Ngày 20 tháng Tám trên một cánh đồng gần nghĩa địa phía Tây người ta thấy xác một nạn nhân mới. Cô tầm mười sáu đến mười tám tuổi và không mang giấy tờ tùy thân nào. Người chết không mặc gì ngoài áo cánh trắng, được quấn trong một tấm chăn cũ màu vàng in hình những con voi màu đen và đỏ. Sau khi giám định pháp y, người ta xác định nguyên nhân tử vong là hai nhát đâm vào cổ và một nhát thứ ba sát tâm nhĩ phải. Trong thông báo đầu tiên, cảnh sát nói cô không bị hãm hiếp. Bốn ngày sau, họ đính chính, nói cô đã bị hãm hiếp. Bác sĩ tiến hành giám định pháp y tuyên bố với báo giới rằng họ, nhóm các chuyên gia về bệnh học thuộc sở cảnh sát và thuộc Đại học Santa Teresa, chưa từng mảy may nghi ngờ chuyện cô bị hãm hiếp, và họ đã nói rõ điều này ngay trong bản báo cáo chính thức đầu tiên (và duy nhất). Người phát ngôn của cảnh sát nói sự hiểu lầm xuất phát từ một sai sót trong việc diễn giải bản báo cáo nói trên. Vụ này được thanh tra José Márquez đảm trách và chẳng bao lâu sau bị xếp xó. Nạn nhân được chôn trong khu mộ công cộng vào tuần thứ hai của tháng Chín.
♣ ♣ ♣
Tại sao Perla Beatriz Ochoterena tự sát? Theo Elvira Campos, chắc cô bị trầm uất. Có lẽ cô sắp suy nhược thần kinh. Rõ ràng cô là người cô đơn và quá nhạy cảm. Juan de Dios Martínez đọc cho bà nghe tên vài cuốn sách của cô giáo anh đã ghi hú họa vào sổ. Anh đọc cuốn nào trong số này chưa? bà giám đốc hỏi. Juan de Dios thú nhận là chưa. Sách hay cả đấy, bà giám đốc nói, vài cuốn còn khó tìm nữa, ít nhất là ở Santa Teresa. Cô ấy đặt họ gửi từ thủ đô tới, Juan de Dios nói.
♣ ♣ ♣
Người phụ nữ chết thứ hai là Adela García Ceballos, hai mươi tuổi, công nhân nhà máy Dun-Corp., bị đâm chết trong nhà mẹ đẻ. Kẻ giết người là Rubén Bustos, hai mươi lăm tuổi, sống cùng Adela ở số 56 phố Taxquena quận Mancera và hai người có với nhau một đứa con một tuổi. Đã một tuần nay cặp này cãi cọ nên Adela chuyển về ở với cha mẹ. Theo Bustos, cô định bỏ y để theo người khác. Bắt Bustos tương đối dễ. Y cố thủ trong nhà ở quận Mancera, nhưng chỉ có một con dao con để tự vệ. Thanh tra Ortiz Rebolledo vừa bắn vừa xông vào nhà và Bustos trốn dưới gầm giường. Cảnh sát vây quanh giường, Bustos không chịu ra, nên họ dọa sẽ nhồi cho y đầy kẹo đồng. Lalo Cura có mặt trong nhóm này. Thỉnh thoảng Bustos lại vung tay ra từ dưới giường, cầm chính con dao y đã dùng để giết Adela, cố rạch vào mắt cá chân các cảnh sát. Đám cảnh sát cười ha hả nhảy lùi lại. Một người bước lên trên giường và Bustos cố đâm vào lòng bàn chân anh ta xuyên qua tấm nệm. Một cảnh sát khác, tên là Cordero, nổi tiếng ở phân khu cảnh sát số 3 do kích thước cái củ của anh ta, bèn hướng thẳng xuống gầm giường mà tiểu. Bustos thấy nước tiểu chảy trên sàn lan đến chỗ y thì bắt đầu khóc thút thít. Cuối cùng Ortiz Rebolledo cười mãi cũng chán bèn bảo nếu y không chui ra họ sẽ giết y ngay tại chỗ. Cảnh sát nhìn y chui ra, nhàu nhĩ tả tơi, rồi lôi y vào bếp. Ở đấy họ đổ đầy một nồi nước ụp lên đầu y. Ortiz Rebolledo túm cổ Cordero cảnh cáo rằng chỉ cần xe ông vương tí ti mùi nước tiểu là anh ta sẽ phải trả giá đắt. Cordero, tuy suýt tắc thở, liền phá lên cười hứa không có chuyện đó đâu. Nhưng lỡ thằng này tè ra thì sao hở sếp, anh ta hỏi. Tao có thể phân biệt mùi các loại nước tiểu, Ortiz Rebolledo nói. Nước tiểu của thằng chó này sẽ sặc mùi sợ hãi còn của mày khai rình mùi tequila. Khi Cordero vào bếp, Bustos đang khóc. Giữa những tiếng nức nở, y nói gì đó về thằng con y. Y nói về cha mẹ, mặc dù không hiểu y đang nói về cha mẹ y hay cha mẹ Adela vốn là nhân chứng cho vụ án mạng. Cordero đổ đầy một nồi nước rồi xối thẳng lên người y. Sau đó anh ta lại đổ đầy nồi rồi lại trút lên người y. Ống quần của hai cảnh sát đang canh giữ Bustos ướt hết, đôi giày đen của họ cũng vậy.
♣ ♣ ♣
Cái gì khiến cho cô giáo đó không chịu nổi nữa? Elvira Campos hỏi. Cuộc sống ở Santa Teresa? Những cái chết ở Santa Teresa? Những cô bé chết mà chẳng ai làm gì để chặn điều đó lại? Liệu chừng ấy có đủ khiến một phụ nữ trẻ tự sát không? Liệu một sinh viên đại học có tự giết mình vì lý do đó không? Liệu một cô gái nông thôn đã phải nỗ lực làm việc để trở thành cô giáo có tự giết mình vì lý do đó không? Là một trên một ngàn? Một trên một triệu? Hay một trên một trăm triệu dân Mexico?
♣ ♣ ♣
Vào tháng Chín hầu như không có vụ giết phụ nữ nào. Có những trận ẩu đả. Có những cuộc mua bán và bắt bớ liên quan đến ma túy. Có tiệc tùng và những đêm dài nóng bức. Có những xe tải chở đầy cocain băng qua sa mạc. Có những máy bay Cessna bay là là trên sa mạc như linh hồn những người Anh điêng theo đạo Kitô sẵn sàng cắt họng thiên hạ. Có những cuộc chuyện trò thầm thì và tiếng cười và narcocorrido làm nhạc nền. Tuy nhiên, vào ngày cuối tháng Chín, người ta thấy hai xác phụ nữ gần Pueblo Azul. Nơi hai người này được phát hiện là một địa điểm thường được đám lái xe mô tô ở Santa Teresa dùng làm bãi đua. Hai phụ nữ này mặc quần áo ở nhà, một người thậm chí đi dép lê mặc áo choàng tắm. Người ta không tìm thấy giấy tờ nào trên hai cái xác này giúp xác định nhân thân của họ. Vụ này được thanh tra José Márquez cùng thanh tra Carlos Marín đảm trách, và dựa trên nhãn hiệu quần áo của các xác chết, hai người này đoán họ là người Mỹ. Sau khi cảnh sát Arizona nhận được thông báo thì người ta biết ra hai người chết là chị em nhà Reynolds, sống ở Rillito, ngoại ô Tucson, Lola Reynolds và Janet Reynolds, một người ba mươi và một người bốn mươi tư tuổi, cả hai đều có tiền án buôn ma túy. Márquez và Marín ức đoán phần còn lại: hai chị em hẳn là đã nợ tiền hàng, không nhiều, bởi họ chẳng bao giờ buôn số lượng lớn, và không chịu trả nợ. Có thể họ gặp khó khăn trong thanh toán, có thể họ đã trở nên cứng cựa hơn (theo cảnh sát Tucson, Lola là một phụ nữ đáng gờm), có thể những kẻ cung cấp hàng đã tới tìm họ, đến nhà họ giữa đêm đúng lúc họ đang chuẩn bị đi ngủ, bèn đưa họ qua biên giới và khi đến Sonora thì giết họ, mà cũng có thể chúng đã giết họ ở Arizona, mỗi người hai phát súng vào đầu, trong lúc cả hai vẫn đang ngái ngủ, rồi băng qua biên giới vứt họ gần Pueblo Azul.
♣ ♣ ♣
Vào tháng Mười, người ta phát hiện một xác phụ nữ khác trong sa mạc, phía Nam Santa Teresa, giữa hai đường nhánh. Xác đang trong quá trình phân hủy và bác sĩ pháp y nói phải mất nhiều ngày mới xác định được nguyên nhân tử vong. Nạn nhân sơn móng tay đỏ, làm cho các cảnh sát đầu tiên có mặt tại hiện trường nghĩ cô là điếm. Qua y phục - quần jean, áo cánh trễ cổ - họ suy ra cô còn trẻ. Mặc dù chẳng hiếm bà sáu mươi cũng ăn mặc thế. Khi cuối cùng báo cáo giám định pháp y cũng đến (nguyên nhân tử vong có lẽ là do dao đâm) thì ai cũng đã quên vụ này, kể cả báo đài, và xác được vứt vào nghĩa địa công cộng, chẳng gây thêm ồn ào gì.
♣ ♣ ♣
Cũng trong tháng Mười, Jesus Chimal băng Ông Kễnh, kẻ gây ra cái chết của,Linda Vázquez, được đưa vào nhà tù Santa Teresa. Mặc dù ngày nào cũng có người mới được đưa đến, song sự xuất hiện của kẻ giết người trẻ tuổi đã khơi dậy mối quan tâm đặc biệt trong giới tù nhân, tuồng như họ đang được một ca sĩ lừng danh hay con trai một chủ nhà băng đến thăm, giúp họ lên tinh thần ít nhất là trong dịp cuối tuần. Klaus Haas có thể cảm thấy bầu không khí náo nức trong các khu xà lim, và tự hỏi không biết nó có giống hồi gã đến đây không. Không, lần này sự chờ đợi mang sắc thái khác. Có gì đó đáng sợ nhưng cũng kích thích. Đám tù nhân không bàn trực tiếp chuyện ấy, nhưng bằng cách này hay cách khác đều bóng gió nhắc đến mỗi khi tán chuyện về bóng đá hay bóng chày. Khi tán chuyện về gia đình, về các quán bar và các ả điếm chỉ hiện hữu trong tưởng tượng của họ. Ngay cả hành vi của một vài tù nhân đầu gấu nhất cũng tốt hẳn lên. Làm như họ muốn mình xứng đáng. Nhưng mà xứng đáng trong mắt ai? Haas tự hỏi. Họ chờ Chimal đến. Họ biết nó đang đến. Họ biết nó sẽ ở xà lim nào và họ biết nó đã giết con gái một tay giàu sụ. Theo El Tequila, chỉ mỗi đám tù cựu anh chị của băng Ông Kễnh là đứng ngoài tấn trò này. Hôm Chimal đến, cũng chỉ có đám này lại chào nó. Trong khi đó, Chimal không tới một mình. Đi cùng nó là ba đứa còn lại trong đám, bị bắt vì tội giết Linda Vázquez và chúng chẳng bao giờ rời nhau, kể cả khi cần giải quyết bầu tâm sự. Một đứa băng Ông Kễnh vào tù từ một năm trước tuồn cho Chimal một con dao thép tự chế. Một đứa khác chuồi dưới gầm bàn cho nó ba viên amphetamin. Hai ngày đầu tiên Chimal xử sự như thằng điên. Nó không ngừng quay đầu lại xem có gì đang diễn ra sau lưng. Ngủ nó cũng vẫn nắm chặt con dao tự chế. Đi đâu nó cũng đem mấy viên amphetamin theo, như một cái bùa tí xíu bảo vệ nó trước tai ương. Ba thằng đồng bọn chẳng bao giờ xa nó. Khi đi bộ trong sân, chúng đi thành hai cặp. Chúng di chuyển như những lính biệt kích bị lạc trên một hòn đảo đầy chất độc ở một hành tinh khác. Thỉnh thoảng Haas đứng từ xa nhìn chúng mà nghĩ: tội nghiệp tụi nhóc, tội nghiệp bọn nhãi con lạc trong một giấc mơ. Ở tù đến ngày thứ tám thì bốn đứa bị ép vào một phòng giặt. Đột nhiên, quản giáo biến sạch. Bốn tù nhân đứng canh cửa. Khi Haas đến thì chúng cho gã vào làm như gã là đồng bọn, là người cùng một nhà, một điều khiến Haas thầm cảm kích, mặc dù gã chẳng bao giờ thôi khinh miệt chúng. Chimal và ba đồng bọn đang bị đè xuống giữa phòng giặt. Miệng bốn đứa bị dán kín băng keo. Hai thằng Ông Kễnh đã bị lột truồng. Một thằng đang run. Từ hàng thứ năm, tựa vào một cây cột, Haas nhìn mắt Chimal. Rõ là nó muốn nói gì đấy. Tụi kia mà gỡ băng dính ra thì thằng này chắc sẽ diễn thuyết một tràng với chính những thằng đang bắt giữ nó, gã nghĩ. Từ một cửa sổ, vài cai ngục quan sát cảnh tượng đang diễn ra trong phòng giặt. Ánh sáng chiếu vào qua cửa sổ có màu vàng và trở nên tù mù khi so với ánh sáng tỏa ra từ các bóng đèn huỳnh quang trong phòng giặt. Haas để ý thấy các cai ngục đã bỏ mũ ra. Một người cầm máy ảnh. Một thằng tù tên Ayala lại gần hai thằng Ông Kễnh trần truồng, rạch bìu dái chúng ra. Bọn tù nhân đang đè chặt mấy thằng Ông Kễnh đờ người ra. Điện, Haas nghĩ, sinh lực thuần khiết. Ayala dường như đang moi cho đến khi hai hòn dái mấy thằng kia rớt xuống, bọc kín trong mỡ, máu và thứ gì đó lóng lánh mà hắn không biết (và cũng không muốn biết) là gì. Thằng này là ai? Haas hỏi. Ayala, El Tequila thì thào, lá gan thép vùng biên giới. Gan thép? Haas băn khoăn. Sau đó El Tequila giải thích cho gã rằng trong số nhiều cái chết có thể quy cho Ayala, có cái chết của tám kẻ vượt biên được hắn chở sang Arizona trên một chiếc xe tải nhỏ. Sau ba ngày vắng mặt, Ayala quay lại Santa Teresa, nhưng chẳng ai nghe nhắc gì về chiếc xe tải và tám người di cư cho đến khi dân Mẽo phát hiện ra cái xác xe, máu vương khắp nơi, tuồng như Ayala, trước khi quay về, đã chặt nhỏ các xác chết ra. Đã xảy ra chuyện ghê gớm nào đó, cảnh sát tuần biên nói, nhưng vì không có cái xác nào nên vụ này nhanh chóng bị lãng quên. Ayala đã làm gì mấy cái xác? Theo El Tequila thì hắn đã ăn sạch, cái thằng đó khùng và ác đến cỡ đó đấy, tuy nhiên Haas thấy khó mà tin được, làm gì có ai có khả năng ăn tươi nuốt sống tám người nhập cư bất hợp pháp cho dù hắn có khùng và đói đến cỡ nào chăng nữa. Một trong hai thằng Ông Kễnh vừa bị thiến ngất đi. Thằng kia nhắm mắt và mạch máu trên cổ tuồng như sắp nổ tung. Giờ thì cạnh Ayala là Farfán, và hai thằng cùng đóng vai chủ lễ. Dẹp cha cái này đi, Farfán nói. Gómez hốt mấy hòn dái lên khỏi sàn và bình luận chúng trông như trứng rùa. Vừa xinh vừa mềm, hắn nói. Vài khán giả rì rầm tán thành và không ai cười. Sau đó Ayala và Farfán, mỗi thằng cầm một cán chổi dài chừng bảy chục phân, tiến về phía Chimal và thằng Ông Kễnh kia.
♣ ♣ ♣
Đầu tháng Mười một, María Sandra Rosales Zepeda, băm mốt tuổi, gái điếm hành nghề trên vỉa hè bên ngoài quán bar Pancho Villa, bị giết. María Sandra sinh tại một thị trấn bang Nayarit, lên Santa Teresa năm mười tám, làm việc ở nhà máy Horizon W&E và El Mueble Mexicano. Năm hăm hai tuổi cô thành gái đứng đường. Vào đêm cô bị giết có ít nhất năm cô nữa ở trên phố. Theo các nhân chứng, một chiếc Suburban đỗ lại gần các cô gái. Trong xe có ít nhất ba gã đàn ông. Loa trong xe phát nhạc to hết cỡ. Mấy gã đàn ông gọi một người trong đám phụ nữ ra nói chuyện một hồi. Rồi người phụ nữ rời khỏi chiếc Suburban và đám đàn ông gọi María Sandra. Cô dựa vào cửa sổ chiếc Suburban đang mở, như thể sẵn sàng trao đổi lâu về mức thù lao cô muốn. Nhưng cuộc nói chuyện chỉ kéo dài không quá một phút. Một gã đàn ông rút súng bắn cô ở cự ly gần. María Sandra ngã ngửa ra sau và trong mấy giây các cô điếm đang chờ trên vỉa hè chẳng hiểu có chuyện gì. Sau đó họ thấy một cánh tay thò ra ngoài cửa sổ xe bắn thêm phát nữa vào María Sandra lúc bấy giờ đã nằm trên đất. Sau đó chiếc Suburban chuyển bánh biến mất về phía trung tâm thành phố. Vụ này được thanh tra Ángel Fernández đảm trách, sau đó có thêm Epifanio Galindo tình nguyện tham gia. Chẳng ai nhớ biển số chiếc Suburban. Cô điếm đã nói chuyện với đám lạ mặt nói họ hỏi cô về María Sandra. Họ nói về cô tuồng như đã nghe tiếng cô, như đã có người nhắc đến cô bằng những lời lẽ tốt đẹp nhất. Bọn họ có ba người và muốn làm ăn gì đó với cô. Mặt mũi họ thế nào thì cô này không nhớ rõ lắm. Họ là người Mexico, cách phát âm giống dân Sonora và nom có vẻ buông tuồng, sẵn sàng chơi bời thâu đêm suốt sáng. Theo một tay chỉ điểm của Epifanio Galindo, một tiếng đồng hồ sau khi María Sandra bị giết thì ba kẻ này xuất hiện ở quán bar Los Zancudos. Cả bọn đều đang cao hứng, uống mezcal hết cốc này đến cốc kia y như người ta ăn lạc. Đến một lúc thì một gã rút súng từ thắt lưng chĩa lên trần, làm như định bắn tan xác một con nhện. Chẳng ai nói năng gì thế là tay này cất súng đi. Theo tay chỉ điểm, đó là một khẩu Glock của Áo ổ đạn mười lăm viên. Lát sau người thứ tư nhập bọn, một gã cao gầy mặc sơ mi trắng, tốp kia uống rượu cùng gã này một chặp, sau đó cả bọn bỏ đi trên một chiếc Dodge màu đỏ tươi. Epifanio hỏi tai mắt của mình xem có phải bọn kia đến quán bar bằng chiếc Suburban không. Tai mắt nói là anh ta không biết, chỉ biết là họ rời quán trên một chiếc Dodge đỏ tươi. Hai viên đạn đoạt mạng María Sandra là từ một khẩu Browning 7,65 ly. Khẩu Glock là dòng Parabellum 9 ly. Có lẽ, Epifanio nghĩ, chúng giết cô gái tội nghiệp bằng một khẩu súng máy skorpion, của Tiệp, một món vũ khí anh không hề thích, mặc dù dạo gần đây một số model đã bắt đầu xuất hiện khá nhiều ở Santa Teresa, nhất là ở những băng đảng nhỏ chuyên buôn ma túy hoặc mấy đám bắt cóc từ Sinaloa.
♣ ♣ ♣
Tin tức chiếm chưa hết một cột trên các báo Santa Teresa và chẳng được mấy tờ khác trong cả nước đăng lại. Ân đền oán trả trong tù, tít bài chạy như vậy. Bốn thành viên băng Ông Kễnh, đang bị giam chờ xét xử, đã bị tù nhân ở nhà tù Santa Teresa thảm sát. Người ta phát hiện xác chúng chồng đống trong kho phòng giặt. Sau đó lại thêm xác hai cựu thành viên băng Ông Kễnh ở khu vệ sinh. Cảnh sát và lực lượng an ninh nhà tù đã tiến hành điều tra nhưng không làm rõ được động cơ hay danh tính hung thủ.
♣ ♣ ♣
Khi luật sư của Haas đến gặp gã vào giữa trưa, gã cho bà hay gã đã chứng kiến vụ giết đám Ông Kễnh. Cả khu xà lim đều có mặt, Haas nói. Cai ngục đứng nhìn qua một thứ như kiểu ô kính ở sàn nhà phía trên. Họ chụp ảnh. Chẳng ai làm gì hết. Bọn Ông Kễnh bị làm thịt. Lỗ nhị chúng bị xẻo nát. Mấy chữ này kinh khủng quá hén? Haas hỏi. Chimal, thằng cầm đầu, hét lên bảo tụi kia giết nó đi. Tụi kia hắt nước vào nó năm lần cho nó tỉnh lại. Bọn hành hình tránh sang bên để cai ngục chụp hình cho đẹp. Chúng tránh sang bên và dẹp cả đám khán giả. Tôi không đứng ở hàng đầu. Tôi thấy hết vì tôi cao. Lạ thật: ruột gan tôi không nhộn nhạo. Lạ thật, lạ quá: tôi chứng kiến cuộc hành hình từ đầu chí cuối. Thằng hành hình có vẻ sung sướng. Tên nó là Ayala. Một thằng khác giúp nó, một thằng rất xấu xí cùng xà lim với tôi, tên là Farfán. Tình nhân của Farfán, thằng Gómez, cũng tham gia. Tôi không biết mấy thằng Ông Kễnh được phát hiện sau đó trong phòng tắm là do ai giết, nhưng bốn thằng này thì do Ayala, Farfán và Gómez, thêm sáu thằng khác giúp sức đè bốn thằng đó xuống. Có khi nhiều hơn. À không phải sáu, cứ cho là mười hai. Và tất tật những thằng trong khu xà lim bọn tôi đứng đó nhìn chả làm gì. Thế anh tưởng ở ngoài người ta không biết chuyện này à? luật sư hỏi. Chà, Klaus ơi, anh ngây thơ quá. Không, ngu mới đúng, Haas nói. Nhưng nếu biết thì sao người ta không nói gì? Vì người ta kín miệng, Klaus ạ, luật sư nói. Nhà báo cũng vậy sao? Haas hỏi. Họ kín miệng hơn ai hết, luật sư nói. Với họ, kín miệng đồng nghĩa với tiền. Kín miệng là tiền? Haas hỏi. Giờ thì anh hiểu rồi đó, luật sư nói. Anh có biết tại sao bọn kia giết băng Ông Kễnh không? Tôi không biết, Haas nói, chỉ biết chúng không ở trên thảm hoa hồng. Luật sư cả cười. Vì tiền, bà nói. Lũ thú vật đó đã giết con gái một ông nhà giàu. Mọi thứ khác đều chẳng liên quan. Toàn ba láp hết, luật sư nói.
