Bốn người bọn họ gặp lại nhau ở một hội nghị văn học Đức đương đại tổ chức ở Salzburg năm 1996. Espinoza và Pelletier có vẻ rất vui. Norton, ngược lại, giống như một nữ hoàng băng giá, thờ ơ trước những tặng vật văn hóa và vẻ đẹp của thành phố. Morini xuất hiện cùng chất ngất sách và bài làm cần phải chấm, như thể hội nghị Salzburg nhằm lúc anh đang bận nhất mà họp.
Cả bốn người được xếp ở chung khách sạn. Morini và Norton ở tầng ba, trong hai phòng lần lượt là 305 và 311. Espinoza ở tầng năm, phòng 509. Và Pelletier ở tầng sáu, phòng 602. Khách sạn bị chiếm cứ, theo đúng nghĩa đen, bởi một dàn nhạc giao hưởng Đức và một ca đoàn Nga, lúc nào cũng có tiếng nhạc ầm ĩ ở các hành lang và trên các cầu thang, lúc to lúc nhỏ, như thể các nhạc công không bao giờ ngừng ngâm nga những khúc dạo đầu hay như thể một sự ứ đọng về tinh thần (và âm nhạc) đã chiếm lĩnh khách sạn. Espinoza và Pelletier không phiền tí nào, còn Morini dường như không để ý, nhưng Norton thì tuyên bố, đây là thứ, một trong nhiều thứ mà cô sẽ không kể ra, khiến Salzburg thành ra một chỗ nhơ nhớp như thế.
Đương nhiên, cả Espinoza lẫn Pelletier đều không ghé phòng Norton lần nào. Thay vào đó, căn phòng mà Espinoza ghé tới (một lần) là phòng Pelletier, và căn phòng mà Pelletier ghé qua (hai lần) là phòng Espinoza, hai bọn họ hào hứng như trẻ con khi nghe được cái tin đang lây lan như đám cháy rừng, như đám cháy hạt nhân, dọc các hành lang và suốt các cuộc họp tổ chức trong hội nghị, rằng Archimboldi là ứng cử viên cho giải Nobel năm ấy, không chỉ là nguyên do để các học giả Archimboldi khắp nơi vui mừng mà còn là một chiến thắng, một minh chứng rõ rành rành, lớn đến nỗi ở Salzburg, tại quán bia Red Bull, trong một đêm của nhiều lời chúc tụng, hòa bình được tuyên bố giữa hai phe học giả Archimboldi, tức là, giữa Pelletier và Espinoza với Borchmeyer, Pohl và Schwarz, họ quyết định từ đó trở đi, với sự tôn trọng dành cho những khác biệt và phương pháp diễn dịch của nhau, kết hợp các nỗ lực của họ và từ bỏ động thái phá hoại, về thực tế nghĩa là Pelletier sẽ không còn phủ quyết việc đăng các tiểu luận của Schwarz trên các tạp chí mà anh kiểm soát, và Schwarz sẽ không phủ quyết việc đăng tải các nghiên cứu của Pelletier trên các tạp chí mà Schwarz được tôn kính như thánh.
♣ ♣ ♣
Morini, không hào hứng như Pelletier và Espinoza, là người đầu tiên chỉ ra rằng cho đến bây giờ, ít nhất trong chừng mực anh biết, Archimboldi chưa bao giờ đoạt một giải thưởng quan trọng nào ở Đức, cho dù là giải thưởng của các đơn vị bán sách, giải thưởng của các nhà phê bình, giải thưởng của độc giả, hay giải thưởng của các nhà xuất bản, giả định có giải đó, điều này có nghĩa là người ta có quyền mong đợi rằng, khi biết Archimboldi được cân nhắc giải thưởng lớn nhất của văn chương thế giới, các đồng hương người Đức của ông, ngay cả chỉ để cho an toàn, sẽ trao cho ông một giải thưởng quốc gia hay giải thưởng tượng trưng hay giải thưởng danh dự hay ít nhất một tiếng đồng hồ phỏng vấn trên truyền hình, nhưng những chuyện đó đều không xảy ra, khiến các học giả Archimboldi thêm giận dữ (lần này thì đoàn kết), và họ thay vì ngã lòng vì những đối xử tệ hại mà Archimboldi tiếp tục gánh nhận, đã nhân đôi những nỗ lực của mình, bị khích động trong sự bực dọc và bị thúc giục bởi sự bất công mà một nhà nước văn minh đối xử với - theo ý họ - không chỉ nhà văn xuất sắc nhất còn sống ở Đức, mà còn là nhà văn xuất sắc nhất còn sống ở châu Âu, và chuyện này khơi mào cho dồn dập các nghiên cứu văn chương và thậm chí nghiên cứu tiểu sử của Archimboldi (người ta biết về ông quá ít đến nỗi có thể coi như chưa biết gì), chuyện này đến lượt nó thu hút thêm người đọc, hầu hết bị hút hồn không phải vì tác phẩm của nhà văn Đức mà bởi cuộc đời hay phi-cuộc-đời của một nhân vật độc đáo như thế, điều ấy đến lượt nó biến thành một phong trào truyền miệng làm tăng doanh số đáng kể ở Đức (một hiện tượng không phải không liên quan đến sự hiện diện của Dieter Hellfeld, thành viên mới nhất của nhóm Schwarz, Borchmeyer và Pohl), rồi đến lượt nó tạo ra động lực mới cho các bản dịch và việc phát hành lại các bản dịch cũ, tuy không bản nào biến Archimboldi thành nhà văn có sách bán chạy nhất nhưng đã đẩy ông lên, trong vòng hai tuần, vị trí thứ chín trên bảng xếp hạng sách bán chạy ở Ý, và vị trí thứ mười hai ở Pháp, cũng trong hai tuần, và mặc dù không bao giờ lọt vào danh sách ở Tây Ban Nha, một nhà xuất bản ở đó mua bản quyền một số tiểu thuyết vốn vẫn thuộc về các nhà xuất bản Tây Ban Nha khác và bản quyền đối với mọi cuốn sách của nhà văn chưa được dịch sang tiếng Tây Ban Nha, và bằng cách này một dạng Tủ sách Archimboldi bắt đầu thành hình, cũng không phải là một thương vụ tồi.
♣ ♣ ♣
Ở quần đảo Anh, phải nói rằng, Archimboldi rõ ràng vẫn là một nhà văn bên lề.
♣ ♣ ♣
Trong những ngày nháo nhào này, Pelletier tình cờ đọc được một bài viết của nhà văn người Swabia anh từng gặp ở Amsterdam. Trong bài này người Swabia đó đơn giản lặp lại những gì ông ta đã kể cho họ về chuyến viếng thăm của Archimboldi đến thị trấn vùng Frisia và bữa tối sau đó với người phụ nữ từng đi Buenos Aires. Bài viết được đăng trên tờ Reutlingen Morning News có khác với câu chuyện gốc ở chỗ nó thuật lại cuộc trao đổi giữa người phụ nữ và Archimboldi, bằng giọng hài hước đầy nhạo báng. Cuộc trò chuyện bắt đầu với việc bà hỏi ông là người ở đâu. Archimboldi đáp ông là người Phổ. Bà hỏi tên của ông có phải là tên quý tộc, thuộc dòng dõi quý tộc địa chủ người Phổ. Archimboldi đáp có thể lắm. Rồi bà thì thào cái tên Benno von Archimboldi, cứ như cắn đồng tiền vàng để thử. Sau đó ngay lập tức bà nói nghe có vẻ không quen thuộc lắm và bà nhắc một vài cái tên khác, để xem Archimboldi có nhận ra hay không. Ông nói ông không nhận ra, tất cả những gì ông biết về Phổ là những cánh rừng.
“Tuy vậy tên của ông có gốc Ý,” người phụ nữ nói.
“Pháp,” Archimboldi đáp. “Người Huguenot.”
Nghe vậy, người phụ nữ bật cười. Bà từng rất đẹp, người Swabia nói. Kể cả khi đó, trong ánh sáng mờ mờ của quán rượu, trông bà vẫn đẹp, mặc dù khi cười mấy cái răng giả trượt ra và bà phải lấy tay chỉnh lại. Tuy vậy, cử chỉ ấy khi do bà thực hiện hoàn toàn không phô. Phong thái tự nhiên và thoải mái của bà khiến ngư dân và nông dân đều mang lòng quý mến, tôn trọng. Đã từ lâu, bà là quả phụ. Thỉnh thoảng bà cưỡi ngựa trên các đụn cát. Những lúc khác bà vẩn vơ đi trên những con đường nhỏ lồng lộng gió thổi vào từ Bắc Hải.
♣ ♣ ♣
Một sáng nọ trong bữa ăn ở khách sạn trước khi đi Salzburg, Pelletier mang bài báo của nhà văn người Swabia ra bàn luận với ba người bạn của mình, ý kiến và diễn dịch của mọi người khác nhau đáng kể.
Theo Espinoza và Pelletier, nhà văn người Swabia có thể là tình nhân của người đàn bà kia vào thời điểm Archimboldi đến giới thiệu sách. Theo Norton, tùy thuộc vào tâm trạng và người nghe là ai, nhà văn Swabia sẽ kể ra một dị bản về các sự kiện, và biết đâu bản thân ông ta thậm chí không còn nhớ điều gì thực sự đã được nói ra và điều gì thực sự xảy ra trong thời điểm lịch sử ấy. Theo Morini, tay người Swabia là bản đóng thế xấu xí của Archimboldi, người anh em song sinh, âm bản của một bức ảnh đã in cứ phóng to ra, trở nên mạnh mẽ hơn, trấn áp hơn, không bao giờ mất mối liên kết của nó với âm bản (vốn lại trải qua quy trình ngược lại, dần dần thay đổi bởi thời gian và số phận), hai hình ảnh dường như vẫn giống nhau: hai chàng trai trẻ trong những năm kinh hoàng và mọi rợ dưới thời Hitler, cả hai đều là cựu binh Đệ nhị Thế chiến, cả hai đều là nhà văn, cả hai là công dân của một quốc gia phá sản, cả hai đều là những gã hoang đàng trôi dạt vào thời điểm gặp nhau và nhận ra con người nhau (bằng cách xấu xí của mình), Archimboldi là một nhà văn đang vật lộn, còn tay người Swabia là một “người xúc tiến văn hóa” ở một thị trấn mà văn hóa gần như không phải là một mối quan tâm nghiêm túc.
Thậm chí có thể nào cái người Swabia đau khổ và (tại sao không) đáng khinh kia là Archimboldi không? Người hỏi câu này không phải là Morini mà là Norton. Và câu trả lời là không, bởi người Swabia đó, trước hết, lùn và vóc người mỏng mảnh, không phù hợp chút nào với mô tả về ngoại hình của Archimboldi. Giải thích của Pelletier và Espinoza hợp lý hơn nhiều: người Swabia là tình nhân của quý bà cao quý kia, ngay cả khi bà đáng tuổi bà ngoại của ông ta. Tay người Swabia lê gót mỗi chiều đến nhà quý bà từng đi Buenos Aires ấy, để ních đầy bụng các món thịt nguội, bánh quy và trà. Tay người Swabia xoa bóp lưng cho góa phụ của viên cựu đại úy pháo binh, trong khi mưa quất vào cửa sổ, một trận mưa vùng Frisia buồn thảm khiến người ta muốn khóc, và mặc dù mưa không làm cho người Swabia khóc, nó khiến ông ta tái nhợt, và ông ta lại gần cửa sổ gần nhất, đứng đó nhìn ra cái đang khuất sau màn mưa mù mịt, cho đến khi quý bà kia gọi ông, đầy quyền uy, và người Swabia quay lưng lại cửa sổ, không hiểu sao mình đi tới đó, không biết mình hy vọng nhìn thấy gì, và chỉ vào phút giây đó, khi không còn ai ở bên cửa sổ nữa và chỉ còn một ngọn đèn thủy tinh màu nho nhỏ cuối phòng leo lắt, nó xuất hiện.
♣ ♣ ♣
Cứ như thế những ngày ở Salzburg nhìn chung là dễ chịu, và mặc dù năm đó Archimboldi không được giải Nobel, trong mắt bốn người cuộc sống diễn tiến êm đềm, trôi theo dòng sông tĩnh lặng của khoa tiếng Đức các trường đại học châu Âu, không phải là không hứng phải một thất vọng này nọ nhưng rốt cuộc chúng đơn giản chỉ thêm chút tiêu, chút mù tạt, chút giấm vào những cuộc đời ngăn nắp, hay những cuộc đời trông ngăn nắp nhìn từ bên ngoài, mặc dù mỗi người đều phải mang theo một cây thánh giá của riêng mình, như bất cứ ai khác, trong trường hợp của Norton là một cây thánh giá kỳ lạ, ma mị và tỏa ánh lân tinh, vì Norton thường xuyên ám chỉ, một cách hằn học, về chồng cũ như một mối đe dọa lẩn quất, gán cho anh ta những xấu xa và lỗi lầm của một con quỷ, một con quỷ bạo lực đầy kinh dị nhưng là con quỷ không bao giờ hiện hình, một con quỷ chỉ gợi ra qua hình ảnh thay vì hành động, mặc dù bằng lời lẽ của mình Norton cố hiện thực hóa sinh thể mà cả Espinoza lẫn Pelletier chưa bao giờ nhìn thấy này, như thể chồng cũ của cô chỉ tồn tại trong giấc mơ của họ, cho đến khi Pelletier, vốn sắc sảo hơn Espinoza, hiểu rằng những chỉ trích thiếu suy xét của Norton, danh mục vô tận những kêu ca, không là gì ngoài một hình phạt cô tự áp đặt cho mình, có lẽ vì sự tủi nhục do đã phải lòng một gã si độn như thế và còn cưới gã làm chồng. Pelletier dĩ nhiên sai.
♣ ♣ ♣
Đâu đó trong quãng thời gian này, Pelletier và Espinoza, lo lắng về tình trạng hiện tại của người tình chung, đã có hai cuộc trò chuyện dài trên điện thoại.
Cuộc thứ nhất do Pelletier gọi, kéo dài một tiếng mười lăm phút. Sau khi nói chuyện được một tiếng rưỡi, Pelletier bảo Espinoza gác máy vì cuộc gọi rất đắt tiền và anh sẽ gọi ngay lại, nhưng Espinoza khăng khăng từ chối.
