Senora Viuda de Contreras nhấc đầu dậy khỏi gối đầy cảnh giác. Tiếng chân bước trên hành lang lát gạch bên ngoài căn phòng để cửa mở đã đánh động bà. Âm thanh nghe ngập ngừng, như thể đôi chân không rõ nên giậm hẳn xuống sàn hay nên rón rén trên hai mũi chân.
“Có phải con đó không?” Bà gọi vọng ra.
Senora Viuda đang nằm dài trên một cái ghế bành để dưỡng bệnh. Dạo gần đây, người phụ nữ xinh đẹp và oai nghiêm này thường xuyên rơi vào tình trạng ấy. Cặp lông mày không nhổ, rậm và đen nhánh như hai vệt than, khiến khuôn mặt bà lúc nào cũng mang dáng vẻ thanh thản. Những đường ngang thẳng tắp luôn có công dụng vậy đấy. Mái tóc huyền hãy còn dày, mới chỉ bạc đi ở bên hai thái dương, nhìn hệt như lông đuôi một con gà giò, bóng loáng và được uốn thành những lọn cong nho nhỏ. Chiếc khăn tay tẩm nước hoa gấp gọn rồi đắp ngang trên trán là thứ duy nhất giúp bà chống chọi với cơn bệnh. Bà không phải hạng người sợ sệt bệnh tật và suốt ngày rên rỉ. Đau đớn là thứ mà mỗi người nên giữ riêng cho mình và chỉ chia sẻ với Chúa.
Sau khi nghe bà hỏi, bước chân kia quyết định giậm hẳn xuống sàn. Hoặc nói đúng hơn là bước tiếp theo giậm xuống, bước ban nãy là sự đã rồi. Thêm một vài bước hơi miễn cưỡng, và rồi một thiếu nữ xuất hiện bên ngưỡng cửa. Hầu hết các cô gái đều xuân sắc rực rỡ ở độ tuổi mười tám, với nàng thì điều đó lại càng đúng. Đến cả bộ tang phục tối màu phủ kín thân mình, thậm chí cả tấm mạng mỏng manh tựa làn khói cũng không thể làm lu mờ nhan sắc ấy. Nàng lặng lẽ đứng nhìn người phụ nữ hiền lành đang duỗi người trên ghế, người có khả năng nhận biết được những bước chân nhẹ nhàng nhất. Đôi khi, dường như bà còn nhìn thấu được cả những suy tư sâu kín nhất.
“Con làm mẹ tỉnh giấc à, mamacita (thưa mẹ) ? Giờ mẹ đã thấy đỡ hơn chưa?”
Senora Viuda với sang chiếc bàn bên cạnh, xòe cái quạt xếp nhỏ đen bóng, bắt đầu phe phẩy. Hành động này không liên quan gì đến nhiệt độ căn phòng mà thật ra, nó là dấu hiệu cho thấy sắp diễn ra một màn tra hỏi. Một màn tra hỏi dông dài và kỹ lưỡng. Cặp lông mày vẫn thẳng đuột như thước kẻ.
“Ngồi xuống một phút đi, Conchita mia (Conchita của mẹ) . Ra đây, ngồi cạnh mẹ nào.”
Conchita tiến về phía trước, dịch một cái ghế ra, đoan trang ngồi xuống mép ghế.
“Thế, đúng rồi.” Cái quạt tiếp tục phe phẩy nhẹ nhàng. Thiếu nữ dịch cả hai cổ chân xuống dưới gầm ghế.
“Nói mẹ nghe đi, hija (con gái) .”
Một khoảng lặng xuất hiện, chỉ có cái quạt là vẫn còn chuyển động. “Con đang định ra nghĩa trang All Saints để thăm mộ ba đúng không?” Cuộc tra hỏi đã bắt đầu.
Nàng ngẩng lên khỏi mấy ngón tay nãy giờ cứ vặn vẹo. “Hôm nay là ngày đặt tên của ba[15]. Mình không nên để kệ nó trôi qua. Bởi vì mẹ bị ốm, con nghĩ là có thể mình sẽ…”
Senora Viuda gật đầu đầy nhân từ. “Một cô con gái ngoan ngoãn sẽ không lãng quên người ba đã mất của mình. Cô ấy sẽ thường xuyên thăm viếng người đã khuất và đặt hoa tươi lên ngôi mộ ấy. Như thế mới phải đạo.” Cái quạt đung đưa đều đều. “Lần chót con ra mộ ba là khi nào?”
“Tuần trước, hình như thế… con không nhớ chính xác. Tại sao mẹ lại hỏi vậy, mamacita (thưa mẹ) ?”
“Mẹ chỉ đang băn khoăn thôi. Mẹ không hiểu tại sao tự nhiên con lại nhiệt tình thế, tình cảm thế và có thể nói là locura (điên rồ) đến thế.”
Cái quạt khép lại, chĩa thẳng lên trời, sau đó lại hạ xuống, xòe rộng và tiếp tục phe phẩy.
“Mẹ không thích chuyện này. Ở tuổi con, như thế là không ổn. Thế là trái tự nhiên. Đâu phải ba con mới rời xa chúng ta ngày hôm qua. Giờ đã là 5 năm rồi, cầu cho ông ấy được yên nghỉ. Hồi đó con mới chỉ mười ba và rất yêu quý ông ấy. Con đã đau khổ vô cùng. Bueno (Không sao cả) . Thế rồi, đúng với bản chất người trẻ, mọi chuyện qua đi. Con lại giống mọi đứa con gái khác cùng trang lứa, thích đi coi cine (phim ảnh) vào chiều Chủ nhật, thỉnh thoảng mua một helado (que kem) từ hàng bánh kẹo, đại loại như thế.
“Giờ, bất chợt nỗi buồn đau bi thảm này xâm chiếm lấy con, khiến con gạt đi mọi mối quan tâm khác. Mẹ thấy con rầu rĩ hàng giờ liền, gần như phát điên. Con ra nghĩa trang All Saints bao lần cũng chưa thỏa, ở lại bao lâu vẫn không đủ. Con không ăn uống hay ngủ nghê được gì, không thể nghĩ được đến ai ngoài người đã khuất. Như thế thật không lành mạnh, thật quá sầu thảm.”
Cái quạt không ngừng lại dù chỉ một giây. Bài độc thoại ấy cứ tiếp diễn, mang một vẻ kiên quyết đầy dịu dàng, không tăng âm lượng, không đe dọa, không ra lệnh gì hết. Chỉ nêu ra sự thật mà thôi.
“Chuyện này phải ngừng lại ngay lập tức. Con không được ra nghĩa trang nữa. Làm thế là không bình thường. Mẹ không thể hiểu nổi. Ở độ tuổi này, con không nên nghĩ về thế giới bên kia liên miên như thế.”
Thiếu nữ nhìn mẹ với ánh mắt cầu khẩn như sắp rơi lệ đến nơi. “Chỉ một lần nữa thôi, madrecita (mẹ yêu) . Chỉ nốt hôm nay thôi, sau đó con sẽ không đi thăm mộ nữa, nếu mẹ ra lệnh như vậy.”
“Được rồi, chỉ một lần nữa thôi. Vào ngày mai. Ngày mai, khi đã khỏe hơn, mẹ sẽ đích thân đưa con ra đó, nếu con nhất quyết muốn đi.”
Conchita trông có vẻ bối rối, gần như là hoảng sợ khi nghĩ đến lời đề nghị ấy. “Nhưng hôm nay là ngày đặt tên thánh của ba! Chỉ lần này thôi mà. Mẹ nhìn xem, con đã chuẩn bị sẵn sàng để lên đường rồi. Giờ đã hơn 4 rưỡi. Con có thể chạy ào đi rồi quay lại ngay. Chỉ thêm đúng lần này nữa thôi…”
Senora Viuda lắc đầu e ngại, hòa cùng điệu phất tay của cái quạt. “Chỉ cần quá một lần thôi là chuyện cũng trở nên tai hại rồi, con gái của mẹ à. Có khi lần này sẽ là giọt nước tràn ly đấy, biết đâu được? Đừng đi, hãy nghe mẹ đi con. Ban nãy mẹ vừa gặp phải một giấc mơ mà mẹ không thích chút nào.”
Thiếu nữ thoáng tỏ vẻ quan tâm. “Về con sao? Mẹ mơ thấy gì vậy ạ?”
“Chỉ đơn giản là mẹ nghe thấy giọng con gọi mẹ từ một nơi tối tăm nào đó, thế mà mẹ không tài nào đến được chỗ con.”
Nàng khúc khích cười xòa. “Chỉ vậy thôi ạ? Hồi ở trường, các nữ xơ toàn dặn bọn con là không được tin vào những thứ như thế.”
Senora Viuda không coi nhẹ tín ngưỡng, nhưng bà lẩm bẩm một câu nghe giống như “Các xơ có phải là những bà mẹ không?”
Bà tiếp tục phẩy quạt, vẫn chưa chịu ưng thuận. “Ở nhà đi con,” bà nài nỉ. “Ở nhà, bên trong bốn bức tường ấm cúng, nơi con thuộc về. Hãy đọc sách hay khâu vá, ngồi cạnh mấy chấn song cửa sổ, nhìn ra ngoài đường, mơ những giấc mộng của một thiếu nữ. Hoặc ra sân hiên sau nhà, ngồi đó tắm mình trong ánh ráng chiều, ngắm nghía hình bóng của mình trong làn nước, chải một kiểu tóc tân tiến ngớ ngẩn nào đó. Ở đây thì chuyện tệ nhất có thể xảy đến với con là gì? Chỉ là thời giờ như dài hơn thôi. Thời gian trôi đi quá chậm còn hơn là quá nhanh. Ngày mai chúng ta sẽ ra ngoài chơi, mua cho con thứ gì đó ở cửa hàng, nhấm nháp chút refresco (nước giải khát) , ngồi ngắm đám đông túm tụm bên các bàn xung quanh…”
Bà thở dài. Ngay cả khi con gái chưa kịp đáp lời, bà đã nhận ra những gì mình nói chẳng có tác dụng gì hết.
“Nếu con thực sự mong mỏi thì cứ đi đi,” bà miễn cưỡng nhân nhượng. “Nhưng hôm nay sẽ là lần cuối cùng.”
Thế rồi khi thiếu nữ vừa mới dợm đứng dậy, lòng vui sướng vì đã được phóng thích, một động tác quạt khiến nàng phải đứng sững lại.
“Và mẹ muốn con hiểu một điều. Con không được ra đó cùng Rosita nữa.”
Conchita sững sờ. “Nhưng con không thể đi một mình được! Còn ai có thể…?”
“Mẹ không tin Rosita. Con bé ham vui đó chỉ lớn hơn con có vài tháng tuổi, không phải một người đồng hành thích hợp! Đáng ra mẹ phải cấm từ lâu rồi. Chẳng hiểu từ trước đến giờ mẹ nghĩ cái gì nữa. Nếu con muốn ra khỏi nhà, bác Marta sẽ đưa con đi.”
Nghe đến đây, một vẻ kinh hãi không giấu giếm nổi hiện lên trên gương mặt thiếu nữ. Trước khi nàng kịp đáp lời, có tiếng điện thoại vọng lại khe khẽ từ một căn phòng xa xăm nào đó.
“Rosita!” Bà chủ nhà gọi.
Sau một lúc chờ đợi mà xem chừng là người được gọi chỉ giả vờ chạy từ chỗ khác đến, một cô giúp việc trẻ tuổi ưa nhìn xuất hiện trước ngưỡng cửa, đầu đã quấn sẵn một tấm khăn choàng. Trước đó, ngoài hành lang không vang lên bất cứ tiếng bước chân nào.
“Sí, Senora? (Vâng, thưa bà?) ”
“Vừa nãy ai gọi điện đấy?”
“Hẳn nhân viên tổng đài đã nhầm lẫn. Lúc cháu nhấc ống nghe lên thì không thấy ai trả lời, chẳng có người nào ở đầu dây bên kia cả.”
Cặp lông mày nằm ngang của Senora Viuda hơi cong lên, sau đó lại duỗi ra.
“Thỉnh thoảng nhà mình vẫn hay nhận được mấy cuộc gọi như thế. Cháu cởi bỏ khăn choàng được rồi đấy, Rosita,” bà thờ ơ nói thêm, “cháu sẽ không phải ra ngoài đâu.”
Cô giúp việc đưa tay lên chiếc khăn, các ngón tay nấn ná trên mặt vải như thể đang hi vọng mệnh lệnh ấy sẽ được hủy bỏ. “Nhưng Senorita Conchita muốn cháu cùng với cô ấy đi…” Cô ta đáp, giọng hổn hển đến kỳ lạ.
“Gọi Dona Marta đi, bác ấy sẽ đi với Conchita thay cháu.”
Cặp mắt đen láy của cô ta nhìn chăm chăm vào gương mặt bà chủ, như thể chúng rất muốn nhìn sang một người khác trong phòng nhưng bị giữ cứng lại. Cô ta khẽ nhún đầu gối, “Sí, Senora (Vâng, thưa bà) ,” sau đó biến mất khỏi ngưỡng cửa.
Senora Viuda quay lại với con gái. Bấy giờ nàng ngồi như một con chiên đang sám hối, mắt cá chân thứ hai rút hẳn vào dưới ghế và nhập bọn với bên còn lại, cả hai tay đang bận rộn hết vần vò lại vuốt phẳng phần váy phía trên đầu gối. Cảm thấy ánh mắt của mẹ đang săm soi mình, thiếu nữ ngước lên qua cặp mi dài, xác nhận, rồi cụp mắt xuống.
Bà mẹ lại cất giọng nói nghiêm nghị đầy quyền uy mà hiền dịu đến lạ kỳ, “Lại đây một phút đi con gái.”
Conchita đứng dậy, bước sang bên cạnh cái ghế bành, ngồi xuống ngang tầm mắt mẹ. Cái quạt cuối cùng cũng đã ngưng phe phẩy. Suốt quãng thời gian còn lại của buổi tra hỏi, nó được đặt gọn sang một bên.
Senora đưa tay ra, mấy đầu ngón tay vươn về phía cằm con gái và nhẹ nhàng đỡ lấy nó. Bà ngờ vực nhìn thẳng vào mắt nàng.
Cặp mắt thiếu nữ không có lấy một chút xao động, chúng như những viên pha lê tinh khiết, do sự ngây thơ kết tinh lại mà thành.
“Con biết không, không phải mẹ sinh ra đã là một phụ nữ trung niên, một góa phụ như con thấy bây giờ. Mẹ cũng đã từng là một thiếu nữ trẻ trung và từ đó đến nay cũng chưa nhiều năm trôi qua đâu. Hijita de mi alma (Con gái yêu của mẹ) , hãy khắc cốt ghi tâm điều này. Bất cứ việc gì con nghĩ trong đầu thì mẹ cũng từng nghĩ trước con rồi. Bất cứ việc gì con làm thì mẹ cũng từng làm trước con rồi. Cả bà ngoại hay bà cố của con cũng thế. Phụ nữ chẳng có gì mới hết. Mẹ biết hết, mẹ hiểu hết.”
“Biết gì vậy, madrecita (mẹ yêu) ?” Câu hỏi được thở ra khẽ khàng đến mức gần như không nghe thấy gì hết.
Senora Viuda âu yếm hôn lên vầng trán con gái yêu như lệ thường, sau đó bà đặt lên môi nàng một nụ hôn còn trìu mến hơn.
“Con là một thiếu nữ ngọt ngào. Con như ánh dương buổi sớm trên bầu trời chiều ảm đạm của mẹ. Con sẽ chẳng bao giờ gây nên những việc không thể tha thứ nổi. Chỉ là trên đời có những chuyện ngay thẳng và có những chuyện sai trái. Con hãy còn non nớt, trong khi thế giới này thì già dặn rồi. Khi con trưởng thành hơn chút nữa, mẹ không muốn con phải xấu hổ lúc nhìn lại những năm tháng tuổi trẻ, mình đã hành xử dễ dãi và lố lăng thế nào. Nếu có ai đem lòng quyến luyến con thì người ấy cần đến nhà ta, theo đúng tập tục của chúng ta. Tốt hơn là một người do mẹ, chú Felipe, hay một người họ hàng lớn tuổi nào đó, giới thiệu với con.”
“Mamacita, con không hiểu ý mẹ…”
Senora Viuda phẩy tay một cách khoan dung. “Mẹ chưa nói gì hết. Chỉ là tâm can mẹ đang giãi bày với tâm can con thôi. Giờ hãy đi đi nếu lòng con đã dứt khoát, đi với bác Marta và nhớ về nhà ngay. Mặt trời sắp sửa lặn rồi, thế nên đừng có nhẩn nha…”
Mặc dù không hề nhảy bật dậy, nhưng chưa gì Conchita đã đến bên khung cửa đang rộng mở, hệt như vừa được giải phóng khỏi xiềng xích.
Khi ra tới ngưỡng cửa, nàng quay lại trong một khắc. “Madre mía (Mẹ của con) , mẹ vừa bảo gì cơ?”
“Không có gì đâu. Con cứ đi đi.”
Điều Senora Viuda vừa mới thốt thành lời, phần nào là tự lẩm bẩm cho bản thân nghe, kèm theo một tiếng thở dài cam chịu, “Chẳng ích gì đâu. Từ thuở xa xưa đã như thế và mãi về sau cũng sẽ như vậy. Không ai có thể thay đổi thế giới.”
Ngoài hành lang, Conchita đi ngang qua chỗ Rosita. Hai người bước qua nhau như thể hoàn toàn không để ý đến sự hiện diện của nhau, hay ít nhất là họ đang cố gắng ra vẻ như thế. Cô tiểu thư thì thầm, “Mẹ sẽ cho bác Marta đi cùng em, em phải làm gì bây giờ?”
