Một đêm trôi qua vô cùng chậm chạp.
Sau khi thu xếp gọn ghẽ trong buồng và đã mang cái bình nước lạnh ở trong bếp vào, Amber rửa mặt, đánh răng và chải đầu cẩn thận. Cô kéo một cái giường nhỏ ra và nằm lên đó. Nhưng cô vẫn thức, cứ mỗi khi chợt thiếp đi, cô lại chồm dậy với nỗi lo sợ có việc gì xảy đến cho Bruce.
Tuy nhiên, lúc cô trở dậy nhìn chàng, thấy chàng vẫn ở nguyên vị trí cũ, nói ra những câu khó hiểu, mặt co rúm lại vì lo âu bực bội. Chàng có tỉnh không? Cô không biết vì tuy cặp mắt chàng có mở, nhưng có vẻ như không trông thấy, không nghe thấy cô hỏi, cũng chẳng nhận ra có cô ở đó. Vào khoảng nửa đêm, mồ hôi ngừng chảy, da chàng trở nên nóng bỏng và mặt chàng rất đỏ. Mạch đập nhanh, hơi thở hổn hển và thỉnh thoảng khẽ ho.
Vào lúc bốn giờ, trời đã mờ sáng, Amber dậy, mặc dù mắt nhức nhối, người mỏi mệt. Cô mặc áo vào nhưng không cài hết khuy, không mặc coóc xê, cô bỏ chân vào giày cao gót, không mang bít tất; chải tóc qua loa và rửa mặt, nhưng không thoa son phấn. Bây giờ vẻ ngoài đối với cô không còn quan trọng nữa.
Trong phòng, không khí nặng mùi vì các cửa sổ đều đóng kín. Amber cũng không nghĩ đến không khí thở cho bản thân mình nhưng cô tin ở điều mê tín tầm thường là thay đổi không khí trong phòng rất nguy hiểm cho người ốm nặng vì thần chết không thể vào được một căn phòng cửa đóng then cài. Không khí nặng nề và đặc một mùi khó ngửi, cô chỉ lấy lại được sức sau khi đã mở cánh cửa ăn thông sang phòng khách, hít một hơi trong lành. Cô nhóm lửa trong phòng ngủ và ném vào đó một nắm cỏ khô. Cô thu xếp lại cái giường con, thấy Bruce có vẻ yên tĩnh hơn, cô bèn xách cái xô nước bẩn xuống sân đổ và rửa sạch xô, hai lần lên xuống để mang nước lên. Từ lâu cô đã quên mất công việc của người đầy tớ là nặng nhọc và buồn chán.
Bruce vẫn khát nước dữ dội, mặc dù cô đã đưa cho chàng hết cốc này đến cốc khác vẫn không thấy đỡ, chẳng bao lâu chàng hẩy chúng ra. Chàng nôn nhiều lần, từng cơn một dữ dội, sau đó mồ hôi toát ra như tắm, kiệt sức và bất tỉnh. Đỡ chàng dậy và hứng xô cho chàng, Amber phát ớn vì khiếp đảm và thương hại. Cô tự nhủ thầm: “Chàng sắp chết rồi! Ta biết! Ôi! Cái bệnh khốn kiếp ấy. Tại sao nó đến với chàng? Tại sao chàng lại trong số đó, mà không là những kẻ khác?”
Một lần nữa chàng để rơi mình xuống gối, đột nhiên cô ôm ghì lấy chàng, các ngón tay bấu chặt vào cánh tay và bắp thịt không còn cảm giác của chàng nhưng vẫn còn rắn chắc dưới làn da nâu. Vừa khóc lóc cô vừa ghì chặt chàng vào người mình như để che chở cho chàng khỏi cái chết. Cô lẩm nhẩm tên chàng, chen lẫn những lời nguyền rủa, những câu yêu thương. Tiếng khóc nức nở của cô mỗi lúc một trở nên mãnh liệt cho đến khi cô gần như không tự chủ được nữa.
Amber được Bruce lôi lên từ cái vực thẳm thất vọng và ích kỷ ấy, chàng nắm tóc cô và buộc cô phải ngẩng đầu lên. Cô nhìn chàng, mặt đầy nước mắt, cặp mắt dài ra vì bị kéo tóc. Xấu hổ và ân hận, cô nhìn chàng trừng trừng không biết nói gì và chàng có nghe thấy không.