Cuộc nói chuyện thứ nhất khởi đầu gượng gạo, mặc dù Espinoza đã chờ mong cuộc gọi của Pelletier, như thể cả hai thấy khó mà nói những điều sớm muộn gì họ cũng phải nói. Hai mươi phút đầu tiên nhuốm màu bi kịch, khi từ số mệnh được dùng mười lần và từ tình bạn hai mươi tư lần. Tên của Liz Norton được nói ra năm mươi lần, với chín lần trong tuyệt vọng. Từ Paris được nói bảy lần, từ Madrid, tám. Từ yêu được nói hai lần, mỗi người nói một lần. Từ kinh khủng được nói sáu lần và từ hạnh phúc một lần (Espinoza nói). Từ giải pháp được nói mười hai lần. Từ duy ngã bảy lần. Từ uyển ngữ mười lần. Từ hạng mục, cả số ít và số nhiều, chín lần. Từ cấu trúc luận một lần (Pelletier). Từ văn học Mỹ ba lần. Các từ bữa tối, ăn, bữa sáng hay sandwich mười chín lần. Các từ mắt, tay hay tóc mười bốn lần. Rồi cuộc trò chuyện tiếp diễn trôi chảy hơn. Pelletier kể cho Espinoza một chuyện tiếu lâm bằng tiếng Đức và Espinoza bật cười. Thực tế, cả hai cùng cười, gói lại trong những bước sóng hay bất cứ thứ gì kết nối giọng nói họ và tai họ qua những cánh đồng tối tăm cùng gió và tuyết trên dãy Pyrénées và những dòng sông, những con đường và những khu ngoại ô cách biệt và vô tận bao quanh Paris và Madrid.
♣ ♣ ♣
Cuộc trò chuyện thứ hai, dài hơn cuộc thứ nhất rất nhiều, là cuộc trò chuyện giữa những người bạn đang làm hết sức mình để dứt điểm bất cứ điểm mù mờ nào có thể họ đã bỏ sót, một cuộc trò chuyện từ chối mang tính chuyên môn hay logic và thay vào đó chạm tới những chủ đề chỉ mong manh kết nối đến Norton, những chủ đề không liên quan gì đến những dâng trào của cảm xúc, những chủ đề dễ dàng khơi ra và sau đó bỏ rơi khi họ muốn quay lại chủ đề chính, Liz Norton, người mà, đến khi cuộc gọi thứ hai gần kết thúc, cả hai nhận ra không phải là Nữ thần Thịnh nộ phá hủy tình bạn của họ, vận áo đen với đôi cánh lấm máu, mà cũng không phải nữ thần Hecate, người khởi đầu là vú em, chăm sóc trẻ em, và rốt cuộc học thuật phù thủy và tự biến mình thành thú vật, mà là thiên thần củng cố vững chắc cho tình bạn của họ, mạnh mẽ chỉ ra cho họ những gì họ đã biết bấy lâu, những gì họ giả định bấy lâu, rằng họ là những sinh vật văn minh, có khả năng sở hữu những tình cảm cao quý, không phải hai thằng ngốc mất phẩm giá vì công việc nhàm chán lặp đi lặp lại, không, đêm đó Pelletier và Espinoza khám phá ra rằng họ rộng lượng, rộng lượng đến nỗi nếu đang ở cùng nhau chắc chắn họ sẽ muốn đi chơi và ăn mừng, lóa mắt bởi ánh sáng của phẩm hạnh của mình, một ánh sáng có thể không kéo dài (bởi phẩm hạnh, một khi được nhận ra trong chốc lát, không tỏa sáng mà lại cư trú trong một cái hang tối giữa những cư dân của hang, một vài người thật ra nguy hiểm), và vì thiếu việc ăn mừng hay ăn uống ầm ĩ họ ca ngợi phẩm hạnh này với lời hứa thầm về tình bạn vĩnh cửu, và đánh dấu tuyên thệ này, sau khi cả hai gác điện thoại trong căn phòng ken cứng sách của mình, bằng cách thong thả nhấm nháp whiskey và ngắm màn đêm ngoài cửa sổ, có lẽ vô thức tìm kiếm những gì mà nhà văn người Swabia đã hoài công tìm kiếm bên ngoài cửa sổ người góa phụ.
♣ ♣ ♣
Morini là người cuối cùng biết, đúng như người ta dự đoán, mặc dù trong trường hợp của Morini phép toán tình cảm không phải lúc nào cũng có hiệu quả.
Thậm chí trước khi Norton lên giường lần đầu với Pelletier, Morini đã cảm thấy điều ấy sẽ xảy ra. Không phải vì cách Pelletier cư xử khi ở bên Norton mà bởi sự tách biệt của cô, một sự tách biệt chung chung, mà Baudelaire hẳn sẽ gọi là u uất, Nerval sẽ gọi là sầu muộn, khiến Norton dễ dàng lao vào một mối quan hệ gần gũi với bất kỳ ai xuất hiện.
Còn Espinoza, dĩ nhiên, anh đã không đoán ra. Khi Norton gọi cho anh nói rằng cô đi lại với cả hai người, Morini ngạc nhiên (mặc dù anh hẳn sẽ không ngạc nhiên nếu Norton nói rằng cô đi lại với Pelletier và một đồng nghiệp ở Đại học London hay thậm chí một sinh viên), nhưng anh che giấu tài tình. Rồi anh cố nghĩ về những việc khác, nhưng không thể.
Anh hỏi Norton cô có vui không. Norton nói có. Anh bảo cô anh nhận được một email từ Borchmeyer kèm theo tin tức nóng hổi. Norton có vẻ không quan tâm lắm. Anh hỏi cô có nghe tin gì của chồng không.
“Chồng cũ,” Norton nói.
Không, cô không nghe tin gì của hắn, nhưng một người bạn cũ đã gọi cho cô bảo rằng chồng cũ của cô đang ở với một người bạn cũ khác. Morini hỏi liệu người đàn bà đó có phải là một người bạn rất thân. Norton không hiểu câu hỏi.
“Bạn thân nào?”
“Người đang ở với chồng cũ của em,” Morini nói.
“Cô ta không ở với hắn, cô ta trợ giúp hắn, điều đó hoàn toàn khác.”
“À,” Morini nói, và anh cố thay đổi đề tài, nhưng bất thành.
Có lẽ mình nên nói với cô ấy về bệnh trạng của mình, anh cay đắng nghĩ. Nhưng điều đó, anh không bao giờ làm.
♣ ♣ ♣
Đâu đó trong quãng thời gian này, Morini là người đầu tiên trong nhóm đọc được một bài báo về các vụ giết chóc ở Sonora, đăng trên tờ Il Manifesto của một nhà báo Ý đi Mexico để tường trình về lực lượng du kích Zapatista. Anh nghĩ tin đó thật kinh khủng. Ở Ý cũng có những kẻ giết người hàng loạt, nhưng hầu như chúng không bao giờ giết hơn mười người, trong khi đó ở Sonora số người chết đã vượt quá một trăm.
Rồi anh nghĩ về người phóng viên của tờ Il Manifesto và anh chợt nhận ra sự lạ lùng rằng cô ta đã tới Chiapas, cực Nam của Mexico, và rốt cuộc cô ta lại viết về những sự kiện ở Sonora, mà nếu anh không nhầm, ở miền Bắc, Tây Bắc, trên biên giới với Hoa Kỳ. Anh tưởng tượng ra cô đi bằng xe buýt, một quãng đường dài từ Mexico City đến những vùng sa mạc miền Bắc. Anh tưởng tượng ra cô nói chuyện với Subcomandante Marcos. Anh tưởng tượng ra cô ở thủ đô của Mexico. Ai đó ở đó hẳn đã kể với cô về những chuyện xảy ra ở Sonora. Và thay vì lên chuyến bay kế tiếp bay về Ý, cô quyết định mua vé xe buýt và cất bước trên một chuyến đi dài tới Sonora. Trong giây lát, Morini cảm thấy một khao khát hoang dại được đồng hành cùng người phóng viên đó.
Mình sẽ yêu cô ấy đến tận thế, anh nghĩ. Một tiếng sau anh đã quên sạch sẽ sự việc.
♣ ♣ ♣
Một lát sau anh nhận được email của Norton. Anh thấy lạ Norton viết email mà không gọi điện. Đọc thư rồi, anh mới hiểu rằng cô cần diễn đạt ý nghĩ của mình càng chính xác càng tốt và đó là lý do cô quyết định viết. Trong thư cô xin anh tha thứ cho cái mà cô gọi là sự vị kỷ của mình, một sự vị kỷ bộc lộ ra qua việc suy ngẫm về những điều không may của chính cô, cho dù có thật hay tưởng tượng. Cô nói tiếp rằng cuối cùng cô đã giải quyết xong vụ cãi cọ lình xình với chồng cũ. Những đám mây đen đã biến mất khỏi đời cô. Giờ đây cô muốn vui vẻ và ca hát [trích nguyên văn]. Cho đến có lẽ tuần trước, cô viết thêm, cô vẫn yêu hắn, và bây giờ cô có thể chứng thực rằng phần dĩ vãng mang theo hắn trong cô đã ở lại phía sau cô mãi mãi. Đột nhiên em yêu quý công việc của em, cô nói, và yêu quý tất cả những thứ nho nhỏ hằng ngày khiến con người ta hạnh phúc. Và cô cũng nói: em muốn anh, Piero kiên nhẫn của em, là người đầu tiên biết tin.
Morini đọc bức thư ba lần. Lòng nặng nề, anh nghĩ Norton sai lầm biết bao khi nói tình yêu, chồng cũ và mọi thứ họ đã trải qua cùng nhau nay đã ở phía sau cô. Không có gì ở phía sau ta bao giờ.
♣ ♣ ♣
Pelletier và Espinoza, trong khi đó, không nhận được những chia sẻ như thế. Nhưng Pelletier để ý thấy một điều mà Espinoza không thấy. Những chuyến đi London-Paris đã trở nên thường xuyên hơn những chuyến Paris-London. Thường thường, Norton xuất hiện cùng một món quà - tập tiểu luận, cuốn sách nghệ thuật, catalog của những triển lãm mà Pelletier sẽ không bao giờ xem, thậm chí áo sơ mi hay khăn tay - chuyện trước đây chưa bao giờ xảy ra.
Ngoài ra, mọi thứ vẫn như thế. Họ vần nhau, đi ăn tối, bàn luận tin tức mới nhất về Archimboldi. Họ không bao giờ nói về tương lai của mình như một cặp đôi. Mỗi lần Espinoza xuất hiện trong cuộc trò chuyện (hiếm khi), cả hai sử dụng một giọng điệu cực kỳ khách quan, cẩn trọng và trên hết, thân mật. Có những đêm họ ngủ thiếp đi trong vòng tay của nhau mà không làm tình, một điều Pelletier đoan chắc không xảy ra đối với Espinoza. Nhưng anh nhầm, vì quan hệ giữa Norton và Espinoza thường là hình ảnh trung thực của quan hệ giữa Norton với Pelletier.
Những bữa ăn thì khác, ở Paris ngon hơn; khung cảnh và cảnh quan cũng khác, Paris hiện đại hơn; và ngôn ngữ cũng khác, bởi với Espinoza, Norton chủ yếu nói tiếng Đức còn với Pelletier chủ yếu tiếng Anh, nhưng nhìn chung tương đồng vượt trội dị biệt. Dĩ nhiên, với Espinoza cũng có những đêm không làm tình.
♣ ♣ ♣
Nếu bạn thân nhất của Norton (chẳng có ai) hỏi cô tận hưởng thời gian trên giường với ai hơn trong hai người bạn, Norton sẽ chẳng biết nói gì.
Có lúc cô nghĩ Pelletier là người tình lão luyện hơn. Có lúc cô lại nghĩ Espinoza. Nhìn từ bên ngoài, giả dụ từ góc độ học thuật nghiêm nhặt, người ta có thể cho rằng Pelletier có danh mục tài liệu tham khảo dài hơn Espinoza, người vốn dựa vào bản năng nhiều hơn tri thức trong những vấn đề như vậy, và có bất lợi vì là người Tây Ban Nha, tức là, thuộc về một nền văn hóa có khuynh hướng lẫn lộn chủ nghĩa huê tình với nghiên cứu dâm ô và khiêu dâm với ăn phân, một nhầm lẫn thể hiện rõ (bởi vì không được đề cập) trong thư viện tinh thần của Espinoza, bởi anh chỉ mới đọc Hầu tước de Sade để kiểm tra và (phản bác) một bài báo của Pohl trong đó Pohl rút ra mối liên hệ giữa các tác phẩm Justine và Triết học trong khuê phòng của de Sade với một trong những tiểu thuyết của Archimboldi in hồi thập niên 1950.
Pelletier, mặt khác, đã đọc Hầu tước thần thánh ấy từ mười sáu tuổi và lúc mười tám đã tham gia trò làm tình tay ba với hai nữ sinh viên đồng khóa, và lòng ham mê truyện tranh phong tình ở tuổi thiếu niên đã bừng nở thành một bộ sưu tập hợp lý và chừng mực văn chương phóng túng thế kỷ mười bảy và mười tám. Nói văn vẻ Pelletier gần gũi thân mật với Mnemosyne, nữ thần núi và mẹ của chín nữ thần thi ca, hơn Espinoza. Nói đơn giản Pelletier có thể mần tình sáu tiếng đồng hồ (mà không lên đỉnh) nhờ vào thư mục ấn phẩm tham khảo của mình, trong khi đó Espinoza cũng có thể kéo dài trong thời gian tương đương (lên đỉnh hai lần, đôi khi ba, và kết thúc trong tình trạng ngắc ngoải) hoàn toàn cậy vào sức khỏe và ý chí.
