2666

Lượt đọc: 766 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
PHẦN MỘT
phần về các nhà phê bình

Lần đầu tiên Jean-Claude Pelletier đọc Benno von Archimboldi là vào Giáng sinh năm 1980, ở Paris, khi anh mười chín tuổi và đang theo học văn chương Đức. Đó là cuốn D’Arsonval. Chàng Pelletier trẻ tuổi ngày ấy đã không nhận ra rằng cuốn tiểu thuyết là một phần của một bộ ba (gồm Khu vườn, với chủ đề nước Anh và Chiếc mặt nạ da, chủ đề Ba Lan, cùng D’Arsonval, rõ ràng mang chủ đề Pháp), nhưng sự thiếu hiểu biết, sơ suất hay khiếm khuyết về thư mục này, chẳng qua chỉ vì anh còn quá trẻ, không làm vơi đi chút nào sự kỳ diệu và lòng ngưỡng mộ mà cuốn tiểu thuyết khuấy động trong anh.

Từ ngày đó trở đi (hay từ những giờ khắc tinh mơ khi anh kết thúc sự đọc thơ trẻ của mình) anh trở thành một nhà nghiên cứu Archimboldi nhiệt thành và khởi cuộc kiếm tìm thêm những tác phẩm khác của tác giả này. Đó chẳng phải là công việc dễ dàng. Tìm được sách của Benno von Archimboldi trong thập niên 80, kể cả ở Paris, là một nỗ lực gặp đầy trắc trở. Trong khoa tiếng Đức trường đại học hầu như không tìm thấy tham chiếu nào đến Archimboldi. Các giáo sư của Pelletier chưa bao giờ nghe nói tới ông. Một vị bảo nghe tên quen quen. Mười phút sau, Pelletier bực bội (và kinh hoàng) nhận ra người mà giáo sư của anh nghĩ đến là một họa sĩ Ý, và vị giáo sư cũng nhanh chóng lộ ra là chẳng biết gì về người đó.

Pelletier viết thư cho nhà xuất bản in cuốn D’Arsonval ở Hamburg nhưng không nhận được phản hồi. Anh cũng sục sạo mấy nhà sách tiếng Đức ít ỏi mà anh có thể tìm thấy ở Paris. Cái tên Archimboldi xuất hiện trong một từ điển văn học Đức và trong một tạp chí của Bỉ dành cho - chẳng rõ nghiêm túc hay đùa, anh không bao giờ biết được - văn chương Phổ. Năm 1981, anh cùng ba người bạn trong khoa tiếng Đức có một chuyến đi đến vùng Bavaria, và ở đó, trong một tiệm sách nhỏ ở Munich, trên đường Voralm, anh tìm được hai cuốn nữa: một cuốn mỏng tên là Kho báu của Mitzi, chưa tới trăm trang, và cuốn tiểu thuyết chủ đề nước Anh đã nhắc ở trên, Khu vườn.

Đọc hai tiểu thuyết này chỉ củng cố thêm nhận định anh đã có về Archimboldi. Năm 1983, ở tuổi hai mươi hai, anh bắt tay vào dịch D’Arsonval. Không ai yêu cầu anh làm việc này. Vào thời điểm đó, không nhà xuất bản nào ở Pháp quan tâm đến việc in tác giả người Đức có cái tên buồn cười ấy. Pelletier bắt tay dịch cuốn sách là bởi anh thích nó, và bởi anh thích công việc dịch thuật, mặc dù anh cũng từng nghĩ có thể nộp bản dịch, kèm bài giới thiệu nghiên cứu về tác phẩm của Archimboldi, thành luận văn của mình, và - tại sao không nhỉ - như là nền tảng cho luận án tương lai của anh.

Anh hoàn thành bản thảo dịch cuối cùng vào năm 1984, và một nhà xuất bản ở Paris, sau nhiều tranh cãi và ý kiến trái ngược nhau, đồng ý xuất bản Archimboldi. Dường như thoạt tiên người ta nghĩ cuốn tiểu thuyết không thể bán quá một nghìn bản, vậy mà ba nghìn bản in đầu bán sạch veo sau một số bài điểm sách mâu thuẫn, tích cực, thậm chí nồng nhiệt, dọn đường cho việc in lần thứ hai, thứ ba và thứ tư. Đến khi đó Pelletier đã đọc được mười lăm cuốn của nhà văn Đức, dịch thêm hai cuốn nữa, và gần như được thống nhất thừa nhận là người có thẩm quyền vượt trội về Benno von Archimboldi trên toàn nước Pháp.

♣ ♣ ♣

Đến khi ấy Pelletier đã có thể hồi tưởng về ngày anh đọc Archimboldi lần đầu tiên, và anh nhìn thấy mình, trẻ trung và nghèo kiết, sống trong một căn phòng trên gác xép, dùng chung bồn để rửa mặt đánh răng với mười lăm người khác cùng chia căn gác tối tăm, đi ỉa trong một cái toa lét kinh tởm và bẩn thỉu giống hố tiêu hay hầm phân hơn, cũng dùng chung với mười lăm cư dân của căn gác, vài người trong bọn đã quay về tỉnh, với mảnh bằng đại học trong tay, hay đã chuyển tới những chỗ tiện nghi hơn chút đỉnh ở ngay Paris, hay vẫn còn ở lại đó - chỉ ít người trong bọn - sống mòn hay chết dần vì kinh tởm.

Anh thấy mình, như ta đã nói, khổ hạnh còng lưng bên những cuốn từ điển tiếng Đức dưới cái bóng đèn duy nhất nhờ nhờ sáng, gầy gò và bền bỉ, như thể anh chỉ là ý chí thuần khiết làm thành xương, thịt và cơ mà không có lấy một gam mỡ nào, đầy đam mê và quyết chí để thành công. Một hình ảnh khá bình thường của sinh viên ở thủ đô, nhưng có tác dụng với anh như thuốc, một loại thuốc khiến anh ứa nước mắt, một loại thuốc (như một nhà thơ Hà Lan trữ tình thế kỷ mười chín đã nói) mở toang những cánh cửa chặn cơn lũ cảm xúc, cũng như cánh cửa chặn lại một điều gì đó thoạt trông giống hệt tủi thân nhưng không phải (nó là cái gì? thịnh nộ ư? rất có thể), khiến trong đầu anh trở đi trở lại, không phải bằng từ ngữ mà bằng những hình ảnh đau đớn, quãng thời gian tập sự thời trẻ, và sau có lẽ là một đêm dài vô vị anh buộc phải đi tới hai kết luận: thứ nhất, cuộc đời mà anh đã sống đến giây phút này đã qua rồi; thứ hai, một sự nghiệp rỡ ràng đang mở ra trước mặt anh, và để duy trì ánh hào quang của nó anh phải kiên định trong quyết tâm của mình, thề có căn gác xép. Điều nay có vẻ tương đối dễ.

♣ ♣ ♣

Jean-Claude Pelletier sinh năm 1961 và tới năm 1986 anh đã là giáo sư tiếng Đức ở Paris. Piero Morini sinh năm 1956, ở một thị trấn gần Naples, và mặc dù lần đầu anh đọc Benno von Archimboldi là năm 1976, trước Pelletier bốn năm, mãi tới năm 1988 anh mới dịch tiểu thuyết đầu tiên của tác giả Đức này, Bifurcaria Bifurcata, cuốn sách ra đời và hầu như chìm lỉm trong các tiệm sách nước Ý.

Phải nói rằng tình hình Archimboldi ở Ý rất khác so với Pháp. Vì một lẽ, Morini không phải là dịch giả đầu tiên của ông. Chuyện là, tiểu thuyết đầu tiên rơi vào tay Morini là bản dịch của cuốn Chiếc mặt nạ da do một người tên là Colossimo dịch cho nhà Einaudi năm 1969. Ở Ý, theo sau Chiếc mặt nạ da là cuốn Những dòng sông châu Âu năm 1971, Di sản năm 1973, và Sự hoàn hảo đường tàu năm 1975; trước đó, năm 1964, một nhà xuất bản ở Rome đã cho ra đời một tuyển tập hầu hết là các truyện ngắn về chiến tranh, nhan đề Thế giới ngầm Berlin. Vậy có thể nói Archimboldi không hoàn toàn xa lạ ở Ý, mặc dù khó có thể cho rằng ông thành công, hay tương đối thành công, hay thậm chí thành công chút ít. Thực tế, ông là một thất bại tuyệt đối, một tác giả của những cuốn sách mòn mỏi nằm trên những giá kệ bụi bặm nhất trong các nhà sách, hoặc còn tồn hay bị lãng quên trong nhà kho các nhà xuất bản trước khi bị đem đi nghiền.

Morini, dĩ nhiên, không nao núng với việc công chúng Ý hầu như không quan tâm gì đến tác phẩm của Archimboldi, và sau khi dịch Bifurcaria Bifurcata anh viết hai bài nghiên cứu về Archimboldi cho tạp chí ở Milan và Palermo, một bài về vai trò của định mệnh trong Sự hoàn hảo đường tàu, và bài kia về những cái lốt của lương tâm và tội lỗi trong Lethaea, bề mặt là tiểu thuyết phong tình, và trong Ngài Bitzius, một tiểu thuyết dài chưa tới trăm trang, trong chừng mực nào đó có nhiều điểm tương tự Kho báu của Mitzi, cuốn sách mà Pelletier đã tìm thấy trong một tiệm sách cũ kỹ ở Munich, cuốn sách kể câu chuyện về cuộc đời của Albert Bitzius, mục sư xứ Lutzelflüh, thuộc tổng Bern, tác giả của các bài giảng đạo đồng thời là một nhà văn với bút danh Jeremiah Gotthelf. Cả hai bài đều được đăng, và khả năng hùng biện hay sức rù quến của Morini trong việc giới thiệu hình ảnh Archimboldi đã vượt qua mọi trở ngại, và năm 1991 bản dịch thứ hai của Piero Morini, lần này là cuốn Thánh Thomas, được xuất bản ở Ý. Đến khi ấy, Morini đang dạy văn chương Đức ở Đại học Tổng hợp Turin, các bác sĩ chẩn đoán anh bị đa xơ cứng, và anh đã gặp phải một tai nạn lạ kỳ và ngoạn mục khiến anh vĩnh viễn gắn với xe lăn.

♣ ♣ ♣

Manuel Espinoza đến với Archimboldi bằng một con đường khác. Trẻ tuổi hơn Morini và Pelletier, Espinoza nghiên cứu văn chương Tây Ban Nha, không phải văn chương Đức, ít nhất trong hai năm đầu đại học, bởi vì, bên cạnh những nguyên nhân đáng buồn khác, anh mộng trở thành nhà văn. Các tác giả Đức mà anh có (chút ít) quen thuộc là ba con người vĩ đại: Hölderlin, vì lúc mười sáu tuổi anh nghĩ định mệnh sắp đặt cho anh trở thành thi sĩ và anh đã ngấu nghiến mọi tập thơ tìm được; Goethe, vì năm cuối cấp hai một giáo viên có khiếu hài hước giới thiệu anh đọc Nỗi đau của chàng Werther, mà anh sẽ tìm thấy trong nhân vật chính một tinh thần gần gũi; và Schiller, bởi vì anh đã đọc một trong những vở kịch của ông. Sau này anh phát hiện ra tác phẩm của một tác giả hiện đại, Jünger, anh đã làm quen với ông bằng cách thẩm thấu hơn mọi cách nào khác, vì các nhà văn Madrid mà anh ngưỡng mộ (và trong sâu xa ghét cay ghét đắng) không ngớt nói về Jünger. Vậy có thể nói rằng Espinoza chỉ quen thuộc với mỗi một tác giả Đức và người đó là Jünger. Đầu tiên anh nghĩ tác phẩm của Jünger thật tuyệt diệu, và vì nhiều đầu sách của tác giả này đã được dịch sang tiếng Tây Ban Nha, Espinoza tìm và đọc tất không khó khăn gì. Anh đã mong nó bớt dễ dàng hơn một chút. Trong khi đó, nhiều người anh quen không chỉ là người hâm mộ Jünger; một vài người còn là dịch giả của Jünger nữa, tuy nhiên Espinoza không quan tâm mấy đến chuyện đó, vì vinh quang mà anh thèm muốn là vinh quang của tác giả, không phải của dịch giả.

Năm tháng trôi qua, lặng lẽ và tàn nhẫn như thường lệ, Espinoza vấp phải vài sự không may khiến anh thay đổi cách suy nghĩ. Ví dụ như, chẳng lâu la gì, anh đã phát hiện ra nhóm hâm mộ Jünger chẳng hâm mộ Jünger như anh từng nghĩ, thay vào đó, như mọi nhóm văn chương, họ ngả nghiêng theo mùa. Thu, đúng, họ ái mộ Jünger, nhưng đông tới họ thình lình chuyển sang mê Baroj và xuân về chuyển sang cuồng Ortega, và vào mùa hè thậm chí họ rời khỏi điểm hẹn ở quán bar để đổ ra đường ngâm nga những vần thơ đồng quê vinh danh Camilo José Cela, một điều mà chàng Espinoza trẻ tuổi, về căn bản yêu nước, hẳn sẽ sẵn sàng đón nhận vô điều kiện nếu những biểu hiện đó được khởi đầu trên một tinh thần ham vui, hội hè, nhưng lại không tài nào có thể coi chuyện đó là hoàn toàn nghiêm túc được như kiểu các nhà hâm mộ Jünger giả hiệu.

