Càng lúc Clo-Clo càng chán anh chàng sĩ quan hàng hải thương thuyền[26] người Đức này. Mà cô cũng không chắc anh ta có phải là dân Đức, thậm chí còn không chắc anh ta có phải là một sĩ quan hàng hải thương thuyền hay không nữa. Tất cả những gì cô biết là anh ta đến từ một đất nước mà người dân sở hữu mái tóc màu bơ cùng cặp mắt xanh biếc và không nói sõi tiếng Tây Ban Nha. Rằng anh ta mặc áo khoác xanh ngắn đính khuy đồng xỉn, thay vì đính khuy xương như những người khác.
Việc cô chán anh ta chẳng có gì là cá nhân hết. Mọi việc cô làm sau 6 giờ tối chẳng bao giờ mang tính chất cá nhân. Đó là khung giờ làm việc của cô. Ngay từ lúc họ mới gặp nhau, anh ta đã không rủng rỉnh tiền. Hẳn trước khi cập bến, bạn tàu đã cảnh báo anh ta là chớ có mang toàn bộ tiền công theo mình khi vào thành phố. Bây giờ thì anh ta lại còn tằn tiện hơn, nửa tiếng mới gọi một ly.
Anh ta lại cứ liên tục đòi cưới cô, khiến cuộc trò chuyện càng thêm nặng nề. Nhưng vấn đề chính là anh chàng này đã chiếm dụng quá nhiều thời gian của cô, khiến cô bị trễ lịch đi đêm của mình. Từ đây cô sẽ phải bỏ qua điểm dừng 10 giờ và đi thẳng đến điểm dừng nửa đêm.
Clo-Clo tuân theo một thời gian biểu vô cùng nghiêm ngặt. Cô sống theo nhịp quay của kim đồng hồ, nếu không thì sẽ chẳng làm ăn được gì. Phải làm việc thật nhanh, phải di chuyển liên tục. Mỗi đêm đều có những điểm dừng cố định, mỗi điểm dừng đều có thời lượng quy định.
Thời gian ban ngày, kéo dài đến khoảng 7 hay 8 giờ tối, đều được coi là buổi sáng hết, thì không tính. Lúc ấy chẳng có gì để trông đợi. Cũng chẳng kiếm chác được gì. Khi ấy cô ngồi nhà và tết tóc. Cô giặt tất. Cô nghỉ ngơi. Nếu nổi hứng thì có khi cô còn phụ người mẹ khốn khổ của mình lo việc bếp núc, công việc quanh năm suốt tháng bà phải làm, sau đó chia phần cho mấy cái miệng đói ăn. Hoặc nếu cô có ra ngoài thì cũng chỉ để mua mấy thứ vật dụng cần thiết, một chút sơn móng tay tại mấy cửa hàng tạp hóa giá rẻ.
Phải đến khoảng 8 giờ hay 8 rưỡi tối thì mới là lúc xuất quân tổng lực. Clo-Clo kiểm tra lại tất cả mọi thứ, cảm nhận chúng và khởi động sẵn sàng. Lúc này Clo-Clo đang ở quán rượu Elite, điểm dừng lúc 9 giờ. Lúc này chưa có gì mấy. Các mẻ cá lớn, mấy người bạo tay chi tiền, giờ vẫn còn đang ở nhà cùng với gia đình, hút nốt điếu xì gà và nhấm nháp ly rượu sau bữa tối. Lúc 9 giờ sẽ chỉ gặp những người như cái anh thủy thủ nước ngoài này, cũng đủ giúp giết thời gian, ngồi quán bar làm mấy ly brandy.
Từ 10 giờ cho đến 11 giờ thì cô sẽ sang chỗ thượng lưu hơn. Những nơi như Tivoli và Vườn Miraflor. Giờ này các mẻ cá to đều đang đi xem mấy chương trình nghệ thuật quanh đây, họ vẫn chưa xuất hiện. Cô luẩn quẩn bên bàn với các nhà văn trẻ, mấy anh nhân viên văn phòng, các doanh nhân. Giờ chỉ có rượu.
Từ nửa đêm đến khoảng 2 giờ sáng là khung giờ vàng. Chính ngọ trong ngày làm việc của cô. Đây là lúc các chương trình nghệ thuật kết thúc. Ở Ciudad Real người ta đi xem về muộn. Casino Bleu, Madrid ở chỗ công viên (có điều cô chẳng bao giờ ra đó, vì nếu không kiếm chác được gì thì phải đi bộ về rất xa), câu lạc bộ Jockey, Tabarin, Select. Đó là những nơi khi ấy cần mò ra.
Đây là đỉnh điểm cuộc sống ban đêm, đầy những miếng mồi ngon, những mẻ cá bự, những người chi tiêu phóng túng. Hầu hết họ sẽ vào hộp đêm chơi, nếu không thì tối thiểu cũng đi nghe nhạc và nhảy tango. Khi ấy sẽ được uống Benedictine, Crème de Menthe, thậm chí cả sâm panh.
Sau đó thì mọi chuyện hạ nhiệt rất chóng vánh. Từ 3 giờ sáng trở đi là lúc đêm tàn. Đây là lúc cần phải đề phòng. Tiếng cười đùa lắng xuống, ánh đèn bắt đầu tắt và bóng tối dần loang ra. Nếu biết khôn thì không nên nấn ná ở lại làm gì mà về thẳng nhà luôn. Đó là giờ xấu. Một số người gọi đó là Khung giờ thê lương. Số khác thì nói nó là Canh giờ Tử thần. Đây là lúc những chuyện chẳng lành thường xảy ra. Những chuyện mà người ta lấy tay che miệng, rì rầm kháo nhau khi có ai sẵn sàng chia sẻ.
Cô ra phố theo đúng lịch trình như vậy. Hơi khó tìm được thuật ngữ phù hợp để miêu tả công việc cô làm. Cô bắt đầu được gán một biệt danh mới, thay thế biệt danh gốc Clo-Clo: Enganadora, tức con nhỏ gian manh. Đi đến đâu cô cũng ngầm thể hiện mình sẽ không chiều khách tới bến. Cô chỉ chấp nhận nếu bị dồn vào đường cùng. Ngay cả trong trường hợp đó, cô cũng chỉ thực hiện nghĩa vụ của mình theo cái kiểu khiến khách cảm thấy công sức bỏ ra chẳng bõ, trừ khi họ là đô vật chuyên nghiệp.
Cô đã gặp rầy rà với cảnh sát vài bận, không phải bởi vì cái chuyện ai cũng nghĩ cô sẽ làm, mà là vì cô không chịu làm chuyện ấy. Những đồng nghiệp khác vẫn hay cảnh báo cô, “Cẩn thận đấy, chica (cô gái) , em sẽ trở nên đình đám. Một khi đã ô danh rồi thì người ta sẽ tránh em như tránh đậu mùa.” Nói cách khác, so với thế giới thượng lưu, từ đình đám trong giới hạ lưu mang ý nghĩa trái ngược hẳn.
Tuy vậy, Clo-Clo vẫn cứ ngang ngạnh, thậm chí sẵn sàng liều chết, giữ lấy trái tim trong trắng. Cô vẫn bảo toàn tính khí của một thiếu nữ trung lưu con nhà tử tế, đoan trang, chăm chỉ, một ngày nào đó sẽ lên xe hoa. Cô đã lên sẵn kế hoạch cho tương lai. Muộn nhất là đến năm ba mươi tuổi, cô sẽ kết hôn với một chàng trai trung thực, cần mẫn, sinh một bầy con và có khi còn sở hữu một nông trại ngoại ô nho nhỏ, chỉ cần một mẫu đất bé thôi. Và nếu trong đám trẻ có đứa nào là con gái, chỉ cần chúng liếc nhìn ai thôi, cô sẽ tát nó lật mặt.
Clo-Clo vẫn còn 11 năm và 6 tháng nữa để hoàn thành kế hoạch.
Giai đoạn này không phải hệ quả của một lối sống buông thả mà vì tình cảnh tài chính quá eo hẹp. Các giá trị đạo đức bên trong tâm hồn không vì thế mà bị ảnh hưởng. Người lạ ở mấy quán rượu đừng hòng tác động. Đạo đức của cô chỉ uốn cong một chút để đảm bảo thu nhập mà thôi.
Trong căn nhà lụp xụp trên phố Rivera, với một đám trẻ con vạ vật nằm ngủ khắp nơi, ai cũng biết Clo-Clo không hẳn là thánh, nhưng thêm ít tiền lúc nào cũng tốt. Cha mẹ không để tâm quá đến việc cô đi đâu về đâu. Người thân có cách nói tránh riêng mỗi khi nhắc đến những lần cô rời nhà rất lâu vào lúc đêm hôm, đồng thời cũng là cách trả lời cho bạn bè và hàng xóm láng giềng nếu có ai hỏi. “Salio para dar una vuelta. (Nó ra ngoài đi dạo.) ”
Ờ thì xét cho cùng, cô đi dạo thật. Có lần cô đi dạo xuyên qua trục tâm lục địa, ra đến tận Buenos Aires. Nhưng hai ngày sau cô quay lại, người ngợm vẫn lành lặn nguyên si, trên đường đã xuống tàu sớm một bến để được tự do đi lại, mang theo bao câu chuyện tuyệt vời về kể.
Bà mẹ béo mập và chậm chạp của cô chỉ thở dài rồi nhún vai mỗi lần cô gạt mấy đứa em tránh đường ra. Clo-Clo là một đứa con gái ngoan. Trong cái nhà này thì cô là một đứa con gái ngoan. Còn bên ngoài thì, ôi, bên ngoài thì mặc. Xét cho cùng, trên thế giới này có ai hoàn hảo đâu? Liệu bà, một người mẹ, có nên là người đầu tiên cầm đá ném vào con mình? Ngoài ra, đây chỉ là chuyện tạm thời, rồi sẽ có ngày con bé thay đổi hoàn toàn. Chẳng phải chính con gái bà, Clo-Clo, đã liên tục hứa hẹn vậy sao? “Cứ đợi đấy, mamita (mẹ yêu) , khi ba mươi tuổi con sẽ không còn hư nữa, khi đó con sẽ ngoan.”
Hiện giờ cô đang chết tắc ở một điểm dừng lúc 9 giờ với một anh khách 9 giờ. Đã sắp 11 giờ đến nơi rồi. Và chàng khách lại còn là người đa cảm, hạng khách hàng đáng ngán nhất. Có vẻ càng đa cảm bao nhiêu thì người ta càng chi ít bấy nhiêu. Có lẽ anh chàng khôn ngoan hơn cô tưởng. Dường như đã nhìn ra được điều gì đó ẩn giấu bên dưới cái mã hèn kém của cô, anh ta muốn cô quay lại tàu cùng với mình, muốn cưới và đưa cô đến một nơi gọi là Copenhague, cùng cô xây tổ ấm ở đó, trong một trang trại bò sữa mà anh ta sẽ mua.
Như Clo-Clo thấy thì tất cả những điều ấy đều vớ vẩn hết. Một đồng peso được khách tuồn vào tay lúc rời đi, tỏ ý cảm ơn cô đã dành thời gian mua vui cho mình, còn đáng giá hơn chục lời câu hôn đến Copen gì gì đó.
Cô đang ngồi trên một cái ghế cao cạnh anh ta, mái tóc cắt ngắn tựa bông cúc đại đóa đen tuyền, phần mái xéo tinh nghịch trên mắt. Thái độ của cô là một sự pha trộn khéo léo giữa vẻ say mê lắng nghe và thờ ơ, trong đó thì say mê là giả, thờ ơ là thật. Cô ngồi quay ngang, mặt hướng về phía anh ta, cùi chỏ gác trên quầy bar, chống bàn tay lên nửa đầu sau. Cô kín đáo đưa một chân khỏi thanh ngang chiếc ghế, dò dẫm mặt sàn, ngón chân chúc xuống, quyết định sẽ cắt đứt cuộc trò chuyện này, không phí thêm chút thời gian nào nữa.
“Và anh biết chắc em sẽ thích nơi ấy.”
“Tất nhiên rồi,” Clo-Clo đáp lời ngay. “Mà anh nói nó ở đâu ấy nhỉ?”
“Copenhague. Anh nhắc ba lần rồi đấy.”
Clo-Clo không giỏi khoản này. Cô biết tên hầu hết các đất nước quan trọng, kiểu như Anh, Pháp, Tây Ban Nha. Ra đường nhiều là sẽ học mót được mấy cái tên ấy. Còn địa danh mà anh chàng kia nhắc tới, hoặc là một đất nước cô chưa bao giờ nghe đến, hoặc đó là một lời nói dối trắng trợn. Cô quyết định đấy là một lời nói dối trắng trợn, bởi vì ngoài Anh, Pháp, Tây Ban Nha ra thì đâu có nhiều đất nước khác nữa. Đã đến lúc phải đi. Các chương trình nghệ thuật sắp sửa kết thúc rồi. Chân kia của cô dịch xuống và xếp cạnh cái chân đầu tiên. Giờ chỉ còn một bộ phận nữa cần rời chiếc ghế thôi.
Cuối cùng anh ta cũng để ý thấy toàn bộ dáng người đang sắp sửa nối bước sự hứng thú của Clo-Clo mà rời đi. Anh chàng còn tưởng đó là do mình đối đãi với cô chưa đủ tốt. Anh ta trông có vẻ hơi bị tổn thương, không trải gan trải ruột nữa, gọi ông pha rượu lại, “Thêm một ly nữa cho quý cô.”
Vừa nãy anh ta còn tỏ ý không thích khi thấy cô uống rượu. Anh chàng đang tìm cách làm cô đổi ý.
“Không, em phải đi đây,” Clo-Clo nói. Cô đã rời hẳn khỏi ghế và anh ta không thể khiến cô ngồi lại nữa. Lúc bỏ đi, mọi động tác đều phải khéo léo như thế thì mới thành công được. Giờ nếu anh ta mà vươn ra tìm cách giữ cô lại, Clo-Clo chỉ cần nhanh chân lùi sau.
“Em có một cái hẹn.”
“Nhưng em đang hẹn với anh mà.”
“Ừ, nhưng giờ thì xong rồi. Chào anh nhé.”
“Nhưng anh muốn cưới em.”
“Để ngày kia đi.”
Giờ cô đã đi xa được hai ghế. Ông pha rượu quay ngang người chặn cô lại, hạ giọng với vẻ trách móc, “Làm gì mà vội thế? Hắn đang mua rượu đều đều, cô ngưng làm gì?”