♣ ♣ ♣
Nhân nhắc đến những người Hy Lạp, sẽ là hợp lý khi nói Espinoza và Pelletier tin rằng hai người họ sẽ là (và theo kiểu hư hỏng của họ, đã là) những hiện thân của Ulysses, và cả hai nghĩ về Morini như Eurylochus, người bạn trung thành được kể chuyện theo hai cách khác hẳn nhau trong Odyssey. Chuyện thứ nhất, chàng thoát khỏi cảnh bị biến thành lợn, cho thấy sự khôn ngoan hay một bản tính ưa hành động đơn độc và cá nhân, sự hoài nghi thận trọng, độ lọc lõi của một thủy thủ kỳ cựu. Chuyện thứ hai, tuy vậy, liên quan đến một hành vi mạo hiểm bất kính và báng bổ: lũ gia súc của Zeus hay một vị thần uy quyền khác đang hiền hòa gặm cỏ trên hòn đảo Mặt Trời khơi dậy cơn đói cồn cào của Eurylochus, nên bằng những lời lẽ khôn ngoan chàng đã phỉnh phờ các bạn mình giết đám gia súc và bày tiệc, khiến Zeus hay vị thần nào đó nổi giận đùng đùng, bèn nguyền rủa Eurylochus vì chàng ra vẻ kênh kiệu và vì tự phụ là khôn ngoan hay vô thần hay ngông cuồng, bởi vị thần này tức tối vì thái độ của Eurylochus, vì phép biện luận cho cơn đói của chàng, hơn là bản thân hành vi giết thịt đám gia súc, và bởi vì hành động này, hay bởi vì bữa tiệc, mà con tàu chở Eurylochus lật và toàn bộ thủy thủ đều chết, chính là điều mà Pelletier và Espinoza tin sẽ xảy ra đối với Morini, dĩ nhiên không hữu thức, mà bằng một kiểu cách rời rạc hay bản năng, một ý nghĩ đen tối dưới hình thức một dấu hiệu tế vi phập phồng trong một góc tối tăm và tế vi của tâm hồn hai người bạn.
♣ ♣ ♣
Gần cuối năm 1996, Morini gặp một cơn ác mộng. Anh mơ thấy Norton nhảy xuống hồ bơi trong khi anh, Pelletier và Espinoza chơi bài quanh chiếc bàn đá. Espinoza và Pelletier quay lưng lại hồ, thoạt nhìn dường như là một hồ bơi khách sạn bình thường. Trong lúc chơi, Morini nhìn sang các bàn khác, những cây dù, và những chiếc ghế dài xếp hai bên hồ. Xa xa là công viên với những bờ cây xanh ngắt, lấp lánh như thể mới mưa xong. Dần dần mọi người bắt đầu ra về, biến mất qua những cánh cửa khác nhau nối không gian ngoài trời, quán bar với các phòng của tòa nhà hay những căn hộ nhỏ, những căn hộ mà Morini tưởng tượng là một phòng đôi có căn bếp nhỏ và phòng tắm. Chẳng mấy chốc không còn ai bên ngoài, ngay cả những hầu bàn chán chường lúc nãy anh thấy lượn quanh cũng không còn. Pelletier và Espinoza vẫn mải mê chơi. Bên cạnh Pelletier anh thấy một đống phỉnh cũng như tiền xu của nhiều nước, nên anh đoán Pelletier đang thắng. Tuy nhiên Espinoza trông có vẻ chưa sẵn sàng đầu hàng. Ngay khi đó, Morini liếc nhìn bài của mình và thấy rằng mình không có gì để chơi. Anh bỏ chúng đi và yêu cầu bốn lá bài, rồi anh úp chúng xuống trên mặt bàn đá mà không nhìn tới, rồi hơi khó nhọc lăn bánh xe đi. Pelletier và Espinoza thậm chí không hỏi anh đi đâu. Anh lăn xe đến mép hồ bơi. Chỉ khi đó anh mới nhận ra nó to đến mức nào. Nó phải rộng ít nhất một ngàn bộ và dài hơn hai dặm, Morini ước tính. Nước sẫm màu, nhiều chỗ có váng dầu, loại ta thấy ở các bến cảng. Không có dấu vết của Norton. Morini kêu to.
“Liz.”
Anh nghĩ mình nhìn thấy một bóng người ở đầu kia hồ, và anh di chuyển xe của mình theo hướng đó. Đó là một quãng đường dài. Lần duy nhất quay đầu lại, Pelletier và Espinoza đã biến mất khỏi tầm nhìn. Một màn sương mù đã phủ lên phần đó của hàng hiên. Anh tiếp tục đi. Nước trong hồ dường như tràn cả lên bờ, như thể đâu đó một cơn lốc sắp nổi lên hay còn tệ hơn, mặc dù nơi anh đang hướng tới mọi thứ tĩnh lặng, và không hề có dấu hiệu của bão. Chẳng mấy chốc màn sương bao phủ cả Morini. Đầu tiên anh cố tiếp tục di chuyển, nhưng rồi anh nhận ra mình có nguy cơ lộn nhào cả xe xuống hồ, nên anh quyết định dừng lại. Khi đã nhìn quen mắt, anh thấy một tảng đá nhô lên từ dưới hồ, như một dải đá ngầm sẫm màu và óng ánh. Đối với anh điều này dường như không lạ lẫm. Anh tiến lại bên mép hồ và réo tên Liz lần nữa, sợ rằng giờ đây anh sẽ không bao giờ gặp lại cô. Chỉ cần bánh xe xoay nửa vòng là anh đã rơi tõm xuống dưới. Rồi anh chợt nhận ra hồ bơi trống rỗng và sâu hun hút, như thể một vực thẳm gạch đen mốc meo mở ra dưới chân anh. Dưới đáy anh dường như nhìn ra hình dạng một phụ nữ (mặc dù không thể khẳng định) đang tiến về phía con dốc đá. Morini định kêu lên lần nữa và vẫy tay thì cảm thấy có ai ở sau lưng. Có hai điều anh biết chắc ngay lập tức: thứ đó là ma quỷ và nó muốn Morini xoay lại nhìn mặt nó. Thận trọng, anh lùi ra và tiếp tục đi quanh hồ, cố gắng không nhìn vào ai đó đang theo sau anh, tìm kiếm cái thang có thể đưa anh xuống đáy. Nhưng dĩ nhiên cái thang, lý ra phải ở góc, không bao giờ xuất hiện, và sau khi lăn đi được vài bộ Morini ngừng lại và quay lại nhìn vào mặt người lạ, cố gắng chế ngự nỗi sợ, một nỗi sợ tệ hại hơn vì anh chắc chắn là biết rõ người đang bám theo mình, người ấy tỏa ra mùi ma quỷ mà Morini gần như không chịu nổi. Trong màn sương, gương mặt Liz Norton hiện ra. Một phiên bản trẻ hơn của Norton - chừng hai mươi tuổi - nhìn chằm chặp thật nghiêm trọng và chăm chú đến nỗi Morini phải nhìn đi chỗ khác. Người dưới đáy hồ là ai? Morini vẫn còn có thể nhìn thấy anh ta hay cô ta, một chấm nhỏ đang cố leo lên tảng đá giờ đã trở thành ngọn núi, và việc nhìn thấy người này, ở quá xa, khiến anh giàn giụa nước mắt và để lại trong anh một nỗi buồn sâu sắc khôn nguôi, như thể anh nhìn thấy mối tình đầu của mình lang thang trong mê cung. Hay chính anh, với cặp chân vẫn còn hoạt động, lạc lối trong một cuộc leo trèo vô vọng. Thêm nữa, và anh không thể không nhận thấy, và thật tốt là anh đã không lảng tránh cái nhận thức này, anh nghĩ nó giống một bức tranh của Gustave Moreau hay Odilon Redon. Rồi anh ngoảnh sang gương mặt Norton và cô nói:
“Không có đường quay lại.”
Anh nghe câu nói không bằng tai mà thấy nó vang lên trong đầu mình. Norton đã thu nhận được sức mạnh thần giao cách cảm, Morini nghĩ. Cô ấy không xấu, cô ấy tốt. Không phải mình cảm nhận thấy ma quỷ, mà đó là thần giao cách cảm, anh tự nhủ, hòng thay đổi chiều hướng một giấc mơ mà tận trong tâm khảm anh biết đã được cố định và không thể tránh khỏi. Rồi Norton lặp lại, bằng tiếng Đức, không có đường quay lại. Và, thật nghịch lý, cô quay người và bước đi khỏi hồ bơi và lạc vào trong một khu rừng hầu như không thể nhìn thấy qua màn sương, một khu rừng tỏa ra ánh sáng đỏ lóng lánh, và chính trong ánh sáng đỏ lóng lánh này Norton biến mất.
♣ ♣ ♣
Một tuần sau, sau khi đã diễn giải giấc mơ ít nhất theo bốn cách khác nhau, Morini đi London. Quyết định thực hiện chuyến đi là một thay đổi hoàn toàn so với thói thường của anh, vì anh vốn chỉ đi hội nghị, họp hành, vé máy bay và tiền lưu trú đều do nơi mời thanh toán. Lần này chẳng có lý do công việc nào và anh tự trả tiền vé máy bay và khách sạn của mình. Cũng không thể nói anh đáp ứng yêu cầu giúp đỡ của Liz Norton. Bốn ngày trước anh mới nói chuyện với cô và bảo anh sắp đến London, một thành phố mà lâu rồi anh không ghé.
Norton vui mừng mời anh ở lại nhà cô, nhưng Morini nói dối đã đặt khách sạn. Khi anh hạ cánh ở Gatwick, Norton đã chờ anh ở đó. Hôm đó họ ăn sáng với nhau, tại một quán ăn gần khách sạn của Morini, và đêm đó họ ăn tối ở nhà Norton. Suốt bữa tối, đồ ăn thường thôi nhưng Morini lịch sự khen ngợi, họ trò chuyện về Archimboldi, về danh tiếng đang lên của ông và vô số lỗ hổng trong câu chuyện về ông còn đó chờ lấp đầy, nhưng sau đó, trong khi dùng món tráng miệng, cuộc trò chuyện rẽ sang hướng thân mật hơn, ôn lại chuyện cũ đến tận ba giờ sáng thì họ gọi taxi và Norton giúp Morini đi vào trong buồng thang máy cũ kỹ của tòa nhà, rồi xuống sáu bậc thang, mọi thứ, như Morini nhớ lại trong đầu, đều dễ chịu hơn nhiều so với mong đợi.
Giữa bữa sáng và bữa tối, Morini chỉ một mình, thoạt tiên gần như không dám ra khỏi phòng, nhưng sau đó, chán quá nên anh quyết định ra ngoài và đi đến tận Công viên Hyde, và lang thang không chủ ý ở đó, đắm chìm trong suy tưởng, không chú ý hay nhìn thấy ai. Vài ba người nhìn anh chăm chú với vẻ tò mò, bởi họ chưa bao giờ thấy một người ngồi xe lăn di chuyển với vẻ quyết tâm và với tốc độ ổn định như thế. Khi cuối cùng dừng lại anh thấy mình đang ở bên ngoài Vườn Ý, người ta gọi nó như thế, mặc dù với anh khu vườn không có chút Ý nào, nhưng ai mà biết được, anh ngẫm nghĩ, đôi khi người ta ngờ nghệch đến không thể tin được về những thứ ngay dưới mũi mình.
Anh rút một cuốn sách ra khỏi túi áo khoác và bắt đầu đọc trong khi lấy lại hơi sức. Chẳng mấy chốc anh nghe thấy một tiếng chào cất lên, rồi tiếng một thân hình nặng nề buông xuống băng ghế gỗ. Anh chào lại. Người lạ có mái tóc màu vàng rơm, bạc thếch và bẩn thỉu, và nặng ít nhất phải hai trăm năm mươi pound. Họ ngồi nhìn nhau một chốc rồi người lạ hỏi có phải anh là người nước ngoài. Morini nói anh là người Ý. Người lạ muốn biết liệu có phải anh sống ở London, và hỏi cuốn sách anh đang đọc là cuốn gì. Morini đáp anh không sống ở London và cuốn sách anh đang đọc là Il libra di cucina di Juana Ines de la Cruz, của Angelo Morino, viết bằng tiếng Ý, dĩ nhiên, mặc dù kể về một bà xơ người Mexico. Về cuộc đời của bà xơ và một số công thức của bà.
“Vậy bà xơ Mexico này thích nấu ăn?” người lạ hỏi.
“Nói vậy cũng phải, nhưng bà còn làm thơ nữa,” Morini đáp.
“Tôi không tin được các bà xơ,” người lạ nói.
“À, bà xơ này là một nhà thơ vĩ đại,” Morini nói.
“Tôi không tin được mấy người nấu ăn mà dùng công thức,” người lạ nói, như thể ông ta không nghe thấy anh.
“Vậy ông tin ai?” Morini hỏi.
“Những người ăn khi đói, hẳn là vậy,” người lạ nói.
Rồi ông ta tiếp tục giải thích rằng cách đây lâu rồi ông làm việc cho một công ty sản xuất cốc, mỗi cốc mà thôi, cốc trơn và cốc in những dòng chữ hay chuyện vui vui như: Xin Lỗi, Tôi Đang Trong Giờ Uống Cà Phê! hay Bố Yêu Mẹ hay Chén Cuối Hôm Nay, Chén Cuối Mãi Mãi, đại khái vậy, cốc với những lời ghi trung tính, rồi một ngày nọ, hẳn là do nhu cầu, những dòng chữ ghi trên cốc thay đổi đáng kể và người ta bắt đầu in ảnh, đầu tiên ảnh trắng đen, sau đó công việc kinh doanh tốt đến nỗi người ta chuyển sang ảnh màu, một số hài hước nhưng một số cũng tục tĩu.
“Thậm chí họ còn tăng lương cho tôi,” người lạ nói. “Ở Ý có loại cốc như vậy không?” ông ta hỏi.
“Có chứ,” Morini nói, “có câu tiếng Anh có câu tiếng Ý.”