Tồi tệ hơn, anh khám phá ra các thành viên trong nhóm nghĩ gì về những thử sức của anh đối với mảng tiểu thuyết. Ý kiến của họ tiêu cực đến nỗi có những lúc - ví dụ như những đêm không ngủ được - anh bắt đầu hết sức nghiêm túc nghi ngại liệu có phải họ đang đóng trò vờ vịt để gạt anh ra, để anh ngừng quấy rầy họ, không bao giờ thò mặt ra nữa.

Thậm chí tồi tệ hơn nữa là khi Jünger xuất hiện bằng xương bằng thịt ở Madrid và hội ái mộ Jünger tổ chức một chuyến đi đến El Escorial cho ông ấy (một ý thích lạ lùng của bậc thầy, viếng thăm El Escorial), và khi Espinoza cố tham gia chuyến tham quan, bằng bất cứ tư cách nào cũng được, anh bị khước từ vinh dự đó, như thể các nhà hâm mộ Jünger xem anh không đáng làm một phần của nhóm bảo vệ tác giả người Đức, hoặc họ sợ anh, Espinoza, có thể làm họ xấu hổ vì một bình luận ngây ngô, kỳ cục nào đó, mặc dù cách giải thích chính thức được đưa ra (có lẽ vì động cơ khoan dung chăng) là anh không nói được tiếng Đức trong khi mọi người khác đi dã ngoại với Jünger đều nói được.

♣ ♣ ♣

Đó là đoạn kết mọi mối quan hệ giữa Espinoza với hội Jünger. Và đó cũng là khởi đầu của sự cô đơn và một dòng (hay trận lũ) bền bỉ của những quyết định, thường xuyên trái ngược nhau và bất khả thực hiện. Thời gian ấy chẳng phải là những đêm thoải mái, mà kém dễ chịu hơn nhiều, nhưng Espinoza khám phá ra hai thứ giúp anh vô cùng nhiều trong những ngày chập chững ấy: anh sẽ không bao giờ trở thành nhà văn, và, theo cách riêng của mình, anh dũng cảm.

Anh cũng khám phá ra rằng mình là kẻ cay đắng và đầy oán giận, rằng từ anh rỉ ra niềm oán giận, và rằng anh có thể dễ dàng hạ sát ai đó, bất kỳ ai, nếu điều ấy mang đến cho anh một lối thoát khỏi sự cô đơn cũng như khỏi mưa và cái lạnh của Madrid, nhưng đây cũng là một khám phá mà anh thà giấu kín. Thay vào đó, anh tập trung vào nhận thức rằng mình sẽ không bao giờ trở thành một nhà văn và vào việc làm mọi thứ có thể dựa trên lòng dũng cảm mới khơi lộ của mình.

Anh tiếp tục học đại học, nghiên cứu văn học Tây Ban Nha, nhưng cùng lúc ghi danh ở khoa tiếng Đức. Mỗi đêm anh ngủ bốn hay năm tiếng, thời gian còn lại anh ngồi vào bàn. Trước khi hoàn tất bằng văn học Đức, anh viết một tiểu luận hai mươi trang về mối quan hệ giữa Werther và âm nhạc, bài được đăng trên một tạp chí văn chương Madrid và một tạp chí đại học ở Göttingen. Đến năm hai mươi lăm tuổi, anh đã xong cả hai bằng. Năm 1990, anh nhận bằng tiến sĩ văn học Đức với luận án về Benno von Archimboldi. Một nhà xuất bản ở Barcelona phát hành luận án này một năm sau đó. Đến khi ấy, Espinoza đã thường xuyên hiện diện tại các hội nghị và bàn tròn về văn học Đức. Khả năng tiếng Đức của anh nếu không phải xuất sắc thì cũng hơn mức trung bình nhiều. Anh còn nói được tiếng Anh và Pháp. Cũng như Morini và Pelletier, anh có một công việc tốt và thu nhập đáng kể, và anh được sinh viên cũng như đồng nghiệp tôn trọng (trong chừng mực có thể). Anh chưa bao giờ dịch Archimboldi hay bất cứ tác giả Đức nào khác.

♣ ♣ ♣

Ngoài Archimboldi, có một điểm nữa mà Morini, Pelletier và Espinoza cùng chia sẻ. Cả ba đều có ý chí sắt đá. Thật ra, họ còn một điểm chung nữa, nhưng ta sẽ nói chuyện đó sau.

Liz Norton, mặt khác, không phải kiểu mà người ta thường gọi là một phụ nữ với những thôi thúc mãnh liệt, ý là cô không vạch ra những kế hoạch dài hạn hay trung hạn và toàn tâm toàn ý thực hiện những kế hoạch đó. Cô không có phẩm chất nào của một người tham vọng. Khi đau khổ, nỗi đau của cô hiển hiện rõ ràng, và khi hạnh phúc, niềm hạnh phúc cô cảm nhận cũng lây lan. Cô không có khả năng đặt ra cho mình một mục tiêu và nỗ lực đều đặn hướng tới mục tiêu ấy. Ít nhất, chẳng mục tiêu nào hấp dẫn hay cuốn hút đủ cho cô theo đuổi nó tới cùng. Dùng theo nghĩa cá nhân, cụm từ “đạt một mục đích” với cô dường như là một cạm bẫy hẹp hòi. Cô ưa từ đời sống, và, trong những dịp hiếm hơi, từ hạnh phúc. Nếu tự do ý chí bị ràng buộc vào những mệnh lệnh xã hội, như William James tin tưởng, và do đó tham chiến còn dễ hơn bỏ thuốc lá, người ta có thể nói rằng Liz Norton là dạng phụ nữ thấy bỏ thuốc dễ hơn là tham chiến.

Cô từng nghe nói chuyện này hồi còn là sinh viên, và cô yêu thích điều ấy, mặc dù nó chưa bao giờ khiến cô đọc William James. Với cô, việc đọc sách kết nối trực tiếp tới niềm lạc thú, chứ không phải tới kiến thức, những bí ẩn, các cấu trúc hay mê cung ngôn từ, như Morini, Espinoza và Pelletier tin phải là thế.

Việc khám phá ra Archimboldi của cô là ít chấn động nhất, kém thi vị nhất so với mọi người. Năm 1988, trong thời gian ba tháng sống ở Berlin, khi ấy cô hai mươi tuổi, một người bạn Đức cho cô mượn một tiểu thuyết của một tác giả cô chưa bao giờ nghe tới. Cái tên làm cô thắc mắc. Sao có thể thế được, cô hỏi người bạn, rằng lại có một nhà văn Đức mang họ Ý, nhưng có chữ von đứng trước, thể hiện ít nhiều tính quý tộc? Người bạn Đức của cô không có câu trả lời. Đó có thể là bút danh, anh nói. Và để khiến sự việc thậm chí lạ lùng hơn, anh nói thêm, ở Đức tên đàn ông kết thúc bằng nguyên âm không phổ biến. Khá nhiều tên phụ nữ kết thúc như thế. Nhưng chắc chắn không phải tên đàn ông. Cuốn tiểu thuyết tên là Người đàn bà mù, cô thích nó, nhưng không nhiều đến mức khiến cô lao ra đường mua tất cả thứ khác mà Benno von Archimboldi từng viết.

♣ ♣ ♣

Năm tháng sau, quay lại Anh, Liz Norton nhận được qua đường bưu điện một món quà từ người bạn Đức của mình. Như mọi người có thể đoán ra, đó là một tiểu thuyết khác của Archimboldi. Cô đọc, thích cuốn sách, nên đến thư viện trường tìm thêm sách của tác giả người Đức có tên Ý này, và tìm được hai cuốn: một là cuốn cô đã đọc ở Berlin, và cuốn kia là Ngài Bitzius. Việc đọc cuốn sau thực sự khiến cô lao ra đường. Mưa đang trút xuống khoảnh sân, và bầu trời trên sân trông như vẻ chau mày của một con robot hay một vị thần hình dạng giống chúng ta. Những giọt mưa chênh chếch trượt xuống những lá cỏ trong công viên, nhưng nếu nó có trượt ngược lên thì cũng không có gì khác biệt. Rồi những (giọt) chênh chếch biến thành (giọt) tròn trịa, bị mặt đất bên dưới bãi cỏ nuốt chửng, rồi bãi cỏ và mặt đất dường như trò chuyện với nhau, không, không phải trò chuyện, mà cãi cọ, những từ ngữ không thể hiểu được của chúng như những mạng nhện kết tinh hay những bãi nôn kết tinh lại trong thoáng chốc, tiếng xao xác gần như không nghe được, như thể thay vì chiều hôm đó uống trà, Norton đã uống một cốc peyote* bốc hơi nghi ngút.

Nhưng sự thật là cô chỉ có mỗi trà để uống và cô cảm thấy mình bị ngập chìm, như thể ong ong trong tai cô một giọng nói lặp đi lặp lại một lời cầu nguyện kinh khủng, mà ngôn từ của lời cầu nguyện ấy nhòe dần khi cô cuốc bộ ra khỏi trường, mưa làm ướt chiếc váy xám, ướt đôi đầu gối xương xẩu, mắt cá chân xinh xắn và tất tật, bởi trước khi Liz Norton chạy vào công viên, cô đã quên mang theo dù.

♣ ♣ ♣

Lần đầu tiên Pelletier, Morini, Espinoza và Norton gặp nhau là ở một hội nghị văn học Đức đương đại tổ chức ở Bremen năm 1994. Pelletier và Morini từng gặp nhau trước đó, tại hội thảo văn học Đức tổ chức ở Leipzig năm 1989, khi Cộng hòa Dân chủ Đức đang ngắc ngoải, và họ gặp nhau lần nữa tại hội nghị văn học Đức tổ chức ở Mannheim tháng Mười hai năm đó (một thảm họa, bởi khách sạn tồi, thức ăn tồi, tổ chức thì nhộm nhoạm). Tại một diễn đàn văn học Đức hiện đại ở Zurich năm 1990, Pelletier và Morini gặp Espinoza. Espinoza gặp Pelletier lần nữa ở một hội nghị văn học Đức thế kỷ hai mươi tổ chức ở Maastricht năm 1991 (Pelletier đọc tham luận “Heine và Archimboldi: Những nẻo đường hội tụ”; Espinoza đọc tham luận “Ernst Jünger và Benno von Archimboldi: Những nẻo đường phân kỳ”), và có thể nói mà không sợ sai mấy rằng từ đó trở đi họ không chỉ đọc bài nhau trên các tạp chí chuyên môn, mà còn trở thành bạn bè, hay giữa họ đã nảy sinh điều gì đó như là tình bạn. Năm 1992, Pelletier, Espinoza và Morini tình cờ gặp nhau lần nữa tại một hội thảo văn học Đức ở Augsburg. Mỗi người đều trình bày một tham luận về Archimboldi. Trong một vài tháng, người ta đồn rằng đích thân Benno von Archimboldi có kế hoạch dự sự kiện lớn này, vốn không chỉ hội tụ các nhà nghiên cứu văn học Đức mà còn khá đông đảo văn sĩ, thi sĩ Đức, tuy nhiên vào giờ chót, hai ngày trước khi khai mạc, nhà xuất bản của Archimboldi ở Hamburg đánh điện đến xin lỗi. Về mọi phương diện khác, hội nghị cũng là một thất bại. Theo ý Pelletier, có lẽ thứ duy nhất đáng quan tâm là một bài giảng của một giáo sư già ở Berlin về tác phẩm của Arno Schmidt (ở đây chúng ta có một cái tên đúng chất Đức kết thúc bằng nguyên âm), đánh giá này nhận được sự chia sẻ của Espinoza, và trong một chừng mực ít hơn, của Morini.

Họ dành thời gian rảnh rỗi, vốn khá rộng rãi, duyệt qua các địa điểm du lịch xoàng xĩnh (theo ý Pelletier) ở Augsburg, một thành phố mà Espinoza thấy cũng xoàng xĩnh, và Morini cho là tạm được, nhưng phân tích tới nơi tới chốn thì vẫn xoàng xĩnh, Espinoza và Pelletier thay phiên nhau đẩy xe lăn cho Morini vì dạo ấy Morini không khỏe lắm, đúng hơn là sức khỏe khá tồi, cho nên hai người bạn đồng thời là đồng nghiệp xét thấy một chút khí trời trong lành không hại gì cho anh, và thực ra có thể tốt cho anh hơn.

Chỉ Pelletier và Espinoza dự hội nghị văn học Đức kế tiếp, tổ chức ở Paris tháng Một năm 1992. Morini cũng được mời, nhưng vào lúc đó do tình trạng sức khỏe của anh tệ hơn bình thường nên bác sĩ khuyên anh tránh làm một số việc, mà cụ thể là những chuyến đi ngắn. Đó không phải là một hội nghị tệ, và tuy lịch trình kín mít, Pelletier và Espinoza cũng dành được chút thời gian để đi ăn với nhau tại một quán ăn nhỏ trên đường Galande, gần Saint-Julien-le-Pauvre, ở đó ngoài việc nói về những dự án và mối quan tâm của mình, trong lúc ăn tráng miệng họ bàn tán về thể trạng sức khỏe (ốm yếu, èo uột, đau khổ) của anh chàng người Ý u sầu, mà tình trạng ốm yếu đã không ngăn bắt tay soạn một cuốn sách về Archimboldi, một cuốn sách có thể sẽ là kiệt tác vĩ đại về Archimboldi, con cá hoa tiêu cần mẫn bơi bên cạnh con cá mập đen vĩ đại là khối tác phẩm của nhà văn Đức nọ, như Pelletier thuật lại lời Morini kể với anh trên điện thoại, nhưng anh không chắc là nghiêm túc hay đùa cợt. Cả Pelletier lẫn Espinoza tôn trọng tác phẩm của Morini, nhưng những từ ngữ vang lên từ Pelletier (nói ra như từ bên trong một lâu đài cổ hay một căn hầm nhốt tù đào bên dưới đường hào của một lâu đài cổ) nghe có vẻ như lời đe dọa trong cái quán ăn nhỏ thanh bình trên đường Galande, giục giã kết cục của một buổi tối vốn khởi đầu trong không khí thân ái và chan hòa.