- Amber…
Lưỡi chàng đã sưng lên gần như đầy miệng và bị phủ một chất cặn trắng, chỗ còn lại thì đỏ và bóng. Mắt chàng như đã tắt, nhưng từ nhiều giờ nay, đây là lần đầu tiên chàng nhận ra cô; chàng cau mày và cố gắng tuyệt vọng để tập trung ý nghĩ và nói:
- Amber… tại sao… tại sao… em… chưa đi?
Cô nhìn chàng thương hại như một con vật bị mắc bẫy:
- Bruce, em đi đây, em đi đây, một lát nữa thôi.
Cô toan đứng lên nhưng không được. Cuối cùng chàng buông tóc cô ra, thở dài và ngoẹo đầu sang một bên, thì thào:
- Lạy Chúa… thương em… Đi đi… trong khi…
Câu nói kết thúc bằng tiếng lục bục như nước sôi, và chàng trở lại trạng thái yên tĩnh tuy miệng vẫn còn lảm nhảm những lời khó hiểu. Từ từ và thận trọng cô đứng xa ra, thật sự sợ hãi, vì cô đã được nghe nói đến những câu chuyện quái đản về những người mắc bệnh dịch hạch phát điên. Khi cô đứng lên được và tránh xa ra, trán cô đẫm mồ hôi. Cô ngừng khóc, nhận thức được là muốn cứu được chàng, trước hết phải bình tĩnh. Có như vậy mới có thể làm bệnh chàng thuyên giảm và cô cương quyết bắt tay vào việc. Cô rửa mặt và tay, chải tóc cho chàng, sắp xếp lại giường và đặt chiếc khăn mát lên trán chàng. Môi chàng khô và nứt nẻ vì cơn sốt, cô lấy pom-mát bôi lên. Sau đó cô nhặt tất cả những chiếc khăn bẩn vào trong một cái túi, dù biết là không một hiệu thợ giặt nào dám nhận nếu họ biết trong nhà có người đang mắc bệnh dịch.
Đến sáu giờ, ngoài phố có tiếng ồn ào, một chiếc xe ngựa đi qua và có tiếng rao:
- Sữa đây!
Cô vội mở cửa sổ, gọi:
- Đợi tôi nhé! Tôi xuống đây!
Nhặt một ít tiền lẻ để trên bàn trang điểm, cô vào trong bếp lấy một cái xô và chạy nhanh xuống dưới nhà.
- Bán cho tôi một ga-lông[17]!
Cô hàng sữa hồng hào khỏe mạnh thường ngày vẫn từ nông thôn mang sữa ra bán, mỉm cười với Amber, vừa đổ sữa vừa nói để có chuyện:
- Hôm nay trời còn nóng đây!
Amber còn mải lắng nghe - vì để ngỏ cửa sổ - xem Bruce động tĩnh ra sao, trả lời bằng cái gật đầu hờ hững. Vừa lúc đó tiếng chuông cầu hồn vang lên, một người chết, những ai nghe thấy phải cầu kinh cho hồn đó được an nghỉ. Amber và cô gái bán sữa nhìn nhau sợ hãi và cùng nhắm mắt lại lẩm nhẩm một câu kinh.
- Thưa bà, xin bà ba xu!
Cô gái nói, nghi ngờ nhìn bộ quần áo đen của Amber. Vào đến ngưỡng cửa nhà, Amber quay lại hỏi:
- Ngày mai cô có đến nữa không?
- Thưa bà, ngày mai không. Lúc này, ai còn biết được ai mạnh khỏe.
Cô ta lại đưa mắt nhìn Amber. Vào đến trong nhà Amber thấy Bruce vẫn nguyên chỗ cũ, nhưng vừa vào đến nơi thì chàng lại nôn và muốn ngồi lên. Cô chạy lại. Cặp mắt chàng không còn tia máu, lòng trắng trở thành màu vàng, sâu hoắm. Rõ ràng chàng không còn nhận thức được xung quanh, hầu như không trông thấy, không nghe thấy. Chàng không cựa quậy và chỉ hành động theo bản năng.