“Trả hoa hồng cho tôi,” cô rì rầm nói qua khóe miệng. “Nhanh lên nào, không là tôi sẽ bảo với anh ta rằng ông vừa mới xúc phạm tôi. Ông biết thế thì sẽ như nào rồi đấy. Tấm gương đằng sau ông, toàn bộ chỗ cốc trên giá…”
“Quân ăn cướp,” ông ta cay đắng nói. Tay họ thoáng chạm nhau trên mặt quầy.
“Đáng ra tôi có thể đã qua chỗ Robles chứ không phải đến đây. Ông có thiệt tí tiền nào đâu.”
Vị khách của cô dang tay, tìm cách níu cô lại. Clo-Clo đủ khôn để đứng ngoài tầm với của anh ta.
“Quay lại đây một chút thôi, Clo-Clo. Clo-Clo bé bỏng, đừng bỏ anh đi như thế. Chúng ta đang nói chuyện vui vẻ mà.”
“Em biết, nhưng giờ thì hết thời gian rồi.”
Anh ta lảo đảo đuổi theo, rướn cả hai tay ra. “Anh muốn cưới em. Anh muốn đưa em rời khỏi đây.”
Anh chàng thoáng lưỡng lự, không biết nên khóc sướt mướt hay nổi điên lên.
Cô đi giật lùi ra ngoài bậu cửa. “Giữ anh ta lại đi, ông Manuel.”
Manuel chỉ bắn cho cô một cái nhìn cáu kỉnh vì đã cắt ngang một buổi nhậu đầy lợi nhuận.
Chàng khách cũ của cô đứng bên khung cửa sáng đèn, nhìn theo bóng cô. “Em là một cô gái tuyệt vời,” anh ta phẫn uất nói.
“Anh quay về tàu chợp mắt một chút đi. Hãy kiếm lấy một cô khác mà cưới vào lần cập bến tới. Đằng nào thì bọn em ai chẳng giống nhau.”
Bước dọc con phố hẹp và quanh co, được chiếu đèn tù mù, cô vui vẻ đong đưa chiếc túi bên hông, trông như một nữ thần Dryad với cặp chân dài và chiếc váy sa tanh đen bó sát. Cô liếc ra sau một lần và thấy anh ta đang dựa người bên khung cửa, mặt úp vào cánh tay gập, khóc rưng rức bởi đã để mất cô gái mà mình phải đi nửa vòng thế giới mới tìm ra. Chắc đấy chỉ là ảnh hưởng của men cồn thôi. Ai mà biết được ba cái chuyện yêu đương lúc nào là thật, lúc nào là giả?
“Có khi mình cũng nên thử yêu,” Clo-Clo gạt bỏ anh ta ra khỏi tâm trí với một cái nhún vai hờ hững. “Biết đâu đấy, có khi nếu nhìn thấy trước tương lai, mình sẽ hối tiếc vì đã bỏ qua nó.”
Vừa vào ngã rẽ tiếp theo thì chợt cô bước ngang qua một người. Anh ta đứng khựng lại, rồi đuổi theo cô. “Ồ, có phải em đấy không?”
“Mình gặp nhau chưa nhỉ?” Clo-Clo ngờ ngợ hỏi, lịch sự.
“Mình gặp nhau rồi!” Anh ta cau có đáp. “Em bảo năm phút sau sẽ quay lại và để anh một mình ngồi đợi suốt cả đêm như một thằng đần! Sáng hôm sau, lúc phải một mình ra ngoài, anh đã bị toàn bộ lũ nhân viên khách sạn che miệng cười!”
Clo-Clo đưa tay về phía anh ta, tỏ vẻ ngây thơ. “Lúc quay lại chỗ anh thì em không thể tìm được phòng đó nữa. Có nhiều hành lang với lối rẽ quá, em bị lạc. Có phải lỗi của em đâu?”
“Em có biết em là hạng người gì không? Em là đồ mánh khóe. Đồ giả dối.”
Cô chìa một ngón tay, nhẹ nhàng chạm dưới cằm anh ta. “Đừng cay cú thế. Nhìn xem lúc ấy thì em đã mua vui cho anh cỡ nào rồi đó. Chính anh đã bảo em vậy mà. Đừng có tham lam thế.”
“Anh lúc ấy không cần vui.” Anh ta buồn bực nói, rướn tay ra phía trước. “Em đi ra đây. Anh có nợ cần thanh toán.”
Clo-Clo lại dùng chiêu đi giật lùi. “Không, anh làm gì có,” cô bật cười. “Hồi đó là hồi đó, bây giờ là bây giờ. Không lưu nợ dài hạn được đâu.” Cô dịch bước vòng ra sau một bốt quảng cáo hình bát giác, căn sao cho nó chắn giữa hai người họ.
“Ra đây, không là anh sẽ tự tay bắt em đó. Em sẽ đi với anh, kế cả nếu anh có phải xách gáy em đi.”
Cô chỉ cười, nắm quai túi xách và hẩy nó về phía anh ta.
Thấy rằng dọa nạt không có tác dụng, anh chàng chuyển sang dỗ khéo. “Ra đây nào,” anh ta dụ, “anh sẽ đãi em một chầu.”
Cô nhăn mặt. “Em vừa mới uống một chầu rồi.”
Đã có kha khá kinh nghiệm, cô biết rằng tiếp khách cũ chẳng đem lại lợi lộc gì. Không một chút lợi lộc. Ít nhất với cô là thế. Sau lần đầu tiên bị cô cho ăn quả lừa, họ sẽ luôn cảnh giác cao độ, sẽ khó gấp đôi để cô đánh bài chuồn. Lừa khách một lần rồi né họ thật xa là chiến lược hiệu quả nhất.
Anh ta chìa cả hai tay về phía cô mời gọi. “Ôi, thôi nào em. Anh thích em. Anh không thể nào sai khiến con tim được, em có nét gì đó khiến anh xao xuyến. Tìm em khó lắm cơ. Em vừa mới ở đây một loáng là đã lại biến mất rồi.”
“Anh nhận xét chuẩn đấy nhỉ?” Cô cười cười. “Giờ anh nhìn cho kỹ này, em lại biến mất đây.”
Clo-Clo liếc ra sau một cái để đảm bảo anh chàng sẽ không chạy theo, tìm cách chộp lén cô. Anh ta vẫn cứ đứng bơ vơ ở chỗ cũ, ngay giữa vệ đường, nhìn theo cô với vẻ buồn bã, như thể hi vọng cô sẽ đổi ý. Cô thầm nhận định đầy thờ ơ rằng hẳn mình đã để lại ấn tượng sâu đậm cho anh ta. Về phần bản thân, giờ cô chẳng còn nhớ rõ mặt mũi anh chàng trông ra sao nữa, mặc dù chỉ vừa mới bỏ anh ta lại.
Đầu tiên, cô đứng từ bên ngoài nhìn vào Select trước. Chằng hiểu sao tối nay có vẻ ít khách, thế nên cô quyết định sẽ sang Tabarin. Thám thính trước luôn là điều nên làm. Xét cho cùng, đến cả những nơi kiếm chác khá nhất cũng có những đêm ế ẩm. Một khi đã đầu tư 20 centavo mua nước lựu rồi thì không thể hoàn lại được đâu.
Tabarin chật ních người. Cô chỉnh trang lại ngoại hình trước một tấm gương trong phòng chờ và chậm rãi bước vào.
Ở mấy nơi sang trọng thế này thì không thể đòi ăn phần trăm. Được người ta cho vào đã là mừng lắm rồi.
Người pha rượu liếc nhìn và ngay lập tức nhận ra Clo-Clo. “Ngồi cuối dãy ấy,” ông ta nói ngay khi cô đang chuẩn bị ngồi xuống một cái ghế da màu san hô. “Tôi muốn để trống ghế giữa cho khách hàng trả tiền.”
Cô ngoan ngoãn dịch chuyển vị trí, đồng thời vội vã nói, “Đừng lo, tôi tin mình sẽ không phải ngồi ở đây lâu đâu.”
Một thanh niên với dáng vẻ tẻ ngắt và bộ ria mép nhọn hoắt ra khỏi sàn nhảy, một mình leo lên chỗ quầy bar, tranh thủ làm một ly giữa lúc đổi bài, không buồn ngồi xuống.
Cô cảm thấy ánh mắt anh ta liếc sang nhìn mình, tay vẫn cầm cốc rượu. Cô mỉm cười, thổi một vòng khói mỏng về phía đối phương. Nó không bay đến nơi, nhưng vì Clo-Clo đã dùng miệng nhắm nên chắc chắn không ai nhầm được cô thổi đi đâu. Anh ta hẳn đang có người đợi dưới kia, bèn quay đi như thể chưa nhìn thấy cô, điệu bộ phần nào khinh khỉnh hơn mức cần thiết. Đặt một xu xuống, anh ta quay lại sàn ngay khi bài tango tiếp theo vang lên.
Khi anh ta đi khuất, người pha rượu cảnh cáo, “Nghe này, đừng làm gì quá thô tục, hiểu chưa? Dẹp cái trò vòng khói đấy đi. Cẩn thận cách hành xử của cô đấy.”
“Ông tính thu học phí bao nhiêu cho lớp dạy ứng xử này?” Cô mệt mỏi hỏi. “Ai làm cho nơi này trông sáng sủa hơn vậy, tôi hay cái mặt cá ươn dùng để dọa khách của ông?
“Có khối người mặt mũi còn dữ dằn hơn tôi nhiều,” ông ta làu bàu.
“Chắc ông toàn trồng cây chuối nhìn mặt người ta rồi.”
Thực chất, đây không phải một cuộc cãi vã. Bọn họ hiểu nhau rõ quá đi chứ. Chỉ là mấy câu qua lại để giết thì giờ.
Chắc Clo-Clo sẽ phải quay về Select thôi, nhưng cô đã bỏ ra 25 centavo ở đây và muốn tìm cách hồi vốn.
Đúng lúc ấy, một người khác từ dưới sàn leo lên. Lần này là một quý ông mập mạp với ngoại hình chỉn chu, không rõ bao nhiêu tuổi, bộ ria được tỉa tót cẩn thận đã bắt đầu hơi bạc ở hai bên đầu. Dáng đi khá thẳng thớm và nước da ánh lên màu đồng khỏe mạnh vì thường xuyên ở ngoài trời. Nhưng hiện giờ ông ta mang vẻ mặt mệt mỏi, như thể đang thấy rất chán ngán, chỉ muốn được đến nơi nào khác. Ông ta quăng mẩu xì gà nát đi và bước tới quầy rượu.
“Cho tôi hỏi…” Thế rồi ông ta để ý thấy Clo-Clo, phần còn lại của câu nói chuyển thành tiếng lầm bầm, nghe không rõ.
Ông pha rượu nói, “Chỗ cái cậu phục vụ đang đứng, thưa senor.”
Trước khi cánh cửa đóng lại đằng sau, ông ta lén nhìn cô thêm lần nữa. Cậu phục vụ quay người và bước vào cùng ông ta, chắc là để sẵn sàng hỗ trợ nếu ông ta cần chổi nhỏ phủi quần áo hay lược chải tóc.
Ông ta lại bước ra và quay về với sàn nhảy, nhưng vẫn cứ lướt mắt sang chỗ cô thêm lần nữa.
Kỹ năng hơi hoen gỉ, Clo-Clo nghĩ thầm và khúc khích cười. Kể từ lần chót đánh mắt đưa tình đến nay, chắc là ông ta đã cưới vợ rồi.
Cô dập thuốc lá, đứng dậy và vẩn vơ ra chỗ cậu phục vụ, tay cầm theo ly đồ uống. Ông pha rượu trông giống kiểu người sẽ lén đổ hết nước đi lúc khuất mắt trông coi, nhằm xua cô ra khỏi đây lắm.
“Ban nãy em kiếm khá không?” Cô xởi lởi hỏi.
Cặp mắt cậu thiếu niên mở to đầy phấn khởi. “Nguyên 1 peso mà chẳng cần làm gì! Ông ấy chỉ ngắm mình trong gương, hỏi xem em có biết chị là ai không, rồi hỏi thêm là em đoán ông ấy khoảng bao nhiêu tuổi!”
“Ricardo, chú mày đang trong giờ làm việc đấy!” Ông pha rượu bực bội cảnh báo.
Mình cũng thế, tính từ lúc này, Clo-Clo tự nhủ, sau đó quay lại chỗ cũ ngồi. Cô đã nắm được tất cả những thông tin cần biết.
Clo-Clo quyết định đánh liều và kiên nhẫn đợi, mặc dù nếu nhầm thì sẽ không cách nào vớt vát được khoảng thời gian hao phí. Nhưng thường thì cô luôn đoán đúng và kết quả lần này cũng vậy. Sau hai điệu tango, ông ta quay lại thật.
Người đàn ông đi nửa đường ra chỗ quầy rượu, quan sát cô kỹ càng, sau đó đột ngột quay ngoắt, bước qua chỗ cậu phục vụ ban nãy.
“Ông ta không quay lại để đi vào đó, ông ta quay lại để xem mình còn ở đây không,” cô tự nhủ đầy ranh mãnh.
Clo-Clo búng ngón tay ra lệnh cho ông pha rượu, để ông ta thấy rằng cô bắt đầu lâm trận, không còn ngồi không nữa. “Cho thêm chút nước vào cái ly này đi.” Cô muốn pha loãng chất nước lựu này ra hết mức có thể.
Ông ta đưa nước cho cô cùng với vẻ mặt cau có đằng đằng sát khí. “Cô pha loãng để làm gì, định uống đến cuối tuần à?”
Ông ta không đoán được Clo-Clo đang mưu mô điều gì, không thì đã cố tình trì hoãn việc đưa cô ly nước, nhằm khiến cô hỏng ăn.
Xong xuôi, Clo-Clo ra chỗ cánh cửa, tay cầm theo ly nước. Suýt soát một giây sau cửa lại bật mở. Cô đang đứng nói gì đó với cậu phục vụ thì con mồi tìm cách đi vòng ra sau lưng cô. Đáng ra ông ta đã lách được mà không quệt vào người Clo-Clo, nhưng cô đã dịch cùi chỏ vào người đối tượng đúng lúc ông ta bước ngang qua. Cùi chỏ tay cầm đồ uống. Ly nước lật nhào gọn ghẽ và thứ hỗn hợp nước lựu pha loãng ộc xuống một bên váy cô.
Clo-Clo để mặc ông ta tỏ ra hốt hoảng. Mình ông ta đã hốt hoảng đủ cho cả hai người rồi. Cô tỏ vẻ không lấy đó làm phiền. Ông ta rút một chiếc khăn tay ra, nhún một bên gối để thấm cho bằng sạch chất lỏng.
“Mấy chuyện thế này kiểu gì chẳng có lúc xảy ra. Đây chỉ là chuyện vặt thôi mà, senor. Do lỗi của tôi, đáng ra tôi không nên đứng chắn đường.”
