2666

Lượt đọc: 786 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
PHẦN BỐN (B)
phần về các tội ác

Sau khi khóa cửa hàng, thằng nhóc trèo lên một chiếc xe máy Nhật rồi đảo một vòng các phố khu trung tâm, thong thả, làm như nó đang chờ gặp ai đấy, cho đến khi tới phố Universidad thì nó tăng tốc hướng về phía quận Veracruz. Nó dừng trước một căn nhà hai tầng rồi lại khóa xe. Mẹ nó chờ nó đã được mười phút, đồ ăn đã sẵn sàng. Thằng nhóc hôn bà rồi mở tivi. Bà mẹ vào bếp. Bà cởi tạp dề rồi cầm lên một cái ví giả da. Bà hôn thằng nhóc rồi ra khỏi nhà. Mẹ về ngay thôi, bà nói. Thằng nhóc định hỏi bà đi đâu nhưng rốt cuộc chẳng nói gì. Từ một trong các phòng vẳng ra tiếng trẻ con khóc. Thằng nhóc ban đầu không để ý mà cứ xem tivi, nhưng khi tiếng khóc to lên thì nó chịu thua, vào trong phòng bế ra một đứa bé chừng vài tháng tuổi. Đứa bé trắng trẻo mũm mĩm, hoàn toàn trái ngược với thằng anh. Thằng nhóc cho đứa bé ngồi lên đầu gối rồi tiếp tục ăn. Tivi đang chiếu thời sự. Nó thấy một nhóm da đen đang chạy qua các con phố một thành phố Mỹ, một người đang nói về sao Hỏa, một nhóm phụ nữ sải bước từ dưới biển lên và cười rộ trước ống kính. Nó dùng điều khiển từ xa chuyển kênh. Một cặp choai choai đang đấm bốc. Nó lại chuyển kênh, vì nó không thích quyền Anh. Mẹ nó cứ như bốc hơi rồi, nhưng đứa bé đã thôi khóc và thằng nhóc không thấy phiền vì phải trông em. Chuông cửa reo. Thằng nhóc vẫn còn thì giờ chuyển kênh - một bộ phim dài tập - rồi mới đứng dậy, ôm theo đứa bé ra mở cửa. Ra là mày sống ở đây, Epifanio nói. Vâng, thằng nhóc nói. Sau lưng Epifanio là một tay cớm, một tay cớm lùn, mặc dù y vẫn cao hơn thằng nhóc, và y ngồi vào ghế bành chẳng đợi mời. Mày đang ăn tối à? Epifanio hỏi. Vâng, thằng nhóc nói. Cứ ăn đi, cứ ăn đi, Epifanio nói trong khi đảo vào hết phòng nọ đến phòng kia, vào rồi lại ra ngay, cứ như chỉ cần liếc một cái là anh có thể săm soi mọi ngóc ngách trong nhà. Tên mày là gì? Epifanio hỏi. Juan Pablo Castanón, thằng nhóc nói. Tốt, Juan Pablo, trước hết cứ ngồi ăn tiếp đi, Epifanio nói. Vâng, thưa ông, thằng nhóc nói. Và đừng có hoảng lên kẻo lại làm rơi thằng bé, Epifanio nói. Tay cảnh sát kia mỉm cười.

♣ ♣ ♣

Một giờ sau họ ra về và Epifanio hiểu rõ tình hình hơn nhiều. Klaus Haas là người Đức nhưng đã nhập quốc tịch Mỹ. Gã có hai cửa hàng ở Santa Teresa, bán đủ thứ từ máy nghe nhạc Walkman tới máy vi tính, và gã có một cửa hàng tương tự ở Tijuana, cho nên mỗi tháng gã phải tới đó một lần để kiểm tra sổ sách, trả lương nhân viên và bổ sung hàng dự trữ. Gã còn sang Mỹ hai tháng một lần, tuy không phải vào ngày cố định hay theo lệ, trừ có một điểm là không lần nào gã đi quá ba ngày. Gã từng sống một thời gian ở Denver nhưng đã bỏ đi vì rắc rối với phụ nữ. Gã thích phụ nữ, nhưng theo mọi người biết thì gã chưa kết hôn lần nào và cũng không có bạn gái. Gã thường đến các quán bar và nhà thổ ở khu trung tâm, là chỗ bạn bè với chủ vài nơi trong số ấy, vốn từng được gã lắp đặt camera an ninh hoặc phần mềm kế toán. Ít nhất có một trường hợp là thằng nhóc biết chắc chắn, vì chính nó là người lập trình. Trên tư cách ông chủ thì Haas công bằng và hợp lý, trả lương không tệ, dù đôi khi gã vô cớ nổi khùng và gặp ai đánh nấy. Thằng nhóc chưa bị đánh bao giờ, nhưng nó đã bị mắng mấy lần vì đi làm muộn. Vậy Haas đã đánh ai? Một thư ký, thằng nhóc nói. Khi được hỏi có phải cô thư ký bị đánh là cô đang làm không, thằng nhóc bảo không, là cô trước kia, cô ấy thì nó không biết. Vậy sao mày biết cô ta bị đánh? Vì mấy nhân viên lão làng nhất nói thế, mấy người làm ở kho, nơi tay tóc vàng trữ một phần hàng của gã. Tên tất cả các nhân viên này đều được ghi lại hẳn hoi. Cuối cùng Epifanio đưa ảnh Estrella Ruiz Sandoval cho thằng nhóc xem. Có thấy cô này tới cửa hàng không? Thằng nhóc nhìn ảnh rồi bảo có, mặt cô này có vẻ quen quen.

♣ ♣ ♣

Lần kế tiếp Epifanio đến gặp Klaus Haas thì đã gần nửa đêm. Anh bấm chuông và phải đợi hồi lâu mới có người ra mở cửa, tuy trong nhà vẫn đang sáng đèn. Căn nhà nằm ở quận Cerezal, một khu trung lưu gồm những nhà một đến hai tầng, không phải nhà nào cũng mới, ở đó người ta có thể đi bộ mua bánh mì hay sữa dọc những vỉa hè yên tĩnh trồng cây, tách biệt khỏi tiếng ồn của quận Madero cách đấy không xa, và xa hẳn cái đinh tai nhức óc của khu trung tâm. Chính Haas mở cửa. Gã mặc sơ mi trắng bỏ ngoài quần, và thoạt tiên gã không nhận ra hoặc làm bộ không nhận ra anh. Epifanio chìa thẻ cảnh sát ra, tuồng như họ đang đùa với nhau, rồi hỏi hắn có nhớ anh không. Haas hỏi anh muốn gì. Tôi vào được không? Epifanio hỏi. Phòng khách rất đẹp, bày các ghế bành và một cái sofa to màu trắng. Haas lấy một chai whiskey từ trong tủ rượu rồi tự rót cho mình một ly. Gã hỏi anh có muốn uống không. Epifanio lắc đầu. Tôi đang làm nhiệm vụ, anh nói. Hasas lắc đầu kèm một tiếng cười lạ. Nó nghe như haaa, hoặc aaaa, hoặc cười khịt, nhưng chỉ một lần độc nhất. Epifanio ngồi xuống một cái ghế bành rồi hỏi liệu Haas có bằng chứng ngoại phạm vững chắc vào hôm Estrella Ruiz Sandoval bị giết không. Haas nhìn anh từ đầu xuống chân rồi sau vài giây mới nói nhiều khi gã còn không nhớ đêm qua mình đã làm gì. Mặt gã đỏ dừ lên và lông mày gã nom trắng hơn bình thường, tuồng như gã đang phải cố sức tự chủ. Tôi có hai nhân chứng khẳng định đã thấy anh ở cùng nạn nhân, Epifanio nói. Ai? Haas hỏi. Epifanio không trả lời. Anh nhìn quanh phòng khách rồi gật gù. Mấy thứ này chắc tốn bộn nhỉ, anh nói. Tôi làm ăn chăm chỉ và kiếm cũng khá, Haas nói. Cho tôi xem đi, Epifanio nói. Xem cái gì? Haas hỏi. Cái nhà, Epifanio nói. Đừng có bỡn với tôi, anh bạn, Haas nói, nếu anh muốn khám nhà tôi thì đem trát tới đây. Trước khi ra về Epifanio nói: tôi tin là anh đã giết cô gái đó. Cô ấy và ai mà biết còn bao nhiêu người nữa. Đừng có bỡn với tôi, Haas nói. Gặp sau nhá, Epifanio nói, rồi chìa tay. Đừng có bỡn với tôi, Haas nói. Anh gan đấy, Epifanio nói trên ngưỡng cửa. Vì Chúa, anh bạn, vì Chúa, đừng có bỡn với tôi, để tôi yên đi, Haas nói.

♣ ♣ ♣

Nhờ một người bạn thuộc lực lượng cảnh sát El Adobe, Epifanio lấy được hồ sơ của cảnh sát về Klaus Haas. Nhờ vậy anh biết được rằng Haas chưa bao giờ sống ở Denver mà là ở Tampa, Horida, ở đó gã từng bị buộc tội mưu toan hãm hiếp một phụ nữ tên Laurie Enciso. Gã bị giam một tháng rồi sau đó Laurie Enciso bãi nại nên gã được thả. Gã cũng từng bị buộc tội phô dâm và có hành vi thô tục. Khi Epifanio hỏi “hành vi thô tục” nghĩa là cái quái gì vậy thì mấy tay người Mẽo trả lời rằng về cơ bản có nghĩa là sờ soạng, gạ gẫm tục tĩu, và trường hợp thứ ba là kết hợp của hai thứ trên. Ở Tampa Haas cũng bị phạt mấy lần vì tội bức dâm gái điếm, chẳng có vụ nào quá nghiêm trọng. Gã sinh năm 1955 ở Bielefeld, thuộc Tây Đức cũ, di cư sang Mỹ năm 1980. Năm 1990 gã quyết định đổi đất nước lần nữa, lần này là với tư cách công dân Mỹ. Đến sống ở Mexico, tại phía Bắc bang Sonora, rõ ràng là một lựa chọn may mắn, bởi chỉ trong một thời gian ngắn gã đã mở được cửa hàng thứ hai ở Santa Teresa, khách hàng tăng đều, và một cửa hàng nữa ở Tijuana dường như làm ăn cũng khá. Một đêm, đi cùng hai cảnh sát Santa Teresa và một thanh tra, Epifanio đến chỗ cửa hàng của Haas trong khu trung tâm (cửa hàng kia thì ở quận Centeno). Cửa hàng này lớn hơn anh nghĩ nhiều. Mấy phòng phía sau đầy nghẹt những thùng chứa linh kiện máy vi tính sau này sẽ được chính tay Haas lắp ráp. Tuy nhiên, trong một phòng có một cái giường, một giá nến cắm nến, và một tấm gương to cạnh giường. Đèn không sáng, nhưng tay thanh tra đi cùng Epifanio lập tức nhận ra đèn không sáng là do đã bị tháo bóng. Có hai buồng tắm. Một buồng gọn gàng, có xà phòng, giấy vệ sinh, nền sạch. Cạnh bồn cầu là một cây cọ bồn cầu mà Haas buộc tất cả nhân viên vốn chỉ quen giật nước phải dùng. Buồng tắm kia dơ đến nỗi chắc đã bị bỏ phế, mặc dù vòi nước vẫn chảy và bồn cầu vẫn hoạt động, tuy nhiên dường như nó có ở đó nhằm mục đích minh họa cho một hiện tượng bất cân xứng và không hiểu nổi. Rồi đến một hành lang dài dẫn tới cánh cửa mở ra một hẻm nhỏ. Cái hẻm này chất đủ loại rác và thùng các tông, tuy nhiên đứng ở cửa có thể nhìn ra một trong những góc sầm uất nhất của thành phố, trung tâm cuộc sống về đêm của Santa Teresa. Sau đó họ xuống tầng hầm.

♣ ♣ ♣

Hai ngày sau, Epifanio, hai thanh tra và ba cảnh sát Santa Teresa đến cửa hàng mang theo trát bắt Klaus Haas, công dân Mỹ bốn mươi tuổi, tình nghi phạm tội hãm hiếp, tra tấn và giết Estrella Ruiz Sandoval, công dân Mexico mười bảy tuổi, nhưng khi họ tới nơi thì nhân viên cho biết hôm đó ông chủ không đến, thế là nhóm liền tách ra, một thanh tra và hai cảnh sát Santa Teresa lái xe đến cửa hàng kia nằm ở quận Centeno, trong khi Epifanio, một thanh tra và viên cảnh sát Santa Teresa còn lại tới nhà tay người Mỹ gốc Đức ở quận Cerezal, ở đó họ tản ra theo chiến thuật, viên cảnh sát Santa Teresa canh phía sau nhà còn Epifanio và tay thanh tra nhấn chuông cửa. Ngạc nhiên sao, chính Haas ra mở cửa, trông như đang khổ sở vì cảm lạnh hay vì cúm, hoặc ít nhất cũng cho thấy rõ ràng đêm qua ngủ không ngon. Haas mời các cảnh sát vào nhưng họ từ chối và lập tức cho Haas biết gã bị bắt ngay lúc ấy, rồi đưa lệnh bắt giữ ra và cho gã liếc qua trát khám nhà cùng hai cửa hàng của gã, ngay sau đó họ còng tay gã, vì nghi phạm vốn to cao lực lưỡng và không ai biết gã sẽ phản ứng thế nào sau khi đã ý thức được đang có chuyện gì. Đoạn họ tống gã vào phía sau xe tuần tra, lập tức lái về phân khu cảnh sát số 1, để viên cảnh sát Santa Teresa ở lại trông chừng nhà của nghi phạm.

♣ ♣ ♣

Cuộc thẩm vấn Klaus Haas kéo dài bốn ngày và do Epifanio Galindo cùng Tony Pintado thuộc lực lượng cảnh sát Santa Teresa và Ernesto Ortiz Rebolledo, Ángel Fernández cùng Carlos Marin thuộc lực lượng cảnh sát tư pháp tiến hành. Tại cuộc thẩm vấn có mặt Pedro Negrete, cảnh sát trưởng Santa Teresa, đi theo có các khách mời đặc biệt là hai thẩm phán thành phố và César Huerta Cerna, đứng đầu Văn phòng Phó Tổng Chưởng lý Khu vực Bắc Sonora. Nghi phạm hai lần nổi cơn thịnh nộ không thể kiểm soát, khiến các cảnh sát đang thẩm vấn gã phải cố sức khống chế. Sau đó, Haas thừa nhận có quan hệ với Estrella Ruiz Sandoval, cô này đã đến cửa hàng gã ba lần. Năm cảnh sát Hermosillo thuộc Biệt đội Chống Bắt cóc của Lực lượng Cảnh sát Sonora lục soát nhà riêng cũng như hai cửa hàng của Haas tại Santa Teresa để tìm bằng chứng buộc tội, đặc biệt chú ý đến tầng hầm cửa hàng ở khu trung tâm, và tìm thấy vết máu trên một trong mấy tấm ga giường ở phòng dưới tầng hầm cũng như trên sàn. Gia đình Estrella Ruiz Sandoval được mời đến để kiểm tra ADN, nhưng mẫu máu lại bị thất lạc trên đường đến Hermosillo, theo kế hoạch thì đáng lẽ từ Hermosillo chúng sẽ được gửi đến một phòng xét nghiệm ở San Diego. Khi bị hỏi về các vết máu, Haas nói chắc là của một trong mấy người phụ nữ gã quan hệ trong lúc cô ta đang có kinh. Khi Haas đưa thông tin này ra, thanh tra Ortiz Rebolledo hỏi gã nghĩ mình là loại đàn ông nào. Bình thường, Haas đáp. Đàn ông bình thường thì không làm tình với phụ nữ khi cô ta đang chảy máu, Ortiz Rebolledo nói. Tôi thì có, Haas nói. Chỉ có heo mới làm vậy, thanh tra nói. Ở châu Âu chúng tôi là heo tuốt, Haas đáp. Thế là thanh tra Ortiz Rebolledo sửng cồ lên và phải rời khỏi phòng thẩm vấn, thế chỗ là Ángel Fernández và một viên cảnh sát Santa Teresa là Epifanio Galindo. Các kỹ thuật viên hiện trường của Biệt đội Chống Bắt cóc không tìm thấy dấu tay trong phòng dưới tầng hầm, nhưng ở trong ga ra nhà Haas họ tìm thấy nhiều dụng cụ sắc bén, trong đó có một cây rìu lưỡi dài bảy lăm phân, đã cũ nhưng được bảo quản hoàn hảo, và hai con dao săn to. Các vũ khí này đều sạch, không dính vết máu hay vải. Trong quá trình thẩm vấn, người ta phải đưa Klaus Haas vào bệnh viện General Sepúlveda hai lần, một lần vì bệnh cúm của gã trở nặng và gã bị sốt cao, lần thứ hai thì để chữa các vết rách vết bầm ở mắt và lông mày bên phải gã đã bị khi trên đường từ phòng thẩm vấn về xà lim. Đến ngày tạm giam thứ ba, theo đề xuất của chính cảnh sát Santa Teresa, Haas đồng ý gọi điện cho lãnh sự Mỹ ở Santa Teresa, Abraham Mitchell, vốn lúc đó đang không biết ở chốn nào. Một nhân viên tòa lãnh sự, Kurt A. Banks, nghe điện và ngày hôm sau đến đồn cảnh sát, nói chuyện mười phút với người đồng bào của mình, sau đó ra về chẳng làm một đơn kiện nào. Ít lâu sau đó, nghi phạm Klaus Haas được cho vào xe tải chở đến nhà tù thành phố.

