Qua tháng 8, tự thiêu được trở thành một chiến dịch. Nhà cầm quyền bó tay trước chiến dịch này.
Tổng nha Cảnh sát cũng như cơ quan tình báo Phủ Tổng thống nhận được báo cáo đầy đủ về chiến dịch tự thiêu. Thượng tọa Trí Quang được coi là tác giả của chiến thuật tuyệt diệu này. Mỗi địa phương (miền Trung) theo sự sắp xếp và bố trí đã có sẵn một số ứng viên tự thiêu cùng với việc làm thế nào để gây được sự xúc động trong quần chúng và tạo được sự hoang mang trong quân đội, nhất là giới quân nhân Phật tử. Hầu hết các ứng viên tự thiêu đều dưới 25 tuổi và thời gian vào chùa đi tu không quá 5 năm.
Sau vụ tự thiêu của Đại đức Nguyên Hương, ngày 13-8-1963 Đại đức Thanh Tuệ mới vào chùa tu được 3 năm cũng tự thiêu. Đại đức Thanh Tuệ tự thiêu vào 2g đêm tại cửa tam quan chùa. Vụ tự thiêu của Đại đức Thanh Tuệ đã nêu lên một dấu hỏi lớn - một nghi vấn về chính quyền. Theo báo cáo của cơ quan an ninh Thừa Thiên thì Đại đức Tuệ là một nhà sư trẻ, hiền hoà và rất chăm học. Nhưng Đại đức Thanh Tuệ đã bị một số người thúc đẩy tự thiêu. Đó chỉ là báo cáo của an ninh. Tất nhiên nhiều lắm người ta chỉ có thể tin được 40%. Bản báo cáo nêu rõ bà vãi Cao Thị Dò, trên 60 tuổi sống tại chùa đã lâu năm và chuyên lo việc nấu ăn, dọn dẹp. Khoảng nửa đêm, bà thấy có một số người lạ mặt vào chùa gặp Đại đức Thanh Tuệ rất lâu. Bà không để ý gì cả…Khoảng hai giờ sau, bà nghe thấy tiếng la hét thất thanh ghê rợn…bà hoảng hồn chạy ra hiên, thì lúc đó ngọn lửa đã bùng lên ở cửa tam quan.
Ngày 15-8-1963, Ni cô Diệu Quang lại tự thiêu trước trụ sở chi hội Phật học Ninh Hoà. Ni cô Diệu Quang nguyên quán tại Huế. Tuy tu ở chùa Vạn Thạnh nhưng Ni cô lại không tự thiêu ngay tại Nha thành mà lại bất thần đáp xe đò ra Ninh Hoà và nổi lửa tự thiêu ngay tại đây.
Trước đó ít ngày cơ quan tình báo phủ Tổng thống phát giác có một nhóm người chủ động trong chiến dịch tự thiêu và sẽ tung ra từng loại ứng viên tự thiêu về các địa phương để nổi lửa tranh đấu. Đại tá Lê Quang Tung Tư lệnh Lực lượng đặc biệt trình với ông cố vấn Nhu đầy đủ hồ sơ và tin tức về chiến dịch kỳ hiệu này. Ông Nhu ra lệnh: 1) Phải dập tắt chiến dịch ngay; 2) Làm thế nào bắt Trí Quang, người bị cơ quan tình báo nghi là tác giả của chiến dịch tự thiêu; 3) Khi xảy ra vụ tự thiêu nào thì chính quyền địa phương phải lập tức lấy xác đem vào nhà thương thông báo cho tang gia biết và chính quyền giúp đỡ họ trong việc tống táng.
Cơ quan tình báo Phủ Tổng thống còn bắt được binh nhì Ngô Văn Nghĩa, phục vụ tại quân đoàn II. Binh nhì Nghĩa đào ngũ từ tháng 2-1963, anh vào Sài Gòn làm nghề xích lô. Binh nhì Nghĩa sinh quán tại Bồng Sơn dưới 30 tuổi. Khi bắt được Nghĩa ngoài bản tài liệu gồm một số chỉ thị về kỹ thuật tự thiêu, cơ quan tình báo còn tịch thu một số thuốc mê…và một số chai thuốc chích loại an thần cực mạnh.
Nhờ vụ bắt được Ngô Văn Nghĩa cơ quan tình báo nắm được đầu dây mối nhợ của chiến dịch tự thiêu. Binh nhì Nghĩa cho biết, anh ta sắp xuống Mỹ Tho, đem theo một Đại đức nổi lửa tự thiêu trước toà Tỉnh trưởng Định Tường. Qua lời khai của Nghĩa, cơ quan tình báo bắt thêm một số người trong đó có một cụ già người miền Bắc vào Nam di cư trước năm 1940, cụ già này tục danh là ông Sáu Bắc từ đồn điền cao sư Hớn Quảng về Sài Gòn và trung tuần tháng 7, khi nhân viên tình báo ập vào căn nhà ở đường Tháp Mười giữa đêm đầu tháng tám thì lúc ấy ông Sáu Bắc đang ở trần mặc quần sà lỏn và đang nhậu cùng ba thanh niên. Khám chiếc rương của ông già Sáu Bắc nhân viên tình báo thu được một số bạc khoảng bảy chục ngàn đồng.