“Ừm, đó là tất cả những gì mà bọn tôi có thể đòi hỏi,” người lạ nói. “Tất cả bọn tôi đều làm việc vui vẻ hơn. Các quản lý làm việc vui vẻ hơn, và sếp trông vui vẻ. Nhưng sau vài tháng làm những chiếc cốc ấy tôi nhận ra sự vui vẻ của tôi là giả tạo. Tôi cảm thấy vui bởi tôi thấy những người khác vui vẻ và bởi tôi biết mình nên cảm thấy vui, nhưng tôi không thực sự vui. Thật ra, tôi cảm thấy tệ hơn trước khi họ tăng lương cho tôi. Tôi nghĩ mình đang trải qua một giai đoạn tồi tệ và tôi cố không nghĩ về nó, nhưng sau ba tháng tôi không thể tiếp tục giả vờ rằng không có chuyện gì trật chìa. Tâm trạng tôi tệ hại, tôi hung hăng hơn nhiều so với trước đây, bất cứ việc nhỏ xíu nào cũng làm tôi nổi khùng, tôi bắt đầu say xỉn. Nên tôi đối diện với vấn đề đó, và cuối cùng tôi nhận ra mình không thích làm loại cốc này. Đêm, tôi thề, tôi đau khổ như một con chó. Tôi nghĩ mình phát điên, rằng mình không biết mình đang làm gì hay nghĩ gì. Những ý nghĩ của tôi hồi đó bây giờ vẫn còn làm tôi sợ hãi. Một hôm tôi nói chuyện thẳng thắn với một trong các quản lý. Tôi nói mình chán làm những chiếc cốc ngu xuẩn này lắm rồi. Đó là một quản lý tốt, ông tên là Andy, và ông luôn luôn cố gắng trò chuyện với công nhân. Ông hỏi tôi có phải tôi thích làm những chiếc cốc mà trước đây chúng tôi đã làm không. Đúng vậy, tôi nói. Cậu nghiêm túc hả, Dick? ông hỏi tôi. Hoàn toàn nghiêm túc, tôi trả lời. Những cái cốc mới khiến cậu phải làm nhiều việc hơn à? Không hề, tôi nói, công việc vẫn tương đương, nhưng những cái cốc chết tiệt này trước đây không khiến tôi tan tành như thế này? Ý cậu là sao? Andy nói. Là mấy cái cốc gớm ghiếc này trước đây không làm phiền tôi còn bây giờ chúng hủy hoại tôi từ bên trong. Vậy cái của nợ gì làm cho chúng khác đi, ngoài việc hiện đại hơn. Chính xác là vậy, tôi đáp, những chiếc cốc trước đây không hiện đại lắm, và thậm chí nếu cố làm hại tôi, chúng cũng không thể. Tôi không cảm thấy vết đâm của chúng, nhưng bây giờ những chiếc cốc gớm ghiếc này giống như những hiệp sĩ samurai chết tiệt vũ trang bằng những thanh kiếm samurai chết tiệt, chúng khiến tôi phát khùng. Dù sao đó là một cuộc trò chuyện dài,” người lạ nói. “Người quản lý lắng nghe tôi, nhưng ông ấy chẳng hiểu lấy một từ tôi nói. Ngày hôm sau tôi đòi tiền lương rồi nghỉ việc. Từ đó tôi không đi làm nữa. Anh nghĩ sao về chuyện này?”
Morini lưỡng lự trước khi trả lời.
“Tôi không biết,” cuối cùng anh nói.
“Mọi người đều nói vậy: họ không biết,” người lạ nói.
“Bây giờ anh làm gì?” Morini hỏi.
“Không làm gì cả, tôi không làm việc nữa, tôi là một thằng ăn mày London,” người lạ nói.
Cứ như là ông ta đang chỉ ra một điểm du lịch, Morini nghĩ, nhưng anh thận trọng không nói ra.
“Vậy anh nghĩ sao về cuốn sách đó?” người lạ hỏi.
“Sách nào?” Morini hỏi.
Người lạ chỉ một ngón tay núc ních của mình vào cuốn sách, do Sellerio xuất bản, ở Palermo, mà Morini đang hờ hững cầm trên một bàn tay.
“Ồ, tôi nghĩ nó rất hay,” anh nói.
“Đọc tôi nghe vài công thức đi,” người lạ nói, bằng cái giọng mà Morini thấy có vẻ dọa dẫm.
“Tôi không biết mình có thời gian không,” anh nói, “tôi phải gặp một người bạn.”
“Bạn anh tên gì?” người lạ hỏi bằng cùng một giọng như trước.
“Liz Norton,” Morini nói.
“Liz, tên đẹp,” người lạ nói. “Còn anh tên gì, nếu anh không phiền cho tôi hỏi?”
“Piero Morini,” Morini nói.
“Lạ,” người lạ nói, “tên anh gần như y chang tên tác giả cuốn sách.”
“Không phải,” Morini nói, “tôi là Piero Morini, còn ông ta tên là Angelo Morino.”
“Nếu anh không phiền,” người lạ nói, “ít nhất đọc cho tôi nghe tên vài công thức. Tôi sẽ nhắm mắt và tưởng tượng ra chúng.”
“Cũng được,” Morini nói.
Người lạ nhắm mắt và Morini bắt đầu đọc tên vài công thức từ xơ Juana Ines de la Cruz, chậm rãi và với ngữ điệu của một diễn viên.
Sgonfiotti alformaggio
Sgonfiotti alia ricotta
Sgonfiotti di vento
Crespelle
Dolce di tuorli di uovo
Uova regali
Dolce alla panna
Dolce alle nod
Dolce di testoline di mom
Dolce alle barbabietole
Dolce di burro e zucchero
Dolce alia crema
Dolce di mamey
Khi anh đọc tới dolce di mamey, dường như người lạ đã thiếp ngủ và Morini đi khỏi Vườn Ý.
♣ ♣ ♣
Ngày hôm sau gần giống hệt ngày đầu. Lần này Norton đến gặp anh ở khách sạn và trong khi Morini thanh toán hóa đơn cô đặt chiếc vali duy nhất của anh vào trong cốp xe. Khi họ rời đi, cô lái đúng con đường mà anh đi đến Công viên Hyde hôm trước.
Morini nhận ra và im lặng ngắm đường phố, và rồi công viên xuất hiện, với anh trông như một bộ phim về rừng già, màu sắc sai lệch, buồn bã kinh khủng, thẫm đen lại, cho đến khi chiếc xe rẽ và biến mất sau những con đường khác.
Họ ăn cùng nhau tại một khu mà Norton mới khám phá, khu này nằm gần sông, từng có vài nhà xưởng và ụ cạn ở đây, còn giờ thì các cửa tiệm, cửa hàng thực phẩm, và nhà hàng thời thượng mở cửa trong các tòa nhà tân trang lại. Một cửa tiệm nhỏ chiếm diện tích tương đương bốn căn nhà của công nhân, Morini tính. Nhà hàng, cho mười hai hay mười sáu người. Có tiếng của Liz Norton ca ngợi khu phố và nỗ lực của những người đưa nó nổi trở lại.
Morini nghĩ rằng từ nổi là sai, bất chấp cái hơi hướm hàng hải của nó. Thực tế, trong lúc ăn món tráng miệng anh thấy như muốn khóc, hay đúng hơn, lả đi, trượt nhẹ khỏi ghế của mình trong khi mắt dán vào gương mặt Norton, và không bao giờ tỉnh dậy. Nhưng bây giờ Norton đang kể câu chuyện về một họa sĩ, người đầu tiên tới sống trong khu này.
Đó là một thanh niên khoảng ba mươi ba tuổi, được biết đến nhưng chưa đến mức nổi tiếng. Lý do đích thực anh ta chuyển tới là bởi giá phòng ở đây thấp hơn những chỗ khác. Ngày ấy khu này kém sôi động hơn. Vẫn còn những công nhân già sống ở đây nhờ vào lương hưu, nhưng không có thanh niên hay trẻ con. Phụ nữ hoàn toàn vắng mặt: hoặc họ đã chết hoặc ở trong nhà cả ngày, không bao giờ ra ngoài. Chỉ có một quán rượu, xập xệ như phần còn lại của khu. Nói tóm lại, một nơi chốn cô đơn, tồi tàn. Nhưng có vẻ như điều này khơi dậy trí tưởng tượng của người họa sĩ và gây cảm hứng cho anh làm việc. Anh ta cũng là một dạng người cô đơn. Nếu không phải, thì cũng là thoải mái với việc ở một mình.
Do vậy khu này không làm anh ta sợ hãi. Thật ra anh ta phải lòng nó. Anh ta thích tối đi về nhà, dạo hết dãy nhà này sang dãy khác mà không gặp người nào. Anh ta thích màu sắc của những ngọn đèn đường và ánh sáng đổ xuống trước các ngôi nhà. Những chiếc bóng di chuyển khi anh ta di chuyển. Những bình minh xám tro hay đen như bồ hóng. Những con người kiệm lời tụ tập trong quán rượu, nơi anh ta là khách quen. Nỗi đau, hay ký ức về nỗi đau, ở đây bị hút đi bởi cái gì đó không tên cho đến khi chỉ còn lại một khoảng trống. Cái nhận thức rằng đẳng thức này là có thể: nỗi đau cuối cùng biến thành sự trống rỗng. Cái nhận thức rằng đẳng thức tương tự áp dụng cho mọi việc, đại khái vậy.
Vấn đề là, anh ta làm việc hăng hái hơn bao giờ hết. Một năm sau anh ta có một buổi trình diễn ở phòng tranh Emma Waterson, một không gian cách tân ở Wapping, và đó là một thành công to lớn. Anh ta mở ra một thứ mà sau này sẽ được coi là thời kỳ suy đồi mới hay thuyết thú vật Anh. Những bức tranh trong buổi trình diễn khai mạc của trường phái này đều to, khổ mười nhân bảy bộ, khắc họa phần còn lại của đống tan hoang chính là khu anh ta ở, với các sắc xám lẫn vào nhau. Như thể họa sĩ và khu phố đã đạt tới tình trạng cộng sinh toàn phần. Như thể, nói cách khác, họa sĩ vẽ khu phố hay khu phố vẽ họa sĩ, bằng những nhát cọ dữ dội mà u ám. Các bức họa không tồi. Tuy nhiên, buổi trình diễn sẽ không thành công đến thế hay gây ra tác động như thế nếu không nhờ bức tranh trung tâm, vốn nhỏ hơn nhiều so với các bức khác, một kiệt tác mà nhiều năm sau này dẫn dắt các nghệ sĩ Anh quốc theo con đường của thời kỳ suy đồi mới. Bức tranh này, nhìn một cách đúng đắn (mặc dù người ta không bao giờ có thể chắc chắn về việc nhìn nó một cách đúng đắn), là tỉnh lược của những tự họa, đôi khi là đường xoắn ốc của những tự họa (tùy góc nhìn), khổ bảy nhân ba bộ rưỡi, ngay chính giữa tranh treo bàn tay phải tẩm khô của họa sĩ.
Chuyện xảy ra như sau. Một sáng nọ, sau hai ngày làm việc hăng say với các bức tự họa, họa sĩ chặt phăng bàn tay vẽ của mình. Anh ta lập tức băng cánh tay và mang bàn tay đến một thợ nhồi bông thú mà anh ta quen, người này đã được báo trước về nhiệm vụ. Sau đó anh ta tới bệnh viện, ở đó người ta cầm máu và khâu cánh tay lại. Có một lúc ai đó hỏi tai nạn xảy ra thế nào. Anh ta trả lời anh ta sơ ý chặt phải bàn tay mình bằng một nhát rựa trong khi đang làm việc. Các bác sĩ hỏi bàn tay bị đứt ra đâu rồi, vì có khả năng nối lại được. Anh ta nói do quá giận dữ và đau đớn nên đã vứt nó xuống sông trên đường tới bệnh viện.
Mặc dù giá ở trên mây, buổi trình diễn bán sạch. Bức họa kiệt tác, nghe nói, về tay một người Ả Rập làm việc ở London, cùng bốn bức tranh lớn. Chẳng lâu sau, họa sĩ phát điên và vợ anh ta (khi đó anh ta đã có gia đình) không còn lựa chọn nào khác ngoài gửi anh ta vào một nhà an dưỡng ở ngoại ô Lausanne hay Montreux.
Anh ta sống ở đó cho đến bây giờ.
Trong khi đó, các họa sĩ khác bắt đầu chuyển đến khu này. Chủ yếu vì nó rẻ, nhưng cũng bởi vì họ bị thu hút bởi huyền thoại về người đã vẽ bức tự họa cực đoan nhất của thời đại chúng ta. Kế đó các kiến trúc sư kéo đến, rồi một số gia đình mua những ngôi nhà được tân trang và cải tạo lại. Rồi sau đó là các cửa tiệm, các nhà hát thể nghiệm, các quán ăn hiện đại, cho đến khi nó trở thành một trong những khu thời thượng nhất ở London, chẳng còn rẻ tí nào như đã từng có tiếng.
“Anh thấy câu chuyện đó thế nào?”
“Anh không biết nghĩ gì,” Morini nói. Thôi thúc muốn khóc - hay đúng hơn, muốn ngất - vẫn còn đó, nhưng anh cố ngăn lại.
♣ ♣ ♣
Họ ăn bữa xế ở nhà Norton. Chỉ khi đó cô mới bắt đầu nói về Espinoza và Pelletier, bằng giọng hờ hững, như thể chuyện quá quen thuộc nên không đáng quan tâm hay thảo luận với Morini (cô để ý thấy anh thất vọng, nhưng cô thận trọng không căn vặn, biết rằng bị vặn hỏi thường chẳng dễ chịu gì), và thậm chí cũng không phải là điều mà bản thân cô muốn đem ra bàn luận.
Đó là một buổi chiều rất êm ái. Ngồi trên ghế bành, Morini chiêm ngưỡng phòng khách của Norton - sách và ảnh đóng khung treo trên các bức tường trắng, những tấm ảnh và đồ lưu niệm bí ẩn, sở thích của cô thể hiện trong những thứ đơn giản như sự lựa chọn đồ đạc, rất có gu, thoải mái và khiêm nhượng, và thậm chí trong cả mảng đường rợp cây mà chắc chắn cô nhìn thấy mỗi sáng trước khi ra khỏi căn hộ - và anh bắt đầu cảm thấy dễ chịu, như thể các sự vật biểu trưng cho bạn anh bao bọc lấy anh, như thể chúng cũng là biểu hiện của sự xác nhận, có lẽ anh không hiểu ngôn từ của nó, nhưng dù sao điều ấy vẫn khiến anh thoải mái.
Sắp sửa ra về, anh hỏi tên họa sĩ mới được nghe kể và liệu cái buổi trình diễn kinh khủng ấy có cuốn catalog nào không. Ông ấy tên là Edwin Johns, Norton nói. Rồi cô đứng dậy tìm trên kệ sách. Cô tìm thấy một cuốn catalog lớn và trao nó cho Morini. Trước khi mở ra anh tự hỏi liệu nằn nì chuyện này có phải là ý tưởng hay hay không, nhất là khi bây giờ anh cảm thấy quá thư giãn. Nhưng nếu không làm thế mình sẽ chết mất, anh tự nhủ, và anh mở cuốn catalog ra, thật ra nó còn hơn cả một cuốn catalog mà là một cuốn sách nghệ thuật trình bày hoặc cố gắng trình bày toàn bộ tiến trình sự nghiệp của Johns. Có một tấm ảnh của Johns trên trang đầu, từ thời trước khi ông tự chặt tay, đó là một thanh niên tầm hai mươi lăm tuổi nhìn thẳng vào máy ảnh, hơi nhoẻn miệng mỉm cười một nụ cười không rõ bẽn lẽn hay nhạo báng. Tóc anh ta sẫm và thẳng.