♣ ♣ ♣

Trong thời gian Haas ở đồn cảnh sát, mấy cảnh sát đã đến ngó mặt gã. Hầu hết đứng bên ngoài xà lim, nhưng Haas toàn ngủ hoặc làm bộ ngủ, chăn phủ kín mặt, cho nên họ chỉ biết ồ à trước hai bàn chân xương xẩu to đùng của gã. Thỉnh thoảng gã hạ cố nói chuyện với tay cảnh sát mang đồ ăn vào cho gã. Họ nói về đồ ăn. Tay cảnh sát hỏi gã có thích món ăn Mexico không và Haas nói cũng không tồi sau đó im lặng. Epifanio Galindo đem Lalo Cura tới nhìn Haas giữa một cuộc thẩm vấn. Lalo nghĩ gã là người sắc sảo. Gã không có vẻ sắc sảo, nhưng Lalo đoán gã là người sắc sảo dựa trên cung cách gã trả lời câu hỏi của các thanh tra. Và gã dường như có nguồn nội lực bất tận, khiến những người bị giam cùng gã trong căn phòng cách âm phải toát mồ hôi và mất hết kiên nhẫn, những người thề thốt mình là bạn gã hoặc thề thốt là mình cảm thông với gã và bảo gã cứ nói đi, cứ trút hết tâm tư đi, ở Mexico không có án tử hình đâu, cứ dốc hết những thứ trong lòng đang giày vò mày đi, sau đó thì đánh gã và chửi rủa gã. Nhưng Haas không bao giờ biết mệt và tựa hồ đã thoát khỏi thực tại (hoặc cố giằng cái thực tại ấy ra khỏi các thanh tra cảnh sát) với những câu trả lời bất ngờ và những câu hỏi không đầu không đuôi. Lalo Cura quan sát cuộc thẩm vấn trong nửa tiếng, và lẽ ra còn có thể ở đấy thêm hai ba tiếng nữa, nhưng Epifanio bảo cậu phải đi đi vì sếp cùng một nhân vật quan trọng khác sắp đến rồi và họ không muốn cuộc thẩm vấn này biến thành một tấn trò.

♣ ♣ ♣

Ở nhà tù Santa Teresa, Haas được đưa vào một xà lim biệt giam cho đến khi hạ sốt. Chỉ có bốn xà lim biệt giam. Một trong số đó đang giam một tay trùm ma túy bị kết tội giết hai cảnh sát Mỹ, một cái khác giam một luật sư thương mại bị buộc tội lừa đảo, cái thứ ba dành cho hai vệ sĩ của tay trùm ma túy, cái thứ tư thì cho một trại chủ ở Alamillo đã siết cổ vợ và bắn chết hai đứa con mình. Để có chỗ cho Haas, người ta chuyển hai vệ sĩ của tay trùm ma túy sang khu xà lim số 3, vào một xà lim đã có sẵn năm người. Xà lim biệt giam chỉ được trang bị một cái giường bắt vít xuống sàn, và khi người ta để Haas lại trong nhà mới của gã thì, qua cái mùi, gã biết được lúc trước đã có hai người ở đó, một người ngủ trên giường còn người kia ngủ trên tấm ván đặt giữa sàn. Đêm đầu tiên trong tù gã không ngủ được. Gã đi tới đi lui trong xà lim, chốc chốc lại vỗ vỗ lên hai cánh tay. Tay chủ trại, vốn khó ngủ, gọi to bảo gã đừng làm ồn nữa, đi ngủ đi. Haas hỏi, trong bóng tối, ai vừa nói vậy. Tay chủ trại không đáp và trong một phút Haas đứng im, lặng thinh, chờ ai đó nói gì đấy. Khi nhận ra sẽ chẳng ai đáp lại mình, gã tiếp tục đi quanh xà lim, chốc chốc lại vỗ lên hai cánh tay, làm như đập muỗi, mặc dù ở đây không có muỗi, cho đến khi tay chủ trại lại nói thôi đừng làm ồn nữa. Lần này Haas không dừng lại, cũng không hỏi ai đã nói. Đêm là để ngủ, đồ Mẽo chó chết, gã nghe thấy tay chủ trại nói. Sau đó gã nghe thấy tiếng tay kia trăn qua trở lại trên giường và hình dung tay kia đang trùm gối lên đầu, khiến gã đâm khoái chí vô cùng. Đừng có trùm đầu, gã nói lớn giọng oang oang như sấm, mày sắp chết rồi. Ai giết tao mới được chớ, mày chắc, hả thằng Mẽo? Tao thì không, đồ chó đẻ, Haas nói, một tên khổng lồ sẽ tới đây và tên khổng lồ sẽ giết mày. Tên khổng lồ? tay chủ trại nói. Mày nghe chuẩn đó, thằng khốn nạn, Haas nói. Một tên khổng lồ. Một thằng rất bự, bự ghê gớm, nó sẽ giết mày và tất cả những người khác. Mày điên rồi thằng Mẽo, tay chủ trại nói. Hồi lâu sau chẳng ai nói gì nữa và có vẻ tay chủ trại đã ngủ lại. Tuy nhiên lát sau Haas bảo gã nghe có tiếng bước chân. Tên khổng lồ đang đến. Từ đầu đến chân hắn toàn máu và hắn sắp tới đây. Ông luật sư thương mại thức giấc hỏi họ đang nói gì vậy. Giọng ông ta ngọt xớt, the thé và sợ hãi. Ông bạn chúng ta đây điên rồi, giọng tay chủ trại nói.

♣ ♣ ♣

Khi Epifanio đến gặp Haas, một cai ngục cho anh biết tên Mẽo không chịu cho các gã tù khác ngủ yên. Gã nói về một con quái vật và suốt đêm không ngủ. Epifanio muốn biết tên Mẽo nói về thứ quái vật gì thì cai ngục bảo là về một tên khổng lồ, chắc là một tay bạn của Haas, sẽ tới cứu gã và giết sạch những ai đã dám động tới gã. Vì không ngủ được nên gã cũng không cho ai ngủ, cai ngục nói, và gã tỏ ra chẳng hề tôn trọng người Mexico, gọi họ là tụi da đỏ hoặc bọn nhớp. Epifanio muốn biết sao lại là nhớp, thì cai ngục, rất nghiêm trang, liền đáp rằng, theo Haas, dân Mexico không bao giờ rửa ráy, không bao giờ tắm. Anh ta nói thêm là, theo Haas, dân Mexico có một tuyến khiến bọn họ tiết ra một thứ mồ hôi dầu, ít nhiều giống như dân da đen, cái mồ hôi mà, theo Haas, bốc ra một thứ mùi đặc biệt chả lẫn vào đâu được. Tuy nhiên, thực ra, kẻ duy nhất không tắm rửa bao giờ là Haas, bởi ban quản trị nhà tù không muốn cho gã đến nhà tắm chừng nào họ chưa nhận được lệnh từ đích thân thẩm phán hoặc giám thị nhà tù, vốn có vẻ đang xử lý vụ này bằng thái độ hết sức dè giữ. Khi Epifanio mặt đối mặt với Haas, Haas không nhận ra anh. Gã có quầng thâm quanh mắt và có vẻ gầy hơn nhiều so với lần đầu anh gặp, tuy nhiên các tổn thương gã đã bị trong cuộc thẩm vấn thì không còn dấu vết gì. Epifanio mời gã hút thuốc, nhưng Hass bảo gã không hút. Rồi Epifanio nói về nhà tù Hermosillo, mới xây, xà lim rộng rãi và sân rộng mênh mông trang bị dụng cụ thể dục. Nếu Haas nhận tội, anh nói, anh sẽ lo liệu chuyển gã đến Hermosillo, rồi gã sẽ có xà lim riêng, tốt hơn chỗ này nhiều. Đến đó Haas mới nhìn thẳng vào mắt anh nói đừng có bỡn với tôi. Epifanio biết là Haas đã nhận ra anh, liền mỉm cười. Haas không cười đáp lại. Vẻ mặt gã, Epifanio nghĩ, thật lạ, mình chả biết nữa, có vẻ bị xúc phạm. Bị xúc phạm về mặt đạo đức. Anh hỏi gã về con quái vật, tên khổng lồ, anh hỏi tên khổng lồ có phải chính là Haas không thế là Haas bèn cười ha hả. Tôi á? Anh chả biết cái cóc gì, gã nhổ nước bọt. Đi mà đụ con đĩ mẹ nhà anh ấy.

♣ ♣ ♣

Tù nhân ở các xà lim biệt giam có thể đi ra sân khu xà lim hoặc ở cả ngày trong xà lim và chỉ ra ngoài lúc sáng tinh mơ, từ sáu rưỡi đến bảy rưỡi sáng, khi khoảnh sân vẫn còn là chỗ cấm đối với các tù nhân khác, hay là sau chín giờ tối, trên lý thuyết là sau khi đã điểm danh tối xong xuôi và tù nhân đã về lại xà lim. Tay chủ trại giết vợ con cùng ông luật sư thương mại thường đi riêng với nhau lúc đêm, sau bữa tối. Họ tản bộ quanh sân, bàn luận về kinh doanh và chính trị rồi quay về xà lim. Tay trùm ma túy theo cùng lịch trình như các tù nhân khác và có thể hàng giờ liền tựa lưng vào tường, vừa hút thuốc vừa ngắm trời, trong khi hai gã vệ sĩ, chẳng bao giờ ở quá xa, vạch một vòng ranh giới vô hình quanh chủ họ bằng sự hiện diện của họ. Klaus Haas, khi đã bớt sốt, quyết định ra ngoài vào “giờ bình thường”, theo như cai ngục giải thích cho gã. Khi cai ngục hỏi gã không sợ bị giết trên sân sao, Haas phác một cử chỉ ra chiều khinh miệt và nói gì đó về bộ mặt xanh rớt như chết rồi của tay chủ trại và ông luật sư, những bộ mặt chẳng bao giờ biết nắng là gì. Lần đầu tiên gã ra sân, tay trùm ma túy, trước lúc đó chưa hề tỏ ra quan tâm tới gã, liền hỏi gã là ai. Haas nói tên và tự giới thiệu là chuyên gia vi tính. Tay trùm ma túy nhìn gã từ đầu tới chân rồi đi tiếp làm như sự tò mò của y đã cạn kiệt trong tức khắc. Một số tù khác, chỉ vài người, mặc những món vốn là tàn dư của cái từng là đồng phục tù nhân, trong khi hầu hết tù nhân khác thích gì mặc nấy. Có người bán nước ngọt đựng trong các thùng giữ lạnh được họ xách bằng một tay rồi để xuống đất cạnh nơi người ta chơi bóng đá bốn người hoặc chơi bóng rổ. Có người bán thuốc lá và ảnh khiêu dâm. Những người kín đáo nhất thì bán ma túy. Khoảnh sân có hình chữ V. Một nửa nền xi măng còn nửa kia là đất, bao quanh bởi hai bức tường có tháp canh, trên có lính gác vừa hút thuốc phiện vừa nhìn ra với vẻ chán chường. Ở đầu hẹp của chữ V là cửa sổ của mấy ô xà lim, dây phơi quần áo chăng giữa các thanh chấn song. Dọc suốt phần mở rộng của chữ V là một hàng rào kim loại cao tầm mười mét, đằng sau có một đường nhựa dẫn tới các khu khác của nhà tù, đằng sau đấy lại thêm một hàng rào nữa, không cao bằng song bên trên tua tủa cuộn kẽm gai, một hàng rào tựa như dựng thẳng từ sa mạc. Lần đầu tiên ra sân, trong vài phút, Haas cảm thấy như mình đang đi dọc một công viên ở một thành phố nước ngoài nơi không ai biết gã là ai. Trong thoáng chốc gã thấy tự do. Nhưng ở đây thiên hạ đều cái gì cũng biết, gã tự nhủ, nên gã kiên nhẫn chờ người tù đầu tiên lại gần. Trong vòng một tiếng đồng hồ gã được mời chào thuốc phiện và thuốc lá, nhưng gã chỉ mua soda. Trong khi gã vừa uống vừa xem bóng rổ, vài người tù lại gần hỏi có đúng là gã đã giết tất cả các phụ nữ đó không. Gã bảo không. Mấy người tù liền hỏi gã làm nghề gì và bán máy vi tính có kiếm được khá không. Haas nói lúc lên lúc xuống. Và doanh nhân thì đâu bao giờ biết chắc được chuyện gì. Vậy ra chú mày là doanh nhân, mấy người tù nói. Không, Haas nói, tôi là một chuyên gia vi tính đã gầy dựng được cơ nghiệp riêng. Gã nói một cách nghiêm trang và đầy thuyết phục đến nỗi vài người tù gật gù. Sau đó Haas muốn biết mấy người kia hồi còn ở ngoài thì làm gì thế là phần lớn đám kia phá lên cười. Lượn lờ, ấy là câu duy nhất gã hiểu. Gã cũng cười và mua soda mời năm sáu người tù đang vây quanh.

♣ ♣ ♣

Lần đầu tiên gã đến chỗ buồng tắm, một người tù được gọi là El Anillo toan hãm hiếp gã. Thằng này to con, nhưng so với Haas thì vẫn là nhỏ, và qua vẻ mặt hắn thì có thể thấy rõ hắn làm vậy chỉ vì hoàn cảnh bắt buộc hắn đóng cái vai ấy. Vẻ mặt hắn như muốn nói, giá như mọi chuyện chỉ tùy thuộc vào mình hắn thôi thì hắn đã tự sục lấy một mình trong xà lim, yên lành chẳng phiền ai. Haas nhìn chằm chằm vào mặt hắn hỏi làm sao một người lớn lại có thể làm chuyện ấy được. El Anillo chẳng hiểu gã nói gì bèn cười rộ. Hắn có bộ mặt bè bè da nhẵn thín và tiếng cười không dễ nghe. Mấy người tù xung quanh hắn cũng cười. Bạn của El Anillo, một người tù trẻ hơn được gọi là El Guajolote, rút một con dao tự chế từ dưới một cái khăn tắm ra rồi bảo Haas câm mồm đi theo tụi nó vào một góc. Một góc? Haas nói. Mẹ nó, vào một góc? Hai trong số mấy người bạn Haas đã làm quen trong sân liền tiến tới đằng sau El Guajolote túm hai tay thằng này. Mặt Haas phừng phừng lửa giận. El Anillo lại cười nói có chuyện gì to tát đâu. Vào một góc mà không có chuyện gì to tát? Haas hét. Vào một góc giống như con chó mà chẳng có chuyện gì to tát? Một người bạn khác của Haas tiến tới đứng gần cửa nên không ai ra vào buồng tắm được. Bắt nó thổi kèn cho mày đi, thằng Mẽo, một người tù hét. Bảo cái thằng mặt lờ đó thổi kèn cho mày đi, thằng Mẽo. Làm liền đi. Cho nó nhừ tử đi. Giọng mấy người tù to vống lên. Haas giật lấy con dao trong tay El Guajolote rồi bảo El Anillo quỳ xuống chống cả hai chân hai tay. Nếu mày không nhúc nhích thì chả có chuyện gì xảy ra hết, đồ chó đẻ. Nếu mày nhúc nhích hay sợ hãi thì mày sẽ có hai cái lỗ để mà ỉa đấy. El Anillo cởi khăn tắm ra rồi sụp tứ chi xuống sàn. Không, không phải ở đấy, lại dưới vòi hoa sen kìa. El Anillo dửng dưng đứng dậy rồi lại dưới vòi tắm. Tóc hắn, lượn sóng và chải ngược ra sau, xõa xuống che mắt. Kỷ luật, đồ chó đẻ, tao chỉ đòi hỏi chút kỷ luật và tôn trọng, Haas nói lúc bước vào dãy vòi hoa sen. Sau đó gã quỳ xuống đằng sau El Anillo, thì thầm bảo thằng này giạng hai chân ra, rồi từ từ thọc dao vào lút tới cán. Một số người có thể thấy thỉnh thoảng El Anillo cố nén tiếng thét. Những người khác có thể thấy những giọt máu đen sì chảy ra từ hậu môn El Anillo, hòa tan vào nước chỉ trong mấy giây.

♣ ♣ ♣

Mấy thằng bạn của Haas được gọi là El Tormenta, El Tequila và El Tutanramón. El Tormenta hăm hai tuổi và đang bóc lịch vì đã giết tay vệ sĩ của một tên trùm ma túy muốn lợi dụng em gái gã. Hai lần có người trong tù toan giết gã. El Tequila ba mươi tuổi và nhiễm HIV, mặc dù ít người biết chuyện ấy vì gã chưa phát bệnh. El Tutanramón mười tám tuổi và có biệt danh này từ một bộ phim. Tên thật của nó là Ramón, nhưng nó đã ba lần đi xem Xác ướp báo thù, bộ phim nó ưa nhất, thế nên bạn bè cải danh cho nó thành Tutanramón, mà cũng có khi, Haas tin thế, tự nó cải danh cho mình. Haas thỏa mãn tụi này bằng cách mua cho chúng đồ ăn đóng hộp và thuốc phiện. Tụi nó chạy việc vặt hoặc làm vệ sĩ cho gã. Thỉnh thoảng Haas nghe tụi nó kể về những chuyện quan trọng với tụi nó, công việc làm ăn, cuộc sống gia đình, những gì tụi nó mong muốn nhất và sợ nhất, và gã chả hiểu gì. Tụi nó cứ như người hành tinh khác. Những lần khác thì tự Haas nói và ba thằng bạn lắng nghe trong im lặng đầy cảm khái. Haas nói về tự chủ, về sự chí thú làm ăn, tự mình giúp mình, số phận của mỗi cá nhân là nằm trong tay mỗi cá nhân, nếu quyết tâm thì ai cũng có thể trở thành Lee Giacoca. Tụi nó chả hề biết Lee Giacoca là ai. Tụi nó đoán chắc là một trùm mafia. Nhưng tụi nó không hỏi gì vì sợ làm Haas mất mạch tư duy.