Ông già Sáu Bắc bị bắt đã khai đại cương rằng: ông không biết Thượng tọa Trí Quang cũng như Thượng tọa Tâm Châu là ai cả, ông chỉ nghe chính quyền đàn áp sư sãi và Phật tử. Khi được hỏi ai đưa ông già về Sài Gòn để tự thiêu thì ông già khai là Sáu Trừng. Một cái tên lạ hoắc đối với cơ quan an ninh.
Nhưng ít nhất thì các vị lãnh đạo Phật giáo lúc ấy theo nhu cầu đòi hỏi của cuộc tranh đấu tất nhiên đã chấp thuận dễ dàng mọi sự tình nguyện hy sinh, dù sự tình nguyện đó được thúc đẩy bởi một động cơ nào thì ai ở trong cương vị lãnh đạo một cuộc tranh đấu như cuộc tranh đấu của Phật giáo năm 1963 cũng không thể mất thì giờ để cân nhắc, truy tầm nguyên nhân. Cứu cánh của một số cán bộ cao cấp của Phật giáo (phe quốc gia hữu phái và tả phái) là lật đổ chế độ Ngô Đình Diệm, nhưng để có một chế độ tốt đẹp hơn trong đó Phật giáo đóng vai trò hàng đầu (như Thượng tọa Trí Quang đã ' nuôi hy vọng Phật giáo trở thành quốc giáo) thì cũng chưa ai dám khẳng định. Còn ông Nhu ở thế chính quyền thì cứu cánh của ông là phải bảo vệ và giữ vững chế độ. Trong cuộc tranh đấu của Phật giáo đã có hai con đường đi song song. Con đường bên kia là phía Cộng sản, con đường bên kia là Phật giáo… ông Nhu chỉ còn một thế duy nhất là phong toả ngay cả 2 con đường và bịt lối tắt giao liên. Đó cũng là lý do khiến ông Nhu phải ra tay hành động vào ngày 20-8.
CHUẨN BỊ DƯ LUẬN ĐỂ RA TAY
Trước khi ra tay hành động, ông Nhu đã khôn khéo chuẩn bị dư luận. Nhưng cuộc chuẩn bị của ông không thành công vì thiếu tính quần chúng và cán bộ thừa hành (cấp Bộ trưởng) đã không đủ khả năng thực hiện một cuộc phản tuyên truyền và tuyên truyền đen để tạo dư luận thuận lợi cho kế hoạch hành động.
Thanh niên Cộng hoà ra tuyên cáo số 2 và số 3 cũng như những lời tuyên bố nảy lửa của bà Nhu đã tác động được tâm lý khối quần chúng trầm lặng và đơn giản của tổ chức Thanh niên Cộng hoà và tập trung hầu hết các công chức nam nữ. Tổ chức này dưới mắt quần chúng chỉ là công cụ của chính quyền. Còn kỹ thuật phản tuyên truyền và tuyên truyền đen (propagende noire) đã không được sử dụng và nếu có thì lại quá lộ liễu (như truyền đơn của một số thương phế binh và mấy tổ chức khác).
Bà Ngô Đình Nhu thay vì nên im lặng và nếu có chống thì chống bằng cách khác (có thể sử dụng tuyên truyền đen) đã lại quá hăng say, phát ngôn bừa bãi và hậu quả là chỉ tạo cho phía tranh đấu có thêm khí thế và có thêm cơ hội phản công chính quyền.
Tại Đại hội của Phụ nữ Liên đới tại Toà Đô chánh Sài Gòn vào thượng tuần tháng 8, bà Nhu lại dùng từ “nướng sư" để nói về các vụ tự thiêu của tăng sĩ. Dư luận Phật giáo lại thêm phẫn uất trong khi cuộc hoà giải có xu hướng tốt đẹp.
Ông Mai Thọ Truyền cũng không mong muốn gì hơn là thu xếp cho êm đẹp càng sớm càng hay. Các lời tuyên bố của bà Nhu giúp cho phe "tích cực" (gồm Thượng tọa Trí Quang, Đại đức Nghiệp, Đại đức Giác Đức và các sinh viên Phật tử) có cớ để chinh phục và chế ngự khuynh hướng ôn hoà khi khuynh hướng này muốn hoà giải với chính quyền.
Để phản ứng lại với thái độ và ngôn từ của bà Ngô Đình Nhu, ngày 12-8 nữ sinh Mai Tuyết An nữ Phật tử chi hội Phật tử Thị Nghè đã dùng búa chặt cánh tay trái để cúng dường Phật tử và kêu gọi tinh thần tranh đấu của học sinh sinh viên. Hành động chặt tay của nữ sinh Mai Tuyết An đã có tác dụng lớn trong giới sinh viên học sinh, nhất là phía nam sinh viên thì hành động của Mai Tuyết An trở thành một biểu tượng hy sinh và khích động mạnh vào lòng tự ái của họ “Phận gái còn như vậy huống chi nam nhi"…
Giới hầu cận của Tổng thống Diệm cho biết cứ mỗi lần nhận được tin tự thiêu hay chích máu, chặt tay, Tổng thống Diệm lại lầm lì một cách khôn tả.