♣ ♣ ♣

Những điều này không làm suy suyển đến quan hệ của Pelletier và Espinoza với Morini.

Ba người gặp lại nhau tại một hội thảo văn học Đức tổ chức ở Bologna năm 1993. Và cả ba đều góp mặt trên số 46 Tạp chí Nghiên cứu Văn học của Berlin, một số chuyên đề dành cho tác phẩm của Archimboldi. Đó không phải lần đầu họ góp bài cho tạp chí này. Trên số 44, đã có một bài của Espinoza về ý niệm Thượng đế trong tác phẩm của Archimboldi và Unamuno. Trên số 38, Morini đã đăng một bài về tình trạng giảng dạy văn học Đức ở Ý. Và trên số 37, Pelletier đã trình bày tổng quan về các nhà văn Đức quan trọng nhất thế kỷ hai mươi ở Pháp và châu Âu, một công trình ngẫu nhiên khơi ngòi không chỉ một bài phản đối mà thậm chí cả vài lời mắng nhiếc.

Nhưng chính số 46 này mới quan trọng đối với chúng ta, không chỉ vì nó đánh dấu việc hình thành hai nhóm các nhà nghiên cứu Archimboldi đối lập - Pelletier, Morini và Espinoza đối đầu với Schwarz, Borchmeyer và Pohl - mà số này còn có một bài của Liz Norton, xuất sắc đến mức khó tin, theo Pelletier, lập luận tốt, theo Espinoza, thú vị, theo Morini, một bài tự nó hài hòa (mà không theo yêu cầu của bất cứ ai) với các tiểu luận của ba người bạn, bài báo trích dẫn họ ở nhiều chỗ, thể hiện một kiến thức hoàn chỉnh về các nghiên cứu của họ cũng như các chuyên đề do các tạp chí chuyên ngành hay các nhà xuất bản nhỏ ấn hành.

Pelletier đã định viết cho cô một lá thư, nhưng rốt cuộc lại thôi. Espinoza gọi Pelletier hỏi liệu liên lạc với cô có phải là ý tưởng hay không. Do không chắc lắm, họ quyết định hỏi Morini. Morini không bình luận gì. Tất cả những gì họ biết về Liz Norton là cô dạy văn học Đức tại một trường đại học ở Anh. Và, không giống như họ, cô không phải là giáo sư thực thụ.

♣ ♣ ♣

Hội nghị văn học Đức ở Bremen đầy ắp sự kiện. Pelletier, với sự trợ giúp của Morini và Espinoza, liên tục tấn công như Napoléon ở trận Jena, đột kích các học giả Archimboldi thiếu cảnh giác, khiến nhóm Pohl, Schwarz và Borchmeyer chẳng mấy chốc đã phải cuốn cờ dạt ra các quán cà phê và quán rượu của Bremen. Các giáo sư trẻ người Đức tham gia sự kiện thoạt tiên ngơ ngẩn sau đó, tuy có phần thận trọng, kéo về phe của Pelletier và các bạn. Khán giả, chủ yếu gồm đám sinh viên đại học từ Göttingen tới bằng tàu lửa hay xe khách, cũng bị những diễn giải bừng lửa và không khoan nhượng của Pelletier chinh phục, ném tung nghi ngại cho gió cuốn và nồng nhiệt hưởng ứng viễn tượng tưng bừng phóng túng mang tinh thần Dionysus nơi những giảng luận về cái lễ hội sau cuối (hay cận kề sau cuối) mà Pelletier và Espinoza đề cao. Hai ngày sau, Schwarz và đồ đệ phản công. Họ so sánh Archimboldi với Heinrich Böll. Họ nói về khổ đau. Họ so sánh Archimboldi với Günter Grass. Họ nói về trách nhiệm dân sự. Borchmeyer thậm chí so Archimboldi với Friedrich Dürrenmatt và nói về hài hước, mà đối với Morini đó là đỉnh cao của trơ tráo. Rồi Liz Norton xuất hiện, như thiên sứ, dập tắt cuộc phản công như tướng Desaix, như thống chế Lannes, như một nữ chiến binh Amazon tóc vàng nói thứ tiếng Đức xuất sắc, mỗi tội quá nhanh, trình bày chi tiết về Grimmelshausen và Gryphius và nhiều người khác, bao gồm cả Theophrastus Bombastus von Hohenheim, được biết đến nhiều hơn dưới tên Paracelsus.

♣ ♣ ♣

Đêm hôm ấy họ ăn cùng nhau tại một quán rượu dài và hẹp gần sông, trên một con đường tối kẹp hai bên là những tòa nhà kiểu Hanse cổ kính, nhiều tòa trông giống những văn phòng Quốc xã bị bỏ hoang, và để đến được quán rượu họ phải leo xuống các bậc thang ướt lướt thướt vì mưa phùn.

Chỗ này không thể kinh hơn được nữa, Liz Norton nghĩ bụng, nhưng buổi tối ấy dài mà dễ chịu, và sự thân thiện của Pelletier, Morini và Espinoza, những người hoàn toàn không hề khó gần, khiến cô thấy thoải mái. Dĩ nhiên, cô quen thuộc với hầu hết công trình của họ, nhưng điều khiến cô ngạc nhiên (một cách dễ chịu, tất nhiên) là họ cũng quen thuộc với vài công trình của cô. Cuộc trò chuyện diễn tiến qua bốn giai đoạn: đầu tiên họ cười hể hả về cú chỉ trích Norton dành cho Borchmeyer và về việc Borchmeyer càng lúc càng mất tinh thần trước các đòn tấn công càng lúc càng khốc liệt của Norton, rồi họ nói về các hội thảo tương lai, đặc biệt về một hội thảo lạ lùng ở Đại học Minnesota, được cho là sẽ có năm trăm giáo sư, dịch giả và chuyên gia văn học Đức tham dự, dù Morini có lý do để tin rằng toàn bộ chỉ là trò lừa đảo, rồi sau đó họ bàn về Benno von Archimboldi và cuộc đời của ông, vốn rất ít được biết đến. Tất cả bọn họ, từ Pelletier đến Morini (đêm hôm ấy nói nhiều, tuy bình thường là người ít nói nhất), xem xét lại các giai thoại và chuyện gẫu, so sánh các thông tin cũ, mơ hồ không biết lần thứ bao nhiêu, và phỏng đoán về nơi ở cũng như cuộc đời của nhà văn vĩ đại như người ta phân tích rốt ráo một bộ phim yêu thích, và cuối cùng, trong khi cuốc bộ trên những con đường ẩm ướt nhưng sáng đèn (chỉ thi thoảng sáng, như thể Bremen là một cỗ máy thường xuyên bị giật nẩy lên vì những cú sốc điện ngắn ngủi nhưng mạnh mẽ), họ nói về bản thân.

Cả bốn đều độc thân và họ thấy ấy là dấu hiệu đáng khích lệ. Cả bốn đều sống một mình, nhưng Liz Norton thỉnh thoảng chia sẻ căn hộ ở London của mình với người anh trai làm việc cho một tổ chức phi chính phủ thường xuyên đi xa, chỉ về Anh vài lần một năm. Cả bốn đều dốc hết mình cho sự nghiệp, Pelletier, Espinoza và Morini đều có bằng tiến sĩ, Pelletier và Espinoza còn là trưởng khoa, còn Norton chỉ đang chuẩn bị luận án của mình và không hề mong ước trở thành trưởng khoa tiếng Đức của trường cô.

Đêm đó, trước khi chìm vào giấc ngủ, Pelletier không nghĩ về những tranh cãi ở hội nghị. Thay vào đó anh nghĩ về chuyến đi dạo dọc theo những con đường ven sông và Liz Norton đi bên cạnh anh trong khi Espinoza đẩy xe của Morini và bốn người bọn họ cười với những con thú nhỏ nhắn của Bremen, chúng hòa thuận và thơ ngây trèo lên lưng nhau dõi theo họ hay dõi theo bóng họ trên vỉa hè.

♣ ♣ ♣

Kể từ ngày đó hay đêm đó, không tuần nào trôi qua mà bốn người bọn họ không gọi cho nhau, đôi khi vào những giờ giấc kỳ cục nhất, không hề bận tâm đến hóa đơn điện thoại.

Đôi khi Liz Norton là người gọi Espinoza và hỏi về Morini, người mà cô mới nói chuyện hôm trước và cô nghĩ là có vẻ hơi mệt mỏi. Cùng ngày đó Espinoza gọi Pelletier thông báo cho anh rằng theo Norton, sức khỏe của Morini đang xấu đi, để rồi Pelletier sẽ phản ứng bằng cách ngay lập tức gọi cho Morini, hỏi thẳng anh đang thế nào, cười đùa với anh (bởi Morini luôn luôn cố hết sức không nói nghiêm túc về tình trạng của mình), trao đổi vài nhận xét lặt vặt về công việc, và sau đó gọi cho Norton, có thể vào nửa đêm, sau khi trì hoãn niềm vui sướng của cuộc gọi bằng một bữa tối giản dị và tinh tế, và đảm bảo với cô rằng họ vẫn được quyền hy vọng rằng, Morini mạnh khỏe, bình thường, ổn định, và cái mà Norton cho là trầm cảm chỉ là tình trạng tự nhiên của Morini, anh vốn nhạy cảm với những thay đổi về thời tiết (có thể thời tiết ở Turin xấu, có thể đêm hôm trước Morini đã mơ ai mà biết được một giấc mơ kinh hoàng nào đó), vậy là kết thúc một chu kỳ mà một hay hai ngày sau sẽ lại bắt đầu, bằng việc Morini gọi Espinoza chẳng có lý do gì, chỉ để chào một tiếng, chỉ vậy thôi, để trò chuyện một lúc, cuộc gọi luôn luôn toàn những chuyện vụn vặt, bình luận về thời tiết (cứ như thể Morini và Espinoza đã nhiễm thói quen trò chuyện của người Anh), giới thiệu phim, những bình luận bàng quan về những cuốn sách gần đây, nói tóm lại, một cuộc trò chuyện điện thoại nhìn chung là buồn ngủ hay ít nhất cũng uể oải, nhưng lại là cuộc trò chuyện mà Espinoza tham gia với nhiệt tình kỳ lạ, hay nhiệt tình giả vờ, hay bằng lòng yêu mến, hay ít ra là bằng mối quan tâm giữa con người với con người, và là cuộc trò chuyện mà Morini dốc sức vào như thể đời anh phụ thuộc vào đó, và hai ngày hay vài giờ sau, sẽ tới phiên Espinoza gọi cho Norton và có một cuộc trò chuyện về căn bản tương tự như vậy, rồi Norton gọi cho Pelletier, Pelletier gọi cho Morini, để rồi vài ngày sau đó toàn bộ quy trình lại bắt đầu lại, cuộc gọi chuyển hóa thành một mã siêu chuyên biệt, cái biểu đạt và cái được biểu đạt trong Archimboldi, văn bản, văn bản chìm, cận văn bản, cuộc tái chinh phục cả lãnh địa thực lẫn lãnh địa khẩu ngôn trong những trang cuối cuốn Ngài Bitzius, những thứ mà trong tình huống này cũng giống như nói về phim ảnh hay các vấn đề trong khoa tiếng Đức hay những đám mây không ngớt trôi qua thành phố của mỗi người, suốt từ sáng đến đêm.

♣ ♣ ♣

Họ gặp nhau lần nữa tại hội nghị văn học châu Âu hậu chiến tổ chức ở Avignon vào cuối năm 1994. Norton và Morini đi dự với tư cách quan sát viên, mặc dù chuyến đi của họ được trường tài trợ, còn Pelletier và Espinoza trình bày tham luận về việc nhập khẩu tác phẩm của Archimboldi. Tham luận của Pelletier tập trung vào tính cách biệt, về sự đứt gãy dường như tách rời toàn bộ tác phẩm của Archimboldi khỏi truyền thống Đức, mặc dù không tách khỏi một truyền thống châu Âu rộng lớn hơn. Tham luận của Espinoza, một trong những bài tâm huyết nhất anh từng viết, xoay quanh bí ẩn bảng lảng trên hình bóng của Archimboldi, hầu như chưa ai, kể cả nhà xuất bản của ông, biết tí gì về ông: sách của ông được in ra không hề có ảnh tác giả trên mép gấp hay bìa bốn; thông tin tiểu sử ông ít ỏi (nhà văn Đức sinh ở Phổ năm 1920); nơi cư trú của ông là một bí ẩn, mặc dù có lúc nhà xuất bản của ông lỡ lời trước phóng viên của tờ Spiegel rằng một trong những bản thảo của ông được gửi tới từ Sicily; không ai trong số các nhà văn cùng thời còn sống từng gặp gỡ ông; không có bản tiểu sử nào của ông hiện diện trong tiếng Đức mặc dù doanh số sách ông đang tăng ở Đức cũng như phần còn lại của châu Âu và ngay cả ở Mỹ, nơi vốn ưa thích các nhà văn biến mất (nhà văn biến mất hay nhà văn triệu phú) hay huyền thoại về những nhà văn biến mất, và nơi mà tác phẩm của ông bắt đầu được lưu hành rộng rãi, không chỉ giới hạn tại các khoa tiếng Đức mà còn trong và ngoài các trường đại học, tại những thành phố mênh mông vốn dành tình yêu cho các nghệ thuật truyền khẩu và nghệ thuật thị giác.

