻ con biến hết đi, Epifanio huýt sáo gọi chúng lại rồi mua cho mỗi đứa một que kem, ngoại trừ một đứa chưa tới ba tháng đang nằm trên tay con chị chừng sáu tuổi. Các bạn của Estrella tên là Rosa Márquez và Rosa María Medina. Anh hỏi các công nhân trên đường tan ca thì một người liền chỉ Rosa Márquez cho anh thấy. Anh bảo cô này anh là cảnh sát và nhờ cô tìm cô bạn kia. Sau đó họ đi bộ ra khỏi khu công nghiệp. Khi họ nhắc tới Estrella, cô bạn tên Rosa María Medina bật khóc. Ba cô thích phim và vào các Chủ nhật, tuy không phải Chủ nhật nào cũng vậy, họ vào khu trung tâm xem suất đúp ở rạp Rex. Những lần khác thì họ chỉ ngắm các cửa hàng, nhất là mấy cửa hàng quần áo nữ, không thì đến một trung tâm thương mại ở quận Centeno. Ở đấy vào Chủ nhật hằng tuần có các nhóm nhạc trình diễn và vào cửa không mất tiền. Anh hỏi họ Estrella có dự định gì cho tương lai không. Dĩ nhiên là có, cô muốn đi học, cô không muốn suốt đời làm ở nhà máy. Cô ấy muốn học gì? Muốn học dùng máy vi tính, Rosa María Medina nói. Sau đó Epifanio hỏi có phải họ cũng muốn học một nghề không thì họ nói có, nhưng làm được chẳng dễ. Cô ấy chỉ chơi với các cô thôi hay còn bạn khác nữa? anh hỏi. Chúng tôi là bạn thân nhất của cô ấy, họ đáp. Cô ấy không có bồ. Hồi trước thì có. Nhưng từ xưa rồi. Họ không biết người đó. Khi anh hỏi hồi có bồ Estrella bao nhiêu tuổi, hai cô gái nghĩ một lát rồi bảo ít nhất cũng mười hai. Làm sao một cô gái xinh đến thế lại chả có anh nào theo? anh muốn biết. Hai cô bạn gái bật cười bảo có khối anh muốn bồ bịch với Estrella, nhưng cô ấy không muốn phí thì giờ. Chúng tôi cần gì đàn ông nếu như chúng tôi đã có công ăn việc làm, tự kiếm ra tiền và có thể muốn gì làm nấy? Rosa Márquez hỏi anh. Đúng vậy, Epifanio nói, tôi cũng nghĩ vậy, tuy nhiên thỉnh thoảng, nhất là khi còn trẻ, chơi bời vui vẻ cũng đâu có gì sai, cái đó đôi khi cũng cần mà. Chúng tôi với nhau là đủ vui rồi, hai cô gái nói, chúng tôi chẳng bao giờ thấy cần thêm. Khi họ đã về gần đến nhà một trong hai cô, anh nhờ họ, mặc dù chắc cũng chẳng ích gì, mô tả những người đàn ông từng muốn hẹn hò hoặc làm bạn với Estrella. Họ dừng lại giữa phố và Epifanio ghi lại năm cái tên, không có họ, tất cả đều là công nhân làm cùng nhà máy với ba cô gái. Đoạn anh đi bộ thêm mấy đoạn phố nữa với Rosa María Medina. Tôi không tin là do ai trong số những người ấy, cô gái nói. Sao cô không tin? Vì họ có vẻ tử tế, cô gái nói. Tôi sẽ nói chuyện với họ, Epifanio nói, khi nào nói chuyện xong tôi sẽ kể cho cô nghe. Trong vòng ba ngày anh đã truy ra được năm người trong danh sách. Không ai có vẻ là người xấu. Một người đã lấy vợ, nhưng