Về sau cô còn mua thêm một vài thứ nữa: phó mát, bơ, trứng, hành, cải, đậu, bánh mì, mỡ và trái cây.
Cô uống sữa và ăn nốt chỗ thịt vịt lạnh còn lại hôm qua; nhưng đến lúc cô bảo Bruce ăn, chàng không trả lời. Cô đưa một cốc sữa lên môi chàng, chàng đẩy ra. Không biết làm sao, cô quyết định đi mời thầy thuốc, hi vọng tìm được một thầy đi qua cửa nhà, vì thông thường thầy thuốc cầm một cái gậy đầu bịt vàng để mọi người phân biệt được. Lúc này nhiều người mắc bệnh như thế, khó mà tìm được một ông thầy; nhưng Amber lại không dám để Bruce một mình, dù chỉ một lúc.
Cuối cùng chàng đi cầu phân có máu, cô sợ hãi quyết định không chờ nữa.
Ra khỏi nhà cầm theo chìa khóa và chạy trong phố đến chỗ mà cô nhớ có trông thấy một cái biển của thầy thuốc.
Đến nơi, cô thở hổn hển, vội gõ cửa. Không thấy ai ra, cô gõ liên tiếp một hồi; đợi một lát nữa không thấy gì cô toan bỏ đi, thì một người đàn bà mở cửa. Bà ta cầm một cái khẩu trang tẩm thuốc cho lên mũi và nhìn Amber vẻ nghi ngờ.
- Thầy thuốc đâu? Tôi muốn được gặp ngay.
Người đàn bà lạnh lùng trả lời vẻ cáu kỉnh:
- Bác sĩ Barton đi thăm bệnh rồi.
- Khi nào ông về, xin bà mời ông đến nhà có cái biển Lông đường St. Martin, ở góc…
Cô giơ tay chỉ nhà rồi chạy về. Nhưng may thay cho cô, Bruce mặc dù có nôn nữa và lại ra nhiều máu hơn, chàng vẫn ở nguyên chỗ cũ.
Cô sốt ruột chờ thầy thuốc, nhiều lần cô thò đầu ra ngoài cửa sổ và nguyền rủa ông ta đến chậm. Đã quá trưa rồi ông ta mới xuất hiện. Cô vội chạy xuống.
- Cám ơn Chúa! Ông đã tới rồi! Xin mời ông nhanh lên.
Đó là một ông già mệt mỏi, ngậm ống điếu, lừ đừ nhìn cô:
- Thưa bà, nhanh có được việc gì đâu!
Cô quay lại nhìn ông bực mình, thấy ông không coi bệnh ấy là hệ trọng đặc biệt. Dầu sao cô cũng được an ủi là ông có đến. Cô sẽ kể cho ông về tình trạng của Bruce và cần phải làm gì. Thông thường cô vẫn không tin ở thầy thuốc, nhưng trong lúc này, cô phải tin như tin vào kinh Thánh kể cả những lời chỉ bảo phù phiếm nhất của một lão lang băm. Cô về đến giường bệnh trước ông ta khá lâu và nhìn ông đang chậm chạp đi vào với đôi mắt lo lắng mở to. Bruce đang ở trong tình trạng hôn mê, mặc dù chàng vẫn cựa quậy và luôn mồm lảm nhảm. Bác sĩ Barton dừng lại cách giường bệnh vài bước, đưa khăn mùi xoa lên mũi. Ông ta im lặng nhìn người bệnh một lúc lâu. Amber hỏi:
- Thưa ông, người bệnh thế nào?
Bác sĩ khẽ nhún vai nói:
- Thưa bà, bà hỏi một câu rất khó trả lời. Tôi không biết gì cả. Anh ấy có hạch không?
- Có ạ, từ đêm qua.
Cô mở chăn ra, cho ông nhìn thấy cái hạch ở bẹn Bruce đã to bằng quả bóng quần vợt nổi lên một nửa, da đỏ và căng bóng.
- Bà có thấy ông đau đớn lắm không?
- Một lần tôi vô tình chạm phải, anh ấy thét lên kinh khủng.
- Hình thành cái hạch là giai đoạn đau đớn nhất của căn bệnh, ít người tới được đó.