♣ ♣ ♣

Buổi tối Pelletier, Morini, Espinoza và Norton thường ăn cùng nhau, đôi khi đi cùng một, hai giáo sư người Đức mà họ quen biết từ lâu, nhưng các vị này cho dù rút lui sớm về khách sạn hay ở lại đến hết buổi tối thường khá kiệm lời, như thể họ hiểu rằng hình tứ giác tạo ra bởi bốn nhà nghiên cứu Archimboldi này là không thể xâm phạm và cũng dễ có khuynh hướng phản ứng bạo liệt với bất cứ can thiệp ngoại lai nào vào giờ ấy của đêm. Rốt cuộc luôn luôn là chỉ bốn người bọn họ đi dạo trên những con đường của Avignon, tươi tắn và vui vẻ như hồi họ dạo qua những con phố quan liêu, đen bẩn của Bremen và như khi họ sẽ đi dạo trên nhiều con đường chờ đợi họ trong tương lai, Norton đẩy xe cho Morini với Pelletier đi theo bên tay trái và Espinoza bên phải, hoặc Pelletier đẩy Morini còn Espinoza đi bên trái và Norton đi lùi phía trước họ và cười bằng tất cả sinh lực tuổi hai sáu của mình, cái cười lộng lẫy khiến họ mau chóng cười theo mặc dù chắc chắn họ không thích cười mà chỉ thích nhìn cô, hay bốn người bọn họ sánh ngang hàng rồi dừng lại bên cạnh bờ kè thấp của con sông quá vãng, hay nói cách khác con sông bị thuần hóa, nói chuyện về niềm ám ảnh Đức của họ mà không ngắt lời nhau, kiểm tra và thưởng thức trí tuệ của nhau, với những khoảng lặng kéo dài mà ngay cả mưa cũng không thể phá quấy.

♣ ♣ ♣

Cuối năm 1994, khi Pelletier từ Avignon trở về, khi anh mở cửa căn hộ của mình ở Paris, đặt túi xách xuống sàn và đóng cửa, khi anh rót cho mình một ly whiskey, kéo màn cửa và nhìn ra quang cảnh thường ngày, một mảng của Dinh de Breteuil với tòa nhà UNESCO phía hậu cảnh, khi anh cởi áo khoác và để chai whiskey trong bếp và nghe các tin nhắn trên máy trả lời tự động, khi anh cảm thấy chóng mặt, nặng nề nơi mí mắt, nhưng thay vì lên giường đi ngủ anh cởi quần áo và đi tắm, rồi khi quấn một chiếc áo choàng tắm dài gần đến mắt cá anh mở máy tính lên, chỉ khi đó anh mới nhận ra anh nhớ Liz Norton và rằng anh sẽ đổi bất cứ thứ gì để được ở cùng cô vào giây phút đó, không chỉ trò chuyện với cô mà còn ở trên giường cùng cô, nói với cô rằng anh yêu cô và nghe từ môi cô rằng cô cũng yêu anh.

Espinoza cũng trải qua điều gì đó tương tự, mặc dù hơi khác về hai phương diện. Thứ nhất, nhu cầu ở gần Liz Norton đến với anh đâu đó trước khi anh trở về căn hộ của mình ở Madrid. Đến lúc ở trên máy bay anh đã nhận ra cô là người phụ nữ hoàn hảo, người anh đã luôn hy vọng tìm thấy, và anh bắt đầu đau đớn. Thứ hai, giữa những hình ảnh lý tưởng của Norton lướt ngang đầu anh với tốc độ siêu thanh trong lúc máy bay bay về Tây Ban Nha ở tốc độ bốn trăm dặm một giờ, có nhiều cảnh tình dục hơn Pelletier đã tưởng tượng ra. Không hơn nhiều quá, nhưng nhiều hơn.

Trong khi đó, Morini, đi tàu từ Avignon về Turin, suốt chuyến đi đọc phụ trang văn hóa của tờ Il Manifesto, rồi ngủ cho đến khi mấy người soát vé (đã giúp đưa anh và xe lăn lên sân ga) báo cho anh biết đã tới nơi.

Còn về điều gì lướt qua đầu Liz Norton, tốt hơn không nên nói ra.

♣ ♣ ♣

Tuy nhiên, tình bạn giữa bốn học giả Archimboldi vẫn tiếp tục theo cách như trước nay, không thể lay chuyển, định hình bởi một lực mạnh mẽ mà bốn người không thể kháng cự, ngay cả khi điều này có nghĩa là những khao khát cá nhân của họ bị đẩy xuống hàng thứ yếu.

Năm 1995 họ gặp nhau trong buổi tọa đàm về văn chương đương đại Đức tổ chức ở Amsterdam, một cuộc thảo luận nằm trong khuôn khổ một thảo luận lớn hơn đang diễn ra trong cùng tòa nhà (tại các giảng đường riêng biệt) về văn chương Pháp, Anh và Ý.

Không cần nói cũng biết hầu hết người tham dự những buổi thảo luận kỳ lạ này dồn về sảnh thảo luận văn chương đương đại Anh, ngay bên cạnh sảnh văn chương Đức và ngăn cách với sảnh này bằng một bức tường rõ ràng là không phải làm bằng đá, như tường thường vẫn thế, mà bằng những viên gạch mong manh phủ một lớp vữa mỏng, cho nên những tiếng la gào, hú hét, và đặc biệt những tràng vỗ tay do văn chương Anh gây ra có thể nghe được trong sảnh văn chương Đức như thể hai cuộc trò chuyện hay đối thoại này là một, hay như thể những người Đức đang bị nhạo báng, dù không bị át hẳn tiếng, bởi người Anh, chưa nói đến lượng khán giả khổng lồ dự buổi thảo luận văn chương Anh (hay hệ Anglo-Ấn), lớn hơn nhiều so với lượng khán giả thưa thớt và chân tình dự buổi thảo luận văn chương Đức. Xét cho cùng, điều này lại tốt, vì ai cũng biết một cuộc trò chuyện giữa chỉ một số ít người, trong đó mọi người đều lắng nghe nhau và bỏ thời gian suy nghĩ và không la hét, thường ích lợi hơn hay ít nhất thư giãn hơn một cuộc trò chuyện đại chúng, vốn có rủi ro mặc nhiên là trở thành một buổi kêu gọi, hay, bởi vì tính ngắn gọn cần thiết của các bài nói chuyện, trở thành một chuỗi các khẩu hiệu phai nhạt ngay khi chúng được lập thành.

Nhưng trước khi đi đến điểm mấu chốt của vấn đề, hay của cuộc thảo luận, cần phải lưu ý một chi tiết khá vặt vãnh tuy nhiên lại ảnh hưởng đến tiến trình các sự kiện. Vào giờ chót, các nhà tổ chức - cũng là những người đã loại văn chương Tây Ban Nha, Ba Lan và Thụy Điển đương đại ra vì lý do thiếu thời gian hoặc tiền - dành hầu hết ngân quỹ để cung cấp chỗ ở xa xỉ cho các ngôi sao của văn chương Anh, và với số tiền còn lại họ mang đến ba tiểu thuyết gia người Pháp, một nhà thơ người Ý, một nhà viết truyện ngắn người Ý và ba nhà văn Đức, hai người đầu là tiểu thuyết gia của Đông và Tây Berlin, giờ đã thống nhất làm một, cả hai hầu như không mấy tiếng tăm (và cả hai đáp tàu đến Amsterdam và không phàn nàn gì khi bị xếp cho ở tại một khách sạn ba sao), và người thứ ba là một nhân vật mờ nhạt mà hầu như không ai biết gì tới, kể cả Morini, người cho dù có làm thuyết trình viên hay không, biết khá nhiều về văn chương đương đại Đức.