vào đêm Estrella biến mất thì anh này đang ở nhà với vợ và ba đứa con. Bốn người kia đều có chứng cứ ngoại phạm ít nhiều vững chắc và, quan trọng nhất, chẳng ai có ô tô. Anh lại nói chuyện với Rosa María Medina. Lần này anh ngồi chờ trước cửa nhà cô. Khi Rosa về, cô bực bội hỏi sao anh không gõ cửa. Tôi có gõ, Epifanio nói, mẹ cô mở cửa mời tôi vào uống cà phê, nhưng rồi bà lại phải đi làm nên tôi đợi cô ngoài này. Cô gái mời Epifanio vào nhưng anh thích ngồi ngoài hơn, vì bên ngoài không nóng như trong nhà. Anh hỏi cô có hút thuốc không. Ban đầu cô gái đứng tránh sang một bên, rồi sau cô ngồi xuống một hòn đá phẳng và nói cô không hút. Epifanio ngắm hòn đá: nó trông rất ngộ, hình dáng như cái ghế, nhưng không có lưng tựa, và việc bà mẹ hoặc ai đó trong gia đình Rosa đã đặt nó ở đây, trong mảnh vườn con này, cho thấy một khiếu thẩm mỹ tốt và thậm chí một sự tinh tế. Anh hỏi cô gái hòn đá này ở đâu ra. Ba tôi tìm thấy nó, Rosa María Medina nói, ở Casas Negras, và ông một mình mang nó về. Người ta phát hiện ra xác Estrella ở đó đấy, Epifanio nói. Trên xa lộ, cô gái nói, nhắm mắt. Ba tôi tìm thấy hòn đá này ngay tại Casas Negras, ở một hội chợ, và ông đâm thích nó ngay. Ba tôi là thế. Đoạn cô bảo ba cô đã mất. Epifanio muốn biết tại sao. Lâu lắm rồi, cô gái nói kèm một cử chỉ ra chiều thờ ơ. Epifanio châm điếu thuốc rồi bảo Rosa kể cho anh nghe thêm lần nữa, theo cách nào cũng được, những lần cô đi chơi cùng Estrella và cái cô kia, tên gì ấy nhỉ? Rosa Márquez, vào các Chủ nhật. Cô gái bắt đầu kể, mắt dán vào mấy chậu cây cảnh mẹ cô trồng trong khoảnh sân bé tí trước nhà, tuy nhiên thỉnh thoảng cô ngước lên nhìn anh như thể muốn lường xem những gì cô đang kể có ích gì không hay chỉ tổ phí thời gian. Khi cô kể xong thì Epifanio chỉ nắm rõ được một điều: họ không chỉ đi chơi vào các Chủ nhật, đôi khi các cô còn đi xem phim vào thứ Hai hoặc thứ Năm, hoặc đi nhảy, tùy vào ca làm việc ở nhà máy, mà vụ ca kíp này thì cứ đổi xoành xoạch và tuân theo những kế hoạch sản xuất vượt ngoài tầm hiểu của công nhân. Thế là anh đổi cách, hỏi xem họ giải trí bằng cách nào vào các thứ Ba, chẳng hạn thế, nếu đó là ngày họ được nghỉ trong tuần. Theo cô thì thứ Ba cũng tương tự thôi, dù xét trên một số phương diện thì như thế có phần lại hay hơn bởi vì các cửa hàng ở khu trung tâm đều mở cửa, trong khi Chủ nhật thì không. Epifanio dấn tới thêm một chút. Anh muốn biết đâu là rạp chiếu phim ưa thích của các cô, ngoài Rex ra, họ còn tới những rạp nào, có ai lảng vảng tới gần Estrella ở đâu đó không, họ đã đến những trung tâm thương mại hay cửa hàng nào cho dù là không vào trong