Vậy nên Pelletier và Espinoza, hai kẻ phiêu dạt qua thành phố Bologna như hai bóng ma, trong chuyến ghé thăm London kế tiếp, gần như hổn hển, như thể họ mới chạy hay cuốc bộ đến đó (không nghỉ, trong mơ hay cõi thực), hỏi Norton liệu cô, Liz yêu quý của họ, vốn không thể đi Bologna, có yêu hay say đắm Pritchard không.
Norton bảo không. Rồi cô bảo có thể có, khó mà đưa ra câu trả lời dứt khoát về chuyện này. Pelletier và Espinoza nói họ cần phải biết, tức là, họ cần xác nhận rõ ràng. Và Norton hỏi họ tại sao bây giờ, đúng lúc này, họ lại quan tâm đến Pritchard đến thế.
Pelletier và Espinoza nói, gần như chực khóc, nếu không bây giờ, thì bao giờ?
Norton hỏi có phải họ ghen. Họ nói thế là quá lắm, ghen tuông không liên quan gì, gán cho họ tội ghen tuông thì gần như là xúc phạm nếu tính đến bản chất tình bạn của họ.
Norton nói đó chỉ là một câu hỏi thôi. Pelletier và Espinoza nói họ không sẵn sàng trả lời một câu hỏi dễ tổn thương, hay nhỏ mọn hay xấu tính như thế. Rồi họ đi ăn tối và ba người bọn họ uống quá nhiều, vui sướng như trẻ con, trò chuyện về sự ghen tuông và những hậu quả thảm hại của nó. Rồi họ cũng nói về sự không tránh khỏi của ghen tuông. Và về sự cần thiết của ghen tuông, như thể ghen tuông là một thúc giục lúc nửa đêm. Đấy là chưa kể sự ngọt ngào và những vết thương há miệng mà, có những người, trong những hoàn cảnh nào đó, tìm thấy ở đấy niềm khoái chá. Trên đường đi, họ chui vào một chiếc taxi và cuộc trò chuyện cứ tiếp tục.
Suốt mấy phút đầu, tài xế, một tay Pakistan, cứ im lặng nhìn họ qua kính chiếu hậu, như thể anh ta không tin những gì tai mình đang nghe, rồi anh ta nói gì đó bằng tiếng của mình và chiếc xe chạy qua khỏi Công viên Harmsworth và Bảo tàng Chiến tranh Đế quốc, chạy dọc theo đường Brook, rồi đường Austral và rồi đường Geraldine, chạy vòng quanh công viên, một hành trình không cần thiết bất kể nhìn nó theo cách nào. Khi Norton bảo rằng anh ta lạc đường rồi và nói anh ta phải đi theo ngả nào để tìm đường ra, thì tay tài xế lại im lặng lần nữa, không còn lẩm bẩm bằng thứ ngôn ngữ không ai hiểu của mình, mãi anh ta mới thú nhận rằng London quả là một cái mê cung, anh ta đã thực sự mất phương hướng.
Nghe vậy Espinoza bình luận rằng mình sẽ đi đầu xuống đất nếu không phải là tay tài xế này vừa mới vô tình, dĩ nhiên, trích dẫn Borges, Borges từng nói rằng London giống như một mê cung. Norton đáp lại rằng Dickens và Stevenson từng dùng dụ pháp tương tự trước Borges rất lâu trong những miêu tả London của họ. Việc này dường như khiến anh tài xế kích động, vì anh ta đùng đùng lên tiếng rằng là người Pakistan anh ta không biết ông Borges này là ai, có lẽ anh ta cũng chưa đọc các ông Dickens và Stevenson nổi tiếng này bao giờ, và anh ta thậm chí có thể không rành đường sá London như đáng lý ra anh ta phải thế, vậy nên anh ta mới nói chúng giống như mê cung, nhưng anh ta biết rõ thế nào là đứng đắn và tự trọng và căn cứ vào những gì anh ta đã nghe, thì người phụ nữ có mặt ở đây, hay nói cách khác chính là Norton, chẳng có chút đứng đắn và tự trọng nào, và ở nước anh ta có một từ để chỉ cô, tình cờ ở London người ta cũng dùng y chang từ đó, và từ đó là điếm hay đĩ hay lợn, và các quý ông đây, căn cứ vào thổ âm, không phải là người Anh, cũng có một cái tên ở nước anh ta và cái tên đó là ma cô hay lừa đảo hay khách đĩ.
Bài diễn văn này, có thể gọi như vậy mà không quá lời, làm các nhà nghiên cứu Archimboldi kinh ngạc, và họ phản ứng rất chậm chạp. Nếu họ đang ở đường Geraldine khi tay tài xế tặng họ bài diễn văn, họ không mở mồm nổi cho tới khi tới đường Saint George. Và tất cả những gì họ có thể nói nổi là: dừng lại ở đây, bọn tôi xuống. Hay đúng hơn: dừng cái xe thối tha này ở đây, bọn tao cóc thèm đi nữa. Ngay lập tức gã Pakistan ngừng lại, vừa đấm vào đồng hồ vừa tấp vào lề và thông báo cho các hành khách số tiền họ phải trả, một sự đã rồi hay một cảnh chót hay một cử chỉ chia tay mà đối với Norton và Pelletier, rõ ràng vẫn còn choáng váng vì nỗi ngạc nhiên ghê gớm, là bình thường, nhưng chắc chắn là giọt nước tràn ly với Espinoza, anh bước xuống và mở cửa tài xế lôi gã tài xế ra, tay này chắc chắn không ngờ đến phản ứng kiểu này từ một quý ông ăn vận bảnh bao như thế. Anh ta càng không ngờ tới trận mưa những cú đá Tây Ban Nha trút xuống mình, những cú đá ban đầu do mình Espinoza tung ra, nhưng sau đó cả Pelletier nữa, khi Espinoza ra hiệu, mặc cho Norton gào bảo ngưng lại, mặc cho Norton phản đối rằng đánh đấm chẳng giải quyết được việc gì, rằng thật ra sau trận đòn này tay Pakistan thậm chí còn ghét người Anh hơn, nhưng điều này dường như chả có ý nghĩa gì mấy đối với Pelletier, vốn chẳng phải người Anh, càng không có ý nghĩa đối với Espinoza, tuy vậy cả hai xỉa xói gã Pakistan bằng tiếng Anh trong lúc đá hắn, không mảy may chú ý đến việc hắn đã ngã, co người lại như trái banh dưới đất, họ cứ đá liên tù tì, cút mả mẹ mày đi thằng đạo Hồi, cút về xứ của mày đi, cú này là cho Salman Rushdie này (một tác giả mà cả hai đều tình cờ cho là chẳng hay ho gì lắm nhưng gọi tên ông có vẻ thích hợp), cú này là cho các nhà nữ quyền học của Paris (các anh thôi cho ngay được không, Norton gào lên), cú này là cho các nhà nữ quyền học của New York (các anh giết hắn mất, Norton thét), cú này cho bóng ma của Valerie Solanas, đồ chết tiệt, và cứ liên miên bất tuyệt như thế cho đến khi anh ta bất tỉnh máu ộc ra từ miệng, mũi, tai.
♣ ♣ ♣
Ngừng đá anh ta rồi họ chìm vào một cõi an nhiên lạ lùng nhất đời mình trong vòng mấy khắc. Cứ như thể rốt cuộc họ đã có được cuộc làm tình tay ba thường mơ tưởng.
Pelletier cảm thấy như mình vừa lên đỉnh. Espinoza cũng cảm thấy như vậy, dù mức độ hơi khác một chút. Còn Norton, nhìn họ chằm chằm nhưng không trông thấy họ trong bóng tối, dường như trải qua nhiều đợt cực khoái. Có mấy chiếc xe chạy ngang qua đường St. George, nhưng ba người bọn họ vô hình đối với bất kỳ ai ngồi trên xe đi ngang vào giờ ấy. Trời không có một chấm sao nào. Tuy vậy đêm rất trong: họ có thể nhìn thấy đường nét mọi thứ rõ ràng, ngay cả đường viền của những thứ nhỏ nhất, như thể một thiên thần đã bất thình lình tròng cặp kính nhìn xuyên đêm lên mắt họ. Họ cảm thấy da mình trơn nhẵn, sờ cực kỳ mềm mại, mặc dù thật ra cả ba người đang đầm đìa mồ hôi. Trong giây lát Espinoza và Pelletier ngỡ rằng mình đã giết tay Pakistan. Ý tương tự lướt qua đầu Norton, bởi cô cúi xuống bên tay tài xế và nghe mạch hắn. Đi lại, quỳ xuống, việc ấy làm cô đau như thể sái xương chân.
Một nhóm người từ phía phố Garden vừa đi tới vừa hát. Họ cười đùa ầm ĩ. Ba người đàn ông và hai phụ nữ. Không nhúc nhích, Norton, Pelletier và Espinoza ngoái đầu về phía họ, chờ đợi. Tốp người bắt đầu đi về phía họ.
“Taxi,” Pelletier nói, “họ muốn bắt taxi.”
Chỉ khi đó họ mới nhận thấy đèn bên trong xe vẫn đang sáng.
“Đi thôi,” Espinoza nói.
Pelletier đỡ lấy vai Norton dìu cô đứng dậy. Espinoza đã ngồi vào sau tay lái và giục họ nhanh lên. Pelletier đẩy Norton vào băng ghế sau rồi leo vào. Tốp người từ đường Garden đi thẳng tới chỗ tay tài xế nằm.
“Anh ta còn sống, anh ta còn thở,” Norton nói.
Espinoza nổ máy xe và họ lái đi. Sang bờ bên kia của sông Thames, trên một con đường nhỏ gần khu Old Marylebone, họ ra khỏi xe và đi bộ một quãng. Họ muốn nói chuyện với Norton, giải thích chuyện đã xảy ra, nhưng cô thậm chí còn không cho họ đưa cô về nhà.
♣ ♣ ♣
Hôm sau, trong lúc ăn một bữa sáng ra trò ở khách sạn, họ dò xem báo có tin tức gì về tay tài xế taxi Pakistan không, nhưng không chỗ nào nhắc đến anh ta. Ăn sáng xong họ ra ngoài tìm mấy tờ báo lá cải. Nhưng cũng không tìm thấy gì.
Họ gọi cho Norton, cô không có vẻ giận dữ như đêm hôm trước. Họ nói chiều hôm đó họ phải gặp cô. Có chuyện quan trọng cần nói. Norton nói cô cũng có chuyện quan trọng phải nói với họ. Để giết thời gian họ đi dạo loanh quanh khu phố. Họ giải trí bằng cách ngắm xe cứu thương chạy vào chạy ra Bệnh viện Middlesex, mường tượng rằng mỗi người ốm kẻ đau bước vào bệnh viện đều trông giống như tay Pakistan mà họ đã dần cho tả tơi, một đỗi chán rồi họ tản bộ, đầu óc bình tĩnh hơn, dọc theo Charing Cross về phía đại lộ Strand. Họ tâm sự với nhau, như vẫn thường thế. Họ chia sẻ với nhau những cảm xúc sâu kín nhất. Điều khiến họ lo lắng nhất là cảnh sát có thể truy đuổi và rốt cuộc sẽ tóm được họ.
“Trước khi ra khỏi xe,” Espinoza thú nhận, “tớ đã lấy khăn tay lau sạch dấu vân tay.”
“Tớ biết,” Pelletier nói, “tớ thấy cậu làm và tớ cũng làm y như vậy. Tớ lau dấu vân tay của mình và của Liz nữa.”
Mỗi lúc một bình tĩnh hơn, họ ôn đi ôn lại chuỗi sự kiện đã khiến họ rốt cuộc tẩn cho tay tài xế taxi một trận. Pritchard, không nghi ngờ gì nữa. Và Gorgon, nàng Medusa ngây thơ và không bất tử ấy, tách biệt hẳn với các chị em bất tử của mình. Và mối đe dọa úp mở, hay không úp mở lắm. Và sự táo tợn. Và sự thô lỗ của gã đê tiện ngốc nghếch đó. Họ ước gì mình có một chiếc radio để nghe được những tin tức mới nhất. Họ nói về những gì mình cảm thấy khi họ trút trận mưa đòn xuống thân hình đã ngã xuống ấy. Một kết hợp giữa sự buồn ngủ và ham muốn dục tình. Ham muốn chơi thằng chó tội nghiệp ấy? Không hề. Đúng hơn là như thể họ tự chơi mình. Như thể họ đào lỗ vào trong chính họ. Bằng móng tay dài và hai bàn tay không. Mặc dù nếu móng tay bạn đủ dài tay bạn không bao giờ thực sự trống không. Nhưng trong trạng thái mơ ngủ này, họ đào và đào, xé vải và bứt toạc mạch máu và đâm vào những cơ quan tối quan trọng. Họ đang tìm kiếm gì? Họ không biết. Và ở giai đoạn đó họ cũng chẳng quan tâm.