Cô giúp việc đưa tay trái ra sau và nắm lấy tay thiếu nữ lúc nàng đi ngang qua, như thể đang động viên tinh thần đối phương.
Conchita nhìn xuống. “Cái gì đây?”
“Đừng sợ, nó sẽ chỉ khiến bà ta trở nên lờ đà lờ đờ thôi.”
“Em phải làm ư? Em không làm được đâu!”
Cô giúp việc đưa cả hai tay ra phất lia lịa, quả quyết trấn an thiếu nữ.
“Nó sẽ không gây hại cho bác ấy chứ?” Conchita thì thào đầy áy náy.
“Chẳng có gì ghê gớm cả, chỉ là một loại thảo mộc mọc trên núi mà chị mua từ một tay người Ấn ở ngoài chợ. Chị đã tự dùng thử rồi. Nó chỉ khiến cho… Suỵt! Bà ta đến kìa.”
Họ lại tiếp tục di chuyển.
Một bà cô luống tuổi, tầm khoảng sáu mươi, đầu đội khăn sẵn sàng xuống phố, đang tiến vào hành lang.
“Con đã chuẩn bị xong chưa, bông hoa của bác? Con đã chào mẹ mình chưa?”
Sau đó bác ta nạt nộ đầy cáu kỉnh với Rosita, “Vào trong kia hầu hạ Senora đi, con nhỏ vô dụng! Có thể bà chủ sẽ cần nhờ mày làm việc gì đấy.”
Conchita lách qua chỗ bác ta. “Bác đợi cháu ở cửa nhé. Cháu quay về phòng đúng một giây thôi.”
Thiếu nữ dừng lại trước tấm gương trong phòng, bồn chồn ngắm nghía bản thân như thể muốn đảm bảo mình phải trông thật lộng lẫy để gây ấn tượng với người đang yên nghỉ trong nghĩa trang. Nàng mở tung một ngăn kéo, lôi một thỏi son từ chỗ giấu bí mật ra, vội vã quệt nó lên môi. Rồi nàng lại hạ tấm mạng xuống trước mặt, che khuất đi nét trang điểm mình vừa thực hiện, và nhanh chóng quay lại hành lang để gặp người đồng hành bây giờ.
Bác gái Marta đã gọi một xe ngựa đến trước cửa và ngồi đợi sẵn trong đó. Có vẻ bác ta thấy việc dùng xe chạy xăng tới nghĩa trang thật không đúng mực.
“Đến chợ hoa!” Bác ra lệnh cho ông đánh xe ngay khi thiếu nữ mảnh mai mang mạng che mặt đã leo lên ngồi cạnh mình.
10 phút sau, sau khi chạy qua một vài con phố hẹp móc nối quanh co, họ ra đến một khu chợ nhỏ nằm trước một nhà thờ khổng lồ sơn màu hồng đất, được thiết kế theo phong cách kiến trúc của thực dân Tây Ban Nha. Điểm nổi bật của nó là những bậc thềm rộng bằng đá đã mòn vẹt dẫn lên nhà thờ chính, trải kín toàn bộ chiều ngang của khu chợ. Ngoài một lối đi hẹp nằm chính giữa dẫn thẳng lên cổng nhà thờ, mấy bậc thềm thênh thang gần như chìm nghỉm dưới một thảm hoa đa sắc màu và liền mạch, chen giữa đó đây là một vài mái bạt. Phải nhìn thật kỹ thì mới thấy nó được chia thành các ô mua bán nhỏ, mỗi ô do một thương lái cai quản.
Một số người dựng quầy hàng di động, cột căng vải bạt hoặc chiếu rơm để ngăn ánh nắng mặt trời chiếu vào mấy món hàng dễ héo của mình. Những người không đủ tiền làm vậy thì chỉ đơn thuần ngồi xổm trong các khung vuông trống trên bậc thềm, hàng hóa bày biện khắp xung quanh, buộc lại thành bó hoặc cụm, cắm trong mấy bình đất sét chứa đầy nước.
Bầu không khí hăng hăng một thứ mùi khó tả, cấu thành từ dương xỉ, lá nát, cánh hoa và thân hoa bị bầm giập và giày xéo. Nồng đậm hơn tất cả là mùi mằn mặn kỳ quái bốc lên từ những phiến đá lát lâu đời thấm đẫm nước cả ngày mà không có thời gian khô đi. Thứ mùi này là sự pha trộn cân bằng giữa sức sống xanh tươi đang nở rộ và tình trạng héo rữa tù đọng. Nơi đây chính là chợ hoa, ngày nào cũng mở tại đúng vị trí này suốt hai trăm năm qua, từ lúc bình minh cho đến khi mặt trời xế bóng.
Đến chân bậc thềm, người hộ tống của Conchita chui ra khỏi xe rồi quay đầu lại hỏi, “Bác nên mua loại hoa nào?”
Thiếu nữ cũng xuống xe cùng bác ta. “Cháu sẽ đi cùng bác. Cháu muốn được tự tay lựa chọn.”
Marta dợm phản đối là không cần thiết phải làm như thế, rằng mình sẽ làm hộ nàng, nhưng Conchita đã vượt lên trước. Nàng chậm rãi bước dọc lối đi chính, nhìn ngó xung quanh, bị một tràng những tiếng mời chào inh tai, ngon ngọt, hoa mỹ và nịnh nọt ập đến từ cả hai bên đường, đeo bám theo nhịp bước chân. Thế rồi chúng lại thất vọng tắt ngấm đi sau lưng thiếu nữ ngay khi nàng ra khỏi tầm với, tiến vào ô bán hàng kế bên. Mấy bàn tay rướn về phía Conchita, nài nỉ níu áo váy nàng, tất cả đều bị Marta gạt phắt đi, đành phải hạ xuống.
“Ra đây nào, nina (cô gái) , mấy bông hồng đang vẫy gọi em đó!”
“Nhìn này, chiquita (cô bé) , hoa cẩm chướng đang van nài được mua đấy. Chỉ 10 centavito. Thôi thì 5 centavito đi. Cháu muốn giá nào cũng được. Chỉ cần mua chúng thôi, mua đi!”
Giờ đã muộn và chợ đã sắp hết phiên.
Marta dừng lại, “Chỗ hoa này được không, nina (cô gái) ?”
Conchita liếc quanh, vẫn không ngừng leo tiếp. “Không, mình lên trên đỉnh này đi. Cháu luôn mua hoa từ quầy cuối.”
Thực tình mà nói, quầy hàng nàng vừa chỉ tay có ít chủng loại hơn nhiều gian hàng mà họ đã đi qua. Chủ quầy là một bà lão với gương mặt hằn nhiều nếp nhăn mảnh, trông như có ai đem màn chống muỗi ra vẽ lên mặt bà vậy.
“Cho cháu mấy bông này.” Conchita cầm lên một bông hồng bạch và đưa lên sát tấm mạng che mặt, hít vào một hơi khiến nó lõm nhẹ xuống.
“Sí (Vâng) , thiên thần, si (được) !” Bà bán hàng lắp bắp đáp, vội vã gom hoa lại. “Hoa hồng trắng, vừa xinh mà lại vừa trẻ trung như cháu vậy.”
“Cả hoa dành dành nữa,” Conchita chỉ.
Marta chìa tay ra đón lấy mớ hoa không thắt dây. “Để bác cầm cho, chúng cào rách váy áo con mất.” Bác ta đưa cho bà lão một đồng xu, sau đó quay người lựa chân bước xuống bậc thềm trơn trượt.
Tuy nhiên, bà bán hàng vẫn chưa thấy thỏa mãn. “Nhìn này, một cụm hoa violet trắng cho cùng bộ. Chỉ còn mỗi chừng này thôi.”
Bà lão đặt một ngón tay lên cạnh mũi đầy ngụ ý mấy giây, mắt liếc về phía người hộ tống của thiếu nữ. “Bà giữ lại cho cháu cả ngày hôm nay rồi. Miễn phí! Bà sẽ tặng cháu miễn phí!” Bà lão kéo váy nàng hai lần, cứ như thể nó là một sợi dây chuông.
Thiếu nữ đỡ lấy chúng rồi theo chân người đồng hành của mình bước xuống thềm, ấp cụm hoa sát mặt. Chúng được bó lại bằng một thứ lá lớn. Trước khi quay vào trong xe, nàng đã kịp rút một mẩu giấy gấp nhỏ buộc quanh cuống hoa. Nàng mở nó ra bằng một bên tay, hạ thấp xuống khuất tầm mắt Marta và đọc nó trong lúc họ lắc lư băng qua các tuyến phố hẹp ngoắt ngoéo thất thường ra nghĩa trang.
Mẩu giấy chỉ ghi vài chữ. Một lời nhắn nhủ đã quá xưa cũ, chẳng nói lên điều gì hết, nhưng lại nói lên tất cả.
Tình yêu dịu ngọt của đời anh. Hôm nay em lại ra chỗ hẹn chứ? Anh sẽ đợi. Cả tuần nay anh đếm từng giờ rồi, kể từ lần gặp mặt trước. Tình yêu dịu ngọt của đời anh, hãy rủ lòng thương xót kẻ si tình này.
Bằng cách nào đó, Conchita đã xoay xở gập được mẩu giấy lại, luồn nó vào trong găng tay chỉ bằng một ngón cái. Thế rồi nàng lại ấp mặt vào cụm hoa violet. Như Senora Viuda đã nói, không ai có thể thay đổi thế giới.
Cỗ xe ngựa ra khỏi khu phố cổ với những con đường lát sỏi vòng vèo quanh co, nơi những gia đình danh giá và thủ cựu như nhà nàng cư ngụ. Họ đi vào một trong những khu bán ngoại ô mới, chỗ ở ưa thích của dân ngoại quốc và những người giàu thích phô trương, học đòi theo lối sống nước ngoài. Những người này thậm chí còn để cho con gái của mình ra khỏi nhà mà không có phụ nữ lớn tuổi đi kèm. Hai bác cháu băng qua khu này trên một con đường rải nhựa thẳng băng và rộng rãi, sau đó ra đến vùng đồng quê trống trải, rồi đi thêm một đoạn nữa. Sau đó, xa xa phía trước, một hàng bạch dương xanh thẫm mọc đều tăm tắp bắt đầu ló ra khỏi gò đất. Khi họ đã lên đến đỉnh gò, chúng như bật thẳng lên đằng sau dãy tường đá trải rộng hút tầm mắt, chập vào với con đường trước mặt.
Hàng cây đổi hướng và chạy men theo con đường một đoạn. All Saints nổi danh là nghĩa trang lớn nhất thành phố, nếu không phải là lớn nhất thế giới. Người ta đồn rằng nó đủ rộng để mai táng mọi thi hài trên đời cùng một lúc.
Bên kia đường, nhà cửa đã xuất hiện trở lại, được dựng lên nhằm phục vụ những người sống thường lũ lượt kéo ra đây trong những ngày Chủ nhật và một số dịp lễ để tỏ lòng thành kính với người quá cố. Có thể nhìn thấy một cửa hàng khắc bia mộ, trên sân ngổn ngang các loại tiểu quách trang trí, những bức tượng tiểu thiên sứ, thiên thần khóc thương, cùng với thánh giá. Ngoài ra, còn một gian hàng ăn uống và nhiều hàng quán khác. Chúng nằm rời rạc, cách nhau một khoảng xa, mang trên mình vẻ tiêu điều trống vắng chứ không nhộn nhịp đông đúc.
Xe đỗ lại bên cổng chính với cánh cửa đồng khổng lồ nằm dưới một vòm đá, hai vị khách lần lượt chui ra. “Quay lại đón chúng tôi sau nửa tiếng nữa, không hơn,” Marta nhắn với ông đánh xe.
Cỗ xe chầm chậm chuyển bánh và đi về đâu thì chỉ có ông đánh xe mới biết, có lẽ là quán rượu gần nhất tại ngã tư trước mặt. Trong lúc xe rời đi, Conchita chần chừ chừng một phút, ra chiều do dự.
“Bác Marta ơi, trước khi vào trong, mình ra cái quán bên kia đường và ngồi nghỉ một phút được không? Cháu đang khát lắm.”
Marta gắt gỏng phản đối, ép bẹp bó hoa xuống để có thể nhòm qua chúng và trông rõ mặt thiếu nữ, “Không, nina (cô gái) . Sao mình làm thế được? Mẹ con bảo bác phải đưa con về nhà ngay. Nhìn kìa, mặt trời đã xuống thấp lắm rồi. Đêm sẽ buông trước khi chúng ta kịp về nhà mất.”
“Vào ngồi có mất bao lâu đâu?” Thiếu nữ nũng nịu.
“Chúng ta ra đây để thăm mộ ba con hay để giải khát?” Bác gái già bực bội nói, vẫn dứt khoát không chịu.
“Chỉ một tách trà bạc hà thôi. Bác thích trà bạc hà lắm mà. Giờ này ở nhà bác toàn uống thôi.”
Marta bắt đầu lung lay, hiển nhiên đang bị cám dỗ. Bác ta liếc sang bên kia đường, như thể đang ước đoán xem nếu ghé qua quán rồi quay lại thì sẽ mất bao lâu. “Nhưng vào viếng mộ trước rồi ghé quán nước sau chẳng phải sẽ hay hơn sao? Nghĩa trang đóng cửa mất.”
“Cháu sắp xỉu đến nơi rồi, bác Martita à. Tại sao bác không chiều cháu vậy?”
Người đồng hành của nàng lập tức lo lắng rối rít. “Ôi trời đất ơi, sao con không bảo sớm hơn? Chẳng hiểu bác nghĩ gì trong đầu nữa, cứ đứng đây tranh cãi mãi. Đi nào cưng, nắm lấy tay bác, chúng ta sẽ qua quán ngay.”
Họ nhích sang đường, tốc độ lề mề kinh khủng và nói thật thì chủ yếu là do bà bác mập mạp đưa tay đưa chân chậm chạp chứ không phải là do thiếu nữ mảnh khảnh yếu đuối gì cho cam. Bác Marta thậm chí còn tận tâm dặn dò nàng chớ có bước vội, “Đừng đi nhanh thế, linda (người đẹp) . Con bị choáng bây giờ.”
Giờ này quán gần như vắng tanh. Một anh bồi bàn đang kẹp khay dưới cánh tay, ra đứng ân cần bên cửa, đợi xem họ quyết định ngồi đâu rồi mới tiếp tục bước đi. Trong dải sân lát gạch đất nung trước quán bày một dãy bàn sắt cao lêu khêu với mặt bàn bé tí, trông vô cùng thảm hại. Mỗi chiếc bàn bị vây kín bởi một đống ghế chân mảnh, nhiều hơn khoảng trống xung quanh bàn.
“Mình vào bên trong cho kín đáo đi,” Conchita nhã nhặn đề nghị.
Từ khoảng không sáng sủa bên ngoài, họ bước tiếp vào trong một vùng không gian tù mù như hang động, chứa đựng một biển bàn sắt khác. Chúng cũng mỏng manh hiu quạnh y hệt đồng loại ngoài sân. Một tấm biển bìa cứng ghi Có bia el sol được treo lỏng lẻo quệt vào đầu Marta khi bác ta bước bên dưới. Bà cáu kỉnh gạt nó sang bên.
Hai người ngồi đối diện nhau trong một quầy nhỏ sát tường, bác giám hộ cùng bó hoa ở một bên, thiếu nữ đi viếng mộ một bên.
Anh bồi bàn lại gần. “Buenos dias (Xin chào) .”
“Buenos dias (Xin chào) ,” bác Marta làu bàu cụt ngủn, đúng kiểu chào hỏi thường thấy giữa những người làm công.
Conchita đợi đến khi anh ta đã rời đi rồi mới vén tấm mạng lên, phong thái đoan trang như một thiên thần.
Không gian xung quanh bắt đầu hiện lên rõ ràng hơn một chút khi mắt họ đã bắt đầu làm quen với nơi đây, mặc dù vẫn chỉ như đang nhìn qua làn nước xanh ngọc nơi đại dương sâu thẳm. Đồng thời khi ấy, ánh sáng bên ngoài cũng đang dịu xuống rất nhanh, mất dần độ chói lọi tương phản.
Họ ngồi đó một lúc. “Chúng ta sẽ không vào kịp mất,” Marta rên rỉ. “Thế là mình ra đây chỉ tổ tốn công vô ích.”
Bác ta dịch đầu và vai ra ngoài ghế để quan sát khu vực yên ắng phía sau quán, khum hai bàn tay lại và đập rầm rầm xuống bàn, phá vỡ sự im lặng thành từng mảnh vụn.
“Muchacho! (Chàng trai trẻ!) Bọn tôi đang vội!” Bác ta giục giã.
Anh bồi bàn chậm chạp quay lại, không thể nào đi nhanh hơn bởi trên cái khay đang mang là tách trà thơm ngào ngạt đầy đến miệng cùng cốc nước chanh.
Marta gục xuống tách trà. Lúc ngẩng lên, bác ta chép môi đầy khoan khoái. Conchita, bấy giờ đang ngồi quay mặt ra bên ngoài, tiếp tục quan sát con đường. Trông nàng giống như đang chủ tâm chờ đợi thứ gì đó đi ngang qua và hút lấy ánh mắt mình hơn là theo dõi một thứ đã khiến mình chú ý. Đột nhiên, nàng bật ra một tiếng cười khe khẽ, chĩa một ngón tay về phía cảnh vật ngoài kia.
“Bác nhìn mà xem! Vừa có một người đi ngang qua, nom buồn cười lắm. Không biết anh ta là ai nhỉ?”
Marta, khi ấy ngồi quay lưng với con đường, vội vã xoay người lại và cố gắng nhìn qua mép vách ngăn quầy phía sau.
Chốc sau, bác ta quay lại và nhún vai. “Bác chẳng thấy ai cả.”