♣ ♣ ♣
Giữa tháng Mười một, người ta phát hiện một xác phụ nữ khác ở hẻm núi Podestá. Sọ cô có nhiều vết nứt, não mất hết. Vài dấu vết trên cơ thể cho thấy cô đã chống cự. Khi cô được tìm thấy, quần cô bị kéo xuống tận đầu gối, nên người ta đoán cô đã bị hãm hiếp tuy nhiên sau khi khám nghiệm âm đạo thì giả thuyết này bị loại bỏ. Năm ngày sau người ta xác định được danh tính nạn nhân. Cô là Luisa Cardona Pardo, ba tư tuổi, cư dân bang Sinaloa, hành nghề mại dâm ở đó từ năm mười bảy tuổi. Tại thời điểm hiện tại cô đã sống ở Santa Teresa được bốn năm và làm việc tại nhà máy EMSA. Trước đó cô làm hầu bàn và có một sạp bán hoa ở khu trung tâm. Cô không có tên trong hồ sơ của cảnh sát thành phố. Cô sống cùng người bạn gái ở một căn nhà sơ sài, nhưng có điện và nước máy, ở quận Preciada. Bạn cô, cũng là công nhân EMSA, kể với cảnh sát rằng hồi đầu Luisa có nhắc đến chuyện di cư sang Mỹ và thậm chí đã bàn bạc với một pollero, nhưng cuối cùng cô quyết định ở lại thành phố. Cảnh sát thẩm vấn một số đồng nghiệp trong nhà máy của cô rồi sau đó khép vụ án lại.
♣ ♣ ♣
Ba ngày sau vụ phát hiện xác của Luisa Cardona, một xác phụ nữ khác được tìm thấy ở hẻm núi Podestá. Các cảnh sát tuần tra Santiago Ordóñez và Olegario Cura phát hiện ra xác. Ordóñez và Cura làm gì ở đấy? Tò mò đi quanh thôi, Ordóñez thú nhận, về sau anh ta nói họ đến đấy bởi Cura nằng nặc đòi đi. Khu vực họ được phân công ngày hôm ấy trải từ El Cerezal đến Las Cumbres, nhưng Lalo Cura bảo cậu muốn xem nơi người ta thấy xác Luisa Cardona, và Ordóñez, lúc đó đang lái xe, không phản đối. Họ đỗ xe tuần tra trên đỉnh hẻm núi rồi đi xuống một lối mòn dốc. Hẻm núi Podestá không lớn lắm. Dải băng bảo vệ hiện trường vẫn còn đó, quấn nhằng nhịt giữa cây bụi và đá vàng đá xám. Theo lời Ordóñez, Lalo Cura hành động kỳ quặc một hồi, kiểu như đo đạc mặt đất và đo độ cao các vách, nhìn lên đỉnh hẻm núi rồi tính toán cái vòng cung mà xác Laura Cardona ắt đã vẽ nên trong khi rơi xuống. Hồi lâu sau, khi Ordóñez đâm chán rồi, Lalo Cura bảo anh ta tên giết người hoặc những tên giết người vứt xác ở chính chỗ này cốt để người ta bắt gặp xác càng sớm càng tốt. Khi Ordóñez bác lại, nói chỗ này đâu có nhiều người qua lại, Lalo Cura liền chỉ lên mép hẻm núi. Ordónez nhìn lên thì thấy ba đứa trẻ con, hay có thể là một người lớn và hai đứa trẻ con, đều mặc quần soóc, đang chăm chú quan sát họ. Rồi Lalo Cura bắt đầu đi về đầu mút phía Nam của hẻm núi còn Ordóñez ngồi lên một tảng đá, vừa hút thuốc vừa nghĩ có khi anh ta nên vào làm ở sở cứu hỏa. Lát sau, khi Lalo đã khuất khỏi tầm mắt, anh ta nghe có tiếng huýt sáo liền đi theo cộng sự. Khi đến chỗ Lalo thì anh ta thấy xác người phụ nữ dưới chân. Cô ta mặc cái gì đó giống như áo cánh, bị rách một bên, lõa thể từ thắt lưng trở xuống. Theo Ordóñez, vẻ mặt Lalo Cura rất lạ, không phải ngạc nhiên mà là vui sướng. Vui sướng là sao? Cậu ta cười to à? Mỉm cười? người ta hỏi. Cậu ta không mỉm cười, Ordóñez nói, cậu ta có vẻ tập trung, tập trung cao độ, như thể không phải cậu ta đang có mặt ở đó, không phải là vào lúc đó, mà như thể cậu ta đang có mặt ở hẻm núi Podestá, nhưng vào một thời điểm khác, cái lúc ả điếm này bị giết. Khi Ordóñez lại gần Lalo Cura liền bảo anh ta đừng nhúc nhích. Cậu đang cầm một cuốn sổ nhỏ, cậu đã rút cây bút chì ra và đang ghi lại tất cả những gì cậu thấy. Cô ta xăm mình, anh ta nghe Lalo Cura nói. Xăm đẹp lắm. Nhìn tư thế thì tôi đoán cô ta đã bị vặn gãy cổ. Nhưng trước đó có lẽ đã bị hiếp. Xăm ở đâu? Ordóñez hỏi. Ở đùi trái, anh ta nghe cộng sự nói. Sau đó Lalo Cura đứng dậy nhìn quanh tìm chỗ quần áo còn thiếu. Chỉ thấy báo cũ, vỏ hộp đã gỉ, bao ni lông rách toác. Quần cô ta không có đây, cậu nói. Sau đó cậu bảo Ordóñez về xe gọi cảnh sát. Người chết cao một mét bảy, tóc đen dài. Cô ta không có giấy tờ gì giúp xác định danh tính. Không ai đến nhận xác. Vụ việc nhanh chóng bị xếp xó.
♣ ♣ ♣
Khi Epifanio hỏi sao Lalo Cura lại tới hẻm núi Podestá, Lalo đáp vì cậu là cảnh sát. Thằng nhãi ranh, Epifanio nói, chỗ nào người ta không gọi thì đừng có tới nghe chua. Đoạn Epifanio túm tay Lalo, nhìn thẳng vào mặt cậu nói anh muốn biết sự thực. Tôi nghĩ, Lalo Cura nói, thật lạ là suốt thời gian vừa rồi chẳng có xác phụ nữ nào xuất hiện ở hẻm núi Podestá. Tổ cha mày, làm sao mày biết chuyện đó? Vì tôi đọc báo, Lalo Cura nói. Đồ oắt con, có thật mày đọc báo không? Thật, Lalo Cura nói. Chắc mày đọc cả sách nữa chớ gì? Phải, Lalo Cura nói. Mấy cuốn sách hãm lờ dành cho tụi hãm lờ mà tao đưa cho mày hả? Các phương pháp điều tra tội phạm hiện đại của cựu giám đốc Viện Cảnh sát Công nghệ Quốc gia Thụy Điển, ông Harry Söderman, và cựu chủ tịch Hiệp hội Quốc tế Cảnh sát trưởng, cựu thanh tra John J.O’Connell, Lalo Cura nói. Vậy nếu mấy thằng cha siêu cảnh sát đó đã cừ tới cỡ ấy thì sao bây giờ đám đấy chỉ là những thằng cựu đầu bò? Epifanio nói. Trả lời tao đi, thằng nhãi. Mày không biết là trong điều tra tội phạm làm gì có cái phương pháp hiện đại nào, hả thằng chó vắt mũi chưa sạch? Mày còn chưa đủ hai mươi tuổi kia mà, hay tao lầm? Anh không lầm đâu, Epifanio, Lalo Cura nói. Vậy thì phải cẩn thận, người hùng ạ, đó là quy tắc đầu tiên và duy nhất, Epifanio nói rồi buông tay Lalo ra và mỉm cười ôm cậu, dẫn cậu đi ăn ở nơi duy nhất có món pozole ở khu trung tâm Santa Teresa vào cái giờ khuya khoắt như thế.
♣ ♣ ♣
Tháng Mười hai - và đây là các nạn nhân cuối cùng trong năm 1996 - xác Estefanía Rivas, mười lăm tuổi, và Herminia Noriega, mười ba tuổi, được phát hiện trong một căn nhà trống trên phố García Herrero, quận El Cerezal. Họ là chị em cùng mẹ khác cha. Cha Estefanía đã biến mất ngay sau khi cô ra đời. Cha Herminia sống cùng vợ con và làm bảo vệ trực đêm ở nhà máy MachenCorp., cùng nơi bà mẹ làm thợ vận hành máy, còn hai chị em vẫn đang đi học và giúp làm việc nhà, tuy nhiên Estefanía đang định sang năm bỏ học để đi làm. Sáng hôm bị bắt cóc hai chị em đều đang trên đường đi học, cùng hai em gái, một đứa mười một tuổi đứa kia bảy tuổi. Hai đứa em và Herminia đến trường tiểu học José Vasconcelos. Ngày nào cũng vậy, sau khi để ba đứa em ở đấy, Estefanía đi bộ qua mười lăm khối nhà đến trường của mình. Tuy nhiên, hôm xảy ra vụ bắt cóc, một chiếc xe hơi dừng lại cạnh bốn chị em, một người đàn ông xuống xe đẩy Estefanía vào trong xe rồi lại xuống đẩy tiếp Herminia vào và rồi xe biến mất. Hai đứa nhỏ chết điếng trên vỉa hè sau đó cuốc bộ về nhà, nhưng lúc ấy không ai ở nhà nên chúng gọi cửa hàng xóm, thuật lại sự tình rồi cuối cùng òa khóc. Người phụ nữ cho chúng vào nhà, vốn là công nhân nhà máy Horizon W&E, liền đi gọi một hàng xóm khác rồi sau đó gọi điện đến nhà máy MachenCorp. định tìm cha mẹ hai cô bé. Người ở MachenCorp. thông báo nhà máy cấm gọi điện vì việc riêng rồi cúp máy. Người phụ nữ gọi điện lần nữa lặp lại tên và chức vụ của người cha, vì bà chợt nghĩ ra rằng người mẹ, vốn cũng là thợ chạy máy như bà, chắc chắn bị coi nhẹ hơn, tức là có thể bị sa thải bất cứ lúc nào vì bất cứ căn cớ nào hoặc bất cứ lý do ngẫu hứng nào, và lần này tổng đài viên bắt bà chờ lâu đến nỗi bà hết cả tiền xu và điện thoại ngắt. Bà không còn tiền nữa. Ngã lòng, bà quay về nhà, nơi bà hàng xóm kia cùng hai cô bé đang đợi, và suốt một hồi bốn người kinh qua một trải nghiệm kiểu như đang ở trong luyện ngục, một sự chờ đợi dài không ai giúp đỡ, một sự chờ đợi có xương sống là sự chơ vơ, một cái gì rất Mỹ La tinh, mặt khác, cũng là một cảm giác quá ư quen thuộc, một cảm giác mà nếu nghĩ đến, ta sẽ nhận ra ta vẫn nếm trải nó hằng ngày, chỉ là trừ đi nỗi tuyệt vọng, trừ đi bóng của cái chết quét qua khu phố như một bầy kền kền trùm lên tất cả, đảo lộn thói thường của tất cả, lật ngược tất cả. Vậy là, trong khi họ chờ cha của hai cô bé về nhà, bà hàng xóm (để giết thì giờ và giết nỗi sợ) nghĩ đến chuyện bà muốn có một khẩu súng để cầm theo ra phố. Rồi sau đó thì sao? Thì bà sẽ nã vài phát súng lên trời cho hả giận và hét Mexico muôn năm hầu khơi dậy lòng can đảm hoặc để cảm nhận hơi ấm trào lên lần cuối rồi dùng tay không đào một cái hố, đào nhanh khôn tả xiết, một cái hố giữa con phố bằng đất thịt bị nén chặt, đào xong thì chôn mình vào đấy, sũng đến tận xương, mãi mãi. Khi cuối cùng cha của hai cô bé kia cũng về thì tất cả mọi người kéo đến đồn cảnh sát gần nhất. Ở đấy, sau khi trình bày ngắn gọn (hoặc lung tung rời rạc) về vụ việc, họ phải chờ hơn một tiếng thì mới có hai thanh tra xuất hiện. Các thanh tra hỏi lại họ cũng chừng ấy câu hỏi và thêm vài câu mới, đặc biệt là về chiếc xe đã bắt Estefanía và Herminia đi. Lát sau thì có bốn tranh tra trong văn phòng nơi hai cô bé đang bị thẩm vấn. Một trong số đó, xem chừng là người tử tế, yêu cầu bà hàng xóm đi cùng họ rồi đưa hai cô bé đến nhà xe của đồn cảnh sát, hỏi hai cô bé xem trong số xe đang đỗ ở đấy xe nào giống nhất với chiếc xe đã bắt hai cô chị. Với thông tin có được từ hai cô bé, thanh tra này liền bảo chiếc xe cần tìm là một chiếc Peregrino hoặc Arquero màu đen. Lúc năm giờ chiều mẹ hai cô bé kia đến đồn cảnh sát. Lúc ấy một trong hai bà hàng xóm đã ra về còn bà kia cứ ôm chặt cô bé nhỏ nhất mà khóc mãi. Tám giờ tối hôm ấy, Ortiz Rebolledo đến và tổ chức hai đội truy tìm, một đội do thanh tra Juan de Dios Martínez và Lino Rivera chỉ huy, có nhiệm vụ thẩm vấn bạn bè và gia đình hai cô bé, đội kia do hai thanh tra Ángel Hernández và Efraín Bustelo phối hợp chỉ huy, với sự giúp sức của cảnh sát thành phố, tìm chiếc Peregrino hoặc Arquero hoặc chiếc Lincoln hình như đã bắt hai cô bé đi. Juan de Dios Martínez công khai tỏ ra không đồng tình với giải pháp này, bởi theo anh hai đội nên hợp lực tìm chiếc xe. Lý lẽ chủ yếu của anh là chẳng mấy người, nếu không muốn nói là không một ai, trong số bạn bè, người thân và đồng nghiệp của gia đình Noriega có xe hơi, chứ chưa nói gì đến xe Peregrino đen hay Chevy Astra đen, vì hầu như tất cả bọn họ đều có thể xếp vào hạng trường kỳ đi bộ, một số nghèo đến nỗi thậm chí không có tiền bắt xe buýt đi làm, họ thà cuốc bộ để tiết kiệm vài xu còn hơn. Câu trả lời của Ortiz Rebolledo rất dứt khoát: bất cứ ai cũng có thể trộm một chiếc Peregrino, bất cứ ai cũng có thể ăn cắp một chiếc Arquero hay Boro hay Jetta, không cần phải có tiền hay bằng lái, chỉ cần anh biết cách mở cửa và khởi động xe. Thế nên hai đội vẫn được chia ra theo lệnh Ortiz Rebolledo và các cảnh sát, mặt phờ phạc giống như đám lính bị bẫy trong một miền cong thời gian hết lần này đến lần khác đều gặp cùng một thất bại, liền bắt tay vào việc. Ngay đêm ấy, sau một hồi điều tra, Juan de Dios Martínez biết Estefanía có một bạn trai hoặc một người còn đương ngấp nghé, một cậu trai hơi khùng, mười chín tuổi, tên Ronald Luis Luque, còn gọi là Lucky Strike, hay Ronnie, hay Ronnie el Mágico, từng bị bắt giam hai lần vì trộm xe hơi. Khi ra tù, Ronald Luis từng ở chung nhà với một người tên là Felipe Escalante, vốn quen cậu ta trong tù. Escalante là tay trộm xe hơi chuyên nghiệp và cũng từng bị điều tra, nhưng không bị kết tội, về vụ hãm hiếp một trẻ vị thành niên. Ronald Luis sống chung với Escalante năm tháng sau đó chuyển đi nơi khác. Ngay tối đó, Juan de Dios Martínez đi gặp Escalante. Theo lời gã, bạn tù cũ của gã không tự nguyện chuyển đi mà đã bị đuổi vì không chịu đóng góp bất cứ khoản tiền gì. Escalante hiện làm nghề xếp hàng hóa ở một siêu thị và không còn kiếm sống phi pháp nữa. Đã nhiều năm rồi tôi không trộm chiếc xe nào cả sếp ơi, tôi thề, y nói rồi hôn những ngón tay y giơ lên làm dấu thánh. Thực vậy, thậm chí một cái bánh xe y còn không có, đi đâu y cũng dùng xe buýt, không thì cuốc bộ, tiết kiệm hơn và lại còn cho y có cảm giác tự do. Khi được hỏi liệu cái cậu được gọi là Lucky Strike ấy có khi nào ăn cắp xe hơi không, Escalante bảo y nghĩ là không, mặc dù có Chúa chứng giám y không dám nói liều, về mấy chuyện ấy thì cái thằng chó đó khó lường lắm. Những người được thẩm vấn khác có vẻ đều xác nhận điều Escalante nói: Ronnie El Mágico là thằng lười chảy thây vô tích sự, nhưng không phải hạng đầu trộm đuôi cướp hay đầu gấu, cũng không phải loại người hay bạo hành, ít nhất là không bạo hành chỉ để bạo hành, và hầu hết đều nghĩ rằng không đời nào có chuyện thằng ấy lại bắt cóc bạn gái mình và cả em gái người yêu. Giờ thì Ronald Luis sống cùng cha mẹ và vẫn chưa tìm được việc làm. Juan de Dios Martínez đến thẳng đấy, nói chuyện với cha của Ronnie, ông này miễn cưỡng cho anh vào và nói con ông đã bỏ đi ít lâu sau vụ bắt cóc Estefanía và Herminia. Thanh tra hỏi liệu anh có thể nhìn quanh được không. Cứ thoải mái, cha của Ronnie nói. Juan de Dios Martínez săm soi một hồi căn phòng mà Ronnie ở cùng ba đứa em, mặc dù ngay từ đầu anh đã biết chẳng có gì để mà tìm. Rồi anh ra sân châm một điếu thuốc trong khi ngắm hoàng hôn màu cam và tím đổ xuống trên thành phố ma. Ông bảo nó đi đâu nhỉ? anh hỏi. Yuma, người cha đáp. Ông đã đến Yuma lần nào chưa? Nhiều rồi, hồi còn trẻ: tôi đến đó, tìm được việc làm, bị tuần duyên bắt trả về Mexico, rồi sau đó tôi tiếp tục quay lại, nhiều lần, người cha nói. Cho đến khi tôi đâm chán, bắt đầu chí thú làm ăn ở đây và chăm lo cho bà lão nhà tôi với lũ con. Ông có nghĩ là chuyện với Ronald Luis cũng sẽ y như thế? Cầu Chúa là không, người cha nói. Ba ngày sau, Juan de Dios Martínez nghe tin nhóm truy tìm chiếc xe màu đen được dùng trong vụ bắt cóc đã bị giải tán. Khi anh chất vấn Ortiz Rebolledo thì được biết đó là lệnh ở trên. Dường như cảnh sát đã quấy rầy một số con cá bự mà con cái họ, những Ông Lớn của Santa Teresa, sở hữu gần như toàn bộ đội xe Peregrino của thành phố này (nó là loại xe thời thượng dành cho đám thanh niên con nhà đại gia, cũng như xe Arcángel hay Desertwind mui trần), thế là họ đánh tiếng yêu cầu cảnh sát đừng có làm phiền họ nữa. Bốn ngày sau cảnh sát nhận được một cuộc gọi nặc danh thông báo có mấy phát súng nổ ở một căn nhà trên phố García Herrero. Nửa tiếng sau một xe tuần tra đến. Viên cảnh sát bấm chuông mấy lần song không ai mở cửa. Khi được hỏi thì hàng xóm nói họ chẳng nghe thấy gì, mặc dù sự điếc bất ngờ ấy có lẽ có liên quan đến âm lượng tivi nhà họ, mở quá to đến nỗi ngoài phố cũng nghe thấy. Nhưng một chú bé nói khi đạp xe ngang qua thì chú có nghe thấy tiếng súng. Hỏi hàng xóm ai sống trong nhà ấy thì các câu trả lời không giống nhau, nên cảnh sát tuần tra nghĩ chắc hẳn đấy là mấy tay buôn ma túy và tốt nhất họ nên đi thôi, không động vào làm gì. Tuy nhiên, một hàng xóm nói ông ta từng thấy một chiếc Peregrino màu đen đỗ ngoài căn nhà. Thế là cảnh sát liền rút súng ra và lại gõ cửa nhà số 677 phố García Herrero một lần nữa, nhưng kết quả vẫn như trước. Sau đó họ gọi bộ đàm về đồn cảnh sát rồi đợi. Nửa giờ sau một xe tuần tra nữa đến, họ bảo là để hỗ trợ, và ngay sau đó là Juan de Dios Martínez và Lino Rivera. Theo Lino, trên có lệnh phải đợi các thanh tra khác. Nhưng Juan de Dios Martínez bảo không còn thì giờ nữa thế là các cảnh sát tuần tra, theo mệnh lệnh tức thời của Juan, liền phá cửa. Juan de Dios Martínez vào nhà đầu tiên. Nhà sặc mùi tinh dịch và mùi rượu, anh nói. Tinh dịch và rượu có mùi ra sao? Khó ngửi, Juan de Dios Martínez nói, rất khó ngửi. Nhưng ta sẽ quen dần. Không như mùi thịt ôi, cái mùi ta chẳng bao giờ quen nổi và cứ len lỏi vào trong đầu ta, vào tận những ý nghĩ của ta, và cho dù ta có tắm rửa thay đồ ba lần một ngày thì nó vẫn cứ xộc lên hàng mấy ngày liền, mấy tuần liền, có khi mấy tháng liền. Theo sau Juan là Lino Rivera, không thêm ai khác. Đừng đụng vào cái gì hết, Lino nhớ Juan de Dios Martínez có nói vậy. Đầu tiên họ xem xét phòng khách. Bình thường. Bàn ghế rẻ tiền nhưng tươm tất, một bàn để báo, đừng đụng vào, Juan de Dios nói, trong phòng ăn có hai chai tequila Sauza và một chai vodka Absolut, cả ba đều rỗng. Phòng bếp sạch. Bình thường. Giấy gói đồ ăn McDonald’s trong sọt rác. Sàn sạch. Cửa sổ bếp trông ra một khoảnh sân nhỏ, một nửa lát xi măng, một nửa khô queo, có vài ba cây bụi bám lấy bức tường ngăn sân hai nhà. Không có gì khác thường. Sau đó họ đi ra nhà sau. Juan de Dios đi trước, Lino Rivera theo sau. Hành lang. Phòng ngủ. Có hai phòng ngủ. Ở một phòng, nằm sấp trên giường, là xác chết trần truồng của Herminia. Ôi mẹ kiếp, Juan de Dios nghe Lino Rivera lẩm bẩm. Trong buồng tắm, cuộn mình dưới vòi hoa sen, hai tay bị trói quặt sau lưng, là xác Estefanía. Đứng yên trong hành lang. Đừng vào, Juan de Dios nói. Riêng anh thì vào trong buồng tắm. Anh vào quỳ xuống cạnh xác Estefanía, chăm chú xem xét, cho đến khi mất hết ý niệm về thời gian. Sau lưng, anh nghe thấy tiếng Lino nói chuyện qua bộ đàm. Gọi pháp y đến đây, Juan de Dios nói. Theo bác sĩ pháp y, Estefanía bị bắn hai phát vào gáy. Trước đó con bé đã bị đánh đập và có vẻ đã bị siết cổ. Nhưng con bé không chết vì bị siết cổ, bác sĩ pháp y nói. Chúng chỉ chơi trò siết cổ thôi. Vết xây xát lộ rõ ở hai mắt cá chân. Tôi cho là con bé bị treo ngược lên, bác sĩ pháp y nói. Juan de Dios ngẩng lên trần tìm xà nhà hay một cái móc. Căn nhà đông kín cảnh sát. Ai đó đã phủ chăn lên Herminia. Ở phòng ngủ kia họ thấy một cái móc sắt bắt vít vào trần nhà, khoảng giữa hai cái giường. Juan de Dios nhắm mắt hình dung Estefanía bị treo chúc đầu xuống. Anh gọi hai cảnh sát, bảo tìm dây thừng. Bác sĩ pháp y đang ở bên phòng Herminia. Con bé cũng bị bắn vào gáy, bác sĩ pháp y bảo Juan de Dios khi anh lại gần, nhưng tôi không tin đó là nguyên nhân tử vong. Vậy thì tại sao chúng bắn con bé? Juan de Dios hỏi. Để cho chắc. Tất cả cảnh sát không thuộc đội kỹ thuật hình sự ra khỏi nhà hết đi, Juan de Dios hét. Các cảnh sát theo chân nhau dần dần ra khỏi nhà. Ở phòng khách, hai cảnh sát ngồi xổm, vẻ kiệt quệ, đang tìm dấu tay. Tất cả ra ngoài, Juan de Dios hét. Ngồi trên sofa, Lino Rivera đọc một tờ tạp chí quyền Anh. Dây thừng đây sếp, một cảnh sát nói. Cảm ơn, Juan de Dios nói, giờ ra ngoài đi anh bạn, chỉ bên kỹ thuật ở lại thôi. Một người đang chụp ảnh hạ máy ảnh xuống nháy mắt với Juan. Chuyện này không bao giờ kết thúc nhỉ, Juan de Dios? Không bao giờ kết thúc, không bao giờ kết thúc, anh đáp, buông mình xuống cái sofa Lino Rivera đang ngồi và châm một điếu thuốc. Cứ bình tĩnh bồ ơi, viên thanh tra