mà chỉ đứng ngoài ngắm hàng qua cửa kính, họ hay đến những quán cà phê nào, tên của các quán ấy, họ có khi nào đến hộp đêm không. Cô gái trả lời họ chẳng bao giờ đến hộp đêm, Estrella không ưa mấy chỗ ấy. Nhưng cô thì có, Epifanio nói. Cô và cô bạn Rosa Márquez của cô. Cô gái không muốn nhìn thẳng vào mặt anh và nói rằng thỉnh thoảng, những khi không đi cùng Estrella, họ đến các hộp đêm ở khu trung tâm. Còn Estrella thì không? Estrella không lần nào đi cùng họ? Chẳng bao giờ, cô gái nói. Estrella muốn tìm hiểu về máy vi tính, muốn học, muốn tiến bộ, cô gái nói. Máy vi tính, máy vi tính, tôi chả tin một lời nào cô nói cả, cưng ạ, Epifanio nói. Tôi không phải cưng kiếc gì của anh hết, cô gái nói. Hai người ngồi im một lúc. Epifanio khẽ bật cười rồi đốt thêm điếu thuốc, ngồi đó trước cửa nhà nhìn thiên hạ lại qua. Có một chỗ, cô gái nói, nhưng tôi không nhớ ở đâu, nó ở khu trung tâm, một cửa hàng vi tính. Chúng tôi tới đó mấy lần. Rosa với tôi chờ bên ngoài, Estrella vào trong một mình nói chuyện với một người rất cao, cao hơn anh nhiều, cô gái nói. Một người cao, còn gì nữa? Epifanio hỏi. Cao và tóc vàng, cô nói. Còn gì nữa? Ban đầu thì Estrella có vẻ hào hứng lắm, Rosa nói, lần đầu tiên cô ấy vào nói chuyện với người kia ấy. Cô ấy bảo anh ta là chủ cửa hàng, biết nhiều về máy vi tính và còn nhiều tiền nữa. Lần thứ hai chúng tôi tới gặp anh ta thì khi đi ra Estrella nổi khùng. Tôi hỏi có chuyện gì nhưng cô ấy chẳng nói gì hết. Lần đó chỉ có hai đứa chúng tôi và chúng tôi đến hội chợ ở quận Veracruz rồi thì chúng tôi quên béng chuyện ấy đi. Chuyện khi nào vậy, cưng? Epifanio hỏi. Tôi đã nói tôi không phải cưng kiếc gì của anh hết, đồ tồi, cô gái nói. Chuyện xảy ra khi nào? Epifanio hỏi, lúc này đã bắt đầu nhìn thấy một người rất cao tóc rất vàng đang đi trong bóng tối, trong một hành lang dài tối, đi tới đi lui, như thể đang đợi anh. Một tuần trước khi cô ấy bị giết, cô gái nói.
♣ ♣ ♣
Cuộc sống thật khó khăn, thị trưởng Santa Teresa nói. Chúng ta có ba vụ rành rành không thể nghi ngờ gì nữa, thanh tra Ángel Fernández nói. Mọi thứ đều phải soi bằng kính lúp, người của phòng thương mại nói. Cái gì tôi cũng soi bằng kính lúp, soi tới soi lui, cho tới khi không còn thấy gì được nữa, Pedro Negrete nói. Điều quan trọng là cứt đã hôi thì đừng vầy cho nó hôi thêm, thị trưởng nói. Sự thật chỉ có một, không hai, Pedro Negrete nói. Chúng ta có một tên giết người hàng loạt, giống như trong phim Mỹ, thanh tra Ernesto Ortiz Rebolledo nói. Chúng ta phải dè chừng từng đường đi nước bước, người của phòng thương mại nói. Một kẻ giết người hàng loạt khác với kẻ giết người