♣ ♣ ♣

Khi Haas được chuyển tới khu xà lim cùng các tù nhân khác, tay trùm ma túy lại chào tạm biệt, một nghĩa cử khiến Haas cảm ơn và lấy làm cảm kích. Nếu chú mày có chuyện gì cứ cho tao biết, tay trùm ma túy nói, nhưng chỉ chuyện lớn thôi nhé, nếu là ba cái thứ tẹp nhẹp thì đừng quấy rầy tao. Tôi sẽ cố gắng không quấy rầy ông, Haas nói. Tao ghi nhận rồi đó, tay trùm ma túy nói. Hôm sau, khi đến thăm gã, luật sư của Haas hỏi gã có muốn làm thủ tục xin về lại phòng biệt giam không. Haas nói thế này là được rồi, chẳng mấy mà gã cũng phải rời khỏi cái xà lim ấy thôi và gã chấp nhận thực tế càng sớm bao nhiêu thì càng tốt bấy nhiêu. Tôi có thể làm gì cho anh? luật sư của gã hỏi. Đem cho tôi một cái di động, Haas nói. Không dễ gì xin họ cho anh cầm điện thoại trong tù đâu, luật sư của gã nói. Ô dễ mà, dễ mà, Haas nói. Cứ đem cho tôi đi.

♣ ♣ ♣

Một tuần sau gã bảo luật sư lấy cho một cái di động nữa, và chẳng bao lâu sau lại thêm cái nữa. Cái đầu tiên gã bán cho một thằng cha ngồi tù vì giết ba người. Thằng chả trông bình thường, hơi lùn, hay được bên ngoài gửi tiền vào cho, chắc để thằng chả ngậm miệng. Haas bảo thằng chả rằng cách làm ăn hiệu quả nhất là dùng di động, thế là thằng chả trả cho Haas số tiền gấp ba lần giá trị cái di động. Cái thứ hai gã bán cho một tay hàng thịt đã dùng dao pha giết một trong mấy người làm công của hắn, một thằng nhóc mười lăm tuổi. Khi người ta hỏi tay hàng thịt, nửa thật nửa giễu, tại sao lại giết thằng nhóc, thì hắn nói thằng nhóc là đồ ăn cắp đã lợi dụng lòng tin của hắn. Nghe vậy mấy người tù cười rộ hỏi có phải thật ra là vì thằng nhóc không cho hắn phịch không. Thế là tay hàng thịt cúi đầu lắc lắc, nhưng chả thốt ra một lời nào đặng bác lại lời vu khống. Hắn muốn làm sao để ngồi tù mà vẫn điều hành được hai cửa hàng thịt, bởi hắn cho rằng bà chị gái, hiện giờ đang đứng mũi chịu sào ở đấy, toàn ăn cắp của hắn. Haas bán cái di động cho hắn và chỉ cách dùng danh bạ, cách gửi tin nhắn. Gã bắt tay kia phải trả cho cái di động này số tiền gấp năm lần giá gốc.

♣ ♣ ♣

Haas ở chung xà lim với năm tù nhân nữa. Trùm ở đó là một tay tên Farfán. Y chừng bốn chục và Haas chưa từng gặp người nào xấu xí hơn. Tóc y mọc xuống tới ấn đường và y có cặp mắt của loài chim săn mồi, bị gắn được chăng hay chớ vào giữa một khuôn mặt lợn. Y bụng phệ và bốc mùi khó ngửi. Y có bộ ria mép tua tủa chẳng ra hàng lối gì, thường xuyên dính thức ăn. Vào những lần hiếm hoi y cười thành tiếng, giọng y như giọng lừa và chỉ khi đó cái bản mặt y mới có vẻ khiến người ta chịu được. Khi Haas chuyển vào xà lim gã cứ nghĩ chẳng mấy chốc tay Farfán này sẽ cà khịa với gã, nhưng Farfán chẳng những không cà khịa mà còn có vẻ như đã lạc trong một thứ mê cung và mọi tù nhân đều là những hình hài không thực. Y có bạn bè ở khu xà lim này, những tay đầu gấu muốn y để ý canh chừng cho họ, nhưng y chỉ muốn bầu bạn với một người tù cũng xấu xí như y, một gã tên Gómez, người gầy gò dài ngoẵng, má trái có một cái bớt to bằng nắm tay còn mắt lờ đờ như thường xuyên phê thuốc. Hai thằng thường gặp nhau trên sân và ở nhà ăn. Ở sân, hai thằng gật đầu chào nhau và cho dù có nhập vào nhóm đông thì cuối cùng thể nào cả hai cũng lại tách ra, tựa lưng vào tường tắm nắng hoặc trầm ngâm tản bộ từ sân bóng rổ đến hàng rào. Hai bên không nói nhiều với nhau, có lẽ vì chẳng có mấy chuyện để nói. Farfán hồi mới vào tù nghèo rớt mồng tơi đến nỗi ngay cả luật sư do tòa chỉ định cũng chẳng thèm đến gặp y. Gómez, vào tù vì tội cướp xe tải, thì có luật sư, và sau khi quen nhau thì Gómez bảo luật sư của y lo luôn giấy tờ cho cả Farfán. Lần đầu hai thằng phịch nhau là ở một trong mấy khu bếp. Thật ra Farfán đã hãm hiếp Gómez. Y đánh hắn, đẩy hắn ngã xuống mấy cái bao tải rồi hiếp hắn hai lần. Gómez phẫn nộ đến nỗi toan giết Farfán. Một chiều nọ hắn chờ y trong bếp, nơi Farfán làm công việc rửa bát và khuân các bao tải đậu, rồi cố đâm y bằng con dao tự chế, nhưng chẳng khó để Farfán quật ngã hắn. Farfán lại hiếp hắn, và sau đó, trong khi vẫn đang cưỡi trên người Gómez, Farfán bảo tình hình như này cần phải chấm dứt bằng cách này hay cách khác. Để đền bù, y cho Gómez phịch y. Chưa hết, y còn trả hắn con dao tự chế để tỏ lòng tin cậy, sau đó y tụt quần và phủ phục xuống tấm pallet. Nằm đó chổng mông lên trời, Farfán trông giống con heo, tuy nhiên Gómez vẫn phịch y và sau đó hai thằng lại bầu bạn với nhau.

♣ ♣ ♣

Do Farfán là người mạnh nhất, thỉnh thoảng y buộc những người khác rời xà lim. Ngay sau đó, Gómez đến và hai thằng sẽ phịch nhau rồi, khi đã xong xuôi, hai thằng hút thuốc nói chuyện hoặc lặng thinh, Farfán trên giường y còn Gómez trên giường một tù khác, nhìn chăm chăm lên trần hoặc nhìn những làn khói trôi dạt ra ngoài cửa sổ để mở. Đôi khi Farfán cảm thấy khói mang những hình thù kỳ dị: rắn, cánh tay, chân gập, thắt lưng rạn nứt giữa không trung, tàu ngầm từ một chiều kích khác. Y nheo mắt nói: đã quá, cú này đã quá. Gómez, vốn là người thực tế hơn, liền hỏi cái gì đã quá, y nói gì vậy, và Farfán không biết giải thích ra sao. Thế rồi Gómez trở dậy nhìn quanh, như muốn tìm những con ma của bạn hắn, và cuối cùng hắn nói: mày toàn thấy linh tinh.

♣ ♣ ♣

Haas không hiểu làm sao một con cu lại có thể cứng lên được trước cái lỗ nhị giống như của Farfán hay Gómez. Gã có thể hiểu rằng một thằng đàn ông có thể cương lên trước một thằng choai choai, một cậu trẻ, gã nghĩ, nhưng không thể hiểu sao một thằng đàn ông hay bộ não một thằng đàn ông lại có thể phát tín hiệu cho máu lần lượt lấp đầy các mô xốp của dương vật, nào có dễ đâu, khi chỉ có độc sự khêu gợi của một cái lỗ nhị như của Farfán hay Gómez. Thú vật, gã nghĩ. Bọn thú vật bẩn thỉu bị thu hút bởi những thứ bẩn thỉu. Trong mơ gã thấy mình đi dọc các hành lang nhà tù, những khu xà lim khác nhau, và có thể thấy mắt mình như mắt diều hâu trong khi gã vững vàng bước dọc cái mê cung những tiếng ngáy và ác mộng, biết rõ có chuyện gì xảy ra trong mỗi xà lim, cho đến khi bỗng dưng gã không tiến tới được nữa mà khựng lại bên mép một vực thẳm (vì cái nhà tù trong giấc mơ của gã giống như một lâu đài dựng bên mép một vực thẳm không đáy). Đến đó, không lùi được, gã giơ hai tay lên, như muốn kêu van thấu trời (vốn cũng tối thui như vực), và sau đó cố nói gì đó, nói chuyện, cảnh tỉnh, khuyên nhủ cả một đoàn Klaus Haas thu nhỏ, nhưng rồi gã nhận ra, hoặc trong khoảnh khắc gã có ấn tượng, rằng ai đó đã khâu môi gã. Tuy nhiên, trong miệng, gã nhận thấy có gì đó. Không phải lưỡi, không phải răng. Một cục thịt gã cố không nuốt vào trong khi dùng một tay dứt đứt các sợi chỉ. Máu chảy xuống cằm gã. Gã cảm thấy lợi mình tê cứng. Khi cuối cùng cũng mở miệng được thì gã khạc cục thịt đó ra ngoài rồi quỳ xuống trong bóng tối để tìm nó. Khi đã tìm thấy nó, sờ kỹ nó, gã nhận ra đó là một cái dương vật. Thất kinh, gã thò tay xuống dưới bẹn, sợ sẽ không thấy dương vật của mình, nhưng nó vẫn đang ở đấy, thế tức là cái dương vật gã đang cầm trong tay là của người khác. Của ai? gã nghĩ trong khi môi gã vẫn không ngừng rỉ máu. Rồi gã thấy buồn ngủ quá bèn cuộn người ngủ bên mép vực. Sau đó thường thì gã còn mơ nhiều giấc mơ khác nữa.

♣ ♣ ♣

Hãm hiếp rồi giết phụ nữ đối với gã là việc hấp dẫn hơn, sexy hơn, so với thọc cu vào cái lỗ rỉ mủ của Farfán hay cái lỗ đầy phân của Gómez. Nếu tụi nó vẫn cứ phịch nhau thì mình sẽ giết tụi nó, đôi lần gã nghĩ. Đầu tiên mình sẽ giết Farfán, sau đó giết Gómez, ba thằng T sẽ giúp mình, chúng sẽ cho mình vũ khí và bằng chứng ngoại phạm, phương tiện hậu cần, sau đó mình sẽ quăng mấy cái xác xuống vực và sẽ chẳng còn ai nhớ tới tụi nó.

♣ ♣ ♣

Mười lăm ngày sau khi đến nhà tù Santa Teresa, Haas tổ chức cái có thể gọi là cuộc họp báo đầu tiên của gã, với sự góp mặt của bốn nhà báo từ thủ đô và hầu hết các tờ báo giấy ở bang Sonora. Trong cuộc hỏi đáp Haas khẳng định lần nữa rằng gã vô tội. Gã bảo lúc thẩm vấn người ta đã tống cho gã những “chất lạ” nhằm bẻ gãy ý chí gã. Gã không nhớ mình đã ký bất kỳ thứ gì, không có bản nhận tội nào, nhưng gã nói rõ nếu gã có ký gì thì đấy cũng là kết quả của bốn ngày tra tấn về thể xác, tâm lý và bằng “y học”. Gã cảnh báo các phóng viên rằng ở Santa Teresa đang diễn ra những “vụ việc” mà rồi sẽ chứng minh gã không phải kẻ giết những phụ nữ đó. Gã bóng gió rằng trong tù người ta vẫn biết được nhiều thông tin. Trong số các nhà báo từ thủ đô tới có Sergio González. Không như lần trước, lần này anh có mặt không phải do cần tiền và do mong muốn kiếm việc làm thêm. Khi biết Haas đã bị bắt, anh liền nói chuyện với trưởng ban tội phạm, đề nghị ông đặc cách cho anh theo vụ này. Trưởng ban không phản đối và khi biết Haas định nói chuyện với báo giới, ông liền gọi điện cho Sergio bên ban văn hóa bảo anh nếu muốn đi thì đi đi. Chuyện này xong rồi, ông nói, tôi không hiểu sao anh lại quan tâm tới nó thế. Chính Sergio González cũng chẳng hiểu lắm. Đấy chẳng qua là sở thích bệnh hoạn hay vì anh tin ở Mexico chẳng có gì là chuyện đã xong? Khi cuộc họp báo đầy tính ứng biến đã kết thúc, luật sư của Haas bắt tay chào mọi nhà báo. Khi đến lượt Sergio, anh để ý thấy luật sư kín đáo tuồn cho anh một mẩu giấy. Anh đút tay vào túi quần bỏ mẩu giấy vào đấy. Ra khỏi xà lim, trong khi đợi taxi, anh xem mẩu giấy. Trên đó chỉ có mỗi một số điện thoại.

♣ ♣ ♣

Cuộc họp báo của Haas là một scandal nho nhỏ. Trong một số giới, người ta hỏi nhau, từ khi nào mà một tên tù có thể mời báo chí tới nói chuyện cứ như hắn đang thoải mái ở nhà chứ không phải ở cái nơi mà nhà nước và hệ thống pháp luật đã tống hắn tới để trả giá cho tội ác của hắn hoặc, như được nhắc đến trong hồ sơ hợp pháp, để thi hành án. Nghe nói Haas đã đút tiền cho cai tù. Nghe nói Haas là người thừa kế, người thừa kế độc nhất của một gia đình giàu nứt đố đổ vách bên châu Âu. Theo nguồn này thì Haas bơi giữa tiền và nắm cả nhà tù Santa Teresa trong tay.

♣ ♣ ♣

Đêm đó, sau cuộc họp báo, Sergio González gọi đến số điện thoại luật sư đã cho anh. Haas trả lời. Sergio chả biết nói gì. A lô? Haas nói. Anh có điện thoại à, Sergio nói. Ai đấy? Haas nói. Tôi là một trong các nhà báo đã gặp anh hôm nay. Người ở thủ đô tới, Haas nói. Đúng vậy, Sergio nói. Anh tưởng ai sẽ nghe máy? Haas hỏi. Luật sư của anh, Sergio thừa nhận. Chà chà chà, Haas nói. Trong một thoáng cả hai im lặng. Anh có muốn tôi kể cho nghe không? Haas nói. Ở trong tù đây, mấy ngày đầu tôi thấy sợ. Tôi cứ nghĩ hễ gặp tôi là các tù nhân khác sẽ xông tới để trả thù cho cái chết của tất cả những cô gái đó. Với tôi, ở tù chẳng khác gì giữa trưa Chủ nhật mà bị vứt vào một khu như quận Kino, quận San Damían, quận Las Flores. Cả đám đông xúm lại thịt mình. Bị xé thành từng mảnh. Anh có hiểu không? Đám đông nhổ nước bọt lên tôi đá đạp tôi và xé tôi thành từng mảnh. Không thể nói năng giải thích gì ráo. Nhưng rồi tôi sớm hiểu ra là trong tù sẽ chẳng ai xé tôi thành từng mảnh cả. Ít nhất là không phải vì cái tội người ta buộc cho tôi. Vậy nghĩa là gì? tôi tự hỏi. Là cái lũ đầu đất này vô cảm trước tội giết người chăng? Không. Ở đây, không nhiều thì ít, ai cũng nhạy cảm với những gì xảy ra bên ngoài, với nhịp đập của thành phố, có thể nói vậy. Nếu vậy thì là sao? tôi hỏi một người tù. Tôi hỏi hắn nghĩ gì về những người phụ nữ chết ấy, những cô gái chết ấy. Hắn nhìn tôi nói tụi nó là điếm mà. Vậy nói cách khác họ đáng chết? tôi hỏi. Không, thằng tù nói. Tụi nó đáng bị người ta muốn chơi bao nhiêu lần thì cứ việc chơi, nhưng chết thì không. Rồi tôi hỏi hắn có tin là tôi đã giết họ không thì thằng chó đẻ đó bảo không, mày thì chắc chắn là không, thằng Mẽo ạ, cứ như tôi là một thằng Mẽo đặc sệt nào ấy, mà có lẽ trong bản chất con người tôi thì đúng như vậy thật, mặc dù càng ngày tôi càng ít Mẽo hơn. Anh muốn nói gì với tôi? Sergio González hỏi. Rằng trong tù người ta biết tôi vô tội, Haas nói. Làm sao họ biết? Haas tự hỏi. Tôi phải nghĩ mãi mới ra. Giống như tiếng động ta nghe thấy trong mơ vậy. Giấc mơ này, cũng như mọi giấc mơ người ta mơ trong các không gian kín, có tính lây truyền. Đột nhiên có người mơ thấy nó và ít lâu sau phân nửa tù nhân cũng mơ thấy nó. Nhưng tiếng động ta nghe thấy không phải một phần của giấc mơ, nó là thực. Tiếng động này thuộc về một trật tự khác của vạn vật. Anh có hiểu không? Đầu tiên là ai đó rồi sau đấy tất tật mọi người nghe thấy một tiếng động trong một giấc mơ, nhưng tiếng động ấy không thuộc giấc mơ mà từ thực tại, tiếng động là thực. Anh có hiểu không? Nói thế có rõ không, ông phóng viên? Chắc là rõ, Sergio González nói. Có lẽ tôi hiểu điều anh nói. Anh có chắc là hiểu không, hiểu thật không? Haas hỏi. Ý anh là có ai đấy trong tù biết rõ mười mươi rằng ai chứ anh thì không thể gây ra các vụ giết người đó, Sergio nói. Chính xác, Haas nói. Anh biết cái con người đó là ai không? Tôi có ngờ ngợ, Hass nói, nhưng tôi cần thời gian, mà trong trường hợp của tôi thì thế thật ngược đời, anh có thấy vậy không? Tại sao? Sergio hỏi. Bởi vì ở đây thứ duy nhất tôi có ê hề là thời gian. Nhưng tôi cần nhiều thời gian hơn, rất nhiều, Haas nói. Sau đó Sergio muốn hỏi Haas về lời thú nhận của gã, về ngày mở phiên tòa, về cách cư xử của cảnh sát, nhưng Haas bảo anh để nói chuyện đó sau.