nói. Anh hút chưa hết điếu thuốc thì đã bị bác sĩ pháp y gọi vào phòng ngủ. Cả hai chị em đều bị hãm hiếp, tôi dám nói là nhiều lần, qua hai đường, riêng cô chị trong buồng tắm thì có lẽ qua ba đường. Cả hai đều bị tra tấn. Nguyên nhân tử vong của một đứa đã rõ ràng. Ở đứa kia thì chưa chắc. Mai tôi sẽ gửi báo cáo chính thức cho anh. Giờ thì dẹp đường cho tôi đưa xác đến nhà xác, bác sĩ pháp y nói. Juan de Dios ra sân bảo một cảnh sát là người ta sắp chuyển xác đi. Vỉa hè đông nghẹt người hóng hớt. Lạ thật, Juan de Dios nghĩ khi chiếc xe cứu thương biến mất về hướng Viện Giải phẫu Pháp y, đột ngột, chỉ trong vài giây, mọi chuyện đã thay đổi. Một giờ sau, khi Ortiz Rebolledo và Ángel Fernández xuất hiện, Juan de Dios đang phỏng vấn hàng xóm. Người thì bảo ở số 677 có một cặp vợ chồng cư ngụ, người lại nói là ba cậu con trai, hay đúng hơn là một người đàn ông và hai cậu trai, chỉ đến đó để ngủ, người khác thì nói đó là một người đàn ông lạ mặt chẳng nói năng gì với bà con lối xóm và đôi khi vắng mặt nhiều ngày, tuồng như y làm việc ở ngoài Santa Teresa, có lúc y lại mấy ngày liền không ra khỏi nhà, xem tivi rất khuya hoặc nghe corridos và danzones rồi ngủ đến quá trưa. Những người khẳng định rằng cư dân sống tại số nhà 677 là một cặp vợ chồng bảo cặp ấy có một chiếc Combi hay một chiếc xe van kiểu tương tự, cả hai cùng lái xe ấy đi làm. Làm công việc kiểu gì? Họ không biết, nhưng một người trong số đó bảo chắc làm bồi bàn. Những ai cho rằng sống trong nhà đó là một người đàn ông cùng hai cậu trai thì nói là người đàn ông lái một chiếc xe van, thực ra có lẽ là một chiếc Combi. Những người bảo rằng sống ở nhà đó chỉ có độc một người đàn ông thì không thể nhớ người đó có xe hay không, tuy nhiên họ nói y thường có bạn bè đến thăm mà bạn bè y thì có xe. Vậy thì rốt cuộc cái đồ khỉ gió nào sống ở nhà ấy? Ortiz Rebolledo nói. Ta sẽ phải điều tra, Juan de Dios Martínez nói trước khi rời căn nhà. Ngày hôm sau, khi giám định pháp y đã hoàn tất, bác sĩ pháp y khẳng định lại những đánh giá ban đầu của mình và bổ sung rằng nguyên nhân tử vong của Herminia không phải là viên đạn vào gáy mà do trụy tim. Cô bé tội nghiệp không chịu nổi những trò tra tấn bạo hành, bác sĩ pháp y nói với một nhóm thanh tra cảnh sát. Không cách nào chịu nổi. Hung khí có lẽ là súng lục Smith &Wesson 9 ly. Căn nhà nơi họ tìm thấy xác là của một bà già chẳng biết mô tê gì, một bà già thuộc giới thượng lưu Santa Teresa sống nhờ tiền cho thuê địa ốc, bao gồm hầu hết các nhà trong khu phố ấy. Các cơ ngơi này được quản lý bởi một công ty địa ốc thuộc về một người cháu của bà già. Theo giấy tờ của nhân viên môi giới, vốn tất cả đều hợp pháp, người thuê căn nhà số 677 tên là Javier Ramos, trả tiền thuê nhà hằng tháng qua tài khoản ngân hàng. Sau khi đến ngân hàng điều tra, họ phát hiện ra Javier Ramos đã nộp hai số tiền lớn vào tài khoản, đủ trả sáu tháng tiền nhà cộng thêm tiền điện nước rồi sau đó chẳng ai còn thấy mặt y. Có một mẩu thông tin thú vị, đáng lưu ý, được Juan de Dios Martínez phát hiện ở Văn phòng Đăng ký Bất động sản, cụ thể là, các căn nhà lân cận trên phố García Herrero thảy đều thuộc quyền sở hữu của Pedro Rengifo, còn các căn nhà trên phố Tablada chạy song song với phố García Herrero thì đều là tài sản của một người tên Lorenzo Juan Hinojosa, vốn làm bung xung cho tay trùm ma túy Estanislao Campuzano. Không những thế, toàn bộ bất động sản trên phố Hortensia và phố Licenciado Cabezas, song song với phố Tablada, cũng đều được đăng ký dưới tên thị trưởng Santa Teresa hoặc con cái của ông này. Lại nữa: cách đó hai khối phố về phía Bắc, các nhà cửa và tòa nhà cao tầng trên phố Ingeniero Guillermo Ortiz là sở hữu của Pablo Negrete, anh em của Pedro Negrete và là vị hiệu trưởng khả kính của Đại học Santa Teresa. Lạ quá, Juan de Dios tự nhủ. Ta ở đấy cùng mấy cái xác và run rẩy. Rồi người ta đem xác đi thì ta hết run. Lão Rengifo có dính líu vào vụ hai cô bé này không? Campuzano có lửa cháy ngang mày vì vụ này không? Rengifo là trùm ma túy tốt. Campuzano là trùm ma túy tồi. Lạ quá, lạ quá, Juan de Dios tự nhủ. Chẳng ai lại hãm hiếp và giết người ngay ở nhà mình cả. Chẳng ai lại hãm hiếp và giết người ở gần nhà mình cả. Trừ phi kẻ đó điên và muốn bị tóm. Hai đêm sau khi các xác chết được phát hiện, bọn họ tụ tập ở một câu lạc bộ tư nhân ngoài trời có sân golf, với sự có mặt của thị trưởng Santa Teresa, José Refugio de las Heras, cảnh sát trưởng Pedro Negrete và ngài Pedro Rengifo cùng ngài Estanislao Campuzano. Cuộc gặp kéo dài đến bốn giờ sáng và đã làm rõ được một vài điều. Ngày hôm sau toàn bộ cảnh sát thành phố, có thể nói vậy, đều lao vào truy lùng Javier Ramos. Người ta sục sạo dưới từng tảng đá trong sa mạc để tìm hắn. Nhưng trên thực tế họ thậm chí chẳng phác ra nổi một bức chân dung có sức thuyết phục của hắn.
♣ ♣ ♣
Suốt nhiều ngày Juan de Dios Martínez nghĩ về bốn cơn đau tim mà Herminia đã phải chịu trước khi chết. Đôi khi anh nghĩ về nó giữa lúc đang ăn hoặc đang tiểu tiện trong toilet nam ở quán cà phê hoặc ở một trong các địa điểm ăn trưa quen thuộc của thanh tra cảnh sát, hoặc trước khi đi ngủ, ngay khi anh tắt đèn, hay có thể là vài giây trước khi anh tắt đèn, và khi điều đó xảy ra thì anh chỉ là không thể tắt đèn, anh sẽ rời giường lại gần cửa sổ nhìn ra phố, một con phố bình thường, xấu xí, lặng câm, sáng tù mù, rồi anh vào bếp đun nước pha cà phê, và đôi khi, trong khi uống cà phê nóng không đường, thứ cà phê kinh tởm, anh bật tivi xem những chương trình đêm khuya truyền từ bốn phương xuyên qua sa mạc, vào lúc đêm về sáng thế này anh có thể xem các kênh của Mexico và kênh của Mỹ, có những thằng điên què cụt phi nước đại dưới trời sao và chào nhau bằng những lời không hiểu nổi, bằng tiếng Tây Ban Nha hoặc tiếng Anh hoặc Spanglish- tiếng Tây Ban Nha lai Anh, toàn những câu những lời khốn nạn không hiểu nổi, chừng đó Juan de Dios Martínez đặt tách cà phê xuống bàn, giơ hai tay lên ôm mặt rồi từ môi anh bật ra một tiếng nấc yếu ớt và chuẩn xác, tuồng như anh đang khóc hoặc cố khóc, nhưng khi cuối cùng anh bỏ tay ra thì, dưới ánh sáng của màn hình tivi, thứ duy nhất hiện ra là khuôn mặt già nua của anh, làn da già nua vô sinh khí và héo quắt của anh, không có lấy một chút xíu dấu vết nước mắt nào.
♣ ♣ ♣
Khi anh kể với Elvira Campos về những gì đang xảy ra với mình, bà giám đốc nhà thương điên im lặng lắng nghe, thế rồi, rất lâu sau đó, khi hai người trần truồng nằm trong phòng ngủ tranh tối tranh sáng, bà thú nhận rằng thỉnh thoảng bà mơ được từ bỏ tất cả. Nói cách khác, dứt bỏ triệt để, không vương vấn gì. Chẳng hạn, bà mơ tới chuyện bán căn hộ cùng hai cơ ngơi khác bà đang sở hữu ở Santa Teresa, cả chiếc xe cả đồ trang sức, bán tất cho đến khi thu được món tiền kha khá, rồi bà mơ sẽ bay đến Paris, thuê một căn hộ bé tí, một studio, chẳng hạn như nằm giữa Villiers và Porte de Clichy, rồi bà sẽ đến gặp một bác sĩ lừng danh, một nhà phẫu thuật thẩm mỹ thần sầu, ông ta sẽ sửa mặt cho bà, chỉnh mũi và xương gò má, độn ngực cho bà, tóm lại rốt cuộc khi rời bàn phẫu thuật bà sẽ trông như một người khác, một phụ nữ khác, không phải là năm mấy tuổi nữa mà là bốn mấy, hay tốt hơn nữa là chỉ mới ngoài bốn mươi, không thể nhận ra được, mới mẻ, đổi thay, trẻ lại, mặc dù dĩ nhiên bà sẽ phải mất một dạo đi đâu cũng quấn băng khắp người, như một xác ướp, không phải xác ướp Ai Cập mà xác ướp Mexico, một việc mà bà hẳn sẽ thích, nghĩ mà xem, bà sẽ vào xe điện ngầm, biết rằng tất tật dân Paris đều kín đáo nhìn bà, có người còn nhường ghế cho bà, nghĩ đến hoặc tưởng tượng ra những đau đớn kinh khiếp, những vết bỏng, tai nạn xe cộ, mà người xa lạ lặng lẽ và khắc khổ này đã trải qua, rồi sau đó bà sẽ rời khỏi metro tiến vào một viện bảo tàng hoặc gallery hoặc một hiệu sách ở Montparnasse, và học tiếng Pháp hai tiếng đồng hồ mỗi ngày, một cách vui thích, một cách hào hứng, tiếng Pháp mới đẹp làm sao, ngôn ngữ gì mà đầy tính nhạc, nó có một vẻ je ne sais quoi nhất định, và sau đó, một sáng trời mưa, bỏ băng ra, chầm chậm, như một nhà khảo cổ vừa phát hiện một cái xương lạ thường, như một cô bé cẩn thận, từ từ, chầm chậm tháo giấy gói một món quà, món quà mà cô muốn làm cho trường tồn, mãi mãi, gần như mãi mãi, cho đến khi rốt cuộc miếng gạc rơi xuống, rơi xuống đâu? xuống sàn, xuống thảm hay xuống sàn ván, dù thế nào thì cũng xuống một cái sàn hạng nhất, và trên sàn tất cả các miếng gạc đều trườn như rắn, hoặc tất cả các miếng gạc đều mở những con mắt ngái ngủ ra như rắn, mặc dù bà biết chúng không phải rắn mà đúng hơn là những thiên thần hộ mệnh cho rắn, rồi sau đó ai đấy mang gương đến cho bà và bà ngắm chính mình, gật đầu với chính mình, phê duyệt chính mình, với một động tác mà ở nơi nó bà phát hiện lại cái quyền uy của tuổi thơ, rồi tình yêu thương của cha mẹ bà, thế rồi bà ký cái gì đó, một tờ giấy, một văn bản, một tấm séc, rồi đi ra ngoài, dấn bước vào phố phường Paris. Vào một cuộc đời mới? Juan de Dios Martínez hỏi. Chắc vậy, bà giám đốc nói. Mình như thế này là tôi thích rồi, Juan de Dios Martínez nói. Một cuộc đời mới không có người Mexico không có xứ Mexico không có bệnh nhân Mexico, bà giám đốc nói. Mình như thế này là đủ cho tôi phát cuồng rồi, Juan de Dios Martínez nói.
♣ ♣ ♣
Cuối năm 1996, báo chí Mexico viết về, hoặc bóng gió viết về, những bộ phim có cảnh giết người thật, gọi là phim snuff, đang được quay ở miền Bắc, và kinh đô của phim snuff là Santa Teresa. Một đêm nọ hai nhà báo nói chuyện với tướng Humberto Paredes, cựu cảnh sát trưởng thủ đô Mexico, trong lâu đài có tường bao của ông ở quận del Valle. Các nhà báo này là ông già Macario López Santos, từng làm ở chuyên trang tội phạm hơn bốn mươi năm, và Sergio González. Bữa tối thịnh soạn được vị tướng đãi gồm taco thịt heo nhiều xốt cay và tequila La Invisible. Bất cứ món gì khác mà vị tướng thử ăn vào buổi tối đều khiến ông bị ợ nóng. Giữa chừng bữa ăn, Macario López hỏi vị tướng nghĩ thế nào về ngành phim snuff ở Santa Teresa, thì vị tướng bảo rằng trong suốt sự nghiệp lâu năm của mình ông đã thấy nhiều điều ghê rợn, nhưng ông chưa thấy một bộ phim nào loại đó và không tin là chúng có thật. Nhưng chúng có thật mà, ông nhà báo già nói. Có thể có, có thể không, vị tướng nói, nhưng lạ là tôi chưa xem một bộ nào, trong khi tôi là người thấy tất biết tất. Hai nhà báo đồng ý rằng lạ thật, mặc dù họ nói bóng gió rằng cũng có thể, hồi vị tướng còn tại nhiệm, cái phân nhánh phim kinh dị này hãy còn chưa xuất hiện. Vị tướng không tán thành: theo ông, nghệ thuật khiêu dâm đã đạt tới cực thịnh từ trước hồi Cách mạng Pháp. Bất cứ gì ta có thể gặp hôm nay trong một bộ phim của Hà Lan hay một tập ảnh hay một cuốn dâm thư đều đã được định hình từ trước năm 1789 rồi, và hầu hết chúng chỉ là một sự lặp lại, và thêm chút kích thích cho một cái nhìn vốn đã nhìn từ trước. Thưa tướng quân, Macario López Santos nói, đôi khi ngài nói năng cứ như Octavio Paz, chắc ngài đã đọc ông ấy rồi? Vị tướng phá ra cười rồi nói tác phẩm duy nhất ông đọc của Paz, từ nhiều năm trước rồi, là Mê cung của cô đơn, và ông chả hiểu một chữ nào. Hồi đó tôi còn trẻ lắm, vị tướng nói, nhìn hai nhà báo, hẳn tầm bốn mươi thôi. Ôi, tướng quân của tôi ơi, Macario López nói. Sau đó họ nói về tự do và về cái ác, về những xa lộ của tự do nơi cái ác giống như một chiếc Ferrari, và một hồi sau, khi một hầu gái già dẹp bát đĩa đi và hỏi các ngài có muốn dùng cà phê không, họ lại quay về đề tài phim snuff. Theo Macario López tình hình ở Mexico đã có những biến chuyển mới. Một phần là chưa bao giờ nạn tham nhũng lại như lúc này. Rồi cần phải cộng thêm vào đó cả vấn đề buôn lậu ma túy cùng những núi tiền lưu chuyển xung quanh hiện tượng mới này. Ngành phim snuff, trong bối cảnh đó, chỉ là một triệu chứng. Trong trường hợp của Santa Teresa thì là một triệu chứng độc hại, nhưng xét cho cùng cũng chỉ là một triệu chứng mà thôi. Phản ứng của vị tướng là gạt phắt đi. Ông bảo rằng ông không tin nạn tham nhũng hiện nay có chút nào trầm trọng hơn nạn tham nhũng dưới những chính phủ khác trong quá khứ. Nếu so ra thì nó còn không tệ bằng tham nhũng dưới thời chính phủ Miguel Alemán, cũng không tồi hơn thời López Mateos. Sự thất vọng của bây giờ có thể lớn hơn, nhưng tham nhũng thì không. Buôn lậu ma túy là chuyện mới, ông thừa nhận, nhưng gánh nặng thực sự của nạn buôn ma túy đối với xã hội Mexico (và xã hội Mỹ) đã bị người ta thổi phồng quá. Để làm một phim snuff thì tất cả những gì anh cần là tiền, ông nói, không gì khác ngoài tiền, mà trước khi các trùm ma túy làm giàu thì tiền đã có rồi, kỹ nghệ phim porno cũng có, thế nhưng mấy bộ phim, mấy bộ phim lừng danh ấy, vẫn chưa được sản xuất. Chắc là ngài không xem đấy thôi, Macario López nói. Vị tướng cả cười và tiếng cười của ông lạc mất giữa những luống hoa trong khu vườn tối. Cái gì tôi cũng thấy cũng xem tất, bạn Macario ạ, ông đáp. Trước khi ra về, nhà báo già chuyên viết về tội phạm nhận xét rằng ban nãy khi bước vào ngôi nhà có tường bao ở quận del Valle ông đã không có được cái thú chào mấy tay vệ sĩ. Vị tướng đáp ấy là do hồi này ông không có vệ sĩ nữa. Sao vậy, thưa tướng quân? nhà báo hỏi. Kẻ thù của ngài xuôi tay rồi sao? Dịch vụ an ninh càng ngày càng đắt Macario ạ, vị tướng đáp trong khi tiễn hai nhà báo ra cổng dọc một lối mòn hai bên trồng hoa giấy, với lại tôi chẳng thà dành thời gian cho những thú vui dễ chịu hơn. Thế ngộ nhỡ ngài bị tấn công? Vị tướng thò tay ra sau lưng rồi chìa cho họ xem một khẩu Desert Eagle .50 Magnum của Israel ổ đạn bảy viên. Ông bảo họ ông luôn mang theo hai băng đạn dự phòng. Nhưng tôi không nghĩ sẽ có lúc phải dùng tới súng, ông nói, tôi già quá nên kẻ thù của tôi chắc nghĩ cái thân tôi làm phân cho hoa cúc ngoài nghĩa địa lâu rồi. Một số người thù dai lắm, Macario López Santos nhận xét. Đúng, Macario ạ, vị tướng nói, ở Mexico chúng ta không biết cách thua hay thắng với tinh thần thể thao chân chính. Dĩ nhiên nếu thua ta sẽ chết còn nếu thắng thì đôi khi ta cũng chết, vì thế muốn giữ tinh thần thể thao cũng khó, nhưng dù sao, vị tướng trầm ngâm, vài người trong chúng ta vẫn cố chiến đấu sao cho đẹp. Ôi, tướng quân của tôi ơi, Macario López Santos bật cười nói.
♣ ♣ ♣
Tháng Một năm 1997, năm thành viên băng Bò Hoang bị bắt. Họ bị buộc tội là thủ phạm của nhiều vụ giết người xảy ra sau khi Haas bị tóm. Những người bị bắt là Sebastián Rosales, mười chín tuổi, Carlos Camilo Alonso, hai mươi, René Gardea, mười bảy, Julio Bustamante, mười chín, và Roberto Aguilera, hai mươi. Cả năm đều có tiền án xâm phạm tình dục và hai trong số đó, Sebastián Rosales và Carlos Camilo Alonso, từng bị bắt giam vì tội hãm hiếp một trẻ vị thành niên, María Inés Rosales, em họ Sebastián, con bé rút lại lời buộc tội một vài tháng sau khi Sebastián bị đưa đến nhà lao Santa Teresa. Nghe nói Carlos Camilo Alonso đã cho thuê căn nhà trên phố García Herrero nơi người ta tìm thấy xác Estefanía và Herminia. Cả năm đều bị cáo buộc đã bắt cóc, hãm hiếp, tra tấn và giết hai phụ nữ mà người ta phát hiện xác ở hẻm núi Podestá, ngoài chuyện bị cáo buộc đã giết Marisol Camarena mà xác được tìm thấy trong thùng axít, cả vụ giết Guadalupe Elena Blanco, rồi vụ giết Estefanía và Herminia. Trong quá trình thẩm vấn, Carlos Camilo Alonso bị mất hết răng và bị gãy vách ngăn mũi, được cho là do hắn toan tự sát. Roberto Aguilera cuối cùng thì bị gãy bốn rẻ sườn. Julio Bustamante bị giam cùng xà lim với hai tên đầu gấu pê đê, hai tên này chơi hắn đến mệt lử, rồi cứ cách ba tiếng lại cho hắn một trận thừa sống thiếu chết và làm gãy hết ngón bàn tay trái của hắn. Người ta tổ chức nhận diện nghi phạm và trong số mười hàng xóm trên phố García Herrero chỉ có hai người nhận Carlos Camilo Alonso chính là người thuê căn nhà số 677. Hai nhân chứng này, một người từng làm chỉ điểm cho cảnh sát, tuyên bố đã nhìn thấy Sebastián Rosales ngồi trong một chiếc Peregrino màu đen trong tuần Estefanía và Herminia bị bắt cóc. Theo lời khai của chính Rosales thì chiếc xe đó do hắn mới ăn cắp. Người ta tìm thấy ba khẩu súng thuộc sở hữu của băng Bò Hoang: hai khẩu súng lục CZ model 85 cỡ 9 ly và một khẩu Heckler &Koch của Đức. Tuy nhiên, một nhân chứng khác nói rằng Carlos Camilo Alonso từng khoe có một khẩu Smith & Wesson giống khẩu được dùng để giết hai chị em kia. Khẩu súng đó đâu? Cũng theo nhân chứng này, Carlos Camilo bảo hắn đã bán khẩu súng cho một tay buôn lậu ma túy người Mẽo hắn quen. Trong khi đó, sau khi băng Bò Hoang bị bắt, người ta tình cờ phát hiện ra một tên trong bọn, Roberto Aguilera, là em trai của tay Jesús Aguilera nào đấy, một tù nhân ở nhà lao Santa Teresa mang biệt danh El Tequila và là bạn cánh hẩu cũng như vệ sĩ của Klaus Haas. Chẳng bao lâu sau người ta đã rút ra kết luận. Rất có thể, cảnh sát nói, các vụ giết người hàng loạt do băng Bò Hoang gây ra đều là giết thuê. Theo dị bản này, Haas trả ba ngàn đô cho mỗi người phụ nữ chết có nét giống hao hao nạn nhân của gã. Tin này nhanh chóng rò rỉ đến báo giới. Người ta đòi giám đốc nhà tù phải từ chức. Người ta nói nhà tù nằm dưới sự điều khiển của các băng nhóm tội phạm có tổ chức, trên hết là nằm trong tay Enriquito Hernández, trùm ma túy Cananea và ông trùm đích thực của nhà tù, từ trong tù y tiếp tục điều hành việc làm ăn mà chẳng ai trừng phạt. Tờ La Tribuna de Santa Teresa đăng tải một bài báo cho rằng Enriquito Hernández có liên hệ với Haas trong việc buôn lậu ma túy dưới vỏ bọc hợp pháp là xuất nhập khẩu linh kiện xuyên biên giới. Bài này không ký tên và nhà báo viết bài này cả đời chỉ mới gặp Haas mỗi một lần, nhưng điều đó chẳng ngăn anh ta đặt vào mồm Haas những tuyên bố mà Haas chưa bao giờ thốt ra. Các vụ giết phụ nữ hàng loạt đã được phá án thành công, José Refugio de las Heras, thị trưởng Santa Teresa nói trên truyền hình Hermosillo (và tuyên bố của ông được phát lại trên chương trình thời sự của các kênh lớn ở thủ đô). Tất cả những gì xảy ra từ nay trở đi đều thuộc vào hàng tội phạm thông thường, thứ tội phạm xảy ra như là lẽ tự nhiên ở một thành phố không ngừng tăng trưởng và phát triển. Thời của những kẻ rối loạn nhân cách căm thù xã hội đến đây đã cáo chung.