thông thường ở chỗ nào? thanh tra Ángel Fernández hỏi. Rất đơn giản: tên giết người hàng loạt để lại dấu ấn riêng, hiểu không, hắn không có động cơ; nhưng có dấu ấn riêng, thanh tra Emesto Ortiz Rebolledo nói. Làm sao hắn lại không có động cơ được? Hắn hành động nhờ nạp điện chắc? thị trưởng hỏi. Trong vụ việc loại này cần phải giữ mồm giữ miệng, kẻo rốt cuộc lại hạ trại ở nơi ta chẳng muốn tí nào, người của phòng thương mại nói. Có ba người phụ nữ chết, thanh tra Ángel Fernández nói, chìa ngón tay cái, ngón trỏ và ngón giữa về phía những người trong phòng. Giá mà chỉ có ba người, Pedro Negrete nói. Ba người phụ nữ chết mà vú phải bị xẻo còn vú trái bị cắn đứt núm vú, thanh tra Ernesto Ortiz Rebolledo nói. Các vị nghe thì thấy thế nào? thanh tra Ángel Fernández hỏi. Có một tên giết người hàng loạt chăng? thị trưởng nói. Rõ là thế rồi, thanh tra Ángel Fernández nói. Nếu có những ba thằng khốn nạn chọn cùng một cách cắt xẻo nạn nhân của mình thì hơi bị trùng hợp quá đấy, thanh tra Ernesto Ortiz Rebolledo nói. Nghe có vẻ hợp lý, thị trưởng nói. Nhưng chuyện không chỉ có thế, thanh tra Ángel Fernández nói. Nếu ta cứ để cho óc tưởng tượng của mình mặc sức tung hoành thì chẳng biết nó sẽ dẫn ta đến nơi nào đâu, người của phòng thương mại nói. Tôi biết các vị đang muốn dẫn đến đâu, Pedro Negrete nói. Anh thấy thuyết phục không? thị trưởng hỏi. Nếu ba phụ nữ bị xẻo vú phải đều bị giết bởi cùng một người thì tại sao không thể nghĩ rằng chính kẻ đó đã giết những phụ nữ khác? thanh tra Ángel Fernández nói. Rất khoa học, thanh tra Ernesto Ortiz Rebolledo nói. Kẻ sát nhân là dân khoa học à? người của phòng thương mại hỏi. Không, phương thức hành động kia, cách thằng chó đẻ này bắt đầu hứng thú với việc hắn làm, thanh tra Emesto Ortiz Rebolledo nói. Để tôi giải thích nhé: tên giết người khởi sự bằng cách hãm hiếp và bóp cổ, đấy là cách giết người mà ta có thể gọi là thông thường. Khi hắn thấy mình không bị bắt, những vụ giết người của hắn trở nên đậm dấu ấn cá nhân hơn. Con thú dữ đã xổng chuồng. Giờ thì mỗi một tội ác đều mang dấu ấn cá nhân của hắn, thanh tra Ángel Fernández nói. Ông nghĩa sao, thẩm phán? thị trưởng hỏi. Chuyện gì cũng có thể, thẩm phán nói. Chuyện gì cũng có thể, nhưng sao cho đừng rơi vào hỗn loạn, đừng lạc mất phương hướng, người của phòng thương mại nói. Xem ra đã rõ kẻ giết và cắt xẻo ba người phụ nữ tội nghiệp kia chỉ là một người, Pedro Negrete nói. Được, tìm cho ra hắn và kết thúc cái vụ khốn kiếp này đi, thị trưởng nói. Nhưng nếu tôi được mạn phép yêu cầu, thì nhớ làm sao cho êm thắm, đừng khiến ai hoảng loạn, người của phòng thương mại nói.