“Ít nhất thì cô hãy cứ qua đây để tôi mời cô một ly khác.”
Cô lắc đầu với vẻ thờ ơ buồn bã. “Uống một mình có gì vui đâu.”
Ông ta liếc về phía sàn nhảy. “Tôi… tôi sẽ ngồi với cô một phút. Gia đình tôi đang ở kia và tôi phải quay lại.”
Như Clo-Clo thấy thì ông này chơi khá liều, nhưng ông ta mới là người cần dè chừng, không phải là cô. Clo-Clo từ tốn ngồi xuống bên cạnh ông ta, vẫn trên ghế cũ.
“Sâm panh cho senorita. Pol Roger.”
Ông pha rượu giờ mỉm cười tươi rói với cô, thậm chí còn rặn ra hai từ tiếng Pháp duy nhất mình biết, dành riêng cho những người gọi sâm panh. “Me-xừ. Ma-đơ-moa-zen.”
“Ly này là để uống mừng một tai nạn may mắn.”
“Ly này là để uống mừng một tai nạn tuyệt vời,” Clo-Clo sửa lại cho hay hơn.
Họ nhanh chóng trở nên thân thiết. Ông ta mỉm cười thường xuyên hơn. Mấy nụ cười mỉm trở thành nụ cười toe toét. Các nụ cười toe toét biến thành những tràng cười sảng khoái. Có vài lần ông ta sực nhớ mình phải đề phòng, liếc ra sau lưng.
“Cô có thấy tiếng nhạc trong này to quá không?” Cuối cùng ông ta cũng hỏi. Tuy chỉ vừa rời xa khỏi nguồn phát nhạc thôi, nhưng bất chợt ông ta lại trở nên quá nhạy cảm. Chắc là ở dưới sàn nhảy chẳng có người nào ông ta cảm thấy đáng để lắng nghe tâm sự.
Clo-Clo không thấy ý kiến đó có vấn đề gì. “Ừ đúng rồi, khó mà nghe được người khác nói chuyện trong tiếng nhạc,” cô đồng ý.
“Anh pha rượu này, quanh đây có chỗ nào để chúng tôi tránh tiếng nhạc, được riêng tư hơn một chút không?”
“Có một buồng nhỏ riêng tư nhìn ra sân sau, nếu senor và quý cô đây muốn tới đó. Từ cuối hành lang đằng kia đi thẳng.”
“Mang thêm một chai rượu vào, cả chút đồ ăn nữa.” Thế rồi, sau khi suy tính thêm, ông ta lùi lại một bước, kín đáo ngả về phía ông pha rượu. “Và phòng có ai tới tìm thì nói tôi vừa mới ra ngoài hít thở khí trời.” Ông ta bỏ thứ gì đó vào tay người pha rượu. “Hướng kia.” Ông ta chỉ về đối diện với đích đến họ sắp tới.
“Đập lên lưng tôi phát nữa đi,” ông ta nài nỉ với cái giọng nghèn nghẹt. “Tôi không ngừng được, tôi cười nhiều quá, họng tôi thắt lại…” Phần còn lại bị một tràng ho khùng khục nuốt mất. Thân mình tiếp tục rung lên bần bật, ông ta quẹt nước mắt.
Clo-Clo vội vã nhỏm dậy khỏi bàn, chạy vòng ra sau lưng vị khách. “Ông nên nghỉ tầm năm phút.” Thụp. “Không thì ông lăn ra chết bây giờ.” Thụp. “Có chuyện gì buồn để chúng ta đem ra nói không nhỉ, chỉ cần đến khi ông dứt cơn cười thôi?”
Cơ thể ông ta vẫn cứ rung rung không ngừng. “Chúng ta vừa thử rồi mà,” ông ta yếu ớt nói. “Đáng ra cô phải kể một câu chuyện buồn. Thế mà qua lời cô, nó lại trở thành một câu chuyện tiếu lâm. Đập mạnh tay hơn đi, chắc có một miếng thịt gà tắc trong đó.”
“Đợi một phút, tôi sẽ rót chút sâm panh lạnh xuống gáy ông. Cú sốc lạnh có thể sẽ khiến nó văng ra. Giống như chữa nấc ấy. Ông không phiền chứ?”
Ông ta bất lực vẩy vẩy tay, tỏ vẻ đồng tình. “Cứ làm đi! Tôi không quan tâm cô làm gì tôi. Nếu số tôi phải chết trên cái ghế này thì cũng đáng…”
“Tôi sẽ đứng lên cao,” Clo-Clo hăng hái nói. “Để cho nó bắn tóe xuống một tí.”
Cô kéo ghế vòng ra sau ông ta, đứng lên trên và nghiêng chai sâm panh bằng cả hai tay.
“Chuẩn bị đi nhé, bắt đầu này…”
Cánh cửa bật tung ra mà không có bất cứ tiếng gõ nào báo hiệu. Một âm thanh nghe như tiếng kêu đầy phẫn nộ lọt vào trong buồng, xoáy khắp nơi như một luồng không khí lạnh. Người thốt tiếng kêu ấy đứng bên nguỡng cửa với dáng vẻ đầy cáo buộc, nhưng không tiến tới. Đó chính là cái anh trẻ tuổi tự cao sở hữu bộ ria nhọn hoắt mà hồi nãy Clo-Clo bắt gặp nơi quầy rượu.
Cả hai người cùng trân trối nhìn anh ta qua một chiếc gương treo tường trước mặt, phản chiếu hình ảnh con người đứng đằng sau họ.
Người ăn tối cùng Clo-Clo rầu rĩ thì thầm, “Cú sốc vừa rồi đúng là thứ tôi cần. Miếng thịt gà tự trôi xuống rồi.”
Cô nhẹ nhàng nhảy xuống sàn, đặt lại chai sâm panh cứu sinh vào xô.
Vẫn chưa một ai nói năng câu gì, ít nhất là chưa nói câu gì cho tất cả cùng nghe.
Anh chàng bí ẩn mặc bộ tuxedo đứng bên cánh cửa cuối cùng cũng phá vỡ sự im lặng bằng đúng một từ duy nhất, “Ba!”
Người đàn ông xua tay vẻ khó chịu, không buồn quay lại nhìn anh ta. “Đóng cửa vào giúp ba. Ba sẽ ra ngoài ngay.”
“Con sẽ đợi ba ở sảnh chờ. Ba đến đây cùng với bọn con, xin ba nhớ cho!”
Vị khách của Clo-Clo lẩm bẩm câu gì đó nghe như, “Đang cố quên còn chẳng được đây!”
Cánh cửa đóng lại.
Clo-Clo kinh ngạc thốt lên, “Con trai ông! Trông ông còn chưa đến…”
Ông ta thở dài rồi nhún vai, vừa đứng dậy vừa bực bội vỗ hai bên sườn. “Có mấy đứa con trai như thằng kia khiến tôi già khọm cả đi,” ông ta ca cẩm, hơi hạ giọng xuống.
Thế rồi sắc mặt ông khách thay đổi, ông ta mỉm cười tiếc nuối với cô, chút dịu dàng ẩn nơi khóe miệng. Ông ta đưa cả hai tay ra nắm lấy tay cô, đưa nó lên môi mình.
“Không sao, chúng ta đã rất vui vẻ mà, đúng không? Giờ tôi phải đi mất rồi. Không biết liệu chúng ta còn cơ hội gặp lại nhau nữa không. Chúng tôi sống ở ngoại ô thành phố và tôi sẽ còn bị chì chiết về vụ này mãi không thôi. Nhưng, Clo-Clo bé nhỏ ạ, cô là một cô gái dễ thương. Trong vòng vài tiếng đồng hồ, cô đã giúp tôi cảm thấy trẻ lại. Giống như bao năm trở về trước. Điệu cười cùng những trò tinh nghịch của cô làm tôi cảm thấy hạnh phúc. Hãy để tôi đền đáp cho cô chút ít. Cô xứng đáng lắm. Đứa con dâu bẳn tính của tôi đã sở hữu đủ rồi.”
“Thế này thì nhiều quá, senor!” Đây chắc là lần đầu tiên trong đời cô thốt ra một lời từ chối thật lòng, gần như hoảng hốt.
Ông ta đưa cho cô 150 peso, lấy ra từ một cái ví có lẽ chứa đến một ngàn.
“Nhận đi, nhận đi mà!” Ông ta kiên quyết gập ngón tay cô lại quanh tờ tiền, vỗ lên nắm tay ấy trấn an. “Chỉ có kẻ mù mới gọi cô là người hư hỏng,” ông ta trầm giọng, chân thành. “Còn phẩm hạnh gì tốt đẹp hơn là làm người khác cảm thấy hạnh phúc?”
Cô nhìn xuống, cảm thấy bối rối mất một hồi. Clo-Clo đã quen nghe đủ loại lời tán dương, nhưng chưa ai từng ngợi ca sự thánh thiện của cô.
Ông ta tặng cô một nụ cười đầy tinh quái. “Đúng rồi, cất chúng vào nơi không ai lấy được đi, đừng để kẻ khác cướp mất của cô, giữ chúng cho cẩn thận vào.”
Và rồi, cứ như thể vừa có một linh cảm, ông ta căn dặn, “Cẩn thận nhé, Clo-Clo bé nhỏ. Tôi biết trong đầu mình hãy còn men sâm panh, nhưng… Cô đừng để chuyện gì xảy ra với mình nhé! Cuộc sống về đêm có lúc sẽ đẩy cô vào nguy hiểm. Tôi không làm hại cô đâu. Nhưng những kẻ khác… Giờ cô đã nhận được tấm lòng của tôi, hãy về nhà luôn đi. Tối nay đừng nấn ná lại ngoài đường nữa.”
“Tôi sẽ không làm thế đâu,” cô hứa hẹn nhiệt thành, tay áp chặt lên ngực, nơi nhét chỗ tiền. “Tin tôi đi, tôi sẽ không làm thế đâu!”
Hẳn cô có nét gì đó khiến ông khách cảm thấy động lòng. Ông ta thậm chí còn dợm tháo một cái nhẫn kim cương lớn trên ngón út ra, nhưng rồi lại tiếc nuối thay đổi ý định. “Kiểu gì hai con kền kền ngoài kia cũng nhận ra ngay. Sẽ chỉ chuốc thêm rắc rối cho cô mà thôi.”
Đúng lúc ấy, cánh cửa lại bật mở. Anh chàng trẻ tuổi kia còn cau có hơn cả lúc trước. “Ba! Xe đang đợi. Con đã bảo Elena là ba bị đau bụng. Ba nghĩ con có thể che đậy được cái… cái tình huống này bao lâu nữa?”
“Tao ra đây!” Vị khách của Clo-Clo điên tiết gầm lên. “Tao ra đây, bố cái thằng phá bĩnh!”
Người đàn ông lớn tuổi quay đi và theo con trai ra ngoài. Kể cả khi ấy, ông ta vẫn nghĩ đến Clo-Clo. Lúc bịn rịn khép cửa vào, ông khách lặp lại điều ban nãy bằng tông giọng buồn buồn, thay lời từ biệt, “Đừng để chuyện gì xảy ra với mình nhé, Clo-Clo bé nhỏ. Hãy bảo trọng.”
Cô đứng dậy và nhảy nhót quanh căn buồng, váy nâng lên ngang eo để lộ một phần cái quần đùi ngắn màu hồng. Một chiếc ghế vướng vào vòng quay của cô và đổ kềnh ra, Clo-Clo để mặc nó nằm chỏng chơ tại đó.
Cô nhấc một ly rượu rót đầy phân nửa và đổ xuống chái nhà, sau đó lại đặt nó về chỗ cũ, trên đường nhảy vòng lại. Rồi cô đổ nốt ly thứ hai. Sau đó Clo-Clo ngừng xoay và chuyển qua xử lý chai sâm panh đang nằm trong xô đá. Không phải là cô ham hố gì rượu bia, đơn thuần chỉ là muốn tiết kiệm mà thôi. Không nên bỏ phí sâm panh đã được thanh toán.
Cô đứng đó, lưng quay lại với khung cửa sổ cao chạm trần, nhẩn nha nhấm nháp mỗi ngụm sâm panh kèm theo một miếng bánh kẹp thịt gà. Thế rồi có thứ gì đó khiến cô phải quay đầu nhìn. Lúc họ mới vào thì rèm cửa đã được bồi bàn kéo lại để đảm bảo riêng tư. Tuy nhiên, hai bức rèm khẽ tách nhau ra, tạo thành một khoảng hở ở giữa. Cô có cảm giác mình đang bị theo dõi qua khe hẹp đó. Cảm giác ấy mãnh liệt đến mức cô phải chạy đến bên cửa sổ và thử nhìn ra ngoài. Không có thứ gì hay ai đó bên ngoài. Chỉ có một vạch sáng từ mấy ngọn đèn trong phòng lọt qua, chiếu lên gạch lót hè.
Vài phút sau, cô ra khỏi phòng, miệng nhai nốt chỗ gà cuối cùng. Ông pha rượu bấy giờ đang lau cốc, nhếch mép nhạo báng lúc cô đi ngang, “Hỏng ăn rồi hả?”
Cô quay về phía ông ta, thúc tay lên mũi, làm động tác xúc phạm thay cho lời chào, giữ nguyên như thế từ chỗ cái ghế thứ ba bên quầy rượu cho đến tận lối xe ra vào, chậm rãi quay đầu lại khi ra hẳn khỏi quán.
Giờ đã đến lúc về nhà. Clo-Clo khe khẽ huýt sáo trong khi ánh đèn hổ phách nhuốm hồng của Tabarin mờ dần sau lưng. Bầu trời trên cao đầy rẫy sao giăng, còn màn đêm mang lại cảm giác thật mát mẻ và tươi mới. Số tiền 150 peso cất trong ngực áo còn mang lại cảm giác tuyệt vời hơn. Cô búng ngón cái vào một cột đèn sắt khắc rãnh lúc bước ngang qua, lấy may. Thanh âm trống rỗng của nó vang vọng tận mấy giây sau, như một nốt đàn organ câm lặng.
Qua vài phút, lúc cô đang băng băng trên con phố San Rafael lát sỏi quanh co thì một quả chuông nhà thờ gần đó vang lên báo giờ. Cô đếm từng nhịp rung đang phủ lấy mình giữa sự tĩnh lặng của đêm tối, mỗi âm như ngưng đọng trong không gian cho đến khi âm tiếp theo xuất hiện và thế chỗ.