Một gợn sóng nhỏ đang lan tỏa trong tách trà.
“Bác để hụt mất anh chàng rồi. Anh ta vừa mới đi ngang qua đây thôi.”
Marta nói, “Trông con tái lắm, nina (cô gái) .”
Quả đúng là gương mặt Conchita đang tái lại. Nàng không quen lừa lọc thành viên trong nhà một cách trắng trợn như thế này. Nói đúng hơn, nàng không quen lừa bất kỳ người nào hết.
Một vài phút nữa trôi qua. Marta đặt tách trà rỗng xuống.
“Nào pequena (cô gái bé nhỏ) , mình phải đi thôi.”
“Ngồi thêm một phút nữa đi bác. Trong này thoải mái quá. Cháu vẫn chưa uống xong cốc nước chanh.”
“Mặt trời sắp lặn đến nơi rồi. Chẳng mấy chốc mà trời sẽ tối sầm lại. Mình không thể lần mò trong bóng tối được đâu…”
“Trông bác có vẻ mệt mỏi thế nhỉ, bác Marta ơi.”
Như thể chỉ sau khi điều ấy được nhắc đến thì bác Marta mới nhận ra. “Đúng là bác mệt thật. Sáng nay bác đi lễ lúc 6 giờ.” Bác ta thở dài thườn thượt. “Cứ đến cái tuổi của bác thì…”
“Bác ngả đầu ra miếng lót da một phút đi,” thiếu nữ đề xuất.
“Làm vậy ngoài nơi công cộng trông không được hay lắm.”
“Ở đây làm gì có ai nữa.”
Đầu bác gái già dần dà tự ngửa ra phía sau, thế rồi bác ta sung sướng nhắm mắt lại và trút ra một hơi thở sâu đầy thư giãn. Bác giữ được thẳng đầu chỉ tầm một phút, sau đó thì nghiêng dần sang một bên cho đến khi chạm vào cái góc giữa bức tường và vách ngăn, dựa hẳn vào đó. Nhịp thở của bác ta bắt đầu trở nên khò khè hơn, đôi môi hơi hé mở.
Thiếu nữ im lặng ngồi thêm một lúc nữa. Từ từ dịch người ra ngoài mép ghế cho đến khi không còn bị cái bàn cản trở, nàng đứng hẳn dậy, vẫn không rời mắt khỏi gương mặt người đồng hành của mình. Giờ phần quai hàm nặng nề của bác ta đang lay động nhẹ theo từng nhịp thở.
Conchita cẩn thận thò tay xuống chỗ bó hoa bên cạnh bác Marta, đỡ chúng lên khuỷu tay, cẩn thận giữ chúng không gây sột soạt quá mức. Nàng ôm được gần hết, có điều vẫn để lọt mất một bông hồng bạch cuống dài, đành để mặc nó nằm lại. Loay hoay tìm cách nhặt bông hồng lên có khi sẽ khiến nàng làm rơi hết hoa trên tay.
Thiếu nữ lách người đi qua biển bàn ghế, lướt đi như một hồn ma vận đồ đen, bóng hình hằn trên ánh nắng đang dần tàn lụi bên ngoài. Sau khi đến lối ngang trống trải dẫn ra cửa trước, nàng ra dấu gọi anh bồi bàn về phía mình. Rồi nàng tiến thêm một bước, đồng thời đưa ngón tay lên môi nhắc anh ta im lặng.
“Sí, senorita? (Vâng, thưa cô?) ”
“Bác nodriza (bảo mẫu) nhà em đang rất mệt. Pobrecita (Thật tội nghiệp quá) . Em sẽ để bác ấy nghỉ lại đây vài phút. Chừng nào em chưa quay lại thì anh đừng đánh thức bác ấy dậy nhé. Em chỉ sang bên kia đường thôi. Em sẽ quay lại đón bác ấy trong khoảng 15 phút nữa.”
“Tôi sẽ làm đúng như senorita yêu cầu,” anh ta kính cẩn thì thào. Hiển nhiên một thiếu nữ thanh lịch vận tang phục với một bó hoa lớn trên tay sẽ đi thăm viếng nghĩa trang, nào ai có thể nghi ngờ được điều gì?
Nàng di chuyển một cách đài các cho tới khi ra đến sân trước và đi về con đường bên kia. Cổng nghĩa trang ở cách đó khá xa, không hẳn nằm ngay đối diện quán nước. Chưa kể lúc bấy giờ, mặt trời đang dần khuất dạng trong một bể máu nơi chân trời đằng tây, trữ lượng thời gian mà Conchita phải xoay xở mới kiếm được đang trôi tuột đi như cát lọt qua kẽ tay, nàng bắt đầu rảo chân tăng tốc.
Mới đầu thì khó mà nhận ra. Nhưng chỉ một thoáng sau, thiếu nữ đã trở thành một bóng người hết sức kỳ khôi, nếu không muốn nói là bê bối, với mấy bông hoa nảy tưng tưng trên tay, đuôi mạng che mặt và tà váy bay phất ngược ra sau. Nàng cắm đầu cắm cổ phóng về phía cổng nghĩa trang, như thể người thân quá cố đang nôn nóng chờ đợi mình, như thể nàng muốn đến thật nhanh để tỏ lòng thành kính với họ. Một vài cái đầu ngoái lại ngạc nhiên khi nàng vọt qua.
Lúc gần đến cánh cổng vòm trang trí thì Conchita đã thở không ra hơi nữa, đôi chân bọc trong lụa đen của nàng guồng như búa giã, nhanh đến mức chúng như nhòe cả đi.
Khi con trưởng thành hơn chút nữa, mẹ không muốn con phải xấu hổ lúc nhìn lại những năm tháng tuổi trẻ, mình đã hành xử lố lăng thế nào.
Đã là tình yêu thì khuyên nhủ sao được!
Thiếu nữ vừa kịp nhớ ra mình cần giữ lịch sự cho phải phép. Nàng ép bản thân đi chậm lại, sải bước điềm đạm hơn, mặc dù vẫn còn di chuyển khá nhanh, khi băng qua giữa hai cánh cổng đồng nặng nề. Chúng dang rộng như một cặp cánh đang đón đợi, chờ được khép lại và ấp lấy nàng vào lòng. Là món quà do một nhân vật giàu có nào đó hiến tặng, đôi cánh cổng được khắc nổi rất xa hoa. Một bên cổng khắc dòng chữ: Cái chết hẳn phải là một đặc ân bởi nó bao trùm lên tất cả. Còn bên cổng đối diện là: Không ai là không được nó ban phước lành.
Conchita băng qua chúng mà không buồn liếc mắt lấy một lần. Người sống không có thời gian ngắm nghía cái chết, có cố thì họ cũng không tài nào thấy nó được.
Bên trong, cách cổng một quãng ngắn là một gian nhà nhỏ, không to hơn một chòi canh đá là bao, dùng làm chỗ trực cho ông gác cổng khi nghĩa trang còn mở. Ông ta đang đứng bên khung cửa hẹp mà nhìn ra ngoài thì bắt gặp nàng đi ngang qua. Ông gác đã cao tuổi, gương mặt phúc hậu, ngoại hình không có gì nổi bật. Theo cái cách ông ta phải nheo mắt ngờ vực nhìn Conchita, rõ là ông ta bị cận thị.
Thiếu nữ dừng lại rồi tiến vài bước về phía ông ta. “Trong khoảng nửa tiếng vừa rồi, ông có thấy chàng trai trẻ nào vào đây không ạ? Tóc sẫm màu, người gầy gầy và đi một mình?”
“Một cậu trai trẻ trông ưa nhìn ấy hả?” Ông ta hỏi.
“Ồ, anh ấy đẹp trai lắm!” Nàng nhiệt tình tán đồng, sung sướng liếc lên trời.
Ông gác khẽ mỉm cười với vẻ thấu hiểu. “Có, nina (cô gái) , ông có thấy một người như vậy. Suốt 10 phút vừa rồi, cậu ta lượn ra cổng đến ba lần, ngóng trông ai đó, càng lúc càng trở nên bồn chồn, hỏi ông là có thấy… một cô gái trẻ vô cùng xinh đẹp, mặc đồ đen với mái tóc đen tuyền, đưa theo một cô hầu gái đi cùng không.”
Ánh mắt nàng buông xuống, sau đó lại nhanh chóng ngước lên.
“Nhưng anh ấy còn ở trong này không ạ? Anh ấy chưa rời đi phải không?” Nàng hỏi, giọng nghe nhẹ nhõm hẳn.
“Như ông biết thì cậu ta vẫn còn ở bên trong. Ông nhớ là chưa thấy cậu ta rời đi. Trừ khi cậu ta bỏ về trong lúc ông đi một vòng kiểm tra lần cuối.”
“Không đâu,” nàng cam đoan với vẻ cả quyết rất đáng yêu, “anh ấy chưa về đâu, anh ấy vẫn còn ở trong này. Cảm ơn ông nhé.”
Conchita quay lại và tiếp tục bước dọc con đường trung tâm vừa dài vừa rộng, trước khi nó bắt đầu tỏa thành vô số lối đi quanh co rải sỏi trắng. Chúng trông từa tựa như nhau và đã bắt đầu đong đầy chất tối của màn đêm, nhuốm sang sắc xanh lam.
“Đừng ở trong đấy lâu quá nhé, senorita,” ông gác cổng tử tế gọi với theo nàng. “Khi cháu nghe thấy tiếng còi thì tức là ông sắp đóng cửa. Cháu chỉ còn một hay hai phút nữa thôi.”
Thiếu nữ chỉ nghe lời nhắc nhở bằng một bên tai. Một dòng chảy vô hình mà ông gác không thể nhìn thấy đã cuốn lấy Conchita, lôi tuột nàng vào trong với lực kéo không thể nào cưỡng lại được. Không tiếng còi, cánh cổng hay lượng thời gian ít ỏi có thể làm suy yếu, ngăn cản hay can thiệp vào. Đây là khoảnh khắc tình yêu bừng nở, khoảnh khắc quý báu mà những kẻ si tình trân trọng, được ngóng đợi từ trước.
Nàng bước vội trên con đường ảm đạm, băng qua một miền đất rờn rợn đang nhanh chóng mờ đi trong ánh chạng vạng. Nơi đây vừa phi tự nhiên lại vắng bóng người, cứ như thể thuộc về một thế giới khác. Nó mang một vẻ khắc khổ cổ điển, một vẻ u sầu lạnh lẽo. Đó đây, những cây bách, cây bạch dương, cây liễu rủ được bố trí với chủ ý nghệ thuật, cây thì đứng lẻ, cây thì mọc theo lùm. Chúng được trồng ở những nơi người đã khuất an nghỉ. Chúng chạm vào cái chết, che chở và thậm chí còn hút lấy nguồn sống từ đó.
Rải rác bên dưới gốc cây, xen giữa mọi khe hở của những cành thấp là đà, trong mọi khoảng không giữa những thân cây, dọc mọi con đường và tại mọi góc quanh, là những cư dân vô hồn chết lặng, trắng lóa dưới những bóng tối lay động. Chúng như đang đợi một hiệu lệnh chiêu hồn từ sâu thẳm lòng đêm đang buông, để có thể trỗi dậy, tràn căng thứ sức sống quái dị. Chúng là những thiên thần đá, những bức tượng phượng hoàng và tượng điểu sư. Chúng là những băng ghế đá rải rác trên đường, dường như không phải nơi nghỉ chân lúc viếng mộ của người sống, mà để dành cho những bóng hình bí hiểm lặng lẽ lướt trên những con đường và lối ngõ lúc đêm khuya.
Và phủ lên tất cả là miếng vải liệm tím sắc do ánh sáng đang tắt dần, crepusculo (hoàng hôn) . Bản thân cái từ ấy cũng mang chút hương vị chết chóc. Cái chết của ban ngày.
Trong miền tử địa này, tình yêu đang len lỏi bước đi dưới hình dạng của một thiếu nữ mười chín tuổi, nhiệt huyết tràn trề trong từng mạch đập, cặp mắt sáng long lanh, hơi thở gấp gáp, nhịp tim rộn rã. Conchita không chạy nữa. Giờ nàng đã vào đến nơi và đó mới là điều quan trọng. Dẫu sao thì nàng chỉ cần chờ thêm một hay hai phút nữa thôi, chạy trong nơi này thì thất lễ quá. Nhưng nàng vẫn hăng hái đưa chân thoăn thoắt, cứ ba hay bốn bước là lại thêm vào một bước đôi, không hẳn là chạy nhưng cũng gần như vậy.
Conchita ra đến một trục tròn nàng dùng làm dấu mốc riêng. Chính giữa trục là một bình thạch cao tuyết hoa, đặt trên một trán tường thanh mảnh tao nhã. Đây là thứ luôn giúp nàng xác định phương hướng.
Bốn lối đi tỏa ra từ trục tròn này. Con đường thiếu nữ băng qua từ nãy đến giờ tiếp tục dẫn sâu vào khu vực nghĩa trang nàng chưa bao giờ khám phá. Còn một con đường ngang giao thoa, phân nhánh thành hai lối đi khác. Vì đã có kinh nghiệm, nàng biết rẽ trái ở đây là sẽ ra nơi chôn cất của gia đình. Thế rồi khi quay lại, tất nhiên sẽ phải đi ngược hướng và rẽ sang bên phải, để quay lại đường chính dẫn ra cổng vào.
Giờ chỉ cần đi thêm một chút nữa thôi. Thiếu nữ lần theo con đường rải sỏi nhỏ bé và ngoằn ngoèo, với những cảnh quan xung quanh mà nàng chỉ nhớ mang máng. Đầu tiên nó dẫn xuống một vùng trũng trống trải không cây cối, một bãi cỏ giữa miền đất chết. Đáy vùng trũng giờ đã thẫm xanh màu bóng tối. Thế rồi con đường lại dẫn lên và lách qua một lùm cây dày đặc như một đường hầm. Ngay đằng sau chỗ này là điểm đến của nàng.
Trong những lần ghé thăm trước đây, nàng chưa bao giờ có cơ hội để ý đến những điều này, do luôn có Rosita ríu rít nói chuyện suốt chặng đường. Và trên quãng đường quay lại, khi ấy những bước chân sẽ từ tốn hơn, có một cánh tay rắn rỏi quàng quanh vòng eo thiếu nữ, giọng nói trầm ấm thủ thỉ vào tai nàng. Đây là lần đầu tiên Conchita một mình qua đây.
Cuối cùng thiếu nữ cũng đã đến nơi. Nàng ra đến hàng tường cây vuông vắn cao ngang đầu người, chạy men theo lối đi chừng một mét, đánh dấu khoanh đất mộ gia đình nhà nàng. Nàng rẽ vào bên trong qua một khoảng hở trên tường cây, lần ra chỗ tấm bia mới nhất trong số các bia mộ và tấm đá nơi đây, một cột tháp trắng bệch như xương, bên trên gắn một vòng hoa đồng, bao quanh một dòng chữ khắc đơn giản.
Don Rafael Contreras y galbo[20]
Mong linh hồn ông được yên nghỉ
Cột tháp nằm ở cuối khoanh đất. Những nấm mộ còn lại là các bà bác và những người nàng chưa gặp bao giờ. Tất nhiên anh ấy sẽ không đợi người yêu ở đây. Làm thế thì bậy quá. Họ có một chốn riêng… Nhưng trước tiên, Conchita cần bày tỏ lòng thành kính với người đã khuất trước. Nàng quỳ một bên gối xuống bên cạnh, kiên quyết tạm gạt bỏ mọi suy tư về ai đó ra khỏi tâm trí. Đầu cúi xuống, nàng rì rầm một lời câu nguyện ngắn, đồng thời cũng là một lời câu xin sự tha thứ.
“Ba ơi, hãy tha thứ cho con vì đã lừa dối mẹ như vậy. Bọn con không muốn thế đâu, nhưng cả hai đứa chỉ trẻ được có một lần thôi. Tuần này con sẽ đưa anh ấy về nhà ra mắt mẹ, con hứa đấy.”
Cuối cùng thiếu nữ cũng đứng lên, bỏ ra thêm mấy phút để xếp bó hoa mình mang theo quanh chân cột tháp, đi qua đi lại hết bên này đến bên kia để chỉnh trang cho đến khi nàng thấy ưng ý. Thế rồi nàng nhún gối, làm dấu thánh và rời khu mộ, lưu luyến nhìn lại sau lưng lần cuối. Người quá cố đã lo liệu xong và giờ đến phiên người sống.
Chỗ hẹn không ở quá xa, chỉ cần đi thêm một chút theo con đường cũ về phía bên trái. Nó là một giàn hiên pergola[21] nhỏ xây bằng đá hoa, một mái vòm tròn chống đỡ bởi các cây cột thanh mảnh, không có tường ngăn. Nó không thuộc về ai cả, đây là một công trình công cộng do ban quản lý nghĩa trang tự xây, giống như mấy băng ghế và bình thạch cao tuyết hoa đằng kia. Đây là nơi họ luôn hẹn hò. Giờ anh đang đợi nàng trong đó.
Khi chạy đến gần, Conchita sẽ thấy đốm lửa thuốc lá nôn nóng của anh bồn chồn dịch chuyển qua lại như một con đom đóm đỏ. Thật đáng tiếc, vì nàng đến muộn nên đôi bên sẽ chẳng ở bên nhau được lâu.
Lúc thiếu nữ thoáng thấy giàn hiên thì nó đã bắt đầu đánh mất đường nét và màu sắc trắng tinh trong ánh hoàng hôn, chỉ còn là một khối xanh xanh mơ hồ ló ra qua làn sương mờ ảo. Nhưng nàng không quan tâm nó trông ra sao, quan trọng là cái người chờ trong đó. Lúc quay mình chạy qua hai cây cột khắc rãnh, nàng khẽ reo vui đầy tinh nghịch. “Raul! Có phải anh tưởng em sẽ không…”
Giàn hiên trống huơ trống hoác.