- Thưa bác sĩ, vậy là anh ấy sống chứ? Anh ấy sẽ khá lên chứ?
Mắt cô sáng lên.
- Thưa bà, tôi không dám hứa với bà gì cả. Tôi chẳng biết nữa. Không ai biết được. Chúng ta chỉ có thể chấp nhận là không biết gì cả, chúng ta bất lực. Nhiều khi người ta chết trong một giờ, có khi sau mấy ngày. Cái chết nhiều khi rất nhẹ nhàng, không giãy giụa, tuy nhiên đó là cơn hấp hối hãi hùng. Những người có sức và khỏe mạnh cũng có cái yếu như những người yếu, ốm. Bà đã cho ông ăn gì chưa?
- Anh ấy không chịu ăn gì cả, luôn bị nôn nên có ăn vào cũng vô ích.
- Mặc dù thế nào cũng phải cho ăn. Bắt ông phải ăn thứ gì luôn, cứ ba bốn giờ một lần, trứng, cháo, rượu nóng và giữ cho ông được luôn luôn ấm. Đắp tất cả mọi thứ chăn mà bà có và không được để cho ông hất chăn ra. Nung những hòn gạch nóng để xuống chăn, và nếu có những cái ấm nhỏ bằng sứ nên sử dụng nó, đắp lên cái hạch những liều thuốc cao làm bằng những quả sung, dấm, mật ong, nếu bà có, ruột bánh mì và nhiều mù tạt. Nếu ông muốn hất ra thì phải băng nó lại. Chừng nào mà nó còn chưa mưng mủ và vỡ ra, thì hi vọng khỏi ít lắm. Cho ông uống một liều thuốc mửa mạnh ví dụ ăng ti moan bỏ trong rượu trắng và tẩy ruột. Đó là tất cả những gì mà tôi có thể khuyên bà. Còn bản thân bà, bà thấy sức khỏe thế nào?
- Rất tốt, chỉ hơi mệt thôi. Tôi đã phải đứng gần suốt một đêm.
- Tôi sẽ đi báo với giáo khu và người ta sẽ cử đến cho bà một người nữ hộ lý giúp bà. Để phòng bệnh tốt, khuyên bà nên lấy những trái nạo trộn với dấm và hun khói trong nhà nhiều lần mỗi ngày.
Ông ra đến cửa còn quay lại dặn thêm:
- Tiện thể xin nói để bà biết, nên cất tất cả những đồ vật quý giá trước khi người nữ hộ lý đến.
- Trời ơi! Hạng đàn bà nào mà giáo khu cử đến cho tôi?
- Giáo khu buộc lòng phải nhận những người tình nguyện mà chúng ta khó có thể tin tưởng, mặc dù trong số họ có những người lương thiện, nhưng không phải là không có những kẻ gian.
Ông đã ra đến phòng ngoài, trước khi xuống thang, còn quay lại dặn thêm:
- Nếu có những nốt đặc biệt của bệnh xuất hiện, bà nên đi báo cho nhà thờ rung chuông cầu hồn. Trường hợp đó không còn có thể làm gì được nữa.
Đúng lúc đó họ nghe thấy chuông kêu hai tiếng cho một người đàn bà.
- … Sự trừng phạt của đức Chúa Trời đối với tội lỗi của chúng ta là không thể tránh. Thưa bà, xin chào bà!
Amber đi vào bắt tay ngay vào việc, mặc dù mệt mỏi, cô vẫn làm, làm tất cả những gì vì chàng, đều làm cho cô vui sướng, và cho cô cảm giác hoàn thành sứ mệnh.
Cô đun nhiều ấm nước nóng, lấy ra đến nửa tá chăn từ phòng trẻ; chàng phản đối và đẩy chúng ra, nhưng cô đều kiên nhẫn đắp lại đến nỗi mồ hôi cô chảy tràn trề trên má và làm ướt cả những cái chăn. Nhóm to ngọn lửa làm cho căn phòng nóng hẳn lên, cô phải bỏ váy, vén tay áo lên, cởi áo ngoài ra, lụa dính vào da thịt cô.