3 giờ sáng rồi. Cô bất giác rùng mình, bước đi nhanh hơn một chút. Đã bắt đầu vào Canh giờ Tử Thần, Khung giờ thê lương. Đã đến lúc chui vào nhà, kiếm nơi có tường bao quanh. Clo-Clo rời khỏi vệ đường nhỏ, bước ra giữa con đường lồi lõm chật hẹp, không chút nao núng trước rãnh cống mở, quanh co uốn theo con đường. Một thoáng sau, cô lấy làm mừng vì đã hành xử như vậy. Lúc đi ngang qua một khối đen sì hình trụ khuất trong một hốc cửa thụt sâu vào tường, nó cất giọng hơi lè nhè, “Này, đi đâu mà vội thế?”
“Đóng cửa rồi!” Cô nạt, đồng thời rảo chân chạy đi, chạy mãi cho đến khi đã ra đến cuối đường San Rafael, bước vào trong một trong những quảng trường nhỏ rải rác bên trong thành phố. Chỗ này có cây dừa, một bục sân khấu, một bức tượng anh hùng chiến tranh giành độc lập trắng lóa, mấy chùm đèn hồ quang mờ nhạt chiếu lập lòe tới từ bốn góc quảng trường, giữa một làn sương tím mịt mờ. Đối với thế giới, đây là một thứ đã chết.
Sau khi băng qua quảng trường, cô có hai lựa chọn. San Jacinto là đường ngắn nhất dẫn về nhà, nhưng lại là kiểu đường dài đằng đẵng, thê lương, chiếu sáng tù mù như con đường cô vừa mới ra khỏi. Calle Quince de Mayo (Đường Mười Lăm Tháng Năm) sẽ khiến cô phải vòng vèo một chút, nhưng nó được chiếu sáng tử tế hơn và thỉnh thoảng cô sẽ bắt gặp một quán ăn hay quán nước nào đó dọc đường. Vào những đêm khác thì Clo-Clo không bao giờ lưỡng lự, cô luôn chọn con đường nhanh nhất. Tối nay thì không hiểu vì sao, cô lại thấy rét, thấy sợ những nơi tối tăm và cô độc. Cô rẽ vào Calle Quince de Mayo. Hai con đường tách nhau như hai nét của một chữ V hẹp.
Thoáng sau, lúc cô vừa mới đi qua một bodega nhỏ, lờ mờ sáng, chỗ ăn uống dành cho người nghèo, có người bước ra và vẫy gọi cô.
“Hola! (Xin chào!) Phải mày đấy không, Clo-Clo?”
Đó là một người thuộc hội nhóm Clo-Clo hay cặp kè, một cô gái mang biệt danh La Bruja (Phù thủy) . Cô ta quấn một chiếc khăn choàng quanh đầu để tránh khí lạnh ban đêm, trông gần giống như một bà xơ nếu không có điếu thuốc lá phì phèo kẹp giữa môi. Cô ta đứng đó, tay chống nạnh.
Clo-Clo quay lại và chạy tới chỗ cô ta, lấy làm mừng vì đã vớ được bạn bè, cho dù vậy tức là hành trình trở về sẽ phải tạm ngưng. Xét cho cùng, chẳng việc gì phải sợ một cô gái hết.
“Sao thế, làm gì mà tưng tẩy như con dở hơi thế?” La Bruja gặng hỏi.
“Thôi ngay,” Clo-Clo cười giòn tan.
“Giờ đã về nhà rồi à? Tình hình thế nào?”
Clo-Clo chụm hai ngón tay lại với nhau, hôn lên đầu ngón để diễn tả cái điều không lời nào tả nổi. “Thật là một đêm phi thường! Em gặp đúng vua Croesus.”
“Tay nào thế, một gã palsanos (nông dân) giàu có lên thành phố đốt tiền à?”
“Không, cái kiểu người mà mẹ em cứ suốt ngày nhắc đến ấy.” Cô mô tả lại bữa tối của mình với đủ mỹ từ, cẩn thận ỉm đi toàn bộ vụ được thưởng 150 peso. Mà chắc có kể ra thì cũng chẳng được tin đâu. “Chị biết không, em sợ lắm. Người ta nói là khi mọi chuyện diễn ra quá thuận lợi, tức là mình sắp sửa gặp rắc rối, phải biết đường đề phòng. Em hi vọng đêm nay không có gì tệ hại xảy ra.”
Họ đứng trò chuyện như thế một hồi, hai bóng hình đơn độc trên vệ đường chìm trong đêm.
“Về luôn hả?” Cuối cùng La Bruja hỏi.
“Tất nhiên. Em không muốn liều thử vận thêm nữa.”
“Chắc chị cũng về luôn đây. Mày còn điếu thuốc nào không?”
“Em có thứ này còn ngon hơn. Đi nào, em sẽ đãi chị một tách cà phê ấm nóng. Em cứ thấy lạnh sống lưng.”
Họ quay vào trong cái quán La Bruja vừa mới chui ra. Bên trong không còn ai ngoài chủ cửa hàng, một người đàn ông dáng vẻ mệt mỏi mặc sơ mi xắn tay, đeo thêm một chiếc tạp dề dài chấm sàn. Họ ngồi bên một cái bàn gỗ te tua.
Việc đầu tiên Clo-Clo làm là hất giày xuống dưới gầm bàn, ngó ngoáy ngón chân. “Nhẹ nhõm.”
La Bruja ủ rũ buông phịch người lên ghế, gạt bỏ một que diêm vương vãi, phẩy khăn đầy chán ghét về phía Clo-Clo, thể hiện sự đồng tình.
“Đây là phần chị mày thích nhất, khi mọi chuyện đã kết thúc. Không phải mỉm cười, không phải lắng nghe, không phải dè chừng câu chữ.”
“Chị nghĩ thế à? Em cũng thấy y như vậy,” Clo-Clo thừa nhận. Không buồn nhấc cốc lên, cô ồn ã húp cà phê nóng vào miệng.
Ngay lập tức, chất lỏng ấm áp chảy ngập trong người và cô bắt đầu nói chuyện triết lý. “Chẳng biết chúng ta sẽ ra sao sau một năm nữa nhỉ?”
“Đến đêm mai còn chẳng rõ nữa là,” La Bruja cằn nhằn, tiếp tục gục người lên bàn.
“Bói cho em đi,” Clo-Clo thúc giục. “Đi mà, chica (cô gái) .”
La Bruja nghiêng mặt mỉm cười, “Chị biết ngay mà, đồ khỉ gió, đây là lý do mày mời chị cà phê.”
Clo-Clo không buồn chối. “Dù gì thì đây cũng là trò thư giãn duy nhất mỗi tối của em.”
La Bruja đặt điếu thuốc lá thăng bằng trên cạnh bàn. “Được rồi,” cô ta mệt mỏi đồng ý, “đưa tay mày cho chị.”
“Không, bói bài đi. Em thích bói bài cơ, xem được nhiều hơn.” Clo-Clo cao giọng nói với ông chủ quán ẩn trong bóng tối đằng sau. “Này, ông có bộ bài nào không?”
“Có, nhưng tôi sắp dọn hàng rồi.” Ông ta tắt bớt một ngọn đèn, khiến cảnh quan xung quanh càng thêm tù mù.
Clo-Clo quay đầu nhìn ông ta, chợt tỏ vẻ bực bội và lo lắng, trái ngược hẳn với bản chất thường lệ. “Ông không đợi thêm một phút được sao, việc gì phải vội thế?” Cô hỏi gắt.
“Tôi cũng muốn đi ngủ,” ông ta càu nhàu. “Cô tưởng tôi phải thức suốt đêm phục vụ hai ả bán hoa à?”
Clo-Clo đập lên mặt bàn. “Mang ngay bài ra cho bọn tôi!” Cô đã trả 10 centavo và muốn được tôn trọng. Đây là một lần hiếm hoi Clo-Clo được đứng ở địa vị khách hàng và cô sẽ tận dụng triệt để mọi quyền lợi mình đáng được hưởng.
Ông chủ quán miễn cưỡng lê bước tới và quăng một bộ bài bẩn thỉu vào giữa hai người họ.
“Hai cô có thêm năm phút nữa thôi đấy nhé,” ông ta làu bàu.
Ông ta lại tắt thêm một ngọn đèn nữa. Giờ trong quán chỉ còn lại đúng một quầng sáng mù mờ chiếu xuống bàn hai cô gái, không hơn không kém. Không gian còn lại tối om om.
“Liệu chị có nhìn được không?” Clo-Clo lo lắng hỏi.
“Vẫn đủ sáng.” La Bruja lẹt xẹt tráo bài rất nhanh, điếu thuốc lá không ngừng rung lên giữa đôi môi. “Chia đi,” cô ta ra lệnh, rồi bắt đầu trải bài.
Clo-Clo đặt cả hai cùi chỏ lên bàn, tì mặt lên hai tay, chăm chú theo dõi. Theo sau là một tràng lầm rầm khấn vái, đôi lúc ngắt ngừng, do La Bruja tụng niệm. Thế rồi tự nhiên cô ta im bặt. Một khoảng lặng dài.
Clo-Clo ngước mắt khỏi mấy lá bài và nhìn cô gái đối diện. “Sao thế? Xảy ra chuyện gì à?”
La Bruja trộn hết chỗ bài, xếp chúng vào, làm lại từ đầu.
“Sao chị làm thế?”
“Chị muốn thử lại,” La Bruja tỉnh queo nói.
Giọng tụng trầm trầm một lần nữa vang lên. Và rồi nó lại ngưng giữa chừng, hệt như lúc trước.
Cô ta bắt đầu lại lần nữa. Và lại một lần nữa. Cô ta dừng khấn, như thể không biết làm gì.
“Sao chị cứ bỏ ngang giữa chừng thế?” Clo-Clo hỏi.
La Bruja khẽ lắc đầu, không rõ là để trả lời câu hỏi hay ngao ngán trước nguyên do đã khiến câu hỏi ấy thốt lên.
“Nó vẫn cứ ở đây,” cuối cùng cô ta thì thầm.
Clo-Clo liếc nhìn mấy lá bài. “Em biết, nhưng nó là cái gì thế?”
“Một thứ gì đó, nhưng chị không biết đó là thứ gì. Nó không tốt lành chút nào. Đợi một phút, để chị thử xem có bói ra được cho mày không. Nó tăm tối lắm và thế tức là sẽ có biến. Đây là một lá bài số bốn. Bốn bích xuất hiện ngay trên quân bài của mày. Lần nào chị tráo thì nó cũng cứ xuất hiện và ở ngay chỗ ấy. Cho dù là gì thì nó cũng đang ám mày, đang ở gần mày, sắp ập đến rồi.” Cô ta dang tay ra với vẻ bất lực.
Clo-Clo trợn tròn mắt, câm lặng tỏ vẻ lo lắng.
“Đợi một phút, chị sẽ thử lại.” Tay La Bruja chìa ra, vơ hết chỗ bài thành một đống lộn xộn.
Clo-Clo cứng ngắc quay đầu sang bên, nhìn vào bóng tối. “Cứ nói em nếu… nếu nó lại xuất hiện.” Cô ngoắc tréo hai ngón trỏ với nhau, giữ nguyên tư thế.
Nín thở chờ đợi trong lúc quẻ bài diễn ra, cô có thể nghe thấy tiếng tạch nhẹ của mớ bài khi chúng tiếp xúc với mặt gỗ. Bên trong căn phòng rất yên ắng. Thứ duy nhất còn chuyển động là một vật câm lặng, cái bóng bàn tay của La Bruja giơ lên rồi lại hạ xuống, giơ lên rồi lại hạ xuống trên mặt sàn, nơi Clo-Clo đang gục đầu nhìn xuống.
Bàn tay dừng lại. Tiếng tạch cũng dừng lại. La Bruja cất lời, “Nó vẫn xuất hiện. Bốn lần liên tiếp.”
Clo-Clo so vai lại. “Trong này lạnh quá!” Cô nói, chậm rãi quay đi, liếc xuống đất như thể đang dè chừng thứ gì sắp sửa lao đến cắn xé mình. “Nhưng chẳng phải chị là người đặt quân bài vào vị trí đó à? Chẳng phải… chẳng phải là từ chính tay chị hay sao?”
“Chúng chia theo vòng. Chị thì có liên quan gì? Ngay khi bài của mày xuất hiện và rơi vào vị trí trung tâm, tất cả những lá bài theo sau sẽ quây quanh nó theo đúng thứ tự. Nếu chị tác động vào thì quẻ bói trở thành vô dụng.”
“Ý chị là cả bốn lần nó đều rơi vào đúng… góc trên quân bài của em?”
“Không hẳn, nhưng lần nào nó cũng ở hàng trên. Nó xuất hiện cách lá bài của mày ba hay bốn lá. Đây là một thứ đang trên đường lùng tìm mày.”
Clo-Clo vụt tay ra trước, tóm lấy cổ tay cô bạn, hoảng loạn cầu xin, giọng cô run rẩy. “Bruja. Brujita. Chị Bruja thân mến, chị phải giải bằng ra… Chị phải cho em biết nó là cái gì! Cố đi chị!”
Cô đợi, thế rồi không thấy câu trả lời được đưa ra, Clo-Clo bắt đầu tìm cách dùng chính chuyên môn của La Bruja nhằm kiếm lời đáp. “Số bốn đó có ý nghĩa gì thế? Là một ngày em cần tránh à? Hôm nay là ngày bao nhiêu, để em xem nào…”
“Không, không phải là ngày tháng. Trong mấy quân bài không có ngày tháng. Nó ở ngay hàng thứ nhất trên quân bài của mày, thế tức là sắp rồi.”
“Có phải là một người đàn ông không?”
“Không, mấy lá có hình mới là người, mấy con bồi và con già.”
“Thế thì nó là gì vậy? Thứ gì đó có bốn chân à? Có khi em sẽ bị một con ngựa đen giẫm lên.”
La Bruja nhún vai.
Clo-Clo búng ngón tay, “Em hiểu rồi. Bốn. Thứ gì đó với bốn bánh xe. Em cần tránh xa một cái xe đen, không là sẽ bị nghiến nát.”
“Có thể,” La Bruja do dự đáp. Cho dù là cái gì, nó cũng khiến cô ta cảm thấy lo lắng chẳng kém Clo-Clo. La Bruja không coi thường dấu hiệu này, có thể bởi đây là một thách thức đối với năng lực bói toán của cô ta. Cô gái tiếp tục nhìn xuống bộ bài, tập trung suy ngẫm cao độ, những lá bài chưa dùng đến vẫn nằm nguyên trong tay. Thỉnh thoảng cô ta lại cắn cắn khóe môi.
Chủ quán đã thiu thiu ngủ đâu đó trong không gian u tối đằng sau. Tiếng thở kéo gỗ của ông ta là âm thanh duy nhất vang lên trong khoảng lặng giữa những lời thảo luận.