Đi mất rồi! Anh đã bỏ mặc nàng, rời đi mà không buồn đợi! Không, không thể có chuyện đó, ông gác cổng đã nói vừa mới thấy anh xong. Nếu anh bỏ về sau đó thì hẳn ông ấy sẽ báo rằng nàng vừa mới đến nơi và anh sẽ quay lại tìm nàng.
Conchita ngẩn ra đó một lúc, không biết phải làm gì, đứng giữa phần sân trống vây quanh bởi ba băng ghế cong không lưng. Anh sẽ quay lại trong một phút thôi. Hẳn anh đã ra đến tận cổng để ngóng nàng lần cuối và chắc chắn ông gác cổng sẽ thông báo cho anh. Họ để lỡ nhau lúc nào đó, có khi trong lúc Conchita đang khuất sau tường cây chỗ khoanh đất mộ của gia đình, anh đã khẽ khàng băng qua bên ngoài. Anh không phát hiện ra người yêu ở trong đó, bởi nàng mặc toàn đồ đen mà lại đứng trong chỗ tối. Hoặc có thể anh đã ra cổng bằng lối tắt, không đi ngang qua chỗ nàng chút nào. Tốt nhất nàng nên đợi ở đây, nơi anh có thể đến tìm, nếu không họ sẽ lại hụt nhau thêm một lần nữa và không còn có cơ hội gặp mặt.
Đúng tối hôm nay! Thời gian đã ngắn ngủi thì chớ, chuyện này lại xảy ra! Conchita chán nản ngồi xuống một trong ba băng ghế. Ngay cả trong thứ ánh sáng âm u ngập tràn nơi đây, thiếu nữ vẫn lập tức nhận ra trên sàn có thứ gì đó. Một điếu thuốc hút dở nằm lăn lóc dưới chân nàng. Lại một điếu nữa. Có đến nửa tá đầu lọc thuốc lá vương vãi khắp nơi.
Nàng rón rén nhón điếu thuốc gần nhất lên, giơ nó ra trước mắt trong ánh sáng tù mù. Một phần tên thương hiệu chưa bị cháy mất: Exquisito. Nàng biết nhãn hiệu này, đây là thuốc của anh. Thiếu nữ mỉm cười thương cảm. Nàng có thể hình dung ra cảnh anh chàng tội nghiệp ấy đi tới đi lui, ruột nóng như lửa đốt vì phải chờ đợi.
Conchita tiếp tục giữ điếu thuốc thêm một lúc, quan sát nó. Nó là một phần của anh. Đây là tất cả những gì thuộc về anh mà nàng có thể nắm giữ trong vài phút tới, cho đến khi anh quay trở lại.
Nàng thì thầm với nó, “Hỡi điếu thuốc lá bé nhỏ, anh ấy có yêu ta không? Anh ấy có nhớ nhung khi ta vắng mặt không? Nói ta nghe, anh ấy hành xử thế nào? Anh ấy có thì thầm gọi tên ta khi ngậm ngươi trong miệng không? Hẳn ngươi sẽ biết, bởi ngươi từng ở rất gần bên anh.” Conchita trìu mến chạm một đầu ngón tay lên điếu thuốc. Nàng hãy còn rất trẻ.
Anh tốn quá nhiều thời gian để vòng lại từ cổng. Nhưng chắc chắn là sẽ quay lại. Ông gác cổng kiểu gì cũng sẽ nói là gặp Conchita rồi. Giờ đã ra đến đây mà nàng không chịu đợi thì đúng là ngớ ngẩn. Đây là nơi duy nhất họ không bị ai soi mói, được ở một mình bên nhau trong vài khoảnh khắc ngắn ngủi.
Mấy lần nàng đưa theo Rosita thì khác. Trạc tuổi cô chủ, Rosita thấu hiểu nàng, chị lại còn hỗ trợ và thông đồng với nàng nữa chứ. Có Rosita đi cùng, họ có thể nấn ná từ biệt nhau, thậm chí ở ngay ngoài cổng chính, trước mắt bàn dân thiên hạ. Chị giúp việc sẽ lịch sự đợi ở ngoài tầm tai nghe hay đi trước hai người, để họ tay trong tay, đầu ngả vào nhau trên đường đi ra xe. Nhưng giờ lại có bác Marta đi cùng! Mong là bác ấy ở yên chỗ cũ. Anh có thể đến bất cứ lúc nào.
Đúng là kỳ lạ. Chỉ cần gặp được một người, bất chợt cả thế giới trở nên khác hẳn. Conchita nhớ lần đầu tiên họ gặp nhau cách đây chưa lâu, mới chỉ một vài Chủ nhật trước mà thôi. Ấy thế mà giờ nàng không tài nào nhớ nổi trước khoảnh khắc đó, trước khi anh xuất hiện, cuộc đời mình như thế nào nữa.
Cuộc gặp gỡ định mệnh diễn ra vào một chiều Chủ nhật, ở rạp cine. Hôm đó mẹ nàng trở bệnh, còn bác Marta thì quá khắt khe và không muốn coi cine vào Chủ nhật, thế là Rosita đi cùng cô chủ. Nàng đã đặt trước ghế tại cine vào chiều Chủ nhật hàng tuần, thuê theo mùa và lần nào đến cũng ngồi đúng một chỗ. Chắc hẳn nhờ thế mà anh quen mặt nàng, mỗi lần đèn bật lên lúc nghỉ giải lao là lại ngắm nhìn nàng, ngắm từ rất lâu rồi. Và, phải, Conchita cũng đã để ý thấy anh, nhưng tất nhiên nàng không thể chằm chằm nhìn lại. Nàng chỉ có thể để hai đôi mắt giao nhau trong một khoảnh khắc ngắn ngủi.
Thế rồi chiều hôm đó, khi ra ngoài, họ bắt gặp một trận mưa xối xả đang tưới đẫm con phố. Hai chị em bất lực túm tụm bên dưới tán cây ven đường cùng với những khách bộ hành khác, không thể đi đâu, trong khi anh gác rạp cứ thổi còi huyền náo khắp dọc con phố…
Đúng lúc đó, từ một nơi xa xăm, âm thanh khó chịu kia lại chen vào suy nghĩ của thiếu nữ, càng khiến nàng nhớ về ngày hôm ấy, khiến ký ức hiện lên sống động hơn hẳn.
… Anh gác rạp cứ thổi còi huyên náo gọi xe ngựa, xe taxi và bất cứ phương tiện gì có bánh đến đưa khách về. Nhưng những người khác cứ đua nhau chen lên xe hết. Có trời mới biết nàng cùng Rosita sẽ mắc kẹt ở đó thêm bao lâu nữa nếu anh không bất chợt xuất hiện, mở đường cho họ rồi thản nhiên chiếm luôn một cái xe đang đỗ ở hè đường, không cần bận tâm đến…
Chợt Conchita đứng bật dậy, một cơn sốc muộn màng chạy khắp người. Âm thanh vừa nãy chính là tiếng còi của ông gác cổng! Nó đã hòa mình nhẹ nhàng vào dòng hồi tưởng của nàng!
Thiếu nữ chạy xuyên qua mấy cây cột, đứng im trên hai bậc tháp của giàn hiên, cứng người lắng nghe đầy hoảng sợ. Âm thanh kia lại vang lên một lần nữa, lanh lảnh trong bóng tối, cách xa muôn trùng dặm, xa đến mức nàng sẽ chẳng có cơ may chạy ra kịp. Thật là vô vọng! Đây là hồi còi cảnh báo thứ hai và cũng là cuối cùng. Sau đó thì… họ sẽ cứ thế đóng cửa mà không chờ đợi thêm nữa.
Chắc hẳn ông gác cổng đã để hụt nàng, giống như nàng và Raul đã để hụt nhau. Bởi vì trong một nơi rộng lớn cỡ này, hiển nhiên người ta sẽ không chỉ thổi còi ở mỗi khu vực cổng vào. Có thể trong lần đi kiểm tra và nhắc nhở những người trong nghĩa trang, ông ta đã không đến giàn hiên pergola, không hề hay biết rằng có người đang ở đây. Và Conchita vì mải mơ mộng đã không để ý thấy ánh đèn lập lòe xa xa, nếu như ông gác có dùng đèn; hay nhận ra ý nghĩa của nó. Hoặc có thể một ai đó mặc đồ tang giống nàng đã đi ra, khiến ông ta tưởng nhầm mà không buồn quay vào tìm nàng nữa. Dù sao thì ông ta cũng bị cận thị mà.
Thiếu nữ nhận ra tất cả những điều ấy chỉ trong một khoảnh khắc dừng chân đầy kinh hoàng trên bậc thang, trước cả khi tà váy phất phơ của nàng buông thõng bất động. Và như thể vậy vẫn chưa đủ, đến bây giờ nàng mới nhận ra rằng trong lúc ngồi đợi, trời đã tối mịt hoàn toàn. Đến cả thứ ánh sáng tàn dư của mặt trời cũng đã biến mất. Trên rặng cây phía tây chỉ còn sót lại một quầng đen hơi ngả lục, hệt như kim loại bị ôxy hóa, đánh dấu vị trí của mình. Những nơi khác thì rặt một màn đen, đen, đen. Đêm đã ngự trị và nàng đã nằm gọn trong cái bẫy nó giăng.
Conchita chạy trên con đường rải sỏi ngoằn ngoèo.
Nàng tin, cả đời mình chưa bao giờ chạy nhanh đến thế. Một cụm sỏi bay tung lên trước mũi bàn chân tí hon đang đạp mạnh, trông chẳng khác nào bọt biển. Băng qua đường hầm cây. Lao xuống bãi cỏ miền đất chết. Leo lên phía bên kia vùng trũng. Băng qua bức tường cây, nơi ba nàng cùng mấy bà bác đang yên nghỉ. Một tiếng khẩn cầu nức nở đầy bất lực bay ngược lại khi nàng chạy ngang qua, “Papacito! (Ba ơi!) ” Tiếng thút thít của một thiếu nữ đang sợ hãi, buột thốt ra trong lúc hộc tốc phóng qua khu mộ gia đình. Conchita cất tiếng gọi một người từng luôn bảo vệ nàng, nhưng giờ thì không thể nữa rồi.
Mấy ngọn cây trở nên vô hình trên nền trời đen. Nhưng nổi bật bên dưới tán lá là màu trắng của những bia mộ và tấm đá, tạo thành các bóng ma xám tờ mờ rải rác đó đây. Một thiên thần đứng kiễng trên một ngón chân, từ nơi phục kích chực chờ nhảy ra vồ lấy thiếu nữ, siết chặt cổ nàng với đôi tay xoắn xít, kéo ngã nàng xuống. Conchita rú lên, né dạt sang và suýt nữa thì lăn quay, sau đó nàng loạng choạng chạy tiếp.
Một ngọn gió như hơi thở dài của lớp đất xung quanh bốc lên, ẩm ướt và hăng hắc mùi của những thứ đã bị chôn vùi từ lâu. Nó không đứng im mà như đang đuổi theo Conchita, luồn lách qua các thân cây, vặn mình men theo con đường đằng sau thiếu nữ, ì èo rên rỉ, tìm cách bắt lấy nàng. Con đường dưới chân nàng là một dải băng xám, một miếng vải không rõ hình hài, trải dài trong đêm tối, như không bao giờ biết đến điểm dừng, không bao giờ chạm tới điểm kết thúc…
Conchita biết mình đang phát hoảng. Nàng cũng hiểu nếu không chế ngự được cơn hoảng hốt thì không đời nào toàn mạng ra được đến chỗ cánh cổng. Vừa lảo đảo chạy, với buồng ngực như nổ bung và sụm xuống theo từng nhịp thở, nàng vừa vật lộn tìm cách giành lại quyền kiểm soát bản thân.
Không sao đâu, Conchita, sẽ chẳng chuyện gì xảy ra đâu! Mọi chuyện sẽ ổn thôi, đừng có ngớ ngẩn. Chỉ chốc nữa thôi mình sẽ ra đến cái bình dấu mốc, sau đó mình sẽ rẽ trái, nhớ chứ? Thế rồi chỉ cần đi theo con đường trung tâm rộng lớn dẫn ra cổng, chuyện nhỏ ấy mà. Hô lên luôn đi, ngay từ đây, người ta sẽ nghe thấy tiếng mình, người ta sẽ đợi, người ta sẽ giữ cửa mở. Hô lên đi để người ta còn biết, đáng nhẽ ra ngay từ lúc mới nghe thấy tiếng còi là phải hô lên luôn rồi.
Thiếu nữ không nghĩ mình vẫn còn đủ hơi, nhưng bằng cách nào đó nàng vẫn gào lên được. Giọng gào nghe the thé, yếu ớt và đứt quãng, rung bần bật vì đôi chân không ngừng chạy.
“Ông gác ơi! Ông gác ơi, đợi đã! Cháu vẫn còn ở đây! Đừng đóng cửa vội! Đợi cháu ra đã…”
Thế rồi nàng không thể la thêm được nữa, trong phổi không còn đủ lực. Nàng tròng trành sang hai bên, chẳng đi theo một đường thẳng nữa. Còn đám sỏi phản trắc, bình thường dễ bước lên là thế, giờ cứ lăn tròn và trườn đi dưới chân, khiến nàng mất thăng bằng.
Cái bình! Ôi, đội ơn thánh thần, cuối cùng cũng ra đến chỗ cái bình! Nó đứng thẳng trước mặt nàng, cao hơn đầu người, nhìn như đang bơi trong màn đêm, không vật gì chống đỡ, cho đến khi cái bóng trắng nhờ nhờ của trán tường bên dưới hiện ra.
Sang trái nào, Conchita rối rít tự nhắc bản thân, sang trái, cẩn thận vào…
Thoạt tiên, nàng thậm chí còn không thể xác định được bên trái là bên nào. Trái tim. Trái tim luôn nằm bên trái. Nàng áp tay lên ngực, nhịp đập thình thịch khiến tay nàng đau buốt, chẳng khác nào những nhát búa gõ nện vào phần lõm của gan bàn tay. Conchita để trái tim đưa đường cho mình, rẽ về bên ấy. Cái bình tụt lùi ra sau, khuất tầm mắt, như thể được các sợi dây vô hình kéo đi.
Con đường lát gạch rộng dẫn thẳng ra cổng giờ đã nằm trước mặt và chặng đường khó khăn nhất đã kết thúc. Mặt đường vững chãi dễ chạy hơn lớp sỏi hay xê dịch, nhưng thiếu nữ không rảo chân nhanh hơn được chút nào, bấy giờ nàng đã kiệt quệ. Nàng tiếp tục lảo đảo đưa bước, chẳng dám gục ngã. Conchita thử hô lên lần nữa, nhưng nhận ra là không thể. Một âm thanh câm nín, lào khào, không vang xa được mấy là tất cả những gì nàng có thể thốt lên. Nó như cào xé cổ họng đang nghẹt lại của nàng.
“Để cổng mở, đợi cháu đã…!”
Con đường trải thẳng và rộng trước mặt thiếu nữ, hai mép ranh giới dẫn vào một giao lộ tăm tối trong màn đêm trước mặt, không ngừng né tránh nàng, mãi chẳng đến gần hơn. Đằng sau nàng, cơn gió độc đầy ẩm ướt của bia mộ và mùi hơi quan tài thối rữa dường như cũng rẽ hướng giống nàng, vẫn tiếp tục rượt đuổi trên con đường thẳng băng này, chưa hề thỏa mãn và rít lên ù ù.
Cứ như thể Conchita đang chạy ngược hướng trên một băng chuyền vĩnh cửu, mọi bước tiến đều bị nuốt trọn khiến nàng cứ ở nguyên một chỗ, mặc dù tay chân và tim phổi mỗi lúc một mỏi mệt.
Một băng ghế bên đường chậm rãi trôi qua. Thế rồi một lúc sau, một băng ghế khác lại chậm rãi trôi qua. Conchita chỉ thèm được gục lên một băng ghế và nằm lăn ra đó, mê man đi phân nửa, nhưng nàng không dám. Tiếng còi đã vang lên từ rất lâu, liệu người ta có nghe thấy nàng kêu gào không? Liệu người ta có còn đang đợi và giữ cửa mở không? Nếu có thì sao họ không tiến về phía trước, dù chỉ một chút? Tại sao nàng không nhìn thấy ánh đèn dầu của họ ở cuối con đường bất tận này…
Có chuyện gì không ổn. Khoảng cách tới cổng có vẻ xa hơn những gì thiếu nữ nhớ. Đúng là nó xa hơn thật, không nhầm đi đâu được. Không phải nỗi sợ hay bóng tối đã làm lệch lạc nhận thức, cảm nhận này dựa trên thời gian nàng chạy nãy giờ và quãng đường nàng đã đi được. Đáng ra Conchita phải vòng đi vòng lại được hai, ba lần tại cánh cổng rồi. Kể cả có cuốc bộ thì nó cũng chưa bao giờ xa xôi đến thế, từ trước đến nay không bao giờ xa như vậy.
Ý nghĩ về chuyện đã xảy ra cứ như băng đá chảy trong mạch máu, khiến huyết mạch tê dại hết đi. Theo sau đó lại là hơi ấm, sẵn sàng chờ đến lượt để xâm chiếm lấy nàng. Nhưng nó không phải hơi ấm của sự tỉnh táo, của lẽ thường nữa. Nó là cơn sốt hầm hập từ cơn điên cháy bỏng, hơi nhiệt của ác mộng.