Và rồi khi tay nhà văn mờ nhạt, một người Swabia, trong cuộc nói chuyện (hay thảo luận) của mình bắt đầu hồi tưởng về quãng thời gian làm nhà báo, biên tập viên những trang nghệ thuật, phỏng vấn mọi loại nhà văn và nghệ sĩ vốn cảnh giác với các cuộc phỏng vấn, và rồi bắt đầu nhớ lại thời gian mà ông ta làm người xúc tiến văn hóa ở các thị trấn xa xôi hay đơn giản là bị lãng quên nhưng lại quan tâm đến văn hóa, đột nhiên, tên của Archimboldi chợt bật ra (có thể được gợi ý bởi cuộc trò chuyện trước đó do Espinoza và Pelletier dẫn dắt), bởi nhà văn người Swabia đó, hóa ra là, từng gặp Archimboldi khi ông ta là người xúc tiến văn hóa cho một thị trấn vùng Frisia, phía Bắc của Wilhelmshaven, đối diện bờ Biển Đen và các hòn đảo Đông Frisia, một vùng đất lạnh lẽo, rất lạnh lẽo, và thậm chí còn ướt át hơn là lạnh lẽo, một cái ướt át mằn mặn thấu vào tận xương, ở đây chỉ có hai cách để vượt qua mùa đông, một, uống cho đến bạn bị xơ gan, và hai, nghe nhạc (thường là tứ tấu đàn dây nghiệp dư) tại phòng hòa nhạc thị trấn hay trò chuyện với các nhà văn từ nơi khác đến và thường được trả rất ít, chỉ một căn phòng ở nhà trọ duy nhất trong thành phố và vài đồng mark để trang trải chuyến về bằng tàu, những chuyến tàu chẳng giống gì những chuyến tàu Đức ngày nay, nhưng trên những chuyến tàu đó người ta có lẽ nói chuyện nhiều hơn, lịch sự hơn, quan tâm đến người xung quanh nhiều hơn, nhưng dù sao đi nữa, các nhà văn, sau khi được trả tiền và trừ chi phí đi lại, rời những nơi này và về nhà (đôi khi chỉ là một căn phòng ở Frankfurt hay Cologne) với rất ít tiền và có thể là bán được vài cuốn sách, trong trường hợp những nhà văn hay nhà thơ đó (đặc biệt nhà thơ), sau khi đọc vài trang sách và trả lời vài câu hỏi của dân cư thị trấn, dựng một cái bàn và kiếm được thêm vài mark, một hoạt động khá là có lãi ngày ấy, bởi vì nếu khán giả thích những gì nhà văn đã đọc, hoặc nếu việc đọc làm họ cảm động hay được giải trí, thì họ sẽ mua một trong những cuốn sách của anh ta, đôi khi để giữ làm kỷ niệm cho một buổi tối dễ chịu, khi gió rít theo những con đường hẹp của thị trấn vùng Frisia, cắt thịt cắt da, đôi khi để đọc hay đọc lại một bài thơ hay câu chuyện ở nhà của họ, nhiều tuần sau sự kiện, có thể bên ánh đèn dầu bởi không phải lúc nào cũng có điện, dĩ nhiên, vì chiến tranh mới kết thúc và còn nhiều vết thương, chưa khép miệng cả về xã hội lẫn kinh tế, dù sao đi nữa, ít nhiều tương tự với một buổi đọc sách ngày nay, điểm khác biệt duy nhất là những cuốn sách bày trên bàn là tự xuất bản trong khi bây giờ thì nhà xuất bản dựng bàn, và một trong những nhà văn đến thị trấn nơi người Swabia này đang làm xúc tiến văn hóa là Benno von Archimboldi, một nhà văn tầm cỡ Gustav Heller hay Rainer Kuhl hay Wilhelm Frayn (những nhà văn mà sau này Morini đã tìm tên trong bách khoa thư về các tác giả Đức, nhưng không thấy), và ông không mang theo sách, ông đọc hai chương của một tiểu thuyết đang viết, cuốn tiểu thuyết thứ hai, cuốn thứ nhất, nhà văn người Swabia nhớ lại, đã xuất bản ở Hamburg cùng năm đó, mặc dù ông không đọc chút nào trong cuốn ấy, nhưng cuốn tiểu thuyết thứ nhất có tồn tại, nhà văn người Swabia nói, và Archimboldi, như thể đoán trước những nghi ngờ, mang theo mình một bản, một cuốn tiểu thuyết nhỏ dài độ một trăm trang, có thể dài hơn, một trăm hai mươi, một trăm hai mươi lăm trang, và ông mang theo nó trong túi áo khoác của mình, và, thật lạ lùng, nhà văn Swabia nhớ chiếc áo khoác của Archimboldi rõ hơn cuốn tiểu thuyết nhét trong túi áo, một cuốn tiểu thuyết nhỏ bìa bẩn, nhăn nhúm từng có màu ngà đậm hay một màu lúa mạch nhạt hay màu vàng ngả sang vô hình tính, nhưng giờ đây không màu, nhờ nhờ, chỉ có nhan đề cuốn tiểu thuyết và tên tác giả và thư vĩ của nhà xuất bản, trong khi đó chiếc áo khoác thì không thể nào quên được, một chiếc áo khoác da đen cổ cao, che chắn tuyết, mưa và lạnh tuyệt vời, thùng thình, có thể được khoác ngoài áo len dày hay hai chiếc áo len mà không ai để ý, có những chiếc túi nằm ngang mỗi bên, và một hàng bốn nút, không quá to cũng không quá nhỏ, được khâu bằng thứ giống như cước câu cá, một chiếc áo khoác gợi nhớ, vì sao tôi không biết, những chiếc áo khoác mà các sĩ quan Gestapo mặc, mặc dù hồi đó áo khoác da đen đang là thời trang và bất kỳ ai có tiền để mua một chiếc hay được thừa hưởng một chiếc đều mặc mà không ngừng lại để nghĩ tới cái mà nó gợi ra, và nhà văn đã tới thị trấn vùng Frisia ấy là Benno von Archimboldi, Benno von Archimboldi thời trẻ, hai chín hay ba mươi tuổi, và chính ông ta, nhà văn Swabia nọ, đã đi đón Archimboldi ở ga tàu và cùng ông đi tới nhà trọ, nói chuyện về thời tiết, vốn tồi tệ, và rồi đưa ông tới tòa đô chính, ở đó Archimboldi không bày chiếc bàn nào và đã đọc hai chương trong một tiểu thuyết chưa hoàn thành, và rồi nhà văn Swabia đã đi ăn tối cùng với ông ở một quán rượu địa phương, cùng với người giáo viên và một góa phụ yêu âm nhạc hay hội họa hơn văn chương, nhưng một khi đã chấp nhận việc không có âm nhạc hay hội họa, thì có thể bằng lòng với một buổi tối văn chương, và chính bà bằng cách này hay cách khác đã duy trì cuộc trò chuyện trong suốt bữa tối (gồm xúc xích, khoai tây và bia: nhà văn người Swabia nhớ lại, cả thời gian lẫn ngân sách của thành phố đều không cho phép một cái gì xa xỉ hơn), mặc dù có lẽ đúng hơn cần phải nói là bà ta hoàn toàn lèo lái cuộc trò chuyện, và những người đàn ông quanh bàn, thư ký của viên thị trưởng, một người làm trong ngành kinh doanh cá ướp muối, một giáo viên già ngủ gà ngủ gật mặc cho nĩa cầm trên tay, và một nhân viên tòa thị chính, một cậu trai rất dễ thương tên là Fritz, là bạn tốt của nhà văn người Swabia, đều gật gù hay cẩn thận không cãi lại bà góa phụ đáng gờm người có kiến thức về nghệ thuật nhiều hơn bất kỳ ai, kể cả nhà văn người Swabia, từng đi du lịch ở Ý và Pháp và thậm chí, trên một trong những hành trình của mình, một chuyến vượt đại dương không thể nào quên, đi xa tới tận Buenos Aires, vào năm 1927 hay 1928 khi thành phố ấy là một cái chợ thịt và các chuyến tàu đông lạnh rời cảng chất đầy thịt, thật là một cảnh tượng đáng xem, hàng trăm chiếc tàu trống không cập bến để rồi rời đi với hàng tấn thịt hướng đến khắp thế giới, và khi bà ra boong tàu, giả dụ vào ban đêm, nửa mơ nửa tỉnh hay say sóng hoặc mệt mỏi, tất cả những gì bà phải làm là tì vào lan can tàu, để cho mắt mình quen dần với bóng tối và rồi quang cảnh bến cảng gây sửng sốt và ngay lập tức nó xua đi bất cứ dấu vết buồn ngủ hay say sóng hay những dấu hiệu mệt mỏi nào khác, hệ thần kinh không có lựa chọn nào ngoài việc đầu hàng vô điều kiện trước một hình ảnh như thế, cuộc diễu hành của những người nhập cư như bầy kiến khuân thịt của hàng ngàn con vật chết lên các hầm tàu, chuyển động của các tấm pa lét chất chồng thịt của hàng nghìn con bê đã hy sinh, và vệt màu nhẹ mỏng phết lên mọi góc của bến cảng từ bình minh tới hoàng hôn và thậm chí trong cả những ca đêm, rồi màu đỏ của những miếng steak còn tái, của những miếng T-bone, của phi lê, của sườn nướng tái, kinh khủng, may mà quý bà ấy, khi ấy chưa phải là góa phụ, chỉ phải nhìn thấy nó đêm đầu tiên, rồi sau đó họ lên bờ và lấy phòng ở một trong những khách sạn đắt nhất Buenos Aires, và họ đi xem opera và rồi là đến một trại chăn nuôi nơi chồng bà, một nài ngựa lão luyện, đồng ý đua với con trai chủ trại, người này thua, rồi là với một người chăn súc vật, cánh tay phải của cậu con trai, một tay gaucho* , người này cũng thua, và rồi với cậu con trai của tay gaucho, một cậu gaucho nhỏ mới mười sáu tuổi, gầy như que sậy có đôi mắt sáng, sáng rực đến nỗi khi bà nhìn cậu, cậu cúi đầu xuống và khẽ ngẩng lên nhìn bà một cái nhìn tinh quái đến nỗi bà bị xúc phạm, thật là một thằng nhãi con xấc láo, trong khi chồng bà bật cười và nói bằng tiếng Đức: nàng gây ấn tượng khá tốt với cậu bé đấy, một lời bông đùa mà bà không thấy buồn cười tí nào, và rồi cậu gaucho nhỏ leo lên lưng ngựa và họ phóng đi, cậu bé quả thật có thể phi nước đại được, cậu bám ngựa quá chặt đến nỗi như thể cậu bị dính vào cổ nó, cậu toát mồ hôi và quất roi vun vút, nhưng rốt cuộc chồng bà thắng cuộc đua, chẳng phải bỗng dưng mà ông làm chỉ huy một trung đoàn kỵ binh, và chủ trại cùng anh con trai đứng dậy vỗ tay, những kẻ thua cuộc tử tế, các vị khách còn lại cũng vỗ tay, kỵ sĩ xuất sắc, tay người Đức này, kỵ sĩ tuyệt diệu, nhưng khi cậu gaucho nhỏ chạm đích, hay nói cách khác, tới cổng, trông cậu không phải một kẻ thua cuộc tử tế, một vẻ giận dữ u tối hiện ra trên mặt cậu, đầu cậu cúi gằm, và trong khi đám đàn ông, nói tiếng Pháp, tản ra quanh cổng tìm ly uống sâm banh ướp đá, bà đi tới chỗ cậu gaucho nhỏ, đang bị bỏ mặc đứng một mình, nắm dây cương ngựa trong tay trái (ở đầu kia của khoảng sân dài cha cậu gaucho nhỏ đang hướng về phía chuồng ngựa dẫn theo con ngựa mà người khách Đức đã cưỡi), và bảo cậu, bằng một ngôn ngữ cậu không thể hiểu nổi, rằng đừng buồn, rằng cậu đã chạy một vòng đua xuất sắc nhưng chồng bà cũng giỏi và giàu kinh nghiệm hơn, những từ ngữ mà với cậu gaucho nhỏ nghe như là trăng, như là những áng mây lướt qua mặt trăng, như một cơn bão chậm, và rồi cậu gaucho nhỏ ngước nhìn bà với cặp mắt của một con chim săn mồi, sẵn sàng cắm một con dao vào bụng bà và rạch ngược lên ngực, cắt banh bà ra, mắt cậu long lanh với một vẻ mãnh liệt lạ lùng, như cặp mắt của một tay đồ tể trẻ vụng về, bà nhớ lại, nhưng không ngăn bà đi theo cậu, không có lấy một lời phản đối, khi cậu nắm lấy tay dẫn bà đến phía bên kia của căn nhà, đến chỗ giàn hoa bằng thép luyện, viền quanh bởi những loại hoa và cây mà bà chưa từng nhìn thấy trong đời hoặc vào giây phút đó bà nghĩ mình chưa từng nhìn thấy chúng trong đời, và bà thậm chí còn thấy một đài phun nước trong khu vườn, một đài phun bằng đá, ở giữa, đứng thăng bằng trên một chân, là một thiên thần có cánh trên lưng mỉm cười nhảy múa, nửa châu Âu nửa man rợ, được tắm không ngừng nhờ ba vòi nước phun từ dưới chân, đài phun nước tạc từ duy nhất một phiến đá hoa cương đen, một đài phun nước mà bà và cậu gaucho nhỏ trầm trồ thật lâu, cho đến khi một người em họ xa của chủ trại xuất hiện (hay một tình nhân mà chủ trại đã đánh mất trong những nếp gấp sâu của ký ức), bảo bà bằng một thứ tiếng Anh cộc lốc và vừa đủ hiểu, rằng chồng bà đang đi tìm bà nãy giờ, và rồi bà bước ra khỏi khu vườn mê hoặc trong cánh tay của người em họ xa, và cậu gaucho nhỏ gọi theo bà, hoặc bà nghĩ vậy, và khi bà ngoảnh lại cậu rít lên mấy từ, bà xoa đầu cậu và hỏi người em họ cậu nói gì, mấy ngón tay bà ngập trong mớ tóc quăn dày của cậu, và người em họ dường như lưỡng lự một chút, nhưng bà, không chấp nhận nói dối hay một nửa sự thật, yêu cầu dịch ngay, thẳng thắn, và người em họ nói: cậu ta nói… cậu ta nói ông chủ… sắp xếp để cho chồng bà thắng hai cuộc đua vừa rồi, và rồi người em họ im lặng và cậu gaucho nhỏ biến về phía đầu kia của khu vườn, kéo lê sợi dây cương ngựa của mình, và bà trở lại bữa tiệc, nhưng không thôi nghĩ về điều cậu gaucho nhỏ đã thú nhận vào phút chót, con cừu tế ấy, và bất kể bà suy nghĩ nhiều thế nào, lời lẽ của cậu vẫn là một câu đố, một câu đố kéo dài suốt phần còn lại của bữa tiệc, tra tấn bà cả khi bà lăn qua lăn lại trên giường, không ngủ được, khiến bà bất an cả ngày hôm sau trong suốt buổi cưỡi ngựa và tiệc BBQ lê thê, rồi theo bà về tới Buenos Aires và không buông tha suốt cả những ngày bà ở trong khách sạn hay đi ra ngoài dự bữa tiếp tân ở sứ quán Đức hay sứ quán Anh hay sứ quán Ecuador, và chỉ được giải đáp nhiều ngày sau khi chiếc tàu của bà giương buồm khởi hành đi châu Âu, một đêm nọ, vào lúc bốn giờ sáng, khi bà đi dạo trên boong tàu, không biết hay quan tâm xem họ đang ở kinh độ hay vĩ độ nào, bao quanh hay bao quanh một phần bởi bốn mươi mốt triệu dặm vuông nước biển, thì ngay khi đó, khi bà châm thuốc trên boong hạng nhất dành cho hành khách hạng nhất, mắt dán vào đại dương mênh mông mà bà không nhìn thấy nhưng có thể nghe thấy, câu đố được giải một cách thần diệu, và chính khi đó, lúc câu chuyện đến đoạn đó, nhà văn người Swabia nói, bà, một quý bà Frisia từng giàu có quyền lực và thông minh (ít ra theo kiểu của bà), đột nhiên im lặng, và một khoảng lặng đầy chất tôn giáo, hay tệ hơn, mê tín, trùm lên quán rượu Đức hậu chiến buồn bã đó, mà mọi người đã bắt đầu cảm thấy càng lúc càng khó chịu nên vội vã vét nốt những gì còn lại của phần xúc xích và khoai tây của mình và nốc những giọt bia cuối cùng trong cốc, như thể họ sợ bất kỳ lúc nào quý bà kia sẽ bắt đầu hú lên như Nữ thần Thịnh nộ và họ cho là khôn ngoan khi chuẩn bị cho mình một dạ dày căng đầy để đối diện với hành trình lạnh lẽo về nhà.

Và rồi quý bà lên tiếng. Bà nói: “Có ai giải được câu đố không?”

Bà nói vậy, nhưng bà không nhìn thẳng hay nói thẳng với bất cứ ai.

“Liệu có ai biết câu trả lời cho câu đố đó không? Có ai hiểu không? Liệu tình cờ có người nào trong thành phố này có thể nói với tôi lời giải, kể cả nếu phải thì thầm vào tai tôi?”

Bà nói tất cả những lời này trong khi mắt vẫn nhìn vào đĩa của mình, phần xúc xích và khoai tây trên đĩa của bà vẫn gần như chưa được động tới.

Và rồi Archimboldi, nãy giờ cúi đầu ăn trong lúc quý bà kia nói, lên tiếng, mà không cao giọng, rằng đó là một cử chỉ hiếu khách, rằng người chủ trại và con trai biết chắc chồng bà sẽ thua vòng đua đầu, và họ đã sắp xếp vòng đua thứ hai và thứ ba sao cho vị cựu đại úy kỵ binh sẽ thắng. Và rồi quý bà nhìn vào mắt ông và cười lớn hỏi tại sao chồng bà thắng vòng đua đầu.

“Tại sao? Tại sao?” bà hỏi.

“Bởi vì con trai người chủ trại,” Archimboldi nói, “người chắc chắn cưỡi ngựa giỏi hơn và có một con ngựa tốt hơn chồng bà, vào phút chót đã không ích kỷ. Nói cách khác, anh ta chọn lựa sự phóng túng, khi quá hào hứng với những hoạt động hội hè tưng bừng mà hai cha con anh đã bày ra. Mọi thứ phải được tiêu phí, kể cả chiến thắng của anh ta, và bằng cách này hay cách khác mọi người đều hiểu nó phải xảy ra theo kiểu như thế, kể cả người phụ nữ đi tìm bà trong vườn. Mọi người ngoại trừ cậu gaucho nhỏ.”