“Quà cho anh đó,” anh nghe Norton nói.
“Cảm ơn em,” anh nghe thấy mình trả lời.
Một tiếng sau họ cùng ra sân bay, và một tiếng sau nữa Morini đã trên đường bay về Ý.
♣ ♣ ♣
Trong quãng thời gian này, một nhà phê bình người Serbia trước đây không mấy tên tuổi, giáo sư tiếng Đức tại Đại học Belgrade, đăng một bài báo lạ lùng trên tạp chí do Pelletier phụ trách, một bài báo trong chừng mực nào đó gợi nhớ về những phát hiện vụn vặt của một nhà phê bình người Pháp xuất bản cách đây nhiều năm về Hầu tước de Sade, bao gồm bản sao của những giấy tờ mơ hồ cho thấy Hầu tước từng ghé một tiệm giặt ủi, một ghi chép về những mối quan hệ của ông với một ông bầu nhà hát nào đó, một hóa đơn khám bệnh kèm theo toa thuốc, một đơn đặt hàng áo chẽn ghi rõ cách kết nút và màu, v.v., tất cả kèm theo các ghi chú dài dòng mà từ đó chỉ có thể rút ra một kết luận duy nhất: Sade đã tồn tại, Sade đã giặt quần áo, đã mua quần áo mới và thư từ qua lại với những con người nay đã tuyệt nhiên bị xóa sạch khỏi tấm bảng thời gian.
Bài báo của giáo sư người Serbia cũng tương tự vậy. Trong trường hợp này, người được truy dấu là Archimboldi, không phải Sade, và bài báo bao gồm một cuộc điều tra kỳ công và thường là dễ nản lòng khởi đầu từ Đức, tiếp tục qua Pháp, Thụy Sĩ, Ý, Hy Lạp, trở lại Ý, và kết thúc tại một hãng lữ hành ở Palermo, dường như ở đó Archimboldi mua vé máy bay đi Maroc. Một ông già, một người Đức, giáo sư người Serbia nói. Ông vung vẩy những từ ông già và người Đức như vẫy đũa thần để phơi ra một bí mật, và cùng lúc những từ ấy cung cấp cái dấu ấn của văn chương phê bình siêu cụ thể, một thứ văn chương không suy đoán hoàn toàn không chứa đựng ý tưởng, khẳng định, phủ định, nghi ngờ, hoàn toàn không có chủ ý nào để định hướng, cả ủng hộ lẫn phản đối, chỉ là một con mắt tìm kiếm những yếu tố hữu hình, không phán xét mà chỉ đơn giản lạnh lùng trình bày chúng, ngành khảo cổ học bản sao, và, cũng bởi vậy, ngành khảo cổ học máy photocopy.
♣ ♣ ♣
Với Pelletier đó dường như là một bài báo kỳ lạ. Trước khi cho in, anh gửi một bản cho Espinoza, Morini và Norton. Espinoza nói nó có thể dẫn tới đâu đó, và mặc dù nghiên cứu và viết bài kiểu đó giống như là công việc khổ sai, như nấc thấp nhất của công việc tay chân, anh nghĩ, và nói, cũng tốt khi trong dự án Archimboldi có chỗ cho những kẻ cuồng tín lì lợm nhất hạng này. Norton nói cô luôn luôn có cảm giác (trực giác của phụ nữ) sớm muộn gì Archimboldi cũng sẽ xuất hiện đâu đó ở vùng Maghreb, và phần duy nhất đáng đọc trong bài báo của giáo sư người Serbia là tấm vé mang tên Benno von Archimboldi, mua trước khi chiếc máy bay Ý khởi hành bay tới Rabat một tuần. Từ giờ trở đi chúng ta có thể tưởng tượng ông ấy mất tích trong một cái hang trên dãy Atlas, cô nói. Morini nín thinh.
♣ ♣ ♣
Ở đây chúng ta nên làm rõ nhằm hiểu đúng (hay không đúng) bài của giáo sư người Serbia. Thực sự đã có một chỗ được đặt dưới tên Benno von Archimboldi. Tuy vậy, nó chưa bao giờ được xác nhận, và vào thời điểm khởi hành không có Benno von Archimboldi nào xuất hiện tại sân bay. Theo kiến giải của giáo sư người Serbia, vấn đề không thể nào rõ ràng hơn. Không nghi ngờ gì Archimboldi đã đích thân đặt chỗ. Chúng ta có thể hình dung ra ông ở khách sạn, có vẻ thất vọng về chuyện này hay chuyện nọ, có thể đang say sưa, thậm chí có thể gà gật, vào cái giờ sâu thẳm như địa ngục ấy (với mùi buồn nôn nghẹn ngào của nó) khi các quyết định lịch sử được đưa ra, nói chuyện với cô gái ở hãng Alitalia và đưa nhầm bút danh của mình thay vì đặt chỗ theo tên trong hộ chiếu, một sai sót mà sau đó, tức ngày hôm sau, ông sẽ sửa chữa bằng cách đích thân đi tới văn phòng hãng hàng không mua vé bằng tên của mình. Điều này giải thích sự vắng mặt của một Archimboldi trên chuyến bay tới Maroc. Dĩ nhiên, có những khả năng khác: phút chót, sau khi nghĩ lại lần thứ hai (hay thứ tư), Archimboldi có thể đã quyết định không đi nữa, hay đi đâu đó khác, ví dụ Hoa Kỳ, hoặc có thể tất cả chỉ đơn giản là một trò đùa hay hiểu nhầm.
Bài báo của giáo sư người Serbia có mô tả nhân dạng của Archimboldi. Mô tả này chỉ dựa vào tường thuật của nhà văn người Swabia. Dĩ nhiên, trong bài của nhà văn Swabia, Archimboldi là một nhà văn trẻ hậu chiến. Tất cả những gì giáo sư người Serbia đã làm là đưa ra tuổi của ông, biến chính chàng trai trẻ đó, người từng tới Friesland năm 1949 với cuốn sách duy nhất đã in, thành một ông già, bảy lăm hay tám mươi tuổi, người giờ đây đã có một sự nghiệp đồ sộ nhưng ít nhiều có cùng những tính cách ấy, như thể Archimboldi, không giống đa số mọi người, không thay đổi và vẫn là con người ấy. Đánh giá bằng tác phẩm, nhà văn của chúng ta rõ ràng là một con người bướng bỉnh, giáo sư người Serbia nói, ông bướng bỉnh như một con lừa, như một con vật da rất dày, và nếu như vào một buổi chiều buồn bã nhất ở Sicilia ông ấp ủ kế hoạch du hành tới Maroc, bất kể ông đã sơ ý đặt chỗ dưới tên Archimboldi, thay vì tên trên giấy tờ, không có lý do gì không thể nghĩ rằng ngay ngày hôm sau ông đổi ý và tới hãng lữ hành, lần này dùng tên chính thức và hộ chiếu hợp pháp, và rằng ông đã không khởi hành, như bất kỳ ai trong số hàng nghìn ông già độc thân người Đức, băng qua bầu trời mỗi ngày một mình hướng tới các quốc gia Bắc Mỹ.
♣ ♣ ♣
Già và một mình, Pelletier nghĩ. Chỉ một trong hàng nghìn ông già sống một mình. Như machine célibataire* . Như cái kẻ độc thân đột nhiên già nua, hay như cái kẻ độc thân sau khi trở về từ một chuyến du hành ở tốc độ ánh sáng, thấy những kẻ độc thân khác trở nên già nua hay biến thành những trụ muối.
Hàng nghìn, hàng trăm nghìn những machine célibataire băng qua một biển nước ối hằng ngày trên máy bay của hãng Alitalia, ăn spaghetti al pomodoro và uống rượu Chianti hay grappa, mắt nhắm hờ, tin chắc rằng thiên đường của những người về hưu không phải ở Ý (hoặc, do đó, ở bất cứ nơi nào tại châu Âu), những kẻ độc thân bay tới các sân bay nhộn nhịp ở châu Phi hay Mỹ, bãi chôn voi. Những nghĩa trang vĩ đại ở tốc độ ánh sáng. Chẳng hiểu tại sao mình lại nghĩ tới những chuyện này, Pelletier nghĩ. Đốm trên tường và đốm trên da, Pelletier nghĩ, nhìn tay mình. Đèo mẹ thằng Serbia.
♣ ♣ ♣
Rốt cuộc, sau khi bài báo được đăng, Espinoza và Pelletier buộc phải ghi nhận những sai lầm trong cách tiếp cận của giáo sư người Serbia. Cần phải có nghiên cứu, phê bình văn học, tiểu luận diễn giải, ngay cả tờ bướm thông tin nếu cần, nhưng không phải là kiểu lai giữa tiểu thuyết khoa học và roman noir* dang dở như thế này, Espinoza nói, và Pelletier hoàn toàn đồng ý.
♣ ♣ ♣
Quãng thời gian này, vào đầu năm 1997, Norton cảm thấy khao khát một thay đổi. Đi đâu đó xa. Tới Ireland hay New York. Đột ngột ngắt mình khỏi Espinoza và Pelletier. Cô gọi cả hai đến London. Pelletier có cảm giác rằng sẽ không có gì nghiêm trọng diễn ra, ít ra thì cũng không phải cái không thể vãn hồi, và anh đến, bình tĩnh, sẵn sàng lắng nghe và nói ít. Ngược lại, Espinoza sợ điều tệ hại nhất (là Norton triệu tập họ tới để nói rằng cô thích Pelletier hơn, nhưng cũng để trấn an với anh rằng họ vẫn là bạn bè, thậm chí có thể yêu cầu anh dắt tay cô trao cho chú rể trong đám cưới sắp tới).
Pelletier là người đầu tiên xuất hiện tại căn hộ của Norton. Anh hỏi liệu có vấn đề hệ trọng nào gặp trục trặc không. Norton nói cô muốn đợi Espinoza đến rồi bàn luôn một thể, để khỏi phải nói đi nói lại. Vì không có đề tài quan trọng nào khác để nói, họ bắt đầu nói về thời tiết. Pelletier nhanh chóng phản đối và đổi đề tài. Rồi Norton bắt đầu nói về Archimboldi. Đề tài mới này gần như làm Pelletier muốn chết. Anh lại nghĩ về tay người Serbia, anh lại nghĩ về ông nhà văn tội nghiệp đó, già và cô độc và có thể xa lánh mọi người (Archimboldi), anh lại nghĩ về những năm mất mát của cuộc đời anh trước khi Norton xuất hiện.
Espinoza đến muộn. Đời thật là cứt, Pelletier kinh ngạc nghĩ, toàn cứt! Và rồi: nếu ba người không thành một đội, thì giờ cô ấy đã thuộc về mình. Và rồi: nếu không có sự thông hiểu, tình bạn, mối đồng cảm và khối đồng minh, thì giờ cô ấy đã thuộc về mình. Và một chốc sau: nếu chẳng có gì cả, mình thậm chí đã không gặp được cô ấy. Và: biết đâu mình có thể gặp cô ấy, vì mỗi người đều có niềm hứng thú độc lập đối với Archimboldi, vốn không xuất phát từ tình bạn. Và: cũng có thể cô ấy đã rất ghét mình, coi mình rởm đời, lạnh lùng, kênh kiệu, ái kỷ, và một kẻ đặc tuyển trí thức. Từ đặc tuyển trí thức làm anh buồn cười. Espinoza đến muộn. Norton có vẻ rất bình tĩnh. Thật ra, Pelletier cũng có vẻ rất bình tĩnh, nhưng đó hoàn toàn không phải là thứ anh cảm thấy.
Norton nói không có gì lạ về sự muộn của Espinoza. Máy bay có thể bị hoãn, cô nói. Pelletier hình dung máy bay của Espinoza bốc lửa, cắm xuống một đường băng ở sân bay Madrid trong tiếng rít của thép xoắn vào nhau.
“Có lẽ ta nên bật tivi,” anh nói.
Norton nhìn anh mỉm cười. Em không bao giờ mở tivi, cô nói, mỉm cười, ngạc nhiên khi Pelletier chưa biết điều đó. Dĩ nhiên, Pelletier có biết. Nhưng anh không có gan để nói: mình hãy xem tin tức, thử xem có xác máy bay nào xuất hiện trên màn hình hay không.
“Anh bật được không?” anh hỏi.
“Dĩ nhiên,” Norton nói, và trong khi Pelletier cúi người bên các núm vặn của chiếc tivi, anh liếc mắt nhìn cô, rạng rỡ, thật tự nhiên, pha một tách trà hay đi từ phòng nọ sang phòng kia, cất một cuốn sách mà cô mới chỉ cho anh xem, trả lời điện thoại và nói chuyện với ai đó không phải là Espinoza.
Anh bật tivi. Anh lướt qua các kênh khác nhau. Anh thấy một người đàn ông râu ria mặc đồ rẻ tiền. Anh thấy một tốp người da đen đi dọc theo một con đường đất. Anh thấy hai người đàn ông bận vét và cà vạt trò chuyện chậm rãi và cẩn trọng, cả hai đều vắt tréo chân, cả hai đều thỉnh thoảng liếc nhìn một bản đồ xuất hiện rồi biến đi sau lưng họ. Anh thấy một phụ nữ mũm mĩm nói: con gái… xí nghiệp… gặp… bác sĩ… không thể tránh khỏi, và rồi hơi mỉm cười và hạ ánh nhìn xuống. Anh thấy gương mặt một bộ trưởng Bỉ. Anh thấy những mảnh còn lại của một chiếc máy bay âm ỉ cháy cạnh đường băng, xe cứu thương và cứu hỏa vây quanh. Anh thét gọi Norton. Cô vẫn đang nói chuyện trên điện thoại.
♣ ♣ ♣
Máy bay Espinoza rơi rồi, Pelletier nói, lần này không cao giọng, và Norton, thay vì nhìn vào màn hình tivi, nhìn anh. Chỉ mất vài giây cô đã nhận ra chiếc máy bay đang bốc cháy không phải là máy bay Tây Ban Nha. Ngoài lính cứu hỏa và đội cứu hộ, có thể nhìn thấy hành khách đang đi ra, vài người cà nhắc, một số người quấn chăn, gương mặt họ thất thần vì sợ hãi hoặc sốc, nhưng có vẻ không sao.