♣ ♣ ♣
Buổi chiều họ gặp Norton và kể cho cô nghe mọi thứ họ biết hay lo sợ về Pritchard. Rồi về Gorgon, cái chết của Gorgon. Người đàn bà nổ tung. Cô để cho họ nói đến khi cạn hết ngôn từ. Rồi cô xoa dịu họ. Cô nói Pritchard không thể làm hại một con ruồi. Họ nghĩ tới Anthony Perkins, người từng nói mình không hại một con ruồi và hãy xem chuyện gì đã xảy ra, nhưng họ không tranh cãi và sẵn lòng chấp nhận lập luận của cô, tuy không bị thuyết phục. Rồi Norton ngồi xuống và bảo chuyện đã diễn ra đêm hôm trước mới là việc không thể giải thích được.
Như để khỏi nghe trách cứ, họ hỏi cô có nghe tin tức gì về tay Pakistan không. Norton nói có. Một đài truyền hình địa phương có đưa tin. Một nhóm bạn, có thể là nhóm người họ thấy đi từ đường Garden tới, đã tìm thấy tay tài xế và gọi cảnh sát. Anh ta gãy bốn xương sườn, chấn động não, gãy mũi và toàn bộ răng hàm trên. Bây giờ anh ta đang nằm viện.
“Đó là lỗi của anh,” Espinoza nói. “Hắn lăng mạ làm anh mất kiểm soát.”
“Em nghĩ tốt nhất chúng ta ngừng gặp nhau một thời gian,” Norton nói. “Em phải nghĩ kỹ về chuyện này.”
Pelletier đồng ý, nhưng Espinoza cứ tự trách cứ mình: Norton không gặp anh nữa cũng đáng nhưng cô đừng nên ngừng gặp gỡ Pelletier.
“Đừng nói nhảm nhí,” Pelletier hạ giọng với anh, và chỉ khi đó Espinoza mới nhận ra rằng điều mình đang nói thực sự ngu xuẩn.
Đêm đó cả hai bay về nhà.
♣ ♣ ♣
Về tới Madrid, Espinoza hơi suy sụp. Trên taxi về nhà anh bắt đầu khóc, lặng lẽ, lấy tay che mắt, nhưng người tài xế thấy anh khóc và hỏi có chuyện gì không, anh có ốm không.
“Tôi ổn,” Espinoza nói, “chỉ hơi căng thẳng.”
“Anh là người ở đây à?” người tài xế hỏi.
“Vâng,” Espinoza nói, “tôi sinh ở Madrid.”
Cả hai không nói gì một lúc. Rồi người tài xế khơi lại cuộc tấn công của mình và hỏi anh có quan tâm đến bóng đá không. Espinoza nói không, anh chưa bao giờ quan tâm đến bóng đá hay bất cứ môn thể thao nào. Và anh thêm, như thể để khỏi làm cho cuộc đối thoại kết thúc đột ngột, rằng đêm hôm trước anh suýt giết một người.
“Thật à,” người tài xế nói.
“Đúng vậy,” Espinoza nói, “tôi suýt giết hắn ta.”
“Sao vậy?” người tài xế hỏi.
“Trong cơn giận,” Espinoza nói.
“Ở nước ngoài?” người tài xế hỏi.
“Ừ,” Espinoza nói, lần đầu tiên bật cười, “xa đây lắm, và công việc của anh ta cũng lạ.”
Trong khi đó Pelletier không suy sụp cũng không nói chuyện với người tài xế chở anh về căn hộ của mình. Về tới nhà anh tắm rồi làm một ít mì xào dầu ô liu và phô mai. Rồi anh kiểm tra email, trả lời vài tin nhắn, và cầm lên giường một cuốn tiểu thuyết của một tác giả trẻ người Pháp, không phải tác phẩm lớn lao gì, nhưng cũng giải trí được, và một tạp chí nghiên cứu văn học. Một lát sau anh đã ngủ và mơ một giấc mơ cực kỳ lạ lùng: anh cưới Norton và họ sống trong một căn nhà lớn, kề một vách đá từ đó có thể nhìn thấy một bãi biển đông nghịt người mặc đồ tắm nằm phơi nắng hay bơi lội, nhưng không bao giờ ra quá xa bờ.
Ngày ngắn. Từ cửa sổ nhà mình anh ngắm cảnh bình minh và hoàng hôn tiếp nối nhau gần như không bao giờ có điểm dừng. Đôi lúc Norton đến gần phòng anh nói gì đó với anh, nhưng cô không bao giờ bước qua ngạch cửa. Lúc nào cũng có người trên bãi biển. Đôi khi anh có cảm tưởng buổi tối họ không về nhà, hoặc họ đều cùng nhau rời khỏi đó khi trời tối, quay trở lại, theo một hàng dài, trước khi mặt trời lên. Những lúc khác, nếu nhắm mắt, anh có thể sải cánh bay trên bãi biển như hải âu gí mắt nhìn sát xuống những người tắm biển. Họ có đủ mọi hình dáng kích cỡ, hầu hết là người lớn, tầm khoảng ba mươi, bốn mươi và năm mươi tuổi, và tất cả đều cho thấy là đang tập trung vào những hoạt động ngớ ngẩn, như xoa dầu lên người, ăn bánh sandwich, lắng nghe bạn bè, họ hàng, người cùng nằm phơi nắng, vì lịch sự hơn là vì hứng thú. Tuy nhiên đôi khi những người tắm biển sẽ thận trọng đứng dậy dõi nhìn về phía chân trời, kể cả chỉ trong một hay hai giây. Đó là một chân trời tĩnh lặng, không một gợn mây, xanh ngăn ngắt.
Khi Pelletier mở mắt, anh nghĩ về hành vi của những người tắm biển. Rõ ràng họ đang chờ đợi một điều gì, nhưng khó có thể nói có nét tuyệt vọng nào trong sự chờ đợi của họ không. Thi thoảng trông họ có vẻ cảnh giác hơn, mắt họ rà soát đường chân trời một hai giây, và rồi họ lại trở thành một phần trong dòng chảy thời gian trên bãi biển, trôi đi, không một khắc lưỡng lự. Đắm chìm trong việc ngắm người tắm biển, Pelletier quên mất Norton, có lẽ anh tin vào sự hiện diện của cô trong căn nhà, mà bằng chứng là những tiếng ồn thỉnh thoảng vẳng lại từ trong nhà, từ những căn phòng không cửa sổ hay cửa sổ nhìn ra cánh đồng hay núi, không phải biển hay bãi biển đông người. Anh ngủ, hay đại thể thấy mình chìm sâu trong giấc mơ, khi đang ngồi trên ghế, gần bàn và cửa sổ. Và dường như anh không ngủ mấy. Ngay cả khi mặt trời lặn rồi anh vẫn cố thức càng lâu càng tốt, mắt dán chặt lên bãi biển, giờ đây là một tấm vải đen hay đáy giếng, dõi tìm bất cứ ánh sáng nào, vệt ánh đèn pin, hay ánh lửa củi bập bùng. Anh đánh mất mọi ý niệm thời gian. Anh mơ hồ nhớ một cảnh tượng bối rối, và thấy vừa ngượng ngùng vừa hào hứng. Những tờ giấy anh để trên bàn là bản thảo của Archimboldi, hay ít ra người ta bảo anh thế khi mua, mặc dù nhìn qua anh nhận ra chúng được viết bằng tiếng Pháp, không phải tiếng Đức. Bên cạnh anh là chiếc điện thoại không bao giờ reo. Trời càng ngày càng nực.
Một sáng nọ, quãng gần giữa trưa, anh thấy những người tắm biển thình lình dừng mọi hoạt động và quay sang ngắm đường chân trời cùng kiểu như mọi khi. Không có gì xảy ra. Nhưng rồi, lần đầu tiên, những người tắm biển quay lại và bắt đầu rời khỏi bãi biển. Vài người hướng về con đường đất giữa hai quả đồi. Những người khác rảo bước qua vùng đồng quê, bám vào các bụi cây và mỏm đá. Đôi người di chuyển về phía vách đá và Pelletier không nhìn thấy họ nhưng anh biết họ bắt đầu chậm rãi leo lên. Tất cả những gì còn lại trên bãi biển là một đống đen sì thoát ra từ một cái hố màu vàng. Trong khoảnh khắc Pelletier băn khoăn liệu mình có nên đi xuống bãi biển và chôn đống kia dưới đáy hố, sau khi áp dụng mọi biện pháp phòng ngừa cần thiết. Nhưng chỉ cần tưởng tượng mình phải đi bao xa mới đến được bãi biển, anh cũng đã toát mồ hôi, và càng lúc càng toát mồ hôi nhiều hơn, cứ như một khi đã mở vòi bạn không thể nào tắt nó.
Và rồi anh nhận thấy biển rùng mình, như thể nước cũng toát mồ hôi, hay như sắp sôi. Mặt biển sủi bọt lăn tăn, làm thành những con sóng trào lên nằm chết trên bờ. Pelletier cảm thấy chóng mặt và có tiếng vo vo của đàn ong từ bên ngoài vọng vào. Khi tiếng vo vo lịm đi, một sự im lặng thậm chí còn tệ hơn tràn ngập căn nhà và khắp xung quanh. Pelletier réo gọi tên Norton, nhưng không ai đáp lời anh, như thể sự im lặng đã nuốt chửng tiếng cầu cứu của anh. Pelletier bắt đầu sụt sùi và anh trông thấy những gì còn lại của một bức tượng trồi lên từ đáy biển kim loại. Một khúc đá không thành hình thù gì, khổng lồ, bị nước và thời gian xói mòn, nhưng vẫn còn có thể nhìn ra một bàn tay, cổ tay và một phần cánh tay rất rõ ràng. Bức tượng trồi lên khỏi mặt biển và dựng lên trên bãi biển, một cảnh tượng trông vừa kinh khủng vừa tuyệt đẹp.
♣ ♣ ♣
Suốt mấy ngày cả Pelletier và Espinoza đều dằn vặt vì sự vụ với tay tài xế Pakistan, chuyện ấy mãi lẩn quẩn trong lương tâm tội lỗi của họ như bóng ma hay điện tích.
Espinoza băn khoăn liệu hành vi của mình có bộc lộ con người đích thực của anh, nói cách khác, một tay phản động bài ngoại mới ưa bạo lực. Mặc cảm tội lỗi của Pelletier, trong khi đó, nằm ở chỗ đã đá tay Pakistan khi anh ta đã nằm dưới đất, rành rành chẳng phải là hành vi mã thượng. Mình làm thế để làm gì? anh tự hỏi. Tay tài xế đã trả giá đích đáng và không cần thiết phải chồng chất bạo lực lên bạo lực.
Một đêm nọ hai người bọn họ nói chuyện với nhau trên điện thoại thật lâu. Họ bày tỏ nỗi lo sợ của mình. Họ an ủi nhau. Nhưng được vài phút họ lại bắt đầu rên rẩm về chuyện đã xảy ra, mặc dù sâu trong lòng họ tin rằng chính tay Pakistan mới là kẻ phản động và căm ghét phụ nữ đích thực, kẻ bạo lực, kẻ cố chấp và hàm hồ, rằng chính tay Pakistan đã hơn một nghìn lần tự chuốc lấy chuyện đó. Sự thật là trong những khoảnh khắc như thế này, nếu tay Pakistan hiện hữu trước mặt họ, có lẽ họ sẽ giết chết anh ta.
♣ ♣ ♣
Suốt một thời gian dài họ quên bẵng những chuyến đi hằng tuần đến London. Họ quên Pritchard và Gorgon. Họ quên Archimboldi, danh tiếng của ông tiếp tục lên cao trong lúc họ ngoảnh lưng. Họ quên những bài báo của mình, những bài báo họ viết vì nhiệm vụ và thiếu cảm hứng và thật ra là công trình của các phụ tá hay trợ lý giáo sư trong khoa của họ được tuyển dụng để nghiên cứu Archimboldi trên cơ sở những lời hứa mơ hồ về chân biên chế hay lương bổng cao hơn.
Tại một hội nghị, trong khi Pohl trình bày một bài giảng xuất sắc về Archimboldi và nỗi hổ thẹn trong văn chương Đức hậu chiến, hai người viếng thăm một nhà thổ ở Berlin, ở đó họ ngủ với hai em tóc vàng cao và chân dài. Gần nửa đêm, họ ra về, quá sung sướng nên cất giọng hát vang như trẻ con dưới trời mưa như trút nước. Trải nghiệm này, một thứ mới mẻ trong đời họ, được lặp lại nhiều lần ở những thành phố châu Âu khác nhau và rốt cuộc trở thành một phần thói quen hằng ngày của họ ở Paris và Madrid. Người khác có thể đã ngủ với sinh viên. Còn họ, sợ yêu, hay sợ hết yêu Norton, quay sang gái điếm.
Ở Paris, Pelletier tìm gái trên Internet, thu được kết quả xuất sắc. Ở Madrid, Espinoza tìm gái bằng cách đọc các quảng cáo tình dục trên tờ El Pais, vốn cung cấp dịch vụ đáng tin cậy và thực tế hơn nhiều so với các trang báo nghệ thuật của nó, trên tờ này hiếm khi nào Archimboldi được nhắc tới còn các anh hùng Bồ Đào Nha nhan nhản, y như trên các trang nghệ thuật của tờ ABC.