♣ ♣ ♣
Một đêm, trong khi đang đọc George Steiner, anh nhận được điện thoại của một người ban đầu anh không nhận ra là ai. Một giọng rất khích động mang âm sắc nước ngoài bảo rằng tất cả là dối trá, tất cả là lừa gạt, chẳng giống một phần mào đầu mà cứ như họ đã chuyện trò được nửa giờ rồi. Anh muốn gì? anh hỏi, Ai đấy? Sergio González phải không? giọng ấy hỏi. Tôi đây. Hà hà, đồ chó, khỏe không? giọng ấy nói. Nghe như đến từ xa lắm, Sergio nghĩ. Ai vậy nhỉ? anh nghĩ. Mẹ nó chứ, không nhận ra tôi à? giọng ấy nói nghe có mòi sửng sốt. Klaus Haas? Sergio hỏi. Từ đầu dây bên kia vẳng đến một tiếng cười rồi sau đó có tiếng gì nghe như gió kim loại, tiếng sa mạc và tiếng của nhà tù giữa đêm khuya. Đúng rồi, ra là anh vẫn chưa quên tôi đấy. Không, Sergio nói. Làm sao tôi quên anh được? Tôi không có nhiều thời gian, Haas nói. Tôi chỉ muốn nói với anh, cái chuyện ba láp rằng tôi trả tiền cho tụi Bò Hoang là không đúng. Để lấp liếm được tất tật những cái chết đó thì tôi cần nhiều bánh lắm. Bánh? Sergio hỏi. Là tiền ấy, Haas nói. Tôi là bạn của một thằng khùng gọi là El Tequila, và một thằng Bò Hoang là em của El Tequila. Nhưng chỉ thế thôi. Chẳng có gì hơn, tôi thề, giọng có âm sắc nước ngoài ấy nói. Nói chuyện đó với luật sư của anh ấy, Sergio nói, tôi không còn viết về các tội ác ở Santa Teresa nữa. Đầu dây bên kia Haas cười rộ. Ai cũng nói vậy. Nói với người này đi, nói với người kia đi. Luật sư của tôi biết rồi, gã nói. Tôi chẳng thể làm gì cho anh cả, Sergio nói. Chậc, nghe này, anh làm được, Haas nói. Sergio lại nghe thấy tiếng ống dẫn, tiếng rào rạo, một cơn gió lốc giật từng hồi. Mình sẽ làm gì nếu bị giam một chỗ? Sergio tự hỏi. Liệu mình có trốn trong một góc, quấn mình trong chăn, như đứa trẻ con? Liệu mình có run không? Mình có van xin người ta giúp đỡ, khóc lóc, toan tự sát? Chúng muốn hủy diệt tôi, Haas nói. Chúng trì hoãn phiên tòa. Chúng sợ tôi. Chúng muốn hủy diệt tôi. Rồi Sergio nghe thấy tiếng sa mạc và âm thanh gì nghe như tiếng chân thú. Chúng ta đều đang mất trí rồi, anh nghĩ. Haas này! Anh còn đó không? Chẳng ai trả lời.
♣ ♣ ♣
Sau vụ tóm băng Bò Hoang vào tháng Một, thành phố thở phào nhẹ nhõm. Món quà Giáng sinh đẹp nhất, một bài báo trên tờ La Voz de Sonora mô tả vụ bắt giữ năm tên pachuco giật tít như vậy. Thì đúng là vẫn có những cái chết. Một tên trộm già nghề chuyên hoạt động ở trung tâm thành phố bị đâm chết, hai gã đàn ông có dây mơ rễ má với giới buôn ma túy chết, một nhà nhân giống chó chết, nhưng không ai tìm thấy người phụ nữ nào bị hãm hiếp, tra tấn rồi bị giết. Đấy là trong tháng Một. Tháng Hai cũng vậy. Có những cái chết thường tình, đúng, những cái chết được liệu trước, những kẻ đầu tiên ca tụng nhau rồi cuối cùng giết nhau, những cái chết chẳng hề có mùi điện ảnh, những cái chết thuộc phạm trù văn hóa dân gian chứ không mang tính hiện đại: những cái chết chẳng làm ai sợ. Kẻ giết người hàng loạt đã chính thức ở sau song sắt. Những kẻ bắt chước hoặc noi gương hoặc được y thuê cũng vậy. Thành phố có thể thở êm.
♣ ♣ ♣
Tháng Một, phóng viên một tờ báo Buenos Aires, trên đường tới Los Angeles, lưu lại ba ngày ở Santa Teresa và viết một bài về thành phố này cùng những vụ sát hại phụ nữ. Anh ta cố gặp Haas trong tù nhưng không được phép. Anh ta dự một trận đấu bò. Anh ta tới một nhà thổ tên là Nội vụ và ngủ với một ả điếm tên là Rosana. Anh ta đến hộp đêm Domino và quán bar Seratino. Anh ta gặp một đồng nghiệp ở tờ El Heraldo del Norte và tìm hiểu hồ sơ của tờ báo này về các phụ nữ mất tích, bị bắt cóc và bị giết. Phóng viên tờ El Heraldo giới thiệu anh với một người bạn, người này giới thiệu anh với một người bạn khác tự nhận là đã xem một phim snuff. Anh chàng Argentina bảo người này rằng anh ta cũng muốn xem. Bạn của bạn anh chàng phóng viên hỏi anh ta sẵn sàng trả bao nhiêu đô. Anh chàng Argentina nói anh sẽ không trả dù là một nửa quả xoài cho một thứ nhớp nhúa bẩn tưởi như vậy, anh muốn xem chỉ vì hứng thú nghề nghiệp và, anh buộc phải thừa nhận, cũng vì tò mò. Anh chàng Mexico hẹn anh tại một căn nhà ở phía Bắc thành phố. Anh chàng Argentina có mắt màu xanh lục, cao mét chín và nặng gần trăm ký. Anh đến đúng hẹn và xem bộ phim. Anh chàng Mexico thì thấp và có phần mập mạp, im thin thít trong lúc họ xem phim, ngồi trên sofa cạnh anh chàng Argentina, như một tiểu thư. Suốt buổi xem phim anh người Argentina cứ chờ đến lúc anh người Mexico sờ cái củ của anh. Nhưng anh Mexico chẳng làm gì ngoài thở hồng hộc, tuồng như không muốn bỏ sót dù chỉ một xentimét khối không khí mà anh người Argentina vừa mới thở xong. Khi phim hết anh người Argentina lịch sự xin một bản sao, nhưng anh người Mexico thậm chí còn không muốn nói tới chuyện đó. Đêm đó họ tới một chỗ gọi là El Rey de Taco để uống bia. Trong khi uống, anh người Argentina thoáng nghĩ toàn bộ bồi bàn đều là xác sống. Anh thấy thế là thường, không ngạc nhiên gì. Nơi này rộng thênh thang, đầy những tranh tường tranh treo mô tả thời thơ ấu của El Rey de Taco, và trên các bàn ăn lơ lửng bầu khí quyển đặc sệt nặng nề đầy ác mộng. Có một lúc anh người Argentina nghĩ ai đó đã bỏ gì đấy vào bia của anh. Anh đột ngột bỏ về, đi taxi quay lại khách sạn. Hôm sau anh bắt xe buýt đến Phoenix rồi từ đó đáp máy bay đến Los Angeles, dành cả ngày ở đây phỏng vấn bất cứ diễn viên nào chịu cho phỏng vấn, mà số ấy chẳng lấy gì làm nhiều, còn đêm thì anh viết một bài dài về các vụ giết phụ nữ ở Santa Teresa. Bài viết tập trung vào ngành phim porno và ngành con của nó, tức phim snuff. Thuật ngữ phim theo anh người Argentina, đã được chế ra ở Argentina, tuy không phải bởi một người bản xứ mà bởi một cặp vợ chồng Mỹ đến đấy quay phim. Cặp người Mỹ này là Mike và Clarissa Epstein, đã thuê hai diễn viên tương đối nổi tiếng ở Buenos Aires nhưng giờ đang thất cơ lỡ vận, cùng với vài người trẻ tuổi, một số về sau rất nổi tiếng. Ê kíp kỹ thuật cũng là người Argentina, ngoại trừ tay quay phim, một người bạn của Epstein tên là JT Hardy, đến Buenos Aires một ngày trước khi bắt đầu quay. Ấy là năm 1972, ở Argentina người ta vẫn còn nói về cách mạng, cách mạng Peron, cách mạng xã hội chủ nghĩa và thậm chí cả cách mạng thần bí. Các nhà phân tâm học và nhà thơ lang thang khắp phố phường, được các nhà ngoại cảm cùng những kẻ thực hành nghệ thuật hắc ám quan sát từ cửa sổ. Khi JT đến Buenos Aires, y được Mike và Clarissa Epstein đón tại sân bay, cặp này càng sống ở Argentina lâu càng thêm háo hức. Trên chuyến taxi về căn nhà họ thuê ở ven thành phố, Mike thú nhận rằng xứ này, và để giải thích rõ hơn anh ta dang rộng hai tay, trông giống miền Tây, miền Tây Hoa Kỳ, không, hơn miền Tây Hoa Kỳ, vì ngẫm lại thì, ở miền Tây, đám cao bồi chỉ làm mỗi việc là chăn gia súc, còn ở đây, vùng thảo nguyên Nam Mỹ, như anh đã thấy mỗi ngày một rõ hơn, cao bồi là những người săn xác sống. Đây là phim về xác sống à? JT muốn biết. Có vài con, Clarissa nói. Tối hôm ấy, để chào mừng nhà quay phim, người ta tổ chức một bữa tiệc thịt nướng ngoài trời theo kiểu Argentina truyền thống trong sân nhà Epstein, cạnh hồ bơi, nơi các diễn viên và ê kíp kỹ thuật đang chờ sẵn. Hai ngày sau họ lên đường đi Tigre. Sau một tuần quay phim cả đoàn quay về Buenos Aires. Họ nghỉ ngơi hai ba hôm, các diễn viên, hầu hết còn trẻ, đi thăm cha mẹ bạn bè, còn JT ngồi cạnh hồ bơi nhà Epstein đọc kịch bản. Y không hiểu lắm và, tệ hơn nữa, y không nhận ra trong kịch bản này bất cứ cảnh nào mình đã quay ở Tigre. Ít lâu sau, đi thành một đoàn gồm hai xe tải lớn một xe van, họ lên đường đến vùng thảo nguyên. Họ trông như một đoàn digan tiến về nơi chưa biết, một diễn viên Argentina nói. Chuyến hành trình dài vô tận. Đêm đầu tiên họ ngủ ở một chỗ kiểu như nhà trọ dành cho đám lái xe tải và Mike với Clarissa choảng nhau lần đầu tiên. Một nữ diễn viên Argentina mười tám tuổi bật khóc bảo muốn về nhà, muốn về với mẹ với anh chị em. Một diễn viên Argentina ra dáng đầu tàu say rượu ngủ vùi trong buồng tắm, các diễn viên khác phải lôi anh chàng về phòng. Hôm sau Mike đánh thức cả hội dậy rất sớm và tất cả lại lên đường, vẻ ỉu xìu. Để tiết kiệm tiền, họ ăn bên bờ sông, như thể đang đi picnic. Các cô đều nấu ăn ngon và ngay cả các cậu hình như cũng đều có kỹ năng nướng thịt. Đồ ăn thức uống chủ yếu là thịt và rượu vang. Gần như tất cả đều đem máy ảnh và lúc nghỉ ngơi ăn uống họ chụp ảnh nhau. Vài người nói tiếng Anh với Clarissa và JT, để luyện tập, họ bảo. Trong khi đó Mike nói chuyện với mọi người bằng tiếng Tây Ban Nha, một thứ tiếng Tây Ban Nha đầy rẫy những từ lóng Argentina khiến các cô cậu trẻ mỉm cười. Đến ngày thứ tư của chuyến đi, khi JT tin rằng mình đang lạc giữa một cơn ác mộng thì họ đến một nông trại, được tiếp đón bởi hai nhân viên duy nhất, một cặp vợ chồng ngoại ngũ tuần trông coi căn nhà và chuồng trại. Mike trò chuyện với họ một hồi, giải thích rằng anh ta là bạn của ông chủ, thế rồi mọi người ra khỏi xe, chiếm lĩnh căn nhà. Ngay chiều hôm đó công việc lại bắt đầu. Họ quay một cảnh ngoài trời, một người đàn ông nhóm lửa, một phụ nữ bị trói vào hàng rào dây thép gai, hai người đàn ông ngồi bệt dưới đất vừa ăn từng tảng thịt to vừa bàn chuyện làm ăn. Thịt nóng, nên hai người vừa ăn vừa đảo thịt từ tay này qua tay kia để không bị bỏng. Đêm đó cả đoàn mở tiệc. Họ tán chuyện chính trị, bàn về nhu cầu cải cách nông nghiệp, các chủ đất, tương lai của Mỹ La tinh, và vợ chồng Epstein cùng JT ngồi im, phần vì họ không quan tâm, phần vì bận nghĩ đến những chuyện quan trọng hơn. Đêm đó JT phát hiện ra Clarissa đang lừa dối Mike mà tằng tịu với một nam diễn viên, tuy nhiên Mike dường như chả bận tâm. Hôm sau họ quay phim bên trong nông trại. Những cảnh sex, vốn là sở trường của JT, một chuyên gia về ánh sáng gián tiếp, về nghệ thuật ám chỉ và gợi ý. Người trông coi nông trại thịt một con bê, đến trưa hôm ấy sẽ cho họ làm thức ăn luôn, và Mike mang theo mấy cái túi ni lông đi cùng ông ta. Khi anh ta quay về thì mấy cái túi đầy máu. Buổi quay sáng hôm đó giống một cuộc thảm sát hơn cả. Cần phải làm sao cho hai nam diễn viên trông có vẻ như đã giết một trong các nữ diễn viên rồi chặt cô ta ra từng mảnh, gói xác vào bao tải đem ra thảo nguyên chôn. Người ta dùng những mảnh thân của con bê bị giết thịt sáng hôm ấy và hầu như toàn bộ nội tạng nó. Một trong mấy cô gái Argentina bật khóc nói bộ phim họ đang làm là thứ bẩn thỉu kinh tởm. Người trông coi nông trại thì ngược lại, nom cực hứng chí. Vào Chủ nhật, ngày quay phim thứ ba, bà chủ nông trại lái một chiếc Bentley đến. Chiếc Bentley duy nhất JT nhớ mình từng thấy là thuộc về một nhà sản xuất phim Hollywood, tự cái hồi xa lắc xa lơ khi y còn nghĩ mình có thể làm nên sự nghiệp ở Hollywood. Chủ nông trại ắt phải bốn mươi lăm, một phụ nữ tóc vàng đẹp và thanh lịch, nói tiếng Anh chuẩn tắc hơn nhiều so với ba người Mỹ kia. Các cô cậu Argentina ban đầu tỏ ra dè dặt với bà. Tuồng như họ không tin tưởng bà hoặc tuồng như bà tất yếu sẽ không tin tưởng họ, mà thực ra đâu phải thế. Thêm nữa, bà hóa ra là mẫu người rất thực tế: bà bố trí lại kho thực phẩm sao cho lúc nào cũng đủ đồ ăn, cử thêm một bà tới giúp bà quản gia dọn dẹp, lên lịch các bữa ăn, giao chiếc Bentley của bà cho đạo diễn tùy nghi sử dụng. Bỗng nhiên trang trại không còn là trại da đỏ nữa. Hay nói cách khác: cái trang trại lạc giữa thảo nguyên này không còn là sparta mà trở thành Athens, như một trong các diễn viên trẻ tuyên bố hùng hồn giữa một trong các cuộc tụ tập buổi tối vốn từ khi bà chủ đến luôn được tổ chức hằng ngày trên sân hiên rộng rãi tiện nghi. Nghĩ về các buổi tụ tập ấy, thường kéo dài đến ba bốn giờ sáng, JT thường nhớ đến sự sẵn lòng lắng nghe của bà chủ, cặp mắt tinh anh của bà, làn da bà sáng lên dưới ánh trăng, những câu chuyện bà kể về thời thơ ấu của mình ở miền quê và thời niên thiếu ở một trường nội trú Thụy Sĩ. Đôi khi, nhất là khi ở một mình trong phòng, nằm trên giường kéo chăn lên tận cằm, JT nghĩ có lẽ đấy chính là người phụ nữ y đã vô vọng tìm kiếm cả đời. Mình ở đây làm gì, y tự hỏi, nếu không phải để gặp nàng? Cái bộ phim tởm lợm không ai hiểu nổi của Mike có ý nghĩa gì nếu không phải là cơ hội cho mình đến cái xứ sở chết tiệt này đặng gặp nàng? Liệu chuyện Mike gọi cho mình đúng lúc mình đang thất nghiệp có ý nghĩa gì không? Rõ ràng là có! Nó có nghĩa là mình chẳng còn cách nào khác ngoài nhận lời đề nghị của hắn và nhờ đó mà gặp nàng. Bà chủ trang trại tên là Estela và JT có thể nhắc đi nhắc lại tên bà cho đến khi miệng y khô quắt lại. Estela, Estela, y lặp đi lặp lại, dưới chăn, như một con giun hay một con nhậy mất ngủ. Tuy nhiên, vào ban ngày, khi họ gặp gỡ hay nói chuyện với nhau, nhà quay phim luôn kín kẽ và thận trọng. Y không cho phép mình để lộ những cái nhìn khao khát, y không cho mình được thốt những lời bóng gió ẩn ý hay những lời ong bướm huê tình. Quan hệ giữa y với bà chủ nhà chưa một lần nào chệch khỏi lối mòn khắt khe của phép lịch sự và tương kính. Khi phim đã quay xong, bà chủ trang trại đề nghị lấy chiếc Bentley đưa vợ chồng Epstein và JT lên Buenos Aires, nhưng JT nói y muốn về cùng cả đội. Ba ngày sau vợ chồng Epstein để y lại sân bay và JT không dám hỏi thẳng họ về Estela. Y cũng chẳng hỏi gì về bộ phim. Ở New York y cố hết sức quên Estela mà không được. Những ngày đầu nhuốm nỗi u sầu nuối tiếc và JT nghĩ y sẽ chẳng bao giờ hồi phục. Nhưng mà: hồi phục khỏi cái gì? Tuy nhiên, thời gian trôi đi, trong thâm tâm y hiểu ra y đã chẳng mất gì mà lại được rất nhiều. Ít nhất, y tự nhủ, mình đã gặp được người phụ nữ của đời mình. Những người khác, hầu hết thiên hạ, chỉ thoáng thấy trong phim cái bóng của những nữ minh tinh, cái nhìn của tình yêu đích thực. Nhưng mình đã thấy nàng bằng xương bằng thịt, nghe giọng nói nàng, thấy dáng hình nàng in bóng trên thảo nguyên mênh mông. Mình nói chuyện với nàng và nàng cũng nói chuyện với mình. Mình còn gì để ta thán nữa? Trong khi đó, ở Buenos Aires, Mike dựng bộ phim tại một studio thuê theo giờ, cực rẻ, trên phố Corrientes. Một tháng sau khi việc quay phim hoàn tất, một nữ diễn viên trẻ trong đoàn đem lòng yêu một nhà cách mạng người Ý đang ghé chân qua Buenos Aires và bỏ theo anh này sang châu Âu. Chẳng ai biết tại sao, nhưng người ta nhỏ to rằng cô diễn viên này đã chết giữa khi bộ phim của Epstein đang quay, và ít lâu sau lại có tin đồn, mặc dù phải nhấn mạnh rằng chả ai coi đấy là nghiêm túc, rằng Epstein cùng ê kíp của anh ta đã giết cô. Theo dị bản này thì Epstein muốn quay một vụ giết người thật sự và nhằm mục đích này anh ta đã, với sự chấp thuận của các diễn viên khác trong đoàn làm phim - tất cả, ở đỉnh cao của sự điên rồ, chìm đắm trong những nghi lễ ma quỷ, chọn nữ diễn viên ít tiếng tăm nhất và yếu ớt nhất trong dàn diễn viên. Nghe được lời đồn này, Epstein bèn đích thân đi lưu truyền nó, và câu chuyện, với vài biến dị nhỏ, đến tai một số cộng đồng mê điện ảnh ở Hoa Kỳ. Năm sau đó bộ phim được công chiếu ở Los Angeles và New York. Thất bại thảm hại. Phim được lồng tiếng Anh, lộn xộn, kịch bản tồi, diễn xuất trời ơi đất hỡi. Epstein, bấy giờ đã về Mỹ, cố gắng khai thác yếu tố rùng rợn bệnh hoạn, nhưng một nhà bình luận truyền hình đã chỉ ra, nhận xét kỹ lưỡng từng khung hình một, rằng cảnh giết người được cho là thật kia kỳ thực là giả. Nhà phê bình kết luận rằng nữ diễn viên này xứng đáng chết vì diễn xuất tồi, nhưng chắc chắn là, ít nhất trong phim này, chẳng ai đủ sáng suốt mà trừ khử cô ta luôn. Sau Epstein còn làm thêm hai phim nữa, đều với kinh phí thấp. Clarissa, vợ anh ta, ở lại Buenos Aires, dọn đến sống chung với một nhà sản xuất phim người Argentina. Bồ mới của cô, một tay Peron chủ nghĩa, về sau trở thành thành viên tích cực trong một nhóm sát thủ ban đầu giết những ai theo Trotsky và chiến binh du kích rồi sau cùng đạo diễn sự biến mất của trẻ con và các bà nội trợ. Dưới thời độc tài quân sự, Clarissa về Mỹ. Một năm sau, đang quay bộ phim cuối cùng của mình (tên anh ta rốt cuộc không xuất hiện trong phần giới thiệu đoàn làm phim), Epstein chết vì rơi xuống một giếng thang máy. Tình trạng của cái xác sau khi rơi qua mười bốn tầng lầu, theo lời các nhân chứng, là không thể tả được.