Giờ Conchita gần như chẳng tiến lên được phân nào. Nàng không thể đi tiếp. Nàng lắc lư ở đó, chân tay vẫn tìm cách lôi chủ về phía trước, nhưng chỉ có thể chuyển động quay vòng trên mặt đất. Và con đường vẫn cứ trải dài vô tận, kéo về hư vô bất biến, nơi đã đưa chân nàng đi kể từ lúc ở chỗ cái bình.
Thiếu nữ cố gắng động não. Sang trái. Đúng rồi, sang trái. Izquierdo (Bên trái) . Đúng cái từ ấy rồi, đúng hướng ấy rồi. Nhưng sang trái khi nào? Lúc đi vào, khi ta muốn ra khoanh đất mộ của gia đình à? Hay là khi đi ra, lúc ta muốn quay về cổng? Sang trái là đúng rồi. Lần trước Rosita đã nói như vậy, khi họ do dự dừng lại một lúc bên cái bình. Nàng vẫn có thể nghe được cái câu nói ấy trong tâm trí. Không, sang trái, Senorita Conchita. Đoạn ấy thì đúng rồi. Nhưng sang trái khi nào? Nàng không thế nhớ nổi hồi đó họ đang đi vào hay đi ra. Đầu óc nàng chỉ toàn hình ảnh của anh.
Conchita quay vòng lại và nhìn ra đằng sau. Cái bình đã mất dạng từ lâu. Lọt vào mắt nàng chỉ là một điểm hư vô khác, không hơn gì điểm trước mặt.
Nàng đã quẹo sai đường, đã đi sai lối. Nàng đã đâm đầu vào sâu hơn trong miền đất chết chóc, thay vì chạy thoát ra ngoài. Mấy tiếng thổn thức loạn thần bắt đầu hình thành trong cổ họng, cứ mỗi tiếng theo sau lại dâng cao hơn tiếng trước. Nàng quẫn trí thọc cả hai bàn tay vào mái tóc quăn mà Raul rất thích, làm tuột cả dải viền đen bện xoắn bao vòng quanh tóc và tấm mạng trên đầu. Chúng rơi xuống sau lưng và nàng để mặc chúng nằm im ở đó.
Hẳn cổng đã đóng từ lâu rồi. Chẳng ai nghe thấy Conchita hết, không thể nào đoán được sự tình. Nàng sẽ mắc kẹt trong chốn ghê tởm này hết đêm nay mà không một ai hay biết. Họ đã rời đi và bỏ mặc nàng trong này cùng với những người chết. Nàng biết ông già cận thị kia không ngủ lại nghĩa trang. Gian nhà nhỏ giờ đã tối om và khóa chốt cài then. Chỉ nhìn vào kích thước là nàng biết ngay nó chỉ được dùng vào ban ngày.
Thiếu nữ quay lại và thử đi ngược hướng mình vừa chạy. Nàng chỉ tiến được mỗi một bước run rẩy, lòng can đảm đã rời bỏ nàng. Conchita không làm được. Nàng không thể quay vào bộ hàm tăm tối đằng sau mà mình đã một lần băng qua.
Đúng là trước mặt nàng cũng tối om chẳng kém, nhưng quay vào bóng tối lần hai, dù là nơi đã từng khám phá, vẫn có gì đó kinh dị hơn. Như thể nếu đi ngược lại, nàng sẽ cho những thứ ác ma náu mình trong đó một cơ hội thứ hai. Ngọn gió ồ ề u uẩn kia thổi ra từ đó. Đám cây rung lên xào xạc và rú rít như những sinh vật sống rình rập cũng ở đó nốt.
Conchita nhấn chặt hai tay vào mắt để khỏi phải chứng kiến bất cứ cảnh tượng kinh hoàng nào. Dù chưa nhìn thấy gì cả, nhưng nàng sợ rằng chúng sẽ xuất đầu lộ diện bất cứ lúc nào. Nỗi khiếp đảm khiến hai hàm răng va lập cập và toàn thân buốt lạnh đến rợn người.
Một lúc sau, thiếu nữ buông tay xuống. Từ nãy đến giờ, nàng đã bắt đầu di chuyển một cách vô thức mà bản thân không hay biết. Conchita bước rất chậm, chần chừ, lảo đảo, vô định và chẳng biết đi đâu. Nàng đang lang thang giữa đường, dáng đi liêu xiêu như sắp sửa ngã lăn ra đất. Nàng đang đi theo phương hướng nãy giờ vẫn đi, bởi vì nếu không muốn quay lại thì chỉ còn đường tiến tới. Bước chân cà giật và bất định như thể nàng đã đánh mất lý trí. Đúng là khi ấy không còn bất kỳ suy nghĩ nào đọng lại trong đầu nàng.
Một băng ghế bên lề đường nhích lại gần Conchita, trông trắng bệch và tái nhợt như xác chết trong cảnh tù mù, nhìn mà ngỡ tưởng nó đang được một ngọn đèn vô hình chiếu lên. Nàng tiến về phía băng ghế, người như sắp gục. Thế rồi, sự hiện diện của nó không khác gì công cụ giải phóng xúc cảm, thiếu nữ úp nửa thân trên lên ghế, chân lết dưới đất và òa khóc nức nở. Nàng khóc nhiều đến mức nếu cứ tiếp tục thì chẳng bao lâu sau sẽ lăn ra bất tỉnh.
Chuyện ấy không xảy ra. Conchita lại ngưng khóc vì xương sườn bị bóp siết lại và đường thở tắc nghẹt, sau đó nằm im lìm tại đấy. Nhưng nàng không hề mê man. Ngay cả khi đang nằm bất động, nỗi sợ vẫn cứ lén lút bò lên người nàng như một lớp men tráng mỏng. Rốt cuộc, nó kích thích các phản xạ tự nhiên của Conchita.
Nàng bất chợt bắt tréo chân như đang bơi trên cạn, quay ngoắt đầu lại, nhìn ra đằng sau. Đó là phản ứng đầy bản năng của những người chết tắc trong bóng tối, của những người sợ bóng tối. Một tiếng hét hãi hùng luồn lách để bật ra khỏi đôi môi đơ ngắc. Nàng tìm cách rúc đầu và hai vai vào trong góc xa nhất của băng ghế, khiếp hãi đến độ trán đập vào lớp đá cứng đờ và lạnh ngắt mà chẳng cảm thấy đau.
Có thứ gì đó đang rón rén tiến về phía Conchita từ một bên con đường xám mờ mờ ảo ảo. Một sinh vật màu đen, thân mình uốn éo, bụng úp sấp, đuôi ngoe nguẩy. Đôi khi khoảng tối bên lề che khuất nó, đôi khi khoảng sáng phía bên kia lại để lộ những viền cong của nó. Nhưng chỉ lộ một bên. Đầu nó có một vệt nhấp nháy, một đốm tí hon không thể gọi là sáng được vì quá xỉn màu. Thỉnh thoảng, ánh sáng từ một ngôi sao trên cao chiếu trúng thì phần hạt lóng lánh hay ướt nước này mới thoáng xuất hiện.
Dáng đi của nó thất thường và hết sức kín đáo. Nó vặn mình tiến tới rất mau lẹ, rất thầm lặng, nhanh đến mức tấm thân gợn sóng trông cứ như ảo ảnh. Thế rồi nó sững lại, trông vô hồn, không hơn gì một cái bóng, chuẩn bị thực hiện lần tiến tới lén lút tiếp theo.
Trong lúc tròn mắt theo dõi, đầu óc mụ mị vì sợ, Conchita nhìn thấy đuôi của nó, cái chi phụ mảnh mai như sợi dây thừng ấy hất nhẹ lên, hơi giật lên trên, sau đó lại hạ xuống phẳng lì. Nó lặng lẽ phóng thêm một bước uốn éo ngắn nữa và rồi dừng phắt lại chỉ trong tích tắc.
Conchita tê liệt toàn thân, người như rã ra, mất sạch khả năng cử động. Nó cũng khiến nàng im bặt như người bắt thế[23], không thốt được lời nào khác sau tiếng rú ban nãy. Nỗi sợ có một cái ngưỡng còn thâm sâu hơn cả la hét, ấy chính là im lặng. Nàng nhấc người dậy khỏi mặt đất mà không cần chống tay, leo lên phần nối giữa lưng ghế và tay vịn chỉ nhờ chuyển động vai, đầu không quay lại. Vặn vẹo lách mình vào hõm nông của một băng ghế đá lùn tịt, lưng ưỡn như muốn gãy đôi trên nơi ngồi, đó là tất cả những gì nàng có thể làm để tránh xa nó. Mặt nàng nhăn nhúm cứng ngắc, co thắt lại vì hồi hộp.
Không một dấu hiệu cảnh báo. Thất thường như thủy ngân hay tia chớp, bất chợt nó nhào đến, vồ về phía chân nàng, phóng lên trước, như thể phi quá đà. Đuôi nó quất mạnh, vụt đằng sau.
Conchita chỉ biết rùng mình, như thể chấp nhận cái chết dù chưa bị nó chạm đến. Thế rồi bỗng dưng nàng xìu người đi, bất thình lình chẳng kém gì cú vồ của nó, eo sụp xuống, trườn xuống khỏi mép ghế và lừ đừ trôi xuống đất, miệng ói mửa. Nàng ói cạnh cái mũ vải đen vứt chỏng chơ, trên gắn hai miếng nữ trang đen tuyền, cùng với miếng mạng che mặt dài nhàu nhĩ quấn vòng quanh mũ, đôi ba chỗ phồng lên như bó cỏ do bị gió lén lút thổi vào từng chút, từng chút một.
Vài phút quý báu lạnh lùng trôi qua và sinh lực từng rời bỏ thiếu nữ đã hồi lại. Bấy giờ, bằng cách nào đó, nàng lại đứng lên, bộ đồ đen xộc xệch hết cả, một bên vai kéo lên quá cao trong khi bên còn lại đã tuột hẳn. Đôi tất trên cặp chân trắng của nàng giờ chỉ còn là mấy dải ruy băng xám xịt.
Conchita không còn là một người văn minh nữa. Nàng không phải là một thiếu nữ thành thị, cũng như không phải con gái của Viuda de Contreras nữa. Nàng không có tên, không có địa chỉ. Không phải là nữ mà cũng chẳng phải là nam. Conchita đã rơi xuống một chiều không gian vô giới tính. Nàng đã quên mất tình yêu là gì. Nước mắt hay tay nàng đã vô ý làm một vệt son đỏ xấu xí chảy từ khóe miệng xuống tận dưới cằm. Nàng chỉ còn là một con thú mù quáng bị bản năng chi phối, yếu ớt tìm cách rời vùng tối tới nơi sáng, trốn chạy khỏi sự sợ hãi để về nơi an toàn.
Nỗi khiếp đảm giờ chỉ mang tính tương đối. Có lúc dâng trào, có lúc chẳng còn là bao, nhưng chẳng bao giờ biến mất hoàn toàn. Thiếu nữ lại chạy, loạng choạng tiến lên, đầu gục xuống ngực, chân vung cứng đờ ra sau, hết chân này rồi lại đến chân kia, cứ như mấy que nạng. Các vì sao chiếu xuống mái đầu nàng thứ ánh sáng vừa lạnh lẽo vừa vô nghĩa. Chúng thật xa xôi cách biệt, những đốm sáng tí hon không lòng trắc ẩn, đứng tít trên cao nhìn xuống một sinh vật đang mắc kẹt trong cái hố đen ngòm, quan sát nó đi vòng quanh rồi lại vòng quanh, cố tìm đường thoát và biết rõ rằng nó sẽ không bao giờ thoát nổi.
Tự nhiên, một nỗi kinh hoàng mới lại chất đè lên tất cả những gì Conchita đang phải chống chịu. Lần này nó có màu. Màu sắc bắt đầu tràn vào nghĩa trang, ban tặng một chiều không gian mới, khiến nét rùng rợn có thêm chiều sâu, không còn thiếu hụt như màu đen xám hai chiều trước đó. Nó tựa như một ảnh phản chiếu xa xôi, mới đầu nàng không thể nhìn ra nó bắt nguồn từ đâu. Chẳng khác nào ánh lửa đỏ lóe giữa những hàng cây và các bia mộ, không bốc hẳn lên cao mà cứ từ từ lan tỏa khắp mặt đất.
Một con mắt to lớn và giận dữ đang mở ra đằng sau nàng. Mặt trăng. Nhưng không phải vầng trăng mát dịu và nhẹ nhàng của các đôi tình nhân và những lời ước nguyện. Nó căng phềnh, thèm thuồng thịt tươi. Nó thù ghét các sinh vật sống, hệt như mọi thứ khác trong chốn này. Nó nổi giận, rực lửa, trừng mắt đầy bệnh hoạn, nồng nặc tà khí và những thứ mà đã lâu nhà thờ dạy ta rằng đừng tin. Những thứ cấm kỵ. Hồn ma và yêu tinh, những cái thây nhăn nhở bật mồ trỗi dậy, các thớ cơ dưới da đan xen chắp vá, như những thứ trên bàn giải phẫu của một sinh viên y khoa. Mặt trăng. Hành tinh điều khiển sự rồ dại và tính khát máu điên cuồng.
Nó nhân đôi, nhân ba những bóng đen ban nãy. Ở những nơi chưa nhuốm đen hẳn, nó khơi dậy những chuyển động ảo ghê rợn, đầy đe dọa, ló ra sau những tán lá và cành cây bồn chồn. Nó khiến những hình hài và dạng thể lúc trước còn im lìm trên các nấm mộ như đong đưa, trườn đi và cựa quậy, dịch chuyển dưới ánh sáng mặt trăng. Chúng trở nên lốm đốm như con hủi, sừng sộ lừ mắt nhìn người.
Cây cối trở thành những cái bóng xương xẩu oằn mình về phía thiếu nữ, thò cành xuống vồ nàng. Các bức tượng trở thành quái vật thu mình đằng sau bụi cây và hoa cỏ, gục thấp đầu xuống khi nàng chạy ngang, sau đó lại ngẩng lên và lén lút bám theo ngay khi nàng quay lưng về phía chúng. Đến cả cái bóng của Conchita giờ cũng phản chủ, tấn công bằng cách trườn lên người nàng vào những lúc bất ngờ nhất, hoặc tự dưng bổ về phía nàng từ bên hông
Đắm chìm trong bao nỗi kinh hoàng, Conchita không có thời gian suy nghĩ về bất cứ thứ gì khác ngoài thời khắc hiện tại, nhưng nếu nghĩ được thì nàng chắc sẽ nhận ra bóng đêm đã chiến thắng từ lâu. Tâm hồn thiếu nữ đã tàn lụi ít nhiều. Dù có thoát ra khỏi đây hay không, nàng cũng sẽ chẳng bao giờ như trước nữa. Nỗi sợ hãi đã vĩnh viễn đẩy ngược nàng về với bản chất nguyên thủy tồn tại từ bao lâu trước.
Trong khi ấy, hành tinh đáng ghê tởm kia như quyết tâm truy đuổi nàng đến tận cùng, y hệt mọi thứ khác ở chốn này. Nó chầm chậm nhô lên trời, bám theo nàng, càng lên càng rọi tỏ. Chuyển từ màu cam giận dữ sang vàng lưu huỳnh rồi hóa thành trắng, cái màu trắng hếu của hộp sọ, với mấy hốc mắt nhàn nhạt ngó xuống thiếu nữ.
Theo sau là giai đoạn tâm trí mơ màng như rơi vào hôn mê, Conchita biết mình vẫn đang va vấp chạy tiếp, nhưng đầu óc hơi ù đi. Đến cả nỗi kinh hoàng cũng trở nên nhạt nhòa, không còn sắc bén như trước, mặc dù nó vẫn đeo bám không ngừng. Đầu óc nàng như đang say xỉn vì cơn sốc và bị kích thích quá mạnh.
Thế rồi tự nhiên, một âm thanh nhỏ vọng đến chỗ Conchita, đánh thức thiếu nữ, làm nàng vụt bừng tỉnh. Nó là âm thanh của sự sống, âm thanh đầu tiên nàng được nghe kể từ khi kiếp nạn cô độc khủng khiếp này bắt đầu. Âm thanh đầu tiên bên cạnh tiếng la hét và tiếng chân đạp của chính mình, một âm thanh từ bên ngoài, không do nàng phát ra. Đó là điều ngọt ngào nhất Conchita từng nghe, ngọt ngào hơn cả nốt nhạc dịu dàng nhất, đáng yêu hơn tiếng hót của chú chim đáng yêu nhất. Nó hơi lệch nhịp, nghe như lai giữa một tiếng lít chít và một tiếng khừ, văng vẳng, xa xăm, khó chịu, nghịch tai, thô thiển. Nhưng, hỡi ôi, đáng mừng xiết bao. Đó là một tiếng còi xe chạy ngang.
Thế giới bên ngoài, thế giới của người sống, đang ở rất gần, gần hơn nàng tưởng. Conchita đứng lại và căng tai ra, cố đẩy thính lực khỏi ngoài hạn mức của mình, tìm cách bắt lại âm thanh kia.
Nó không vang lên nữa. Chỉ đúng một lần, sau đó thì im lặng. Thiếu nữ nín thở, thậm chí còn ép cho một mảnh vải trên bộ váy rách nát ngưng phất phơ, đảm bảo xung quanh sẽ không có bất cứ âm thanh nào khiến mình nghe hụt, dù là nhỏ nhất. Nhưng không, nó dứt khoát không chịu tái xuất hiện.
Conchita không biết phải đi hướng nào, bởi ban nãy nàng chưa kịp nghe xem âm thanh phát ra từ đâu. Nếu cứ đi bừa, nàng sợ rằng mình sẽ đi xa thay vì lại gần nơi ấy và cuối cùng để lạc mất nó. Nàng chỉ biết chắc chắn một điều là nó không vọng lại từ đằng sau.