“Nhưng đây là bài của chị mà. Chị không đọc được chúng sao?”
“Tất nhiên là chị đọc được… kể cả những quân bài này. Chất bích luôn thể hiện rắc rối hay bất hạnh. Đặc biệt cần phải cẩn thận với con át bích, nó là lá bài Tử thần.”
Clo-Clo hít một hơi thật sâu, nhẹ nhõm không thốt nên lời. “Nó chưa xuất hiện. Vậy thì có khi nếu em tránh xa một cái xe đen.” Cô run rẩy đưa tay lên châm điếu thuốc, khiến que diêm làm sém giấy đến tận gần chỗ môi. “Chị bói tiếp thêm tí nữa đi, đừng làm lại. Trải thêm bài ra. Có khi sau nó sẽ có thứ gì… có thứ gì khiến mọi chuyện sáng tỏ hơn.”
La Bruja chớp mắt chiều ý, tay dịch chuyển. “Đây là một lá bài tiền bạc.” Tay cô ta lại dịch chuyển tiếp. “Còn lá bài này ám chỉ một chuyến đi hay một hành trình nhỏ thôi.”
“Em sẽ kiếm được thêm tiền và thực hiện một chuyến đi hay hành trình gì đó à?” Clo-Clo đề xuất đầy hi vọng.
“Không, chúng ngược nhau. Tức là mày phải thực hiện một chuyến đi ngược lại bởi vì tiền. Tiền sẽ khiến mày phải quay lại đâu đó.”
Lần này Clo-Clo không nói gì hết, giữ nguyên những tâm tưởng trong đầu. Nghe có vẻ giống như vào một đêm mình sẽ quay lại Tabarin, gặp đúng ông papacito dễ mến kia và được cho thêm…
“Tiếp đi,” cô thúc giục, “chị hạ con bài tiếp theo xuống đi.”
Bàn tay không cầm nắm gì của La Bruja dịch về phía xấp bài, lấy lá trên cùng, đưa nó ra bàn, nhanh chóng lật tay.
Giữa họ xuất hiện một sự bùng nổ, vô hình, vô thanh, nhưng ta có thể cảm nhận thấy rõ lửa điện đang tóe ra.
“Đợi đã, ban nãy chị nói là…?”
Clo-Clo mở to mắt, rướn cổ về phía mấy lá bài. Trước khi cô kịp xác minh, La Bruja đã úp tay che khuất lá bài.
“Đừng nhìn.” La Bruja bất chợt rút quân bài ấy rời khỏi thế bài đang dàn, bỏ lại một khoảng trống.
“Lá bài Tử thần,” Clo-Clo thì thầm.
“Nó có ở trên lá bài của mày đâu,” La Bruja gắt giọng.
“Nhưng nó ở ngay trên quân bài kia, lá bài số bốn ấy. Và nó chạm vào em. Góc chạm góc!”
“Trông mặt mày kìa,” La Bruja cất giọng cáo buộc. “Trắng bệch ra rồi. Đáng ra mày không nên nhờ chị…” Cô ta lia tay tới lui trên mấy lá bài, phá hỏng thế bài rồi đẩy lùi ghế.
“Ra khỏi đây thôi,” cô ta nôn nóng nói.
Suốt một phút, Clo-Clo không nhúc nhích, hành xử như thể chưa nghe thấy La Bruja nói gì. Mắt cô vẫn đờ đẫn dán chặt lên mặt bàn trống trơn, nơi ban nãy vẫn còn mấy lá bài, như thể vẫn còn nhìn thấy chúng. Clo-Clo đưa tay vén phần tóc mái, tạo ra một ngôi tóc, để lộ vùng trán tam giác.
“Thôi nào, đừng quan trọng hóa như thế,” La Bruja cố gắng an ủi.
Cuối cùng Clo-Clo cũng động đậy, nhưng không nhìn bạn mình. Cô chầm chậm, mệt mỏi quay đầu ra sau, trông về khung cửa sổ cao ngang mặt phố đang lấp ló bên kia quán cà phê, cửa chớp đã đóng lại để nghỉ đêm.
Cô hơi rùng mình, như thể muốn rũ bỏ thứ gì đó. “Em cứ cảm giác có ai đang theo dõi mình, có ai theo dõi em ghê lắm. Em đã từng cảm thấy như thế một lần rồi, tối hôm nay, thậm chí còn trước khi vào đây…”
“Chắc là người nào đi ngang qua và nheo mắt nhìn vào, xem Pepito còn mở cửa không. Chị ngồi nhìn ra ngoài từ nãy đến giờ mà chẳng thấy ai cả. Trả tiền cho cái lão kia đi rồi mình ra khỏi đây,” La Bruja nói, nhắc cho Clo-Clo nhớ rằng cô là người mời. “Mày sẽ cảm thấy khá hơn sau khi ra ngoài.”
Clo-Clo xỏ một chiếc giày vào chân. Thế rồi cô lần mò bên dưới lớp lót giày bên còn lại, lôi một đồng 10 centavo mỏng ra và đặt nó lên bàn.
La Bruja đã mở cửa ra ngoài trước. “Không ai ở ngoài này,” cô ta với giọng vào trấn an. “Phố vắng tanh!”
Clo-Clo ra ngoài theo, kéo cái áo khoác vá chỗ cùi chỏ sát người như thể lạnh lắm. Ngoài hai người họ, không có gì chuyển động hết. Calle Quince de Mayo nằm trơ trọi trong khung cảnh tù mù xung quanh, một đường hầm xanh đen đâm xuyên màn đêm.
“Canh giờ đêm cuối,” La Bruja nhăn mặt. “Chị ghét nó ghê cơ. Thôi, gặp lại mày sau nhé…” Cô ta đi một bước, bắt đầu tách ra.
Clo-Clo tóm lấy tay cô ta, động tác cứ như đang lên cơn co giật. “Chị La Bruja, chị đi về một đoạn cùng em nhé? Chị đi cùng đường với em thì cũng về được mà, chỉ là xa hơn chút thôi.”
La Bruja mắng, “Mày tự nhiên bị làm sao thế?” nhưng dẫu vậy, cô ta vẫn quay lại và bước cạnh Clo-Clo.
“Em không biết, em cứ có cảm giác là lạ, không cách nào rũ bỏ nổi.”
“Vụ bói bài hồi nãy làm mày cuống hết lên rồi.”
“Không, em cảm thấy vậy từ trước khi gặp chị cơ, nhưng nó không mãnh liệt như bây giờ. Từ lúc ở Tabarin em đã cảm thấy bất an rồi.”
“Để chị nói cho mày nghe là mày bị làm sao,” La Bruja khuyên bảo với vẻ dày dặn kinh nghiệm. “Đừng nốc quá nhiều mấy món chưng cất như brandy hay Aguardiente[37]. Chúng quá kích thích và sau đó khiến mày rũ rượi. Lúc mới bắt đầu xuống đường chị mày cũng mắc cái lỗi ấy. Đừng để cái đám đấy tùy hứng ấy mời mày. Cứ dùng mấy thức uống nhè nhẹ thôi. Mày mà không cẩn thận, mấy tay kẹt xỉn kia sẽ cố chuốc cho mày say khướt. Nếu không uống một cách bài bản thì cứ sau một đêm mệt mỏi, mày sẽ gặp đủ thứ chuyện kinh hoàng.”
Giờ họ đã đi đến cuối con phố.
“Rồi, đây là chỗ mình phải chia tay,” La Bruja bảo. “Chị sẽ không mua đường để đỡ mày đâu, tối nay chị lội bộ thế là đủ lắm rồi. Cứ bình tĩnh nhé.”
Cô ta quay ngoắt sang trái. Chỉ một vài giây sau đó, tiếng bước chân trên vệ đường nghe xa vắng dần. Clo-Clo một mình đi tiếp. Ngay trước góc cua đối diện khiến họ khuất hẳn bóng nhau, cô gọi với theo La Bruja, giọng nghe khá tuyệt vọng, “Đêm mai gặp lại chị sau nhé.”
“Ờ,” câu trả lời vẳng lại đầy mơ hồ, vang vọng dọc theo con phố đá trống trải.
Clo-Clo đi tiếp. Bất ngờ thay, cô nhận thấy mình thư thái hơn sau khi chia tay La Bruja. Cô ta nổi tiếng với tính cách bi quan, đôi khi đó lại là nguyên nhân Clo-Clo thấy vậy. Khéo La Bruja cũng chẳng thương hại cô chút nào. Nhưng nói vậy cũng không có nghĩa là Clo-Clo thả chậm bước chân hơn hay đã hết bất an.
Đường về nhà rất dài và chưa bao giờ dài như tối nay. Bàn chân cô tanh tách gõ như đôi đũa trên vệ đường, còn con phố hình ống thì như một cái loa, khiến âm thanh vọng xa về phía trước. Chúng nghe đều đều: cồm cộp, cồm cộp, cồm cộp… Rồi tự nhiên ngưng bặt.
Cái gì thế kia?
Nó mới chạy vọt về phía trước, quành một vòng rộng quanh co và lao ra giữa đường, trước khi cô kịp nhận diện được vật thể ấy. Thế rồi con vật đứng bất động ở đó, sẵn sàng chạy tiếp, lưỡng lự nhìn cô, líu nhíu kêu một tiếng Meo.
Một cơn hãi hùng dấy lên. Ôi lạy Chúa, không, không phải tối nay, ngay sau khi đụng phải quân bài đó…!
Đen, đen như mực từ mũi đến chóp đuôi, lông không lấy một sợi trắng.
Cô rụt rè lùi lại từng bước một, tay chống vào bức tường bên cạnh, tìm cách chạy thoát khỏi cái vòng con vật đã vẽ được phân nửa quanh mình, trước khi nó có cơ hội khép kín vòng tròn. Cô phải tìm cách để đường đi của đôi bên không giao thoa với nhau.
Ngay khi Clo-Clo giật lùi ngang hàng với con vật, nó lại chạy tiếp, lướt thêm một đoạn trên mặt đá lát, rời xa khỏi cô. Vẫn chạy ngược hướng với cô.
Clo-Clo áp sát lưng vào tường, cố gắng nhích đi, không đánh động con vật rời khỏi vị trí mới dừng lại. Bất chợt nó nhìn thấy nơi trú ẩn, lại lao về phía vừa phóng ra, chui vào một lỗ cống nào đó bên vệ đường và biến mất, đuôi rút theo sau cùng, chậm mất vài giây so với thân mình. Chui vào một nơi phía sau Clo-Clo.
Con vật đã vẽ ra một vòng cung khép kín. Bây giờ cô không thể đi theo bất cứ hướng nào mà không cắt ngang con đường mang đầy vận rủi của nó, cho dù là tiến hay lui.
Cô gọi tên vị thánh hộ mệnh của mình, người đã ban cho cô cái tên mà giờ hiếm khi còn được nghe gọi nữa, ngoại trừ những lúc gần nhà. “Santa (Thánh) Gabriela, xin hãy cứu con ra khỏi đây!” Cô chạm lên vai, trán và ngực mình để xua đuổi vận rủi. Người ta bảo cái điềm ấy thậm chí còn xui xẻo hơn cả việc làm vỡ một tấm gương.
Nhưng cô không thể đứng đây cả đêm trong cái ốc đảo an toàn này. Chuyện gì phải đến thì không cách nào thay đổi được. Cô thu hết can đảm, đầu gục xuống phòng vệ như thể sắp phải lao qua một bức tường lửa. Thậm chí cô còn kéo gấu váy vốn đã ngắn của mình lên cao hơn để đôi chân chuyển động được dễ dàng. Thế rồi cô hít một hơi sâu, cắm đầu lao qua con đường ma thuật mà con mèo đã vẽ lên. Cô đã tự do, nhưng đồng thời cũng bị vận rủi ám lên người.
Clo-Clo ngoái lại nhìn, thở dài và tiếp tục đi về.
Vài phút sau, cô đã ra đến Calle de Justicia (đường Công Lý) thẳng tắp, một con đường rộng chạy chéo, lạnh lùng cắt xuyên qua mê trận những ngõ ngách quanh co. Vì đường đâm xiên nên lối vào là một loạt các góc quành nhọn hoắt như cái nêm. Giờ tất cả những gì cô cần làm là đi đến đầu bên kia con đường để về nhà.
Một khoảng sáng từ đèn đường thoáng soi tỏ dáng cô, rồi lại để lạc Clo-Clo trong bóng tối. Chốc lát sau, khoảng sáng tiếp theo lại làm điều tương tự. Rồi đến lượt khoảng sáng tiếp theo. Cứ hết một ngã rẽ là lại có một ngọn đèn.
Mặc dù không gian yên tĩnh đến thế, nhưng Clo-Clo hoàn toàn không nghe thấy tiếng chiếc xe cho đến khi nó đến gần sát. Hẳn suốt mấy giây vừa qua, chiếc xe đã lẳng lặng bám theo cô, động cơ hạ xuống dưới mức nghe được, đèn pha được tắt hết. Chắc người kia đã nhìn thấy Clo-Clo lúc cô lộ tẩy dưới một khoảng đèn đường.
Tín hiệu cảnh báo duy nhất là một tiếng loẹt xoẹt, nhẹ nhàng như một dải băng bị kéo lê trên nền đất. Cô quay phắt lại và chiếc xe chỉ cách lưng cô có vài mét, chạy cùng tốc độ với cô. Hẳn đèn pha đã cố tình tắt đến tận phút chót, để chiếc xe có thể đến gần. Giờ đèn lại bật hết lên, tưới đẫm ánh sáng từ đầu đến chân cô, hệt như chụp ảnh vậy. Sau đó, với một nút bấm, chúng lại mờ thành một quầng sáng tù mù. Cô chao đảo, lóa hết cả mắt, phải ấp mu bàn tay lên che mặt.
Hẳn tay tài xế đã hài lòng với cú chụp hình vừa rồi, chiếc xe dừng lại, một nhân vật bước xuống vệ đường bên cạnh nó. Tất cả những gì cô nhìn thấy được là một vành mũ chéo ngông nghênh và một vóc dáng cân đối trẻ trung, mặt búng ra sữa. Anh chàng này chắc là con trai một ông nhà giàu nào đó, mò ra ngoài tự tìm hiểu mùi đời. Riêng chuyện anh ta xuống xe và đứng đó đợi bên cánh cửa mở thay vì ngồi im trong xe và ra hiệu vẫy cô lại gần, là đủ cho thấy tay này non kinh nghiệm cỡ nào. Những kẻ như vậy là những mỏ vàng chính hiệu, nếu đủ may mắn để vớ được một anh.