♣ ♣ ♣

Cũng đêm đó, thanh tra José Márquez kể cho thanh tra Juan de Dios Martínez về một cuộc trò chuyện anh vô tình nghe lỏm được ở một đồn cảnh sát Santa Teresa. Những người có mặt là Pedro Negrete, thanh tra Ortiz Rebolledo, thanh tra Ángel Fernández và Epifanio Galindo, cánh tay phải của Negrete, mặc dù trên thực tế từ đầu đến cuối Epifanio Galindo là người duy nhất không hé răng. Chủ đề cuộc trò chuyện là cuộc họp báo của Klaus Haas. Ortiz Rebolledo tin đó là lỗi của giám thị. Ắt hẳn Haas đã đút tiền cho y. Ángel Fernández tán đồng. Pedro Negrete thì nói chắc còn có gì đó nữa. Thêm một hai peso để uốn lão giám thị theo hướng này hay hướng nọ. Rồi tên của Enrique Hernández được nêu ra. Tôi tin là cái gã Enriquito Hernández này đã thuyết phục được giám thị, Negrete nói. Có thể, Ortiz Rebolledo nói. Đồ chó đẻ, Ángel Fernández nói. Và chỉ có thế. Sau đó José Márquez vào phòng, chào mọi người, đã dạm ngồi xuống nhưng Ortiz Rebolledo phẩy tay, ý bảo anh nên biến đi, và khi José đi ra rồi thì Ortiz Rebolledo liền tự mình đứng dậy đóng cửa để không ai còn quấy rầy họ nữa…

♣ ♣ ♣

Enrique Hernández ba mươi sáu tuổi. Có một dạo y làm việc cho Pedro Rengifo rồi sau đó cho Estanislao Campuzano. Y sinh ở Cananea và khi có đủ tiền y mua một nông trại gần đó, nuôi gia súc ở đấy, và một ngôi nhà, ngôi nhà đẹp nhất y đủ sức mua, ở trung tâm thành phố, chỉ cách quảng trường chợ có mấy bước. Toàn bộ tâm phúc của y cũng là dân Cananea. Người ta cho là y đảm trách việc vận chuyển ma túy - được đưa bằng đường biển tới Sonora, thả xuống đâu đó giữa Guaymas và Cabo Tepoca - bằng một đội xe gồm năm xe tải và ba chiếc Suburban. Sứ mệnh của y là giao hàng an toàn đến Santa Teresa, sau đó một người khác chịu trách nhiệm chở hàng sang Mỹ. Nhưng một hôm Enriquito Hernández gặp một tay El Salvador cũng là dân trong nghề và, cũng như y, muốn làm ăn độc lập, tay này liền giới thiệu y với một người Colombia, thế là bỗng dưng Estanislao Campuzano thấy không còn ai đảm nhận việc vận chuyển qua Mexico cho mình nữa và Enriquito đã trở thành đối thủ cạnh tranh. Song dù thế nào, khối lượng giao dịch giữa hai đằng là không thể so sánh được. Tính trung bình ra Enriquito vận chuyển được một ký thì Campuzano được hai mươi ký, tuy nhiên oán thù thì không phân biệt mức độ, thế nên Campuzano, nhẫn nại và không hấp tấp, chờ thời cơ của mình. Dĩ nhiên, tố giác Enriquito thì không tiện vì những lý do liên quan tới nghề buôn ma túy, thay vì vậy hắn muốn đẩy Enriquito ra khỏi cuộc chơi bằng những cách hợp pháp, rồi êm thắm giành tuyến đường về lại tay mình. Khi thời điểm đến (một vụ ẩu đả vì phụ nữ dẫn đến việc Enriquito quá tay giết chết bốn người trong cùng một gia đình), Campuzano liền trình báo với Viện Công tố Sonora, cung cấp nhỏ giọt tiền và manh mối, thế là cuối cùng Enriquito vào khám. Trong hai tuần đầu không có chuyện gì xảy ra, nhưng sang tuần thứ ba bốn tay súng xuất hiện tại một nhà kho ở ngoại ô San Blas, phía Bắc bang Sinaloa, giết hai bảo vệ và chở đi một lô hàng trăm ký cocain. Nhà kho này từng thuộc về một nông dân ở Guaymas, phía Nam Sonora, đã chết từ hơn năm năm trước. Campezano cử một tay chân thân tín đến điều tra vụ việc, tay này tên là Sergio Cansino (còn được biết đến là Sergio Carlos, còn được biết đến là Sergio Camargo, còn được biết đến là Sergio Carrizo), và sau khi dò hỏi ở trạm xăng lẫn xung quanh nhà kho thì y biết được rằng trong thời gian vụ cướp xảy ra, không chỉ một người đã nhìn thấy một chiếc Suburban màu đen ở khu vực đó, giống như chiếc mà người của Enriquito Hernández sử dụng. Vậy là Sergio đi loanh quanh các nông trại trong vùng, hy vọng biết đâu lại tìm ra được chủ nhân chiếc Suburban. Y đi đến tận El Fuerte, nhưng cả ở đó lẫn trong dúm vài trại chủ y gặp, chẳng ai có đủ tiền mua một chiếc Suburban. Sự thật này chẳng làm ai yên tâm được, nhưng nó chỉ là thế mà thôi, Estanislao Campuzano nghĩ, một sự thật cần được xét trong bối cảnh. Chiếc Suburban đó rất có thể là của một khách du lịch Mỹ bị lạc trong bụi bặm bốc mù hoặc là một xe cảnh sát đi ngang qua, không thì là của một quan chức cao cấp đi nghỉ cùng gia đình. Ít lâu sau, đang trên con đường đất từ La Discordia đến El Sasabe, gần biên giới với Hoa Kỳ, một chiếc xe tải chở hai mươi ký cocain cho Estanislao Campuzano đã bị tấn công, tài xế và người đi cùng bị giết, hai người này không mang theo vũ khí, vì định tối hôm đó sẽ qua biên giới vào Arizona, mà đã chở ma túy qua biên giới thì chẳng ai lại mang vũ khí. Hoặc chở vũ khí hoặc chở ma túy, chứ không đồng thời chở hai thứ. Chẳng ai biết gì thêm về những người trên chiếc xe tải ấy. Chỗ ma túy trên xe cũng vậy. Hai tháng sau chiếc xe xuất hiện ở một bãi phế liệu tại Hermosillo. Theo Sergio Cansino thì chủ bãi phế liệu đã mua chiếc xe, trong tình trạng thảm hại, từ ba thằng nghiện chuyên phạm tội vặt và làm chỉ điểm cho cảnh sát Hermosillo. Y nói chuyện với một trong ba thằng này, tên là El Elvis, và được biết nó đã mua lại chiếc xe từ một tay chơi người Sinaloa với giá bốn peso. Khi Sergio hỏi làm sao nó biết thằng cha đó là dân Sinaloa, El Elvis nói do cách hắn nói chuyện. Khi Sergio hỏi làm sao nó biết thằng cha đó là một tay chơi, El Elvis đáp là nhìn mắt hắn. Nhìn thẳng vào mình, phóng khoáng, chả sợ thằng nào, tay chơi thứ thiệt hẳn hoi, loại người có thể nã cho mình một viên kẹo đồng mà cũng có thể đổi chiếc xe tải của hắn cho mình lấy một điếu Marlboro hay một điếu cần sa. Vậy hắn đổi chiếc xe cho chú mày lấy một tép? Sergio cười rộ hỏi. Nửa điếu, El Elvis nói. Lần này thì đúng là Campuzano nổi cơn tam bành.

♣ ♣ ♣

Tại sao Enriquito Hernández, theo cách của mình, dĩ nhiên, lại bảo vệ Haas? thanh tra Juan de Dios Martínez tự hỏi. Hắn được lợi gì? Hắn làm hại cho ai khi bảo vệ Haas? Và anh cũng tự hỏi: hắn định bảo vệ Haas đến bao giờ? Một tháng, hai tháng, chừng nào hắn còn thấy cần? Và sao lại loại trừ lý do lòng thương cảm, tình bạn? Không thể có chuyện Enriquito đã kết bạn với Haas sao? Chẳng lẽ không thể có chuyện đấy là một quyết định chỉ xuất phát từ tình bạn hay sao? Nhưng không, Juan de Dios Martínez tự nhủ, Enriquito Hernández không có bạn.

♣ ♣ ♣

Tháng Mười năm 1995, không xuất hiện trường hợp phụ nữ chết nào ở Santa Teresa hay khu lân cận. Từ giữa cuối tháng Chín, như người ta nói, thành phố thở trong yên bình. Tuy nhiên, vào tháng Mười một, xác một cô gái xuất hiện ở hẻm núi El Ojito, về sau được xác định là Adela García Estrada, mười lăm tuổi, công nhân nhà máy EastWest, mất tích từ một tuần trước. Theo giám định pháp y, nguyên nhân tử vong là bị gãy xương móng. Cô mặc áo nỉ màu xám in hình một ban nhạc rock, bên dưới mặc xu chiêng màu trắng. Tuy nhiên vú phải của cô bị xẻo mất còn núm vú trái bị cắn đứt. Vụ này được giao cho thanh tra Lino Rivera, sau đó là thanh tra Ortiz Rebolledo và thanh tra Carlos Marín.

♣ ♣ ♣

Ngày 20 tháng Mười một, một tuần sau khi phát hiện xác Adela García Estrada, xác một cô gái không rõ danh tính được tìm thấy trên một lô đất trống ở quận La Vistosa. Người này tầm mười chín tuổi, nguyên nhân tử vong là nhiều vết dao đâm vào ngực, tất cả hoặc hầu như tất cả đều là vết thương trí mạng, hung khí là một con dao hai lưỡi. Cô gái mặc áo vét màu xám ngọc trai và quần đen. Khi cởi quần cô trong phòng giám định pháp y, người ta phát hiện ra cô còn mặc bên trong một cái quần nữa màu xám. Hành vi của con người thật bí ẩn, bác sĩ pháp y nói. Vụ này được giao cho thanh tra Juan Dios Martínez. Không ai đến nhận xác.

♣ ♣ ♣

Bốn ngày sau, xác chết tả tơi của Beatriz Concepción Roldán xuất hiện ven xa lộ Santa Teresa-Cananea. Nguyên nhân tử vong là một vết rạch dài sâu hoắm phanh người cô từ rốn đến cằm, có lẽ bằng dao rựa hay một con dao cỡ lớn. Beatriz Concepción Roldán hăm hai tuổi, cao một mét sáu lăm, mảnh mai, da ngăm. Tóc cô dài ngang lưng. Cô làm hầu bàn ở Madero- Norte và sống với Evodio Cifuentes cùng em gái anh ta, Eliana Cifuentes, mặc dù không ai trình báo về việc cô mất tích. Thân thể cô có nhiều vết bầm tím, nhưng vết thương duy nhất bằng dao là nguyên nhân tử vong, qua đó bác sĩ pháp y kết luận nạn nhân đã không tự vệ hoặc đang mất ý thức vào thời điểm bị tử thương. Sau khi ảnh cô được đăng trên La Voz de Sonora, một cú điện thoại nặc danh đã xác nhận cô là Beatriz Concepción Roldán, cư trú ở quận Sur. Bốn ngày sau, khi cảnh sát đến chỗ nạn nhân ở, căn nhà này - bốn mươi mét vuông, hai phòng ngủ nhỏ, phòng khách trang bị bàn ghế bọc nhựa trong suốt - vắng tanh. Theo hàng xóm, người tự xưng là Evodio Ciíuentes và em gái y Eliana đi đã sáu ngày rồi. Một phụ nữ hàng xóm đã thấy họ đi khỏi nhà, mỗi người kéo theo hai cái vali. Khi khám xét nhà, người ta không tìm thấy nhiều dấu ấn cá nhân của anh em Cifuentes. Lúc đầu vụ này được giao cho thanh tra Efraín Bustelo, và người này chẳng mấy chốc đã phát hiện ra anh em Cifuentes chỉ có thực ngang một cặp bóng ma. Chẳng có ảnh nào của họ. Các mô tả ông thu thập được đều mập mờ, nếu không thì là đánh nhau chan chát: Cifuentes thấp bé còn em gái y trông chả có gì nổi bật. Một hàng xóm nghĩ hình như Evodio Cifuentes làm việc ở nhà máy File-Sis, nhưng bảng lương của họ không có cái tên ấy, bây giờ không mà ba tháng gần đây nhất cũng không. Khi Efraín Bustelo yêu cầu cung cấp danh sách công nhân trong vòng sáu tháng trở lại đây, người ta cho biết là, đáng tiếc, do một nhầm lẫn kỹ thuật nên các danh sách đó đều đã mất hoặc đã lộn tùng phèo lên hết cả. Efraín Bustelo chưa kịp hỏi khi nào họ có thể phục hồi các danh sách ấy để ông xem qua thì một ủy viên ban quản trị File-Sis đã đưa ông một phong bì đầy tiền thế là Bustelo quên sạch vụ việc. Kể cả là có các danh sách đó đi nữa, kể cả là chẳng ai đốt chúng, thì nhìn vào đó mình chắc cũng chẳng thể tìm ra dấu vết nào của Evodio Cifuentes, ông nghĩ. Lệnh bắt hai anh em Cifuentes được phát ra, bay khắp các đồn cảnh sát trên cả nước như con muỗi bay quanh ngọn lửa trại. Vụ án mãi vẫn chưa được phá.

♣ ♣ ♣

Trong tháng Mười hai, tại một lô đất trống ở quận Morelos, phía trên phố Colima và phố Fuesanta, không xa trường Dự bị Morelos, người ta thấy xác Michelle Requejo. Nạn nhân mất tích một tuần trước. Phát hiện xác là mấy đứa trẻ thường chơi bóng chày ở lô đất ấy. Michelle Requejo sống ở quận San Damián, phía Nam thành phố, và làm việc ở nhà máy Horizon W&E. Con bé mười bốn tuổi, mảnh mai, dễ mến. Được biết con bé không có bạn trai. Mẹ con bé làm cùng nhà máy và thời gian rảnh bà kiếm thêm vài đồng bằng nghề bói toán và chữa bệnh. Khách hàng của bà hầu hết là chị em lối xóm hay vài đồng nghiệp gặp khó khăn về đường tình duyên. Cha con bé làm ở nhà máy Aguilar&Lennox. Hầu như tuần nào ông cũng làm hai ca. Con bé có hai em gái dưới mười tuổi đang đi học và một anh trai mười sáu tuổi làm việc cùng cha ở Aguilar&Lennox. Michelle Requejo bị đâm nhiều nhát vào hai tay và ngực. Con bé mặc áo cánh màu đen bị rách nhiều chỗ, có lẽ bởi cùng một con dao. Quần nó là kiểu bó sát, bằng vải tổng hợp, bị kéo xuống đến đầu gối. Con bé mang giày tennis Reebok màu đen. Hai tay nó bị trói sau lưng và chỉ sau đó một chút có người để ý thấy thừng được thắt cùng cách với dây thừng trói Estrella Ruiz Sandoval, điều này khiến một số cảnh sát mỉm cười. Vụ này được giao cho José Márquez, anh này thảo luận về những điểm đặc biệt của vụ án với Juan de Dios Martínez. Martínez chỉ ra rằng nút thắt không phải sự trùng hợp kỳ lạ duy nhất, mà trên thực tế, một tội ác khác đã xảy ra trên một cánh đồng bên cạnh trường Dự bị Morelos. Jose Márquez không nhớ vụ ấy. Juan de Dios Martínez cho biết nạn nhân là một phụ nữ chưa từng được nhận dạng. Đêm ấy hai thanh tra ghé lại lô đất trống nơi người ta thấy xác Michelle Requejo. Họ đứng một hồi quan sát những bóng đen chờn vờn nơi lô đất. Đoạn họ xuống xe đi bộ giữa đám cây bụi rậm rạp, giẫm lên những túi ni lông chứa thứ gì đó mềm mềm. Họ châm thuốc. Nghe có mùi xác chết. José Márquez nói anh bắt đầu chán ngấy công việc này rồi, anh nhắc đến công việc trưởng ban an ninh ở Monterrey, rồi anh hỏi cái trường dự bị ấy đâu. Juan de Dios Martínez chỉ vào một chỗ trong bóng tối. Ở đấy, anh nói. Họ đi về phía đó. Họ băng qua vài con đường đất và có cảm giác đang bị theo dõi. José Márquez đặt tay lên bao súng và tuy không rút súng ra nhưng anh vẫn cảm thấy yên tâm hơn. Họ đến gần hàng rào quanh trường chỉ được một ngọn đèn chiếu sáng. Người chết nằm ở đấy, Juan de Dios Martínez nói, chỉ vào một chỗ mơ hồ nào đó gần xa lộ đi Nogales. Người phát hiện xác là bảo vệ trường. Kẻ hoặc những kẻ giết người chắc hẳn tới đây bằng xe hơi. Chúng lôi xác người phụ nữ ra khỏi cốp xe rồi vứt ở lô đất trống. Phải mất ít nhất năm phút. Tôi tính là chừng mười phút, vì chỗ này không gần xa lộ. Chúng hoặc từ Cananea tới hoặc trên đường đến Cananea. Dựa theo chỗ chúng vứt xác, tôi đoán chúng đi về hướng Cananea. Tại sao, mano? José Márquez hỏi. Vì nếu đi từ Cananea tới thì có vô khối chỗ vứt xác tốt hơn trên đường đến Santa Teresa. Nhưng tôi cũng nghĩ là chúng chả vội gì. Theo tôi nghe nói thì chúng đâm một cây cọc nhọn lút đến nửa người cô ta. Mẹ nó chứ, José Márquez nói. Đúng vậy đó, Pepito, đâu có dễ chở một cái xác như thế, theo cái cách như thế, sẵn sàng để lên đường, có thể nói vậy, trong cốp xe. Có khả năng nhất là chúng lụi cái cọc vào người cô ta ngay ở gần trường. Lũ đó là thú chứ không phải người, mano, José Márquez nói. Chúng vứt xác cô ta xuống đất rồi lấy cọc lụi vào lỗ nhị cô ta, anh thấy thế nào? Tàn bạo, mano, José Márquez nói. Nhưng lúc đó cô ta chết rồi chớ, phải không? Ừ, thì cô ta chết rồi, Juan de Dios Martínez nói.