Bởi vì đôi tai không giúp được gì, hay đúng hơn là không có thêm cơ hội để hỗ trợ, thiếu nữ thử ép mắt mình làm thay nhiệm vụ. Nhưng bóng tối ở cả ba hướng còn lại trông đều giống hệt nhau…
Không, khoan đã! Chẳng phải ở đằng kia, bên tay phải, trông có gì đó bằng phẳng, như thể được một bề mặt chắn sau thay vì hun hút vào miền sâu vô định? Chẳng phải mấy đốm ánh trăng xuyên qua tán lá trông như đang chiếu thẳng lên thứ gì, thay vì nằm bẹp gí dưới nền đất?
Conchita đột ngột chạy vọt về phía ấy, sẵn lòng vứt bỏ mọi cơ hội tìm lại nơi phát ra thanh âm đặc biệt kia, đánh cược cả vào hi vọng mình đã nghĩ đúng. Nàng chạy xuyên qua cỏ, thỉnh thoảng lại trèo qua các mô đất chưa biết chừng chính là các nấm mộ, nhưng chúng không còn khả năng đe dọa nàng nữa, bởi vì lẫn vào là tiếng động sự sống đang vẫy gọi. Chúng có mở ngoác mồm ra dưới chân Conchita thì nàng cũng sẽ nhảy vọt từ bờ môi này sang bờ môi kia, đưa chân càng nhanh để đến nơi mình muốn.
Cuối cùng thì nó cũng xuất hiện, dựng đứng và lù lù phía trước, tiến lại gần hơn, lướt về phía nàng với từng bước chạy, để rồi ép bẹp vào lòng bàn tay nàng, trải rộng đầy mời mọc. Sự thô nhám của đá xây, cái cảm giác gai ngứa của vữa, sờ vào êm dịu hơn hẳn lụa hay sa tanh. Đây là bức tường ngăn cách, ranh giới của cái chết, vành đai mà nó không thể vượt qua.
Conchita áp thân vào bức tường, cuối cùng cũng ngưng di chuyển, hai tay giơ thẳng, đặt môi lên nó, tặng nó một nụ hôn chan chứa bao hàm ơn.
Hẳn nàng đã đi song song một lúc mà không hay biết, mặc dù bức tường nằm cách con đường một khoảng khá xa. Hiển nhiên đây không phải là bức tường bao trước, nơi có cánh cổng, bởi nãy giờ thiếu nữ không ngừng đi ngược hướng vào. Tất nhiên là trừ trường hợp nàng đã chạy bừa một vòng tròn trong bóng tối và quay lại đúng nơi mình khởi hành. Nhưng khả năng cao đây hoặc là một trong hai bức tường bên, hoặc là bức tường phía cuối nghĩa trang. Chắc nàng đã đi xuyên qua cái nơi đáng sợ này, sang đến đầu bên kia.
Rõ là đang có tiếng rù rì văng vẳng đâu đây, phát ra từ bên ngoài bức tường. Tiếng động rất bé và tản mát, một tiếng xì xào vòng lại từ xa, nhưng vẫn đủ để đè lên cái tĩnh lặng ngự trị trong này. Cái tiếng rù rì, cái âm rì rầm kia phát ra từ các ngôi nhà, từ các con phố đằng xa trong màn đêm. Hẳn nó nằm ở ngay sau bức tường này, hoặc ít nhất là chỉ cách đó một quãng ngắn. Một ngón tay của thành phố hẳn đã doãi về khu vực sau nghĩa trang, cho dù cổng chính mé đối diện gần như dẫn ra đồng quê trống vắng.
Thế rồi, như để xác nhận những phỏng đoán ấy, có tiếng trục bánh xe điện nghiến ken két khi rẽ qua một góc quanh đâu đó phía xa, nghe sầu thảm nhưng rất rõ.
Conchita bắt đầu vạch đường đi men theo mạn trong bức tường, mặt ngửa lên trên đỉnh đầy hi vọng. Nó nhẵn nhụi quá, cao quá, chẳng thể nào leo lên bằng tay không được, kể cả nếu nàng vẫn còn sức lực. Tại sao người ta lại đi xây nó cao đến vậy cơ chứ? Người chết trong này việc gì phải sợ người sống?
Thiếu nữ để ý thấy có mấy cái cây mọc khá gần bức tường. Thậm chí đôi chỗ còn có cành nhánh của một số cây chìa ra ngoài bức tường. Nếu trèo được lên thân cây ấy, có thể nàng sẽ xoay xở leo ra và nhảy lên mép tường. Kể cả khi không thể tự leo xuống thì ít nhất nàng cũng sẽ ở một vị trí dễ thu hút sự chú ý của ai đó bên ngoài hơn.
Nhưng đang đứng dưới này thì không thể nào làm thế được. Vì gào quá sức nên giọng nói của Conchita gần như biến mất rồi, giờ nàng chỉ có thể rên lên mấy tiếng khe khẽ thôi. Và hiển nhiên bức lũy vững chãi này không có khe nứt nào hết, hoặc ít nhất khe nứt không đủ gần cho nàng sử dụng.
Hầu hết đám cây đều ở quá xa. Dù cho Conchita lên được đủ cao thì khoảng cách từ đó đến bức tường vẫn sẽ khiến mưu đồ của nàng bất thành. Những cây khác thì có thân mảnh mai quá, nhìn là đủ biết phần cành phía trên sẽ còn èo uột hơn, trèo lên là đồng nghĩa với tự sát. Cuối cùng thiếu nữ cũng tìm ra được cái cây phù hợp, mặc dù trong bóng tối thì khó mà khẳng định chắc chắn.
Sau khi đứng im bên dưới và căng mắt ra quan sát mấy phút, nàng tin mình đã nhìn thấy một cành cây lớn và chắc nịch đâm thẳng đuột, thò ra hẳn bên ngoài bức tường. Từ chỗ đang đứng, nàng thấy đường kính của nó cũng gần rộng ngang phần thân dưới.
Thiếu nữ thử vòng tay qua gốc cây làm điểm tựa, nhưng hai bàn tay không đan được vào nhau, thân cây quá lớn. Sau đó nàng thử bấu tay và trèo lên, găm móng tay vào lớp vỏ cây sần sùi, tì toàn bộ trọng lượng lên cây. Mấy miếng vỏ rụng rời thành từng mẩu nhỏ, móng nàng thì gãy và mấy đầu ngón tay toét hết cả. Lần nào nàng thọc mũi giày vào thì cũng lại trượt tuột xuống. Có lần Conchita xoay xở leo lên được ngang nửa chiều cao của mình, nhưng rồi lại bị rơi, da trầy trụa và bầm giập. Nàng nằm lăn ra một phút để nghỉ lấy sức.
Ôi trời ơi, nếu mà được quay lại cái tuổi mười hai thì Conchita chắc chắn sẽ leo được. Thuở mười hai, khi được đưa về quê nghỉ hè, nàng đã trèo leo đủ thứ cây để hái lê với táo mà không toát một giọt mồ hôi. Còn bây giờ, cái trò hái lê, hái táo ấy chính là thứ sẽ giúp nàng được an toàn, mở được đường sống, ấy nhưng nàng không thể làm nổi!
Cay đắng và tuyệt vọng, thiếu nữ thút thít khóc trong bóng tối, bên gốc cái cây tàn nhẫn kia, van lạy những người không có ở đó, đầu gục xuống đất.
“Raul, Raulcito (Raul thân yêu) , tại sao anh lại bỏ đi như vậy? Mẹ, mẹ của con, hãy để con quay về với mẹ. Con sẽ không bao giờ làm thế nữa. Tại sao con lại không chịu nghe lời mẹ cơ chứ? Mẹ lúc nào cũng đúng. Mẹ không muốn con rời nhà…”
Lời lẽ dần nhòe thành một tiếng rên rỉ, tiếng rên rỉ dần câm nín thành tiếng sụt sịt ảo não.
Thế rồi tự nhiên, trong lúc thiếu nữ đang nằm lăn lóc ở đó, đầu và vai nâng cao khỏi mặt đất, phần thân còn lại thì xòe rộng trên nền đất, một âm thanh vọng lại từ bên kia bức tường. Nó thật chân thực, thật bình dị, thật gần, đến mức thiếu nữ không thể tin nổi đó là sự thật, nàng không thể tin được mình vừa nghe thấy âm thanh ấy. Đó là tiếng va chạm nghe trống rỗng, hơi giống tiếng động do cửa xe phát ra khi có ai vô ý vô tứ đóng sầm lại. Rồi đến lượt một âm thanh nhỏ hơn, tiếng chiếc chìa khóa vặn trong ổ.
Hẳn là nãy giờ có một chiếc xe trống không đỗ bên ngoài, áp sát bức tường nghĩa trang, chờ đợi ai đó. Người ấy vừa mới quay trở lại, vào trong xe và sắp sửa lái đi mà không biết gì hết!
Căn cứ theo phương hướng của tiếng động thì xe đỗ ở mạn dưới, cách đây một vài mét. Ấy nhưng thật tình mà nói, vị trí song song giữa nó và Conchita có thể được coi là một trò trớ trêu quái đản. Nàng và chiếc xe cứu sinh tiềm tàng này dù ở đối diện nhau thì cũng chẳng khác bây giờ là mấy. Kể cả khi đã thấy nó, biết nó đỗ ở đấy từ đầu, nàng cũng chẳng thể đến gần nó hơn hiện tại. Bầu trời và những vì sao có những cách phân bổ không gian thật kỳ lạ.
Hỡi tay chân, hãy nâng ta, đỡ ta dậy, chỉ thêm lần này nữa thôi. Hỡi giọng nói, hãy cất tiếng đủ lớn để họ kịp nghe thấy. Nhanh lên, nhanh lên, chần chừ một giây sẽ là quá muộn mất!
Conchita giần giật hé môi ra. Ban đầu, thứ duy nhất vang lên là một tiếng lào khào câm lặng, tàn dư của cơn mỏi mệt. Thế rồi khi thử lần hai, giọng nàng vang lên. Nàng không thể nghe thấy nó. Một tràng âm thanh máy móc nhấn chìm lực phổi thảm hại của thiếu nữ. Người bên ngoài đã khởi động động cơ. Sáu ống xi lanh đấu với một dây thanh quản yếu ớt. Động cơ lạch khạch ồn ã, nổ như pháo nã giữa màn đêm, chắc chắn cần tra thêm ít dầu.
Nàng đứng thẳng dậy và quẫy đập điên rồ dọc mạn trong bức tường, cơ thể gần như quay mòng mòng. Trong lúc nàng làm thế, bánh xe có vẻ đã bắt đầu lăn và xe dần tiến tới trước, kéo dãn thêm mấy mét cách biệt ban đầu. Trong cái tích tắc dài lâu và ngoài sức chịu đựng ấy, một cuộc giằng co nổ ra: Cuộc tranh đấu kinh hoàng giữa tiếng la khàn đặc và các ống xi lanh mỗi lúc một nhanh. Bên nào sẽ trụ được lâu nhất? Nàng thì đã mệt lắm rồi trong khi động cơ lại quá khoẻ.
Thế rồi xe bắt đầu bỏ đi, giờ không còn chậm rãi nữa mà tăng tốc tối đa. Nhưng chính hành động ấy đã cứu mạng Conchita. Âm lượng của nó chùng xuống một chút, nhịp rung trở nên đều đặn hơn. Giọng nàng đã mò ra một kẽ hở, một tiếng vang xoay xở xẻ qua cái âm điệu đều đều mới mẻ kia.
Trong vòng vài giây trước khi tác động của giọng nói trở nên rõ rệt, xe vẫn như rời xa khỏi Conchita và nàng lại phải tiếp tục cuộc giằng co đáng sợ cũ. Thiếu nữ không thể gào thét thêm nữa, tràng gào vừa rồi là lần cuối cùng nàng còn thực hiện được. Thế rồi có tiếng phanh cạ chói tai và chiếc xe khật khừ dừng lại đầy miễn cưỡng, ngoài ý muốn. Nàng thậm chí còn nghe thấy cả tiếng rít bất đắc dĩ của cao su trên mặt đá.
Im lặng.
Thế rồi giọng một người đàn ông vang lên, tra hỏi màn đêm trống vắng. “Ai đấy? Có ai không? Có ai không?”
Thiếu nữ có thể hình dung thấy bàn tay ông ta đang dịch chuyển trở về cây côn, chuẩn bị đi tiếp, những tưởng mình đã nghe nhầm, rằng đó chỉ là do xe bị lỗi hay sao đó.
Trái tim căng phồng của nàng nhảy vọt lên như một con cá hồi, lật mình, rồi lại rơi ngược trở xuống, thiếu chút nữa là ngừng đập luôn vì cố gắng quá sức. Nhưng nàng vẫn xoay xở thốt ra được một âm nghèn nghẹn. “Đừng…!” Phần còn lại chỉ là cơ môi rung động không ra tiếng.
“Ai đấy? Đang ở đâu đấy?” Cánh cửa kêu cạch, ngập ngừng hé mở, trong khi người vẫn còn ở nguyên ghế lái. Chắc ông ta đã thò một chân ra ngoài.
“Trong này, trong All Saints, đằng sau bức tường.” Lời nói chỉ toàn nguyên âm nhập nhằng vào với nhau, nàng không còn có thể thốt ra được phụ âm nữa, nhưng lượng nguyên âm vẫn đủ để truyền tải thông điệp, hay ít nhất là giữ chân người đàn ông lại.
Có tiếng đế giày da đạp xuống mặt đá. Cánh cửa xe lại kêu cạch lần hai, nhưng lần này là tiếng mở vung ra ngoài.
Nàng được cứu rồi!
Ông ta hỏi một câu ngớ ngẩn. “Cô làm cái gì trong đó thế?” nhưng ôi trời ơi, sao mà nàng thấy chất giọng dạn dày tuổi tác này tuyệt vời đến thế.
“Cháu đang ở một mình trong này. Cháu bị mắc kẹt. Ôi, lạy Chúa thiêng liêng, cho cháu ra đi! Cho cháu ra bên ngoài đi…”
“Chờ một tí nhé. Đừng sợ. Chú sẽ trèo vào và đưa cháu ra…”
Tiếng giày da trượt xuống đá, bất lực, hai, ba, bốn lần. Mỗi lần đáp xuống, tiếng chân ông ta lại nghe càng thêm nặng nề. Thế rồi Conchita nghe thấy tiếng ông ta thử tìm cách lao về phía nó, tính dùng đà chạy nhấc bổng thân lên. Lần nào cái tiếng ngã xuống kia cũng vang lên.
“Chú không thể leo lên được, tường cao quá.” Giờ đến phiên ông ta thở không ra hơi. “Đợi một phút, chú sẽ đi tìm người giúp. Chú sẽ kiếm ai đó có thang và mang nó quay lại đây…”
Cửa xe lại mở ra, nghe như tiếng một cánh cửa dẫn xuống địa ngục.
Giọng nàng rú lên lanh lảnh, tạo thành một tiếng la chói tai. “Không, đừng bỏ cháu! Đừng bỏ cháu, cháu không thể chịu nổi đâu!”
Ông ta ngưng lại, chắc giờ đã lên xe được một nửa, tìm cách trình bày cho thiếu nữ hiểu. “Giờ cháu không sao rồi. Đã có người biết cháu đang ở trong đó. Đã có chú biết cháu đang ở trong đó. Chỉ một lát thôi là xong. Pequena, pequena (Cô gái bé nhỏ, cô gái bé nhỏ) , cháu không hiểu à?”
Conchita lại rú lên. Đó là tiếng rú của bản năng, chẳng có chút lý trí nào để nghe ông ta giải thích. “Chú sẽ không quay lại! Nếu chú không thể đưa được cháu ra thì hãy đứng đó và nói chuyện với cháu, ít nhất cứ đứng đó đi để cháu biết có người đang ở gần. Senor, senor, cho dù chú là ai, xin hãy rủ lòng thưong xót cháu. Đừng bỏ cháu ở lại một mình.”
“Nhưng phải đưa cháu ra ngoài chứ. Có một cửa hàng sơn chỉ cách đây một vài dãy nhà thôi. Chắc chắn họ sẽ có thang. Chú sẽ tìm chủ cửa hàng và chưa đến năm phút nữa chú sẽ quay lại đây…”
“Chú sẽ không quay lại, chú sẽ không quay lại…”
“Senorita bé nhỏ, sợ sệt à, nhân danh mọi thánh thần linh thiêng trên đời, chú thề là mình sẽ không bỏ mặc cháu trong đó. Ai lại nỡ lòng làm thế cơ chứ? Chú là một quý ông đấy. Nếu cứ tiếp tục thế này thì suốt đêm nay chú sẽ chỉ biết đứng đây, chẳng giúp gì được cho cháu. Tin chú đi.”
Thiếu nữ vẫn tiếp tục ngang ngạnh, bản năng vẫn lấn át lý trí. Thế rồi nàng chấp nhận. “Vâng ạ, senor, cháu tin chú,” nàng nói bằng cái giọng sướt mướt. “Nhưng chú hãy nhanh lên. Trong này tối lắm và có thứ gì đang di chuyển trong bóng tối đằng sau lưng cháu.”
“Quay lưng lại với chúng đi. Đừng nhìn ra sau. Đứng quay mặt về phía bức tường cho đến khi chú quay lại và chúng sẽ không thể làm hại cháu đâu.”
“Nhưng làm thế thì còn ghê rợn hơn. Cháu sẽ nghe thấy chúng đang lén lút áp sát sau lưng mình, chuẩn bị sẵn sàng vồ tới, nhưng lại không thể nhìn thấy chúng.”
Người đàn ông không rõ mặt mũi kia cất giọng đầy vẻ thương cảm với cảnh ngộ của Conchita. “Pobrecita (Tội nghiệp quá) . Chỉ một phút thôi, muchachita (cô gái trẻ) , chỉ một phút nữa thôi và bọn chú sẽ đưa cháu ra.”