“Này, chica (cô gái) , có muốn lượn một vòng với anh không?”
Phải, cô đã đoán đúng, đó là giọng của một thanh niên trẻ măng. Ẩn bên dưới vẻ tay chơi hờ hững mà anh ta đang cố trưng ra là chút lo lắng trước sự liều lĩnh của mình.
Cô tiến một bước về phía anh ta để bắt chuyện, vừa do thói quen vừa do công việc đặc biệt của mình, nhưng rồi Clo-Clo nhận ra bản thân đang làm gì. Cô chợt giật mình đứng sững lại.
“Đợi chút, chiếc xe màu gì thế? Trông như là…”
“Màu đen,” anh ta đáp đầy tự hào. “Đẹp phết đấy nhỉ?”
“Cút đi ngay!” Cô rú lên, vô cớ hoảng loạn. “Đem cái thứ ấy tránh xa tôi ra! Ay, dios mio (Ôi, lạy Chúa) , đừng có lại gần tôi với cái thứ ấy!” Cô co cẳng chạy thục mạng trên phố như thể bị ma đuổi.
“Đây là xe hãng Hispano đấy!” Anh ta gọi với theo đầy cáu kỉnh.
Cô nhìn lại phía sau để đảm bảo thanh niên kia không lái xe đuổi theo mình. Anh ta đứng đó, hết nhìn cô lại nhìn chiếc xe và ngược lại, điên tiết vì vật sở hữu đầy tự hào của mình bị xúc phạm như vậy. Anh ta thậm chí còn dứ tay về phía cô đầy phẫn nộ. Rõ ràng cô đã động trúng vào một vấn đề nhạy cảm.
Cô tiếp tục chạy, đến cả khu vực quanh chiếc xe kia cũng muốn tránh xa. Cô chạy không ngừng nghỉ gần một dãy nhà, cuối cùng guồng chân chậm dần thành một bước lê loạng choạng. Đơn giản là cô đã hết hơi hoàn toàn. Hồi nãy suýt chết thật! Thứ ấy chắc sẽ đâm bẹp dúm vào một bức tường và thiêu sống Clo-Clo chỉ trong vòng năm phút sau khi cô leo lên.
Tất của cô đã tuột xuống trong lúc chạy và cô phải cúi xuống kéo lại. Áo khoác và tấm áo cánh bên dưới cũng xộc xệch cả, cô phải vuốt thẳng chúng ra. Thế rồi Clo-Clo tiếp tục loạng choạng bước đi, vẫn còn thở hồng hộc vì ban nãy quá gắng sức.
Nhờ đó mà cuối cùng cô cũng về đến nhà. Nhờ thế mà cô đã đi nốt quãng đường về đến mái nhà lụp xụp của mình. Căn nhà một tầng này chỉ có hai buồng, làm từ gạch không nung với thạch cao trát ngoài, mái lợp bằng ngói vỡ. Nó nằm ở nơi nhà cửa bắt đầu thưa thớt, đất đai không đáng giá bao nhiêu và không người nào biết chính xác ai là chủ khu đất. Ngôi nhà có một khoảng đất trống nho nhỏ phía trước, với những bông hướng dương cố gắng ngoi ngóc vươn dậy giữa những thùng xăng vứt đi và các bình nước vỡ, cũng là nơi mẹ cô thường hay phơi quần áo. Nơi đây là nhà. Cô thích nó. Cô muốn quay lại với nó. Đây là lý do cô ngồi la cà khắp các quán rượu. Đây là nơi cô mang về 150 peso, hay 1 peso và 50 centavo. Cô không mang tiền khỏi đây mà mang tiền từ nơi khác về đây. Vậy là đủ biết cô coi trọng mái ấm đến nhường nào. Ừ thì một ngày xa xôi nào đó, họ sẽ có một căn nhà tử tế hơn. Nhưng ý tưởng và hệ thống thì sẽ vẫn như cũ.
Con chó lai trong sân nhà họ muộn màng nhỏm người dậy sau khi cô bước qua, cất giọng sủa om sòm và nhút nhát như thường lệ trong khi vẫn thận trọng đứng ở một quãng xa.
“Im nào, Conejo (Con thỏ) ! Tao đây mà,” cô nói.
Con chó liền đổi ngoắt thái độ, vẫy đuôi rối rít và đứng chắn cả đường đi, cho đến khi cô vào nhà và đóng cửa nhốt nó bên ngoài.
Tuy phải len lỏi đi giữa những tấm đệm trên sàn nhưng Clo-Clo gần như biết vị trí của chúng. Mẹ cô luôn để dành một lối đi cho con gái, từ cửa vào đến tận giường cô. Thỉnh thoảng cô lại giẫm lên một bàn tay, nhưng đó là do người ngủ đã bất cẩn xê dịch trong lúc ngủ say.
Lúc đến nơi thì cô phát hiện một đứa nhỏ đã chiếm dụng giường mình. Chúng nó có làm thế thì Clo-Clo cũng không bận tâm, nhưng lúc chuẩn bị ngả lưng thì lại là việc khác. Cô đánh thức thằng nhóc dậy, hạ giọng khiển trách, “Xuống ngay, palomita (thằng cu) ! Chị về rồi. Nhanh nào, xuống chỗ của mày đi!”
Thằng nhóc rón rén bò xuống sàn, tiếp tục lăn ra ngủ. Clo-Clo ngồi xuống chỗ nó vừa nằm, tháo giày.
Cô vươn vai một cú thật đã đời, tay đưa cao lên đầu, ngáp một cái, thở dài mãn nguyện. Ôi, được quay lại đây, kết thúc cái chuyện kia mới sung sướng làm sao. Clo-Clo ngồi thừ ra đó tầm vài giây, lơ mơ nửa ngủ nửa thức mặc dù từ eo trở lên vẫn thẳng đơ. Trong khi ấy, một chùm những hình ảnh nhập nhằng của toàn bộ đêm nay lướt qua tâm trí đang lịm dần.
Em sẽ thích Copenhague, anh muốn đưa em ra khỏi đây… Em vừa mới ở đây được một loáng là đã lại biến mất rồi… Vào trong này rồi thì cẩn thận cách hành xử đấy, ngồi ghế cuối ấy, dẹp cái trò vòng khói đấy đi, hiểu chứ?… Ba, xe đang đợi bên ngoài, con sẽ nói gì với Elena đây!… Năm phút nữa thôi, tôi sẽ đóng cửa… Này, chica, có muốn lượn một vòng với anh không? Đây là xe Mỹ Latin đấy…”
Tận 150 peso. Chỉ cần vài đêm như thế này nữa thôi là cô sẽ có thể ngừng lại, dẹp bỏ toàn bộ công việc của mình. Clo-Clo nhún vai cởi áo khoác, để nó tuột xuống. Cái giường cót két lên một tiếng. Bất chợt cô bật thẳng dậy, tỉnh như sáo, sợ xanh mặt. Tay cô đang ép bẹp vào giữa phần ngực trống rỗng của mình.
“Mất rồi!” Cô thốt lên một tiếng la tắc nghẹn, vọng qua khung cửa mở và lọt vào trong căn buồng kế bên.
Mẹ cô cựa mình bên trong, ngái ngủ hỏi vọng ra, “Con về rồi à, Gabrielita? Sao thế, con bị làm sao à?”
Ở nhà không ai gọi cô là Clo-Clo, họ thậm chí còn không biết đó là biệt danh của cô.
Cô lại mò lấy giày, sốc đến mức nước mắt cũng không chảy ra nổi, không thể phát ra thêm bất cứ âm thanh nào. Nó như một cú giáng mạnh vào giữa thượng vị. Cô chỉ có thể thở hồng hộc, hệt như lúc mới chạy xong ít phút trước…
Thôi đúng rồi! Vụ chạy trốn khỏi chiếc xe ấy. Hẳn đó là lúc chuyện xảy ra. Đó là lúc duy nhất cô chạy suốt đêm nay, ít nhất là đủ nhanh để làm rơi tiền. Tất cô còn tụt cả xuống, áo xộc xệch đi. Hẳn tờ tiền đã bị đẩy lên cổ áo và rơi ra ngoài.
Cô mở tung cửa trước. Không con bốn bích nào có thể ngăn cản cô, không con mèo đen nào, không chiếc xe đen nào ngăn nổi. Chẳng gì cả. Tiền, sự yên ổn, đó mới là thôi thúc mạnh mẽ nhất, thậm chí còn mạnh hơn cả nỗi sợ chết chóc.
Giọng mẹ cô lại vang lên, ngay trước khi cô đóng cửa lại. “Con gái, con lại ra ngoài đấy à? Nhớ cẩn thận nhé, giờ đã muộn lắm rồi.”
“Chỉ một phút thôi. Mẹ ngủ tiếp đi, con sẽ quay lại ngay,” cô lơ đãng đáp. Trụ cột gia đình không có thời gian để sợ hãi hay giải thích, hay để những người phụ thuộc lo lắng thay phần mình. Đây là vấn đề của riêng cô và Clo-Clo phải tự giải quyết.
Giờ cô đang quay trở lại khu vực nội thành, bước chân nhanh như gió, mọi sự mỏi mệt đều bị hoãn lại. Cô đi như thể đang là 3 giờ chiều. Tâm trí nhớ đi nhớ lại. Clo-Clo có một khối óc sắc sảo, đúng hơn là sẽ như thế nếu được rèn luyện.
“Mình không để mất tiền khi múa quanh bàn tại Tabarin. Mình biết, bởi vì mình đã sờ tay kiểm tra sau khi rời khỏi đó và tiền vẫn ở chỗ cũ. Mình không để mất tiền lúc ngồi với La Bruja, tay chị ấy để trên mấy quân bài, không rớ gần đến mình. Chính là lúc mình chạy khỏi cái xe đáng nguyền rủa kia, chỉ có thể là khi ấy thôi.”
May mắn thay, cô biết đại khái tiền rơi ở đâu. Anh ta đi theo cô tại đoạn đường trên Retiro một tẹo, cô đã chạy hết toàn bộ dãy nhà, ra đến đoạn ngã tư tiếp theo ở San Marco. Chúng rơi đâu đó trên đoạn đường ấy, ở phía bên tay phải đường Justicia.
Đây. Bắt đầu từ đây. Cô chạy chậm lại, tiến tới, đảo qua đảo lại như con lắc dọc đoạn vỉa hè phủ xanh bóng tối của màn đêm, đi từ rìa đường đến chân tòa nhà, từ chân tòa nhà đến rìa đường, đầu dơ dơ chúi xuống. Mọi khoảng gồ ghề, mọi miếng đá lệch, bất kỳ thứ gì hắt ra một cái bóng sẫm hơn phần bề mặt còn lại, đều được cô khám xét kỹ lưỡng bằng cách cúi sâu xuống nhìn, hay thậm chí còn sờ thử bằng đầu ngón tay.
Nhiều phút trôi qua. Thành phố say ngủ, màn đêm ủ ê suy tư, âm thanh duy nhất là tiếng loẹt xoẹt như chổi quét từ hai bàn chân cô, tới và lui, lui và tới.
Tự nhiên mép đường lõm vào, tạo thành một khoảng hụt dưới bàn chân. Cô ngửa lên với cái cổ đau nhức, cứng ngắc. Hết rồi sao? Cô sang đến đầu bên kia rồi à? Đúng rồi, chính nơi đây, đây chính là chỗ chiếc xe dừng lại và chiếu đèn vào người cô.
Có khi anh ta đã phát hiện ra tiền của cô. Nhưng anh ta có đuổi theo cô đâu. Anh ta đứng cạnh chiếc xe một phút, sau đó leo vào và lái đi. Mà giờ này thì gần như chẳng có ai ra ngoài nữa, gần như chẳng có ai sẽ đi ngang qua đây. Hẳn tiền vẫn còn đâu đó loanh quanh đây, chắc chắn là thế. Cho đến khi ngày mới bắt đầu, cho đến khi những người dậy sớm đầu tiên ra đường, chúng sẽ vẫn nằm yên ở nơi đã rơi ra. Cô sẽ không bỏ cuộc, sẽ không ngừng lại cho đến khi tìm thấy nó.
Clo-Clo đã đi đủ một vòng ra góc đường San Marco rồi lại quay về chỗ cũ. Chút hi vọng cuối cùng cũng tan biến. Cuối cùng cô cũng phải thừa nhận rằng có tìm thêm thì cũng vô dụng, rằng nếu tiền còn ở đây thì cô đã phải nhìn thấy đến hai hay ba lần rồi. Clo-Clo bất lực luẩn quẩn bên vệ đường một lúc, cả cõi lòng tan nát. Thế rồi nước mắt trào ra. Nước mắt nóng hổi đầy cay đắng, dứt gan dứt ruột, thứ nước mắt những người sống trong yên ấm sẽ không đời nào hiểu được.
Cô bước đến bên bức tường gần góc quành và áp mặt lên đó, một cánh tay chống lên tường, gót duỗi ra đằng sau và kiễng khỏi mặt đất. Bàn tay còn lại, cô đập lên lớp đá nhẫn tâm và lì lợm theo từng tiếng khóc nghẹn ngào.
Cả đêm mất trắng. Bao nụ cười, bao dòng năng lượng hấp dẫn, bao kilowatt tính cách đã bị tiêu thụ mất, thế mà chẳng thu về được gì cả.
Tiếng khóc là thứ đầu tiên dừng lại. Thế rồi tiếng bàn tay đập lên đá đầy thống khổ nhỏ dần thành tiếng vỗ và cuối cùng thì chết lặng. Clo-Clo cố hết sức tự an ủi bản thân. Chỗ tiền kia cô chẳng mất gì mà vẫn kiếm được. So với lúc trước khi nhận số tiền ấy, giờ ít nhất cô cũng chẳng thiệt…
Nhưng, không có tác dụng. “Chúng là của mình,” cô nghèn nghẹt nói với bức tường. “Mình đã có chúng. Tại sao chúng lại tuột khỏi tay mình?”
Clo-Clo vùng vằng hất vai lại, quay mặt ra, vẫn dựa vào bức tường. Cô nhìn vào bầu thinh không bằng ánh mắt lờ đờ bực bội. Màn đêm nợ cô một khoản. Cô sẽ kiếm lại một ít, bất kể khoản tiền có nhỏ nhoi cỡ nào so với những gì đã mất. Cô sẽ đứng ở đây cho đến khi kiếm lại. Cô sẽ không tay trắng mà về nhà. Đây là thói tằn tiện chết người của tầng lớp hạ lưu. Cần có thứ gì bù trừ, dù là nửa đồng peso hay một điếu thuốc lá đi xin xỏ thôi cũng được. Cô sẽ không rời chỗ này cho đến khi kiếm được thứ gì đó.