♣ ♣ ♣

Hai phụ nữ chết tiếp theo cũng được phát hiện vào tháng Mười hai năm 1995. Người đầu tiên là Rosa López Larios, mười chín tuổi, xác được phát hiện phía sau một tòa tháp Pemex nơi đêm đêm các cặp thường đến làm tình. Ban đầu người ta đi xe con hoặc xe van đến, nhưng về sau nơi này trở thành mốt và chẳng hiếm gì đám choai choai đến bằng xe máy hay xe đạp, thậm chí còn có cả các cặp công nhân trẻ tuổi đi bộ, vì trạm xe buýt ở ngay gần đấy. Người ta từng có kế hoạch xây một tòa nhà khác đằng sau tháp Pemex, nhưng rốt cuộc lại thôi, và nay ở đó chỉ có một khoảnh đất trống rồi đằng sau đấy là mấy cụm nhà tiền chế kiểu quân đội nay bỏ không, từng có dạo dùng làm nhà ở cho công nhân. Đêm đêm, đôi khi làm ra vẻ càn rỡ, mở radio hết cỡ, song phần lớn là lặng lẽ, người ta đỗ ô tô thành hàng dọc theo khoảnh đất còn đám choai choai đến bằng xe máy hay xe đạp thì mở toang các cánh cửa xập xệ gần long đến nơi của mấy căn nhà bỏ hoang, vào nhà bật đèn pin thắp nến mở nhạc và đôi khi thậm chí còn làm bữa tối. Đằng sau mấy căn nhà hoang, trên một triền dốc thoải, có một cụm rừng thông còi cọc được Pemex trồng khi xây tòa tháp. Một vài cô cậu choai choai muốn có nơi kín đáo hơn sẽ mang theo chăn đệm vào tận trong cụm rừng ấy. Chính ở đó xác Rosa López Larios được phát hiện. Người phát hiện là một cặp đôi mười bảy tuổi. Cô gái tưởng là ai đấy đang ngủ, nhưng khi rọi đèn pin vào thì họ nhận ra cô ta đã chết. Cô gái thét lên rồi bỏ chạy thất kinh hồn vía. Cậu trai thì đủ táo gan hoặc đủ tò mò nên đã lật cái xác lên nhìn mặt người chết. Tiếng thét của cô gái đánh động những người đang ở dưới khoảnh đất. Mấy chiếc ô tô rời đi ngay tức thì. Trên một trong các xe này có một cảnh sát Santa Teresa, chính anh này trình báo về vụ phát hiện cái xác và cố ngăn không cho người ta chuồn hết song đành thất bại. Khi cảnh sát đến thì ở đó chỉ còn lại mấy cô cậu choai choai đang sợ hết hồn và cảnh sát liền chĩa súng gom cả lại. Lúc ba giờ sáng thanh tra Ortiz Rebolledo và cảnh sát viên Epifanio Galindo đến hiện trường. Đến lúc đó các cảnh sát khác đã buộc được tay cảnh sát thành phố cất khẩu Taurus Magnum ngoài quy chuẩn của anh ta đi và bình tĩnh lại. Trên khoảnh đất trống, Epifanio tựa vào xe tuần tra thẩm vấn cô gái nọ, trong khi Ortiz Rebolledo đến cụm rừng thông nhìn cái xác. Rosa López chết bởi nhiều vết thương do vật sắc, cũng chính vật này đã xẻ rách áo cánh và áo nỉ của cô. Cô không mang giấy tờ tùy thân nên ban đầu người ta xếp cô là nạn nhân vô danh. Tuy nhiên, hai ngày sau, khi ảnh cô đã được đăng lên ba tờ báo của Santa Teresa, một phụ nữ tự nhận là chị họ cô nhận diện cô là Rosa López Larios và cung cấp cho cảnh sát mọi thông tin cô ta có, bao gồm địa chỉ của người chết, trên phố San Mateo, quận Las Flores. Tháp Pemex ở gần xa lộ Cananea, vốn không gần nhưng cũng không cách quá xa quận Las Lores, nên có khả năng nạn nhân đã đi bộ hoặc xe buýt đến chỗ tháp, có lẽ để gặp ai đó. Rosa López Larios sống cùng hai bạn gái, đều là công nhân kỳ cựu của các nhà máy thuộc khu công nghiệp General Sepúlveda. Các bạn của Rosa bảo cô có một anh bồ, Ernesto Astudillo, quê ở bang Oaxaca, nhân viên giao nước ngọt của Pepsi. Ở nhà kho Pepsi người ta bảo cảnh sát rằng thật ra Astudillo từng làm bốc vác cho một xe tải tuyến quận Las Flores-quận Kino, nhưng đã bốn hôm rồi không thấy cậu ta đi làm, tức là, nhìn từ phía công ty, có thể coi như cậu ta đã bỏ việc. Khi đã xác định được chỗ ở của Astudillo, cảnh sát liền tiến hành khám xét, nhưng người duy nhất có mặt ở đó là một người bạn sống chung nhà với cậu ta, một căn nhà ọp ẹp không tới hai mươi mét vuông. Thẩm vấn người bạn này thì họ được biết Astudillo có một người em họ hoặc một người bạn, mà cậu ta yêu quý như em ruột, làm nghề pollero. Vụ này vứt xuống sông xuống bể mẹ nó rồi, Epifanio Galindo nói. Tuy nhiên người ta vẫn truy lùng trong đám pollero hy vọng tìm thấy bạn của Astudillo, nhưng chẳng ai chịu nói năng gì và họ chẳng làm rõ được gì. Ortiz Rebolledo từ bỏ vụ này. Epifanio theo đuổi hướng điều tra khác. Anh tự hỏi nếu Astudillo đã chết thì sao. Nếu cậu ta đã chết ba ngày trước khi bọn nhóc kia phát hiện thấy xác bạn gái cậu ta chẳng hạn. Anh tự hỏi Rosa López Larios đã đi để tìm cái gì, để gặp ai nơi tháp Pemex, vào cái ngày hoặc cái đêm cô bị giết. Và quả thật vụ này vứt xuống sông xuống bể mẹ nó rồi.

♣ ♣ ♣

Người phụ nữ chết thứ hai trong tháng Mười hai là Ema Contreras, và lần này việc tìm ra kẻ giết người khá đơn giản. Ema Contreras sống ở phố Pablo Cifuentes, quận Álamos. Một đêm hàng xóm nghe có tiếng đàn ông la hét. Theo lời họ kể sau này, nghe cứ như người này đang ở một mình và đã phát điên. Khoảng hai giờ sáng anh ta thôi không lảm nhảm nữa mà nín thinh. Căn nhà chìm trong im lặng tuyệt đối. Đến khoảng ba giờ sáng, hai tiếng súng đánh thức hàng xóm dậy. Đèn đóm ở nhà ấy tắt hết, nhưng chẳng ai mảy may mơ hồ về nơi phát ra tiếng nổ. Rồi thêm hai tiếng súng nữa và họ nghe có người hét. Ít phút sau họ thấy một người đàn ông đi ra, chui vào chiếc xe đỗ trước nhà rồi biến mất. Một hàng xóm gọi cảnh sát. Khoảng ba rưỡi sáng, một xe tuần tra đến. Cửa ra vào đang mở hé, cảnh sát liền đi thẳng vào nhà. Trong phòng ngủ lớn nhất họ thấy xác Ema Contreras, hai tay hai chân bị trói. Cô bị bắn bốn phát, hai phát trong số đó đã phá hủy mặt cô. Vụ này được giao cho thanh tra Juan de Dios Martínez; anh này, sau khi đến hiện trường lúc bốn giờ sáng và khám xét căn nhà, nhanh chóng đi đến kết luận hung thủ là người sống chung ngoài giá thú (hoặc nhân tình nhân ngãi) của nạn nhân, tức là cảnh sát Jaime Sánchez, cũng chính là người mấy ngày trước, được trang bị một khẩu Taurus Magnum của Brazil, đã cố ngăn các cặp trai gái chạy trốn khỏi tháp Pemex. Juan de Dios Martínez phát lệnh truy nã qua điện đàm. Lúc sáu giờ sáng người ta tìm thấy Jaime Sánchez ở quán bar Serafino. Giờ đó quán Serafino đã đóng cửa, song bên trong vẫn còn một hội đang chơi poker. Gần bàn của các tay chơi và đám khán giả, một nhóm nhậu khuya đang trò chuyện ở quầy bar, trong đó có nhiều hơn một cảnh sát. Jaime Sánchez có trong nhóm này. Khi được mật báo, Juan de Dios Martínez ra lệnh bao vây quán bar và không cho Jaime Sánchez ra ngoài với bất cứ lý do gì, nhưng cũng không ai được vào trong trước khi anh tới. Jaime Sánchez đang chuyện trò về phụ nữ thì thấy viên thanh tra đi vào cùng hai cảnh sát khác. Y vẫn tiếp tục nói. Nơi bàn poker, trong số người xem có thanh tra Ortiz Rebolledo, ông này thấy Juan de Dios đến thì liền đứng dậy hỏi sáng tinh mơ như vầy anh đến Serafino làm gì. Tôi đến bắt người, Juan de Dios nói, vậy là Ortiz Rebolledo liền nhìn anh chằm chằm, cười ngoác miệng. Mày với hai thằng cha này hả? ông hỏi. Rồi thì: đừng có đần thế, sao mày không đi chỗ khác mà thổi kèn? Juan de Dios Martínez nhìn ông tuồng như không nhận ra ai, rồi gạt ông ra tiến đến chỗ Jaime Sánchez. Từ chỗ đó anh có thể thấy Ortiz Rebolledo đã túm tay một trong hai cảnh sát kia, anh này đang nói huyên thuyên không dứt. Chắc muốn hỏi xem mình tới bắt ai đây mà, Juan de Dios nghĩ. Jaime Sánchez ngoan ngoãn nộp mình. Juan de Dios lục dưới áo khoác của y cho đến khi tìm thấy bao súng và khẩu Taurus Magnum. Mày dùng cái này giết cô ta phải không? anh hỏi y. Tao đã nổi khùng và mất tự chủ, Sánchez nói. Đừng làm tao mất mặt trước bạn bè, y nói thêm. Tao quan tâm đếch gì đến bạn mày, Juan de Dios nói lúc còng tay y. Khi họ rời khỏi quán hội poker lại chơi tiếp như không có gì xảy ra.

♣ ♣ ♣

Tháng Một năm 1996, Klaus Haas lại mời họp báo lần nữa. Nhà báo đến không đông như lần đầu, song ai đã đến nhà tù thì đều có thể tác nghiệp bình thường, không bị ngăn trở. Haas hỏi các nhà báo làm thế nào mà trong khi kẻ giết người (tức là gã) đang nằm sau song sắt thì các vụ giết người vẫn cứ xảy ra. Đặc biệt, gã nói về hai nút thắt giống hệt nhau trong vụ Michelle Requejo và Estrella Ruiz Sandoval, rồi chỉ ra rằng Estrella Ruiz Sandoval là người duy nhất trong số những phụ nữ chết từng có liên hệ trực tiếp với gã, do mối quan tâm của cô đối với ngành công nghệ thông tin và máy vi tính, gã nói rõ như vậy. Tờ La Razón, nơi Sergio González làm việc, cử đến một nhà báo mới của ban tội phạm, người này đã đọc hồ sơ vụ án trên chuyến bay tới Hermosillo. Trong tập hồ sơ có các bài viết của Sergio González. Sergio thì ở lại thủ đô viết một bài dài về văn chương Mexico và Mỹ La tinh mới. Trước khi tay nhà báo mới được cử đi, trưởng ban tội phạm lên đến tận tầng năm chỗ ban văn hóa, mặc dù ông hầu như chẳng bao giờ dùng thang máy, hỏi Sergio có muốn đi không. Sergio nhìn ông không đáp rồi cuối cùng lắc đầu. Cũng trong tháng Một, chi nhánh Santa Teresa của tổ chức Phụ nữ Sonora vì Dân chủ và Hòa bình (MSDP) tổ chức họp báo, chỉ có hai nhà báo Santa Teresa đến dự, tại đây, họ nói đến thái độ thiếu quan tâm và coi thường mà thân nhân những phụ nữ bị giết đang phải chịu và cho xem những bức thư họ định gửi cho thống đốc bang, José Andres Briceno, thuộc Đảng Hành động Nhân dân, và cho Trưởng Công tố nước cộng hòa. Các thư này chẳng bao giờ được trả lời. Chi nhánh Santa Teresa của MSDP phát triển từ ba lên đến hai mươi hội viên và cảm tình viên. Tuy nhiên, tháng Một năm 1996 chẳng phải tháng tồi tệ đối với cảnh sát thành phố. Ba người bị bắn chết ở một quán bar gần đường xe lửa cũ, có vẻ là một vụ thanh toán giữa các tay trùm ma túy. Xác một người Trung Mỹ bị cắt họng xuất hiện trên một tuyến đường thường được các pollero sử dụng. Một người thấp béo đeo cái cà vạt kỳ lạ in hình cầu vồng và những phụ nữ trần truồng mình người đầu thú tự bắn vào vòm miệng trong khi chơi roulette kiểu Nga tại một hộp đêm ở Madero- Norte. Nhưng không xác phụ nữ nào được phát hiện ở các lô đất trống của thành phố, hay ở vùng ngoại ô, hoặc trong sa mạc.

♣ ♣ ♣

Tuy nhiên, đầu tháng Hai, cảnh sát nhận được một cuộc điện thoại nặc danh báo về một cái xác bị vứt trong một lán đường sắt cũ. Xác này, theo bác sĩ pháp y, là của một phụ nữ chừng ba mươi tuổi, mặc dù nhìn thì ai cũng có thể nói cô đã bốn mươi. Cô bị hai nhát đâm trí mạng, hai cẳng tay có nhiều vết rạch sâu. Theo khám nghiệm pháp y, hung khí có lẽ là một con dao mác giống kiểu thường thấy trong phim Mỹ. Khi được hỏi, bác sĩ pháp y giải thích ý ông muốn nói phim Viễn Tây, và loại dao dùng để săn gấu. Tức là một con dao mác rất to. Ngày điều tra thứ ba, bác sĩ pháp y cung cấp một manh mối quan trọng khác. Người phụ nữ chết là người da đỏ. Cô có thể là người Yaqui, nhưng ông không nghĩ vậy, cô cũng có thể là người Pima, nhưng ông cũng chẳng nghĩ vậy nốt. Có khả năng cô là người Mayo, ở phía Nam của bang, nhưng nói thật cả chuyện này ông cũng không tin. Vậy thì kiểu da đỏ nào? Ờ, có thể là người Seri, tuy nhiên, theo bác sĩ pháp y, dựa trên một số đặc điểm thể chất thì cũng khó có chuyện ấy. Cô cũng có thể là người da đỏ Papago, điều này có vẻ hiển nhiên nhất bởi người Papago là tộc da đỏ sống gần Santa Teresa nhất, nhưng ông nghĩ cô cũng chả phải là dân da đỏ Papago. Đến ngày thứ tư, ông bác sĩ pháp y, đã bắt đầu được đám sinh viên gọi là bác sĩ Mengele của Sonora, sau khi nghiền ngẫm và đo đạc rất nhiều, mới xác định rằng, không nghi ngờ gì nữa, cô này là người da đỏ Tarahumara. Một người Tarahumara làm cái gì ở Santa Teresa mới được chớ? Có lẽ giúp việc cho một nhà nào đấy thuộc tầng lớp trung lưu hoặc thượng lưu. Hoặc đang chờ đến lượt vượt biên sang Mỹ. Cuộc điều tra tập trung vào các chỉ điểm viên trong đám pollero và các gia đình có người giúp việc vừa bất ngờ bỏ việc. Chẳng bao lâu vụ này đi vào quên lãng.