“Cậu biết đấy,” Espinoza phàn nàn trong các cuộc trò chuyện với Pelletier, có lẽ kiếm tìm chút an ủi, “người Tây Ban Nha bọn tớ lúc nào cũng nhà quê.”
“Đúng,” Pelletier đáp, sau khi cân nhắc câu trả lời của mình đúng hai giây.
Họ cũng không phải là không bị tổn thương sau các cuộc phiêu lưu với gái điếm.
♣ ♣ ♣
Pelletier gặp một cô tên Vanessa. Cô có chồng và một đứa con trai. Đôi khi hàng tuần liền cô không gặp chồng con. Theo cô, chồng cô là một vị thánh. Anh ta có vài khuyết điểm - ví dụ anh ta là người Ả Rập, chính xác là người Maroc, ngoài ra anh ta lười biếng - nhưng nhìn chung, theo Vanessa, anh ta là người tốt, hầu như chẳng bao giờ giận dữ về việc gì, ngay cả khi giận, anh ta cũng không đánh đập hay tàn nhẫn như những gã đàn ông khác mà thay vào đó buồn bã, ủ ê, ngập trong nỗi sầu muộn khi phải đương đầu với một thế giới đột ngột quá sức chịu đựng và không hiểu nổi đối với anh ta. Pelletier hỏi liệu anh chàng Ả Rập có biết cô làm điếm không, Vanessa nói có, anh ta biết nhưng không quan tâm, bởi anh ta tin vào quyền tự do cá nhân.
“Vậy anh ta là ma cô của em,” Pelletier nói.
Vanessa đáp có thể, rằng nếu ta nghĩ cho kỹ về chuyện đó thì anh ta có thể là như vậy, nhưng anh ta không giống những ma cô khác, vốn luôn mạnh tay bóc lột đám đàn bà của họ. Anh chàng Maroc không đòi hỏi gì. Có những giai đoạn, Vanessa nói, cả cô cũng rơi vào trạng thái lười nhác, một trạng thái suy nhược dai dẳng, và rồi tiền bạc trở nên eo hẹp. Trong những lần như vậy, anh Maroc bằng lòng với tình trạng đó và cố gắng, một cách không may mắn lắm, tìm kiếm những việc lặt vặt để ba người bọn họ có thể sống qua ngày. Anh ta theo đạo Hồi, và đôi khi anh ta cầu nguyện hướng về Mecca, nhưng rõ ràng anh ta là một loại người đạo Hồi riêng biệt. Theo anh ta, Allah cho phép mọi thứ, hay gần như mọi thứ. Cố ý làm tổn thương trẻ em thì không được phép. Lạm dụng trẻ em, giết trẻ em, bỏ rơi trẻ em đến chết, đều bị cấm. Mọi thứ khác đều tương đối và, rốt cuộc, được phép.
Vanessa kể với Pelletier rằng họ đã có lần du lịch tới Tây Ban Nha. Cô, con trai cô, và anh chàng Maroc. Ở Barcelona họ gặp em trai anh Maroc đang sống cùng một cô gái Pháp khác, một cô gái cao và béo. Họ là nhạc công, anh chàng Maroc bảo Vanessa, nhưng thật ra họ là ăn mày. Cô chưa bao giờ thấy anh chàng Maroc vui như thế. Anh ta cười ha hả luôn mồm, kể chuyện linh tinh và đi bộ loanh quanh Barcelona không biết mệt, đi suốt tới những vùng ngoại ô hay vùng núi từ đó có thể nhìn thấy toàn thành phố và một thoáng Địa Trung Hải. Theo Vanessa, chưa bao giờ cô thấy người nào nhiều năng lượng thế. Trẻ con, có. Vài đứa thôi, không nhiều. Nhưng người lớn thì không.
Pelletier hỏi Vanessa con trai cô có phải là con của anh chàng Maroc không, cô nói không, nhưng cách cô trả lời có gì đó thể hiện rằng câu hỏi đó với cô là thô lỗ hay gây tổn thương, một sự lăng mạ đối với con trai cô. Thằng bé da sáng màu, tóc gần như vàng, cô nói, và đã sáu tuổi khi cô gặp anh chàng Maroc, nếu cô nhớ đúng. Một quãng thời gian kinh khủng trong đời em, cô bảo nhưng không đi vào chi tiết. Sự xuất hiện của anh chàng Maroc khó có thể gọi là đúng thời điểm. Lúc gặp anh ta là quãng thời gian tồi tệ với cô, nhưng khi đó anh ta đang chết đói theo nghĩa đen.
Pelletier thích Vanessa và họ gặp nhau nhiều lần. Cô cao ráo, có chiếc mũi Hy Lạp thẳng và cái nhìn lạnh, kiêu kỳ. Cách cô khinh ghét văn hóa, đặc biệt văn hóa sách, phần nào như kiểu một cô nữ sinh, một kết hợp quá sức hoàn hảo giữa ngây thơ và lịch lãm, hoặc Pelletier tin vậy, đến nỗi Vanessa có thể buông ra những nhận xét ngu ngốc nhất mà vẫn không gây nên chút khó chịu nào. Một đêm, làm tình xong, Pelletier trần truồng đứng dậy đi lục trong đống sách của mình một tiểu thuyết của Archimboldi. Lưỡng lự một chút, anh quyết định chọn cuốn Chiếc mặt nạ da, nghĩ rằng may đâu Vanessa có thể đọc cuốn này như đọc một tiểu thuyết kinh dị, có thể bị cuốn hút bởi phần rùng rợn của cuốn sách. Thoạt tiên món quà làm cô ngạc nhiên, sau đó cảm động, vì cô quen với việc khách tặng cô quần áo, giày dép hay đồ lót. Thực sự, cô rất vui vì món quà, đặc biệt khi Pelletier giải thích Archimboldi là ai và vai trò của nhà văn Đức trong cuộc đời anh.
“Cứ như anh cho em một phần của mình,” Vanessa nói.
Nhận xét này khiến Pelletier hơi bối rối, vì theo một cách nào đó điều này hoàn toàn đúng, đến giờ Archimboldi đã là một phần của anh, tác giả người Đức này xem như thuộc về anh nếu xét tới việc Pelletier đã cùng vài người nữa kiến tạo một cách đọc mới đối với ông, một cách đọc sẽ tồn tại lâu dài, một cách đọc tham vọng như chính văn chương Archimboldi, và cách đọc này sẽ bắt kịp với văn chương Archimboldi một thời gian lâu dài, cho đến khi cách đọc này bị kiệt cùng hoặc cho đến khi văn chương Archimboldi - khả năng thắp lên cảm xúc và những khải ngộ nơi khối tác phẩm của Archimboldi - bị kiệt cùng (nhưng anh không tin điều đó sẽ xảy ra), mặc dù theo một cách khác nó không đúng, bởi vì đôi khi, đặc biệt từ khi anh và Espinoza từ bỏ các chuyến đi đến London và ngừng gặp gỡ Norton, tác phẩm của Archimboldi, tức tiểu thuyết và truyện ngắn của ông, dường như hoàn toàn xa lạ, một khối ngôn từ không hình thù và bí ẩn, một thứ xuất hiện và biến mất đầy thất thường, và kỳ thực ra chỉ là một cái cớ, một cánh cửa giả, một bí danh của kẻ sát nhân, một bồn tắm khách sạn đầy nước ối mà anh, Jean-Claude Pelletier, rốt cuộc sẽ tự tử trong đó với tâm thế hoang mang mà chẳng lý do, vô nguyên cớ, một cách hết sức vu vơ.
Y như anh đoán, Vanessa không bao giờ nói với anh cô nghĩ gì về cuốn sách. Một sáng nọ anh theo cô về nhà. Cô sống trong một khu phố lao động toàn dân nhập cư. Khi họ tới nơi, con trai cô đang xem tivi và Vanessa mắng thằng bé vì nó không đi học. Thằng bé nói nó bị đau bụng và ngay lập tức Vanessa pha cho nó một ít trà thảo dược. Pelletier ngắm cô di chuyển trong nhà bếp. Năng lượng Vanessa bỏ ra là vô bờ bến và chín mươi phần trăm trong đó tiêu vào chuyển động vô ích. Căn nhà là một đống lộn xộn bừa bãi, mà anh cho rằng phần nào do thằng bé và anh chàng Maroc, nhưng về căn bản là lỗi của cô.
Chẳng mấy chốc, do tiếng ầm ĩ trong bếp (thìa rơi xuống sàn, ly vỡ, tiếng la hét không nhằm vào ai hỏi trà cất ở cái xó xỉnh nào), tay Maroc thò mặt ra. Họ bắt tay nhau mà không ai giới thiệu. Tay Maroc nhỏ con gầy gò. Thằng bé sẽ sớm cao hơn và khỏe mạnh hơn anh ta cho mà xem. Anh ta để ria dày, đầu thì sắp hói. Chào hỏi xong Pelletier ngồi xuống sofa, vẫn lơ mơ buồn ngủ, xem hoạt hình với thằng bé. Khi Vanessa từ trong bếp thò ra, Pelletier bảo anh phải đi về.
“Về thì về đi,” cô nói.
Anh nghĩ cách cô trả lời có gì đó gây hấn, nhưng rồi anh nhớ ra Vanessa là như vậy. Thằng bé nhấp một ngụm trà và nói muốn thêm đường, rồi nó cứ để ly trà bốc hơi đó không đụng đến. Vài chiếc lá trà bồng bềnh trong nước, những chiếc lá khiến Pelletier thấy lạ lùng và đáng ngờ.
Sáng hôm đó, ở trường đại học, rảnh ra là anh nghĩ về Vanessa. Lần gặp nhau sau đó họ không làm tình, mặc dù anh vẫn trả tiền cho cô bình thường, và họ nói chuyện hàng giờ đồng hồ. Trước khi thiếp ngủ, Pelletier đã đi đến vài kết luận. Vanessa thích hợp hoàn hảo để sống vào thời Trung cổ, cả về mặt cảm xúc cũng như thể xác. Với cô, khái niệm “cuộc sống hiện đại” là vô nghĩa. Cô tin vào những thứ mình có thể nhìn thấy hơn là tin báo chí. Cô đầy hồ nghi và can đảm, mặc dù nghịch lý là lòng can đảm của cô khiến cô tin người - chẳng hạn bồi bàn, người soát vé tàu, bạn bè lúc khó - những người hầu như luôn khiến cô thất vọng hay phản bội lòng tin của cô. Những sự phản bội này khiến cô phát cuồng và có thể đẩy cô vào những tình huống bạo lực không tưởng nổi. Cô cũng nuôi những mối ác cảm, và có tiếng là luôn nói thẳng vào mặt người ta không cần quanh co. Cô tự coi mình là phụ nữ tự do và có câu trả lời cho mọi thứ. Thứ gì không hiểu cô sẽ không quan tâm. Cô không bao giờ nghĩ về tương lai, kể cả tương lai con trai mình, mà chỉ nghĩ về hiện tại, hiện tại vĩnh cửu. Cô xinh đẹp nhưng không tự coi mình xinh đẹp. Hơn phân nửa bạn bè của cô là người Maroc nhập cư, nhưng cô, người chưa bao giờ có thì giờ đi bỏ phiếu cho Le Pen, xem nhập cư là mối nguy với nước Pháp.
“Đĩ là để chơi,” Espinoza nói vào cái đêm Pelletier kể với anh về Vanessa, “không phải để phân tích tâm lý.”.
♣ ♣ ♣
Không như bạn mình, Espinoza không nhớ tên cô nào cả. Một bên là những thân thể và những khuôn mặt, và phía bên kia, trôi trong một thứ ống thông gió, là những Lorena, những Eola, những Marta, những Paula, những Susana, những cái tên không thân thể, những gương mặt không có tên.
Anh không bao giờ gặp một cô hai lần. Anh ngủ với một cô người Dominica, một cô Brazil, ba em Andalusia, một em Catalán. Từ đầu anh đã học cách làm típ người im lặng, loại đàn ông ăn mặc bảnh bao trả tiền và cho người ta biết mình muốn gì, đôi khi chỉ ra dấu, rồi mặc đồ vào ra về như thể anh ta chưa bao giờ tới đó. Anh gặp một cô gái Chile tự quảng cáo mình là người Chile và một cô người Colombia tự quảng cáo mình là người Colombia cứ làm như hai quốc tịch này chứa đựng một nét hấp dẫn đặc biệt. Anh cũng quan hệ với một phụ nữ Pháp, hai cô Ba Lan, một cô người Nga, một Ukraina, một Đức. Một đêm nọ anh ngủ với một cô Mexico và lần đó là tuyệt nhất.