“Chỉ vậy thôi sao?” quý bà hỏi.

“Đối với cậu gaucho thì không. Nếu bà còn nán lại với cậu ta, tôi nghĩ cậu ta sẽ giết bà, tự thân việc đó cũng là một cử chỉ phóng túng, mặc dù chắc chắn không phải loại mà chủ trại và con trai ông nghĩ tới.”

Rồi quý bà đứng dậy, cảm ơn mọi người vì buổi tối dễ chịu, và ra về.

“Vài phút sau,” nhà văn Swabia nói, “tôi đưa Archimboldi về nhà trọ. Sáng hôm sau, khi đến đón ông để đưa ra nhà ga, ông ấy đã đi mất.”

♣ ♣ ♣

Tay Swabia đáng kinh ngạc thật, Espinoza nói. Tớ muốn hắn là của riêng mình, Pelletier nói. Cố đừng làm ông ta bị ngộp, cố đừng tỏ ra quá quan tâm, Morini nói. Đối với ông già này chúng ta phải nâng như nâng trứng, Norton nói. Nghĩa là chúng ta phải rất thân thiện đối với ông ta.

♣ ♣ ♣

Nhưng nhà văn Swabia đã nói tất cả những điều phải nói, và mặc dù họ chiều chuộng ông ta, đưa ông ta tới nhà hàng ngon nhất Amsterdam, khen ngợi và trò chuyện với ông ta về sự hiếu khách và hào phóng và số phận của những người xúc tiến văn hóa mắc kẹt trong các thị trấn tỉnh lẻ, họ vẫn không thể moi được điều gì thú vị từ ông ta, mặc dù bốn người cẩn thận ghi lại từng từ ông ta nói, như thể họ đã gặp được nhà tiên tri của mình, một chi tiết mà nhà văn Swabia không thể không để ý và thực tế khiến ông ta rụt rè hơn (mà theo Espinoza và Pelletier, đấy là một đặc điểm bất thường của một người từng đi xúc tiến văn hóa đến nỗi họ nghĩ tay Swabia phải là một kẻ giả vờ), kín đáo hơn, thận trọng hơn, gần đạt đến luật im lặng quái lạ của một tay Quốc xã già đánh hơi thấy nguy hiểm.

♣ ♣ ♣

Mười lăm ngày sau, Espinoza và Pelletier lấy phép mấy ngày đi Hamburg để thăm nhà xuất bản của Archimboldi. Đón họ là tổng biên tập, một người gầy, vẻ ngay thẳng, tầm hơn sáu mươi tuổi tên là Schnell, nghĩa là nhanh nhẹn, mặc dù Schnell có vẻ chậm chạp. Mái tóc ông nâu sẫm, mượt, lốm đốm bạc nơi thái dương, tô điểm thêm vẻ ngoài trẻ trung của ông. Lúc ông đứng dậy bắt tay, Espinoza và Pelletier đều có cảm giác ông là người đồng tính.

“Xưa giờ mình mới thấy tay bóng này là giống chạch nhất,” sau đó Espinoza nói, trong lúc hai người lang thang giữa Hamburg.

Pelletier quở anh vì bình luận đó, vì quá rõ là nó kỳ thị người đồng tính, mặc dù trong sâu xa anh thầm đồng ý, trông Schnell có vẻ gì đó giống chạch, vẻ gì đó của loài cá vốn bơi trong những vùng nước tối, bùn lầy.

Dĩ nhiên, họ hầu như đã biết tất cả những gì Schnell có thể kể. Ông chưa bao giờ nhìn thấy Archimboldi, và số tiền, ngày càng nhiều, thì được gửi tại một tài khoản ngân hàng Thụy Sĩ. Cứ hai năm một lần, các chỉ thị lại được chuyển tới từ phía nhà văn, thư thường mang dấu bưu điện Ý, mặc dù cũng có thư trong hồ sơ của nhà xuất bản mang tem đóng dấu Hy Lạp, Tây Ban Nha và Maroc, những lá thư, tiện đây nói luôn, được gửi cho bà Bubis, chủ nhà xuất bản, và dĩ nhiên là ông chưa đọc.

“Chỉ còn lại hai người ở đây, ngoài bà Bubis, dĩ nhiên, từng gặp mặt Benno von Archimboldi,” Schnell bảo họ. “Giám đốc truyền thông và trưởng ban biên tập. Tới thời tôi làm việc ở đây thì Archimboldi đã biến mất từ lâu.”

Pelletier và Espinoza yêu cầu được nói chuyện với cả hai người phụ nữ. Phòng của giám đốc truyền thông đầy cây và ảnh, không phải tất cả đều là ảnh của các tác giả của nhà xuất bản, và điều duy nhất mà bà có thể nói với họ về nhà văn biến mất đó là ông là một người tốt.

“Ông ấy cao, cao lênh khênh,” bà nói. “Khi đi bên cạnh ông Bubis họ giống như một ti. Hay một li.”

Espinoza và Pelletier không hiểu bà định nói gì, và bà giám đốc truyền thông viết chữ l và chữ i trên một mẩu giấy. Hoặc có thể giống một le hơn.

Và bà lại viết gì đó trên mẩu giấy.

le

“Chữ l là Archimboldi, chữ e là ông Bubis quá cố.”

Rồi giám đốc truyền thông bật cười và ngắm họ, ngả người ra sau trên cái ghế xoay của mình trong im lặng. Sau đó họ nói chuyện với trưởng ban biên tập. Bà trạc tuổi giám đốc truyền thông nhưng không vui tính như thế.

Bà nói có, nhiều năm trước bà từng gặp Archimboldi, nhưng bà không còn nhớ mặt ông, hay trông ông như thế nào, hay bất cứ chuyện gì về ông đáng kể lại. Bà không nhớ lần cuối ông đến nhà xuất bản là khi nào. Bà khuyên họ nên nói chuyện với bà Bubis, và rồi, không nói lời nào, bà bận rộn biên tập một bản bông, trả lời câu hỏi của các biên tập viên khác, nói chuyện trên điện thoại với những người có lẽ - Espinoza và Pelletier cộm lên chút thương xót - là các dịch giả. Trước khi về, không nản lòng, họ quay lại văn phòng của Schnell và nói chuyện với ông về các hội nghị và hội thảo về Archimboldi dự kiến cho tương lai. Schnell, chăm chú và lịch sự, bảo họ có thể yên tâm trông cậy ở ông bất cứ thứ gì họ cần.

♣ ♣ ♣

Vì không có gì phải làm trừ việc đợi chuyến bay về Paris và Madrid, Pelletier và Espinoza đi loanh quanh Hamburg. Cuộc đi dạo không thể tránh khỏi việc đưa họ tới khu gái đứng đường và peep show* , và rồi cả hai bỗng trở nên u uất, họ bắt đầu kể cho nhau nghe những chuyện tình và sự vỡ mộng. Dĩ nhiên họ không kể tên và ngày tháng, họ nói bằng những từ ngữ có thể gọi là trừu tượng, nhưng bất chấp việc có vẻ bàng quan khi thuật lại những chuyện không may ấy, cuộc trò chuyện và đi dạo chỉ dìm họ sâu hơn vào tình trạng u sầu, đến độ sau hai tiếng đồng hồ cả hai cảm thấy như nghẹt thở.

Họ đi taxi về khách sạn trong im lặng.

Một bất ngờ chờ đợi họ ở đó. Trên bàn có mẩu tin nhắn từ Schnell gửi cho cả hai người bọn họ, ông giải thích rằng sau cuộc trò chuyện sáng hôm đó, ông đã quyết định nói chuyện với bà Bubis và bà đồng ý gặp họ. Sáng hôm sau, Espinoza và Pelletier ghé đến căn phòng của nhà xuất bản, trên tầng ba một tòa nhà cổ ở đầu kia Hamburg. Trong lúc chờ đợi họ nhìn những tấm ảnh đóng khung treo trên một bức tường. Trên hai bức tường kia có những bức sơn dầu của Soutine và Kandinsky và nhiều họa phẩm của Grosz, Kokoschka và Ensor. Nhưng Espinoza và Pelletier quan tâm đến các tấm ảnh hơn, phần lớn là ảnh các nhà văn mà họ coi thường hay ngưỡng mộ, và dù gì thì cũng đã đọc: Thomas Mann với Bubis, Heinrich Mann với Bubis, Klaus Mann với Bubis, Alfred Döblin với Bubis, Hermann Hesse với Bubis, Walter Benjamin với Bubis, Anna Seghers với Bubis, Stefan Zweig với Bubis, Bertolt Brecht với Bubis, Feuchtwanger với Bubis, Johannes Becher với Bubis, Oskar Maria Graf với Bubis, những thân hình, gương mặt và cảnh mờ mờ, đóng khung đẹp đẽ. Với sự ngây thơ của người chết, vốn không còn bận lòng về việc bị quan sát, những người trong ảnh trông ra sự nhiệt tình hầu như không nén nổi của các giáo sư. Lúc bà Bubis xuất hiện, hai người bọn họ đang chụm đầu với nhau cố đoán liệu người đứng cạnh Bubis có phải là Fallada hay không.

Đúng rồi, đó là Fallada, bà Bubis nói. Quay lại, Pelletier và Espinoza thấy một phụ nữ đứng tuổi vận áo trắng và váy đen, một phụ nữ có dáng người như Marlene Dietrich, như về sau này Pelletier sẽ nói vậy, một phụ nữ bất chấp tuổi tác vẫn luôn luôn mạnh mẽ, một phụ nữ không thèm bám vào mép vực mà lao thẳng xuống đó cùng sự hiếu kỳ và vẻ lịch lãm. Một phụ nữ lao xuống vực bằng cách ngồi xuống.

“Nhà tôi quen biết tất cả nhà văn Đức và các nhà văn Đức yêu mến và tôn trọng ông ấy, ngay cả khi sau này đôi ba người bọn họ nói những điều kinh khủng về ông ấy mà thậm chí không phải cái nào cũng chính xác,” bà Bubis mỉm cười nói.

Họ trò chuyện về Archimboldi, bà Bubis gọi mang trà và bánh ngọt vào, nhưng bà lại uống vodka, điều này khiến Espinoza và Pelletier ngạc nhiên, không phải vì bà bắt đầu uống quá sớm, mà vì bà không mời họ, tuy rằng dù gì họ cũng sẽ từ chối.

“Người duy nhất ở nhà xuất bản biết tường tận tác phẩm của Archimboldi,” bà Bubis nói, “là ông Bubis, người xuất bản toàn bộ sách của ông ấy.”

Nhưng bà tự hỏi mình (và mở rộng ra, cả hai người bọn họ) liệu một người có thể thật sự biết tác phẩm của người khác kỹ đến chừng nào.

“Ví dụ, tôi yêu tác phẩm của Grosz,” bà nói, trỏ về phía những bức tranh của Grosz trên tường, “nhưng tôi có thực sự hiểu chúng không? Những câu chuyện của ông ấy làm tôi bật cười, tôi thường nghĩ Grosz vẽ những bức tranh ấy để làm tôi cười, đôi khi tôi cười đến độ sảng khoái, rồi thành trận cười ngặt nghẽo, nhưng có lần tôi gặp một nhà phê bình mỹ thuật cũng thích Grosz, nhưng lại bị trầm cảm nặng khi dự triển lãm tác phẩm của ông hay khi phải nghiên cứu một bức sơn dầu hay họa phẩm nào đó vì yêu cầu công việc. Và những đợt trầm cảm hay buồn bã này thường kéo dài hàng tuần. Nhà phê bình mỹ thuật này là một người bạn, nhưng bọn tôi không bao giờ bàn luận về Grosz. Tuy nhiên có lần, tôi nhắc tới ảnh hưởng của Grosz đối với mình. Thoạt tiên ông ấy không chịu tin tôi. Rồi ông bắt đầu lắc đầu nguầy nguậy. Rồi ông nhìn tôi từ đầu tới chân cứ như ông chưa bao giờ để mắt tới tôi trước đây. Tôi nghĩ ông ấy phát điên. Tình bạn của chúng tôi chấm dứt ở đó. Cách đây không lâu tôi nghe thuật lại ông ấy vẫn nói rằng tôi chẳng biết gì về Grosz và tôi có thẩm mỹ của một con bò. Thì thôi, kệ ông ấy muốn nói gì thì nói. Grosz làm tôi cười, Grosz làm ông ấy trầm cảm, nhưng ai có thể nói rằng mình thực sự hiểu Grosz?

“Hãy giả định,” bà Bubis nói, “ngay tại lúc này đây có tiếng gõ cửa và ông bạn cũ của tôi, nhà phê bình nghệ thuật ấy, bước vào. Ông ấy ngồi đây trên ghế sofa cạnh tôi, và một trong hai anh chìa ra một họa phẩm không ký tên bảo chúng tôi đây là một bức của Grosz mà các anh muốn bán. Tôi nhìn bức tranh, mỉm cười, và lấy tập séc ra để mua. Nhà phê bình mỹ thuật xem bức tranh nhưng không bị trầm cảm và cố làm tôi cân nhắc lại. Ông ấy nói đó không phải là Grosz. Tôi nói phải. Vậy trong hai chúng tôi ai đúng?