♣ ♣ ♣
Tuần thứ hai của tháng Ba năm 1997, chuỗi tội ác lại bắt đầu với việc phát hiện ra một xác chết trên vùng sa mạc ở phía Nam thành phố được gọi là El Rosario trên bản đồ quy hoạch, nơi người ta dự định xây một khu dân cư gồm những căn nhà theo phong cách Phoenix. Cái xác bị chôn một nửa, cách năm mươi mét từ con đường cắt ngang El Rosario và giao với một con đường đất chạy từ mé phía Đông của hẻm núi Podestá. Nó được phát hiện bởi một nông dân bản địa cưỡi ngựa qua. Theo giám định pháp y, nguyên nhân tử vong là bị siết cổ, xương móng bị gãy. Mặc dù xác đang phân hủy, vẫn có thể thấy rõ những vết thương ở đầu, tay và chân, bị gây ra bởi một vật có đầu tù. Nạn nhân có lẽ cũng đã bị hãm hiếp. Dựa vào các loài sinh vật ăn xác chết tìm thấy trên xác mà đoán, thời điểm tử vong có lẽ là tuần đầu hoặc tuần thứ hai của tháng Hai. Không có giấy tờ tùy thân, tuy nhiên nhân dạng của đứa trẻ trùng với của Guadalupe Guzmán Prieto, mười một tuổi, mất tích chiều ngày 8 tháng Hai, ở quận San Bartolomé. Người ta tiến hành xét nghiệm nhân trắc và xét nghiệm răng nhằm xác định danh tính nạn nhân, kết quả dương tính. Sau đó người ta giám định pháp y thêm lần nữa và xác nhận tình trạng chấn thương sọ não cũng như xuất huyết, tụ máu ở cổ và gãy xương móng. Theo một trong các thanh tra đảm trách vụ này, có khả năng kẻ giết người đã dùng tay treo cổ con bé. Người ta còn thấy chấn thương ở đùi phải và cơ sau đùi. Cha mẹ đứa trẻ mất tích đã xác nhận đây là thi thể con gái Guadalupe của họ. Theo La Voz de Sonora, xác được bảo quản tốt nên thuận lợi cho việc nhận diện, da cái xác khô đi tuồng như thứ đất cằn màu vàng ở El Rosario là một phương tiện ướp xác.
♣ ♣ ♣
Bốn ngày sau khi xác Guadalupe Guzmán Prieto được phát hiện, người ta thấy xác Jazmín Torres Dorantes, cũng mười một tuổi, ở sườn Đông đồi Estrella. Nguyên nhân tử vong được xác định là giảm thể tích huyết, do hơn mười lăm vết đâm của kẻ hay những kẻ đã tấn công con bé. Xét nghiệm âm hộ và hậu môn cho thấy con bé đã bị hãm hiếp nhiều lần. Xác mặc quần áo đầy đủ: áo pull vải ka ki, quần jean màu xanh da trời và giày thể thao rẻ tiền. Cô bé sống ở khu phía Tây thành phố, quận Morelos, bị bắt cóc hai mươi ngày trước, tuy nhiên vụ này chưa được đưa tin trên . báo chí. Cảnh sát bắt tám thanh niên ở quận Estrela, thành viên một băng chuyên ăn cắp xe hơi và buôn ma túy dạng cò con, được cho là thủ phạm vụ này. Ba tên được chuyển sang tòa trẻ vị thành niên còn năm tên bị đưa vào nhà tù Santa Teresa mặc dù không có bằng chứng thuyết phục nào chống lại chúng.
♣ ♣ ♣
Hai ngày sau khi Jazmín được phát hiện, tại một dải đất hoang phía Tây khu công nghiệp General Sepúlveda, một đám trẻ con bắt gặp xác chết cứng đơ của Carolina Fernández Fuentes, mười chín tuổi, công nhân nhà máy WS-Inc. Theo chuyên viên pháp y, cô bị giết đã được hai tuần. Xác trần truồng, tuy nhiên cách cái xác mười lăm mét, người ta tìm thấy một cái áo ngực màu xanh da trời dính máu, còn cách năm chục mét là một cái quần tất giấy màu đen. Khi được hỏi, bạn sống chung phòng với Carolina, cũng là công nhân tại WS-Inc., nói rằng cái áo ngực là của người chết nhưng quần tất thì chắc chắn không phải của ai trong hai người họ, bởi cô bạn gái kia và người bạn cùng phòng yêu quý chỉ mặc quần lót chứ chẳng bao giờ dùng quần tất, vì quần tất hợp với gái điếm chứ không hợp với công nhân nhà máy. Tuy nhiên, khi xét nghiệm máu thì hóa ra vết máu của Carolina Fernández Fuentes dính trên cả quần tất lẫn áo ngực, dẫn đến lời đồn Carolina sống cuộc sống hai mặt, hoặc vào cái đêm bị giết cô đã tình nguyện tham dự một cuộc làm tình tập thể, bởi người ta cũng tìm thấy dấu vết tinh dịch trong âm đạo và trực tràng cô. Trong hai ngày người ta thẩm vấn một số đàn ông ở WS-Inc. xem họ có khả năng liên hệ gì tới người chết hay không, nhưng không có kết quả. Cha mẹ Carolina, dân thị trấn San Miguel de Horcasitas, vượt đường xa đến Santa Teresa, không đưa ra tuyên bố gì. Họ nhận xác con gái, ký các giấy tờ được đặt trước mặt rồi đi xe buýt về Horcasitas mang theo di hài của Carolina. Nguyên nhân tử vong là năm nhát đâm vào cổ. Theo các chuyên gia, cô bị giết ở nơi khác chứ không phải nơi người ta tìm thấy xác cô.
♣ ♣ ♣
Ba ngày sau khi phát hiện xác Carolina, trong tháng Ba đầy oan nghiệt năm 1997, một cô gái tầm mười sáu hai mươi tuổi được tìm thấy trên một bãi đá gần xa lộ Pueblo Azul. Xác đang trong quá trình phân hủy mạnh, nên người ta cho rằng cô đã chết ít nhất mười lăm ngày. Cô trần truồng, chỉ đeo đôi hoa tai bằng đồng hình con voi nhỏ. Một số gia đình có con gái và phụ nữ mất tích được đưa đến nhìn xác, nhưng không ai nhận diện cô là con gái, chị em ruột, chị em họ hay vợ mình. Theo chuyên viên pháp y, vú phải nạn nhân bị xẻo còn núm vú trái bị rứt đứt, có thể do cắn hoặc dùng dao, tuy nhiên do tình trạng phân rã của xác nên không thể chắc chắn được. Nguyên nhân tử vong: gãy xương móng.
♣ ♣ ♣
Vào tuần cuối tháng Ba, một bộ xương phụ nữ được phát hiện cách xa lộ Cananea chừng bốn trăm mét, gần như ngay giữa sa mạc. Người phát hiện là ba sinh viên và một giáo sư khoa Sử tại Đại học Los Angeles, đang trên đường đi du lịch bằng xe máy khắp miền Bắc Mexico. Theo mấy người Mỹ này, họ đã rẽ vào con đường đất định tìm một ngôi làng của người Yaqui và rồi bị lạc đường. Theo cảnh sát Santa Teresa, mấy người Mẽo rời khỏi đường cái là để thực hiện những hành vi đồi bại, tức là để phịch nhau, thế nên họ tống cả bốn vào xà lim đặng chờ tình hình. Đêm đó, khi các sinh viên cùng ông thầy đã bị giam hơn tám giờ, Epifanio Galindo đến đồn cảnh sát yêu cầu họ kể lại câu chuyện. Mấy người Mỹ nhắc lại câu chuyện và còn vẽ cả một bản đồ chỉ rõ vị trí chính xác họ bắt gặp cái xác chôn phân nửa. Khi được hỏi liệu họ có lầm xương bò hay xương chồn với xương người không, ông giáo sư liền đáp làm gì có con thú nào, có chăng chỉ trừ động vật linh trưởng, có cái sọ người. Giọng điệu ông ta chọc giận Epifanio, và anh liền quyết định ngay ngày mai sẽ đến tận hiện trường, từ sáng tinh mơ, cùng với mấy người Mẽo, có nghĩa là để vụ việc xuôi chèo mát mái thì mấy người Mẽo phải trong tư thế sẵn sàng, hay nói cách khác là trở thành khách của cảnh sát Santa Teresa, dù dĩ nhiên là vẫn ở ngay trong xà lim của họ, ấy là chưa kể họ sẽ được người ta trích quỹ công ra cho ăn, không phải thứ xúp loãng hạng bét của nhà tù mà là thức ăn hẳn hoi do một cảnh sát mua về từ quán ăn gần nhất. Và mặc cho mấy người nước ngoài phản đối, thế thì phải thế. Ngày hôm sau, Epifanio Galindo, vài cảnh sát, hai thanh tra, cùng với mấy người Mỹ đến nơi phát hiện xác, một chỗ được gọi là El Pajonal, Đồng cỏ, một cái tên rõ ràng biểu thị khát vọng tương lai chứ không phải thực tại, bởi vì gần đấy chẳng có đồng cỏ cũng chẳng có thứ gì giông giống đồng cỏ, chỉ độc sa mạc và đá và đây đó những cây bụi màu lục pha xám chỉ nhìn thấy thôi cũng đủ não lòng. Ở đấy, vùi quấy quá, chính nơi mấy người Mỹ đã chỉ ra trên bản đồ, họ thấy bộ xương. Theo chuyên viên pháp y, nạn nhân là một phụ nữ trẻ bị gãy xương móng. Cô không mặc quần áo, không đi giày, cũng chẳng có gì giúp xác định danh tính. Hoặc chúng mang cái xác trần truồng đến đây hoặc chứng lột hết quần áo rồi chôn xác, Epifanio nói. Anh gọi thế này là chôn à? chuyên viên pháp y hỏi. Ừ thì, không, chúng không chịu bỏ công, Epifanio nói, chúng không chịu bỏ công.
♣ ♣ ♣
Ngày hôm sau người ta thấy xác Elena Montoya, hai mươi tuổi, ở ven một hương lộ dẫn từ nghĩa trang tới nông trại La Cruz. Cô đã biến mất khỏi nhà ba ngày và người ta đã lập hồ sơ mất tích. Xác có nhiều vết đâm vào vùng cơ hoành, cổ tay cổ chân trầy trụa và cổ bầm tím, đầu bị thương do một vật có đầu tù, có thể là búa hoặc hòn đá. Vụ này được thanh tra Lino Rivera đảm trách và việc đầu tiên ông này làm là thẩm vấn chồng của người chết, Samuel Blanco Blanco, anh này bị điều tra suốt bốn ngày liền, sau đó được thả vì thiếu bằng chứng. Elena Montoya làm việc ở nhà máy Cal&Son và có một con trai ba tháng tuổi.
♣ ♣ ♣
Ngày cuối tháng Ba, mấy đứa trẻ nhặt rác phát hiện một xác chết ở bãi rác Chile, trong tình trạng phân hủy hoàn toàn. Những gì còn lại được đưa tới Viện Giải phẫu Pháp y thành phố, tuân theo mọi thủ tục thông thường. Kết quả là nạn nhân khoảng từ mười lăm đến hai mươi tuổi. Theo chuyên viên pháp y, cô chết đã được hơn mười hai tháng, không thể xác định nguyên nhân tử vong. Tuy nhiên thông tin này vẫn thu hút sự chú ý của gia đình González Reséndiz ở Guanajuato, có con gái mất tích trong quãng thời gian đó, thế là cảnh sát Guanajuato yêu cầu cảnh sát Santa Teresa gửi báo cáo pháp y về nạn nhân ở Chile, đặc biệt nhấn mạnh bằng chứng về răng. Khi đã nhận được bằng chứng, người ta xác định được nạn nhân là Irene González Reséndiz, mười sáu tuổi, bỏ trốn khỏi nhà vào tháng Một năm 1996 sau khi cãi nhau với gia đình. Cha cô là một nhà chính trị nổi tiếng thuộc đảng PRI ở địa phương và mẹ cô đã lên một chương trình truyền hình được nhiều người ưa thích, nói trực tiếp trước ống kính, van xin con gái hãy về nhà. Thậm chí một tấm ảnh cỡ ảnh passport của Irene còn được in lên nhãn các chai sữa, kèm mô tả ngoại hình cô và số điện thoại. Chẳng cảnh sát Santa Teresa nào từng thấy tấm ảnh. Chẳng cảnh sát Santa Teresa nào uống sữa. Trừ Lalo Cura.
♣ ♣ ♣
Ba chuyên viên pháp y của Santa Teresa chẳng ai giống ai. Người có tuổi nhất, Emilio Garibay, to béo và bị suyễn. Thỉnh thoảng ông lên cơn suyễn tại nhà xác, lúc đang giải phẫu pháp y, và ông lờ nó đi. Nếu Doña Isabel, trợ lý của ông, đang ở gần đấy, bà sẽ lấy lọ thuốc xịt từ túi chiếc áo khoác ông treo trên giá, và Garibay sẽ há mồm, như con chim non, để Isabel xịt cho một liều. Nhưng khi chỉ có một mình thì ông phớt lờ mà cứ thế làm việc. Ông sinh ở Santa Teresa và tất cả mọi thứ dường như đều chỉ ra rằng ông sẽ chết ở đấy. Dòng họ ông thuộc tầng lớp địa chủ thượng trung lưu, nhiều người đã giàu lên nhờ bán những lô đất cằn sa mạc cho các nhà máy để họ mở xưởng ở bên này biên giới từ hồi thập niên tám mươi. Tuy nhiên, Emilio Garibay chẳng bán gì. Hoặc không nhiều. Ông là giáo sư trường Y, và trên cương vị chuyên viên pháp y thì thật không may là ông chẳng bao giờ thiếu việc, thành thử ông chả còn thì giờ đâu cho những thứ khác, như kinh doanh chẳng hạn. Ông là người vô thần và đã nhiều năm không đọc cuốn sách nào, mặc dù ở nhà ông có cả một thư viện bề thế với các sách thuộc chuyên ngành của ông, cũng như những trước tác về triết học về lịch sử Mexico và một hai cuốn tiểu thuyết. Đôi khi ông nghĩ chính bởi là người vô thần nên ông mới không đọc sách nữa. Người ta bảo không đọc sách là biểu hiện cao nhất của vô thần hay ít nhất là vô thần theo cách hiểu của ông. Nếu anh không tin ở Thượng đế thì làm sao anh có thể tin ở một cuốn sách trời ơi đất hỡi? ông nghĩ.
Tên của chuyên viên pháp y thứ hai là Juan Arredondo, quê ở Hermosillo, thủ phủ bang Sonora. Khác với Garibay từng học ở thủ đô, Juan lấy bằng ở trường Y thuộc Đại học Hermosillo. Ông bốn lăm tuổi, lấy vợ là người Santa Teresa gốc và có với bà này ba mặt con, về chính trị thì ông có cảm tình với phe cánh tả, với PRD, mặc dù ông chưa bao giờ hoạt động tích cực trong đảng. Cũng như Garibay, ông vừa làm chuyên viên pháp y vừa dạy ở Đại học Santa Teresa, được sinh viên yêu mến, coi ông là bạn chứ không chỉ là thầy. Sở thích của ông là xem tivi và ăn ở nhà với gia đình, tuy nhiên hễ có lời mời dự hội nghị hội thảo ở nước ngoài nào là ông lại phát cuồng lên và không từ biện pháp nào để giành cho được một suất. Trưởng khoa, vốn là bạn của Garibay, coi thường Arredondo, và thỉnh thoảng, thuần túy do khinh miệt, quẳng cho ông một khúc xuơng. Kết quả là Arredondo đã ba lần sang Mỹ, một lần sang Tây Ban Nha, một lần sang Costa Rica. Một lần ông đại diện cho Viện Giải phẫu Pháp y và Đại học Santa Teresa dự một hội nghị chuyên đề ở Medellín, Colombia, và khi quay về ông trở thành một người khác. Chúng ta chả biết mô tê gì về những chuyện đang diễn ra ở đó, ông bảo vợ, rồi không bao giờ nhắc chuyện đó nữa.
Chuyên viên pháp y thứ ba là Rigoberto Frías, ba hai tuổi. Anh là dân Irapuato, bang Irapuato, một dạo làm ở thủ đô, rồi đột ngột bỏ việc không một lời giải thích. Anh đã sống ở Santa Teresa hai năm, được thuê theo lời giới thiệu của một bạn học cũ của Garibay, và, theo các đồng nghiệp, anh là người chi li cẩn thận, lành nghề. Anh làm trợ giảng ở trường Y và sống một mình trên một con phố yên tĩnh ở quận Seratín Garabito. Căn hộ của anh nhỏ nhưng bày biện có gu. Anh có nhiều sách và gần như không có bạn. Ngoài giờ học anh chả mấy khi nói chuyện với sinh viên, chẳng giao du với ai, ít nhất là trong giới đại học. Đôi khi, theo Garibay đề nghị, ba chuyên viên pháp y gặp nhau ăn điểm tâm lúc sáng sớm. Vào giờ đó, chỗ duy nhất mở cửa là một quán cà phê kiểu Mỹ mở suốt ngày đêm, nơi tề tựu tất cả những người thức trắng đém quanh đó: hộ lý và y tá bệnh viện General Sepúlveda, lái xe cứu thương, thân nhân và bạn bè các bệnh nhân, gái điếm, sinh viên. Quán cà phê tên là Runaway và trên vỉa hè, cạnh một trong các cửa sổ, có một lỗ thông hơi phụt ra từng cuộn hơi nước. Bảng hiệu của Runaway màu xanh lục và đôi khi hơi nước cũng nhuốm màu xanh lục, một màu xanh ngắt, giống như rừng nhiệt đới, và cứ hễ Garibay nhìn thấy nó là ông lại nói, lần nào cũng như lần nào: mẹ kiếp, đẹp chưa kìa. Rồi ông không nói gì thêm và ba chuyên viên pháp y ngồi đợi hầu bàn, một đứa con gái mới lớn mũm mĩm da ngăm dân xứ Aguascalientes, theo họ nghe nói, và cô này sẽ bưng cà phê đến cho họ hỏi họ ăn gì. Thường thì anh Frías trẻ tuổi gần như chả ăn gì, nhiều lắm là một cái bánh donut. Arredondo thường gọi một miếng bánh ngọt phết kem. Garibay thì bít tết tái. Trước đấy ít lâu Arredondo có bảo ông món ấy rất không tốt cho khớp của ông. Ở tuổi ông thì không nên, ông kia nói. Arredondo không còn nhớ câu trả lời của Garibay, nhưng nó thẳng thừng và súc tích. Trong khi chờ người ta đem bữa sáng lên, mấy chuyên viên pháp y ngồi im, Arredondo nhìn hai mu bàn tay mình, như thể tìm vài giọt máu li ti nào đấy, Frías nhìn chằm chằm xuống bàn hoặc dán mắt lên trần sơn màu hoàng thổ của quán Runaway, còn Garibay nhìn đường phố và dăm chiếc xe qua lại. Đôi khi, hiếm hoi lắm, hai sinh viên làm thêm, trợ lý phòng thí nghiệm hoặc trợ lý văn phòng, nhập hội với họ, và họ trò chuyện nhiều hơn một chút, song theo nguyên tắc chung thường là họ ngồi im, chìm sâu trong cái mà Garibay gọi là sự biết chắc mình đã hoàn thành tốt công việc. Thế rồi mỗi người trả tiền phần mình và đi ra phố như những con kền kền, đến ca của ai thì người ấy quay trở về viện, còn hai người kia xuống hầm để xe và chia tay mà chẳng chào tạm biệt, và ít phút sau một chiếc Renault chạy ra, Arredondo siết vô lăng bằng cả hai tay, biến vào trong thành phố, rồi ngay sau đó một chiếc xe khác chạy ra, chiếc Grand Marquis của Garibay, và đường phố nuốt gọn nó như một lời than vãn thường ngày.
♣ ♣ ♣
Cũng vào tầm giờ ấy, các cảnh sát vừa hết ca trực gặp nhau ăn sáng ở Trejo, một quán cà phê dài có ít cửa sổ, nhìn giống cỗ áo quan. Họ uống cà phê và ăn huevo ranchero hoặc trứng với giăm bông hoặc trứng bác. Và họ kể chuyện cười. Đôi khi chúng đơn điệu, mấy chuyện cười ấy. Và nhiều chuyện trong số ấy là về đàn bà. Chẳng hạn, một cảnh sát nói: người đàn bà hoàn hảo là thế nào? Chắc là cao nửa mét, tai to, đầu bẹt, không răng, xấu ma chê quỷ hờn. Tại sao? Bởi vì chỉ nửa mét nên cô nàng cao đến thắt lưng anh, tai to nên anh có thể lèo lái cô nàng, đầu bẹt để anh có chỗ mà đặt cốc bia, không răng để cô nàng không cắn cái củ của anh được, và xấu ma chê quỷ hờn để khỏi có thằng chó nào cuỗm đi cả. Vài người cười rộ. Những người khác tiếp tục ăn trứng uống cà phê. Và người kể câu chuyện đầu tiên kể tiếp. Anh ta hỏi: tại sao đàn bà không biết trượt tuyết? Im lặng. Là vì tuyết chả bao giờ rơi trong bếp. Vài người không hiểu. Hầu hết cảnh sát cả đời chưa trượt tuyết bao giờ. Bởi làm sao anh trượt tuyết giữa sa mạc được? Nhưng vài người cười. Rồi người kể chuyện nói: nào, anh em, định nghĩa thế nào là đàn bà cho tôi nghe coi. Im lặng. Và câu trả lời là: một búi tế bào ít nhiều có tổ chức bao quanh một cái âm hộ. Thế là ai đó cười rộ, một thanh tra, hay lắm, González, một búi tế bào, đúng thế đấy, thưa ngài. Rồi một chuyện cười khác, lần này mang tính quốc tế: tại sao Nữ thần Tự do lại là đàn bà? Vì họ cần một cái đầu rỗng đặng làm đài quan sát. Rồi một chuyện nữa: óc đàn bà chia thành mấy phần? Còn tùy, anh em à. Tùy cái gì, González? Tùy anh đánh cô ả mạnh cỡ nào. Được đà González dấn tới: tại sao đàn bà không thể đếm đến bảy chục? Tại vì đếm đến sáu mươi chín là mồm các mụ đầy rồi. Và không chịu dừng lại: cái gì ngu hơn một thằng đàn ông ngu? (Cái này thì dễ.) Thì một đàn bà thông minh. Và còn tợn nữa: tại sao đàn ông không cho đàn bà mượn xe? Vì chả có con đường nào đi từ phòng ngủ đến bếp sất. Và cũng cùng điệu ấy: đàn bà làm gì ngoài bếp? Thì đợi cho sàn khô. Và một biến tấu: ta gọi một nơ ron trong não đàn bà là gì? Một khách du lịch. Và rồi thanh tra nọ lại cười ha hả nói cừ quá González, cha chả là tuyệt, nơ ron, phải thưa ngài, khách du lịch, chao ôi là tuyệt. Và González, không hề mệt mỏi, tiếp tục: làm cách nào anh chọn ra được ba ả đàn bà ngu nhất thế gian? Chọn hú họa. Hiểu chửa? Hú họa! Chả có gì khác nhau sất! Và: anh cho ả đàn bà thêm nhiều tự do hơn bằng cách nào? Cho ả ta căn bếp to hơn. Và: làm cách nào anh cho ả đàn bà càng nhiều tự do hơn nữa? Nối thêm dây vào cái bàn là. Và: ngày của đàn bà là ngày nào? Ngày ít được trông đợi nhất. Và: một ả đàn bà bị đạn bắn vào đầu thì sau bao lâu mới chết? Bảy hoặc tám tiếng đồng hồ, còn tùy viên đạn phải mất bao lâu mới tìm thấy não. Não, vâng, thưa quý ngài, vị thanh tra tủm tỉm cười. Và nếu có ai trách González kể toàn những chuyện trọng nam khinh nữ, González đáp rằng trọng nam khinh nữ nhất hạng là Chúa Trời, chính ngài đã tạo ra đàn ông chúng ta hơn hẳn đàn bà. Rồi anh ta tiếp: một ả đàn bà mất chín chín phần trăm IQ thì gọi là gì? Là mất tiếng. Và: não một ả đàn bà làm gì trong một muỗng cà phê? Trôi trong ấy. Rồi: tại sao đàn bà có nhiều hơn chó một nơ ron? Là để khi nào cọ buồng tắm thì các mụ đừng có uống nước trong bồn cầu. Rồi: khi một tay đàn ông quẳng một ả đàn bà ra ngoài cửa sổ thì đấy là hắn đang làm gì? Đang làm ô nhiễm môi trường. Rồi: đàn bà giống quả bóng mềm như thế nào? Ta đánh ả càng mạnh thì ả quay trở lại càng nhanh. Rồi: tại sao nhà bếp có cửa sổ? Để cho đàn bà nhìn thấy thế gian. Cứ thế cho đến khi González mệt lử liền lấy một cốc bia ngồi phịch xuống ghế và các cảnh sát khác thì lại tiếp tục chú tâm vào món trứng. Trong khi đó vị thanh tra nọ, kiệt sức sau đêm làm việc, tự hỏi có bao nhiêu sự thực của Chúa ẩn trong các chuyện tiếu lâm thường tình của dân gian. Đoạn ông gãi bụng và buông khẩu Smith &Wesson model 686, nặng hơn ký xuống chiếc bàn nhựa, phát ra một âm thanh đùng đục như tiếng sấm xa khi nó chạm mặt bàn, thu hút sự chú ý của năm sáu cảnh sát gần nhất, họ đang lắng nghe, không, họ vừa thoáng thấy những lời của ông, lời mà vị thanh tra định nói, tuồng như họ là những công nhân lạc trong sa mạc và họ vừa thoáng thấy một ốc đảo hay một thị trấn hay một bầy ngựa hoang. Sự thật của Chúa, ông thanh tra nói. Thằng chó chết nào đã nghĩ ra những chuyện tiếu lâm? ông thanh tra hỏi. Những thành ngữ? Chúng chui ra từ chỗ chết tiệt nào? Ai là kẻ đầu tiên nghĩ ra thứ ấy? Ai là kẻ đầu tiên kể nó ra? Và sau một thoáng im lặng, mắt nhắm, tuồng như đã ngủ, ông thanh tra mở hé mắt trái nói: nghe lời gã chột này đi, lũ khốn. Con đường của phụ nữ nằm giữa bếp và giường, nửa chừng có một trận nhừ đòn. Hoặc ông nói: phụ nữ cũng như luật pháp, sinh ra là để bị người ta xâm phạm. Lần này mọi người cùng cười. Tiếng cười như tấm chăn lớn bên trên cái quần dài thượt, tuồng như các cảnh sát đang lăn qua lật lại cái chết trong chăn ấy. Dĩ nhiên không phải ai cũng cười. Một số người, ở những bàn xa nhất, đang vét sạch món trứng ớt hoặc trứng thịt hoặc trứng đậu của mình, lặng lẽ hoặc chuyện trò với nhau, về việc riêng của mình, cách khỏi những người kia. Họ ngồi ăn, chồm tới trước tì tay lên bàn trong thống khổ và hoài nghi, có thể nói vậy. Họ chồm tới trước tì tay lên bàn ngẫm về những vấn đề cốt tử chẳng đưa ta đến đâu. Đờ đẫn vì ngủ: tức là quay lưng lại những tiếng cười mời gọi vào một giấc ngủ khác. Trong lúc đó: tì lên một góc xa quầy bar, những người khác uống, chẳng nói năng gì, chỉ nhìn cảnh nhí nhố kia, hoặc lầm bầm toàn đồ rác rưởi, hoặc chẳng lầm bầm gì, chỉ chụp trong tâm trí mình ảnh những cảnh sát và thanh tra hư đốn nọ.