Xác chết tiếp theo được bắt gặp ở giữa xa lộ Casas Negras, dưới chỗ sâu nhất của một thung lũng không tên đầy cây bụi và hoa dại. Đây là xác chết nữ đầu tiên được phát hiện trong tháng Ba năm 1996, một tháng kinh khủng sẽ còn xuất hiện thêm năm xác nữa. Trong sáu cảnh sát đến hiện trường có Lalo Cura. Đứa bé chết chừng mười tuổi. Con bé cao một mét hai mươi sáu. Con bé mang đôi xăng đan nhựa trên quai gắn khóa kim loại. Nó có mái tóc màu nâu, phần tóc rủ xuống trán sáng màu hơn, trông như bị nhuộm. Nó bị đâm tám nhát, ba nhát chỗ tim. Một cảnh sát bật khóc khi nhìn thấy con bé. Các nhân viên cấp cứu trèo xuống thung lũng tiến hành buộc người chết vào cáng, vì chuyến leo trở lên có lẽ sẽ gian nan, họ mà trượt chân là cái xác nhỏ bé kia sẽ rơi xuống đất. Không ai tới nhận xác. Theo cảnh sát thông báo, con bé không sống ở Santa Teresa. Nó làm gì ở đấy? Nó đến đây bằng cách nào? Họ không nhắc đến chuyện đó. Người ta fax thông tin của con bé đến các đồn cảnh sát trong cả nước. Cuộc điều tra do thanh tra Ángel Hernández đảm trách và chẳng bao lâu vụ án bị xếp xó.

♣ ♣ ♣

Ít ngày sau, cũng dưới thung lũng ấy song lần này là ở phía bên kia xa lộ Casas Negras, người ta phát hiện xác một đứa bé khác, chừng mười ba tuổi, bị siết cổ chết. Cũng như nạn nhân trước, con bé không mang theo giấy tờ gì giúp nhận diện danh tính. Con bé mặc quần soóc trắng và áo nỉ xám có logo một đội bóng bầu dục Mỹ. Theo bác sĩ pháp y, nó đã chết ít nhất bốn ngày, nghĩa là có khả năng cả hai xác bị vứt xuống vào cùng một ngày. Theo Juan de Dios Martínez, ý kiến này hơi kỳ cục, mà nói thế còn là nhẹ, vì muốn vứt cái xác đầu tiên xuống thung lũng thì kẻ giết người sẽ phải đỗ xe không xa đường cao tốc Casas Negras trong khi cái xác thứ hai vẫn ở trong xe, làm vậy thì không chỉ có nguy cơ một xe tuần tra nào đấy sẽ dừng lại mà thậm chí có thể có kẻ nào đó - chẳng ngờ vực gì - sẽ đi ngang qua cướp mất xe, và cũng có thể nói y như vậy nếu như hắn vứt cái xác đầu tiên xuống phía đối diện của đường cao tốc, nói cách khác là gần khu dân cư El Obelisco, chẳng phải làng mà cũng không hẳn là khu ngoại ô của Santa Teresa, đúng ra là một trạm trú chân cho những kẻ khốn cùng nhất trong số những kẻ khốn cùng ngày ngày từ phương Nam tới, nghỉ đêm và thậm chí chết trong những túp lều tồi tàn không được họ coi là nhà mà chỉ như thêm một chỗ dừng chân trên đường đến một cái gì đó khác hay ít nhất là một nơi có cái ăn cho họ. Một số người không gọi đó là El Obelisco mà là El Moridero. Và phần nào đó họ có lý, vì chẳng có obelisco (đài tưởng niệm) nào sất và ở đó người ta chết (morir) nhanh hơn nhiều so với ở những nơi khác. Nhưng đúng là từng có một đài tưởng niệm thật, từ hồi địa giới của thành phố còn khác bây giờ, cách đây rất lâu rồi, hồi Casas Negras hãy còn có thể được gọi là một thị trấn độc lập. Một đài tưởng niệm bằng đá, hay nói đúng hơn là ba tảng đá, tảng này chồng lên tảng kia, làm thành một hình trụ chẳng ra đâu vào đâu, mặc dù nếu có trí tưởng tượng hoặc chút óc hài hước thì có thể nhìn thấy đống đá đó như là một đài tưởng niệm cổ sơ hay một đài tưởng niệm được vẽ bởi một đứa bé đang học vẽ, một đứa bé quái dị sống ở ngoại vi Santa Teresa không bao giờ ngủ và vừa bò trên sa mạc vừa ăn bò cạp với thằn lằn. Cách thiết thực nhất, Juan de Dios Martínez nghĩ, là vứt hai xác cùng một chỗ, đầu tiên xác này sau đó xác kia. Và không lôi cái xác đầu tiên xuống thung lũng, chỗ đó xa đường cao tốc chớ đâu có gần, mà vứt luôn ở ven đường, cách vệ đường vài mét. Xác thứ hai cũng vậy. Sao lại cuốc bộ đến tận ven El Obelisco, tự chuốc vào mình đủ thứ nguy cơ, trong khi ta có thể vứt nó ở đâu cũng được? Trừ phi, anh tự nhủ, có ba kẻ giết người trong xe, một đứa lái xe còn hai đứa kia nhanh chóng tống khứ hai cái xác, vốn có nặng gì đâu, và nếu hai thằng đàn ông cùng nhau bê, mỗi lần một đứa, thì có lẽ chẳng nặng hơn một cái vali nhỏ. Nếu vậy, việc chúng chọn El Obelisco cần được nhìn nhận dưới một ánh sáng mới, dưới những chiều kích mới. Bọn giết người muốn cảnh sát chuyển hướng nghi ngờ sang cư dân sống trong một biển những căn nhà bằng giấy kia chăng? Nhưng sao không vứt hai xác cùng một chỗ ? Để cho giống y như thật chăng? Và tại sao không giả định rằng cả hai đứa trẻ đều sống ở El Obelisco? Ở Santa Teresa này còn nơi nào khác có thể có những cô bé mười tuổi chẳng được ai nhận là thân nhân kia chứ? Nếu vậy thì bọn giết người không có xe hơi? Chúng mang con bé đầu tiên băng qua xa lộ đến thung lũng gần Casas Negras rồi bỏ nó ở đó? Nhưng nếu chúng đã cất công đến vậy thì tại sao không chôn cái xác? Vì đất trong thung lũng cứng mà chúng thì không có dụng cụ chăng? Vụ này được giao cho thanh tra Ángel Hernández, anh này tiến hành truy quét khu El Obelisco và bắt giữ hai chục người. Bốn trong số này bị buộc tội ăn cắp và bị tống vào tù. Một người khác chết trong buồng giam tại phân khu cảnh sát số 2, theo giám định pháp y thì vì bệnh lao. Không ai thừa nhận đã giết đứa trẻ nào.

♣ ♣ ♣

Một tuần sau khi thấy xác đứa bé mười ba tuổi ở ngoại ô El Obelisco, người ta phát hiện xác một cô gái chừng mười sáu tuổi ở ven xa lộ đi Cananea. Cô gái đã chết cao chừng mét sáu và dáng người mảnh mai, tóc đen dài. Cô chỉ bị đâm một nhát, vào vùng cơ hoành, một vết đâm sâu đến nỗi con dao xuyên thủng người cô theo đúng nghĩa đen. Nhưng nguyên nhân tử vong, theo giám định pháp y, là do bị siết cổ và gãy xương móng. Từ vị trí phát hiện xác có thể nhìn thấy một dãy đồi thấp, rải rác những căn nhà mái thấp màu trắng màu vàng, dăm ba căn lán công nghiệp nơi các nhà máy cất giữ phụ tùng thay thế, rồi thì những lối mòn tẽ ra từ đường cao tốc, tan biến dần như những giấc mơ, vô duyên vô cớ. Nạn nhân, theo lời cảnh sát, có lẽ là một người đi nhờ xe đã bị hãm hiếp trên đường đến Santa Teresa. Mọi cố gắng xác định nhân thân của cô đều vô hiệu và vụ án khép lại.

♣ ♣ ♣

Gần như cũng thời gian đó, xác một cô gái khác, chừng mười sáu tuổi, được phát hiện, bị đâm và cơ thể rách tướp (mặc dù các vết rách này có thể do lũ chó trong vùng gây ra), trên triền dốc Cerro Estrella, về phía Đông Bắc thành phố, cách nơi tìm thấy ba nạn nhân đầu tiên của tháng Ba nhiều cây số. Vóc người mảnh mai và tóc đen dài, cô gái này, theo lời một số cảnh sát, trông như chị em sinh đôi với cô gái được cho là xin đi nhờ xe mà người ta phát hiện ven đường cao tốc đi Cananea. Cũng như cô kia, cô này không mang theo giấy tờ gì giúp xác định nhân thân. Báo chí Santa Teresa nhắc đến cặp “chị em bị nguyền rủa”, và sau đó, nương theo phiên bản của cảnh sát, “cặp chị em sinh đôi xấu số”. Vụ án được giao cho thanh tra Carlos Marín và chẳng bao lâu bị xếp vào loại không phá được.

♣ ♣ ♣

Cuối tháng Ba, vào cùng một ngày, người ta phát hiện hai nạn nhân sau cùng. Nạn nhân đầu tiên tên Beverly Beltrán Hoyos. Cô mười sáu tuổi và làm việc ở một nhà máy trong khu công nghiệp General Sepúlveda. Cô mất tích ba ngày trước khi người ta tìm thấy xác. Mẹ cô, Isabel Hoyos, đã đến một đồn cảnh sát ở khu trung tâm và sau năm tiếng đồng hồ chờ đợi, bà được tiếp và đơn trình báo của bà được thụ lý, được ký tên và chuyển sang bước kế, dẫu bằng thái độ sưng sỉa. Beverly, khác với các nạn nhân tháng Ba khác, có tóc nâu. Ngoài ra thì có vài nét tương đồng: mảnh mai, cao mét sáu, tóc dài. Cô được phát hiện bởi mấy đứa trẻ đang chơi trên một dải đất trống phía Tây khu công nghiệp General Sepúlveda, một nơi khó đến được bằng xe hơi. Xác có nhiều vết đâm vào vùng ngực và cơ hoành. Beverly đã bị hãm hiếp qua đường âm hộ và hậu môn rồi sau đó được những kẻ giết người mặc quần áo cho, vì quần áo cô, cũng là bộ cô mặc khi mất tích, hoàn toàn không bị rách hay thủng hay bị sém do đạn bắn. Vụ này được thanh tra Lino Rivera đảm trách, anh này khởi sự và rốt ráo điều tra bằng cách thẩm vấn các đồng nghiệp của nạn nhân và ra sức tìm một anh bạn trai không hề có thật. Không ai đào bới hiện trường tội ác, cũng không ai lấy mẫu nhiều vết xe quanh vị trí ấy.

♣ ♣ ♣

Nạn nhân thứ hai ngày hôm đó, đồng thời là nạn nhân cuối cùng trong tháng Ba, được phát hiện ở một lô đất trống phía Tây quận Remedios Mayor và bãi rác bất hợp pháp Chile, phía Nam khu công nghiệp General Sepúlveda. Theo thanh tra José Márquez được giao vụ này, cô rất hấp dẫn. Cô mảnh dẻ nhưng không gầy gò, chân dài, ngực đầy đặn, tóc quá vai. Âm hộ và hậu môn đều có vết trầy xước. Sau khi bị hãm hiếp cô bị đâm đến chết. Theo giám định pháp y, cô hẳn vào khoảng mười tám đến hai mươi tuổi. Cô không mang căn cước công dân và không ai đến nhận xác, nên cô được chôn ở nghĩa trang công cộng, sau một thời gian chờ thích đáng.

♣ ♣ ♣

Ngày 2 tháng Tư, Florita Almada xuất hiện trên chương trình của Reinaldo cùng một số nhà hoạt động của MSDP. Florita Almada nói bà có mặt chỉ để giới thiệu mấy phụ nữ kia, họ mới có điều quan trọng cần nói. Rồi các nhà hoạt động MSDP bước lên nói về tình trạng tội ác không bị trừng phạt ở Santa Teresa, sự lười nhác tắc trách của cảnh sát, nạn tham nhũng, và con số phụ nữ chết không ngừng gia tăng kể từ năm 1993. Sau đó họ cảm ơn khán giả đã có lòng ngồi nghe, cảm ơn bà bạn Florita Almada rồi chào tạm biệt, song trước đó không quên kêu gọi thống đốc bang, José Andrés Briceno, hãy tìm giải pháp cho cái tình hình không thể biện minh này ở một đất nước vẫn tự xưng là tôn trọng quyền con người và luật pháp. Giám đốc đài gọi Reinaldo đến và suýt nữa tạm đình chỉ công tác anh. Reinaldo nổi cơn tam bành bảo ông ta cứ làm đi, nếu người ta bảo ông đuổi cổ anh thì ông cứ đuổi đi. Giám đốc đài gọi anh là thằng chó đẻ và tên gây rối. Reinaldo giam mình trong phòng thay đồ, nói chuyện điện thoại với một số người ở Los Angeles có đài phát thanh và đang muốn thuê anh. Nhà sản xuất chương trình bảo giám đốc đài tốt nhất là để Reinaldo yên. Giám đốc yêu cầu thư ký tìm Reinaldo. Reinaldo không chịu đi mà cứ nói chuyện điện thoại. Tay người Mỹ anh đang nói chuyện kể về một tên giết người hàng loạt ỞLos Angeles, chỉ giết dân đồng tính. Lạy Chúa, Reinaldo nói, ở đây thì có kẻ chỉ giết phụ nữ. Thằng cha ở Los Angeles chuyên rình mò các quán bar của dân gay. Luôn luôn có cái loại như thế, Reinaldo nói, những con sói rình rập bầy cừu. Thằng cha ở Los Angeles quyến rũ các tay đồng tính ở quán bar của dân gay hoặc ở mấy con phố nơi tụi điếm đực thường tụ tập sau đó đưa họ tới nơi khác rồi giết. Cái thằng khát máu chả kém gì Jack the Ripper. Hắn băm nạn nhân thành từng mảnh, đúng vậy đó. Người ta có định làm phim về hắn không? Reinaldo hỏi. Làm rồi, tay người Mỹ ở đầu dây bên kia nói. Tức là cảnh sát tóm được hắn rồi? Chứ sao, tay Mỹ nói. May quá! Reinaldo nói. Thế ai đóng phim ấy? Keanu Reeves, tay Mỹ nói. Keanu đóng vai giết người á? Không, vai tay cảnh sát tóm hắn. Thế ai đóng vai giết người? Thằng cha tóc vàng, tên là gì ta? tay Mỹ nói, thằng cha có cái tên giống tên nhân vật trong tiểu thuyết của Salinger. Chà, ông nhà văn ấy tớ chưa đọc, Reinaldo nói. Chưa đọc Salinger á? tay Mỹ hỏi. Chưa, Reinaldo nói. Vậy là cậu mất nửa cuộc đời rồi, tay Mỹ nói. Dạo này tớ toàn đọc các nhà văn đồng tính thôi, Reinaldo nói. Và nếu có thể thì là những nhà văn có nền tảng văn chương giống tớ. Chừng nào đến L.A. cậu phải giải thích chuyện đó với tớ đấy, tay Mỹ nói. Khi gác máy Reinaldo nhắm mắt hình dung mình sống ở một khu có những cây cọ lớn, những căn nhà gỗ nhỏ xinh xinh và những hàng xóm nuôi mộng làm minh tinh tài tử, những người anh sẽ phỏng vấn từ rất lâu trước khi họ thành danh.

♣ ♣ ♣

Sau đó anh nói chuyện với sản xuất chương trình và giám đốc đài và cả hai, đứng ở cửa phòng thay đồ của anh, bảo anh quên vụ vừa rồi đi mà cứ tiếp tục làm ở đây. Reinaldo nói để anh nghĩ đã, anh còn có những lời mời khác. Đêm đó anh mở tiệc ở căn hộ và đến gần sáng vài người bạn đề nghị ra bãi biển xem mặt trời mọc. Reinaldo giam mình trong phòng ngủ gọi điện cho Florita Almada. Đến tiếng reo thứ ba thì nhà ngoại cảm trả lời. Reinaldo hỏi anh có làm mất giấc ngủ của bà không. Florita Almada bảo có nhưng không sao vì bà đang mơ thấy anh. Reinaldo nài bà kể cho nghe giấc mơ. Florita Almada nói về một cơn mưa sao băng trên một bãi biển ở Sonora và mô tả một đứa bé trông giống anh. Và đứa bé đó ngắm sao băng? Reinaldo hỏi. Ừ, Florita Almada nói, ngắm mưa sao băng trong khi sóng biển mơn trớn hai cẳng chân. Đẹp quá, Reinaldo nói. Tôi cũng thấy thế, Florita Almada nói. Giấc mơ của bà đẹp quá Florita ạ, Reinaldo nói. Ừ, bà nói.