Như mọi khi, họ tới một khách sạn, và sáng ra thức dậy cô Mexico đã đi rồi. Ngày hôm đó lạ lùng. Như thể có gì đó trong anh đã bùng nổ. Anh ngồi lì trên giường, trần truồng, chân thả xuống sàn, cố gắng nhớ lại điều gì đó mơ hồ. Khi vào buồng tắm anh nhận ra rằng bắp vế mình có dấu. Giống như ai đó đã mút ở đó hay bỏ một con đỉa lên chân trái anh. Vết bầm to bằng nắm tay trẻ con. Việc đầu tiên anh nghĩ đến là cô điếm đã cắn yêu anh, và anh cố nhớ lại việc đó, nhưng anh không thể nhớ ra, những hình ảnh duy nhất hiện ra là anh nằm trên cô, hai chân cô quàng trên vai anh, và đôi ba từ mơ hồ, không thể giải mã, do anh hay cô gái Mexico nói anh không chắc, mà có lẽ là tục tĩu.
Suốt mấy ngày anh nghĩ anh đã quên cô, cho đến một đêm anh thấy mình đi tìm cô dọc những con đường Madrid nơi các cô điếm thường đứng hay ở khu Casa de Campo. Một đêm anh nghĩ mình nhìn thấy cô thế là anh đi theo và chạm vào vai cô. Người phụ nữ ngoảnh lại là người Tây Ban Nha và trông không giống cô điếm Mexico tí nào. Một đêm khác, trong giấc mơ, anh nghĩ mình nhớ những gì cô nói. Anh nhận ra mình đang mơ, nhận ra giấc mơ sắp sửa kết thúc tồi tệ, nhận ra rất có khả năng anh sẽ quên lời cô và có lẽ như thế là tốt nhất, nhưng anh quyết sẽ làm hết khả năng để nhớ chúng trước khi tỉnh dậy. Giữa chừng giấc mơ, trong lúc bầu trời xoay xoay chầm chậm, anh thậm chí còn cố buộc mình tỉnh dậy, bật đèn, thét lên để tiếng của mình đưa mình trở lại sự tỉnh thức, nhưng các bóng đèn trong nhà có vẻ đều đã cháy và thay vì tiếng thét tất cả những gì anh nghe thấy là một tiếng rên xa xa, như của một đứa bé trai hay gái hay của một con vật đang trốn trong một căn phòng xa xôi nào.
Tỉnh dậy, dĩ nhiên, anh không thể nhớ tí gì, ngoại trừ rằng anh đã nằm mơ về cô gái Mexico, cô đứng giữa một hành lang dài, leo lét sáng và anh đang ngắm cô mà không bị nhìn thấy. Cô gái Mexico dường như đang đọc gì đó được viết bằng bút màu trên tường, graffiti hay những dòng chữ tục tĩu cô đang đánh vần chầm chậm, như thể cô không biết đọc. Anh cứ đi tìm cô suốt mấy ngày nữa, nhưng rồi sau đó anh mệt mỏi với chuyện đó và ngủ với một cô Hungary, hai cô Tây Ban Nha, một cô Gambia, một cô Senegal và một Argentina. Anh không bao giờ mơ thấy cô nữa, và mãi rồi cũng quên được cô.
♣ ♣ ♣
Thời gian, vốn làm lành mọi vết thương, cuối cùng đã xóa đi ý thức tội lỗi ngấm vào trong họ vì màn bạo lực ở London. Một ngày nọ họ trở lại công việc của mình với niềm hứng khởi và lòng hăng say. Họ lại bắt đầu viết bài và tham dự các hội nghị với năng lượng phi thường, như thể thời gian với các cô điếm là một chuyến nghỉ dưỡng trên Địa Trung Hải. Họ liên lạc trở lại với Morini, trong các cuộc phiêu lưu của mình lúc đầu họ gần như đã cho anh ra rìa và sau đó thì bỏ quên anh hẳn. Họ nhận ra người bạn Ý hơi sa sút sức khỏe, nhưng vẫn ấm áp, thông minh và kín đáo, nghĩa là anh không hỏi bất cứ một câu nào tọc mạch. Một đêm nọ, làm cả hai cùng ngạc nhiên, Pelletier nói với Espinoza rằng Morini giống như một món quà. Một món quà cho hai người bọn họ từ các vị thần. Nói ra điều ấy thật ngớ ngẩn và tranh luận điều đó cũng chẳng khác nào phải lội thẳng xuống một đầm lầy đa cảm, nhưng Espinoza, cũng cảm thấy tương tự, ngay cả khi anh sẽ diễn đạt khác đi, liền đồng ý ngay tắp lự. Cuộc đời lại mỉm cười với họ. Họ cùng nhau đi dự các hội nghị đó đây. Họ cùng chia sẻ thú vui ẩm thực. Họ đọc sách và sống phơi phới. Mọi thứ quanh họ từng dừng lại và trở nên cọc cạch hoen gỉ giờ lại bung ra chuyển động. Cuộc đời của những người khác trở nên hiển hiện, ở một mức độ nào đấy. Sự hối hận của họ biến mất như tiếng cười trong một đêm xuân. Họ bắt đầu gọi điện lại cho Norton.
♣ ♣ ♣
Xúc động sâu xa bởi cuộc tái ngộ, Pelletier, Espinoza và Norton gặp nhau ở một quán bar, hay đúng hơn một quán cà phê nhỏ xíu (thực sự tí hon: chỉ có hai chiếc bàn và một cái quầy không đủ chỗ cho bốn người ken vai kề vai) của một phòng tranh phi chính thống chỉ lớn hơn quán bar một chút, ở đây trưng bày tranh nhưng cũng bán sách cũ, quần áo và giày dép, nằm ở cổng Công viên Hyde, rất gần lãnh sự quán Hà Lan. Ba người bày tỏ lòng ngưỡng mộ đối với Hà Lan, một đất nước dân chủ trọn vẹn.
Theo Norton, quán bar này pha margarita ngon nhất London, một nét đặc biệt mà Pelletier và Espinoza không quan tâm mấy, mặc dù họ giả vờ nhiệt tình với thông tin đó. Chỉ có họ là khách ở quán, dĩ nhiên, và mặc dù đang là ban ngày, nhân viên duy nhất hay chủ quán trông có vẻ như đang buồn ngủ hay vừa mới thức dậy, trái ngược với Pelletier và Espinoza, mặc dù hai người dậy lúc bảy giờ và đáp máy bay, rồi cùng phải chịu cảnh hoãn bay, đều tươi tắn và đầy năng lượng, sẵn sàng tận hưởng kỳ nghỉ cuối tuần ở London của họ.
Đúng là lúc đầu trò chuyện hơi khó khăn. Trong im lặng, Pelletier và Espinoza ngắm Norton: cô vẫn xinh đẹp và quyến rũ như trước. Đôi khi họ bị phân tán vì những bước đi rón rén của chủ phòng tranh, anh ta cứ lấy váy khỏi giá treo mang vào phòng trong rồi quay trở ra với những chiếc váy y hệt hay tương tự, treo vào chỗ những chiếc váy trước đây.
Mặc dù sự im lặng không làm Pelletier hay Espinoza phiền lòng, Norton thấy ngột ngạt và cảm thấy buộc phải kể cho họ, vội vàng và thậm chí cuống cuồng về hoạt động giảng dạy của mình trong suốt thời gian không gặp nhau. Đó là một đề tài chán phèo, và nhanh chóng hết chuyện để nói, nên Norton tiếp tục bằng cách mô tả tất tần tật những việc cô làm ngày hôm trước và ngày hôm trước nữa, nhưng một lần nữa cô nhanh chóng hết chuyện để kể. Họ cứ mỉm cười như lũ sóc, rồi ba người bọn họ quay sang ly margarita của mình, nhưng sự im lặng càng lúc càng trở nên không thể chịu đựng, như thể bên trong nó, trong khoảng đứt quãng im lặng đó, những từ ngữ cay nghiệt và ý nghĩ cay nghiệt đang chầm chậm thành hình, không bao giờ là một màn trình diễn hay khiêu vũ mà ta có thể dửng dưng quan sát. Nên Espinoza quyết định rằng mình nên kể về chuyến đi Thụy Sĩ, một chuyến đi không dính dáng tới Norton và có thể khiến cô vui.
♣ ♣ ♣
Trong câu chuyện, Espinoza không bỏ qua những thành phố ngăn nắp hay những con sông mời mọc ngắm nhìn hay những triền núi xuân phủ trong màu xanh. Anh nói về một chuyến đi bằng tàu lửa về miền quê, khi công việc của ba người bạn đã hoàn tất, đến một trong những thị trấn nằm giữa Montreux và chân dãy Alps phía Berne, ở đó họ thuê một chiếc xe đưa họ đi theo một con đường ngoằn ngoèo nhưng được lát đá cẩn thận đến một viện nghỉ dưỡng mang tên một chính trị gia hay nhà tài phiệt Thụy Sĩ cuối thế kỷ mười chín, Viện Auguste Demarre, một cái tên không chê vào đâu được có thể che giấu cả một bệnh viện tâm thần văn minh và kín đáo.
Đến thăm một chỗ như thế không phải là ý tưởng của Pelletier hay Espinoza. Đó là ý của Morini, bởi vì không hiểu sao Morini biết được người mà anh coi là một trong những họa sĩ quái nhất của thế kỷ hai mươi đang sống ở đó. Hoặc không. Có lẽ Morini không nói như vậy. Dù gì chăng nữa tên họa sĩ này là Edwin Johns và ông ta đã chặt bàn tay phải của mình, bàn tay ông dùng để vẽ, rồi sau đó cho ướp, và gắn nó vào đại loại một bức chân dung tự họa đa bội.
“Sao chưa bao giờ em nghe chuyện này?” Norton cắt ngang.
Espinoza nhún vai.
“Anh tưởng anh kể cho em rồi,” Pelletier nói.
Nhưng vài giây sau anh nhận ra thực ra cô chưa bao giờ được nghe.
Norton làm mọi người ngạc nhiên khi phá ra cười rất không liên quan rồi gọi một ly margarita nữa. Trong lúc đợi chủ quán, nãy giờ vẫn đang lấy váy xuống treo váy lên, mang đồ uống ra, ba người bọn họ ngồi trong im lặng. Rồi, theo yêu cầu của Norton, Espinoza phải tiếp tục câu chuyện. Nhưng anh không muốn.
“Cậu kể đi,” anh bảo Pelletier, “cậu cũng ở đó mà.”
Câu chuyện của Pelletier sau đó bắt đầu với ba nhà nghiên cứu Archimboldi ngắm nghía cái cổng sắt sừng sững chào đón đến với bệnh viện tâm thần Auguste Demarre, đồng thời chắn lối ra (và ngăn lối vào đối với vị khách nào quấy rầy). Hay đúng hơn, câu chuyện bắt đầu vài giây trước đó, với Espinoza và Morini ngồi trên xe lăn khảo sát cánh cổng sắt và hàng rào song sắt biến mất về phía tay phải và tay trái, dưới bóng những hàng cây uy nghi được chăm sóc cẩn thận, trong khi Pelletier nửa trong nửa ngoài xe, trả tiền cho tài xế và sắp xếp thời gian hợp lý để anh ta lái từ thị trấn đến đón họ. Rồi ba người ngoảnh lại đối diện cái bệnh viện đồ sộ, có thể nhìn thấy ở cuối đường, như một pháo đài thế kỷ mười lăm, không phải vì kiến trúc mà vì ấn tượng toát ra từ vẻ trơ lì của nó.
Vậy ấn tượng này là gì? Một niềm tin kỳ quặc. Chẳng hạn, niềm tin rằng lục địa châu Mỹ chưa bao giờ được khám phá, hay nói cách khác chưa bao giờ tồn tại, và rằng điều này không hề gây trở ngại đến tăng trưởng kinh tế bền vững hay tăng trưởng nhân khẩu bình thường hay sự tiến bộ dân chủ của Cộng hòa Thụy Sĩ. Một trong những ý tưởng lạ lùng và vô nghĩa, Pelletier nói, mà người ta trao đổi với nhau trong những chuyến đi, đặc biệt nếu chuyến đi ấy là vô nghĩa rành rành, như chuyến đi này ắt sẽ như thế.
Tiếp theo họ phải làm tất cả thủ tục và giấy tờ của một bệnh viện tâm thần Thụy Sĩ. Cuối cùng, chưa được nhìn thấy bất cứ một bệnh nhân tâm thần nào đang được chữa trị, họ được một y tá đứng tuổi mặt kín như bưng dẫn vào một cái chòi nhỏ ở những khu đất phía sau bệnh viện, những khu đất rộng có thể nhìn ra cảnh quan tuyệt đẹp nhưng đổ dốc xuống, mà Pelletier, đang đẩy xe lăn của Morini, nghĩ rằng cảnh này không được thanh bình lắm đối với những người mắc bệnh tâm thần nhẹ hay nặng.
Họ ngạc nhiên nhận thấy cái chòi hóa ra là một chỗ ấm cúng, vây quanh là thông, những bụi hồng bò ven bức tường thấp, và những chiếc ghế bành bên trong phỏng theo kiểu tiện nghi của vùng quê nước Anh, rồi còn có cả lò sưởi, một bàn gỗ sồi, một kệ sách trống một nửa (các tựa sách hầu hết bằng tiếng Đức và Pháp, chỉ một ít bằng tiếng Anh), một chiếc bàn đặc biệt có máy tính và modem, một chiếc trường kỷ Thổ Nhĩ Kỳ đá chan chát với chỗ đồ đạc còn lại, một nhà vệ sinh có bồn cầu và bồn rửa, và cả buồng tắm hoa sen có cửa trượt bằng nhựa.