♣ ♣ ♣
Hai mươi phút sau, Espinoza tới, trong bữa ăn trưa Norton bảo anh rằng Pelletier đã nghĩ rằng anh ở trên chiếc máy bay rơi. Espinoza phì cười nhưng nhìn Pelletier rất lạ, Norton không để ý nhưng Pelletier nhận thấy tức thì. Đó là một bữa ăn buồn, về mọi nhẽ, mặc dù hành xử của Norton hoàn toàn bình thường, như thể cô tình cờ gặp hai người và không phải là chính cô đã bảo họ tới London. Họ đoán được điều cô phải nói với họ trước khi cô nói bất cứ điều gì: Norton muốn chấm dứt quan hệ tình cảm với cả hai, ít nhất trong thời gian trước mắt. Lý do đưa ra là cô cần suy nghĩ và định hướng. Rồi cô nói cô không muốn ngừng làm bạn với cả hai. Cô chỉ cần suy nghĩ, vậy thôi.
Espinoza chấp nhận giải thích của Norton mà không hỏi câu nào. Pelletier những muốn hỏi liệu chồng cũ có liên quan gì đến quyết định của cô không, nhưng theo gương Espinoza, anh im lặng. Sau khi ăn họ lái xe đi một vòng London bằng xe của Norton. Pelletier đòi ngồi sau, nhưng khi thấy một ánh châm biếm trong mắt Norton, anh nói anh ngồi đâu cũng được mà tình cờ lại là ghế sau…
Trong khi đánh xe dọc đường Cromwell, Norton nói có thể đêm hôm đó sẽ hợp lý nhất với cô nếu cô ngủ với cả hai. Espinoza phì cười và nói điều gì đó với ý hài hước, để tiếp tục trò đùa, nhưng Pelletier không dám chắc là Norton nói đùa và anh còn ít chắc chắn hơn liệu mình có sẵn sàng tham gia một vụ làm tình tay ba hay không. Rồi họ đi ngắm hoàng hôn gần tượng Peter Pan ở Vườn Kensington. Họ ngồi trên băng ghế cạnh cây sồi khổng lồ, địa điểm ưa thích nhất của Norton, một chỗ thu hút cô từ khi cô còn bé. Lúc đầu có người nằm trên bãi cỏ, nhưng dần dần khu vực bắt đầu vắng đi. Các cặp đôi hay các bà đi một mình ăn vận lịch lãm lướt nhanh qua, về phía Phòng tranh Serpentine hay Đài tưởng niệm Albert, và ở hướng đối diện mấy người đàn ông cầm những tờ báo nhàu nát hay các bà mẹ đẩy xe em bé hướng về phía đường Bayswater.
Hoàng hôn buông xuống, họ ngắm nhìn một đôi trẻ tuổi nói tiếng Tây Ban Nha lại gần tượng Peter Pan. Cô gái có mái tóc đen và rất xinh đẹp, cô đưa tay ra như thể muốn sờ chân Peter Pan. Chàng trai bên cạnh cô cao, để râu và ria mép rút một tập giấy khỏi túi hí hoáy gì đó. Rồi anh ta nói lớn:
“Vườn Kensington.”
Cô gái không nhìn bức tượng nữa mà nhìn hồ nước, hay đúng hơn nhìn cái gì đó di chuyển trong đám cỏ giữa con đường nhỏ và hồ.
“Cô ta nhìn gì nhỉ?” Norton hỏi bằng tiếng Đức.
“Hình như là một con rắn,” Espinoza nói.
“Làm gì có rắn ở đây!” Norton nói.
Rồi cô gái gọi chàng trai: Rodrigo, đến nhìn này, cô nói. Chàng trai dường như không nghe. Anh ta cất tập giấy nhỏ vào túi áo khoác da rồi lặng lẽ ngắm tượng Peter Pan. Cô gái cúi xuống và có gì đó bên dưới đám lá lủi về phía hồ nước.
“Hình như là rắn thật,” Pelletier nói.
“Mình nghĩ thế,” Espinoza nói.
Norton không đáp mà đứng dậy nhìn cho rõ hơn.
♣ ♣ ♣
Đêm đó Pelletier và Espinoza ngủ được vài tiếng trong phòng khách của Norton. Mặc dù họ có chiếc giường sofa và thảm tùy nghi sử dụng, khó khăn lắm họ mới ngủ được. Pelletier cố lên tiếng, giải thích vụ máy bay rơi cho Espinoza, nhưng Espinoza nói không cần giải thích, anh hiểu hết.
Bốn giờ sáng, họ đồng ý với nhau bật đèn lên và bắt đầu đọc sách. Pelletier giở một cuốn về tác phẩm của Berthe Morisot, họa sĩ nữ đầu tiên thuộc trường phái ấn tượng, nhưng chẳng mấy chốc anh chỉ muốn quẳng nó vào tường. Espinoza, trong khi đó, rút cuốn tiểu thuyết mới nhất của Archimboldi, Cái đầu, ra khỏi túi của mình và bắt đầu xem lại những ghi chú anh viết bên lề, những ghi chú này là ý chính của một tiểu luận anh dự định in trên tạp chí do Borchmeyer biên tập.
Luận điểm của Espinoza, mà Pelletier cũng tán thành, là với tiểu thuyết này Archimboldi đã chấm dứt cuộc phiêu lưu văn chương của mình. Sau Cái đầu, Espinoza nói, sẽ không có cuốn sách nào mới trên thị trường, một ý kiến mà một nhà Archimboldi học sáng giá khác, Dieter Hellfeld, cho là quá liều, chỉ căn cứ vào tuổi của nhà văn, và khi Archimboldi cho ra đời Sự hoàn hảo đường tàu điều tương tự cũng đã được nói; một số giáo sư ở Berlin thậm chí còn nói thế khi Ngài Bitzius được in. Năm giờ sáng Pelletier đi tắm, rồi pha một tách cà phê. Sáu giờ Espinoza ngủ lại nhưng sáu rưỡi anh thức dậy trong trạng thái thật tồi tệ. Bảy giờ kém mười lăm họ gọi taxi rồi dọn dẹp phòng khách.
Espinoza viết lời nhắn tạm biệt. Pelletier liếc nhìn nó và sau vài giây suy nghĩ, quyết định tự mình để lại một tin nhắn khác. Trước khi đi anh hỏi Espinoza không muốn đi tắm hả. Mình sẽ tắm ở Madrid, Espinoza trả lời. Nước ở đó tốt hơn. Đúng vậy, Pelletier nói, mặc dù anh cho câu trả lời của Espinoza là ngu xuẩn và trớt quớt. Rồi hai người đi mà không gây ra tiếng động nào và ăn sáng ở sân bay, như họ đã làm thế bao nhiêu lần trước đây.
♣ ♣ ♣
Trên máy bay về Paris, Pelletier bất giác nghĩ về cuốn sách về Berthe Morisot mà anh muốn đập vào tường đêm hôm trước. Tại sao? Pelletier tự hỏi mình. Có phải vì anh không thích Berthe Morisot hay một cái gì đó mà bà ủng hộ trong chốc nhát? Thật ra, anh thích Berthe Morisot. Ngay lập tức anh chợt nhớ ra Norton không mua cuốn sách đó, mà chính anh là người đi từ Paris tới London với cuốn sách được gói làm quà, những bản in đầu tiên tác phẩm của Berthe Morisot mà Norton từng xem là những bức in trong cuốn sách đó, trong khi Pelletier ở bên cạnh, xoa bóp đằng sau cổ cô và hướng dẫn cô xem từng bức một. Bây giờ anh có hối tiếc vì đã tặng cuốn sách cho cô không? Không, dĩ nhiên không. Liệu họa sĩ có liên quan gì tới việc chia tay của họ không? Ý tưởng đó quá buồn cười. Rồi vậy tại sao anh lại muốn đập cuốn sách vào tường? Và chính xác hơn: tại sao anh lại nghĩ về Berthe Morisot và cuốn sách và cần cổ của Norton mà không phải về một khả năng có thực về một cuộc làm tình tay ba đã lơ lửng trong căn hộ của Norton tối hôm đó như một thầy phù thủy da đỏ hú hét nhưng không bao giờ hiện hình?
♣ ♣ ♣
Trên chuyến bay về Madrid, Espinoza, không như Pelletier, nghĩ về cuốn sách mà anh tin là cuốn tiểu thuyết cuối cùng của Archimboldi, và sẽ như thế nào - nếu anh đúng, mà anh nghĩ là anh đúng - khi không có thêm tiểu thuyết nào của Archimboldi ra đời, và anh nghĩ về mọi thứ kéo theo sau, rồi về chiếc máy bay bốc cháy và những ước muốn thầm kín của Pelletier (thằng chết tiệt đó có thể tân tiến kinh lên được, nhưng chỉ khi có lợi cho hắn), thỉnh thoảng anh ngó ra cửa sổ và liếc nhìn động cơ và da diết mong mình trở về Madrid.
♣ ♣ ♣
Suối một thời gian dài Pelletier và Espinoza không gọi cho nhau. Pelletier thỉnh thoảng gọi cho Norton, mặc dù những cuộc trò chuyện giữa họ ngày càng, biết nói thế nào nhỉ, gượng gạo, như thể thứ duy nhất duy trì quan hệ giữa họ là sự lịch thiệp, và anh thường xuyên gọi cho Morini như mọi khi, vì với Morini không có gì thay đổi.
Với Espinoza cũng vậy, mặc dù mất lâu hơn anh mới nhận ra Norton nói là làm. Đương nhiên, Morini để ý thấy có điều không ổn, nhưng do thận trọng hoặc lười biếng, cái lười biếng kỳ cục và đau đớn thi thoảng bám lấy anh, anh thiên về cư xử cứ như anh không nhận thấy gì, và Pelletier và Espinoza biết ơn về điều đó.
Ngay cả Borchmeyer, vốn có đôi chút e ngại bộ đôi Espinoza và Pelletier, để ý thấy có điều gì đó mới mẻ trong thư từ mà ông trao đổi với mỗi người, những ám chỉ kín đáo, những nhượng bộ nho nhỏ, những nghi ngờ mỏng manh nhất (tất cả đều cực kỳ rõ ràng, dĩ nhiên, những dòng chữ ấy là do họ viết ra) về phương pháp luận mà trước đây hai người họ đã cùng nhau chia sẻ.
♣ ♣ ♣
Rồi tới kỳ đại hội các nhà Đức học ở Berlin, hội nghị văn học Đức thế kỷ hai mươi ở Stuttgart, hội thảo văn học Đức ở Hamburg, và hội nghị về tương lai văn học Đức ở Mainz. Norton, Morini, Pelletier và Espinoza tham dự đại hội ở Berlin, nhưng vì lý do này nọ bốn người bọn họ chỉ gặp nhau có một lần, ở bữa ăn sáng, vây quanh bởi các nhà Đức học khác tranh cãi không dứt về bơ và mứt. Pelletier, Espinoza và Norton dự hội nghị ở Stuttgart, và cũng như khi Pelletier xoay xở để nói chuyện với một mình Norton (trong lúc Espinoza trao đổi quan điểm với Schwarz), thì khi đến lượt Espinoza nói chuyện với Norton, Pelletier lặng lẽ biến đi cùng Dieter Hellfeld.
Lần này Norton để ý thấy rằng các bạn mình đang cố hết sức để tránh nói chuyện với nhau, đôi khi thậm chí tránh sự hiện diện của nhau, điều này không thể không ảnh hưởng tới cô vì cô cảm thấy phần nào chịu trách nhiệm về sự chia rẽ giữa họ.
Chỉ có Espinoza và Morini dự hội thảo Hamburg, và vì đằng nào cũng đã có mặt ở Hamburg và để giết thời gian, họ đến nhà xuất bản của Bubis và khen ngợi Schnell, họ mang theo một bó hồng cho bà Bubis nhưng không gặp được bà vì bà đang đi Moskva. Chị ấy, Schnell nói với họ, tôi không biết chị ấy lấy đâu ra năng lượng, và rồi ông cười một cái cười thỏa mãn mà Espinoza và Morini nghĩ rằng hơi quá lố. Trước khi ra khỏi nhà xuất bản họ đưa bó hồng cho Schnell.
Chỉ Pelletier và Espinoza dự hội nghị ở Mainz, và lần này họ không có lựa chọn nào khác ngoài gặp nhau và ngửa bài ra. Đầu tiên, lẽ tự nhiên, họ cố tình tránh né nhau, thường tỏ ra lịch sự nhưng đôi khi cũng cộc lốc, nhưng rốt cuộc không có gì để làm ngoài việc nói chuyện. Sự kiện này diễn ra ở quán bar của khách sạn lúc đã khuya, khi chỉ còn lại một bồi bàn, người trẻ nhất, một cậu bé cao, tóc vàng, ngái ngủ.
Pelletier ngồi ở một đầu quán bar và Espinoza ngồi đầu kia. Rồi quán bar bắt đầu vắng, và khi chỉ còn lại hai người bọn họ Pelletier đứng dậy và ngồi xuống cạnh Espinoza. Họ cố gắng thảo luận về hội nghị, nhưng chỉ sau vài phút họ thấy có vẻ kỳ cục khi tiếp tục, hay giả vờ tiếp tục, theo hướng đó. Một lần nữa chính Pelletier, vốn khéo léo hơn trong nghệ thuật hòa giải và chia sẻ, khơi mào. Anh hỏi Norton dạo này thế nào. Espinoza thú nhận mình không biết. Rồi anh nói đôi khi anh gọi cho cô và có cảm giác như nói chuyện với người lạ. Phần cuối này Pelletier suy ra, bởi vì Espinoza, thỉnh thoảng tâm sự theo cái lối tỉnh lược không ai hiểu nổi, không gọi Norton là một người lạ mà dùng từ bận rộn, rồi từ lơ đãng. Chiếc điện thoại trong căn hộ của Norton trong giây lát nổi bồng bềnh trong cuộc trò chuyện giữa hai người. Một chiếc điện thoại trắng do một bàn tay trắng trẻo cầm nắm, cánh tay trắng trẻo của một người lạ. Nhưng cô không phải người lạ. Không kể tới việc cả hai đã ngủ với cô. Ôi con hươu trắng, con hươu nhỏ bé, con hươu trắng, Espinoza thì thào. Pelletier áng chừng Espinoza đang trích dẫn một tác phẩm cổ điển, nhưng không bình luận gì mà hỏi anh liệu họ có trở thành kẻ thù của nhau không. Câu hỏi dường như làm Espinoza ngạc nhiên, như thể chưa bao giờ anh nghĩ tới khả năng ấy.