♣ ♣ ♣
Juan de Dios Martínez không được mời họp. Anh biết là có cuộc họp ấy, biết Ortiz Rebolledo và Ángel Fernández sẽ dự, và biết rằng anh bị gạt ra ngoài. Nhưng khi Juan de Dios Martínez nhắm mắt, anh chỉ thấy có mỗi xác của Elvira Campos trong cảnh tranh tối tranh sáng tại căn hộ của bà ở quận Michoacán. Đôi khi anh thấy bà trên giường, lõa thể, nghiêng về phía anh. Những lần khác anh thấy bà trên sân thượng, bao quanh là những vật bằng kim loại, những vật nom như sinh thực khí, mà hóa ra là đủ thứ kính viễn vọng (dù thực ra chỉ có ba cái), được bà dùng để nhìn khắp bầu trời sao của Santa Teresa đặng sau đó ghi chú bằng bút chì vào sổ. Khi anh lại gần bà từ phía sau mà nhìn vào sổ, anh chỉ thấy toàn số điện thoại, phần lớn là số ở Santa Teresa. Bút là bút chì thường. Sổ là vở học trò. Cả hai thứ anh đều thấy chẳng hề giống những đồ bà giám đốc thường dùng. Đêm đó, sau khi nghe tin về cuộc họp mà mình chẳng được mời, anh gọi điện cho bà nói cần gặp bà. Một thoáng mệt mỏi. Bà đáp bà không thể, rồi cúp máy. Juan de Dios Martínez nghĩ, đôi khi, bà giám đốc cư xử với anh như với một bệnh nhân. Anh nhớ có lần bà nói về tuổi tác, tuổi của bà và tuổi của anh. Tôi năm mốt tuổi, bà nói, còn anh ba tư. Chả bao lâu nữa, cho dù có cẩn thận giữ gìn cách mấy, tôi cũng sẽ thành một mụ nạ dòng cô đơn trong khi anh vẫn còn trẻ. Anh muốn gì, ngủ với một người bằng tuổi mẹ anh à? Juan de Dios chưa bao giờ nghe bà dùng lời lẽ như thế. Mụ nạ dòng? Thật lòng mà nói, anh chưa bao giờ có ý nghĩ xem bà là già. Bởi vì tôi tập luyện chết thôi, bà nói. Bởi vì tôi giữ gìn. Bởi vì tôi giữ cho mình mảnh mai eo ót và tôi mua các sản phẩm chống nhăn đắt nhất thị trường. Chống nhăn? Dưỡng thể, kem giữ ẩm, các món đồ phụ nữ, bà nói bằng giọng vô cảm khiến anh kinh hãi. Mình như thế nào tôi đều thích, anh nói. Anh thấy giọng mình nghe chẳng thuyết phục mấy. Tuy nhiên, nếu mở mắt, quan sát thế giới thực và cố gắng kiểm soát những cơn run giật của mình, thì mọi thứ ít nhiều vẫn nguyên như cũ.
♣ ♣ ♣
Vậy Pedro Rengifo là trùm ma túy à? Lalo Cura hỏi. Đúng vậy, Epifanio nói. Nếu người ta nói với tôi vậy thì tôi khó mà tin được, Lalo Cura nói. Bởi vì chú mày còn măng sữa quá, Epifanio nói. Một bà béo da đỏ bưng lên cho họ mỗi người một đĩa pozole. Lúc này là năm giờ sáng. Lalo Cura đã làm việc suốt đêm trong đội tuần tra giao thông. Lúc cậu và cộng sự đang dừng ở góc đường, ai đó gõ vào cửa sổ. Cả Lalo Cura lẫn viên cảnh sát kia đều chẳng để ý thấy có người đang đến. Đó là Epifanio, thức khuya và có vẻ xỉn, dù anh không xỉn. Tôi đến gặp thằng nhóc, anh bảo tay cảnh sát tuần tra kia. Tay này nhún vai và đứng lại một mình ở góc đường, dưới mấy cái cây thân sơn trắng. Epifanio đi bộ. Đêm mát mẻ, làn gió nhẹ từ sa mạc cho phép thấy hết các vì sao. Họ đi bộ xuống phố, không nói gì, cho đến khi Epifanio hỏi Lalo Cura có đói không. Cậu bảo có. Vậy đi ăn thôi, Epifanio nói. Khi bà béo da đỏ bê