♣ ♣ ♣
Vào buổi sáng với những câu chuyện tiếu lâm về phụ nữ ấy chẳng hạn, khi González cùng đồng sự, cảnh sát tuần tra Juan Rubio, rời quán Trejo, Lalo Cura đang chờ họ. Và khi González cùng tay đồng sự cố giãy cậu ra, Epifanio từ trong góc bước ra bảo tốt hơn hết họ hãy lắng nghe cậu nhóc. Juan Rubio nói họ đã làm việc suốt đêm, mệt lắm rồi và Epifanio là cái thá gì mà bảo họ làm này làm kia. Loại chuyện này được cảnh sát Santa Teresa khoái chả khác gì chuyện tiếu lâm về phụ nữ. Thật ra còn khoái hơn nhiều. Hai chiếc xe chạy đến một nơi vắng vẻ. Chạy chậm. Xét cho cùng, đạp nhau phọt cứt thì việc gì phải vội. Đi đầu là xe González, theo sau vài mét là xe Epifanio. Họ bỏ lại phía sau những con phố đường nhựa và những tòa nhà quá ba tầng. Họ nhìn qua cửa sổ xe ngắm mặt trời mọc. Họ đeo kính râm vào. Từ một trong hai xe vang ra bản tin về sự kiện này, và chẳng mấy chốc sau khi họ tới chỗ cánh đồng, chừng chục xe cảnh sát nữa xuất hiện. Đám đàn ông xuống xe mời nhau hút thuốc hoặc cười nói hoặc đá đá mấy hòn đá. Những người mang rượu thì nốc từng ngụm rồi đưa ra những bình luận hồn nhiên về thời tiết hay về những việc riêng giữa họ với nhau. Sau chừng nửa tiếng tất cả xe đều rời khỏi đó, bỏ lại một đám mây bụi vàng treo trong không khí.
♣ ♣ ♣
Kể dòng giống nhà mày ra cho tao nghe coi, mấy tên chó chết nói. Liệt kê cây gia phả nhà mày ra đi, những thằng khốn nạn nói. Đồ rác rưởi tự thổi kèn. Lalo Cura không nổi khùng. Thằng pê đê chó đẻ. Kể tao nghe mấy cái gia huy nhà mày coi. Đủ rồi. Thằng oắt đang bùng lên đó. Song không nổi khùng. Tôn trọng bộ đồng phục. Đừng có tỏ ra mày teo hay mày quỷnh, cứ giữ cái mặt lạnh như tiền cho tao. Có những đêm, trong ánh đèn tù mù của nhà trọ rẻ tiền, khi đã để mấy cuốn sách về tội phạm học sang bên (đừng có làm mất đó nghe nhóc), chóng mặt vì bao nhiêu là dấu vân tay, vết máu và tinh dịch, các nguyên tắc của khoa độc tố học, điều tra các vụ ăn cắp, đột nhập tư gia cướp của, dấu chân, cách phác họa và chụp ảnh hiện trường tội ác, lơ mơ, chông chênh giữa ngủ và thức, cậu nghe thấy hay nhớ lại những giọng nói kể cho cậu nghe về tổ tiên của dòng họ Expósito, lật ngược cây gia phả về tận năm 1865, khi đứa trẻ mồ côi vô danh, mười lăm tuổi, bị một lính Bỉ hãm hiếp trong một căn nhà một buồng bằng gạch không nung ở ngoại ô Villaviciosa. Ngày hôm sau tên lính bị cắt cổ và chín tháng sau một bé gái ra đời, được đặt tên là María Expósito. Cô gái mồ côi, bậc tổ tiên, giọng ấy nói hoặc các giọng ấy thay nhau nói, chết sau khi sinh và đứa bé lớn lên trong chính căn nhà nơi nó đã được thụ thai, căn nhà vốn đã trở thành sở hữu của một số nông dân nhận nuôi nấng con bé. Năm 1881, khi María Expósito mười lăm tuổi, trong dịp lễ hội San Dimas, một gã say từ thị trấn khác tới mang cô bé đi trên lưng ngựa, gân cổ hát: Bọn này là của khỉ gì đấy/ Dimas nói với Gestas. Trên triền một ngọn đồi nhìn giống như con khủng long hay con quái vật Gila, gã hãm hiếp cô mấy lần rồi đi mất. Năm 1882, María Expósito sinh một đứa con gái được rửa tội với tên María Expósito Expósito, giọng nói kia tiếp tục, và đứa bé này là điều kỳ diệu của nông dân vùng Villaviciosa. Từ khi còn rất bé cô đã tỏ ra có trí tuệ và sinh lực hơn người, và mặc dù chưa từng học đọc học viết song cô nổi tiếng là người thông thái, am hiểu về cây cỏ và các loại thuốc mỡ. Năm 1898, sau khi biến mất bảy ngày, một sáng nọ María Expósito xuất hiện ở quảng trường Villaviciosa, một chỗ trống lộng giữa trung tâm thị trấn, một cánh tay bị gãy và cả người thâm tím. Cô chẳng bao giờ chịu giải thích đã có chuyện gì, các bà già chăm nom cô cũng không một mực đòi cô kể. Chín tháng sau một bé gái ra đời, được đặt tên María Expósito, và mẹ cô, không bao giờ lấy chồng cũng không có thêm con cái cũng chẳng sống chung với người đàn ông nào, liền dẫn dắt cô vào những bí mật của nghề chữa bệnh. Nhưng cô bé María Expósito chỉ giống mẹ ở chỗ tốt nết, một phẩm chất mà tất cả María Expósito quê Villaviciosa đều có, mặc dù người thì trầm lặng người thì hay nói, nhưng tựu chung tất cả đều hiền lành phúc hậu và có tinh thần mạnh mẽ hầu vượt qua những thời kỳ tàn bạo hoặc khốn cùng. Song thời thơ ấu và tuổi niên thiếu của cô bé María Expósito này thong dong vô tư lự hơn so với của mẹ và bà ngoại. Năm 1914, mười sáu tuổi, cô suy nghĩ và hành động vẫn như một cô bé, công việc duy nhất là tháp tùng mẹ mỗi tháng một lần đi tìm cây thuốc quý và giặt giũ quần áo ở phía sau nhà, trong một cái máng gỗ cũ, chứ không phải ở nhà giặt công cộng vì quá xa. Ấy là năm mà đại tá Sabino Duque (bị bắn chết năm 1915 vì tội hèn nhát) đến thị trấn này tìm những người gan dạ - đàn ông Villaviciosa vốn có tiếng là gan dạ hơn bất cứ ai - để chiến đấu cho cách mạng. Vài thanh niên trong thị trấn tham gia. Một trong số đó, cho đến lúc ấy vẫn chỉ được María Expósito coi như bạn thỉnh thoảng chơi cùng, trạc tuổi cô và cũng có vẻ ngây thơ như cô, quyết định tỏ tình với cô vào đêm trước khi cậu đi chiến đấu. Nhằm mục đích này cậu chọn một kho thóc chẳng ai còn dùng nữa (dân Villaviciosa cứ ngày một nghèo hơn) và khi lời tỏ tình của cậu chỉ khiến cô cười ngặt nghẽo cậu liền hiếp cô ngay tại đấy, một cách tuyệt vọng và vụng về. Sáng ra, trước khi đi, cậu hứa sẽ quay về cưới cô, nhưng bảy tháng sau cậu chết trong một trận đánh nhỏ với quân đội liên bang và cả người lẫn ngựa bị dòng Sangre de Cristo cuốn đi mất. Thế nên cậu chẳng bao giờ quay lại Villaviciosa, như biết bao chàng thanh niên khác đã tham chiến hoặc làm lính đánh thuê, những chàng thanh niên chẳng ai còn biết tung tích hoặc chỉ xuất hiện đây đó trong những câu chuyện có thể đúng mà cũng có thể không. Dù sao đi nữa, chín tháng sau María Expósito Expósito ra đời, và María Expósito trẻ, nay đã là mẹ, bắt đầu đến các thị trấn lân cận bán thuốc do mẹ cô chế ra cùng trứng của gà nhà và kiếm được cũng khá. Năm 1917 gia đình Expósito gặp một chuyện không bình thường: María, sau một trong những chuyến đi ấy, lại có thai và lần này sinh một bé trai. Cậu được đặt tên là Rafael. Mắt cậu màu xanh lục như mắt ông cố nội người Bỉ còn cái nhìn của cậu có vẻ gì kỳ lạ, cũng sự kỳ lạ mà những người ngoài nhận thấy ở cái nhìn của cư dân Villaviciosa: cái nhìn đùng đục, chằm chằm của những kẻ giết người. Những lần hiếm hoi được hỏi cha thằng bé là ai, María Expósito, vốn đã dần dần học được lối ăn nói và phong cách phù thủy của mẹ cô, mặc dù cô chẳng làm gì khác ngoài bán thưốc, sờ sẩm những chai lọ đựng cao chống phong thấp với những bình thuốc trị dãn tĩnh mạch, liền trả lời rằng cha nó là quỷ và Rafael cha như hai giọt nước. Năm 1934, sau một đêm chè chén hoành tráng đậm chất sử thi Homer, tay đấu bò Celestino Arraya cùng đám bạn chí thân ở câu lạc bộ Los Charros de la Muerte đến Villaviciosa lúc sáng tinh mơ và lấy phòng ở một quán trọ nay không còn nữa nhưng thời đó vẫn có giường dành cho khách qua đường. Họ gào thét đòi thịt dê quay và được ba cô gái làng dọn lên cho. Một trong ba cô này là María Expósito. Mười hai giờ trưa hôm sau họ đi và ba tháng sau María Expósito thưa thật với mẹ rằng cô sắp có con. Cha nó là ai? em trai cô hỏi. Cánh phụ nữ im lặng, thế là cậu trai liền quyết tự mình lần mò truy lại đường đi nước bước của chị mình. Một tuần sau Rafael Expósito thuê một khẩu súng trường rồi cuốc bộ đến Santa Teresa. Cả đời cậu chưa bao giờ đến chỗ nào lớn đến thế và những con đường nhựa, nhà hát Carlota, các rạp chiếu phim, tòa nhà thị chính và các cô điếm hồi đó vẫn hay đứng đường ở quận Mexico, ngay cạnh biên giới và gần thị trấn El Adobe bên phía Hoa Kỳ, tất cả đều khiến cậu vô cùng sửng sốt. Cậu quyết định nán lại ba ngày ở thành phố này cho quen phố quen đường, trước khi thực hiện mục đích. Ngày đầu tiên cậu tìm những nơi Celestino Arraya hay lui tới và kiếm chỗ ngủ miễn phí. Cậu phát hiện ra ở một số khu phố ban đêm cũng chả khác ban ngày và cậu tự hứa sẽ không ngủ. Đến ngày thứ hai, trong khi cậu đang đi đi lại lại dọc con phố của các gái ăn sương, một cô ả Yucatán thâm thấp dáng người cân đối, tóc đen huyền dài đến thắt lưng, dấy lòng thương hại liền đưa cậu về nhà mình. Trong phòng trọ cô nấu cháo cho cậu ăn rồi hai người làm tình đến khuya. Với Rafael Expósito ấy là lần đầu tiên. Khi họ chia tay cô điếm bảo cậu chờ cô trong phòng, hoặc nếu cậu ra ngoài thì chờ ở quán cà phê nơi góc phố hoặc chờ ở cầu thang. Cậu nhóc bảo cậu yêu cô thế là cô điếm hân hoan rời đi. Ngày thứ ba họ đến nhà hát Carlota nghe các bản tình ca của Pajarito de la Cruz, nghệ sĩ trovador người Dominica đang lưu diễn ở Mexico, và các bản ranchera của José Ramírez, nhưng cái cậu nhóc thích nhất là các cô gái trong dàn đồng ca và tiết mục thần kỳ của một nhà ảo thuật Trung Quốc từ Michoacán tới. Hoàng hôn ngày thứ tư, bụng thì no còn tâm thì thư thái, Rafael Expósito chia tay cô điếm, đi lấy lại khẩu súng ở chỗ giấu rồi tiến thẳng tới quán bar Los Primos Hermanos, tìm thấy Celestino Arraya ở đấy. Ngay sau khi bắn cậu biết chắc mình đã giết chết Celestino và cậu thấy thỏa hận và sung sớng. Cậu không nhắm mắt lại khi đám bạn của tay đấu bò nã cả băng đạn vào cậu. Cậu được chôn ở nghĩa trang công cộng tại Santa Teresa. Năm 1935, một María Expósito nữa ra đời. Cô rụt rè đáng yêu, cao đến nỗi ngay cả những đàn ông cao nhất trong thị trấn cũng có vẻ thấp khi đứng cạnh cô. Từ năm lên mười cô đã cùng mẹ và bà ngoại đi bán các thứ thảo dược của bà cố ngoại, và cùng bà cố ngoại đi hái thuốc từ sáng tinh mơ. Thỉnh thoảng các nông dân Villaviciosa thấy thân hình cao lớn của cô nổi bật nơi chân trời, lên lên xuống xuống những ngọn đồi, và họ thấy thật lạ thường làm sao khi trên đời lại có một cô gái cao như thế, bước chân dài đến thế. Cô là người đầu tiên trong gia tộc học đọc học viết, giọng ấy hoặc những giọng ấy nói. Năm mười tám tuổi cô bị một người bán hàng rong hãm hiếp và năm 1953 một bé gái ra đời tên María Expósito. Cho đến lúc ấy thì đã có năm thế hệ María Expósito cùng sống ở ngoại ô Villaviciosa, và căn nhà nhỏ đã phình rộng, thêm phòng và một căn bếp rộng có bếp ga và một bếp củi để María lớn tuổi nhất nấu các thứ đồ uống và thuốc thang của bà. Tối tối, đến giờ ăn, cả năm người luôn quây quần, cô bé gái, bà mẹ lênh khênh của cô, cô chị u sầu của Rafael, bà María giống như con nít và cụ María phù thủy, họ thường trò chuyện về các vị thánh và những căn bệnh họ chẳng bao giờ mắc phải, về thời tiết và về đàn ông, đám đàn ông họ coi như bệnh dịch, thế rồi họ cảm ơn trời - mặc dù chẳng mấy nồng nhiệt, giọng nói ấy bảo vậy - về cái chuyện họ chỉ toàn phụ nữ. Năm 1976, cô María Expósito trẻ gặp hai sinh viên ở trong sa mạc, hai anh này là người thủ đô, bảo rằng họ bị lạc đường nhưng có vẻ như đang trốn cái gì đấy và sau một tuần ngây ngất thì cô chẳng bao giờ gặp lại họ nữa. Hai sinh viên sống trong xe và một người có vẻ bị bệnh. Họ trông như thể đang phê thứ gì đấy và nói rất nhiều mà chẳng ăn gì, mặc dù cô mang tới cho họ bánh tortilla và đỗ thó từ nhà. Chẳng hạn, họ nói về một cuộc cách mạng mới, một cuộc cách mạng vô hình đương nảy mầm nhưng phải ít nhất năm mươi năm nữa mới tràn ra đường phố. Hay năm trăm năm nữa. Hay năm ngàn năm nữa. Hai sinh viên biết Villaviciosa nhưng điều họ muốn là tìm ra xa lộ đến Ures hoặc Hermosillo. Đêm nào họ cũng làm tình với cô, bên trong xe hoặc trên cát ấm sa mạc, cho đến một sáng kia cô đến tìm thì không thấy họ đâu. Ba tháng sau, khi bà cố hỏi về cha của đứa trẻ cô sắp sinh, María Expósito trẻ nhìn thấy những ảo ảnh kỳ lạ: cô thấy mình nhỏ bé và mạnh mẽ, cô thấy mình làm tình với hai người đàn ông giữa một hồ muối, cô thấy một đường hầm đầy cây cảnh và hoa trồng trong chậu. Ngược với ý nguyện của gia đình muốn đặt tên cho thằng bé là Rafael, María Expósito đặt tên nó là Olegario, tên vị thánh bảo trợ cho cánh thợ săn và tên một linh mục Catalán hồi thế kỷ mười hai, giám mục Barcelona và tổng giám mục Tarragona, và cô cũng quyết rằng con cô sẽ không mang tên đệm Expósito, vốn là cái đệm dành cho những đứa con hoang, như anh sinh viên thủ đô đã giải thích với cô vào một trong những đêm cô ở bên họ, giọng nói ấy bảo, mà là Cura, và cô đã khai tên đó vào sổ đăng ký của giáo xứ San Cipriano, cách Villaviciosa ba mươi cây số, Olegario Cura Expósito, mặc cho ông linh mục hạch hỏi và hoài nghi về danh tính của người được cho là cha đứa bé. Bà cố ngoại của cô bảo rằng đặt Cura lên trước họ Expósito - cái họ bà vẫn mang xưa nay - là quá súc kiêu căng, rồi ít lâu sau bà chết, khi Lalo mới hai tuổi và hãy còn cởi truồng đi lại trong sân, vừa đi vừa ngắm những căn nhà màu vàng hay trắng luôn luôn đóng kín của Villaviciosa. Và khi Lalo lên bốn thì bà già thứ hai, bà María giống như con nít cũng chết, còn khi cậu lên mười lăm thì bà chị của Rafael Expósito chết, giọng nói nọ hay các giọng nói nọ kể vậy. Và khi Pedro Negrete đến tìm Lalo đưa cậu đi làm việc cho Don Pedro Rengifo thì chỉ còn María Expósito chân dài và mẹ của Lalo Cura là còn sống.
♣ ♣ ♣
Sống trong sa mạc này cũng giống như sống giữa biển, Lalo Cura nghĩ trong khi chiếc xe do Epifanio lái rời khỏi cánh đồng. Biên giới giữa Sonora và Arizona là một chuỗi những hòn đảo bị ám hoặc bị bỏ bùa. Những thành phố và thị trấn là các con thuyền. Sa mạc là một biển vô tận. Đây là chỗ tốt cho cá, nhất là các loài cá sống ở biển sâu, chứ không phải cho người.
♣ ♣ ♣
Những phụ nữ chết trong tháng Ba đã khiến báo chí ở thủ đô Mexico lớn giọng đặt nhiều câu hỏi. Nếu tên giết người đang ở sau song sắt thì ai đã giết tất cả những phụ nữ này? Nếu lâu la hoặc đồng phạm của kẻ giết người cũng đều đang ngồi tù thì ai chịu trách nhiệm cho hết thảy những cái chết này? Băng Bò Hoang, băng đảng thiếu niên kinh khủng và khó tin ấy, nó thật đến mức nào và xét ở chừng mực nào nó chỉ là một thứ do cảnh sát nặn ra? Tại sao phiên tòa xử Haas cứ bị trì đi hoãn lại? Tại sao chính quyền liên bang không cử một công tố viên đặc biệt chỉ đạo điều tra? Ngày 4 tháng Tư, Sergio González thuyết phục được tòa soạn cử anh đi viết bài mới về các vụ giết người ở Santa Teresa.