“Thật lố bịch, Jean-Claude,” anh nói, mặc dù Pelletier để ý anh suy nghĩ khá lâu trước khi trả lời.
Tàn đêm hôm đó, họ say khướt, và cậu bồi bàn trẻ đưa hai người ra khỏi quán bar. Điều Pelletier nhớ rõ nhất là cậu bồi bàn rất khỏe, xốc nách được cả hai người, mỗi người một bên, đến thang máy ở sảnh, như thể anh và Espinoza là những thiếu niên, không quá mười lăm tuổi, hai thiếu niên yếu ớt mềm rũ trên đôi cánh tay khỏe mạnh của cậu thanh niên Đức này, người đã ở lại cho đến giờ đóng cửa, khi mọi bồi bàn kỳ cựu đã về nhà rồi, cậu ta là một trai quê, bằng vào vẻ mặt và vóc người, hay một người lao động phổ thông, và anh cũng nhớ điều gì đó như một lời thầm thì mà sau anh hiểu là một kiểu cười, cái cười của Espinoza khi anh được cậu bồi bàn nông dân kéo đi, một tiếng khúc khích khe khẽ, một tiếng cười nhẹ, như thể tình cảnh này không chỉ nực cười mà còn là van xả cho những nỗi buồn không nói của anh.
♣ ♣ ♣
Một ngày nọ, hơn ba tháng trôi qua kể từ khi họ đến thăm Norton, một trong hai người gọi người kia và đề nghị gặp nhau một cuối tuần ở London. Không rõ là Pelletier hay Espinoza là người gọi. Về lý thuyết, hẳn phải là người có ý thức trung thành, hay tinh thần bằng hữu, mạnh mẽ nhất, dù kể ra thì hai thứ đó cũng là một, nhưng sự thật là cả Pelletier lẫn Espinoza đều không mạnh những đức tính đó. Ngoài miệng, dĩ nhiên cả hai người đều ca ngợi. Nhưng trong thực tế, cả hai không tin vào tình bạn hay lòng trung thành. Họ tin vào đam mê, họ tin vào một hình thức lai tạp của hạnh phúc xã hội hay hạnh phúc chung (cả hai đều bỏ phiếu cho Đảng Xã hội, mặc dù có vài lần phiếu trống), họ tin vào khả năng tự phát triển đến tận cùng bản thân.
Điều chính yếu là một người gọi và người kia nói ừ, và một chiều thứ Sáu họ gặp nhau ở sân bay London, bắt taxi đến một khách sạn, rồi một chuyến taxi khác, bây giờ đã rất gần giờ ăn tối (họ đã đặt bàn cho ba người ở quán Jane & Chloe), tới nhà Norton.
Trả tiền cho tài xế xong, từ vỉa hè, họ ngước nhìn những khung cửa sổ sáng đèn. Chiếc taxi chạy đi rồi, họ nhìn thấy dáng người của Liz, dáng hình thương yêu của họ, và rồi, như thể một luồng hơi thối lùa vào quảng cáo băng vệ sinh, bóng một người đàn ông làm họ cứng đờ, Espinoza với bó hoa trên tay, Pelletier với một cuốn sách của Jacob Epstein gói bằng giấy hạng nhất. Nhưng vở kịch câm phía trên không kết thúc ở đó. Trong một khung cửa sổ, bóng của Norton ra dấu, như thể đang cố gắng giải thích gì đó mà người đối thoại của cô từ chối hiểu. Ở cửa sổ kia, bóng người đàn ông, khiến hai người đang quan sát há hốc mồm kinh ngạc, làm một kiểu chuyển động lắc vòng, hay một cử động gì đó mà với Pelletier và Espinoza trông giống như lắc vòng, đầu tiên là hông, sau đó chân, thân mình, cả cổ nữa! một chuyển động bao hàm ý châm biếm và nhạo báng, trừ phi đằng sau những tấm rèm người đàn ông đó đang cởi đồ hay đang tan chảy ra, điều dường như rất khó xảy ra; chuyển động, hay chuỗi chuyển động đó, biểu hiện không chỉ sự châm biếm mà còn sự độc ác và trơ tráo nữa, hẳn nhiên rồi, bởi hắn ta là kẻ khỏe nhất trong căn hộ, kẻ cao nhất, cơ bắp nhất, kẻ lắc vòng.
Và còn có điều gì đó lạ lùng trong cái bóng của Liz. Trong chừng mực mà họ biết cô, và họ nghĩ họ biết cô khá rõ, Norton không phải là loại người chịu bị sỉ nhục, nhất là trong nhà mình. Thành thử rất có thể là, họ tin, rằng bóng người đàn ông hẳn không phải đang lắc vòng hay sỉ nhục Liz, mà đang cười, và cười với cô, chứ không phải cười nhạo cô. Nhưng bóng của Liz không có vẻ như đang cười. Rồi bóng người đàn ông biến mất: có thể hắn ta đã đi xem mấy cuốn sách, có thể đã đi vào nhà tắm hay bếp. Có thể hắn buông mình xuống sofa, vẫn còn cười. Và ngay khi đó bóng Norton tiến lại gần cửa sổ, dường như thu nhỏ lại, và rồi đẩy rèm ra và mở toang cửa sổ. Mắt Norton nhắm chặt, như thể cô muốn hít thở khí trời đêm của London, và rồi cô mở mắt và nhìn xuống, vào vực thẳm, và thấy họ.
♣ ♣ ♣
Họ lên tiếng chào giả như taxi vừa thả họ xuống đó. Espinoza giơ bó hoa vẫy vẫy, còn Pelletier thì vẫy sách, và rồi, không chờ để nhìn thấy vẻ mặt bối rối của Norton, họ đi về phía cánh cửa tòa nhà và chờ Liz bấm cửa cho họ vào.
Họ chắc chắn là xôi hỏng bỏng không mất rồi. Trong khi leo cầu thang, không nói năng gì, họ nghe tiếng cửa mở, và mặc dù không thấy cô, cả hai cảm nhận được sự hiện diện bừng sáng của Norton trên chiếu nghỉ cầu thang. Căn hộ toàn mùi thuốc lá Hà Lan. Tựa vào khung cửa, Norton nhìn họ như thể họ là hai người bạn chết đã lâu, những bóng ma quay về từ đáy biển. Người đàn ông chờ họ trong phòng khách trẻ hơn, có lẽ sinh khoảng năm bảy mươi, chứ không phải sáu mươi - thậm chí giữa bảy mươi. Cậu ta mặc áo len cổ lọ, cổ áo dường như xệ xuống, quần jean bạc màu và đi giày thể thao. Trông cậu ta giống sinh viên của Norton hay giáo viên dạy thế.
Norton nói cậu ta tên là Alex Pritchard. Một người bạn. Pelletier và Espinoza bắt tay cậu ta và mỉm cười, biết rằng nụ cười của họ thật gượng gạo. Pritchard không mỉm cười. Hai phút sau tất cả bọn họ ngồi uống whiskey trong im lặng. Pritchard, uống nước cam, ngồi cạnh Norton một cánh tay vắt qua vai cô, một cử chỉ thoạt đầu có vẻ cô không phiền (thực tế, cánh tay dài của Pritchard gác trên lưng ghế sofa và chỉ những ngón tay của cậu ta, dài như chân nhện hay ngón tay của một nghệ sĩ dương cầm, thi thoảng lướt trên áo khoác của Norton), nhưng mỗi lúc Norton càng trở nên bất an hơn và cô đứng dậy đi vào bếp hay phòng ngủ thường xuyên hơn.
Pelletier cố gợi ra vài chủ đề trò chuyện. Anh cố nói về phim, nhạc, những tác phẩm sân khấu gần đây, mà thậm chí không được Espinoza giúp đỡ gì, Espinoza dường như đang thi đua im lặng với Pritchard, mặc dù sự im lặng của Pritchard ít ra là của một người quan sát, vừa lơ đễnh vừa chú tâm, còn sự im lặng của Espinoza là của người bị quan sát, chìm trong đau khổ và tủi hổ. Đột nhiên, không ai dám chắc ai là người khơi ra, nhưng họ bắt đầu nói về các nghiên cứu về Archimboldi. Có thể đó là Norton, từ trong bếp, nhắc tới công việc mà họ đều làm. Pritchard đợi cô quay lại và rồi, cánh tay của cậu ta lại duỗi dài ra theo lưng ghế sofa và những ngón tay nhện tựa lên vai Norton, nói cậu ta nghĩ văn chương Đức là một trò lừa đảo.
Norton bật cười, cứ như ai đó vừa kể chuyện tiếu lâm. Pelletier hỏi cậu ta, Pritchard, biết gì về văn chương Đức.
“Thật ra không nhiều,” cậu ta nói.
“Vậy cậu là một thằng đần,” Espinoza nói.
“Hay ít ra, một gã dốt nát,” Pelletier nói.
“Dù sao đi nữa, một badulaque,” Espinoza nói.
Espinoza nói từ badulaque bằng tiếng Tây Ban Nha, và Pritchard không hiểu từ đó có nghĩa gì. Norton cũng không hiểu và muốn biết nó có nghĩa gì.
“Một tay badulaque,” Espinoza nói, “là một kẻ tầm thường. Đó là một từ có thể áp dụng với những tay ngu dốt, nhưng có những thằng ngu có giá trị, còn badulaque chỉ áp dụng với những thằng ngu vô giá trị.”
“Các anh sỉ nhục tôi sao?” Pritchard muốn biết.
“Cậu có thấy bị sỉ nhục không?” Espinoza hỏi, bắt đầu toát mồ hôi đầm đìa.
Pritchard nuốt một ngụm nước cam và nói có, cậu ta thực sự có cảm thấy bị xúc phạm.
“Vậy ngài có vấn đề rồi, thưa ngài,” Espinoza nói.
“Phản ứng tiêu biểu của một badulaque,” Pelletier đế vào.
Pritchard đứng bật dậy khỏi sofa. Espinoza cũng đứng dậy khỏi ghế bành. Norton nói đủ rồi, các anh xử sự như trẻ con ngốc nghếch. Pelletier phá ra cười. Pritchard bước lại chỗ Espinoza và lấy ngón tay trỏ gõ lên ngực anh, ngón tay trỏ của cậu ta dài gần bằng ngón tay giữa. Cậu ta gõ lên ngực anh một, hai, ba, bốn lần trong khi nói:
“Thứ nhất: tôi không thích bị sỉ nhục. Thứ hai: tôi không thích bị coi là một thằng ngu. Thứ ba: tôi không thích bị một thằng chó Tây Ban Nha đùa cợt. Thứ tư: nếu anh có điều gì khác cần nói với tôi, hãy ra ngoài.”
Espinoza nhìn Pelletier và hỏi, bằng tiếng Đức, dĩ nhiên, phải làm gì bây giờ.
“Đừng ra ngoài,” Pelletier nói.
“Alex, cậu về đi,” Norton nói.
Và vì Pritchard không thực sự tính đánh ai, cậu ta hôn má Norton rồi đi mà không chào tạm biệt.
♣ ♣ ♣
Đêm đó ba người bọn họ ăn ở quán Jane & Chloe. Thoạt tiên họ hơi lặng lẽ, nhưng bữa tối và rượu vang làm họ vui tươi hơn và cuối cùng lúc đi về nhà họ đã cười. Tuy vậy, họ vẫn ngại không hỏi Norton Pritchard là ai mà cô cũng không hé miệng nói gì về gã trai khó ưa người dài ngoằng đó. Thay vào đó, gần cuối bữa tối, họ nói về bản thân, về việc họ tiệm cận việc phá hủy, có thể mãi mãi, tình bạn dành cho nhau như thế nào.
Họ thỏa thuận với nhau rằng tình dục quá sức tuyệt vời (mặc dù gần như ngay lập tức họ hối tiếc tính từ ấy) nên không thể có chỗ trong một tình bạn vốn dựa trên mối đồng cảm về cảm xúc cũng như trí tuệ. Tuy nhiên, phải khá đau đớn Pelletier và Espinoza mới làm rõ được trước mặt nhau rằng điều lý tưởng cho cả hai, và họ tin cho cả Norton, là rốt cuộc và theo một cách thức không gây tổn thương (một cú tiếp đất nhẹ nhàng, Pelletier nói) cô chọn một trong hai người, hoặc không ai cả, Espinoza nói, quyết định thế nào nằm trong tay cô, trong tay của Norton, và đó là một quyết định mà cô có thể đưa ra bất cứ lúc nào cô muốn, bất cứ lúc nào thuận tiện cho cô, hoặc không bao giờ đưa ra cả, mà cứ gác lại, chậm lại, hoãn lại, kéo dài ra, dây dưa, đình lại cho đến phút lâm chung, họ không quan tâm, bởi vì họ yêu cô bây giờ, trong khi Liz đặt họ vào thế lưng chừng, như đã yêu cô trước đây, khi họ là tình nhân hay đồng tình nhân chủ động của cô, và vẫn yêu cô nhiều khi cô chọn một trong hai người, hoặc khi (trong một tương lai khả dĩ chỉ cay đắng hơn một chút, một tương lai cay đắng họ cùng nhau chia sẻ, hay một tương lai mà niềm cay đắng bằng cách nào đó đã dịu bớt), nếu mong muốn của cô là thế, là không lựa chọn ai trong hai người. Norton đáp lại bằng một câu hỏi, rõ ràng là một câu hỏi có phần tu từ tuy nhiên hợp lý: điều gì sẽ xảy ra nếu, trong khi cô bỏ thời gian ra cân nhắc các lựa chọn, một trong hai, ví dụ Pelletier, đột nhiên đem lòng yêu một sinh viên nào đó trẻ hơn, xinh đẹp hơn, và cũng giàu có hơn và lại còn duyên dáng hơn? Liệu cô có xem thỏa thuận bị phá vỡ và tự động từ bỏ Espinoza? Hay liệu cô nên chấp nhận anh chàng Tây Ban Nha, bởi vì anh là người duy nhất còn lại? Pelletier và Espinoza đáp rằng khả năng một tình huống như thế thực sự xảy ra là cực kỳ khó, và dù sao đi nữa cô có thể làm bất cứ gì cô thích, kể cả trở thành nữ tu nếu cô muốn thế.