“Hay kể câu chuyện theo một cách khác. Anh,” bà Bubis nói, trỏ vào Espinoza, “chìa ra một bức tranh không có chữ ký nói đó là của Grosz và cố gắng bán nó. Tôi không cười, tôi nhìn nó lạnh lùng, tôi cảm nhận được đường nét, sự kiềm chế, châm biếm, nhưng không có gì trong bức tranh đó làm tôi buồn cười cả. Còn nhà phê bình nghệ thuật ngắm nghía nó cẩn thận rồi bị trầm cảm, như thường lệ, và rồi ông ra giá, một mức giá vượt quá mức tiền tiết kiệm của ông, và nếu được chấp nhận nó sẽ đày ông vào những buổi chiều triền miên sầu muộn. Tôi cố thay đổi suy nghĩ của ông ấy. Tôi nói với ông ấy bức tranh đáng ngờ bởi nó không làm tôi cười. Nhà phê bình nói cuối cùng tôi cũng đang nhìn Grosz như một người trưởng thành và chúc mừng tôi. Vậy trong hai chúng tôi ai đúng?”

♣ ♣ ♣

Rồi họ quay lại đề tài Archimboldi và bà Bubis cho họ xem một bài điểm sách rất kỳ quặc xuất hiện trên một tờ báo Berlin sau khi phát hành cuốn Lüdicke, tiểu thuyết đầu tiên của Archimboldi. Bài điểm sách, của ai đó tên là Schleiermacher, cố gắng tóm gọn tính cách của nhà tiểu thuyết trong vài từ.

Trí tuệ: làng nhàng.

Phẩm chất: động kinh.

Trình độ học thuật: lộm nhộm.

Khả năng kể chuyện: lộn xộn.

Nhạc tính: lộn xộn.

Sử dụng tiếng Đức: lộn xộn.

Thông minh vừa phải và trình độ học thuật lộm nhộm còn dễ hiểu. Nhưng ý ông ta là gì khi nói phẩm chất động kinh? Rằng Archimboldi mắc chứng động kinh ư? Hay đầu óc ông không bình thường? Phải chăng ông ấy chịu đựng những đợt lên cơn bí ẩn? Hay ông ấy là độc giả mê muội của Dostoevsky? Bài viết không có mô tả ngoại hình nhà văn.

“Chúng tôi không bao giờ biết được tay Schleiermacher này là ai,” bà Bubis nói, “đôi khi nhà tôi còn nói đùa rằng tự tay Archimboldi viết bài điểm sách. Nhưng cả tôi lẫn ông ấy đều biết rõ không phải như vậy.”

Gần chính ngọ, lúc sắp ra về, Pelletier và Espinoza đánh bạo hỏi câu hỏi duy nhất mà họ nghĩ thực sự đáng hỏi: liệu bà có thể giúp họ liên lạc với Archimboldi? Bà Bubis nhướng mắt lên. Cứ như thể bà đang ở tại nơi xảy ra một đám cháy, sau này Pelletier kể lại cho Liz Norton. Không phải ngọn lửa thịnh nộ, mà một đám cháy sắp tàn, sau khi đã cháy hàng tháng trời. Bà trả lời không bằng cách lắc đầu nhè nhẹ khiến Pelletier và Espinoza ngay lập tức nhận ra có khẩn khoản cũng vô ích.

Mặc dù vậy, họ vẫn nấn ná thêm một lát. Đâu đó từ trong nhà văng vẳng giai điệu một bài hát Ý rất quen. Espinoza hỏi liệu bà có quen Archimboldi, liệu bà có từng gặp trực tiếp ông ấy khi chồng bà còn sống. Bà Bubis nói bà đã gặp, và rồi, bằng một giọng khe khẽ bà nhẩm theo đoạn điệp khúc cuối của bài hát đó. Tiếng Ý của bà, theo hai người bạn, rất tốt.

“Archimboldi trông như thế nào?” Espinoza hỏi.

“Cao lắm,” bà Bubis nói, “rất cao, một người thực sự cao lênh khênh. Nếu sinh thời nay rất có thể ông ấy sẽ chơi bóng rổ.”

Nhưng nghe cách bà nói, Archimboldi cũng rất có thể là một chú lùn. Trên taxi về khách sạn, hai người nghĩ về Grosz và về cái tràng cười hiểm ác, lanh lảnh của bà Bubis và ấn tượng căn nhà treo đầy ảnh đấy để lại, tuy nhiên ở đó ảnh của nhà văn duy nhất họ quan tâm lại bị thiếu mất. Mặc dù không muốn thừa nhận, cả hai tin rằng (hay cảm nhận thấy) chút hiểu biết mà khu đèn đỏ làm lóe lên trong họ còn quan trọng hơn bất cứ khơi lộ nào mà họ đánh hơi được khi là khách của bà Bubis.

♣ ♣ ♣

Nói một cách ngắn gọn, và thẳng thừng: khi tản bộ quanh Sankt Pauli, Pelletier và Espinoza chợt nhận ra cuộc tìm kiếm Archimboldi không bao giờ có thể lấp đầy cuộc đời của họ. Họ có thể đọc ông, họ có thể nghiên cứu ông, họ có thể soi mói ông, nhưng họ chẳng thể vui cười hay buồn bã cùng ông, phần nào bởi vì Archimboldi lúc nào cũng xa xôi, phần nào vì tác phẩm của ông, khi họ càng đi sâu vào, càng ngấu nghiến những kẻ khám phá. Nói một cách ngắn gọn: ở Sankt Pauli và sau đó ở nhà bà Bubis, nơi treo những tấm ảnh của ông Bubis về cuối đời và ảnh các nhà văn, Pelletier và Espinoza hiểu rằng cái họ muốn khơi mào là tình yêu, không phải chiến tranh.

♣ ♣ ♣

Chiều hôm đó, họ đi chung taxi đến sân bay mà không đả động tới bất cứ chuyện riêng tư nào ngoài cái cực kỳ cần thiết - chuyện riêng tư theo nghĩa chung, hay theo nghĩa trừu tượng - và trong khi chờ máy bay họ nói về tình yêu, về nhu cầu yêu. Pelletier bay trước. Còn lại một mình (chuyến bay của anh cất cánh sau một tiếng), ý nghĩ của Espinoza chuyển sang Liz Norton và cơ may thực tế để tán tỉnh cô. Anh hình dung ra cô và sau đó tưởng tượng ra chính mình, hai người vai kề vai, chia sẻ một căn hộ ở Madrid, cùng đi siêu thị, cùng làm việc tại khoa tiếng Đức. Anh hình dung ra văn phòng của mình và của cô, cách nhau một bức vách, và những đêm ở Madrid bên cạnh cô, ăn uống cùng bạn bè ở những quán ăn ngon, và trở về nhà, một bồn tắm thật to, một chiếc giường thật rộng.

♣ ♣ ♣

Nhưng Pelletier đến trước một bước. Ba ngày sau cuộc gặp với nhà xuất bản của Archimboldi, anh xuất hiện ở London không báo trước, và sau khi kể cho Liz Norton những tin tức mới nhất, anh mời cô đi ăn tối tại một quán ở Hammersmith mà một đồng nghiệp trong khoa Nga giới thiệu, ở đó họ ăn ragu, xúp đậu chickpea với củ cải đường, cá nhúng chanh với sữa chua, một bữa tối có nến, đàn vĩ cầm và những hầu bàn người Nga đích thực và hầu bàn người Ireland giả Nga, từ bất cứ góc nhìn nào tất cả những thứ ấy đều quá lố, còn từ góc độ ẩm thực thì đôi chút quê mùa và kém tin cậy, họ uống vodka trong bữa tối và một chai Bordeaux, toàn bộ bữa ăn tốn của Pelletier một mớ kha khá, nhưng cũng đáng vì sau đó Norton mời anh về nhà, chính thức là để thảo luận về Archimboldi và đôi ba điều mà bà Bubis đã tiết lộ, bao gồm, dĩ nhiên, bài đánh giá đầy vẻ coi thường của nhà phê bình Schleiermacher về tác phẩm đầu tay của Archimboldi, và rồi cả hai bắt đầu phá ra cười và rất lịch thiệp Pelletier hôn lên môi Norton, cô hôn đáp anh nồng nhiệt hơn nhiều, chắc nhờ bữa ăn tối, vodka và Bordeaux, nhưng Pelletier nghĩ rằng nó thể hiện sự hứa hẹn, rồi họ lên giường và quần nhau một tiếng đồng hồ cho đến khi Norton lăn ra ngủ.

♣ ♣ ♣

Đêm đó, trong khi Liz Norton ngủ, Pelletier nhớ về một buổi chiều lâu rồi anh và Espinoza xem một bộ phim kinh dị trong một căn phòng ở một khách sạn Đức.

Đó là một bộ phim Nhật, một trong những cảnh đầu phim có hai cô thiếu nữ. Một cô đang kể chuyện. Đó là câu chuyện về một cậu bé đang đi nghỉ ở Kobe muốn ra ngoài đi chơi với bạn trong lúc tivi phát chương trình yêu thích nhất của cậu. Cậu kiếm một đầu video và cài đặt cho đầu máy thu lại chương trình rồi đi chơi. Rắc rối là cậu vốn là dân Tokyo mà ở Tokyo chương trình cậu thích phát trên kênh 34, trong khi ở Kobe, kênh 34 là một kênh trắng, một kênh mà bạn chỉ thấy trắng xóa.

Đi chơi về, cậu ngồi xuống trước tivi và bật đầu máy, thay vì chương trình yêu thích của mình, cậu thấy một người đàn bà mặt trắng bệch nói rằng cậu sắp chết.

Và chỉ có thế.

Rồi điện thoại reo, cậu bắt máy và nghe thấy giọng người đàn bà đó hỏi cậu có nghĩ đó là một trò đùa không. Một ngày sau người ta phát hiện cậu nằm trong sân, đã chết.

Cô thứ nhất kể cho cô thứ hai câu chuyện này trong bộ dạng có vẻ như sắp phì cười. Cô thứ hai rõ ràng sợ tê người. Nhưng cô thứ nhất, người đang kể chuyện, trông như sắp bò ra sàn mà cười.

Và rồi, Pelletier nhớ, Espinoza nói cô gái thứ nhất là kẻ đa nhân cách và cô thứ hai là một ả ngớ ngẩn, và phim chắc có thể hay hơn nếu cô thứ hai, thay vì há hốc mồm nhìn tỏ vẻ sợ hãi, thì bảo cô thứ nhất câm mồm lại. Không cần nhẹ nhàng hay lịch sự, cô nên bảo cô kia: “Ngậm mẹ cái mồm thối của cậu lại đi, có gì buồn cười đâu? Kể chuyện một thằng bé chết làm cho cậu hứng tình à? Kể chuyện một thằng bé chết làm cho cậu lên đỉnh hả, đồ gái mơ mút chim?”

Và cứ tiếp tục một mạch như thế. Pelletier nhớ là Espinoza sục sôi cả lên, thậm chí anh ta còn thể hiện cái giọng mà cô gái thứ hai lẽ ra nên dùng và cách mà cô ta nên đứng, đến nỗi anh nghĩ tốt nhất là tắt tivi dẫn Espinoza ra quán bar uống một ly trước khi quay lại phòng. Anh cũng nhớ rằng vào thời điểm đó anh có một cảm giác âu yếm dành cho Espinoza, một sự âu yếm đưa thời thiếu niên trở lại, khi những cuộc phiêu lưu được hăng hái sẻ chia, và những buổi chiều phố huyện.

♣ ♣ ♣

Tuần đó, điện thoại nhà Liz Norton reo ba, bốn lần mỗi chiều và điện thoại di động của cô reo hai, ba lần mỗi sáng. Các cuộc gọi là của Pelletier và Espinoza, và mặc dù cả hai đều viện những cái cớ rất tinh vi liên quan đến Archimboldi, những cớ này cạn sạch trong vòng một phút và hai vị giáo sư dấn tới nói những điều thực sự đang nung nấu trong đầu họ.

Pelletier nói về các đồng nghiệp trong khoa tiếng Đức, về một thi sĩ và giáo sư trẻ người Thụy Sĩ đang quấy rầy anh để xin một học bổng, về bầu trời ở Paris (những lời gợi nhắc bóng dáng của Baudelaire, Verlain, Banville), về những chiếc ô tô khi hoàng hôn xuống, đèn đã bật, hướng về nhà. Espinoza nói về tủ sách của mình, nơi anh sắp xếp sách những khi tịch mịch nhất, về những tiếng trống xa xa thỉnh thoảng vọng lại từ căn hộ hàng xóm dường như là nhà của một nhóm nhạc công châu Phi, về những khu phố của Madrid, Lavapies, Malasana, và về khu vực quanh Gran Vía, nơi bạn có thể đi dạo bất cứ giờ nào trong đêm.

♣ ♣ ♣

Trong thời gian này, cả Espinoza lẫn Pelletier hoàn toàn không nhớ gì tới Morini. Chỉ Norton thỉnh thoảng gọi cho anh, tiếp tục nói chuyện như mọi khi.

Morini đã biến mất khỏi tầm mắt theo kiểu của mình.

♣ ♣ ♣

Pelletier nhanh chóng quen thuộc với việc tới London bất cứ lúc nào anh muốn, mặc dù cần nhấn mạnh rằng về quãng đường cũng như phương tiện đi lại, anh lợi nhất.

Những lần ghé thăm này chỉ kéo dài một đêm mà thôi. Pelletier thường tới nơi sau chín giờ một chút, gặp Norton lúc mười giờ ở một nhà hàng mà anh đặt trước từ Paris, và đến một giờ họ đã lên giường.