Nàng không kiềm chế được ham muốn van nài thêm lần cuối khi cửa xe đóng sập lại lần nữa. “Đừng quên cháu, senor… Chú sẽ không quên cháu đâu, đúng không senor…?”
“Cháu cứ ở nguyên chỗ đó. Chú đi ào cái là sẽ quay lại luôn,” giọng ông ta vang lên trên nền động cơ tái khởi động. “Đừng đi đâu cả nhé, để chú còn biết tìm cháu ở đâu.”
Tiếng động cơ trở nên bình ổn, đi xa dần và thiếu nữ lắng nghe ông ta ồn ã bỏ đi tìm người cứu trợ. Sau khi chiếc xe đã rời đi, một âm máy nổ cuối cùng vọng ngược lại từ xa như một lời tái bút, một câu nhắn nhủ vương vấn. Và rồi thì chẳng còn âm thanh gì nữa.
Lại im lặng. Lại đêm tối và lại một thân một mình.
Conchita đứng đó, người ngây đơ như chết lâm sàng, mắt nhìn trân trối về phía bức tường đen, như thể đang muốn bám dính lấy chỗ lần chót nghe thấy giọng của ông ta. Nàng e sợ, chỉ cần dịch mắt đi nửa phân thôi, chỉ cần nhìn ra chỗ khác thôi, ông ta sẽ không quay lại nữa, cái sức mạnh thần kỳ ràng buộc ông ta sẽ tan biến. Mê tín như vậy là đặc điểm chung của mọi đứa trẻ trong cơn hoảng loạn.
“Chú ấy đã nói là đừng đi đâu cả,” nàng tự thì thầm với mình, cẩn thận nhắc lại cho khỏi quên.
Thế rồi tự nhiên, như thể không còn đủ sức đứng thẳng được nữa, như thể dưới chân vừa có cái gì sụp mất, thiếu nữ ngã phịch nửa người xuống mặt đất như hồi nãy, đầu, cổ và vai vẫn được một bên tay chống thẳng dậy. Nàng không ngất đi, nhưng đã kiệt quệ hoàn toàn. Nàng chỉ còn làm được hai thứ, hít thở và chờ đợi. Đúng hơn là ba thứ.
Hi vọng cứ như một con ngài trắng, mang trên mình cặp cánh tí hon, bay lượn quanh Conchita trong bóng tối.
Cái lạnh từ rêu mốc và nền đất ẩm ướt ngấm vào trong chân và bàn tay xòe rộng của nàng, khiến chúng tê dại đi. Hay đó là do chất dịch của những người nằm chen chúc bên dưới nơi này đang dần truyền vào cơ thể nàng nhờ một quá trình thẩm thấu kinh dị nào đấy nhỉ? Conchita vội giật tay lên và vẩy mạnh ra ngoài, động tác y hệt như đang vẩy nước.
Con ngài giờ đã bay rộng vòng hơn, không còn sát bên người nàng như trước. Bao lâu đã trôi qua rồi nhỉ? Bốn phút? Hay là năm?
Thiếu nữ khó nhọc chống gối dậy, sau đó đan tay vào nhau và gục mặt vào đó. “Cho chú ấy quay lại đi. Cho tôi xin một điều nhỏ bé thế thôi. Cho chú ấy quay lại đi.”
Con ngài bắt đầu bỏ đi, nó đang bay đi rất nhanh, tới một nơi nào khác. Cặp cánh nhỏ xíu dần tan biến vào thinh không.
Conchita thì thầm vào lòng bàn tay, như thể đây là bí mật chỉ một mình nàng với chúng biết, “Chú ấy bảo mình không được đi đâu cả. Trông mà xem, mình đang cố gắng không phát hoảng. Mình im lặng lắm, không ai nghe thấy mình đâu. Hồi nãy suýt nữa thì mình đã buột miệng, nhưng mình đã không để âm thanh vọt ra, mình đã bóp nghẹt nó. Lần này cũng sẽ không được thốt ra…”
Thế rồi một tiếng gào ai oán vang lên, thiếu nữ bối rối nhận ra đó là tiếng hét của mình.
Nàng đưa tay thộp lấy cổ họng, như thể muốn chặn đứng nó từ bên ngoài sau khi không thể ngăn được từ bên trong. Cách này cũng vô hiệu. Lại thêm một tiếng hét nữa vùng thoát ra ngoài, không cản nổi. Nhanh lên nào! Chú đang ở đâu rồi…? Tiếng hét vang vọng trong bầu không khí im lìm của nghĩa trang như một lưỡi dao gõ đập lung tung, vọng qua bức tường và vào trong màn đêm bên kia.
Sau khi sự tĩnh lặng đã được lặp lại và còn im ắng hơn gấp bội, Conchita ngờ rằng mình vừa nghe thấy một âm thanh. Nó không rõ ràng như tiếng cửa xe hồi nãy, thậm chí còn thua cả tiếng còi xe trước đó. Đó là một thứ khó nhận diện hơn, tựa như… một tiếng rơi nhẹ. Tiếng động bắt nguồn từ đâu đó bên kia bức tường, không phải ở trong này với nàng. Chắc đó chỉ là một chiếc lá hay cành cây nhỏ vừa rơi xuống đất.
Ấy nhưng nó cũng không hẳn như thế. Nó vừa mạnh mẽ hơn mà đồng thời cũng nhẹ nhàng hơn, không sột soạt bằng, bền bỉ hơn. Nó khá giống tiếng một bàn chân đi giày lụa, một bàn chân vô cùng nhẹ nhàng, mềm mại, khẽ khàng. Chỉ có điều, nếu là tiếng bước chân thì phải liên tục, trong khi tiếng động này chỉ là một mẩu âm thanh riêng lẻ lọt vào tai nàng, gây nên bởi phần đất chịu lực bị nứt hay chảy lỏng sao đó.
Ít nhất thì đó là một trường hợp khả dĩ, là thứ nghe tương tự nhất. Nhưng liệu có đúng là như thế hay không? Rất có thể nó bắt nguồn từ của một hạt cây ướt bị nứt hay một quả gai nặng rơi xuống, hay một mảng vữa tường lở ra sau mấy lần bị người đàn ông kia loay hoay tìm cách trèo lên.
Một vài giây sau, chẳng có gì diễn ra cả và thiếu nữ dần trở nên lơ là.
Thế rồi một cành con gãy rắc. Một cành cực kỳ nhỏ. Không to hơn một màng vỏ là bao. Nó vẫn vọng lại từ bên ngoài, không phải trong này.
Cơn gió thổi tới từ phía sau Conchita, xộc vào bức tường và tràn ra bên ngoài, nãy giờ vẫn thế. Nó không thổi mạnh, lực gió chỉ đủ để khiến lá cây rung rinh, đủ để mang được mùi hương từ nơi này sang nơi khác. Mang mùi hương của vô số xác chết sang bên kia bức tường. Vô số xác chết và một người còn sống. Nhưng trên đời làm gì có cái lỗ mũi nào phát hiện nổi một mùi người sống? Làm gì có khứu giác ai đủ tinh tế…?
Có một tiếng khịt. Một hơi thở nóng hổi phì lên bề mặt đất, gây hiệu ứng chẳng khác nào màn hướng âm. Như thể có cặp lỗ mũi nào đó đang chĩa vào bức tường mà tìm kiếm. Một cặp lỗ mũi nở lớn phà hơi, những cái ống ồn ã.
Một sinh vật sống đang ở gần Conchita. Cảm giác ấy, điều chắc chắn ấy, sự thật ấy dần xâm chiếm lấy nàng, mặc dù chẳng có thêm bất kỳ bằng chứng âm thanh nào để xác nhận chuyện này cả. Mọi sợi dây thần kinh trong người, mọi nang tóc trên đầu đều cam đoan với nàng như thế. Sự im lặng này càng kéo dài thì cảm giác kia càng trở nên rõ ràng hơn. Như thể trong lúc thiếu nữ nín thở lắng nghe, sinh vật đó cũng đang phấn khích nín hơi gần nàng, dỏng tai nghe ngóng.
Nó không chỉ lắng nghe bằng tai mà còn dò tìm con mồi với những lỗ chân lông gợn sóng, chính xác vô cùng. Lan tỏa xuyên qua lớp vách đá đồ sộ, chạm tới cơ thể nàng là những làn sóng nhận thức, được từ hóa bởi một thứ sức mạnh hùng cường. Có thứ gì đó, có ai đó đang ở đây, khuất tầm mắt đằng sau bức tường. Án binh bất động rình rập Conchita.
Mấy tiếng hét vừa rồi đã đưa đường cho thứ gì đó đến gần nàng. Kín tiếng như nó thì không thể nào là con người được. Hay là một con chó? Nhưng chó thì sẽ sủa hay ít nhất sẽ gầm gừ để thể hiện sự nghi ngờ của mình. Sinh vật này thì lặng thinh. Lặng thinh đầy chết chóc, lặng thinh đầy gian tà.
Conchita không thể chịu nổi cảnh căng thẳng kéo dài như thế này nữa. Bầu không khí này không chỉ do mình thiếu nữ gây ra, mà thực chất nó như một dòng điện hai chiều, vừa chảy vào người nàng, vừa tràn ra ngoài từ bên trong nàng.
“Có phải chú đấy không?” Nàng run rẩy cất tiếng. “Tại sao chú im lặng thế?”
Nàng biết đó là điều không thể. Người đàn ông chắc chắn sẽ lái xe quay lại. Hoặc nếu không thì ít nhất cũng phải có tiếng chân bước vội vã, không giấu giếm, tiếng một cây thang kéo lê, tiếng người gọi nàng.
Đáp lời lại là một tiếng nạo ghê tai, cà dọc mặt ngoài bức tường. Một tiếng chà xát như giấy nhám, thẳng trước nơi Conchita ngồi co ro. Âm thanh ấy… nó là âm thanh lũ mèo đôi khi vẫn tạo ra mỗi khi giơ vuốt cào đồ. Chỉ tích tắc sau, nàng cảm thấy mặt đất rung chuyển, lan ra tận chỗ mình, như thể có thứ gì, một cơ thể nặng nề nào đó, vừa mới đáp uỵch xuống. Nó đã nhảy vọt lên và sau đó loạng choạng tiếp đất.
“Ai đấy?” Thiếu nữ giật giọng hỏi. “Ai ở đó?”
Chừng nào chưa chạm đến mục tiêu, các cú nhảy luôn vô thanh, ấy nhưng không hiểu sao nàng vẫn biết rằng có thứ gì đó vừa mới nhảy. Sự xáo trộn của không khí đã mách bảo Conchita. Một thoáng sau, sự nghi ngờ ấy được xác nhận. Tiếng rắc vọng xuống từ đâu đó trên đầu nàng, nghe như tiếng gỗ bị uốn, tiếng lá xôn xao ồn ã. Ấy nhưng đúng khi ấy thì gió lại lặng, chẳng có thứ gì có thể khiến chuyện ấy xảy ra.
Cặp mắt thiếu nữ hướng về phía cành cây chìa ra ngoài bức tường, gần như ở ngay trên đầu. Nó rất dày, chu vi rộng, đủ chắc để đỡ… nhiều thứ. Đã có chuyện xảy đến với cành cây ấy, nó đã biến đổi. Mặc dù cảnh vật tối mịt, nàng vẫn thấy được nó đã đổi khác.
Từ nãy đến giờ nó vươn thẳng, tách biệt với mép tường. Khi ấy nó nằm vuông góc với thân cây. Giờ thì nó trĩu xuống, đặc biệt là phần chót ngoài, nơi nàng không thể đưa mắt nhìn theo, còn phần gắn với thân cây thì không chúc bằng. Chẳng những vậy, nó còn đang cạ vào tường. Nó đang phát ra tiếng động. Nó đang rung rung, nhẹ gõ lên mép đỉnh bức tường tại chỗ điểm tựa, lắc lư thấy rõ, bị sức ép khiến cho rung rinh. Có thứ gì đó đã tóm lấy nó, hoặc là đang đè lên nó, bám lấy nó và leo lên đầy nhẹ nhàng, thận trọng, tỉ mẩn, tiến về phía tâm cây.
Conchita không còn gân cổ lên nói được nữa. “Ai đấy?” Nàng khàn giọng thì thầm. Dù muốn nhưng thiếu nữ vẫn không thể rời mắt, quay người và bỏ chạy được. Nàng đứng chôn chân tại chỗ, bị hớp hồn như đang gặp phải một cơn ác mộng, đầu ngửa ra sau, nhìn chằm chằm vào khoảng đen ngòm bên trên. Trông nó như một sinh vật đang dồn sức, sẵn sàng nhào tới.
Trước giờ trên đó chẳng có nguồn sáng nào cả. Cái cây này bị các cây khác xung quanh che khuất, bức tường và phần đất bên dưới cũng bị che phủ tương tự. Mặt trăng suốt bây lâu nay vẫn cứ treo mình đâu đó trên nền trời, sẵn sàng châm mồi sáng, nhưng chẳng có gì để đón lấy ánh sáng của nó cả.
Giờ thì đã có thứ nhận sáng rồi. Đằng sau chùm lá quẫy động, nhấp nhô mọc trên đầu chót của cành cây, chỗ nó khuất sau bức tường, có gì đó đang nhòm về phía thiếu nữ, nhòm xuyên xuống dưới. Một thứ gì đó tỏa sáng yếu ớt, xanh nhợt nhạt, tựa như lân quang. Trông nó giống một con mắt sắc lẻm, tàn nhẫn, hút lấy các đốm trăng lơ là đang náu mình bơi lội trong bóng tối và trở nên hiển hiện, bừng cháy, dữ tợn nhìn nàng qua lớp lá che.
Miệng Conchita co giật, hé ra, định gào lên lần cuối, nhưng đã không còn thời gian nữa. Tiếng thét lâm chung của nàng vang lên quá muộn.
Lần này, sau khi chuyện xảy ra, Manning đến hiện trường ngay lập tức. Anh đang đi cùng Robles thì tin được truyền về comandancia (đồn chỉ huy) trung tâm, bởi vậy nên bây giờ hai người cùng chui ra khỏi một xe.
Vài chiếc xe công vụ của sở cảnh sát đã đến trước, đỗ thành một hàng dọc bên ngoài bức tường. Chống vào tường là tầm ba đến bốn cái thang, dưới chân có cảnh sát đứng canh, bởi đây là lối ra vào ngắn nhất và dễ dàng nhất. Sự việc diễn ra ở khu vực cuối nghĩa trang.
Lúc định theo chân Robles leo lên thang, Manning bị đội cảnh sát ngăn lại vì là người không phận sự. Anh túm lấy đuôi áo khoác viên thanh tra cảnh sát, bấu thật chặt, dứt khoát không để bị tách khỏi ông ta.
“Anh này đi cùng tôi,” Robles nói gọn.
Bên trong bức tường, ứng với mỗi thang là lại một chiếc thang nữa, tạo đường xuống đất. Họ quay người và leo giật lùi xuống.
Toàn bộ khu nghĩa trang này đã bị biến thành một mớ bòng bong vô cùng quái đản của những ngọn đèn di động công suất lớn, các luồng tia dày của chúng trắng bệch như băng, mép viền tím, đan chéo vào nhau. Khắp xung quanh chúng, thỉnh thoảng lại xuất hiện những chớp sáng xanh của đèn nháy máy ảnh, ánh đèn pin vàng màu ong mật vung vẩy cả xa lẫn gần, đôi lúc lướt ngang các tấm bia mộ và thoáng khiến chữ khắc trên đó hằn rõ lên. Chốc chốc lại có tàn thuốc lá và xì gà rực đỏ bừng lên từ bên một nấm mồ nào đó, nơi có người vừa ngồi xuống nghỉ ngơi một lát hoặc buộc lại dây giày hoặc đối chiếu ghi chép với người khác. Nơi này như một cái nhà thương điên, quay cuồng với bao hoạt động, không biết kiêng nể gì hết.
Bên chân một cây thang là một cậu thanh niên đang đau khổ đến mụ mẫm cả đầu óc, người khoác một chiếc áo choàng thắt đai không thấm nước, đầu trần không mũ và tóc tai rối bù vì sốc. Cậu ta được một cảnh sát và một người mặc thường phục đỡ lấy. Chàng trai trẻ này liên tục gồng người tìm cách lao khỏi vòng tay họ, vai và đầu rướn tới trước, về phía một chỗ chân tường đằng xa, nơi có mấy luồng đèn công suất lớn đan xen, tạo thành một hố sáng chói lọi kinh khủng. Chỗ đó có một miếng vải được trải rộng. Tiếng nức nở của cậu thanh niên cứ bật lên mãi, nghe trầm trầm, run bần bật, vang lên từ bụng. Có thể thấy bụng cậu ta nhô lên xẹp xuống mỗi lần tiếng thút thít phát ra. Guơng mặt cậu ta là một tấm mặt nạ trắng bất động.
“El novio (Cậu người yêu) ,” một trong hai cảnh sát giải thích, đáp lại câu hỏi của Robles.
Một người nóng tính gần đó quát, “Làm cậu kia ngậm mồm lại xem nào. Lôi cậu ta ra khỏi đây hay tiêm thứ gì để cho cậu ta im lặng đi! Cậu này chỉ tổ làm mọi sự rối thêm thôi.”
Sau một hồi nấn ná ở lại quan sát cậu thanh niên, Manning rảo bước ra chỗ Robles, người đang đứng bất động gần chỗ miếng vải. Anh chàng người Mỹ đến không đúng lúc chút nào.