Đường Justicia lạnh lùng đâm xiên qua một khu lụp xụp và rối rắm như mê cung trong thành phố. Bởi thế nên mọi ngõ hẻm và gian nhà mục ruỗng nối liền với nó đều không vuông góc mà cắt chéo nhau. Ở cái góc nơi cô đứng, San Marco đâm tới nhập bọn với con đường mới, tạo thành một góc nhọn đến mức chẳng hơn một góc cứa 15 độ là bao. Góc tường cô đang dựa vào nhọn hoắt như đầu kim. San Marco không nằm vuông góc với cô mà thẳng ngay sau lưng, phía bên kia cái giếng hai mặt này. Cô đứng đó vào Khung giờ thê lương, Canh giờ Tử thần của màn đêm, cương quyết kiếm thứ gì bù lại công sức mình đã bỏ ra. Cùng lúc ấy, từ góc quành phía sau lưng, vọng lại tiếng một bàn chân nhẹ nhàng đạp lên lớp đất xốp, trên những phiến đá nhỏ được lát lộn xộn. Ai đấy đang ra đây, dọc theo lề đường không lát của San Marco, sắp sửa vòng tới cái góc nhọn hoắt này và bắt gặp cô.
Không quan trọng người đấy là ai, Clo-Clo muốn kiếm lại một thứ bất kỳ trong đêm nay, cô sẽ không để anh chàng bỏ đi mà không chịu cống nạp cho mình cái gì, đền bù mất mát và hàn gắn lại lòng tự trọng tan nát của cô. Clo-Clo dụi khô đôi mắt bằng cách liên tiếp gí một khớp ngón tay vào chúng. Mở túi ra, cô gấp rút quệt vài đường son, đồng thời nụ cười thân thiện của dân đường phố đã bắt đầu nhếch lên. Cô dự định sẽ khiến anh chàng phải dừng bước ngay khi xuất hiện. Lớp đá cuội và sỏi vụn đã bắt đầu nẩy nhẹ trước mắt cô, đằng trước góc quành nhọn như mũi dao, chẳng khác nào dòng nước lờ đờ loang ra trước sau một cú va chạm vô hình, người gây ra nó vẫn đang tiếp tục ẩn mình thêm chút nữa.
Chỉ giây lát thôi, họ sẽ mặt đối mặt, mắt giao mắt. Giờ cô đã có thể thò tay vòng ra sau bức vách, mò mẫm và chạm vào người anh chàng trong lúc anh ta nhẹ chân bước tới.
Thỏi son hạ xuống. Nụ cười của cô đã sẵn sàng.
Clo-Clo nhằm về phía màn đêm, mắt khẽ nhắm lại chờ đợi.
Vào 7 giờ sáng hôm đó, lúc Manning đến bằng taxi, người ta đã mang cô gái đi rồi. Góc đường như mũi bàn là của San Marco và Justicia trông thật thanh nhã với những sắc màu nước buổi sớm: hồng đào và xanh phấn. Ráng hồng tô điểm gương mặt của những người đứng quanh đây trong khi họ để lại những cái bóng xanh nhạt trên nền đất phía sau.
Còn một màu sắc khác nữa trên bức tường phía đường Justicia, như thể ai đó đã bất cẩn quăng đi một thứ hoa quả chín nẫu.
Không có nhiều người quanh đây. Một ông nông dân người Ấn Độ, đang trên đường lên phiên chợ sớm với một giỏ quả hồng đội trên đầu, trông như đã vĩnh viễn chôn chân tại một điểm, mồm há hốc khó hiểu, điệu bộ như sẵn sàng đi tiếp nhưng lại quên không đưa chân. Ở vệ đường đối diện, một anh lao công quét phố cũng đứng nhìn, tì người lên cái chổi sể. Thỉnh thoảng anh ta cầm nó lia mấy đường, thế rồi lại dừng tay và theo dõi tiếp. Trên ban công tầng ba cùng bên đường, một phụ nữ đẫy đà đã ra ngoài dò xét, nhưng mang theo cả lược để tiếp tục chải mớ tóc dài đen bóng. Chỉ vậy thôi, những người còn lại đều có phận sự tại đây.
Lần này, chẳng những Manning không được ai thông báo, mà thậm chí lúc chui ra khỏi chiếc taxi và nhập bọn với họ, anh còn nhận thấy mình bị đối xử như con hủi. Robles liếc lên, lạnh lùng chào đón anh, “Lại anh nữa à? Chúng tôi có việc phải làm. Nếu anh không phiền thì làm ơn đừng ngồi ngoài cuộc đưa ý kiến ý cò nữa nhé!” Sau đó ông ta hỏi thêm, “Mà anh biết đọc ý nghĩ à? Sao anh lại biết?”
“Tin đã loan ra khắp thành phố rồi. Anh đưa sữa kể với cậu mozo (bồi bàn) mang cà phê sáng cho tôi ở bên kia phố. Đương nhiên là cậu ta bảo với tôi. Lần này là ai thế?”
“Clo-Clo, khách quen tại các quán xá. Một cô gái đi đêm, tội nghiệp thật. Mendez đây biết cô ta đấy. Đúng thế không, Mendez?”
Mendez cụp mắt xuống chối, “Chỉ biết khi làm nhiệm vụ thôi.”
Manning đã để ý thấy mấy đồ vật nhỏ đang chờ được mang đi, hiện được đặt trên một tờ báo trải rộng ở một cái ghế xếp để mở.
“Thỏi son kia từ đâu mà ra?”
“Nó nằm trên mặt đất gần xác cô gái. Tôi đoán là nó rơi khỏi túi trong lúc vật lộn.”
Manning im lặng một lúc. Thế rồi anh hỏi, “Còn thứ gì khác rơi ra nữa?”
“Không thứ gì cả.”
“Lúc cái túi được tìm thấy thì nó mở hay đóng?”
Robles vẫn đủ tử tế và đủ khinh suất để giơ một ngón tay lên giải thích cho những người xung quanh. “À. Anh chàng người Mỹ này nhận xét hay đấy. Cái túi vẫn còn đóng khi chúng tôi tìm thấy nó. Bởi thế nên đúng là thỏi son không thể rơi ra ngoài được, cô ta hẳn đã tự tay lấy nó ra.” Ông ta vẩy tay hờ hững. “Tuy nhiên, đó chỉ là một tiểu tiết vặt vãnh không liên quan đến vụ án này.”
“Ồ không, không liên quan gì hết,” Manning đồng tình với vẻ nhạo báng. “Ngoại trừ một điều là nó cho thấy kẻ phục kích cô gái ở góc đường này là một người đàn ông. Tôi không tin cô gái lại tô son để nghênh tiếp một con vật bốn chân, đúng chứ?”
Robles khẽ ngó ngoáy bàn tay bên hông, dùng tông giọng hết sức kiềm chế nói với những người ngay cạnh mình, nhưng lờ tịt Manning đi như thể anh không đứng ở đó.
“Lại thế rồi. Tôi đã làm gì nên tội mà phải chịu đựng con ong vò vẽ này kêu vo vo trong tai thế cơ chứ? Mendez. Cipriano. Đứng sang hai bên anh ta. Mỗi cậu nắm lấy một bên tay. Đúng rồi, như thế đó. Giờ đưa anh chàng ra chỗ cái taxi đằng kia, cho anh ta ngồi vào đó và đảm bảo rằng nó đưa vị khách quay lại đúng cái chỗ anh ta đã rời đi.”
Robles thực sự nghiêm túc. Khóe mắt và khóe miệng trắng đến mức đây không thể là một câu đùa suông. Có lẽ một phần là vì mới sáng sớm.
Nhưng cả Manning cũng không vừa. “Giả thuyết của ông chắc phải lỏng lẻo lắm,” anh gay gắt nói, “nếu nó không thể chịu nổi một ý kiến trái ngược nhỏ nhoi. Sao thế, sợ nó sẽ sụp đổ tan tành à? Bỏ tay ra khỏi người tôi. Đây là một con phố công cộng. Tôi có quyền đứng đây chừng nào tôi muốn.”
Đây dễ chừng sẽ trở thành thời khắc họ thực sự căm ghét và thù hằn nhau. May mắn thay, đúng lúc ấy, một chuyện khác chen ngang và khiến tất cả mọi người quên ngay mọi vấn đề tủn mủn khác.
Hè đường náo loạn ầm ĩ hết cả lên và đích thân jefe de policia (cảnh sát trưởng) bước xuống từ một chiếc xe Bugatti đẹp đến mê hồn, một trong những chiếc cuối cùng được nhập khẩu trước chiến tranh. Tất cả mọi người đều im phăng phắc, đứng thẳng nghiêm trang trong lúc ông ta bước tới với các sĩ quan cấp dưới vây quanh.
Ông ta thấp nhưng chắc người, tướng mạo đanh thép như thầy tu, tác phong dữ tợn và chất giọng sang sảng, vang to, rất hợp nói trước đám đông. Ông ta chỉ liếc sơ những vết tích còn sót lại trên bức tường và mặt đất, tập trung vào những người trước mặt. Ông ta đứng đó hằm hè nhìn họ qua cặp kính, như một con cú giận dữ hấp háy đôi mắt dưới ánh nắng mặt trời.
“Có phải anh là người chịu trách nhiệm không, thanh tra?” Ông ta nạt như sấm nổ sau một khoảng dừng kịch tính.
“Sí, excelencia (Vâng, thưa ngài) ,” Robles sợ sệt đáp lại bằng một tông giọng lí nhí.
“Chuyện này sẽ còn xảy ra thêm bao nhiêu lần nữa? Con quái thú này cần được triệt hạ! Xác nó phải được đem trình lên cho tôi trong vòng 24 tiếng nữa, đã rõ chưa?” Ông ta nói luôn với tất cả, quay đầu lại nhìn hết lượt bọn họ. “Nói thế tất cả các anh đã rõ chưa? Ngài thị trưởng và ayuntamiento (hội đồng thành phố) rất quan ngại về tình hình này và đang tiến hành trao giải thưởng cho người dân, độc lập với công tác điều tra của các anh. Nó tạo hình ảnh không tốt về sở của tôi. Mầm mống hoảng loạn đang âm ỉ trong toàn thành phố. Sắp vào mùa du lịch rồi. Mức thiệt hại mà vụ này gây ra là cực kỳ lớn, người ta sẽ tránh không đến đây!”
Ông ta quay lại chiếc Bugatti, buông nốt lời cuối trước khi lên xe. “Vụ này chẳng có gì phức tạp hết! Nếu một con vật mà lại sở hữu cái đầu tử tế hơn những khối óc ưu tú nhất của lực lượng cảnh sát, đã đến lúc cần tái cơ cấu tổng thể tổ chức, từ trên xuống dưới!”
Robles ngồi rầu rĩ bên bàn, đọc một trong những tờ áp phích mới của hội đồng thành phố, hãy còn nóng hổi sau khi ra khỏi máy in. Tờ giấy to đến mức tràn ra cả hai bên mép bàn. Hàng chục bản áp phích vàng rực tương tự đang được dán trên mọi bốt quảng cáo, bảng hiệu và các bức tường trống.
Trên cùng tờ áp phích là một dòng chữ đen đậm: Aviso al publico (Bố cáo toàn dân) . Tiếp đó đến lượt một đống dòng ghi chú nhỏ. Thế rồi cuối cùng, ở góc dưới cùng bên tay phải, một lần nữa người ta lại dùng kiểu chữ đậm: Trao thưởng $1.000.
Manning biết việc mình được phép ngồi lại trong văn phòng khi Robles đang phải chật vật loay hoay thế này nghĩa là ông ta quyết định sẽ nhượng bộ.
“Tôi vẫn không đồng tình với anh,” Robles nói, tuyệt vọng đấm tay lên bàn. “Nhưng khi chức vụ chính thức và công việc bị liên đới, tôi buộc phải cân nhắc mọi khả năng, cho dù là trái với quan điểm cá nhân. Tôi không thể bỏ qua bất cứ khả năng nào.”
“Chờ đã,” Manning nói vội. “Có phải là tôi đang đưa ra cáo buộc hay cái gì đâu, ông hiểu chứ? Tôi không có bất kỳ bằng chứng nào chống lại gã kia, không gì cả. Chỉ là đang có một tình huống đáng nghi như thế này, tôi đã đi hỏi han khắp nơi, đây đó, từ chỗ này tới chỗ kia, hỏi han với tư cách cá nhân. Tôi tự đi hỏi thôi, ông hiểu chứ? Và tôi đã phát hiện ra gã có thói quen đi vào thành phố rồi ở lại qua đêm. Thỉnh thoảng, đôi khi, không thường xuyên.”
“Chuyện đó chẳng có gì phi pháp cả. Suốt ngày suốt đêm, có hàng trăm người ra ra vào vào thành phố.”
“Tôi đồng ý với ông,” Manning nhẹ nhàng nói. “Một số người đi vào ở những ngày cố định. Chẳng hạn tối thứ Bảy. Hoặc ngày Chủ nhật. Hoặc đều đặn hai lần một tuần. Có khả năng như vậy. Rồi có cả những người ra vào thất thường, như gã. Cứ khi nào có hứng là đi thôi. Như ông đã nói, cả hai kiểu thói quen chẳng có gì đặc biệt đáng ngờ cả.”
“Thế thì sao?”
“Cứ bình tĩnh, để tôi nêu ra cho ông ba ngày gần đây nhất mà gã ngẫu hứng lên thành phố. Đây đều là ngày chuẩn, ông có thể tin tưởng. Tôi thu thập thông tin này từ nhiều nguồn không liên đới, các tài xế xe buýt lái tuyến đó, các chủ quán rượu và những người tương tự. Xem thử xem ông có thấy chúng đáng chú ý không.”
Robles nhìn xuống tấm áp phích lù lù trước mặt, không ngừng gõ ngón tay quanh mép giây, trầm tư u ám.
Manning lôi ra một chiếc phong bì cũ, quan sát mặt sau. “14 tháng Năm…”
Mắt Robles nhướn lên khỏi tấm áp phích trước mặt.
“26 tháng Năm…”
Robles ngẩng lên, cổ cứng đơ lại.
“8 tháng Sáu…”
Cả thân mình Robles bắn vọt dậy, đứng hẳn lên. Thế rồi ông ta rướn về phía trước, nện gan bàn tay đánh rầm xuống bàn, im lặng hồi lâu.