pozole lên cho hai người, Epifanio ngồi nhìn cái đĩa bằng đất nung như thể đang trông thấy phản chiếu trong lòng đĩa khuôn mặt người nào khác. Chú mày có biết xuất xứ món pozole không, Lalito? anh hỏi. Nào tôi có biết, Lalo Cura nói. Không phải món miền Bắc mà là của miền Trung Mexico. Là món tiêu biểu của thủ đô. Món này do người Aztec chế ra, anh nói. Người Aztec? Chà, ngon quá, Lalo Cura nói. Ở Villaviciosa chú mày có ăn pozole không? Epifanio hỏi. Lalo Cura ngẫm nghĩ, như thể Villaviciosa ở đâu xa lắc, rồi cậu bảo không, thực tình là không, mặc dù bây giờ cậu thấy trước khi đến sống ở Santa Teresa mình chưa hề thử món này bao giờ thì kể cũng lạ thật. Cũng có khi tôi ăn rồi nhưng giờ không nhớ, cậu nói. Mà thật ra pozole này cũng không giống pozole thứ thiệt của người Aztec đâu, Epifanio nói. Thiếu một thành phần. Thành phần nào vậy? Lalo Cura hỏi. Thịt người, Epifanio nói. Đừng có giễu tôi, Lalo Cura nói. Thật đó, người Aztec nấu pozole bằng những mẩu thịt người, Epifanio nói. Tôi không tin, Lalo Cura nói. Được thôi, cũng chẳng sao, có thể tao lầm hoặc có thể cái thằng kể cho tao nghe đã lầm, mặc dù thằng ấy thứ gì cũng biết, Epifanio nói. Rồi họ nói về Pedro Rengifo và Lalo Cura băn khoăn sao cậu có thể không biết Don Pedro là trùm ma túy. Bởi chú mày vẫn còn là chíp hồi, Epifanio nói. Và sau đó anh nói: chớ mày nghĩ lão ta có nhiều vệ sĩ đến thế để làm gì? Vì lão giàu, Lalo Cura nói. Epifanio cười rộ. Thôi thôi, đi ngủ, mày buồn ngủ ríu cả mắt rồi kia kìa.
♣ ♣ ♣
Vào tháng Mười không có xác phụ nữ nào xuất hiện ở Santa Teresa, cả ở thành phố lẫn sa mạc, và công việc xóa sổ bãi rác bất hợp pháp Chile bị hoãn vô thời hạn. Một phóng viên tờ La Tribuna de Santa Teresa đang theo dõi đưa tin về việc di dời hoặc xóa sổ bãi rác nói là cả đời anh chưa bao giờ thấy gì hỗn loạn đến cỡ đó. Khi được hỏi có phải hỗn loạn là do đám công nhân can dự vào cái vụ việc hóa ra công cốc này gây ra không, anh đáp là không, sự hỗn loạn bắt nguồn từ sức ì của chính đống rác thối ấy. Trong tháng Mười có năm thanh tra cảnh sát được cử từ Hermosillo đến để tăng cường cho đội điều tra sẵn có trong thành phố. Một người từ Caborca đến, người khác từ Ciudad Obregón, ba người còn lại từ Hermosillo. Có vẻ đều là dân thiện xạ cả. Trong tháng Mười, Horita Almada lại xuất hiện trên Một giờ với Reinaldo nói rằng bà đã hỏi ý kiến bạn bè (lúc bà gọi là bạn bè lúc lại gọi là người bảo vệ) và họ cho bà biết các tội ác sẽ tiếp diễn. Họ cũng bảo bà hãy cẩn thận, có người muốn bà gặp chuyện dữ. Nhưng tôi không sợ, bà nói, sao lại phải sợ, đằng nào tôi cũng già rồi. Sau đó, trước ống kính, bà cố gắng nói chuyện với linh hồn một trong các nạn nhân, nhưng không thành và bất tỉnh. Reinaldo tin là bà giả vờ ngất và cố làm bà tỉnh dậy, vỗ vỗ má bà và cho bà nhấp mấy ngụm nước, nhưng cơn bất tỉnh hoàn toàn không phải giả (nó là một cơn ngất hẳn hoi) nên cuối cùng Florita phải vào bệnh viện.