Cảnh tượng thật kinh khủng, thậm chí còn thảm thương hơn nạn nhân đầu tiên. Ít nhất thì thi thể ấy còn được đưa vào nhà xác, phần nào khơi gợi cảm giác được che chắn và yên nghỉ. Còn thi thể này là hiện thân của sự điên loạn, vung vãi khắp nền đất. Manning vội bước ngược ra sau, rời cái vùng sáng lóa mắt và lén lút quệt mồm lên ống tay áo. Robles nhìn không chớp mắt, mặt vô cảm, nhưng hai bên thái dương thì lấm tấm mồ hôi. Ngón tay út của ông ta hơi ngó ngoáy và thi thể lại được che đi.
Các thông tin liên quan đang được một nhân viên cấp dưới đứng sát mép ngoài vùng sáng đọc cho Robles nghe. Ông ta trông có vẻ chẳng để tâm chút nào hết. Chỉ duy nhất một bộ phận trên người ông ta còn chuyển động, ấy chính là đôi mắt. Chúng ghi nhận tất cả mọi thứ, không ngừng đảo xung quanh: khắp trên nền đất, ngước dọc cái thân cây chết, men theo cành cây ra ngoài, rồi lại theo bức tường, đóng khung hiện trường lại trong một khối vuông kín.
Cuối cùng Robles cũng mở miệng, “Anh bảo nhân chứng… không có ai. Thôi được rồi, để hỏi nhân chứng phụ vậy.”
Một người đàn ông mắt lấm lét, tuổi trạc ba mươi tiến tới, bước vào ánh đèn. “Juan Gomez, số nhà 36 Đại lộ Betancourt,” nhân viên của Robles cung cấp thông tin từ phía sau.
“… may mắn là có ông ta quay lại cùng tôi. Tôi đoán ông ta không muốn để cái thang bị khuất mắt trông coi. Dù sao thì lúc chúng tôi quay lại đây, mọi thứ im ắng khác thường. Tôi thử gọi cô gái nhưng không có ai đáp lời nữa. Tôi kê thang vào tường và bắt đầu trèo lên để xem xét. Tôi cứ nghĩ là lúc mình vắng mặt, có khi ai đó đã đến cứu cô gái ra rồi. Trước khi tôi kịp leo xuống bên trong, tôi nghe thấy ông ta kêu lên bên ngoài. Ông ta tìm thấy mấy vệt máu khô hay dấu tích dính máu nào đó ở ngoài bức tường…”
Robles chừng như chẳng lắng nghe gì hết. Tất cả những gì ông ta nói là, “Chúng tôi sẽ yêu cầu anh phải có mặt ở tòa. Và nhớ cho chúng tôi biết tên thật của anh trước khi ra về, Senor Gomez.”
“Nhưng tôi đã lập gia đình…”
“Chúng tôi không quan tâm đến việc anh đi đâu. Anh lái xe ra ngoài vào lúc tối muộn, thế là đủ rồi. Người tiếp theo.”
Ông gác cổng được đẩy vào trong luồng đèn, đưa lời khai, sau đó lại bị đẩy ra vùng tối bên ngoài.
“… và tôi cứ tưởng là cô nhóc này đi về rồi. Tôi đã thấy có người phụ nữ nào đó mặc toàn đồ đen đi ngang qua. Ôi, mắt tôi chẳng còn nhìn được rõ nữa, đặc biệt là vào lúc chạng vạng. Thế nên tôi thổi còi báo hiệu, sau đó khóa cổng lại. Đáng ra mọi người đều phải biết nghĩa trang đóng cửa lúc nào…”
Robles tiếp tục hành xử như thể chẳng buồn nghe lấy lời nào, đầu không quay về phía người nói dù chỉ một lần.
Tiếng người gọi nhau từ khắp mọi nẻo xa xôi trong nghĩa địa khiến Robles chú ý. Lần đầu tiên, ông ta quay đầu khỏi cái thứ nằm trên nền đất trước mặt mình, gay gắt nạt cậu nhân viên đứng gần nhất.
“Họ làm cái quái gì ngoài đó? Bảo lũ đần độn ấy quay về ngay. Nó chẳng còn ở trong này nữa đâu, họ chỉ đang lãng phí thời gian mà thôi.”
“Nhưng mà sếp ơi, nhiều chỗ cây cối mọc rậm lắm, đặc biệt là ở đoạn giữa,” cậu nhân viên phản bác. “Và bức tường này quây kín toàn bộ nghĩa địa, chẳng khác nào một cái chuồng nhốt hiệu quả. Ở mạn đông, tường thậm chí còn cao hơn và cắm đầy mảnh chai.
“Các cậu không có mắt à? Các cậu ở đây tận nửa tiếng trước tôi. Ai cũng nhìn thấy là nó đã chui ra ngoài theo đúng cái lối nó chui vào.”
Manning quay sang phía Robles, đúng lúc ông thanh tra ngồi thụp xuống gần sát mớ gớm guốc kia, nhặt lấy một vật thể không rõ danh tính, bê bết máu khô, có hình dạng con tàu, dính lên thi thể. Ông ta vuốt thẳng nó, kẹp vào trong một mẩu giấy trắng sạch sẽ. Giờ đã có thể trông thấy rõ, nó có một cái cuống tí hon lộ ra khỏi một đầu miếng giấy. Ấy nhưng vẫn khó có thể xác định được đó là thứ gì nếu ông ta không giải thích. Lớp máu bên trên đã giấu biệt danh tính của nó.
“Một chiếc lá,” ông ta chợt nói, giữa cái sự im lặng chăm chú vừa mới xuất hiện. “Đây ban đầu là một chiếc lá. Một chiếc lá xanh, tạo vật của Chúa, trước khi bị dịch tử thi kết lại xung quanh. Có đến hàng chục chiếc, phủ kín khắp người cô gái trẻ, giống như lông gà mới vặt phân nửa. Trong giai đoạn này của năm thì không có chuyện lá rụng. Gốc chúng không nằm trên mặt đất.”
Mắt ông ta hướng về phía cái cành cây trên đầu. “Chúng bị lắc cho rụng xuống người cô gái. Nó nhảy từ trên đó xuống, đè lên người nạn nhân, làm lá rụng như mưa. Hẳn tiếng kêu gào của cô gái đã khiến nó chú ý trong lúc đang rình mò bên ngoài bức tường. Thế rồi sau khi đã giết chóc xong, nó lại nhảy lên trên cành cây, leo qua mép tường và quay trở về chốn cũ. Mắt cậu vứt đâu rồi hả? Trong lúc đợi tôi thì mấy cậu làm cái trò gì thế? Đưa cái kính lúp đây xem nào.”
Kính được chuyền cho Robles và ông ta đưa nó men theo thân cây, cách một khoảng đủ gần để trông cho rõ. “Né đầu ra khỏi ngọn đèn đi, đứng dịch sang bên! Đấy! Cậu thấy chưa? Thế đã đủ rõ ràng chưa? Cậu có thấy các vết móng nó cào trên vỏ cây không? Vết nào cũng sâu nhất ở trên đỉnh, trên ấy nó đục xuyên thủng cả vỏ, càng xuống dưới thì càng là những vết trầy nông. Vậy tức là các vết này được gây ra khi con vật leo lên. Móng vuốt của nó bấu sâu xuống để giữ cho chắc, mỗi lần bấu vào là lại bị sức nặng cơ thể kéo cho hơi tuột xuống, thế rồi nó đưa móng còn lại lên để nâng thân thể cao hơn, cho đến khi lên đến cái cành cây. Kể cả vậy, chắc tiến trình leo cây của nó cũng vẫn rất nhanh, mắt người gần như không thể theo dõi kịp, nhưng may mắn thay, vết tích của nó không biến mất mau chóng như thế. Lưu lại trên phim đi.”
Trong lúc đưa trả cái kính lúp mới mượn, ông thanh tra đế thêm đầy khinh bỉ, “Cần phải tặng cho mấy cậu vài bát ăn xin với gậy dò đường, rồi cho nhập hội người mù ngồi trên mấy băng ghế quanh khu chợ Mayor.”
Manning biết ông thanh tra cực chẳng đã mới cho mình vào đây và nên còn giữ mồm giữ miệng. Nhưng anh không thể nhịn được, bèn gay gắt chen ngang, “Và bất chấp bằng chứng như thế, ông vẫn nghĩ vụ này là do một con báo gây ra ư?”
Robles xoay người về phía Manning. “Ý anh là sao?”
Anh chàng người Mỹ gần như coi thường mà nhìn ông ta. “Một con thú rừng, sau khi vào được đến đây, lại đi quay lưng với không gian đầy cây cỏ và bụi rậm che chắn, những thứ bản năng thôi thúc nó tìm kiếm, để tự mình chọn cách quay về với những cạm bẫy làm từ đá lát và nhựa đường của phố xá ngoài kia? Ha!”
Trước khi Robles kịp trả lời, một cảnh sát điều tra vội vã lên tiếng bảo vệ sếp mình, chắc là để vớt vát thể diện. “Phần tường bên ngoài có vương lại vết bàn chân dính máu, chỗ nó nhảy xuống sau khi đã tấn công xong. Chúng tôi đã chụp ảnh rồi.”
Đó là một phát hiện rất quan trọng. Miệng Manning há ra rồi đóng lại, không thốt được nên lời.
“Để tôi tung nốt golpe de gracia (đòn chốt hạ) nhé, nhìn kia mà xem,” Robles tàn nhẫn nói. Ông thanh tra mượn một cái kẹp nhỏ, nhanh chóng cúi xuống thi hài bị phanh thây lần thứ hai. May là lần này ông ta quay lưng về phía bọn họ. Manning không thể quan sát được ông ta đang kẹp lấy cái gì, chỉ thấy mỗi phần khuỷu tay gập.
Ông ta đứng lên, quay lại, vẫn lấy giấy ra kẹp thứ đó vào. Món đồ lần này trông như một cái gai nhỏ, cong vòng, một đầu dày hơn đầu còn lại.
“Bất chấp những bằng chứng như thế, anh vẫn nghĩ vụ này không phải do một con báo gây ra ư?” Ông ta nhại lại đầy chua cay. “Giơ kính lúp ra soi cho senor biết tuốt xem.”
Manning nhìn xuống hình ảnh phóng đại của nó, giờ đã được to ngang kích thước một cái ngà bé, trông giống chiếc sừng bị bẻ gãy ở phân đáy.
“Cái gì đấy, một cái răng à? Một cái nanh à?”
“Chuyên gia về loài báo như anh thật đúng là dở quá, anh cần ôn lại kiến thức động vật học đi,” Robles lạnh lùng đáp. “Đây là đầu chót một bên móng của con báo, bị gãy rời ra. Và găm vào cổ họng cô gái.”
Suốt một phút liền Manning không thể đáp lại câu nào, nhưng anh không chịu đầu hàng hay rút lời. Anh lui xa khỏi cái thứ đáng buồn nôn kia, bấy giờ đang được Robles gí sát vào mặt đầy nhạo báng. Manning bối rối lẩm bẩm, “Việc nó quay lưng lại với nơi này và ra ngoài thêm lần nữa là trái với mọi quy luật tự nhiên.”
Robles lớn giọng hách dịch, “Khi quy luật tự nhiên xung khắc với bằng chứng không thể phủ nhận được như thế này, quy luật tự nhiên sẽ bị gạt bỏ. Với cả có ai biết được chính xác các quy luật tự nhiên đó là gì đâu. Anh biết à? Hay là tôi? Chẳng phải chính chúng ta cũng là động vật à? Chúng ta thậm chí còn chẳng hiểu hết về loài vật này để gán ghép các quy luật hành vi bất biến cho chúng. Chưa biết chừng chúng cũng khó đoán định y như con người. Có thể loài báo không có bản năng quay lại đường phố nhân tạo. Nhưng con này thì vẫn làm thế. Có thể nó đã quen với hang ổ của mình. Có thể nó là trường hợp ngoại lệ. Nhưng bất kể có phải là trường hợp ngoại lệ hay không, nó vẫn cứ là một con báo!”
Sau khi đã công khai chỉ rõ cho cái anh chàng toàn đưa ý kiến ngược đời kia thấy rõ sai lầm của bản thân, giúp đám nhân viên của mình được một phen thỏa mãn ra mặt, Robles quay lại với công việc chính. “Ai cứ gây ồn thế nhỉ?” Ông ta khó chịu hỏi.
“El novio (Cậu người yêu) ,” ai đó lẩm bẩm.
“Đã thẩm vấn gì cậu ta chưa? Cho cậu ta ra đây!”
Cậu thanh niên loạn thần vì đau khổ, người khoác áo choàng thắt đai kia được hai người đỡ nãy giờ vội vã trình diện.
“Raul Belmonte,” trợ lý của Robles nói. “Số nhà 14 Calle San Vicente. Nhân viên thu ngân, Banco de Comercio (Ngân hàng Thương mại) .”
Gương mặt cậu thanh niên nhìn thật tội nghiệp.
Sống ở đời không nên yêu quá sâu đậm, Manning nghĩ thầm. Trông cậu ta kìa, thà không yêu còn hơn. Trong những chuyện như thế này thì đàn ông còn yếu đuối hơn cả đàn bà, không thể kháng cự được.
“Cậu nói được không, Belmonte?” Robles cộc lốc hỏi. “Kể lại sự tình cho chúng tôi nghe xem nào.”
Giọng cậu ta vô hồn, không cảm xúc.
“… cháu ra khỏi nghĩa trang để gọi điện về nhà cô ấy, hỏi cô hầu gái vẫn hay giúp đỡ chúng cháu xem hôm nay cô ấy có ra khỏi nhà không. Muốn làm vậy thì cháu phải vào đúng cái quán mà cô ấy vào khi đi cùng companera (người đồng hành) , bởi đó là nơi duy nhất quanh đây có điện thoại. Hẳn cô ấy ngồi khuất mắt cháu trong một quầy sâu trong quán. Chắc cháu đã quay lưng lại với cô ấy, trong cái bốt điện thoại đặt ở bên quán. Và khi cô ấy rời đi, bọn cháu chẳng ai nhìn thấy nhau! Rồi sau khi nghĩa trang bị khóa, thay vì đi về, cháu sang đường lần hai, làm một ly cognac giải sầu. Cuối cùng, lúc cháu ra khỏi quán và vào trong xe, cháu nghe thấy đâu đó có tiếng ai kêu văng vẳng, giờ cháu mới nhớ ra. Nhưng khi ấy cháu cứ nghĩ là mình chỉ tưởng tượng ra mà thôi. Vì đang quá đau khổ do không được gặp cô ấy, cháu chẳng buồn quan tâm nữa. Điều đó có liên quan gì đến cháu đâu?”
Cậu ta bắt đầu run rẩy. Robles ra dấu và họ đưa chàng trai trẻ đi. “Tạm giam cậu ta lại,” viên thanh tra lặng lẽ nói ngay khi cậu ta rời khỏi tầm nghe.
“Ông không nghĩ là…?” Manning phản đối.
“Chỉ để bảo vệ cậu ta thôi,” Robles đáp. “Cho đến khi bình phục hơn, cậu ta có thể tự làm hại bản thân. Nhìn vẻ ngoài cậu ta là biết.”
Manning quay đi và chậm rãi rời xa ánh đèn chói lóa kinh khủng, không ngừng chiếu lên thi thể của Conchita Contreras. Tất cả đều tò mò liếc nhìn anh, quan sát cái cách anh gục đầu đầy ngẫm ngợi và vung chân đá bừa trên đất, thể hiện sự không vừa lòng và chưa bị thuyết phục.
“Cái tay kia bị ám ảnh,” anh nghe thấy tiếng Robles cau có giải thích với mấy nhân viên cấp dưới, không buồn hạ giọng, “là con báo không phải kẻ liên đới duy nhất trong vụ này. Đừng hỏi tôi tại sao!”
“Cũng đừng có hỏi tôi làm gì!” Manning quay đầu nói với lại. “Nhưng cũng đừng có bảo tôi bỏ cuộc.” Anh đặt chân lên bậc dưới của một cái thang, leo ra khỏi nơi đáng nguyền rủa này.
“Nó nằm chình ình ngay trước mắt anh ta đó,” Robles vẫn cứ nói tiếp bằng chất giọng ồn ã, oang oang vì bị chống đối. “Nhìn mà xem, mấy chỗ xương sườn còn lòi hẳn ra! Con người nào có thể gây ra một cảnh thảm thương thế này được?”
Từng bậc thang một từ từ trôi xuống dưới chân Manning.
“Và tôi khẳng định điều ngược lại,” anh nói vọng qua vai phản đối, “rằng chỉ con người mới có thể kỹ lưỡng đến thế. Ngay cả đối với loài vật hung bạo nhất thì chuyện này cũng đi quá xa rồi. Cơn giận dữ của chúng không kéo dài như vậy, con mồi chết là mọi thứ chấm dứt. Chúng có ký ức ngắn hơn.”
Một tràng cười hô hố, không chút vui vẻ rộ lên khi anh nhấc chân qua mép tường, vụng về bỏ đi không chút luyến tiếc.
[15] Ngày đặt tên: Trong Công giáo, các giáo dân sẽ có một ngày được rửa tội và đặt tên thánh.
[20] Don Rafael Contreras y galbo (tiếng Tây Ban Nha): Cách gọi tên trang trọng của ông Rafael Contreras.
[21] Pergola: Một kiểu kiến trúc cổ, thường thấy trong sân vườn thời Phục hưng. Nó bao gồm một vùng không gian mở, xung quanh có các cột đỡ lấy một mái hiên lớn.
[22] Izquierda (tiếng Tây Ban Nha): Bên trái.
[23] Bắt thế (còn gọi là chứng giữ nguyên thế): Đây là một chứng bệnh thần kinh, khiến cơ bắp cứng đơ lại, toàn thân bất động. Người bệnh sẽ vẫn hoàn toàn tỉnh táo và ý thức được mọi sự xung quanh, nhưng không thể phản ứng.