“Họ cũng không để nhà cửa quá tệ,” Espinoza nói.
Pelletier bước tới cửa sổ nhìn ra quang cảnh. Dưới chân núi, anh nghĩ mình thấy một thành phố. Có thể đó là Montreux, anh tự nhủ. Hoặc cũng có thể là thị trấn chỗ họ thuê xe. Sau rốt, ta không thể nhìn thấy hồ. Khi Espinoza bước lại cửa sổ anh nghĩ những ngôi nhà kia chính là thị trấn, chắc chắn không phải Montreux. Morini ngồi bất động trên xe lăn, nhìn cánh cửa chằm chằm.
♣ ♣ ♣
Cánh cửa mở ra, Morini là người đầu tiên nhìn thấy ông ta. Edwin Johns có mái tóc thẳng, trên chóp bắt đầu thưa, và làn da nhợt nhạt. Ông không đặc biệt cao, nhưng trông vẫn gầy. Ông mặc áo thun cổ lọ màu xám và áo khoác da. Thứ đầu tiên làm ông chú ý là xe lăn của Morini, ông biểu lộ một vẻ ngạc nhiên dễ chịu, như thể rõ ràng không trông đợi bất cứ thứ gì cụ thể như vậy. Morini, trong khi đó, không thể không liếc nhìn cánh tay phải của Johns, chỗ thiếu bàn tay, và anh rất ngạc nhiên, không dễ chịu chút nào, khám phá ra rằng ở chỗ lẽ ra phải trống lổng, một bàn tay thò ra từ cổ tay áo khoác của Johns, dĩ nhiên bằng nhựa, nhưng được làm rất khéo nên chỉ người nào để ý thật kỹ và đã được báo trước mới có thể nhận ra đó là đồ giả.
Từ phía sau Johns một y tá bước vào, không phải người đã đón họ mà là một người khác, một cô trẻ hơn và tóc vàng hơn nhiều, cô ngồi xuống một chiếc ghế kê bên cạnh một trong các cửa sổ và lấy ra một cuốn truyện bìa mềm dày cộp, cô bắt đầu đọc, bỏ quên Johns và các vị khách. Morini tự giới thiệu mình là giáo sư văn chương Đại học Turin, một người ngưỡng mộ tác phẩm của Johns, rồi kế tiếp giới thiệu các bạn của mình. Johns, nãy giờ vẫn đứng, chìa tay ra cho Espinoza và Pelletier, hai anh bắt tay cẩn thận, rồi ông ngồi xuống bàn và ngắm Morini, như thể trong lều chỉ có hai người.
Đầu tiên Johns, nhẹ nhàng như không, cố khơi chuyện. Ông hỏi Morini đã mua tác phẩm nào của ông chưa. Morini nói chưa, rồi anh đế thêm anh không đủ tiền mua tác phẩm của Johns. Espinoza nhận thấy cuốn sách mà cô y tá đang đọc rất chăm chú là một hợp tuyển văn chương Đức thế kỷ hai mươi. Anh huých Pelletier, và Pelletier hỏi cô y tá, để phá vỡ sự im lặng hơn là vì tò mò, Benno von Archimboldi có trong hợp tuyển đó không. Đúng lúc đó tất cả bọn họ đều nghe thấy tiếng quác quác của một con quạ. Cô y tá nói có. Johns bắt đầu hấp háy mắt rồi nhắm mắt lại và đưa bàn tay giả lên sờ mặt.
“Sách của tôi đấy,” ông nói, “tôi cho cô ấy mượn.”
“Không thể tin được,” Morini nói, “thật là trùng hợp ngẫu nhiên.”
“Nhưng dĩ nhiên tôi chưa đọc, tôi không nói được tiếng Đức.”
Espinoza hỏi vậy tại sao ông mua cuốn sách ấy.
“Vì cái bìa,” Johns nói. “Tranh của Hans Wette, một họa sĩ cừ. Còn nói về ngẫu nhiên, tin hay không tin chưa bao giờ là vấn đề. Toàn bộ thế giới là một sự ngẫu nhiên. Có người bạn bảo tôi nghĩ như vậy là sai. Anh bạn tôi bảo thế giới không phải là ngẫu nhiên đối với ai đó đi lại bằng tàu, kể cả nếu con tàu băng qua những vùng đất lạ, những nơi chốn người lữ khách sẽ không bao giờ gặp lại trong đời mình. Và cũng không phải là ngẫu nhiên với người dậy lúc sáu giờ sáng, để đi làm trong tình trạng kiệt sức; vì người ấy không có lựa chọn nào ngoài việc thức dậy và chồng chất thêm đau khổ lên những khổ đau mà anh ta đã tích lũy. Khổ đau được tích lũy, bạn tôi nói, đó là thực tế, và khổ đau càng lớn, ngẫu nhiên càng nhỏ.”
“Như thể ngẫu nhiên là một món xa xỉ?” Morini hỏi.
Khi đó, Espinoza, nãy giờ dõi theo màn độc thoại của Johns, để ý thấy Pelletier đứng bên cạnh cô y tá, một khuỷu tay chống trên gờ cửa sổ, trong khi tay kia, bằng một cử chỉ lịch thiệp, giúp cô tìm trang nơi truyện của Archimboldi bắt đầu. Cô y tá tóc vàng, ngồi trên ghế với cuốn sách mở trên đùi, và Pelletier, đứng bên cạnh cô, trong một tư thế không phải là thiếu ga lăng. Kế đó là gờ cửa sổ và những bông hồng ngoài vườn và ngoài xa là bãi cỏ lùm cây và buổi tối dấn đến băng qua các chỏm núi, khe núi và những vách đá cô đơn. Bóng tối khe khẽ luồn vào bên trong túp lều, tạo thành những góc cạnh trước đó không hề hiện hữu, những phác thảo mơ hồ thình lình xuất hiện trên các bức vách, những vòng tròn phai đi như những vụ nổ câm.
“Ngẫu nhiên chẳng phải là xa xỉ, nó chỉ là mặt trái của định mệnh, và ngoài ra còn là một thứ khác,” Johns nói.
“Thứ khác?” Morini hỏi.
“Một điều mà bạn tôi không thể nắm bắt được, vì một lẽ giản đơn và dễ hiểu. Bạn tôi (nếu tôi vẫn có thể gọi anh ta như thế) tin vào con người, và do vậy anh ta cũng tin vào trật tự, vào trật tự của tranh và trật tự của từ, bởi chúng ta dùng từ ngữ để vẽ. Anh ta tin vào sự cứu rỗi. Sâu xa anh ta thậm chí có thể còn tin vào sự tiến bộ. Sự ngẫu nhiên, mặt khác, là tự do toàn diện, số phận tự nhiên của chúng ta. Sự ngẫu nhiên không tuân theo luật lệ nào và nếu có đi nữa chúng ta cũng không biết được. Sự ngẫu nhiên, nếu anh không phiền tôi làm phép so sánh, giống như sự hiển lộ của Thượng đế tại mọi thời khắc trên hành tinh này. Một Thượng đế vô nghĩa ra những cử chỉ vô nghĩa đối với các sinh vật vô nghĩa. Trong cơn bão ấy, trong cuộc sụp đổ tận căn ấy, chúng ta tìm thấy sự tương thông. Sự tương thông của trùng hợp ngẫu nhiên với tác động của nó và sự tương thông của tác động ấy với chúng ta.”
Khi đó, đúng khi đó, Espinoza - và cả Pelletier - nghe thấy hoặc cảm nhận thấy Morini đang hình thành trong đầu câu hỏi mà anh đến để hỏi, giọng anh thấp xuống, người anh rướn ra thật xa đến nỗi họ sợ anh sẽ ngã khỏi xe.
“Tại sao ông lại tự chặt tay?”
Gương mặt Morini dường như bị xuyên thấu bởi những tia sáng cuối cùng cuộn ngang nền bệnh viện. Johns lắng nghe không biểu cảm. Cung cách ấy cho thấy ông đã linh cảm rằng người đàn ông ngồi xe lăn đã làm chuyến viếng thăm này để tìm kiếm một câu trả lời, như rất nhiều người khác trước anh ta. Rồi Johns mỉm cười và đặt ra câu hỏi của chính ông.
“Cậu có định đăng báo cuộc trò chuyện này không?”
“Dĩ nhiên không,” Morini nói.
“Vậy tại sao hỏi tôi một câu như thế?”
“Tôi muốn nghe câu trả lời từ chính ông,” Morini thì thào.
Bằng một cử động mà với Pelletier có vẻ chậm rãi và đã được tập dượt từ trước, Johns nhấc cánh tay phải lên và giơ trước gương mặt chờ đợi của Morini khoảng ba xăng ti mét.
“Cậu có nghĩ cậu giống tôi?” Johns hỏi.
“Không, tôi không phải nghệ sĩ,” Morini trả lời.
“Tôi cũng không phải nghệ sĩ,” Johns nói. “Cậu có nghĩ cậu giống tôi?”
Morini lắc đầu, và xe lăn của anh cũng di chuyển theo. Johns nhìn anh một lát, nở một nụ cười yếu ớt trên cặp môi mỏng, tái nhợt.
“Tại sao cậu nghĩ tôi làm chuyện đó?” ông hỏi.
“Thú thật, tôi không biết,” Morini nói, nhìn vào mắt ông.
Hoàng hôn giờ đây đã vây phủ Morini và Johns. Cô y tá nhớm người định đứng dậy bật đèn, nhưng Pelletier nhấc một ngón tay lên môi ngăn cô lại. Cô y tá lại ngồi xuống. Đôi giày của cô y tá màu trắng. Giày của Pelletier và Espinoza màu đen. Giày của Morini màu nâu. Giày Johns màu trắng và là loại dùng để chạy đường dài, trên những con đường lát đá của thành phố hay xuyên thôn quê. Đó là thứ cuối cùng Pelletier nhìn thấy màu của những đôi giày và hình dáng và sự bất động của chúng, trước khi màn đêm găm họ vào cái hư vô lạnh lẽo của dãy Alps.
“Tôi sẽ kể cậu nghe tại sao tôi làm việc ấy,” Johns nói, và đó là lần đầu tiên người ông thả lỏng, từ bỏ thế đứng cứng ngắc, đầy vẻ phòng bị, và ông gập người xuống bên Morini, nói gì đó vào tai anh.
Rồi ông thẳng người lên đi lại chỗ Espinoza bắt tay anh lịch thiệp và ông cũng bắt tay Pelletier, rồi rời khỏi túp lều và cô y tá đi theo ông.
Khi bật đèn lên, Espinoza chỉ ra rằng, lỡ hai người kia không để ý, Johns không hề bắt tay Morini ở đầu hay cuối buổi phỏng vấn. Pelletier đáp anh cũng để ý thấy vậy. Morini không nói gì. Một lát sau cô y tá đầu tiên đến đưa họ ra. Lúc băng qua sân cô bảo họ rằng xe đang đợi họ ở cổng.
Xe đưa họ về Montreux, ở đó họ qua đêm tại Khách sạn Helvetia. Cả ba đều mệt lử nên quyết định không ra ngoài ăn tối. Tuy nhiên, vài tiếng sau Espinoza gọi sang phòng Pelletier nói anh đói bụng và định xem thử có thể tìm thấy chỗ nào mở cửa không. Pelletier bảo đợi một chút, anh sẽ đi cùng. Gặp nhau ở sảnh, Pelletier hỏi anh có gọi Morini không.
“Có,” Espinoza nói, “nhưng không ai bắt máy.”
Họ đoán Morini chắc đã ngủ rồi. Đêm đó họ về khách sạn muộn và hơi ngà ngà. Sáng hôm sau họ sang phòng Morini tìm anh nhưng anh không có ở đó. Lễ tân bảo xem trên máy tính thì ông Piero Morini đã thanh toán và rời khách sạn lúc nửa đêm (trong lúc Pelletier và Espinoza đang ăn tối ở một nhà hàng Ý). Quãng giờ đó Morini đã xuống quầy tiếp tân yêu cầu một chiếc xe.
“Ông ấy đi lúc nửa đêm ư? Ông ấy đi đâu?”
Lễ tân dĩ nhiên không biết.
Sáng hôm ấy, sau khi kiểm tra chắc chắn Morini không ở trong bất cứ bệnh viện nào ở Montreux hay quanh đó, Pelletier và Espinoza đáp tàu đi Geneva. Từ sân bay Geneva họ gọi đến căn hộ của Morini ở Turin. Họ chỉ nghe được máy trả lời tự động, mà họ đáp lại bằng một tràng chửi rủa. Rồi mỗi người lần lượt bắt chuyến bay về nhà.