♣ ♣ ♣
Tóc vàng và rất cao. Chủ hoặc có thể là nhân viên được tín nhiệm ở một cửa hàng vi tính. Khu trung tâm. Epifanio chẳng mất nhiều thời gian để tìm ra chỗ ấy. Tên gã này là Klaus Haas. Gã cao tầm mét chín và có mái tóc màu hoàng yến, cứ như gã nhuộm tóc mỗi tuần một lần. Lần đầu Epifanio đến cửa hàng, Klaus Haas đang ngồi ở bàn giấy nói chuyện với một khách hàng. Một thằng nhóc lùn đen trũi lại gần hỏi anh cần gì. Epifanio trỏ Haas hỏi tay này là ai. Ông chủ, thằng bé nói. Tao muốn nói chuyện với anh ta, anh nói. Ông chủ đang bận, ông cứ bảo tôi ông muốn tìm gì, có khi tôi tìm được cho ông. Không, Epifanio nói. Anh ngồi, châm điếu thuốc rồi bắt đầu đợi. Thêm hai khách nữa vào. Sau đó một gã mặc đồ bảo hộ màu xanh da trời đến chất mấy thùng các tông vào một góc. Haas ngồi bên bàn giơ một tay lên vẫy chào. Tay gã vừa dài vừa khỏe, Epifanio nghĩ. Thằng nhóc tiến đến bỏ lại một cái gạt tàn. Cuối cửa hàng, một cô gái đang ngồi gõ máy chữ. Khi khách hàng đi hết rồi, một phụ nữ có vẻ là thư ký xuất hiện và bắt đầu xem các laptop. Cô ta vừa xem vừa ghi chú giá tiền và các đặc tính vào sổ tay. Cô ta mặc váy, mang giày cao gót, và Epifanio nghĩ nhất định cô ta có ngủ với ông chủ. Sau đó lại thêm hai khách hàng nữa vào và thằng nhỏ bỏ cô ta đấy để ra đón khách. Haas, ngồi cách xa tất cả, vẫn tiếp tục nói chuyện với tay đàn ông mà Epifanio chỉ thấy được sau lưng. Lông mày Haas gần như trắng xóa và thỉnh thoảng gã lại cười rộ hoặc mỉm cười trước điều gì đó người kia nói, phô hàm răng sáng lóa như của tài tử xi nê. Epifanio dụi tắt thuốc rồi châm điếu khác. Người phụ nữ quay nhìn ra phố, làm như có ai đang chờ cô ta bên ngoài. Mặt cô ta có vẻ quen quen, dường như anh từng bắt cô ta một lần từ lâu lắm rồi. Từ bao giờ? anh tự hỏi. Bao nhiêu năm rồi. Nhưng người phụ nữ trông chưa tới hăm lăm, vậy thì hồi đó cô ta không thể quá mười bảy. Có thể, Epifanio nghĩ. Rồi anh nghĩ chuyện làm ăn của tay tóc vàng này không tồi. Gã có khách hàng ruột và gã có thể tự cho mình cái thú xa xỉ là ngồi sau bàn giấy trò chuyện nhàn nhã. Rồi Epifanio nghĩ tới Rosa María Medina và độ đáng tin của cô ta. Dẹp cái độ tin cậy của cô ta đi, anh tự nhủ. Nửa giờ sau trong cửa hàng chẳng còn ai. Khi đi ra, người phụ nữ nhìn anh như thể cũng nhận ra anh. Tiếng cười của Haas cùng bạn gã đã ngừng. Phía sau cái quầy hình móng ngựa, tay tóc vàng đang mỉm cười chờ anh. Anh lấy tấm ảnh Estrella Ruiz Sandoval từ trong túi áo đưa cho gã xem. Tay tóc vàng nhìn ảnh, không cầm, rồi hai môi làm ra một cử động kỳ quặc, chìa môi dưới ra úp lên môi trên mà nhìn anh như muốn hỏi vụ này là sao đây. Có biết cô này không? Chắc là không, Haas nói, cửa hàng này thiếu gì người ra vào. Sau đó anh tự giới thiệu: Epifanio Galindo, Sở Cảnh sát Santa Teresa. Haas chìa tay ra và khi bắt tay gã Epifanio có cảm giác xương gã làm bằng thép. Anh muốn bảo gã chớ có nói dối, anh có nhân chứng, nhưng thay vì vậy anh mỉm cười. Sau lưng Haas, ngồi bên một bàn giấy khác, thằng nhóc làm bộ đang xem giấy tờ gì đó, nhưng kỳ thực nó không bỏ sót một lời nào.