♣ ♣ ♣

Chương trình về Florita Almada và những nhà hoạt động ở MSDP được nhiều người xem. Elvira Campos, giám đốc bệnh viện tâm thần Santa Teresa, xem và kể lại với Juan de Dios Martínez, vốn không xem. Don Pedro Rengifo, sếp cũ của Lalo Cura, gần như chẳng bao giờ rời nông trại ở ngoại ô Santa Teresa, cũng xem, nhưng chẳng bàn về nó với ai, mặc dù cánh tay phải của ông, Pat O’Bannion, lúc ấy ngồi ngay cạnh. El Tequila, bạn Klaus Haas, xem chương trình này ở nhà tù Santa Teresa và kể với Haas, nhưng gã nhún vai không thèm để ý. Mấy mụ nặc nô đó nói gì nghĩ gì cũng chả quan trọng. Thằng giết người cứ giết người còn tao thì bị nhốt ở đây. Đó là một thực tế không thể bàn cãi. Đáng lẽ phải có người ngẫm đến điều đó và rút ra kết luận. Ngay đêm đó, nằm trên giường trong xà lim, Haas nói: thằng giết người ở ngoài còn tao ở trong này. Nhưng thằng nào đó tệ hơn tao và tệ hơn thằng giết người ấy rồi sẽ đến cái thành phố bỏ mẹ này. Tụi bây có nghe thấy tiếng chân thằng đó đang lại gần không? Nghe thấy tiếng chân hắn không? Câm đi, güero, Farfán đang nằm trên giường bèn nói. Haas im.

♣ ♣ ♣

Tuần đầu tháng Tư một xác phụ nữ khác được phát hiện trên vùng đất trống phía Đông các lán đường sắt cũ. Người chết này không mang theo giấy tờ tùy thân nào trừ một tấm thẻ không dán ảnh xác nhận cô là công nhân ở nhà máy Dutch&Rhodes, tên là Sagrario Baeza López. Xác có nhiều vết dao đâm và có dấu hiệu rõ ràng là bị hãm hiếp. Cô chừng hai mươi tuổi. Khi cảnh sát đến văn phòng nhà máy Dutch&Rhodes thì hóa ra Sagrario Baeza López còn sống. Khi được thẩm vấn, cô này tuyên bố không biết và cũng chưa từng gặp người chết kia. Cô làm mất thẻ ít nhất sáu tháng rồi. Và, cuối cùng, cô sống chỉn chu ngăn nắp, tận tụy với công việc và gia đình, cô sống cùng gia đình ở quận Carranza, chưa bao giờ gặp rắc rối với pháp luật, điều này được một số đồng nghiệp của cô xác nhận. Và trên thực tế, trong hồ sơ của Dutch&Rhodes có ghi đích xác ngày Sagrario Baeza được cấp thẻ mới, kèm lời nhắc nhở phải cẩn thận đừng làm mất lần nữa. Người phụ nữ chết kia làm gì với thẻ lao động của người khác cơ chứ? thanh tra Efraín Bustelo tự hỏi. Trong vài ngày người ta thẩm vấn toàn bộ nhân sự Dutch&Rhodes, phòng khi người phụ nữ chết là một công nhân khác ở nhà máy này, nhưng các phụ nữ đã nghỉ việc ở nhà máy lại không khớp với mô tả về ngoại hình của người chết. Ba trong số này, tuổi từ hăm lăm đến ba mươi, đã chọn vượt biên sang Mỹ. Một người khác, một chị béo lùn, bị đuổi việc vì mưu toan thành lập công đoàn. Vụ này nhanh chóng bị khép lại.

♣ ♣ ♣

Tuần cuối tháng Tư, người ta tìm thấy một xác phụ nữ nữa. Theo giám định pháp y, trước khi chết cô đã bị đánh đập khắp người. Tuy nhiên, nguyên nhân tử vong lại là do bị siết cổ và gãy xương móng. Xác được phát hiện trong sa mạc, cách một con đường thứ cấp chạy về phía Đông, hướng tới rặng núi, năm chục mét, ở một nơi chẳng hiếm thấy những chiếc máy bay nhỏ của mấy ông trùm ma túy hạ cánh. Vụ này được Ángel Hernández đảm trách. Người phụ nữ chết không mang giấy tờ tùy thân và việc cô mất tích không được trình báo ở bất kỳ đồn cảnh sát nào của Santa Teresa. Ảnh cô không được đăng báo, mặc dù cảnh sát có cung cấp ảnh khuôn mặt bầm giập tả tơi của cô cho El Heraldo del Norte, La Voz de Sonora và La Tribuna de SantaTeresa.

♣ ♣ ♣

Trong tháng Năm năm 1996 người ta không phát hiện thêm xác phụ nữ nào. Lalo Cura tham gia điều tra một vụ trộm xe hơi, cuối cùng bắt năm người. Epifanio Galindo đến nhà tù gặp Haas. Cuộc trò chuyện diễn ra chớp nhoáng. Thị trưởng Santa Teresa tuyên bố với báo giới là thành phố có thể thở phào nhẹ nhõm được rồi, kẻ giết người nay đã ngồi sau song sắt và những vụ giết phụ nữ xảy ra sau đó là do bọn tội phạm bình thường. Juan de Dios Martínez đảm trách một vụ cướp nghiêm trọng. Sau hai ngày anh đã tóm được kẻ phạm tội. Ở nhà tù Santa Teresa, một tù nhân hai mươi mốt tuổi đang bị tạm giam đã tự tử. Lãnh sự Hoa Kỳ Conan Mitchell đi săn tại một nông trại thuộc quyền sở hữu của doanh nhân Conrado Padilla ở chân dãy đồi Sierra. Bạn hữu của ông cũng có mặt: Pablo Negrete, hiệu trưởng Đại học Santa Teresa, Juan Salazar Crespo chủ nhà băng, và một nhân vật thứ ba chẳng ai quen biết, một người béo lùn tóc đỏ, tên René Alvarado, không đi săn với họ hôm nào vì ông ta nói súng ống làm ông ta bất an và hơn nữa ông ta bị bệnh tim. Tay René Alvarado này từ Guadalajara tới và theo ông ta nói thì ông ta có cổ phiếu ở thị trường chứng khoán. Sáng sáng, khi cả hội đi săn, ông ta quấn mình trong chăn ngồi trên sân hiên, đối diện với núi, luôn luôn cầm sách.

♣ ♣ ♣

Vào tháng Sáu, một vũ nữ ở quán bar El Pelícano bị giết. Theo các nhân chứng, cô đang ở trong sảnh chính, để trần nửa người mà nhảy, thì chồng cô Julián Centeno bước vào và, chẳng trao đổi một lời với nạn nhân, nã luôn bốn phát vào cô. Vũ nữ này, được biết với tên Paula hay Paulina, mặc dù ở các bar khác của Santa Teresa cô còn có tên là Norma, quỵ xuống và không bao giờ tỉnh lại, mặc dù hai vũ nữ khác đã cố làm cô tỉnh lại. Khi xe cứu thương đến thì cô đã chết. Vụ này do thanh tra Ortiz Rebolledo đảm trách. Trời chưa sáng ông đã có mặt ở nhà Julián Centeno, ngôi nhà vắng tanh vắng ngắt và cho thấy rõ đã có một cuộc tháo chạy vội vã. Julián Centeno bốn tám tuổi, còn cô vũ nữ, theo lời các cô đồng nghiệp, không quá hăm ba. Y quê Veracruz còn cô là dân thủ đô và hai người mới tới Santa Teresa được mấy năm. Theo chính lời cô vũ nữ nói thì họ là vợ chồng hợp pháp. Ban đầu, chẳng ai biết họ của Paula hay Paulina là gì. Nơi căn hộ nhỏ đồ đạc sơ sài của cô tại số 79 phố Lorenzo Covarrubias ở quận Madero-Norte, người ta không tìm được giấy tờ gì giúp xác định nhân thân của nạn nhân. Có lẽ Centeno đã đốt hết, nhưng Ortiz Rebolledo nghiêng về khả năng là cô Paulina này suốt những năm cuối đời đã sống mà chẳng có lấy một thứ giấy tờ nào xác nhận sự tồn tại của cô, một điều không hiếm gặp ở các cô vũ nữ hộp đêm hay gái điếm không địa chỉ cố định. Tuy nhiên, một tờ fax từ Phòng Căn cước thuộc Sở Cảnh sát Thủ đô đã cho họ biết Paulina tên thật là Paula Sánchez Garcés. Hồ sơ của cô cho hay cô đã bị bắt mấy lần vì làm điếm, cái nghề hình như cô đã theo từ năm mười lăm tuổi. Theo các đồng nghiệp của cô ở El Pelícano, gần đây nạn nhân đem lòng yêu một khách hàng, một người họ chỉ biết mỗi cái tên, Gustavo, và cô đang định bỏ Centeno để đến sống với y. Cuộc truy lùng Centeno không đem lại kết quả gì.

♣ ♣ ♣

Ít ngày sau vụ giết Paula Sánchez Garcés, ở ven xa lộ đi Casas Negras xuất hiện xác một cô gái chừng mười bảy tuổi, cao mét bảy, tóc dài, mảnh mai. Cô bị đâm ba nhát, cổ tay cổ chân xây xát và cổ bị bầm tím. Nguyên nhân tử vong, theo giám định pháp y, là một trong các vết dao đâm. Cô mặc áo thun màu đỏ, xu chiêng trắng, quần lót đen, đi giày cao gót đỏ. Cô không mặc quần hay váy. Sau khi dùng tăm bông lấy mẫu xét nghiệm từ âm hộ và hậu môn, người ta kết luận rằng nạn nhân đã bị hãm hiếp. Sau đó, một trợ lý bác sĩ pháp y phát hiện ra đôi giày nạn nhân mang lớn hơn chân cô ít nhất hai cỡ. Không tìm thấy bất kỳ giấy tờ tùy thân nào, và vụ việc bị khép lại.

♣ ♣ ♣

Vào cuối tháng Sáu, xác một phụ nữ khác, chừng hăm mốt tuổi, được phát hiện trên con đường ra khỏi quận El Cerezal, gần xa lộ đi Pueblo Azul. Xác chi chít vết dao đâm. Về sau giám định pháp y đếm được hăm bảy nhát, có nhẹ có nặng. Xác được phát hiện hôm trước thì hôm sau cha mẹ của Ana Hernández Cecilio, mười bảy tuổi, đến đồn cảnh sát nhận diện người chết này là con gái họ, đã mất tích trước đó một tuần. Tuy nhiên, ba ngày sau, khi cái người được cho là Ana Hernández Cecilio đã được chôn ở nghĩa trang Santa Teresa thì Ana Hernández Cecilio chính cống xuất hiện ở đồn cảnh sát, cho biết cô đã bỏ nhà đi với tình nhân. Hai người vẫn đang sống ở Santa Teresa, quận San Bartolomé, cùng làm việc ở một nhà máy tại khu công nghiệp Arsenio Farrel. Cha mẹ Ana Hernández xác nhận lời khai của cô con gái. Người ta bèn ra lệnh đào cái xác đã tìm thấy trên xa lộ đi Pueblo Azul và tiếp tục điều tra, dưới sự chỉ đạo của các thanh tra Juan de Dios Martínez và Ángel Hernández và cảnh sát viên Santa Teresa, Epifanio Galindo. Epifanio cất công đi khắp quận Maytorena và quận Cerezal, cùng với một ông già chủ tiệm vốn là cựu cảnh sát. Nhờ đó anh biết được có một người tên Arturo Olivárez vừa bị vợ bỏ. Lạ ở chỗ cô vợ không đem theo con, một thằng con trai hai tuổi và đứa con gái mới mấy tháng. Trong khi bám theo những manh mối khác, Epifanio nhờ ông chủ tiệm cựu cảnh sát nhớ báo ngay cho anh nếu tay Olivárez kia có động thái gì. Nhờ vậy anh phát hiện ra nghi phạm thỉnh thoảng được một người tên Segovia, hóa ra là anh họ của Olivárez, ghé thăm. Segovia sống ở phía Tây Santa Teresa và làm nghề gì không rõ. Cho đến cách đây một tháng, y hãy còn chẳng mấy khi có mặt ở quận Maytorena. Segovia bị đưa vào diện theo dõi và người ta tìm được nhân chứng cho biết đã thấy y đi về nhà trên áo có vết máu. Các nhân chứng này là hàng xóm của Segovia và chẳng mấy hòa thuận với y. Segovia kiếm sống bằng nghề môi giới cho các cuộc đấu chó tổ chức tại một vài sân ở quận Aurora. Juan de Dios Martínez và Ángel Fernández vào nhà Segovia khi tay này đi vắng. Họ không tìm thấy gì trực tiếp cho thấy y dính líu đến vụ giết người phụ nữ vô danh ở gần xa lộ đi Pueblo Azul. Họ hỏi một viên cảnh sát thường tham gia đấu chó xem có biết Segovia không. Viên cảnh sát bảo có. Họ giao cho anh này nhiệm vụ giám sát Segovia. Hai ngày sau viên cảnh sát cho biết gần đây Segovia không chỉ tổ chức các trận đấu mà còn tham gia đặt cược nữa. Dĩ nhiên y thua sạch, nhưng chỉ sau một tuần y lại đặt cược tiếp. Hẳn ai đấy cho hắn tiền, Ángel Fernández nói. Họ bám theo Segovia. Mỗi tuần y tới thăm em họ ít nhất một lần. Epifanio Galindo bám theo Olivárez. Anh phát hiện ra tay này đang bán đồ đạc trong nhà. Olivárez định rời thành phố, Epifanio nói. Vào các Chủ nhật y chơi đá bóng với một đội trong khu phố. Sân bóng nằm ở một khoảnh đất gần xa lộ đi Pueblo Azul. Khi Olivárez thấy cảnh sát đến, hai mặc thường phục và ba mặc sắc phục, y liền ngừng chơi chờ họ trên sân, như thể đấy là một không gian tinh thần bảo vệ y khỏi tai ương. Epifanio hỏi tên y và còng tay y. Olivárez không chống cự. Các cầu thủ khác và chừng ba chục khán giả ngây ra. Cái im lặng ấy, đêm đó Epifanio kể cho Lalo Cura nghe, thật trọn vẹn. Anh cảnh sát ra hiệu về phía sa mạc trải dài phía bên kia xa lộ hỏi Olivárez có phải y đã giết cô ta ở ngoài kia hoặc trong nhà y không. Ngoài kia, Olivárez nói. Lũ trẻ đang ở cùng vợ một người bạn của Olivárez, được người phụ nữ này trông nom vào các Chủ nhật trong khi y chơi bóng. Mày làm một mình hay thằng anh họ giúp? Anh ấy có giúp, Olivárez nói, nhưng không nhiều lắm.

♣ ♣ ♣

Mỗi cuộc đời, đêm đó Epifanio nói với Lalo Cura, dù hạnh phúc đến đâu, rồi cũng kết thúc trong đau đớn thống khổ. Còn tùy, Lalo Cura nói. Tùy cái gì, nhóc? Nhiều thứ, Lalo Cura nói. Giả dụ như anh bị bắn vào gáy, và anh không nghe thấy tiếng thằng giết người tiến lại gần, thế thì anh sẽ sang thế giới bên kia mà không đau đớn không thống khổ. Thằng oắt này mày giỏi đó, Epifanio nói. Thế mày đã bao giờ bị bắn sau gáy chưa?

♣ ♣ ♣

Tên người phụ nữ chết là Erica Mendoza. Cô là mẹ của hai đứa con nhỏ. Cô hăm mốt tuổi. Chồng cô, Arturo Olivárez, là người cả ghen, đánh đập cô luôn. Cái đêm Olivárez quyết định giết cô, y say khướt và đang ở cùng ông anh họ. Họ vừa xem bóng đá trên tivi vừa bàn luận về bóng đá và phụ nữ. Erica Mendoza không xem tivi vì đang bận nấu ăn. Hai đứa nhóc đang ngủ. Đột nhiên Olivárez đứng dậy, lấy một con dao nhỏ rồi bảo anh họ đi theo y. Cả hai đưa Erica đến phía bên kia xa lộ Pueblo Azul. Theo Olivárez thì ban đầu Erica không chống cự. Sau đó họ tiến vào trong sa mạc và hiếp cô. Đầu tiên Olivárez hiếp cô. Sau đó y bảo ông anh họ làm theo nhưng thoạt đầu gã anh họ từ chối. Tuy nhiên, Olivárez tỏ rõ thái độ nếu gã mà chống đối thì có thể nguy đến tính mạng. Sau khi cả hai đã hiếp Erica, Olivárez bắt đầu đâm cô nhiều nhát. Kế đó, bằng tay không, cả hai đào một cái lỗ dù xét kiểu gì cũng là quá nhỏ, rồi cho xác nạn nhân vào đấy. Trên đường quay về nhà, Segovia cứ sợ Olivárez sẽ xử gã hoặc hai đứa trẻ, nhưng Olivárez trông như đã trút được một gánh nặng và có vẻ nhẹ nhõm, ít nhất là nhẹ nhõm trong chừng mực hoàn cảnh cho phép. Họ lại ngồi xem tivi rồi sau đó ăn tối và ba tiếng sau Segovia bỏ về nhà. Do đã quá khuya nên con đường về nhà vừa dài vừa chậm Gã cuốc bộ bốn mươi lăm phút đến quận Madero, đợi xe buýt tuyến đại lộ Madero-đại lộ Carranza mất nửa giờ. Gã xuống xe ở quận Carranza rồi đi bộ về phía Bắc, băng qua quận Veracruz và quận Ciudad Nueva, cho đến khi tới đại lộ Cementerio, từ đấy thì chỉ cần đi thẳng một lèo đến nơi gã sống ở quận San Bartolomé. Tổng cộng hơn bốn tiếng đồng hồ. Đến khi gã về tới nhà thì mặt trời đã rạng, nhưng hôm đấy Chủ nhật nên phố không đông. Kết thúc có hậu của vụ Erica Mendoza giúp cảnh sát Santa Teresa giành được một chút xíu tín nhiệm đối với giới truyền thông.