Vừa về tới Madrid Espinoza bèn gọi Pelletier. Pelletier về nhà đã được một tiếng, nói anh không có tin tức gì mới. Suốt cả ngày, cả Espinoza và Pelletier để lại những tin nhắn ngắn và càng lúc càng vô vọng trên máy trả lời tự động của Morini. Đến ngày thứ hai họ rơi vào trạng thái khổ sở, thậm chí còn tính bắt chuyến bay kế tiếp sang Turin báo cho cơ quan chức trách nếu không thể tìm thấy Morini. Nhưng họ không muốn vội vàng hoặc tỏ ra ngốc nghếch, nên họ không làm gì cả.
Ngày thứ ba y như ngày thứ hai: họ gọi cho Morini, họ gọi cho nhau, họ đong đo nhiều phương án hành động, họ cân nhắc sức khỏe tinh thần của Morini, sự chín chắn không thể chối cãi và sự hiểu biết của anh và không làm gì cả. Ngày thứ tư, Pelletier gọi thẳng đến Đại học Turin. Anh nói chuyện với một thanh niên người Áo làm việc tạm thời trong khoa tiếng Đức. Anh chàng người Áo không hề biết Morini có thể ở đâu. Pelletier yêu cầu anh nối máy với thư ký khoa. Anh người Áo thông báo cho anh rằng cô thư ký ra ngoài ăn sáng chưa quay lại. Pelletier ngay lập tức gọi cho Espinoza tường thuật chi tiết về cú điện thoại. Espinoza nói anh sẽ thử vận may.
Lần này người bắt máy không phải là cậu người Áo mà là một sinh viên văn chương Đức. Tiếng Đức của cậu sinh viên không tốt lắm, nên Espinoza chuyển sang tiếng Ý. Anh hỏi cô thư ký đã trở lại chưa. Cậu sinh viên đáp cậu ta chỉ ở một mình, mọi người đều ra ngoài, ắt là để ăn sáng, và không có ai ở khoa. Espinoza muốn biết mọi người ở Đại học Turin ăn sáng lúc mấy giờ và bữa sáng thường kéo dài bao lâu. Cậu sinh viên không hiểu được thứ tiếng Ý tồi của Espinoza nên Espinoza phải lặp lại câu hỏi hai lần, lần thứ hai có phần bực mình hơn.
Cậu sinh viên bảo như cậu ta thì hầu như không bao giờ ăn sáng, nhưng việc ấy chẳng có ý nghĩa gì, mọi người làm việc theo kiểu của họ. Anh hiểu hay không hiểu?
“Tôi hiểu,” Espinoza nghiến răng nói, “nhưng tôi cần nói chuyện với ai đó có thẩm quyền.”
“Cứ nói với tôi,” cậu sinh viên nói.
Espinoza hỏi liệu tiến sĩ Morini có bỏ dạy lớp nào không.
“Để xem, để tôi nghĩ đã,” cậu sinh viên nói.
Và rồi Espinoza nghe ai đó, chính cậu sinh viên chứ không ai khác, thì thầm Morini… Morini… Morini bằng một giọng nghe có vẻ không phải giọng cậu ta mà như giọng một phù thủy, hay chính xác hơn, một nữ phù thủy, một thầy bói từ thời Đế quốc La Mã, một thứ giọng chạm tới Espinoza như tiếng nhỏ giọt của một vòi nước làm từ đá bazan nhưng giọt nước ấy nhanh chóng trương phềnh lên và chảy tràn với một tiếng gầm điếc tai, với âm thanh của hàng nghìn giọng nói, tiếng gầm của một con sông lớn đang dâng lũ bao gồm số phận chung của tất cả mọi giọng nói.
“Ngày hôm qua ông ấy có lớp nhưng không có mặt,” cậu sinh viên nói sau khi suy nghĩ một lúc.
Espinoza cảm ơn và gác máy. Chiều hôm đó anh thử gọi Morini theo số điện thoại nhà riêng lần nữa rồi gọi cho Pelletier. Ở cả hai nơi đều không có ai ở nhà và anh đành để lại tin nhắn. Rồi anh bắt đầu ngẫm nghĩ. Nhưng ý nghĩ của anh chỉ trở lại với điều vừa xảy ra, với quá khứ rạch ròi, cái quá khứ giống với hiện tại theo một lối giả tạo. Anh nhớ giọng nói trên máy trả lời của Morini, tức giọng ghi âm của chính Morini, nói ngắn gọn nhưng lịch sự đây là số của Piero Morini vui lòng để lại tin nhắn, và giọng của Pelletier, thay vì nói đây là Pelletier, thì nhắc lại số điện thoại để loại trừ bất cứ sự mơ hồ nào, sau đó giục người gọi để lại tên và số điện thoại, và hứa hẹn mơ hồ sẽ gọi lại.
Đêm đó Pelletier gọi Espinoza và họ đồng ý, sau khi giúp nhau xua tan những linh cảm xấu, cứ để qua vài ngày, không rơi vào chứng kích động thông tục, và ghi nhớ rằng cho dù Morini làm bất kỳ điều gì, anh cũng tự do làm điều đó và họ không thể (hoặc không nên) làm gì để ngăn chặn. Đêm đó, lần đầu tiên kể từ khi từ Thụy Sĩ trở về, họ ngủ ngon giấc.
Sáng hôm sau hai người đi làm, thân thể đã được nghỉ ngơi và đầu óc nhẹ nhàng, mặc dù vậy đến mười một giờ, một chốc trước khi đi ăn trưa với đồng nghiệp, Espinoza suy sụp và gọi đến khoa tiếng Đức trường Đại học Turin, có cùng kết quả vô ích như trước. Sau đó Pelletier gọi từ Paris và họ thảo luận liệu có nên cho Norton biết chuyện gì đang xảy ra.
Họ cân nhắc thiệt hơn rồi quyết định che chắn cho sự riêng tư của Morini sau một tấm màn im lặng, ít ra cho đến khi họ có thêm thông tin cụ thể. Hai ngày sau, gần như theo thói quen, Pelletier gọi sang căn hộ của Morini và lần này có người nhấc điện thoại. Những từ đầu tiên của Pelletier bộc lộ sự kinh ngạc của anh khi nghe giọng bạn mình ở đầu dây bên kia.
“Không thể nào,” Pelletier hét lên, “làm thế nào được, không thể.”
Giọng Morini nghe vẫn như mọi khi. Rồi tiếp sau đó là niềm vui sướng, sự nhẹ nhõm, sự tỉnh thức từ một giấc mơ xấu, một giấc mơ khó giải nghĩa. Giữa chừng cuộc trò chuyện, Pelletier nói anh phải cho Espinoza biết ngay lập tức.
“Cậu không đi đâu chứ, phải không?” anh hỏi trước khi gác máy.
“Tớ đi đâu bây giờ?” Morini hỏi.
Nhưng Pelletier không gọi Espinoza. Thay vào đó anh rót cho mình một ít whiskey và vào trong bếp rồi nhà tắm rồi vào phòng làm việc, bật tất cả đèn trong căn hộ lên. Chỉ khi đó anh mới gọi cho Espinoza báo anh đã tìm thấy Morini an toàn nguyên vẹn và rằng anh mới nói chuyện với cậu ấy trên điện thoại, nhưng anh không thể nói thêm gì được. Sau khi gác máy anh uống thêm whiskey. Nửa giờ sau Espinoza gọi từ Madrid. Đúng vậy, Morini bình thường. Cậu ta không nói mấy ngày vừa rồi mình ở đâu. Cậu ta nói mình cần nghỉ ngơi. Để tập trung suy nghĩ. Theo Espinoza, vốn phải cố lắm để không hỏi dồn dập, Morini dường như đang che giấu gì đó. Tại sao ư? Espinoza tuyệt nhiên không có manh mối nào.
“Bọn mình thực sự biết rất ít về anh ấy,” Pelletier nói, bắt đầu ngán ngẩm với Morini, Espinoza, điện thoại.
“Cậu có hỏi cậu ấy cảm thấy thế nào không?” Pelletier hỏi.
Espinoza nói có và Morini đảm bảo với anh rằng mình ổn.
“Bày giờ chúng ta chẳng thể làm gì,” Pelletier kết luận bằng giọng buồn bã mà Espinoza không thể không nhận thấy.
Một lát sau họ gác máy và Espinoza cầm một cuốn sách lên cố đọc, nhưng không đọc được.
♣ ♣ ♣
Sau đó, trong khi người nhân viên hay chủ của phòng tranh cứ lấy váy xuống treo váy lên, Norton bảo họ suốt thời gian biến mất, Morini đã ở London.
“Hai ngày đầu tiên anh ấy chỉ một mình, không gọi cho em lấy một lần.”
Khi cô gặp anh anh nói anh dành thời gian viếng thăm các bảo tàng và lang thang qua những khu dân cư xa lạ, những khu lờ mờ gợi nhớ về những truyện ngắn của Chesterton nhưng không còn gì liên hệ tới Chesterton, mặc dù linh hồn của Cha Brown vẫn còn lơ lửng ở đó, không phải theo kiểu tôn giáo, Morini nói, như thể anh đang cố không quá ly kỳ hóa những chuyến ngao du cô độc của mình, nhưng thực sự Norton hình dung ra anh nhốt mình trong phòng khách sạn, rèm để mở, nhìn chằm chằm vào lưng những tòa nhà xám xịt buồn tẻ và đọc sách giờ này qua giờ khác. Rồi anh gọi cho cô và mời cô đi ăn trưa.
Đương nhiên, Norton rất vui khi nghe tin anh và biết anh đang ở trong thành phố, cô xuất hiện ở sảnh khách sạn vào giờ hẹn, ở đó Morini, ngồi trên xe lăn với một gói đồ trên đùi, nhẫn nại và điềm tĩnh tránh đám khách khứa náo động cả sảnh, phô ra một dòng lũ bất biến nào hành lý, gương mặt mệt mỏi, mùi nước hoa vương lại sau những cơ thể băng qua, những nhân viên khuân đồ mặt mũi đầy căng thẳng, những cái quầng bình thản bên dưới mắt viên quản lý hoặc cấp phó, mỗi người cùng hai phụ tá của mình đều đang tỏa ra sự tươi mới, sự tươi mới y như sự hy sinh háo hức toát ra từ các phụ nữ trẻ (dưới dạng chuỗi cười ma quái), mà Morini khéo léo làm ngơ. Sau khi Norton tới, họ cùng đi đến một nhà hàng chay Brazil ở Notting Hill mà Norton mới khám phá ra gần đây.
Khi Norton biết được Morini đã ở London hai ngày rồi, cô gặng hỏi anh làm những gì và tại sao anh không gọi. Chính lúc đó Morini đưa chuyện Chesterton ra, nói anh đã bỏ thời gian đi đây đi đó, khen ngợi cách thành phố quan tâm hỗ trợ người khuyết tật, không như Turin, nơi đầy trở ngại cho xe lăn, nói anh đã tới vài tiệm sách cũ và mua được vài cuốn sách anh không nói tên, đề cập hai chuyến viếng thăm nhà của Sherlock Holmes, đường Baker là một trong vài con đường yêu thích nhất của anh, một con đường mà với anh, một người Ý trung niên, có học hành, bị khuyết tật và là độc giả của tiểu thuyết trinh thám, là vĩnh hằng hoặc ở bên ngoài thời gian, được gìn giữ một cách âu yếm (mặc dù từ được dùng không phải là âu yếm mà là sạch bong) trong các câu chuyện của tiến sĩ Watson. Rồi họ ghé nhà Norton và ở đó Morini đưa cho Norton món quà anh mua cho cô, một cuốn sách về Brunelleschi, với phần hình ảnh xuất sắc do các nhiếp ảnh gia của bốn nước khác nhau chụp cùng các tòa nhà do kiến trúc sư vĩ đại thời Phục hưng này thiết kế.
“Đấy là những cách diễn giải,” Morini nói. “Nhiếp ảnh gia Pháp tuyệt nhất,” anh nói. “Tôi ít thích nhiếp ảnh gia Mỹ nhất. Quá phô trương. Anh ta quá háo hức khám phá Brunelleschi. Để là Brunelleschi. Nhiếp ảnh gia người Đức không tồi, nhưng theo tôi nhiếp ảnh gia Pháp là tuyệt nhất. Em phải nói với tôi em nghĩ gì đấy.”