♣ ♣ ♣
Ngày 6 tháng Tư người ta phát hiện xác Michele Sánchez Castillo gần kho của một nhà máy đóng chai nước ngọt. Người phát hiện là hai công nhân nhà máy được giao nhiệm vụ dọn dẹp khu vực này. Cách xác chừng năm 5 chục mét người ta tìm thấy một thanh sắt một đầu vương máu và dính một mảng da đầu kèm theo tóc, dẫn đến kết luận đó là hung khí giết người. Michele Sánchez được quấn trong vài tấm chăn cũ, cạnh một chồng lốp xe, một nơi chẳng hiếm khách vãng lai qua thị trấn hay mấy tay hũ chìm trong khu lân cận mò vào ngủ, ít nhiều được nhà máy đóng chai này cho phép. Theo lời bảo vệ trực đêm thì đấy là những người hiền lành vô hại, nhưng nếu nổi khùng lên họ có thể châm lửa đốt đống lốp xe, khiến tình hình càng khó kiểm soát hơn. Nạn nhân bị thương ở mặt, ngực có nhiều vết rạch nhỏ, sọ bị nứt ngay chỗ sau tai phải có khả năng nguy đến tính mạng. Cô mặc quần đen đính cườm trắng - các cảnh sát nhận thấy quần bị kéo xuống đến đầu gối, áo cánh màu hồng đơm cúc đen to bị kéo lên quá ngực. Cô đi giày nặng, đế bằng lốp xe tải. Cô có mặc áo ngực và quần lót. Đến mười giờ sáng chỗ ấy đã đầy nhóc người hiếu kỳ. Theo thanh tra José Márquez người đảm trách vụ này, người phụ nữ đã bị tấn công và giết chết ở đúng nơi được phát hiện. Các nhà báo quen biết anh xin phép lại gần chụp ảnh và thanh tra không phản đối. Người ta không biết cô là ai vì cô không mang bất kỳ giấy tờ tùy thân nào. Nhưng cô có vẻ dưới hai mươi tuổi, José Márquez nói. Trong số các nhà báo lại gần xác có Sergio González. Anh chưa bao giờ thấy xác phụ nữ. Cách nhau từng quãng một, đống lốp xe tạo thành thứ gì đó như những cái hang. Nếu ban đêm trời lạnh thì đấy là chỗ ngủ không tồi. Ta phải bò vào. Và có lẽ chui ra còn khó hơn. Anh nhìn thấy hai cẳng chân và một tấm chăn. Anh nghe thấy các nhà báo Santa Teresa đề nghị José Márquez giở chăn che xác ra và tay thanh tra bật cười. Sergio không muốn ở đó nữa liền cất bước đi về phía xa lộ nơi anh đỗ chiếc Beetle đi thuê. Hôm sau người ta nhận diện được nạn nhân là Michele Sánchez Castillo, mười sáu tuổi. Theo báo cáo pháp y, nguyên nhân tử vong được xác định là chấn thương nghiêm trọng ở vùng đầu và cô không bị tấn công tình dục. Người ta tìm thấy những mẩu da dưới các móng tay cô, nên có thể lập luận rằng cô đã chống cự lại kẻ tấn công đến giây phút cuối cùng. Chấn thương ở mặt và xương sườn là bằng chứng bổ sung về cuộc chiến đấu giữa cô với kẻ giết người. Xét nghiệm âm hộ cho kết luận chắc chắn rằng cô không bị hiếp. Gia đình Michele nói vào ngày 5 tháng Tư cô đi thăm một người bạn sau đấy đi tìm việc ở một nhà máy. Theo thông cáo báo chí của cảnh sát, có lẽ cô đã bị tấn công và giết chết trong khoảng từ đêm ngày mồng 5 đến sáng tinh mơ ngày mồng 6. Trên thanh sắt không có dấu tay nào.
♣ ♣ ♣
Sergio González phỏng vấn thanh tra José Márquez. Anh đến ngay khi đêm vừa buông xuống thành phố và văn phòng sở cảnh sát gần như vắng tanh. Một bảo vệ chỉ đường cho anh đến bàn làm việc của José Márquez. Trên hành lang anh chẳng đi qua ai. Hầu hết các cửa dẫn vào các phòng làm việc đều mở và đâu đấy vẳng ra tiếng máy photocopy. José Márquez nói chuyện với anh nhưng mắt không ngừng liếc đồng hồ và sau một lát anh ta bảo anh vào phòng thay đồ nói chuyện, để tiết kiệm thì giờ. Trong khi thanh tra cởi quần áo, Sergio hỏi anh ta làm thế nào Michele Sánchez có thể đến khu đất đằng sau nhà máy đóng chai khi vẫn còn sống. Sao lại không? Márquez hỏi. Theo tôi hiểu, Sergio nói, các phụ nữ bị bắt cóc ở một nơi, bị hãm hiếp và bị giết ở một nơi khác rồi cuối cùng bị vứt xác ở một nơi thứ ba, trong trường hợp này là đằng sau các lán kho. Đôi khi thì thế, Márquez bảo anh, nhưng không phải mọi kẻ giết người đều hành động theo cùng một khuôn. Márquez cất bộ đồng phục vào một cái túi rồi mặc bộ quần áo thể thao. Chắc anh đang tự hỏi, anh ta vừa nói vừa chỉnh lại khẩu Desert Eagle .357 Magnum trong bao đựng giắt dưới áo khoác, tại sao tòa nhà này vắng hoe thế. Sergio bảo câu trả lời hợp lý nhất là các thanh tra đều đang ra ngoài làm nhiệm vụ. Vào giờ này thì không, , Márquez nói. Nếu vậy thì tại sao? Sergio hỏi. Vì hôm nay có trận bóng đá trong nhà, giữa cảnh sát Santa Teresa với bọn tôi. Thế anh có đá không? Sergio hỏi. Có thể có, có thể không, tôi là dự bị, Márquez nói. Khi họ rời phòng thay đồ, thanh tra bảo anh đừng cố tìm lời giải thích logic cho các tội ác này. Chỉ là cục cứt, đó là lời giải thích duy nhất, Márquez nói.
♣ ♣ ♣
Hôm sau anh đến gặp Haas và cha mẹ Michele Sánchez. Anh cảm thấy dường như Haas còn lạnh nhạt hơn cả lần trước, nếu như chuyện đó là có thể. Và cũng cao lên, làm như ở trong tù hoóc môn của gã đã bung ra hết cỡ và cuối cùng khiến gã đạt tới chiều cao đích thực của mình. Anh hỏi gã về Michele Sánchez, liệu Haas có ý kiến gì về chuyện đó không, rồi anh hỏi về băng Bò Hoang và tất cả những xác phụ nữ mọc ra như nấm trong sa mạc Santa Teresa từ khi gã bị bắt. Haas trả lời uể oải, kèm một nụ cười, và Sergio nghĩ dù không có tội trong mấy vụ giết người gần đây nhất, gã vẫn có tội gì đó. Thế rồi, khi ra về, anh tự hỏi làm sao mình có thể phán xét một người dựa theo nụ cười hay ánh mắt của người ta. Anh là ai mà phán xét cơ chứ?
♣ ♣ ♣
Mẹ của Michele Sánchez bảo anh rằng suốt một năm nay bà toàn gặp những giấc mơ khủng khiếp. Bà thường thức giấc lúc nửa đêm hoặc giữa ban ngày (khi bà làm ca đêm) với niềm tin chắc chắn mình đã vĩnh viễn mất đứa con gái nhỏ. Sergio hỏi Michele có phải con út không. Không, tôi còn hai đứa bé hơn, bà nói. Nhưng trong mơ đứa tôi bị mất là Michele. Vì sao? Tôi không biết, bà nói, trong mơ tôi thấy Michele còn bé lắm, không phải tuổi như bây giờ, hai ba tuổi là cùng, và đột nhiên nó biến mất. Tôi chẳng bao giờ thấy cái kẻ cướp mất nó khỏi tôi. Tôi chỉ thấy mỗi một con phố vắng hay cái sân vắng hay căn phòng vắng. Mới phút trước con gái bé bỏng của tôi còn đó. Phút sau nhìn lại nó đã đâu mất rồi. Sergio hỏi người ta có sợ không. Các bà mẹ thì có, bà nói. Vài ông bố cũng sợ. Nhưng thiên hạ nói chung thì không, tôi nghĩ là không. Trước khi anh từ biệt, nơi cổng vào khu công nghiệp Arsenio Farrell, người phụ nữ bảo những giấc mơ của bà khởi đầu vào khoảng thời gian bà lần đầu xem chương trình của Florita Almada trên tivi, Florita Almada, Bà Thánh, người ta gọi bà ấy như vậy. Một đám đông phụ nữ đi bộ đến hoặc bước xuống từ mấy chiếc xe buýt chở công nhân của các nhà máy trong khu công nghiệp. Xe buýt có miễn phí không? Sergio lơ đãng hỏi. Ở đây chả có gì miễn phí hết, bà mẹ nói. Đoạn anh hỏi bà Florita Almada là ai. Đấy là một bà già thi thoảng lại lên kênh Hermosillo tham gia chương trình của Reinaldo. Bà ấy biết chuyện gì ẩn sau những tội ác này và bà ấy cố cảnh báo với chúng tôi, nhưng chúng tôi không nghe, chẳng ai nghe bà ấy cả. Bà ấy đã thấy mặt những kẻ giết người. Nếu anh muốn biết nhiều hơn thì hãy đi gặp bà ấy, gặp rồi thì gọi điện hay viết thư cho tôi nhé. Tôi sẽ làm thế, Sergio nói.
♣ ♣ ♣
Haas thích ngồi dưới đất, tựa vào tường, trong phần sân có bóng râm. Và gã thích suy nghĩ. Gã thích tưởng tượng rằng Chúa không hiện hữu. Ít nhất trong vòng ba phút. Gã cũng thích nghĩ về sự tầm thường của con người. Năm phút. Nếu cái đau không hiện hữu thì chúng ta sẽ hoàn hảo, gã nghĩ. Tầm thường và không biết đau đớn. Hoàn hảo, mẹ kiếp. Nhưng đau đớn lại tồn tại để khiến mọi thứ thành ra khốn nạn. Cuối cùng gã nghĩ về sự xa xỉ. Sự xa xỉ của ký ức, sự xa xỉ của việc biết một thứ tiếng hay vài thứ tiếng, sự xa xỉ của suy nghĩ mà không bỏ chạy. Thế rồi gã mở mắt ra nhìn, như trong mơ, mấy tên Bò Hoang đang đi tới đi lui phía bên sân có nắng, phía đối diện, tuồng như chúng đang gặm cỏ. Những tên Bò Hoang gặm cỏ trong sân tù, gã nghĩ, và điều đó khiến gã thư thái giống như một thứ thuốc an thần có tác dụng nhanh, bởi vì đôi khi, tuy không thường xuyên, sáng ra là Haas thấy đầu mình như bị một mũi dao xuyên qua. El Tequila và El Tormenta đang ở cạnh gã. Đôi khi gã cảm thấy mình như một người chăn cừu bị ngay cả những hòn đá hiểu lầm. Một vài người tù di chuyển tuồng như đang trong thước phim quay chậm. Chẳng hạn tay bán nước, đang tới gần đưa ba lon Coca-Cola lạnh cho gã và hai vệ sĩ của gã. Hoặc đám đang chơi bóng rổ cũng vậy. Đêm qua, trước khi gã đi ngủ, một cai ngục đến bảo Don Enrique Hernández muốn gặp gã. Tay trùm ma túy không ở một mình. Bên cạnh hắn là giám thị nhà tù và một người hóa ra là luật sư của hắn. Họ mới bắt đầu ăn và Enriquito Hernández đưa cho Haas một tách cà phê nhưng gã từ chối, bảo gã mà uống cà phê là bị mất ngủ. Mọi người phá lên cười trừ ông luật sư, ông này chả tỏ dấu hiệu gì là có nghe thấy. Tao khoái mày thằng Mẽo à, tay trùm ma túy nói, tao chỉ muốn mày biết có người đang điều tra vụ mấy thằng Bò Hoang. Nói thế đã rõ chưa? Hết sức rõ, Don Enrique ạ. Sau đó họ mời gã ngồi và hỏi han gã về cuộc sống của tù nhân. Ngày hôm sau gã bảo El Tequila rằng toàn bộ vụ này nằm trong tay Enriquito Hernández rồi. Kể với thằng em mày vậy. El Tequila gật đầu nói: tốt quá. Ngồi trong bóng râm như này thích thật phải không, Haas nói.
♣ ♣ ♣
Theo Cục Tội phạm Tình dục của Santa Teresa, một cơ quan chính phủ mới lập chưa đầy một năm, tỉ lệ nam-nữ bị giết trên toàn Mexico là mười trên một, trong khi ở Santa Teresa tỉ lệ này là mười trên bốn. Cục trưởng Cục này, Yolanda Palacio, là một phụ nữ chừng ba mươi tuổi, da sáng tóc nâu, tư phong cứng nhắc, mặc dù đằng sau sự cứng nhắc của cô có thể thoáng thấy khát vọng hạnh phúc, niềm mong mỏi những ngày vui kéo dài mãi mãi. Nhưng ngày vui kéo dài mãi mãi là gì? Sergio González tự hỏi. Có lẽ đó là cái làm cho một số người thành ra khác biệt với lũ chúng ta, những kẻ sống trong nỗi buồn thường trực. Ý chí sống, ý chí chiến đấu, như cha anh thường nói, nhưng mà chiến đấu với cái gì, cái không tránh được ư? Chiến đấu chống ai? Và để được gì? Nhiều thời gian hơn, biết chắc đôi điều nào đó, thoáng nhìn ra một cái gì cốt tử? Cứ làm như có gì cốt tử ở cái xứ rác rưởi này, anh nghĩ, làm như có gì cốt tử trên cả cái hành tinh khốn kiếp tự thổi kèn này. Yolanda Palacio đã học Luật ở Đại học Santa Teresa rồi sau đó chuyên về luật hình sự ở Đại học Hermosillo, nhưng cô không thích những phiên xử án, điều này cô ngộ ra hơi quá muộn, mà cũng không muốn làm luật sư, thế nên cô đi vào nghiên cứu. Anh biết có bao nhiêu phụ nữ là nạn nhân của bạo lực tình dục ở thành phố này không? Trên hai ngàn mỗi năm. Và gần nửa trong số đó là trẻ vị thành niên. Rồi có lẽ ít nhất cũng ngần ấy người không trình báo về chuyện mình bị xâm hại, nghĩa là đúng ra có đến bốn ngàn vụ hãm hiếp mỗi năm. Nói cách khác, mỗi ngày có trên mười phụ nữ bị hãm hiếp ở đây, cô nói, phác cử chỉ như thể các phụ nữ đang bị tấn công ngay tại hành lang này. Một hành lang chỉ có một bóng huỳnh quang màu vàng soi sáng tù mù, cùng loại với bóng đèn huỳnh quang đã bị tắt đi trong văn phòng của Yolanda Palacio. Một số vụ hãm hiếp kết thúc bằng giết người, dĩ nhiên. Nhưng tôi không muốn phóng đại làm gì, hầu hết kẻ hãm hiếp chỉ hãm hiếp xong là thôi, kết thúc, chuyển sang việc khác. Sergio chẳng biết nói gì. Anh biết có bao nhiêu người làm việc ở Cục Tội phạm Tình dục này không? Mỗi mình tôi. Trước kia có một thư ký. Nhưng cô ta ngấy tận cổ nên đã chuyển tới Ensenada rồi, gia đình cô ta ở đấy. Cứt thật, Sergio nói. Đúng đó, cứt, nhiều cứt, cứt đây cứt đó, lúc nào cũng cứt, luôn luôn cứt, cứt đầy cứt vãi, nhưng sự thực thì vẫn thế vẫn cứ là không ai nhớ một cái gì, không ai nói một cái gì, không ai có gan để làm một cái gì. Sergio nhìn xuống sàn rồi sau đó nhìn gương mặt mệt mỏi của Yolanda Palacio. Nhân thể nói tới cứt, Yolanda nói, anh muốn ăn gì không? Tôi thì đói muốn chết đây, gần đây có một nhà hàng tên El Rey del Taco, nếu anh thích ăn kiểu Tex-Mex thì nhất định phải đến. Sergio đứng dậy. Tôi mời, anh nói. Hẳn là thế rồi, Yolanda Palacio nói.
♣ ♣ ♣
Ngày 12 tháng Tư người ta thấy các phần thi thể của một phụ nữ ở một cánh đồng gần Casas Negras. Những người phát hiện cái xác nhận ra đó là phụ nữ nhờ mái tóc đen dài chấm eo. Xác được phát hiện trong tình trạng bị phân hủy nặng. Sau khi giám định pháp y, người ta xác định nạn nhân trong khoảng từ hai tám đến ba mươi ba tuổi, cao một mét sáu bảy và nguyên nhân tử vong là tụ máu nghiêm trọng ở não. Cô không mang giấy tờ tùy thân. Cô mặc quần đen, áo cánh xanh lục, đi giày thể thao, ở một túi quần, người ta tìm thấy chìa khóa xe hơi. Mô tả về cô không khớp với bất kỳ phụ nữ mất tích nào ở Santa Teresa. Có lẽ cô đã chết được vài tháng. Vụ việc bị xếp xó.
♣ ♣ ♣
Dù không rõ lắm tại sao, bởi anh vốn không tin các nhà tiên tri, Sergio González đi tìm Florita Almada ở các phòng thu của kênh 7 đài truyền hình Hermosillo. Anh nói chuyện với một cô thư ký, sau đó tới một cô khác, rồi với Reinaldo, anh này cho biết để gặp được Florita không dễ. Bạn bè bà ấy bảo vệ bà, Reinaldo nói. Chúng tôi bảo vệ sự riêng tư của bà. Chúng tôi là lá chắn sống xung quanh Bà Thánh. Sergio phân trần rằng, anh là nhà báo và nói anh bảo đảm sự riêng tư của Florita sẽ không bị xâm phạm. Reinaldo hẹn gặp lại anh ngay tối đó. Sergio quay về khách sạn cố viết nháp một bài báo về các vụ giết người, nhưng sau một lát anh nhận ra mình chẳng thể viết gì. Anh xuống quầy bar khách sạn vừa uống vừa đọc báo địa phương. Đoạn anh trở lên phòng, tắm xong rồi lại xuống. Nửa tiếng trước giờ hẹn với Reinaldo, anh gọi taxi rồi yêu cầu tài xế lái vài vòng quanh khu trung tâm trước khi đưa anh đến chỗ hẹn. Tài xế hỏi anh từ đâu tới. Thủ đô, anh nói. Thành phố điên rồ, tài xế taxi nói. Có lần tôi bị người ta tấn công bảy lần nội trong một ngày. Chỉ còn thiếu nước hiếp tôi thôi, tay tài xế nói, cười rộ trong kính chiếu hậu. Sự tình thay đổi rồi, Sergio nói, giờ thì chính tài xế taxi tấn công người ta. Tôi nghe nói thế, tài xế taxi của anh nói, mà cũng đến lúc rồi. Còn tùy ta nhìn theo cách nào, Sergio nói. Chỗ hẹn là một quán bar toàn khách nam. Chỗ này tên là Popeye và tay bảo vệ đứng ngoài cửa cao gần hai mét nặng trên trăm ký. Bên trong có một quầy bar uốn lượn zigzac và những cái bàn nhỏ xíu được soi sáng bằng những ngọn đèn nhỏ và những ghế bành bọc nhung tía. Loa phát nhạc New Age và bồi bàn ăn vận giống thủy thủ. Reinaldo cùng một người lạ mặt đang đợi anh trên những chiếc ghế cao ngất nơi quầy. Người lạ cắt kiểu tóc hợp mốt và ăn mặc bảnh bao. Tên ông là José Patricio và ông là luật sư của Reinaldo cũng như của Florita. Vậy là Florita Almada cần luật sư? Ai cũng cần luật sư, José Patricio nói rất nghiêm trang. Sergio không muốn uống gì nên một lát sau ba người trèo lên chiếc BMW của José Patricio lái dọc những con phố càng lúc càng tối tiến về phía nhà Florita. Dọc đường José Patricio muốn biết làm nhà báo chuyên về tội phạm ở thủ đô thì thế nào và Sergio đành phải thú nhận rằng thực ra anh làm cho trang văn hóa văn nghệ. Anh giải thích rất đại thể làm thế nào anh lại viết về các vụ giết người ở Santa Teresa và José Patricio cùng Reinaldo ngồi nghe chăm chú và háo hức, như mấy đứa trẻ nghe tới lần thứ một ngàn cùng một câu chuyện, một câu chuyện khiến chúng điếng người khiếp đảm, vừa nghe vừa gật đầu nghiêm trang, cùng chia sẻ một điều bí mật. Tuy nhiên, sau đó, khi đã gần tới nhà Florita Almada, Reinaldo hỏi liệu Sergio có biết một vị này là người dẫn chương trình nổi tiếng ở Televisa không. Sergio bảo có biết tên người đó nhưng chưa bao giờ gặp ông ta ở chỗ tiệc tùng. Sau đó Reinaldo nói người này đang phải lòng José Patricio. Có một dạo cuối tuần nào gã cũng tới Hermosillo mời José Patricio cùng bạn bè ông ra bãi biển rồi gã thoải mái vung tiền ở đó. Lúc đó José Patricio đang yêu một tay Mẽo, một giáo sư Luật ở Berkeley, nên hoàn toàn không để mắt tới gã kia. Một đêm nọ, Reinaldo nói, tay dẫn chương trình nổi tiếng kia đưa tôi đến phòng gã tại khách sạn và bảo gã muốn đề nghị với tôi một chuyện. Tôi cứ nghĩ chắc vì vừa bị cự tuyệt nên gã muốn ngủ với tôi hoặc đưa tôi về thủ đô để giúp tôi khỏi đầu sự nghiệp mới trong ngành truyền hình dưới sự bảo trợ của gã, nhưng hóa ra tay dẫn chương trình chỉ muốn nói và muốn được Reinaldo lắng nghe. Ban đầu tôi chỉ thấy tởm, Reinaldo nói. Gã không phải người hấp dẫn và người thật trông còn tệ hơn so với trên tivi. Hồi ấy tôi còn chưa biết Florita Almada và đang sống đời tội lỗi. (Cười to). Vấn đề là: tôi coi thường gã, có thể có đôi chút ganh tị, vì tôi coi gã gặp may một cách không xứng đáng. Dù sao đi nữa, tôi đã theo đến phòng gã, Reinaldo nói, phòng suite đẹp nhất của khách sạn đẹp nhất ở Bahía Kino, từ đó ta có thể xuống du thuyền tới đảo Tiburón hay đảo Turner, thôi thì đủ thứ xa hoa sang cả trên đời mà anh có thể tưởng tượng ra, Reinaldo vừa nói vừa nhìn ra những căn nhà tồi tàn hai bên con đường mà chiếc BMW của José Patricio đang chạy ngang qua, và người dẫn chương trình lừng danh, con cưng của Televisa thì ở kia, ngồi dưới chân giường, cầm cốc trên tay, đầu bù tóc rối, mắt híp lại đến nỗi hầu như chẳng thấy mắt đâu, và khi nhìn thấy tôi, khi nhận ra tôi đang ở trong phòng, đang đứng đó chờ, gã liền buột mồm nói đêm nay có lẽ sẽ là đêm cuối cùng của đời gã. Chắc anh cũng hiểu được, tôi nghe mà chết điếng, bởi vì lập tức tôi nghĩ: thằng đĩ đực này đầu tiên sẽ giết tôi rồi sau đó tự tử, tất cả nhằm để lại cho José Patricio một bài học sau khi gã đã chết rồi. (Cười to). Thế là tôi mới bảo gã, nghe nè, đừng nói năng lung tung, Reinaldo nói. Nghe nè, có khi tụi mình đi dạo thì hơn. Và vừa nói, tôi vừa đưa mắt tìm khẩu súng lục. Nhưng tôi chả thấy khẩu súng nào, tuy rất có thể gã giắt một khẩu dưới áo sơ mi, như mấy thằng bắn mướn, mặc dù lúc đó gã trông chả giống một thằng bắn mướn, gã trông vừa tuyệt vọng vừa cô độc. Tôi nhớ là tôi liền mở tivi chọn một chương trình buổi tối phát từ Tijuana, một talkshow, và tôi bảo gã: tôi biết chắc anh có thể làm một công việc tốt hơn với cùng những năng lực ấy, nhưng tay dẫn chương trình thậm chí chẳng buồn liếc cái tivi lấy một lần. Gã chỉ nhìn xuống sàn mà lẩm bẩm đời chả có ý nghĩa gì và tốt nhất chết quách đi sống làm gì nữa. Vân vân và vân vân. Tôi nhận ra dù tôi có nói gì thì cũng vô ích. Gã không muốn nghe tôi, gã chỉ muốn có tôi ở cạnh, nhỡ ra, nhưng nhỡ ra cái gì? Tôi không biết, nhưng nhất định là nhỡ ra có gì đấy. Tôi nhớ mình đã ra ngoài ban công ngắm vịnh. Đêm sáng trăng. Bãi biển đẹp làm sao, tôi nghĩ, nhưng điều tệ nhất là ta chỉ biết đến điều đó vào những lúc nước sôi lửa bỏng, thật khó mà thưởng thức được nó. Đẹp làm sao, bờ biển và bãi cát và bầu trời đầy sao. Nhưng rồi tôi đâm chán liền quay vào ngồi lên cái ghế trong phòng ngủ, và để không phải thấy bộ mặt tay dẫn chương trình tôi lại bắt đầu xem tivi, trên đó một thằng cha nào đấy nói rằng hắn đang sở hữu, đó là chữ hắn dùng, đang sở hữu - tuồng như hắn đang nói về lịch sử trung đại hay lịch sử chính trị - kỷ lục bị trục xuất khỏi Hoa Kỳ nhiều lần nhất. Mấy anh có biết hắn đã nhập cảnh Hoa Kỳ trái phép bao nhiêu lần không? Ba trăm bốn mươi lăm lần! Và cả ba trăm bốn mươi lăm lần hắn đều bị bắt và bị trục xuất về Mexico. Mà đấy là trong vòng có bốn năm thôi. Tôi thừa nhận là đột nhiên sự tò mò trong tôi thức tỉnh. Tôi hình dung ra sẽ đưa hắn lên chương trình của mình. Tôi hình dung những câu mình sẽ hỏi. Tôi bắt đầu nghĩ cách bắt liên lạc với hắn, bởi không ai có thể phủ nhận câu chuyện này rất thú vị. Anh chàng trên kênh Tijuana kia đặt ra cho hắn một câu hỏi then chốt: anh lấy đâu ra tiền để trả cho mấy tay dẫn đường đưa anh qua biên giới? Bởi vì rõ ràng là với cái tần suất điên rồ những lần hắn bị trục xuất từ Hoa Kỳ thì hắn chả lấy đâu ra đủ thời gian để làm việc và dành dụm tiền. Câu trả lời của hắn thật đặc sắc bất ngờ. Hắn bảo ban đầu người ta đòi bao nhiêu hắn trả bấy nhiêu, song về sau, có lẽ là sau lần trục xuất thứ mười, hắn mặc cả và đòi giảm giá, và từ sau lần bị trục xuất thứ năm chục thì đám dẫn đường đưa hắn đi chỉ vì tình bạn, còn từ sau lần thứ một trăm thì họ đưa hắn đi cùng chắc chỉ vì thương hại, hắn nghĩ thế. Nay thì, hắn nói với người dẫn chương trình của đài Tijuana, họ đưa hắn đi như mang một thứ bùa may, vì sự có mặt hắn bằng cách nào đấy làm cho mọi người bớt căng thẳng: nếu có người bị bắt thì đó sẽ là hắn chứ không phải ai khác, ít nhất là nếu họ biết tránh xa khỏi hắn ngay sau khi vừa vượt biên xong. Ta hãy nói thế này: hắn đã trở thành quân bài bị đánh dấu, tấm phiếu đã đánh dấu, ấy là chính hắn nói thế. Rồi thì tay dẫn chương trình kia, vốn kém cỏi, hỏi hắn một câu ngu và một câu hay. Câu ngu là liệu hắn có định ghi danh vào Sách kỷ lục thế giới Guiness không. Tay kia thậm chí còn không hiểu gã này đang nói gì, hắn chưa nghe nói tới Sách kỷ lục thế giới Guiness bao giờ. Câu hay là liệu hắn có cố thử nữa không. Thử cái gì, người kia hỏi. Thử vượt biên, người dẫn chương trình nói. Nếu trời thương và nếu hắn còn khỏe mạnh, người kia nói, hắn sẽ không đời nào từ bỏ ý định sang sống ở Hoa Kỳ. Anh không mệt sao? người dẫn chương trình nói. Anh không thích về lại làng mình hoặc tìm việc ở Tijuana đây sao? Tay kia mỉm cười tuồng như ngượng ngùng và bảo một khi đã có ý nghĩ nào trong đầu thì hắn chẳng làm cách nào gạt đi được. Hắn là một thằng điên, điên rồ, điên rồ, đúng là điên rồ, Reinaldo nói, nhưng tôi đang ở trong cái khách sạn điên rồ nhất của Bahía Kino và cạnh tôi, ngồi ở chân giường, là tay dẫn chương trình truyền hình điên rồ nhất của thủ đô Mexico, thế thì thực ra tôi có thể nghĩ cái gì đây? Dĩ nhiên tay dẫn chương trình trước mặt tôi không còn nghĩ đến chuyện tự tử nữa. Gã vẫn đang ngồi ở chân giường, nhưng mắt gã, mắt một con chó mệt mỏi, đang dán vào tivi. Ông nghĩ sao? tôi hỏi gã. Liệu một người như vậy có thể có thật không? Hắn hấp dẫn quá phải không? Hắn chẳng phải là hiện thân của sự hồn nhiên ngây thơ hay sao? Thế là tay dẫn chương trình liền đứng dậy lấy khẩu súng lục gã vẫn giấu dưới chân hay một bên mông, và tôi lại trắng bệch mặt còn hắn thì ra hiệu, một cử chỉ rất khẽ, tuồng như bảo tôi chẳng còn gì để lo lắng nữa thế rồi gã vào nhà tắm mà không đóng cửa và tôi nghĩ, mẹ nó, giờ thì hắn sắp tự tử đây, nhưng hóa ra là hắn tiểu một hồi lâu, cái gì cũng thật ấm cúng, cái gì cũng đâu ra đó cũng chí lí, tivi đang bật, cửa mở, đêm như một cái găng tay bao bọc khách sạn, gã công nhân người Mexico kia đến là hoàn hảo, cái gã công nhân tôi muốn đưa lên chương trình của mình và có lẽ thằng cha dẫn chương trình đang yêu José Patricio cũng muốn đưa lên chương trình, cái gã công nhân đáng sợ, vua xui xẻo, kẻ mang trên vai vận mệnh của Mexico, cái gã công nhân luôn mỉm cười, cái sinh vật trông như con cóc ấy, cái kẻ ngoài vòng luật pháp béo ú thảm hại đần thối ra đó, cái cục than mà nếu trong kiếp hóa thân nào khác thì hẳn có thể là kim cương, kẻ không ai đụng tới được kia, sinh ra không phải ở Ấn Độ mà ở Mexico, tất cả đều đâu vào đấy đều hợp lý, đột nhiên tất cả đều đâu vào đấy đều hợp lý cho nên việc gì phải tự tử. Từ chỗ đang đứng tôi thấy tay dẫn chương trình của đài Televisa cất súng vào trong túi đựng đồ cá nhân rồi đóng túi lại nhét vào trong một ngăn kéo buồng tắm. Tôi hỏi gã có muốn cùng tôi xuống quán bar khách sạn uống vài cốc không. Được thôi, gã nói, nhưng trước hết gã muốn xem hết chương trình này đã. Trên tivi lúc đó người ta đang phỏng vấn một người khác rồi, đâu như một tay luyện mèo. Kênh này là kênh mấy? tay dẫn chương trình hỏi. Tijuana 35, tôi đáp. Tijuana 35, gã nói tuồng như đang trong mơ. Sau đó chúng tôi rời phòng. Nơi hành lang tay dẫn chương trình đứng lại rút trong túi quần sau ra một cái lược, chải đầu. Trông tôi thế nào? gã hỏi. Tuyệt trần, tôi nói. Đoạn chúng tôi nhấn nút thang máy và đợi. Hôm nay thật là, tay dẫn chương trình nói. Tôi gật. Khi thang máy tới chúng tôi vào và đi xuống quán bar chẳng nói năng gì. Lát sau chúng tôi chia tay nhau ai về giường nấy ngủ.