“Điều duy nhất mỗi đứa bọn anh muốn là cưới em, sống với em, có con với em, cùng già đi với em, nhưng ở thời điểm này trong đời, điều quan trọng với bọn anh là gìn giữ tình bạn của chúng ta.”
♣ ♣ ♣
Sau đêm đó, các chuyến bay đến London lại bắt đầu. Đôi khi người đến là Espinoza, đôi lần khác là Pelletier, và thi thoảng cả hai cùng đến. Khi đó họ sẽ luôn ở cùng một chỗ, một khách sạn nhỏ, không tiện nghi mấy trên đường Foley, gần bệnh viện Middlesex. Ra khỏi căn hộ của Norton, họ thường đi dạo gần khách sạn, thường trong im lặng, bực bội, có chút kiệt sức vì thiện chí và sự hân hoan họ cảm thấy cần biểu lộ trong những chuyến viếng thăm chung này. Lắm lần họ chỉ đứng đó dưới ngọn đèn đường nơi góc phố, ngắm những chuyến xe cứu thương chạy vào chạy ra. Các y tá người Anh gào to hết cỡ, mặc dù từ nơi họ đứng âm thanh của những giọng nói chói lói ấy hoàn toàn không thể nghe thấy.
Một đêm nọ, trong khi đứng nhìn lối vào bệnh viện yên ắng khác thường, họ tự hỏi tại sao khi cùng đến London, cả hai đều không ở lại nhà Liz. Có lẽ vì lịch sự, họ tự trả lời. Nhưng cả hai đều không còn tin vào kiểu lịch sự đó nữa. Và họ cũng tự hỏi, thoạt tiên lưỡng lự và sau đó quyết liệt, sao ba người bọn họ không ngủ cùng nhau. Đêm hôm đó một tia sáng xanh xao, bệnh hoạn lọt ra từ dưới khe cửa bệnh viện, một ánh sáng hồ bơi xanh trong suốt, và người hộ lý rít điếu thuốc, đứng trên vỉa hè, và trong số những chiếc xe đang đỗ có một chiếc để đèn sáng, một ánh sáng vàng như trong một cái tổ, nhưng không phải một cái tổ bất kỳ nào mà là một cái tổ hậu hạt nhân, một chốn không có chỗ cho bất kỳ sự chắc chắn nào ngoại trừ sự lạnh lẽo, tuyệt vọng và thờ ơ.
Một đêm nọ, trong lúc nói chuyện điện thoại với Norton từ Paris hay Madrid, một trong hai người đưa đề tài ra. Thật ngạc nhiên, Norton nói bấy lâu nay cô vẫn luôn tự hỏi mình câu hỏi ấy.
“Anh nghĩ bọn anh sẽ không bao giờ gợi ý,” người trên điện thoại nói.
“Em biết,” Norton nói. “Các anh ngại. Các anh đợi em nói trước.”
“Anh không biết nữa,” người trên điện thoại nói, “có lẽ không đơn giản như thế.”
Họ gặp lại Pritchard vài lần. Gã thanh niên lênh khênh trông không có vẻ cáu kỉnh như trước, nhưng thực tế những lần chạm mặt của họ chỉ thoáng qua, quá ngắn ngủi nên không có chỗ cho khiếm nhã hay bạo lực. Khi Espinoza trên đường đến căn hộ của Norton thì Pritchard đi ra; Pelletier gặp hắn một lần ở cầu thang. Mặc dù ngắn ngủi, lần chạm mặt sau có ý nghĩa đáng kể. Pelletier lên tiếng chào Pritchard. Pritchard chào Pelletier, và sau khi đi lướt qua nhau rồi Pritchard ngoảnh lại gọi với theo Pelletier.
“Anh muốn nghe vài lời khuyên không?” cậu ta hỏi. Pelletier nhìn cậu ta đầy cảnh giác. “Tôi biết anh không muốn đâu, lão già, nhưng nghe đây. Hãy cẩn thận,” Pritchard nói.
“Cẩn thận về cái gì?” Pelletier khó nhọc lên tiếng hỏi.
“Về Medusa,” Pritchard nói. “Hãy coi chừng Medusa.”
Và rồi, trước khi tiếp tục đi xuống cầu thang, cậu ta thêm: “Khi anh có cô ả trong tay, cô ả sẽ khiến anh tan xác.”
Pelletier đứng bất động trong giây lát, lắng nghe tiếng chân Pritchard xuống cầu thang, rồi tiếng cánh cổng mở rồi đóng. Chỉ đến khi sự im lặng trở nên không chịu nổi anh mới tiếp tục lên cầu thang, trầm ngâm trong bóng tối.
♣ ♣ ♣
Anh không nói gì với Norton về cuộc gặp với Pritchard, nhưng khi trở về Paris anh liền gọi Espinoza kể về cuộc chạm trán bí hiểm.
“Kỳ quặc,” Espinoza nói. “Nghe như một lời cảnh báo mà cũng có thể là đe dọa.”
“Còn chuyện này nữa,” Pelletier nói. “Medusa là một trong ba người con gái của Phorcys và Ceto, được gọi là Gorgon, ba con quỷ biển. Theo Hesiod, hai chị em kia, Stheno và Euryale, thì bất tử. Nhưng Medusa thì không.”
“Cậu đang đọc thần thoại Hy Lạp à?” Espinoza hỏi.
“Về tới nhà tớ làm việc đó đầu tiên,” Pelletier nói. “Nghe này: khi Perseus chặt đầu Medusa, Chrysaor, cha của quỷ Geryon, hiện lên, và cả con ngựa Pegasus cũng vậy.”
“Pegasus hiện ra từ xác Medusa? Cứt thật,” Espinoza nói.
“Chính thế. Con ngựa có cánh Pegasus, mà theo tớ tượng trưng cho tình yêu.”
“Cậu nghĩ Pegasus tượng trưng cho tình yêu?”
“Đúng thế.”
“Lạ,” Espinoza nói.
“Kiến thức phổ thông mà,” Pelletier nói.
“Và cậu nghĩ Pritchard biết mấy thứ này?”
“Không thể,” Pelletier nói. “Mặc dù ai mà biết được, nhưng không, tớ không tin chuyện đó.”
“Vậy cậu nghĩ tất cả chuyện này có ý nghĩa gì?”
“Tớ đoán Pritchard đang cảnh báo mình, cảnh báo bọn mình về một mối nguy mà chúng ta không nhìn thấy. Hay đúng hơn, cậu ta đang cố nói với tớ rằng chỉ sau khi Norton chết thì mình, hay bọn mình, mới tìm thấy tình yêu chân chính.”
“Sau khi Norton chết?” Espinoza nói.
“Dĩ nhiên, cậu không hiểu ư? Pritchard coi cậu ta là Perseus, kẻ giết Medusa.”
♣ ♣ ♣
Espinoza và Pelletier ngẩn ngơ mất một thời gian như bị ám. Archimboldi, người một lần nữa được đồn đoán có cơ hội rõ rệt giành giải Nobel, cũng không làm họ hứng thú. Họ chán ghét công việc của mình ở trường đại học, những bài viết định kỳ cho tạp chí các khoa tiếng Đức khắp thế giới, các lớp học của họ, và cả những hội thảo mà họ dự như những kẻ mộng du hay thám tử say thuốc. Họ ở đó mà không ở đó. Họ nói, nhưng tâm trí đâu đâu. Duy nhất Pritchard khiến họ quan tâm, sự hiện diện báo điềm gở của Pritchard, kẻ đồng hành bất biến của Norton. Một Pritchard nhìn Norton như Medusa, như một Gorgon, một Pritchard mà, là hai kẻ quan sát âm thầm, họ gần như chẳng biết gì về hắn.
Để điền vào những chỗ trống, họ bắt đầu chất vấn người duy nhất có thể cho họ câu trả lời. Thoạt đầu Norton miễn cưỡng. Hắn là giáo viên, đúng như họ ngờ, nhưng không phải giáo viên đại học mà ở một trường cấp hai. Hắn không phải dân London mà là dân một thị trấn gần Bournemouth. Hắn đã học ở Oxford một năm, và sau đó, không thể hiểu được đối với Espinoza và Pelletier, chuyển đến London và hoàn thành việc học ở đó. Hắn thuộc cánh Tả, cánh Tả thực dụng, và theo Norton, thỉnh thoảng hắn nhắc đến kế hoạch (chưa bao giờ cụ thể hóa thành hành động) hoạt động tích cực trong Đảng Lao động. Ngôi trường nơi hắn dạy là một trường địa phương có khá nhiều học sinh thuộc các gia đình nhập cư.
Hắn là dạng người quyết đoán, rộng rãi, nhưng thiếu óc tưởng tượng, điều mà Pelletier và Espinoza đã biết. Nhưng chuyện đó chẳng khiến họ cảm thấy ổn hơn tí nào.
“Một thằng chết tiệt có thể chẳng có óc tưởng tượng nhưng lại làm được một điều đầy chất tưởng tượng khi cậu ít ngờ nhất,” Espinoza nói.
“Nước Anh đầy bọn lợn như hắn,” là ý kiến của Pelletier.
Đêm nọ trò chuyện trên điện thoại, họ không ngạc nhiên (thậm chí không mảy may ngạc nhiên) khám phá ra là hai người bọn họ đều ghét Pritchard, và mỗi ngày họ ghét hắn thêm một chút.
♣ ♣ ♣
Trong hội nghị kế tiếp mà họ tham dự, (“Nhìn lại thế kỷ hai mươi: Tác phẩm của Benno von Archimboldi”, một sự kiện diễn ra hai ngày có mặt đông đảo các nhà Archimboldi học trẻ tuổi người Ý và một nhóm các nhà nghiên cứu Archimboldi phái tân cấu trúc đến từ khắp châu Âu), họ quyết định kể cho Morini mọi sự diễn ra với họ trong vài tháng qua và mọi nỗi lo sợ đeo đẳng họ liên quan đến Norton và Pritchard.
Sức khỏe Morini hơi sa sút kể từ lần cuối gặp nhau (nhưng cả Espinoza lẫn Pelletier đều không biết), nhưng anh vẫn kiên nhẫn lắng nghe ở quán bar khách sạn và ở một quán ăn Ý gần nơi tổ chức hội nghị và ở một nhà hàng cực kỳ đắt tiền tại khu phố cổ và cả trong khi họ lang thang vẩn vơ dọc những con phố Bologna, những lúc ấy Espinoza và Pelletier vừa đẩy xe cho Morini vừa không ngớt nói. Cuối cùng, khi họ đòi anh cho ý kiến về chuyện tình cảm rối ren, có thật hay tưởng tượng, mà họ đang mắc kẹt, Morini chỉ hỏi mỗi người, hay cả hai, đã hỏi Norton liệu cô ấy có yêu Pritchard hay bị cậu ta hớp hồn chưa. Họ đành thú nhận rằng vì tế nhị, lịch thiệp, và kiểu cách - chủ yếu vì nghĩ cho Norton - họ chưa hỏi.
“Chà, lẽ ra các cậu phải bắt đầu từ đó,” Morini nói; mặc dù thấy mệt và chóng mặt nữa, sau khi qua quá nhiều khúc rẽ, Morini vẫn không thở ra tí phàn nàn nào.
♣ ♣ ♣
(Và đến lúc này phải nói rằng câu thành ngữ Có tiếng tăm thì nằm mà ăn thật đúng, bởi vì sự tham gia của Espinoza và Pelletier vào hội nghị “Nhìn lại thế kỷ hai mươi: Tác phẩm của Benno von Archimboldi”, chưa nói đến đóng góp của họ, nhẹ thì bị bảo là vô giá trị, nặng thì như bị tê liệt, như thể họ bất thình lình kiệt sức hay vắng mặt, già sớm hay trong tình trạng sốc, một thực tế mà những người tham dự vốn quen với những màn trình diễn năng nổ [đôi khi táo bạo] của Espinoza và Pelletier ở những sự kiện như thế này không thể không nhận thấy, cũng như đám nghiên cứu Archimboldi mới nhất, những tay mới tốt nghiệp, trai có gái có, bằng tiến sĩ hãy còn ấm dưới cánh tay, không thể không nhận thấy; những tay này định bằng mọi cách thức cần thiết áp đặt cách đọc Archimboldi riêng của họ, như các giáo sĩ sẵn sàng cấy đặt niềm tin vào Thượng đế, ngay cả khi làm việc đó nghĩa là ký giao kèo với quỷ dữ, vì hầu hết họ là những kẻ mà bạn có thể gọi là duy lý chủ nghĩa, không phải theo ý nghĩa triết học mà theo nghĩa đen thui, hàm chỉ những người quan tâm đến phê bình văn chương hơn bản thân văn chương, bởi phê bình là lĩnh vực duy nhất mà theo họ - ừ thì vài người trong số họ - cách mạng vẫn còn khả dĩ, và theo một cách nào đó họ cư xử không phải như người trẻ mà như người trẻ xổi, kiểu như có người giàu và người giàu xổi, tất cả bọn họ nhìn chung là những người tư duy duy lý, ta hãy nhắc lại, mặc dù thường không có khả năng phân biệt mông đít với cùi chỏ, và mặc dù họ để ý thấy cái sự ở đó mà không ở đó, một sự hiện diện-khiếm diện trong chuyến đáo qua Bologna của Pelletier và Espinoza, họ không có khả năng nhìn thấy điều thực sự quan trọng: sự chán chường tuyệt đối của Pelletier và Espinoza về mọi thứ nói tại hội nghị về Archimboldi hay việc họ không đếm xỉa gì đến cái nhìn của những người khác, như thể hai người bọn họ là thức ăn cho những kẻ ăn thịt đồng loại, một sự không đếm xỉa không lọt nổi vào mắt những kẻ tham gia hội nghị trẻ tuổi kia, những tay ăn thịt đồng loại đầy háo hức và tham lam vô độ, những gương mặt tầm tầm ba mươi của họ phình lên vì thành công, biểu cảm của họ chuyển đổi từ chán nản sang điên cuồng, những từ ngữ lắp bắp được mã hóa của họ chỉ gồm mỗi hai từ: yêu tôi, hoặc có lẽ hai từ và một cụm từ, yêu tôi, để tôi yêu bạn, tuy hiển nhiên là không ai hiểu.