Mặc dù cô chưa từng nhìn thấy cuốn sách, tinh tế cả về giấy lẫn cách đóng gáy, cuốn sách có nét gì đó khiến Norton cảm thấy quen thuộc. Ngày kế tiếp họ gặp nhau trước cổng một nhà hát. Morini có hai vé mua ở khách sạn, và họ đã xem một vở hài kịch tồi và tục làm họ cười khanh khách, Norton cười nhiều hơn Morini, vì đôi chỗ tiếng lóng của dân London Morini không theo được. Đêm hôm đó họ đi ăn tối và khi Norton hỏi Morini làm gì cả ngày anh nói anh thăm Vườn Kensington và Vườn Ý ở Công viên Hyde và lang thang đây đó, mặc dù vậy, Norton, vì lý do gì đó, tưởng tượng ra anh vẫn ngồi trong công viên, thi thoảng nhướn người để nhìn thứ gì đó mà anh không thấy rõ lắm, hầu hết thời gian anh nhắm mắt, giả vờ ngủ. Trong bữa tối, Norton giải thích những phần của vở kịch mà anh không hiểu. Chỉ khi đó Morini mới nhận ra nó tệ hơn anh nghĩ. Diễn xuất, tuy nhiên, được anh đánh giá cao hơn nhiều, và trở về khách sạn, trong khi cởi một phần quần áo mà không phải ra khỏi xe lăn, trước chiếc tivi câm lặng nơi anh và căn phòng được phản chiếu như những bóng ma trong một màn trình diễn mà sự thận trọng và lo sợ sẽ khiến mọi người tránh lên sân khấu, anh kết luận rốt cuộc vở kịch không quá tệ, nó xem được, anh đã cười ha hả, diễn viên diễn tốt, chỗ ngồi thoải mái và giá vé không cao lắm.
Ngày hôm sau anh nói với Norton anh phải đi. Norton chở anh ra sân bay. Trong lúc chờ, Morini, lấy giọng thản nhiên, nói anh nghĩ anh biết tại sao Johns chặt bàn tay phải của mình.
“Johns nào?” Norton hỏi.
“Edwin Johns, họa sĩ mà em kể với tôi,” Morini nói.
“Ồ, Edwin Johns,” Norton nói. “Vì sao?”
“Vì tiền,” Morini nói.
“Tiền?”
“Bởi vì ông ta tin vào đầu tư, dòng vốn, người ta phải chơi trò chơi để thắng, đại khái vậy.”
Norton có vẻ ngờ vực và rồi nói: có lẽ.
“Ông ấy làm chuyện ấy vì tiền,” Morini nói.
Rồi Norton hỏi anh (lần đầu tiên) Pelletier và Espinoza như thế nào.
“Tôi không muốn các cậu ấy biết tôi ở đây,” Morini nói.
Norton nhìn anh vẻ khó hiểu và bảo anh không phải lo, bí mật của anh sẽ an toàn. Rồi cô yêu cầu anh gọi điện khi về tới Turin.
“Dĩ nhiên,” Morini nói.
Một chiêu đãi viên hàng không yêu cầu nói chuyện với họ và vài phút sau cô mỉm cười rời đi. Hàng hành khách bắt đầu di chuyển. Norton hôn má Morini và chia tay.
♣ ♣ ♣
Trước khi họ rời phòng tranh, trầm tư nhưng gần như không chán nản, chủ nhân kiêm người phục vụ duy nhất bảo họ chỗ này sắp đóng cửa. Với một chiếc váy ngân tuyến trên cánh tay, ông nói căn nhà, mà phòng tranh này là một phần của nó, vốn thuộc về bà của ông, một quý bà đáng kính, đi trước thời đại. Khi bà qua đời căn nhà được chuyển sang cho ba đứa cháu, về lý thuyết là chia đều. Nhưng hồi đó, ông, một trong ba người cháu, đang sống ở vùng Caribe, ở đó ngoài học cách pha margarita ông còn thu thập thông tin và làm gián điệp. Một gián điệp hippie với vài thói quen khá xấu, ông tự tả mình như thế. Khi trở về Anh ông phát hiện ra rằng các em họ của mình đã chiếm toàn bộ căn nhà. Vậy là cãi vã bắt đầu. Nhưng nhờ luật sư thì tốn kém, cuối cùng ông đành chấp nhận lấy ba căn phòng, nơi ông dựng nên phòng tranh này. Nhưng tình hình kinh doanh tồi tệ: ông không bán được tranh hay quần áo cũ và hầu như không ai đến thử cocktail của ông. Khu này quá thời thượng đối với khách hàng của tôi, ông nói, giờ đây các phòng tranh đều nằm trong các khu lao động cũ, các quán bar nằm ở khu quán bar truyền thống, và người ở vùng này của thành phố không mua quần áo cũ. Khi Norton, Pelletier và Espinoza đứng dậy đi xuống cái cầu thang nhỏ bằng sắt dẫn ra phố, chủ phòng tranh bảo họ rằng, hơn hết, gần đây ông bắt đầu nhìn thấy hồn ma bà nội của mình. Lời thú nhận này khêu gợi sự quan tâm của Norton và các bạn.
Ông đã thấy cụ chưa? họ hỏi. Thấy rồi, người chủ phòng tranh nói, mặc dù thoạt đầu tôi chỉ nghe những tiếng động lạ, như tiếng nước và tiếng bong bóng. Những tiếng động mà ông chưa từng nghe thấy trong căn nhà này trước đây, mặc dù vì nó đã được chia ra để bán như những căn hộ và các phòng tắm mới đã được lắp đặt, có lẽ có giải thích hợp lý nào đó về những âm thanh ấy. Nhưng kế đó là những tiếng rên rỉ, những biểu hiện không hẳn của nỗi đau mà đúng hơn dường như của sự bối rối và bực bội, như thể hồn ma bà nội đang đi lại trong căn nhà cũ và không nhận ra nó, vì nó đã được chuyển đổi từ một ngôi nhà thành nhiều căn nhà nhỏ hơn, với những bức tường cụ không nhớ ra và đồ đạc hiện đại mà ắt cụ coi là tầm thường và những tấm gương ở những nơi trước đây không bao giờ có gương.
Đôi khi người chủ phòng tranh trầm cảm quá nên ngủ lại trong cửa hàng. Cái làm ông trầm cảm không phải là âm thanh hồn ma tạo ra, dĩ nhiên, mà là công việc kinh doanh trên bờ vực lụn bại. Vào những đêm ấy ông có thể nghe rõ tiếng chân của bà nội và tiếng rên rỉ của cụ khi cụ đi lên cầu thang như thể cụ không hiểu gì về thế giới của người chết hay thế giới của người sống. Một đêm, trước khi đóng cửa phòng tranh, ông thấy bóng cụ phản chiếu trong tấm gương duy nhất, một tấm gương soi toàn thân kiểu Victoria dựng trong một góc dành cho khách hàng thử váy. Bà cụ nhìn một trong những bức tranh trên tường, rồi liếc sang nhìn đồ trên các móc áo, rồi bà ngó hai cái bàn bơ vơ của phòng tranh, như thể chúng là sự sỉ nhục tối hậu.
Bà cụ kinh hãi rùng mình, người chủ phòng tranh nói. Đó là lần đầu tiên và lần cuối cùng ông nhìn thấy cụ, mặc dù thỉnh thoảng ông vẫn nghe tiếng cụ đi lại trên tầng trên, nơi chắc hẳn bà đang di chuyển xuyên qua các bức tường trước đây không tồn tại. Khi Espinoza hỏi công việc cũ của ông ở biển Caribe như thế nào, chủ nhân mỉm cười buồn và đảm bảo với họ là ông không khùng điên như người ta nghĩ. Ông bảo họ ông là gián điệp, theo cùng một cách như người khác làm việc cho cục kiểm duyệt hay trong một cơ quan thống kê nào đó. Lời của ông khiến họ nao nao, mặc dù họ không thể nói vì sao.
♣ ♣ ♣
Trong một hội thảo ở Toulouse họ gặp Rodolfo Alatorre, một thanh niên Mexico đọc lung tung trong đó có cả tác phẩm của Archimboldi. Chàng thanh niên Mexico, đang sống nhờ vào một học bổng viết văn và đang cố gắng, chừng như trong tuyệt vọng, viết một tiểu thuyết hiện đại, dự vài bài giảng rồi tự giới thiệu mình với Norton, Espinoza và Pelletier. Espinoza ngay lập tức gạt anh ta ra, còn Pelletier thì phớt lờ anh ta tuyệt đối, vì không có gì để phân biệt Alatorre với đám sinh viên đại học châu Âu trẻ tuổi nói chung là khó chịu vè vè quanh các vị thánh nghiên cứu Archimboldi. Điểm trừ lớn hơn nữa, Alatorre không nói được tiếng Đức, khiến cậu ta không đạt tiêu chí ngay từ đầu. Trong khi đó, hội thảo Toulouse là một thành công lớn, và lọt giữa cánh phê bình và chuyên gia quen biết nhau từ các hội nghị trước và ít nhất trên bề mặt dường như vui vẻ khi gặp lại nhau và háo hức nối lại các thảo luận cũ, cậu chàng Mexico có thể hoặc đi về nhà, một việc cậu rất ghét phải làm vì nhà cậu là phòng của một sinh viên sống nhờ vào học bổng còm cõi chỉ có sách vở giấy tờ chờ cậu, hoặc đứng trong một góc và mỉm cười ngô nghê giả vờ mình đang đắm chìm trong suy nghĩ, rốt cuộc cuối cùng thì cậu làm như vậy. Hóa ra, nhờ vào vị trí hay tư thế này mà cậu để ý thấy Morini, người giới hạn mình trên xe lăn và thờ ơ đáp lại chào hỏi của mọi người, thể hiện - hay ít ra dường như vậy đối với Alatorre - sự lạc lõng giống như chính cậu. Một chốc sau khi Alatorre tự giới thiệu, chàng thanh niên Mexico và Morini ra ngoài đi dạo dọc theo những con phố của Toulouse.
Đầu tiên họ nói chuyện về Alfonso Reyes, người mà Morini khá quen biết, rồi tới xơ Juana, Morini không thể quên cuốn sách của Morino - người chẳng khác nào chính là Morini - về các công thức của bà xơ Mexico. Rồi họ nói về tiểu thuyết của Alatorre, cuốn tiểu thuyết cậu định viết và cũng là cuốn tiểu thuyết duy nhất mà cậu đã viết cho tới giờ, và họ nói về đời sống của một thanh niên Mexico ở Toulouse, về những ngày đông lê lết, ngắn ngủi nhưng vô tận, những người bạn Pháp ít ỏi của Alatorre (người thủ thư, một sinh viên học bổng khác người Ecuador mà cậu thường gặp, một nhân viên quán bar mà hình ảnh Mexico trong suy nghĩ của anh ta khiến Alatorre thấy vừa kỳ dị, vừa bị xúc phạm), về những người bạn của cậu ở Mexico City và những người mà Alatorre viết những email dài đơn điệu nói về cuốn tiểu thuyết đang thành hình của mình, và về nỗi sầu muộn.
Một trong những người bạn Mexico City này, Alatorre nói, và cậu nói đầy vẻ ngây thơ, với kiểu khoe khoang vụng về điển hình của các cây bút nhỏ, đã gặp Archimboldi mới hôm nọ.
Thoạt tiên Morini, không để ý mấy và để mặc Alatorre kéo mình vào tất cả những chỗ mà cậu ta cho là đáng quan tâm, những chỗ thật ra, tuy không phải điểm dừng bắt buộc đối với du khách, đều ít nhiều thú vị, như thể nghề nghiệp bí mật của Alatorre phải là một hướng dẫn viên du lịch, không phải tiểu thuyết gia, đinh ninh rằng chàng thanh niên Mexico, vốn dù sao đi nữa chỉ mới đọc hai tiểu thuyết của Archimboldi, đang khoác lác hay nhầm lẫn hay nếu không thì cũng không biết rằng Archimboldi đã biến mất từ lâu rồi.
Câu chuyện Alatorre kể vắn tắt như sau: bạn cậu, một nhà viết tiểu luận, tiểu thuyết gia kiêm thi sĩ tên là Almendro, một người đàn ông tầm bốn mươi tuổi mà bạn bè thường gọi là El Cerdo, hay Con Heo, nhận được một cú điện thoại lúc nửa đêm. El Cerdo, sau khi trao đổi vài câu ngắn ngủi bằng tiếng Đức, thì mặc quần áo và phóng xe đến một khách sạn gần phi trường Mexico City. Mặc dù ban đêm, vào tầm giờ ấy, đường sá không đông đúc, nhưng khi anh đến khách sạn đã một giờ hơn. Một thư ký và một viên cảnh sát đang ở sảnh khách sạn. El Cerdo trình giấy tờ tùy thân, xác nhận mình là một quan chức chính phủ cao cấp, rồi anh theo viên cảnh sát lên một căn phòng ở tầng ba. Có hai cảnh sát khác ở đó và một ông già người Đức ngồi trên giường; tóc tai bù xù, mặc áo thun xám và quần jean, chân trần, như thể cảnh sát đến gặp đúng lúc ông đang ngủ. Rõ ràng là ông già người Đức, El Cerdo nghĩ, mặc nguyên quần áo mà ngủ. Một trong hai viên cảnh sát đang xem tivi. Người kia tựa vào tường hút thuốc. Viên cảnh sát đi cùng El Cerdo tắt tivi và bảo họ theo anh ta. Viên cảnh sát tựa vào tường yêu cầu giải thích, nhưng viên cảnh sát đi cùng El Cerdo bảo anh ta ngậm miệng lại. Trước khi các cảnh sát rời phòng, El Cerdo hỏi, bằng tiếng Đức, có phải họ lấy cắp gì của ông không. Ông già nói không. Họ vòi tiền, nhưng họ không ăn cắp gì.