Liz Norton là một người tình cuồng nhiệt, nhưng chỉ cuồng nhiệt trong một quãng thời gian ngắn. Tự bản thân cô không giàu trí tưởng tượng lắm, cô buông mình theo bất cứ trò chơi nào người tình của mình gợi ý, không bao giờ chủ động, hay nghĩ mình cần phải thế. Những cuộc yêu đương này hiếm khi kéo dài quá ba giờ đồng hồ, một thực tế thỉnh thoảng làm Pelletier buồn, vì anh sẽ vui vẻ quần nhau tới rạng sáng nếu có thể.

Xong cuộc gối chăn, và đây là điều làm Pelletier phiền lòng nhất, Norton ưa nói chuyện về những vấn đề học thuật hơn là nhìn thẳng vào những tiến triển giữa họ. Với Pelletier, sự lạnh nhạt của Norton dường như là một phương thức tự vệ đặc biệt nữ tính. Hy vọng hiểu được cô, một đêm anh quyết định kể cô nghe chuyện phiêu lưu tình cảm của mình. Anh bày ra một danh sách dài những phụ nữ anh quen biết và kể cô nghe về họ để rồi chỉ được nhận lại cái nhìn lạnh nhạt hay lãnh đạm. Cô dường như không quan tâm và chẳng tỏ vẻ gì muốn đáp lại nỗi bộc bạch của anh bằng chuyện của mình.

Vào các buổi sáng, sau khi gọi taxi, Pelletier khẽ khàng tròng quần áo vào để khỏi đánh thức cô và đi thẳng đến sân bay. Trước khi đi anh thường đứng ngắm cô trong vài giây, uể oải nằm giữa chăn ga, và đôi khi anh thấy lòng dào dạt ái tình đến nỗi có thể bật khóc.

♣ ♣ ♣

Một tiếng sau đồng hồ báo thức của Liz Norton sẽ reo khiến cô phóng ra khỏi giường. Cô tắm, đun nước, uống trà pha sữa, sấy tóc và kiểm tra toàn diện căn hộ như thể sợ vị khách đêm qua đã cuỗm đi một món đồ giá trị nào đó. Phòng khách và phòng ngủ luôn luôn là một đống tan hoang, và chuyện đó làm cô bực bội. Cô nôn nóng nhặt nhạnh những chiếc cốc bẩn, đổ gạt tàn thuốc, thay ga, xếp những cuốn sách mà Pelletier đã lấy từ trên kệ xuống bỏ trên sàn nhà, gác lại mấy cái chai lên giá trong bếp, rồi mặc quần áo và đi đến trường đại học. Nếu có họp với các đồng nghiệp trong khoa, cô sẽ đi họp, còn nếu không có họp, cô sẽ tự nhốt mình trong thư viện làm việc hay đọc sách cho đến giờ lên lớp.

♣ ♣ ♣

Một thứ Bảy nọ, Espinoza bảo cô phải tới Madrid, cô sẽ là khách của anh, Madrid mùa này trong năm là thành phố đẹp nhất thế giới, và đang có triển lãm tranh Bacon nữa, không nên bỏ lỡ.

“Mai em sẽ tới,” Norton nói, khiến Espinoza choáng váng, vì lời mời của anh vốn là mong ước hơn là hy vọng đúng nghĩa rằng cô sẽ nhận lời.

Biết chắc rằng ngày hôm sau cô sẽ xuất hiện tại căn hộ của mình, Espinoza tự nhiên rơi vào tình trạng càng lúc càng phấn khích đồng thời bất an tràn ngập. Tuy vậy họ đã có một Chủ nhật tuyệt vời (Espinoza làm mọi thứ trong khả năng của mình để đảm bảo điều đó), và đêm đó họ lên giường cùng nhau, lắng nghe tiếng trống nhà bên nhưng không nghe thấy gì, như thể ngày hôm đó ban nhạc châu Phi đã dọn đồ đi lưu diễn ở các thành phố Tây Ban Nha khác. Espinoza có quá nhiều điều muốn hỏi đến nỗi khi đến lúc thì anh không hỏi một câu nào. Anh không cần hỏi. Norton bảo anh rằng cô và Pelletier là tình nhân, mặc dù cô diễn đạt một cách khác, dùng từ gì đó mơ hồ hơn, có lẽ là bạn bè, hoặc có lẽ cô nói họ đã gặp gỡ nhau, hay những từ khác mang ý nghĩa ấy.

Espinoza những muốn biết họ cặp nhau bao lâu rồi, nhưng anh chỉ có thể thở dài. Norton nói cô có nhiều bạn bè, không nói rõ ý cô muốn diễn đạt là bạn-bạn hay bạn-tình nhân, và lúc nào cũng vậy từ khi mười sáu tuổi, khi cô làm tình lần đầu tiên với một người ba mươi tư tuổi, một nhạc công thất bại của khu Pottery Lane, và đây là cách cô nhìn nhận sự việc. Espinoza, chưa bao giờ nói chuyện với phụ nữ về tình yêu (hay tình dục) bằng tiếng Đức, hai người trần truồng nằm trên giường, muốn biết chính xác cô nhìn nhận sự việc như thế nào, bởi vì anh vẫn chưa thông lắm chuyện ấy, nhưng tất cả những gì anh làm là gật đầu.

Sau đó là một ngạc nhiên lớn. Norton nhìn vào mắt anh hỏi anh có nghĩ là anh biết cô không. Espinoza nói anh không chắc lắm, có lẽ theo cách nào đó anh nghĩ có và theo cách khác thì không, nhưng anh dành cho cô sự tôn trọng lớn lao và ngưỡng mộ công trình của cô với tư cách học giả và nhà phê bình tác phẩm của Archimboldi. Khi đó Norton mới bảo anh cô đã có gia đình rồi và cũng đã ly hôn.

“Anh không hề biết,” Espinoza nói.

“Ừ, đúng vậy đó,” Norton nói. “Em từng ly hôn.”

Khi Liz Norton bay về London rồi, Espinoza ở lại còn lo lắng hơn hai ngày bên cô ở Madrid. Một mặt, cuộc gặp gỡ thành công như mức anh đã hy vọng, không nghi ngờ gì về chuyện đó. Đặc biệt, trên giường, hai người dường như hiểu nhau, rất hòa hợp với nhau, cứ như đã biết nhau từ lâu lắm rồi, nhưng khi xong cuộc ái ân và Norton có tâm trạng để trò chuyện, mọi thứ thay đổi. Cô bước vào trạng thái thôi miên, như thể cô chẳng có người bạn gái nào để trút bầu tâm sự, Espinoza nghĩ, trong thâm tâm anh tin rằng những thú nhận như thế không dành cho lỗ tai đàn ông mà đúng ra người nghe phải là phụ nữ: ví dụ, Norton nói về chu kỳ kinh nguyệt, mặt trăng và những bộ phim đen trắng bất thần chuyển thành phim kinh dị, những chuyện này hoàn toàn làm Espinoza trầm cảm, đến mức khi cô ngừng nói thì cần phải có một nỗ lực siêu nhân anh mới mặc nổi quần áo và đi ra ngoài ăn tối hay gặp gỡ bạn bè, khoác tay Norton, ấy là chưa kể đến vấn đề với Pelletier, mà khi thực sự nghĩ về chuyện ấy anh cứ thấy rờn rợn, giờ đây ai sẽ nói với Pelletier mình đang ngủ với Liz? Tất cả những chuyện đó làm Espinoza bồn chồn, và khi anh một mình, bụng nhộn nhạo khiến anh muốn lao vào nhà vệ sinh, y như lúc Norton kể chuyện đã xảy ra với cô (sao mình lại để cô ấy kể mình nghe những thứ này!) khi cô gặp chồng cũ, một gã cao một mét chín và không bình thường lắm, một mối nguy với chính gã và người khác, một kẻ có thể đã là một gã côn đồ tép riu hay một kẻ du côn, trình độ văn hóa của hắn dừng ở những bài hát cũ mèm hắn hát trong quán rượu cùng đám bạn bè từ hồi nhỏ, một gã cà lơ tin tưởng vào tivi và có linh hồn co quéo, rúm ró của một tay cực đoan tôn giáo. Nói trắng ra, một gã chồng tệ hại nhất mà đàn bà có thể dính phải, bất kể nhìn theo cách nào.

♣ ♣ ♣

Và thậm chí mặc dù Espinoza đã tự trấn an mình bằng lời hứa rằng anh sẽ không đưa sự việc đi xa hơn nữa, bốn ngày sau, khi đã hồi phục, anh gọi cho Norton nói anh muốn gặp cô. Norton hỏi anh thích gặp ở London hay Madrid hơn. Espinoza nói tùy cô. Norton chọn Madrid. Espinoza cảm thấy mình là người hạnh phúc nhất thế giới.

Tối thứ Bảy Norton đến và tối Chủ nhật cô về. Espinoza chở cô đến El Escorial rồi sau đó đi xem một buổi biểu diễn Flamenco. Anh nghĩ cô có vẻ vui vẻ và anh mừng vì điều đó. Tối thứ Bảy họ làm tình suốt ba tiếng đồng hồ, sau đó Norton, thay vì bắt đầu nói chuyện như lần trước, nói cô kiệt sức và đi ngủ. Ngày hôm sau, sau khi tắm, họ lại làm tình rồi đi tới El Escorial. Trên đường về Espinoza hỏi cô có gặp Pelletier không. Norton nói có, Jean-Claude vừa mới ở London.

“Cậu ấy thế nào?” Espinoza hỏi.

“Ổn,” Norton nói. “Em đã kể với anh ấy về bọn mình.”

Espinoza chợt bủn rủn và cố tập trung vào con đường.

“Vậy cậu ấy nghĩ gì?” anh hỏi.

“Rằng đó là chuyện của em,” Norton nói, “nhưng trước sau gì em cũng phải lựa chọn.”

Mặc dù không nhận xét gì, Espinoza thán phục thái độ của Pelletier. Quả là một người đàn ông biết cách chơi đẹp, anh nghĩ. Rồi Norton hỏi anh nghĩ sao về chuyện đó.

“Đại khái giống vậy,” Espinoza nói dối, mắt không rời đường.

Họ im lặng một đỗi rồi Norton bắt đầu nói về chồng mình. Lần này những chuyện rùng rợn cô kể không mảy may ảnh hưởng đến Espinoza.

♣ ♣ ♣

Pelletier gọi Espinoza tối Chủ nhật đó, ngay sau khi Espinoza vừa thả Norton xuống phi trường. Anh đi thẳng vào vấn đề. Anh nói anh biết Espinoza biết chuyện gì đang xảy ra. Espinoza nói anh cảm kích về cuộc gọi, và dù Pelletier tin hay không, anh định gọi cho Pelletier ngay đêm đó và lý do duy nhất anh chưa làm là vì Pelletier đã làm trước. Pelletier nói anh tin.

“Vậy bây giờ chúng ta làm gì?” Espinoza hỏi.

“Phó mặc tất cả cho bàn tay định mệnh,” Pelletier trả lời.

Rồi họ bắt đầu nói chuyện - và cười khá nhiều - về một hội nghị kỳ lạ vừa mới được tổ chức ở Salonika, mà chỉ mỗi Morini được mời.

♣ ♣ ♣

Ở Salonika, Morini bị một cơn choáng nhẹ. Một sáng anh thức giấc trong phòng khách sạn không thể nhìn thấy gì cả. Anh đã bị mù. Thoạt tiên anh hoảng sợ, nhưng một lúc sau anh cũng cố gắng tự chủ lại được. Anh nằm trên giường không nhúc nhích, cố gắng ngủ lại. Anh nghĩ về những chuyện dễ chịu, cố nhớ tới những cảnh tượng thời thơ ấu, vài bộ phim, những gương mặt tĩnh tại, nhưng đều không có tác dụng. Anh ngồi dậy trên giường và sờ xung quanh tìm chiếc xe lăn. Anh bật nó ra rồi quăng người lên xe không quá khó nhọc như anh tưởng. Rồi, rất chậm chạp, anh cố xoay người về phía cánh cửa duy nhất của căn phòng, một cánh cửa kiểu Pháp mở ra ban công nhìn xuống những ngọn đồi trọc, màu nâu vàng, và một tòa nhà văn phòng trên nóc có bảng đèn nê ông của một công ty bất động sản quảng cáo những biệt thự nhỏ trong một khu hẳn là gần Salonika.

Công trình (chưa được xây) có tên Apollo Residences, tối hôm trước, Morini, với một ly whiskey trên tay, đã ngắm nhìn bảng hiệu từ ban công phòng mình khi nó đang nhấp nháy. Giờ anh chạm tới cửa ra ban công và đang xoay xở mở nó ra thì cảm thấy chóng mặt, như muốn ngất. Thoạt tiên anh định cố tìm cánh cửa ra hành lang và có thể là kêu gọi giúp đỡ hay để mặc mình ngã xuống giữa hành lang. Rồi anh quyết định tốt nhất là trở lại giường. Một tiếng sau anh bị đánh thức bởi làn ánh sáng tràn vào phòng qua cửa sổ để mở và bởi chính mồ hôi của mình. Anh gọi tiếp tân hỏi có tin nhắn nào cho mình không. Anh được bảo là không có. Anh cởi quần áo trên giường và quay trở lại xe lăn đang nằm sẵn bên cạnh. Mất nửa tiếng đồng hồ anh mới tắm xong và mặc được quần áo sạch. Rồi anh đóng cửa sổ mà không nhìn ra ngoài, rồi ra khỏi phòng đến hội nghị.

♣ ♣ ♣

« Lùi
Tiến »