“Teresa Delgado chết vào đêm 14 tháng Năm. Conchita Contreras mất mạng vào tối 26 tháng Năm. Cô gái có biệt danh Clo-Clo được phát hiện ra vào sáng sớm ngày 9 tháng Sáu.” Ông ta quắc mắt nhìn anh chàng người Mỹ. “Một lần có thể gọi là trùng hợp. Hai lần, sẽ là đáng nghi. Nhưng ba lần, nhiều như thế thì là gì?”
“Tôi không giỏi nêu tên sự vật hiện tượng đâu,” Manning chỉ lặng lẽ đáp vậy.
Robles đưa ngón cái gạt công tắc máy liên lạc trên bàn.
“Đưa Juan Cardozo, quản đốc trang trại tại Las Cruces (Chữ Thập) đến gặp tôi. Nó cách thành phố tầm 50 cây số theo lối đường bộ. Chỉ cần đi đúng theo trục đường chính là sẽ đến nơi. Không cáo buộc gì hết, chỉ đưa ông ta về đây hỏi cung thôi.”
Juan Cardozo có nước da sậm như cây gỗ gụ vì quanh năm suốt tháng phải làm việc dưới nắng nóng. Lúc bước vào đồn, ông ta vẫn mặc nguyên bộ đồ như lúc cảnh sát tìm đến, áo sơ mi vải bông màu xanh để mở cúc cổ, một kiểu áo choàng poncho vắt trên một bên vai, quần nhung kẻ, đeo thắt lưng bạc khắc nổi thường thấy ở những cao bồi và một cái mũ dạ không rõ hình thù, vành mũ nhăn nheo lượn sóng vì liên tục bị ngấm nước rồi khô dần, chắc là ngay trong lúc ông ta còn đội trên đầu.
Ông ta có một bộ ria mép nhỏ đen nhánh nhưng cứng đờ. Thỉnh thoảng, trong quá trình hỏi han dông dài, cảnh sát cho phép ông ta hút thuốc, như thể để ông ta nhớ lại cảm giác thoải mái và dễ chịu. Ngụ ý của hành động ấy là ông ta sẽ được hưởng thụ cảm giác đó nếu chịu thừa nhận những điều kinh khủng mà mình gây ra. Cứ mỗi khi được phép hút thuốc, ông ta lại lấy một mẩu giấy trong túi, chậm rãi và tỉ mẩn tự quấn lấy một điếu. Cardozo quấn thuốc khéo ra trò, trông thật nghệ thuật, chỉ xem thôi cũng thấy thích thú.
“Tôi phát hiện ra nó lúc cưỡi ngựa đi tuần vào một ngày nọ,” ông ta nói đến đó thì Manning kín đáo lẻn vào trong căn phòng. Nói thật ra, anh không có phận sự gì. Nhưng xét cho cùng, cũng nói thật ra, họ không có quyền giữ ông Cardozo ở đây. Chưa phải lúc.
“Mẹ nó đã bị giết, còn nó thì run rẩy cạnh cái xác. Hồi đó nó còn bé tí, một con mèo con đen như hòn than. Tôi bế nó lên, mang theo về trang trại và giữ nó ở đó. Thời gian đầu, chúng tôi nuôi nó ngay trong nhà như một con mèo con. Thế rồi khi nó lớn hơn, tôi đóng một cái chuồng ở bên ngoài và giữ nó trong đó. Thế rồi một ngày, senor này tạt qua và thấy nó. Anh ta hỏi tôi xem có thể mượn nó với giá 25 peso không, anh ta muốn một quý cô nào đó đem nó lên xe đi khoe.”
“Ai là người cho nó ăn?” Robles hỏi bằng một giọng trầm trầm đầy nguy hiểm.
“Là tôi.”
“Thế tức là nó nhận biết anh?”
“Claro. (Tất nhiên.) Bất cứ con vật nào cũng nhận biết người cho mình ăn.”
“Anh có trò chuyện với nó lúc cho ăn không?”
“Có chứ. Cũng giống như mọi người thôi, ông biết đấy.”
“Anh có đặt tên cho nó không?”
“Negrote.”[44]
“Nói cách khác, nó nhận biết anh, nó quen thuộc với anh. Anh có thể tiếp cận nó dễ dàng hơn bất kỳ ai khác, đúng thế không?”
Nhận ra mình đang bị dẫn dắt đi theo chiều hướng nào, ông quản đốc lo lắng nhúc nhích cơ thể.
“Ai cũng có thể tiếp cận với nó. Tất cả mọi người. Senor kia không gặp khó khăn gì trong lúc đưa nó vào trong thành phố hết…”
“Thế thì quay lại với vụ ngày tháng nào,” Robles xuề xoà bảo. “Anh đã thừa nhận mình có mặt trong thành phố cả đêm vào ngày 14 tháng Năm.”
“Tôi đã bảo với ông mình ở đâu rồi đấy. Tại căng-tin Estrella de Media Noche (Sao Bán Dạ) . Cứ hỏi những người ở đó đi! Hipolito, Benito Doinguez, tất cả bọn họ đều nhìn thấy tôi…”
“Chúng tôi đã hỏi rồi, anh không cần phải sợ,” Robles nói với chất giọng điềm đạm như một vị thần. “Trong quán rượu không có đồng hồ. Đúng là họ có trông thấy anh lúc chập tối. Nhưng sau đó thì sao?”
“Sau đó, tôi ở nơi người ta hay nghỉ ngơi sau khi một quán rượu đóng cửa, nằm dựa lưng vào một bức tường đâu đó ngoài phố.”
Robles lúng túng gãi tai, như thể chẳng biết phải tính sao, không hiểu tiếp theo mình nên hỏi gì. Một kiểu gây ấn tượng sai lệch để đánh lạc hướng, Manning nhận ra khi đứng quan sát từ phía sau.
“Hãy bỏ qua đêm 14, có vẻ nó không đưa chúng ta đến đâu hết. Vào ngày 26, anh nói…”
Cardozo quay lại nhe răng với họ. “Tôi cũng đã bảo ông rồi đó thôi. Cứ thế này, họ sẽ tính tiền tôi cho ba chuyến viếng thăm chứ không phải một. Thôi được rồi, tôi đến nhà thổ của Dona Sara…”
“Nói tôi nghe, có phải anh toan tính dẫn một cô gái nào đó bỏ trốn để đi xây tổ uyên ương cùng mình không?”
“Comandante (Sếp) đùa rồi. Ai lại đi xây tổ uyên ương cùng với…”
“Comandante không đùa,” Robles lạnh lùng khẳng định. “Thế thì tại sao người ta lại thấy anh quấn một vòng dây chão quanh eo vào cái đêm ghé thăm nhà thổ của Dona Sara?”
Quai hàm Cardozo nâng lên rồi lại hạ xuống, nhưng tất cả những gì thốt ra từ miệng ông ta chỉ là hai đại từ vô nghĩa.
“Tôi… tôi…”
Nhưng Robles không chờ đợi mà bắt đầu hỏi nhanh hơn. “Thế thì tại sao anh lại mang theo một túi đựng mấy miếng thịt tươi vào quán rượu đêm đó? Anh định cho ai ăn? Tự cho mình ăn à?”
“Không, tôi… tôi…”
“Thế chỗ thịt tươi đó ra sao rồi? Lúc lên chuyến xe buýt buổi sáng đi về Las Cruces, anh chẳng còn miếng nào cả. Còn dây chão thì sao? Anh cũng không mang theo nó khi quay trở về.”
“Sợi dây chão… chắc hẳn ai đó ở nhà Dona Sara đã lấy mất nó… Ở mấy chỗ kiểu đấy toàn quân trộm cắp, cứ thứ gì có giá trị là chết với chúng. Còn chỗ thịt thì… chắc con chó hay con mèo nào đã mon men lại gần trong lúc tôi ngủ lăn lóc bên vệ đường ngoài quán rượu…”
“Thế anh mang mấy thứ đó theo làm gì? Có phải anh giấu nuôi một sinh vật đâu đó bên trong thành phố và muốn dắt nó ra ngoài cùng mình hay không? Có đúng thế không? Contesta! (Trả lời ngay!) ” Giọng ông thanh tra bùng nổ. “Có đúng thế không?”
Manning tin rằng trên đời này, mình chưa từng thấy một vẻ hoảng sợ và khiếp hãi như những gì đang bắt đầu xuất hiện trên mặt Cardozo.
“Tôi… tôi… Ồ, khoan đã, không, đừng nghĩ như thế! Tôi thừa nhận rằng mình đã nuôi hi vọng bắt sống được Negrote. Tôi nghĩ có thể mình sẽ tình cờ bắt gặp nó, quăng cho nó chút thịt, tròng thòng lọng qua người nó, xoay xở tìm cách đưa được nó về estancia (trang trại) với mình. Đó chỉ là một thôi thúc vẩn vơ, một ý tưởng ngu xuẩn chợt nảy ra… Nhưng không giống như ông nghĩ đâu! Không giống những gì ông đang nói đâu!”
Ông ta khẩn khoản nhìn quanh hết người này đến người khác. “Senores (Các ông) muốn gì ở tôi? Tôi biết, tôi biết từ mấy tiếng trước rồi. Tôi chưa nhắc gì đến chuyện đó cả, các ông cũng chưa nhắc gì đến chuyện đó. Tôi đã vào thành phố nhưng ở đêm khác nữa, ngoài ba đêm các ông nói đến. Sao các ông không nhắc đến chúng?”
“Được rồi,” Robles đồng thuận, “thế thì ta sẽ làm vậy.” Ông ta đọc thứ gì đó. “Por ejemplo (Ví dụ thế này) , anh vào thành phố hôm 20 tháng Năm.”
“Đúng, đúng vậy!” Cardozo gật đầu lia lịa.
“Anh có mang theo dây chão đêm hôm đó không? Có mang thịt tươi đêm hôm đó không?”
Im lặng cũng chính là câu trả lời.
“Anh vào thành phố hôm 31. Thế đêm đó anh có mang theo đồ không?”
Cardozo hơi rùng mình và đầu gục xuống, như thể đang săm soi kỹ lưỡng thứ gì trước mũi bàn chân.
“Chỉ vào những đêm có chuyện xảy ra trong thành phố này thì anh mới mang theo mấy thứ vật dụng kỳ lạ chúng tôi vừa nhắc đến. Những đêm khác thì không.”
Người đàn ông ngồi giữa tất cả bọn họ chợt vùng đứng dậy. Mấy bàn tay ngay lập tức đặt lên người Cardozo, sẵn sàng chế ngự đối tượng, nhưng ông ta vẫn đứng thẳng, đối mặt với những người đang hành hạ mình. Cho dù thân mình run lên bần bật, ông ta vẫn toát lên một vẻ đường hoàng. Đến cả Manning, một người ngoại quốc, cũng nhận thấy vậy. Trong thoáng chốc, họ không còn là những viên cảnh sát đang vây lấy một nghi phạm nữa, chỉ là những người đàn ông đang đứng quanh một người đàn ông khác.
“Phải, tôi đã từng phạm tội giết người. Tôi đã phải ngồi tù 2 năm vì tội ấy, hồi còn ở tierra (mảnh đất) chôn rau cắt rốn của mình. Tôi xuống tay vì một người đàn bà, bất cứ người đàn ông nào khác cũng sẽ hành động như tôi. Nhưng không phải lần này! Tay tôi nhuốm máu là để trả thù, để chỉnh đốn lại một điều sai trái. Làm sao tôi lại có thể trả thù một người mà cả đời còn chưa bao giờ gặp? Làm sao một người mà tôi còn không biết rằng tồn tại lại có thế làm điều sai trái với tôi? Một số kẻ sẽ giết người để cướp bóc. Ngoài ra, còn lý do nào khác để giết chóc nữa đây?”
Manning lôi một cái giũa móng tay nhỏ ra khỏi túi, giũa một bên ngón cái trong lúc hờ hững dựa vào cửa.
“Đôi khi người ta còn giết người vì đam mê,” anh bất chợt đưa ra nhận xét.
Tất cả cùng quay đầu nhìn về phía anh. Thế là anh thoáng rời mắt khỏi cái giũa. Một sự cố không may xảy ra. Manning giật bắn người, túm chặt lấy phần thịt ở kẽ ngón, gập người xuống, khẽ chửi thề bằng tiếng Anh. Cái giũa rơi xuống đất cạch một tiếng.
Anh tiến vào trong vùng sáng, giữ lấy vết thương mình lỡ gây ra, như thể muốn xem xét kỹ hơn, ấy nhưng vẫn tiếp tục nói nốt câu bình phẩm dang dở.
“Vì đam mê cái hành động ấy, giết chỉ để giết thôi, bởi vì chúng thích cảnh máu me. Bởi vì máu khiến chúng mê mẩn.”
Anh mở bàn tay được che đậy của mình ra, hé lộ một vệt da xước do đầu nhọn của cái giũa gây nên. Vết thương không quá nghiêm trọng nhưng chảy máu bê bết, các vết xước vẫn thường như thế. Máu tươi thậm chí còn chảy xuống cổ tay. Để tránh làm vấy bẩn cổ tay áo, anh vươn tay ra, vô tình giơ bàn tay máu me ngay dưới mũi Cardozo.
Ông ta chớp chớp mắt, hành động của một người đang cảm thấy thiếu thoải mái. Thế rồi người đàn ông quay mặt đi, không kiềm chế được sự ghê tởm trước vết thương rỉ máu gần sát mặt mình.
Không ai nói gì hết, mọi người đều hiểu cả.
Một thoáng sau, Robles buông ra một tiếng thở dài khẽ khàng.
“Đưa anh ta ra ngoài,” ông thanh tra ra lệnh. “Lát nữa chúng ta sẽ tiếp tục sau.”
Trong lúc cánh cửa khép lại, ông ta bảo với một cảnh sát khác, “Xem có kiếm được ít cồn cho ngón tay của norteno (người phương Bắc) này không…”
“Cũng đáng lắm,” Manning nói, thổi lên vết thương và bóp chặt lấy ngón tay ấy. “Giờ ông định làm gì, thả ông ta ra à?”
“Tiếp tục giữ anh ta trong đồn,” Robles cương quyết. “Cho giả thuyết của anh thêm củi, thêm củi, rồi lại thêm củi cho đến khi nó cháy thành tro thì thôi!”
“Tôi không hiểu ý ông.”
Robles mỉm cười ảm đạm. “Nếu mấy trò man rợ này ngưng lại một cách bí ẩn trong lúc anh ta nằm trong tay chúng ta thì là một chuyện. Nhưng nếu xảy ra thêm một vụ nữa…”
[26] Thương thuyền: Tàu thương buôn chính thức của quốc gia.
[37] Aguardiente: Một loại rượu mạnh của Trung Mỹ, tương tự như rượu brandy.
[44] Nagrote (tiếng Tây Ban Nha): Con thú đen to lớn - tên con báo.