“Thế là tốt,” El Cerdo nói bằng tiếng Đức. “Thế là tiến bộ.”
Rồi anh hỏi mấy viên cảnh sát họ ở đồn nào rồi để họ đi. Mấy viên cảnh sát đi rồi, El Cerdo ngồi xuống cạnh tivi và nói anh xin lỗi. Ông già người Đức đang ngồi trên giường đứng dậy không nói năng gì đi vào nhà tắm. Ông to cao, El Cerdo kể thế với Alatorre. Cao gần hai mét mốt. Ít nhất hai mét. Dù thế nào đi nữa: khổng lồ và đường bệ. Khi ông già ra khỏi nhà tắm, El Cerdo nhận ra ông đã mang giày và hỏi ông có thích chạy xe một vòng Mexico City hay ra ngoài uống rượu không.
“Nếu ông mệt,” anh nói thêm, “cứ bảo, tôi sẽ đi ngay.”
“Chuyến bay của tôi cất cánh lúc bảy giờ sáng,” ông già nói.
El Cerdo nhìn đồng hồ. Hai giờ hơn. Anh không biết nói gì. Cũng như Alatorre, anh hầu như không biết tới tác phẩm của ông. Các cuốn sách của ông được dịch ra tiếng Tây Ban Nha chỉ xuất bản ở Tây Ban Nha và đến Mexico muộn mằn. Cách đây ba năm, khi đứng đầu một nhà xuất bản, trước khi trở thành một trong những quan chức văn hóa cao cấp nhất trong chính phủ mới, anh đã cố xuất bản Thế giới ngầm Berlin, nhưng bản quyền đã thuộc về một nhà khác ở Barcelona. Anh tự hỏi làm sao ông già có số của anh, ai đã đưa nó cho ông. Chỉ gợi ra câu hỏi thôi, một câu hỏi mà anh không mong đợi câu trả lời, đã làm anh hạnh phúc, một cảm giác hạnh phúc tràn trề, khẳng định tư cách con người và nhà văn của anh.
“Chúng ta có thể đi nhậu,” anh nói. “Nào ta đi.”
Ông già choàng áo khoác da ra ngoài chiếc áo thun xám và đi theo anh. El Cerdo đưa ông tới quảng trường Garibaldi. Lúc họ tới ở đó không đông lắm, hầu hết du khách đã trở về khách sạn, chỉ còn những tay say sưa và đám chơi đêm, những người trên đường đi ăn khuya, và các ban nhạc mariachi biến tấu lại trận đá bóng gần nhất. Có mấy bóng dáng đáng ngờ lượn lờ quanh những con đường dẫn tới quảng trường, thỉnh thoảng dừng lại soi mói họ. El Cerdo thò ngón tay lên khẩu súng mà anh vẫn mang theo từ khi làm việc cho chính phủ. Họ vào một quán bar và El Cerdo gọi bánh taco nhân thịt heo. Ông già uống tequila còn anh uống bia. Trong lúc ông ăn, El Cerdo nghĩ về những thay đổi do cuộc đời có thể mang lại. Thậm chí cách đây chưa tới mười năm, nếu anh vào quán bar này và bắt đầu nói tiếng Đức với một ông già cao kều, ắt sẽ có người nhục mạ anh hay gây sự vì những cớ nhỏ nhất. Rồi trận ẩu đả sắp xảy ra sẽ được El Cerdo ngăn chặn bằng cách xin lỗi ai đó hoặc giải thích hoặc mua cho mọi người một lượt tequila. Bây giờ thì không ai quấy rầy anh, như thể hành vi mang súng dưới áo hay việc đảm nhiệm vị trí cao trong chính phủ mang đến cho anh hào quang của một vị thánh mà thậm chí các sát thủ hay kẻ say xỉn có thể ngửi thấy từ xa. Bọn hèn, El Cerdo nghĩ. Bọn chúng ngửi thấy mình, chúng ngửi thấy mình và chúng vãi ra quần. Rồi anh bắt đầu nghĩ về Voltaire (tại sao lại Voltaire, vì cái quái gì?) và rồi anh bắt đầu nghĩ về một ý tưởng cũ mèm mà anh đã cân nhắc bấy lâu, yêu cầu một vị trí đại sứ ở châu Âu, hay ít nhất một vị trí tham tán văn hóa, mặc dù với các mối quan hệ của anh vị trí bét nhất họ có thể dành cho anh là đại sứ. Vấn đề là làm ở đại sứ quán anh chỉ có mỗi lương, lương của đại sứ. Trong khi ông già người Đức ăn, El Cerdo đong đếm cái lợi cái hại của việc rời khỏi Mexico. Một trong những cái lợi chắc chắn là cơ hội cầm bút trở lại. Anh bị thu hút bởi ý tưởng sống ở Ý hay gần Ý và trải qua những tháng ngày dài ở Tuscany và Rome viết tiểu luận về Piranesi và những nhà tù tưởng tượng của ông, mà anh thấy đã được suy ra không hẳn từ các nhà tù Mexico mà trong các phiên bản tưởng tượng và có tính biểu tượng cho một vài nhà tù Mexico. Một trong những bất lợi, không nghi ngờ gì, là sự tách rời khỏi quyền lực. Tự cách ly mình khỏi quyền lực không bao giờ tốt, anh đã khám phá ra điều đó từ lâu, trước khi anh được trao quyền lực đích thực, khi là người đứng đầu nhà xuất bản định in Archimboldi.
“Này ông,” đột nhiên anh nói, “không phải là ông đáng ra đã phải biến mất ư?”
Ông già nhìn anh mỉm cười lịch sự.
♣ ♣ ♣
Cũng đêm hôm đó, sau khi Alatorre lặp lại câu chuyện của mình cho Pelletier, Espinoza và Norton, họ gọi cho Almendro, tức El Cerdo, và El Cerdo đã kể lại cho Espinoza những điều về căn bản Alatorre đã kể cho anh. Theo một nghĩa nào đó, quan hệ giữa Alatorre và El Cerdo là quan hệ thầy trò hoặc anh em. Thực tế, chính El Cerdo kiếm được cho Alatorre học bổng ở Toulouse, mà theo nghĩa nào đó nó đã chứng thực mức độ quan tâm El Cerdo dành cho cậu em nhỏ của mình, vì anh có quyền cấp những học bổng hào nhoáng hơn ở những chỗ uy tín hơn, chưa nói tới việc bổ nhiệm vị trí tham tán văn hóa ở Athens hay Caracas, vốn cũng chẳng quá to tát nhưng cũng là gì đó, và Alatorre ắt sẽ rối rít cảm ơn anh về việc bổ nhiệm, mặc dù có Chúa biết rằng cậu không hề nhăn mũi chê bai món học bổng vặt ở Toulouse. Lần kế, cậu chắc El Cerdo sẽ hào phóng hơn. Almendro, trong khi đó, chưa tới năm mươi và bên ngoài ranh giới Mexico City, công trình của anh ít được biết đến. Nhưng ở Mexico City, và nói cho ngay, ở vài trường đại học Mỹ, tên tuổi của anh lại quen thuộc, thậm chí quá mức quen thuộc. Vậy, làm thế nào mà Archimboldi, cứ cho ông già người Đức là Archimboldi chứ không phải kẻ giả mạo đùa cợt nào đó, có được số của anh? El Cerdo tin rằng ấy là do biên tập viên người Đức của Archimboldi, bà Bubis. Espinoza hỏi, không phải là không bối rối, liệu El Cerdo có biết quý bà vĩ đại ấy.
“Dĩ nhiên,” El Cerdo nói. “Tôi dự một bữa tiệc ở Berlin, một charreada văn hóa với một số biên tập viên Đức, và chúng tôi được giới thiệu với nhau ở đó.”
Charreada văn hóa là cái quái quỷ gì? Espinoza viết trên một mẩu giấy, câu hỏi ai cũng nhìn thấy nhưng chỉ Alatorre có thể đọc ra, mà nó vốn dĩ cũng là dành riêng cho Alatorre.
“Chắc tôi đã đưa cho bà ấy danh thiếp của mình,” El Cerdo của Mexico City nói.
“Và ông để số điện thoại nhà trên danh thiếp.”
“Đúng vậy,” El Cerdo nói. “Ắt tôi đã đưa cho bà ấy danh thiếp A. Danh thiếp B chỉ có số văn phòng. Và danh thiếp C chỉ có số thư ký của tôi.”
“Tôi hiểu,” Espinoza nói, cố sức mà kiên nhẫn.
“Danh thiếp D thì không có gì, để trắng, chỉ có tên tôi, vậy thôi,” El Cerdo vừa nói vừa phá ra cười.
“Hiểu rồi, hiểu rồi,” Espinoza nói, “chỉ tên.”
“Chính xác,” El Cerdo nói. “Tên tôi, chấm hết. Không có số điện thoại hay chức danh hay đường phố nơi tôi sống hay gì hết, anh hiểu tôi nói gì chứ?”
“Tôi hiểu,” Espinoza nói.
“Nên rõ là tôi đã đưa danh thiếp A cho bà Bubis.”
“Và bà ấy ắt đã chuyển cho Archimboldi,” Espinoza nói.
“Đúng thế,” El Cerdo nói.
♣ ♣ ♣
El Cerdo ở lại với ông già người Đức đến tận năm giờ sáng. Sau khi ăn (ông già đói bụng đã gọi thêm taco và tequila, trong khi El Cerdo vùi đầu như đà điểu vào những ngẫm ngợi về nỗi u sầu và quyền lực), họ đi dạo quanh Zocalo, viếng thăm quảng trường và những đống đổ nát của người Aztec bật lên như hoa huệ trên đất hoang, theo mô tả của El Cerdo, những bông hoa đá giữa những bông hoa đá khác, một sự hỗn độn chắc chắn không dẫn tới đâu, chỉ tới thêm những hỗn độn, El Cerdo nói, trong khi anh và ông già Đức cuốc bộ trên những con đường quanh Zocalo, về hướng quảng trường Santo Domingo, nơi đó, ban ngày, dưới những mái vòm, những tay viết thuê bằng máy đánh chữ dựng cửa hàng đánh máy thư từ và các đơn kiện. Rồi họ đi xem tượng Angel trên đại lộ Reforma, nhưng đêm hôm đó khu tượng Angel tối om và trong khi họ lái xe quanh bùng binh, El Cerdo chỉ có thể mô tả nó cho ông già Đức, ông nhìn lên từ cửa sổ xe để mở của mình.
Năm giờ sáng họ trở về khách sạn. El Cerdo hút thuốc chờ ở sảnh. Khi từ thang máy bước ra, ông già mang theo một vali cá nhân và vẫn mặc chiếc áo thun xám và quần jean đó. Đường tới sân bay vắng hoe và El Cerdo vượt nhiều đèn đỏ. Anh cố nghĩ ra chuyện gì để nói, nhưng chẳng nghĩ ra được đề tài nào. Lúc ăn, anh đã hỏi ông già rằng trước đây ông đã tới Mexico chưa, và ông già trả lời chưa, thật kỳ lạ, bởi vì hầu hết nhà văn châu Âu lúc này lúc khác đều từng đến đây. Nhưng ông già nói đây là lần đầu của ông. Gần tới sân bay xe cộ xuất hiện nhiều hơn và đường bắt đầu tắc. Khi họ đánh xe vào bãi đỗ, ông già cố tạm biệt, nhưng El Cerdo nhất quyết đi cùng ông.
“Đưa vali cho tôi,” anh nói.
Vali có bánh xe và nhẹ bẫng. Ông già sắp bay từ Mexico City đến Hermosillo.
“Hermosillo?” Espinoza hỏi lại. “Đó là đâu?”
“Bang Sonora,” El Cerdo nói. “Đó là thủ phủ của Sonora, Tây Bắc Mexico, cái bang nằm kế Mỹ.”
“Ông định làm gì ở Sonora?” El Cerdo hỏi.
Ông già lưỡng lự một chút trước khi trả lời, như thể ông quên mất phải nói thế nào.
“Tôi định xem nó thế nào,” ông nói.
Mặc dù vậy El Cerdo không chắc. Có thể điều ông thực sự nói là ông sắp học gì đó.
“Hermosillo?” El Cerdo nói.
“Không, Santa Teresa,” ông già nói. “Cậu có biết chỗ đó không?”
“Không,” El Cerdo nói. “Tôi đã tới Hermosillo vài lần, có vài bài nói chuyện văn chương, lâu rồi, nhưng chưa bao giờ tới Santa Teresa.”
“Tôi nghĩ đó là một thành phố lớn,” ông già nói.
“Đúng, lớn,” El Cerdo nói. “Ở đó có các nhà máy, cả các rắc rối nữa. Tôi không nghĩ đó là một nơi dễ chịu.”
El Cerdo rút thẻ căn cước của mình ra và đi kèm ông già đến tận cổng khởi hành. Trước khi chia tay anh đưa ông một danh thiếp. Một danh thiếp A.
“Phòng trường hợp ông dính vào rắc rối,” anh nói.
“Cảm ơn nhiều,” ông già nói.
Họ bắt tay và El Cerdo chưa bao giờ gặp lại ông.