♣ ♣ ♣

Tức là giới truyền thông của bang Sonora, bởi vì ở thủ đô, một nhóm nữ quyền gọi là Phụ nữ Hành động (MA) đã lên tivi tố cáo tình trạng những cái chết không ngừng xảy ra nhỏ giọt ở Santa Teresa và yêu cầu chính phủ cử điều tra viên của thủ đô về Santa Teresa xử lý tình hình, bởi vì cảnh sát Sonora nếu không phải là đồng lõa thì cũng là không có khả năng xử lý vấn nạn này, một vấn nạn mà xét theo mọi lẽ là vượt quá sức họ. Cũng trong chương trình này người ta đã đặt câu hỏi về kẻ giết người hàng loạt. Liệu có phải một tên giết người hàng loạt đã đứng sau các vụ giết người này? Hay hai tên giết người hàng loạt? Hay ba tên? Người dẫn chương trình nhắc đến Haas, kẻ đang ngồi tù và chưa rõ ngày ra tòa. Hội Phụ nữ Hành động nói Haas có lẽ chỉ là một thứ bung xung và họ thách người dẫn chương trình kể ra dù chỉ một bằng chứng đủ để buộc tội hắn. Họ cũng nói về MSDP, các nhà nữ quyền Sonora, những chiến hữu đang đoàn kết ngoan cường đấu tranh vì chính nghĩa trong hoàn cảnh cam go nhất, và họ chê bôi nhà ngoại cảm đã xuất hiện cùng MSDP trên một chương trình truyền hình địa phương chẳng qua là một bà mù vô danh tiểu tốt rõ ràng muốn lợi dụng những tội ác này để trục lợi.

♣ ♣ ♣

Đôi khi Elvira Campos ngờ rằng cả nước Mexico này đã hóa điên. Khi thấy nhóm MA trên tivi, bà nhận ra một trong số ấy là bạn thời đại học. Bà kia đã thay đổi, già đi nhiều, bà sửng sốt nghĩ, nhăn nheo hơn, má hóp hơn, nhưng vẫn là người ấy. Tiến sĩ González León. Bà ấy có còn hành nghề y không? Tại sao lại khinh miệt nhà tiên tri ở Hermosillo đến thế? Giám đốc trung tâm tâm thần Santa Teresa những muốn hỏi Juan de Dios Martínez để biết thêm về các vụ giết người, nhưng bà biết làm vậy sẽ chỉ khiến cho mối quan hệ càng thêm khắng khít hơn, dẫn họ, cùng nhau, vào một căn phòng khóa kín chỉ mình bà giữ chìa khóa. Đôi khi Elvira Campos nghĩ tốt nhất là rời bỏ Mexico. Hoặc tự sát trước khi tròn năm mươi lăm tuổi. Hay có lẽ là năm mươi sáu?

♣ ♣ ♣

Vào tháng Bảy, người ta phát hiện xác một cô gái nằm cách lề xa lộ Cananea chừng năm trăm mét. Nạn nhân trần truồng và theo Juan de Dios Martínez, người đảm trách vụ này cho đến khi bị thay bằng thanh tra Lino Rivera, hành vi giết người xảy ra ngay ở đó, bởi vì tay nạn nhân nắm chặt một loại cỏ tên là zacate, loài cây duy nhất mọc ở khu vực này. Theo bác sĩ pháp y, nguyên nhân tử vong là chấn thương sọ não hoặc một trong ba vết dao đâm vào ngực, nhưng ông không thể trả lời dứt khoát do tình trạng xác bị phân hủy buộc ông phải tiến hành thêm những nghiên cứu bệnh học trước đã. Các nghiên cứu này được thực hiện bởi ba sinh viên khoa pháp y Đại học Santa Teresa, kết luận của họ được lưu vào hồ sơ rồi sau đó bị thất lạc. Nạn nhân tầm mười lăm mười sáu tuổi. Cô chẳng bao giờ được xác định nhân thân.

♣ ♣ ♣

Không lâu sau, gần biên giới, ở gần nơi Lucy Anne Sander được phát hiện, thanh tra Francisco Álvarez và thanh tra Juan Carlos Reyes, thuộc đội chống ma túy, tình cờ bắt gặp xác một cô gái chừng mười bảy tuổi. Khi được thanh tra Ortiz Rebolledo thẩm vấn, hai đặc vụ này cho biết đã nhận được cuộc gọi từ bên phía Hoa Kỳ, từ những người bạn nào đấy trong lực lượng tuần biên, thông báo gần biên giới có gì đó là lạ. Álvarez và Reyes tưởng là một gói cocain, có lẽ bị một nhóm buôn lậu đánh rơi, nên họ liền đến chỗ mấy người Mỹ đã chỉ. Theo bác sĩ pháp y, xương móng của nạn nhân bị gãy, tức là nạn nhân bị siết cổ chết. Trước đó cô đã bị hãm hiếp qua đường âm hộ và hậu môn. Người ta kiểm tra các báo cáo về người mất tích thì hóa ra người chết tên là Guadalupe Elena Blanco. Cô đến Santa Teresa cách đó chưa đầy một tuần, cùng với cha, mẹ và ba em trai, đều là dân Pachuca. Vào hôm mất tích cô có cuộc hẹn phỏng vấn xin việc ở một nhà máy tại khu công nghiệp El Progreso và một đi không trở lại. Theo nhân viên nhà máy, cô không đến dự phỏng vấn. Cũng ngày hôm đó cha mẹ cô trình báo về việc cô mất tích. Guadalupe người mảnh dẻ, cao mét sáu ba, tóc đen dài. Hôm đến nhà máy dự phỏng vấn cô mặc quần jean và áo cánh màu xanh lục sẫm mới mua.

♣ ♣ ♣

Ít lâu sau, tại một con hẻm phía sau một rạp chiếu phim, người ta bắt gặp xác chết bị dao đâm của Linda Vázquez, mười sáu tuổi. Theo cha mẹ Linda, cô đi xem phim với cô bạn cùng lớp, María Clara Soto Wolf, mười bảy tuổi. Khi được thanh tra Juan de Dios Martínez và thanh tra Efraín Bustelo thẩm vấn tại nhà, María Clara khai cô và cô bạn đi xem một bộ phim có Tom Cruise đóng. Hết phim, María Clara đề nghị lái xe đưa Linda về nhà, nhưng Linda nói cô có hẹn với bạn trai, thế nên María Clara đi lấy xe còn Linda đứng ở cửa rạp, vừa đợi vừa xem áp phích quảng cáo mấy phim sắp chiếu. Khi María Clara quành qua rạp chiếu phim, lần này ngồi trên xe, Linda vẫn còn đấy. Lúc ấy vẫn chưa khuya lắm. Tìm bạn trai của Linda chẳng khó khăn gì, cậu ta là Enrique Sarabia mười sáu tuổi, chối rằng chẳng có hẹn gì với Linda hết. Không chỉ cha mẹ cậu mà cả người giúp việc và hai người bạn cũng sẵn sàng làm chứng là hôm đó Enrique không ra khỏi nhà, mà chỉ ở nhà chơi game rồi tắm trong bể bơi. Tối đó, hai cặp vợ chồng, bạn của cha cậu, ghé qua chơi và họ cũng có thể xác nhận bằng chứng ngoại phạm của cậu. Quanh rạp chiếu phim, không ai thấy gì nghe gì, mặc dù qua các vết thương trên cơ thể Linda thì có thể dễ dàng rút ra kết luận cô đã chống cự lại. Juan de Dios Martínez và Efraín Bustelo quyết định tra hỏi gắt gao người bán vé ở rạp chiếu phim. Người này nói có thấy một cô gái đợi ở cửa rạp và ít lâu sau một cậu trai đến đón, cậu này không có vẻ là cùng tầng lớp với cô. Chị ta có cảm giác hai người không chỉ là bạn bè. Chị ta không thể giải thích gì thêm vì khi nào không bận bán vé thì chị ta lại đọc sách trong quầy vé. Các thanh tra gặp may hơn khi đến một hiệu ảnh. Chủ hiệu đang sập cửa chớp xuống thì nhìn thấy Linda đi cùng cậu trai kia. Chẳng hiểu sao ông cứ tưởng sắp bị tấn công nên vội vàng khóa cửa ra về. Ông mô tả cậu trai khá chi tiết: cao mét bảy tư, mặc áo khoác denim sau lưng có phù hiệu, quần jean đen, bốt cao bồi. Các thanh tra hỏi phù hiệu ấy trông như thế nào. Chủ hiệu ảnh bảo không nhớ rõ lắm, nhưng ông thấy nó giống đầu lâu. Juan de Dios Martínez đem cho ông xem một cuốn sách được tập hợp bởi đội đặc nhiệm chống băng đảng thanh thiếu niên (là hai cảnh sát viên mà hiện thời đã được chuyển sang đội chống ma túy) rồi chỉ cho ông thấy hơn hai chục phù hiệu. Ông này không chần chừ chỉ ngay ra cái phù hiệu trên lưng áo cậu trai kia. Ngay đêm đó cảnh sát mở chiến dịch vây ráp hai tá thành viên băng Ông Kễnh. Cả chị bán vé lẫn ông chủ hiệu ảnh đều có thể chỉ ra Jesus Chimal giữa dãy nghi phạm. Chimal mười tám tuổi, làm bữa đực bữa cái cho một hiệu sửa xe máy ở quận Rubén Darío, có tiền án một số tội vặt. Cuộc thẩm vấn Chimal được đích thân cảnh sát trưởng tiến hành, cùng với Epifanio Galindo và thanh tra Ortiz Rebolledo. Trong vòng một giờ, Chimal thú nhận đã giết Linda Vázquez. Theo lời Chimal, hắn đã hẹn hò nạn nhân được ba tuần, từ khi họ gặp nhau tại một đêm nhạc rock ở ngoại ô El Adobe. Chimal chưa từng mê đắm ai như mê đắm Linda. Họ giấu cha mẹ Linda lén lút gặp nhau. Hai lần Chimal đến nhà cô trong lúc cha mẹ cô đi California. Theo Chimal, cha mẹ Linda đến Disneyland chơi ít nhất mỗi năm một lần. Ở đó, trong căn nhà vắng, họ làm tình lần đầu tiên. Buổi tối xảy ra án mạng Chimal mời Linda dự một đêm nhạc khác, lần này ở El Arenas, một hộp đêm còn tổ chức cả những trận quyền Anh. Linda bảo cô không đi được. Họ đi dạo một hồi: vòng quanh khu phố rồi rẽ vào một con hẻm. Bạn của Chimal, bốn nam một nữ, đã chờ sẵn ở đó, trong chiếc Peregrino đen vừa thó được. Linda quen một người nữ và hai trong bốn người nam. Họ nói về đêm nhạc. Họ hút cỏ. Linda cũng hút. Họ kể về một căn nhà hoang gần một hợp tác xã nông nghiệp, giờ chẳng có công nhân nào cư ngụ. Một đứa con trai rủ cả đám đến đấy. Linda từ chối. Ai đó than phiền gì đó về Linda. Ai đó buộc tội Linda về việc gì đấy. Linda muốn bỏ đi nhưng Chimal không cho. Hắn bắt cô vào trong xe để làm tình. Linda không chịu. Thế là Chimal và mấy đứa kia bắt đầu đánh cô. Sau đó, để cô không mách cha mẹ, chúng đâm cô. Ngay đêm đó, nhờ thông tin do Chimal cung cấp, người ta bắt được luôn mấy đứa kia, trừ một đứa, theo cha mẹ thằng này, đã trốn khỏi Santa Teresa vài tiếng đồng hồ sau khi gây án. Những kẻ bị bắt đều nhận tội.

♣ ♣ ♣

Cuối tháng Bảy, mấy đứa trẻ con phát hiện ra cái xác không nguyên vẹn của Marisol Camarena, hăm tám tuổi, chủ hộp đêm Los Héroes del Norte. Xác cô bị nhúng vào một thùng chứa hai trăm lít a xít. Chỉ hai bàn tay và hai bàn chân cô là còn nguyên. Sở dĩ người ta xác định được nhân thân của cô là nhờ các túi Silicon đã được cấy vào người cô. Hai hôm trước đó cô bị mười bảy gã đàn ông bắt cóc khỏi căn hộ ở tầng phía trên hộp đêm. Người giúp việc của cô, Carolina Arancibia, mười tám tuổi, thoát khỏi số phận có lẽ cũng sẽ tương tự nhờ trốn trên gác xép cùng với con gái người xấu số, một bé gái hai tháng tuổi. Từ gác xép, cô nghe thấy tiếng đàn ông nói, tiếng cười, tiếng hét, tiếng chửi, tiếng vài chiếc xe hơi nổ máy. Vụ này được thanh tra Lino Rivera thụ lý, anh này thẩm vấn vài khách quen của hộp đêm, nhưng mười bảy kẻ bắt cóc và giết người không bao giờ bị tìm ra.

♣ ♣ ♣

Từ mồng một đến mười lăm tháng Tám có một đợt nắng nóng, và thêm hai nạn nhân nữa được phát hiện. Đầu tiên là Marina Rebolledo, mười ba tuổi. Xác con bé được phát hiện phía sau trường Trung học 30, quận Félix Gómez, cách tòa nhà sở cảnh sát bang vài mét. Con bé da sẫm, tóc dài, mảnh dẻ, cao một mét năm bảy. Con bé vẫn mặc bộ quần áo đã mặc khi mất tích: quần soóc vàng, áo cánh trắng, tất trắng, giày đen. Con bé rời nhà, số 38 phố Mistula, quận Veracruz, lúc sáu giờ sáng để đi bộ cùng chị gái đến làm việc tại một nhà máy ở khu công nghiệp Arsenio Farrell và không trở về. Ngay hôm đó gia đình con bé trình báo có người mất tích. Hai cậu bạn con trai của Marina - một mười lăm một mười sáu tuổi - bị bắt; nhưng sau một tuần ngồi khám cả hai đều được thả. Ngày 15 tháng Tám, xác của Angélica Nevares, hăm ba tuổi, thường gọi là Jessica, được phát hiện gần một mương nước thải phía Tây khu công nghiệp General Sepúlveda. Angélica Nevares sống ở quận Plata và làm vũ nữ ở hộp đêm Mi Casita. Cô cũng từng làm vũ nữ ở hộp đêm Los Héroes del Norte mà chủ nhân, Marisol Camarena, đã được tìm thấy trong một thùng a xít trước đấy không lâu. Angélica Nevares vốn quê ở Culiacán, bang Sinaloa và đã sống ở Santa Teresa được năm năm. Ngày 16 tháng Tám, cái nóng ngơi đi và một làn gió mát mẻ hơn thổi từ núi xuống.

♣ ♣ ♣

Ngày 17 tháng Tám, Perla Beatriz Ochoterena, một cô giáo hăm tám tuổi, được phát hiện treo cổ trong phòng. Cô là dân thị trấn Morelos gần biên giới Sonora-Chihuahua. Cô dạy ở trường Trung học 20 và, theo lời bạn bè cũng như người thân, là người vui vẻ dễ gần. Cô sống ở một căn hộ trên phố Jaguar cách đại lộ Carranza hai khối nhà, cùng hai giáo viên khác. Trong phòng cô có nhiều sách, nhiều nhất là thơ và tiểu luận, được cô đặt mua từ các nhà sách ở thủ đô hoặc Hermosillo theo hình thức trả tiền khi nhận hàng. Theo những người ở chung nhà, cô nhạy cảm và thông minh, đi lên từ con số không (thị trấn Morelos, bang Sonora, đẹp nhưng nhỏ xíu, hầu như chẳng có gì ngoài phong cảnh hữu tình) và được như ngày hôm nay chỉ nhờ sự cần cù và kiên trì. Họ còn nói cô thích viết lách và một tạp chí văn chương ở Hermosillo đã đăng vài bài thơ của cô dưới bút danh cô dùng. Vụ này được Juan de Dios Martínez đảm trách và ngay từ đầu anh đã chẳng nghi ngờ gì đây là một vụ tự sát. Người ta tìm thấy trên bàn viết của cô giáo Ochoterena một lá thư không đề người nhận, trong thư cô cố gắng giải thích rằng cô không chịu đựng nổi những gì đang xảy ra ở Santa Teresa nữa. Trong thư cô viết: tất cả những phụ nữ bị chết kia. Đó là một bức thư chân thành, Juan de Dios Martínez nghĩ, và cũng hơi sướt mướt. Thư viết: tôi không chịu nổi nữa. Viết: tôi cố sống, như tất cả mọi người, nhưng bằng cách nào đây? Thanh tra Juan tìm giữa các giấy tờ của cô giáo xem có bài thơ nào của cô không, nhưng không thấy gì. Anh ghi lại tên vài cuốn sách cô có. Anh hỏi hai bạn cùng phòng liệu cô giáo có bạn trai không. Bạn cô nói chẳng bao giờ thấy cô đi với đàn ông. Cô giáo Ochoterena trầm lặng đến nỗi đôi khi làm bạn cô phát bực. Dường như tất cả những gì cô quan tâm là bài giảng, học trò, sách vở. Cô không có nhiều quần áo. Cô ngăn nắp chửi chu, hay lam hay làm và chẳng bao giờ ta thán gì. Juan de Dios liền hỏi họ nói chẳng bao giờ ta thán là có ý gì. Hai cô bạn gái đưa ra một ví dụ: đôi khi họ quên làm phần việc nhà của mình, tỉ như rửa bát hay quét tước, đại loại thế, vậy là cô Ochoterena làm luôn các việc ấy mà chẳng cằn nhằn một câu. Thật ra cô không bao giờ cằn nhằn ai về bất cứ điều gì, đời cô dường như hoàn toàn vắng bóng sự trách móc và buộc tội.

♣ ♣ ♣

« Lùi
Tiến »