♣ ♣ ♣
Sau khi ăn xong, trong khi hai người ngắm cảnh đêm qua cửa sổ quán El Rey del Taco, Yolanda Palacio nói ở Santa Teresa không phải cái gì cũng tệ. Không phải cái gì cũng tệ, xét trên những gì liên quan tới phụ nữ. Như thể, lúc bụng no như thế này, lại mệt và chỉ muốn ngủ, cả hai đều có thể nhận ra những điều tốt đẹp, những chi tiết đầy hứng khởi được thêu dệt nên. Họ hút thuốc. Anh có biết ở Mexico thành phố nào có tỷ lệ phụ nữ thất nghiệp thấp nhất không? Sergio González thấy vầng trăng sa mạc, một phân mảnh, một lát cắt đường xoắn ốc, mọc lên trên các mái nhà. Santa Teresa? anh hỏi. Đúng đấy, Santa Teresa, Cục trưởng Cục Tội phạm tình dục nói. Ở đây hầu hết phụ nữ đều có việc làm. Lương rẻ mạt và bị bóc lột tàn tệ, số giờ làm thật điên rồ và chẳng có công đoàn nào bảo vệ, nhưng nói gì thì nói vẫn là công việc, đối với nhiều phụ nữ từ Oaxaca hay Zacatecas đến thì vẫn là phúc lớn. Lát cắt đường xoắn ốc? Không thể nào, Sergio nghĩ. Một ảo ảnh quang học thì có, những đám mây lạ mang hình điếu thuốc, quần áo bay phơ phất trong gió nhẹ ban đêm, con ruồi hay con muỗi của Poe. Vậy là ở đây không có tình trạng phụ nữ thất nghiệp à? Đừng ngốc thế, Yolanda Palacio nói, dĩ nhiên là có thất nghiệp, cả nữ lẫn nam, chỉ có điều ở đây tỷ lệ nữ thất nghiệp thấp hơn nhiều so với phần còn lại của đất nước. Thực tế là có thể nói rằng, nhìn chung, mọi phụ nữ Santa Teresa đều có việc làm. Cứ hỏi số liệu đi rồi anh sẽ thấy.
♣ ♣ ♣
Tháng Năm, Aurora Cruz Barrientos, mười tám tuổi, bị giết ở nhà. Người ta tìm thấy cô trên giường của hai vợ chồng, bị nhiều vết dao đâm, chủ yếu vào ngực, hai tay dang rộng như đang kêu với trời xanh, giữa một vũng máu to đang quánh lại. Người phát hiện là hàng xóm và bạn của nạn nhân, thấy lạ khi giờ đó mà rèm cửa vẫn kéo kín. Cửa mở nên người hàng xóm vào nhà, và chị lập tức cảm thấy có gì đó không ổn, tuy cụ thể là gì thì chị không biết. Khi vào buồng ngủ và thấy những gì kẻ nào đó đã làm với Aurora Cruz thì chị ngất. Căn nhà nằm ở số 870 phố Estepa, quận Féliz Gómez, một khu của tầng lớp hạ trung lưu. Vụ này được giao cho thanh tra Juan de Dios Martínez đảm trách, anh đến hiện trường một giờ sau khi cảnh sát phong tỏa căn nhà. Chồng của Aurora Cruz, Rolando Pérez Mejía, lúc ấy đang làm việc ở nhà máy City Keys và hãy còn chưa được báo tin vợ chết. Cảnh sát lục soát nhà và tìm thấy cái quần lót vấy máu bị vứt trong buồng tắm, được cho là của Pérez Mejía. Xế trưa hôm đó hai cảnh sát tuần tra ghé vào City Keys điệu Pérez Mejía về phân khu cảnh sát số 2. Trong lời khai, người này cam đoan rằng trước khi đi làm, anh ta ăn sáng với vợ như bình thường, và quan hệ giữa hai người vẫn êm thắm vì họ không để các rắc rối, chủ yếu về tài chính, xen vào đời sống vợ chồng. Theo Pérez Mejía, họ lấy nhau đã hơn một năm và chưa bao giờ đánh nhau. Khi được cho xem cái quần lót vấy máu, Pérez Mejía nhận nó là của mình, hoặc ít ra nó giống cái anh ta có, và Juan de Dios Martínez tưởng thằng cha sắp sụm tới nơi. Nhưng người chồng, mặc dù khóc cay khóc đắng khi thấy cái quần lót, điều mà Juan de Dios thấy thật lạ, bởi một cái quần lót không phải bức ảnh hay lá thư mà chỉ là cái quần lót, lại không sụm xuống. Dù sao đi nữa, anh ta bị giữ lại trong khi chờ diễn biến mới, và những diễn biến này chẳng mấy chốc đã xảy ra. Đầu tiên xuất hiện một nhân chứng nói là đã thấy một người lảng vảng rình rập quanh nhà Aurora Cruz. Theo nhân chứng, kẻ rình rập này là một thanh niên khỏe mạnh, hắn rung chuông cửa rồi ghé nhìn vào cửa sổ các nhà tuồng như muốn kiểm tra xem nhà nào đi vắng hết. Hắn làm thế với ít nhất ba nhà, một trong số ấy là nhà Aurora Cruz, rồi đi mất. Sau đó chuyện gì xảy ra thì nhân chứng không biết vì anh ta phải đi làm, nhưng trước khi đi anh không quên dặn vợ và mẹ vợ (bà sống cùng hai vợ chồng) là có kẻ khả nghi. Theo vợ của nhân chứng, sau khi chồng chị đi một lát thì chị nhìn ra cửa sổ hồi lâu nhưng chẳng thấy gì. Rồi chị cũng đi làm và người duy nhất ở nhà là mẹ chị, bà này, cũng như con gái và con rể, từ cửa sổ nhìn ra khắp phố, nhưng cũng chẳng nhận thấy có gì khả nghi, cho đến khi mấy đứa cháu bà ngủ dậy và bà phải làm bữa sáng cho chúng ăn trước khi đưa chúng đến trường. Nói cách khác, chẳng còn ai khác trong khu phố nhìn thấy kẻ rình mò có dáng thể thao ấy. Ở nhà máy nơi chồng nạn nhân làm việc, một số công nhân khẳng định sáng hôm ấy Rolando Pérez Mejía đến đứng giờ như thường lệ, một lát trước khi ca của anh bắt đầu. Theo báo cáo giám định pháp y, Aurora Cruz đã bị hãm hiếp qua hai đường. Kẻ hãm hiếp và giết người, theo bác sĩ pháp y, là một người cực khỏe, chắc chắn trẻ tuổi, hoàn toàn hoang dại không kiềm chế nổi. Khi Juan de Dios Martínez hỏi “hoang dại không kiềm chế” là sao, chuyên viên pháp y nói lượng tinh dịch trong thân thể nạn nhân và trên ga trải giường rất khác thường. Có thể là hai người, Juan de Dios Martínez nói. Có thể, chuyên viên pháp y nói, tuy nhiên để cho chắc tôi đã gửi mẫu cho bộ phận khoa học hình sự của Hermosillo để họ xác nhận nếu không phải ADN thì ít nhất cũng là máu của hung thủ. Dựa vào các vết trầy xước ở hậu môn, chuyên viên pháp y đồ rằng hung thủ đã hãm hiếp nạn nhân qua đường hậu môn sau khi nạn nhân chỉ còn là cái xác. Trong vòng mấy ngày, cảm thấy mình càng ngày càng ốm, Juan de Dios thẩm vấn một số thanh niên trong khu phố có dính líu tới các băng đảng vị thành niên. Một đêm nọ anh phải đi khám bệnh, bác sĩ kết luận anh bị cúm và kê cho anh đơn thuốc gồm thuốc thông mũi và sự kiên nhẫn. Sau mấy ngày thì bệnh cúm trở nặng, anh bị viêm họng nên phải uống kháng sinh. Chồng của nạn nhân đã ngồi trong xà lim phân khu cảnh sát số 2 một ngày và sau đó được thả. Mẫu tinh dịch gửi đi Hermosillo bị thất lạc, không rõ là trên đường đi hay trên đường quay trở về.
♣ ♣ ♣
Đích thân Florita ra cửa. Sergio không ngờ bà già đến thế. Florita hôn má Reinaldo và José Patricio rồi bắt tay Sergio. Tụi tôi đang chán muốn chết đây, anh nghe Reinaldo nói. Tay Florita nhăn nheo, như tay một người đã nhiều năm làm việc với hóa chất. Phòng khách nhỏ, có hai ghế bành và một tivi. Trên tường treo tuyền ảnh đen trắng. Ở một ảnh anh thấy Reinaldo và vài người khác, tất cả đều cười, ăn mặc như đi picnic, vây quanh Florita: thành viên của một giáo phái quây quần quanh vị nữ tư tế. Anh được mời trà với bia. Sergio chọn bia rồi hỏi Florita có đúng là bà nhìn thấy những cái chết xảy ra ở Santa Teresa không. Bà Thánh có vẻ không thoải mái và mất một hồi mới trả lời. Bà giật giật cổ áo trong và cổ cái áo khoác len nhỏ, có lẽ chúng quá chật. Câu trả lời của bà mơ hồ. Bà nói rằng đôi khi, cũng như tất cả mọi người, bà thấy cái này cái nọ và những cái bà thấy không nhất thiết là linh thị mà có khi chỉ do bà tưởng tượng ra, những thứ nảy ra trong đầu, cũng như với tất cả mọi người, có lẽ đó là cái giá phải trả để sống trong một xã hội hiện đại, mặc dù bà cho rằng tất cả mọi người, dù sống ở đâu, cũng đều có những lúc nhìn thấy hoặc hình dung ra cái này cái nọ, về phần bà thì quả thực thời gian gần đây bà chỉ hình dung ra những vụ giết phụ nữ. Một kẻ lừa đảo có trái tim vàng, Sergio nghĩ. Sao lại trái tim vàng? Vì mọi bà già Mexico đều có trái tim vàng? Giống một trái tim bằng đá lửa hơn, Sergio nghĩ, thì mới chịu đựng được đến mức vậy. Florita, tuồng như đọc được ý nghĩ anh, gật gật đầu. Vậy làm sao bà biết các vụ giết người đấy là ở Santa Teresa? Sergio hỏi. Bởi vì chúng nặng lắm, Florita nói. Và bởi vì chúng cái này kế tiếp cái kia. Khi Sergio nài bà nói rõ hơn, bà nói rằng một vụ giết người bình thường (mặc dù chẳng có cái gì gọi là vụ giết người bình thường cả) luôn luôn kết thúc bằng một hình ảnh có nước, một cái hồ hay một cái giếng mà sau khi bị khuấy động thì lại lặng yên, trong khi các vụ giết người hàng loạt, giống như các vụ xảy ra ở thành phố vùng biên kia, thì chiếu ra một hình ảnh nặng, có tính kim loại hoặc khoáng chất, một hình ảnh cháy âm ỉ, như là những tấm rèm bắt lửa, nhảy múa, nhưng càng nhiều tấm rèm bắt lửa thì phòng ngủ hay phòng khách hay cái lán hay nhà kho nơi các vụ giết người đó xảy ra lại càng tối hơn. Thế bà có thấy mặt những kẻ giết người không? Sergio hỏi, bỗng cảm thấy mệt mỏi. Thỉnh thoảng, Florita nói, thỉnh thoảng ta thấy mặt chúng con ạ, nhưng khi thức dậy thì ta quên mất. Làm sao bà biết đó là mặt chúng, Florita? Bởi đấy là những khuôn mặt bình thường (mặc dù trên đời này, hay ít nhất là ở Mexico, làm gì có khuôn mặt nào là khuôn mặt bình thường). Vậy ý bà là những khuôn mặt ấy trông không giống mặt kẻ giết người? Không, ta chỉ có thể nói đó là những khuôn mặt lớn. Lớn? Đúng, lớn, phình ra hay trương lên thế nào đó. Như mặt nạ? Không, ta không nói thế, Florita đáp, đấy là mặt, không phải mặt nạ hay mặt hóa trang, chỉ là nó phình ra, giống như vì uống quá nhiều cortisone. Cortisone? Hoặc bất cứ thứ hormone corticoid nào làm cho mặt phình ra ấy, con, Florita nói. Hay là họ bệnh? Ta không biết, còn tùy. Tùy cái gì? Tùy theo ta nhìn họ cách nào. Bọn họ có tự coi mình là người bệnh không? Không, không đời nào. Vậy họ biết là họ khỏe? Biết, nếu ý con muốn nói biết là thực sự biết thì trên đời này không ai có thể biết trăm phần trăm cái gì, con bé bỏng ạ. Nhưng họ tin là mình khỏe mạnh chứ? Cứ coi như là có, Florita nói. Còn giọng của họ, bà có khi nào nghe thấy họ nói không? Sergio nói (bà ấy gọi mình là con bé bỏng, lạ chưa, bà ấy gọi mình là con bé bỏng). Ít khi lắm, nhưng có một hai lần ta nghe được họ nói chuyện. Họ nói gì, Florita? Ta không biết, họ nói tiếng Tây Ban Nha, một thứ tiếng Tây Ban Nha hỗn tạp nghe không giống tiếng Tây Ban Nha, cũng chả phải tiếng Anh, đôi khi ta nghĩ hay là họ nói một thứ tiếng tự chế, nhưng không thể là thứ tiếng tự chế vì ta vẫn hiểu được vài chữ, cho nên ta bảo đấy là tiếng Tây Ban Nha và họ là người Mexico, mặc dù ta chẳng hiểu được phần lớn những câu họ nói. Bà ấy gọi mình là con bé bỏng, Sergio nghĩ. Chỉ một lần, cho nên mình có cơ sở nghĩ rằng đó không phải từ bà thường dùng để gây ấn tượng trong khi nói. Một kẻ lừa đảo có trái tim vàng. Anh được mời một cốc bia nữa nhưng anh bảo thôi. Anh kêu mệt. Anh bảo phải quay về khách sạn. Reinaldo nhìn anh với vẻ bực tức khó che giấu nổi. Mình đã làm gì nên tội? Sergio nghĩ. Anh vào buồng tắm: nó có mùi như một bà già, nhưng trên sàn có hai chậu cây, xanh đến độ gần như đen. Quả là ý không tồi, cây cảnh trong buồng tắm, Sergio nghĩ trong khi lắng nghe giọng Reinaldo cùng José Patricio và Florita, hình như họ đang tranh luận trong phòng khách. Từ cửa sổ buồng tắm nhỏ xíu anh nhìn thấy một khoảnh sân xi măng nhỏ, ướt như thể trời vừa mưa, ở đó, giữa các chậu cây cảnh, anh nhác thấy những đóa hoa màu đỏ và xanh dương, một loài hoa anh không biết. Khi quay lại phòng khách anh không ngồi xuống. Anh chìa tay cho Florita và hứa sẽ gửi bà bài báo anh định viết, mặc dù anh biết rõ mình sẽ chẳng gửi gì cho bà sất. Có một điều chắc chắn tôi hiểu, Bà Thánh nói trong khi tiễn họ ra cửa. Bà vừa nói vừa nhìn vào mắt Sergio rồi mắt Reinaldo. Bà hiểu điều gì, Florita? Sergio hỏi. Đừng nói, Florita, Reinaldo nói. Ai cũng vậy, khi nói, họ đều để lộ ra, dù chỉ một phần, những niềm vui và nỗi buồn của họ, đúng không? Trăm phần trăm là vậy, José Patricio đáp lại bà. Song khi những người tôi thấy kia nói chuyện với nhau, thì mặc dù không hiểu lời họ, tôi vẫn biết rõ những niềm vui nỗi buồn của họ là lớn, Florita nói. Lớn đến mức nào? Sergio hỏi. Florita nhìn thẳng vào mắt anh. Bà mở cửa. Sergio có thể cảm thấy đêm Sonora chạm vào lưng anh như một hồn ma. Mênh mông, Florita nói. Tuồng như họ biết không gì chạm tới họ được, họ ở ngoài pháp luật? Không, không, không, Florita nói, chuyện này chẳng liên quan gì tới pháp luật pháp liếc.
♣ ♣ ♣
Ngày 1 tháng Sáu, Sabrina Gómez Demetrio, mười lăm tuổi, đi bộ đến bệnh viện IMSS Gerardo Regueira, với nhiều vết đâm và hai vết đạn ở lưng. Cô được đưa ngay vào phòng cấp cứu, và tắt thở vài phút sau. Cô không nói gì nhiều trước khi chết. Cô nói tên mình và nhắc tên con phố nơi cô sống cùng anh chị em. Cô nói mình bị giam trong một chiếc Suburban. Cô nói gì đó về một người đàn ông mặt lợn. Một trong các y tá đang cố cầm máu cho cô hỏi cô có phải kẻ đó đã bắt cóc cô không. Sabrina Gómez nói cô tiếc là sẽ không bao giờ gặp lại anh chị em mình nữa.