Buộc chàng phải uống một liều thuốc nôn, và không cần đợi hiệu quả, cô tiến hành rửa ráy. Đó là một công việc nặng nhọc và khó khăn; nhưng Amber đã vượt qua được sự ghê tởm, làm tất cả những gì cần phải làm; với tất cả cố gắng của mình, không phàn nàn. Sau đó cô lau sàn, rửa tay và vào bếp để chuẩn bị thuốc cao với mù tạt, nước uống với sữa nóng, đường, kẹo mứt và rượu trắng.
Bruce để cho Amber dán thuốc cao không phản kháng, hình như chàng không nhận thấy nữa. Yên tâm, cô lại quay vào bếp nấu nốt sữa.
Nếm thử, cô cho thêm một ít quế. Ngon thật! Cô đổ tất cả vào một cái bình và chuẩn bị mang vào phòng ngủ. Vừa lúc đó có tiếng kêu làm cô lạnh xương sống. Rồi một tiếng động dữ dội, tiếng răng rắc hãi hùng.
Vội để cái bình xuống mặt tủ, cô lao vào trong phòng ngủ. Bruce rơi nửa mình xuống đất. Muốn đứng lên nhưng vì yếu quá, chàng đã làm đổ cái bàn.
- Bruce! - Cô kêu lên.
Nhưng chàng không ý thức được việc gì xảy ra xung quanh. Chàng từ từ đứng lên, cố đi ra ngoài cửa sổ nhỏ mà cô đã quên không đóng. Cô lao ra trước mặt chàng, nắm lấy ngọn đèn nến trên mặt tủ, vào lúc chàng đặt chân lên thành cửa, cô giữ chặt tay chàng và giáng cho chàng một đòn vào gáy. Cô lờ mờ nhận thấy có những người đi đường chứng kiến cảnh đó và cô nghe thấy tiếng một người đàn bà thét lên.
Bị đánh, chàng loạng choạng từ từ lùi lại, cô vội hai tay ôm lấy chàng và tìm cách làm cho chàng ngã lên giường. Nhưng chàng nặng quá, dù cố gắng hết sức chàng vẫn từ từ rơi xuống đất. Biết mình không thể nâng chàng lên được để đặt lên giường, cô đẩy một cái thật mạnh và chàng lăn xuống kéo theo cả cô. Cô vội vàng đứng lên, ném một cái chăn lên người chàng vì chàng trần truồng mồ hôi đầm đìa. Lôi, kéo, đẩy, vừa sợ hãi vừa bực tức, cuối cùng cô cũng đặt được chàng nằm lên giường, và cô để mình rơi phịch xuống một cái ghế bên cạnh, hoàn toàn kiệt sức và run rẩy.
Một dòng máu chảy từ gáy chàng xuống, cô nặng nề đứng lên, lấy bông thấm nước lau chỗ bị thương và xé một cái khăn băng lại.
Cô bực mình thầm nghĩ: “Hộ lý quái gì mà mãi chẳng thấy đến!” Cô đặt lại thuốc cao và thay nước nóng cho những cái ủ.
Bruce nằm yên được một lúc trước khi tỉnh lại, rồi chàng lại sốt nóng dữ dội hơn. Chàng cựa quậy, ném hết chăn đi, chửi rủa giận dữ. Khó nhọc lắm cô mới cho chàng uống được một ít sữa, chàng liền hẩy cái bình lăn xuống sàn.
Khi thấy chàng có vẻ yên, cô lấy bút và giấy ra ngồi cạnh giường để viết cho Nan một bức thư. Khó khăn lắm, vì cô muốn nói lên sự thật, nhưng lại lo làm cho Nan sợ hãi, phải mất đến nửa giờ mới viết xong. Cô thấm mực, bỏ vào phong bì, gắn lại bằng một dấu xi vàng to tướng. Cầm lấy một đồng si linh, cô đi ra cửa với hi vọng tìm được một trẻ em nào đi ngang qua nhà, sẽ nhờ nó bỏ thư vào thùng bưu điện và cho nó tiền. Nan sẽ trả cả tiền phạt vì không dán tem lúc nhận thư.
Trời sẫm lại, một vài ngôi sao đã bắt đầu xuất hiện. Ngoài đường rất nhiều người qua lại, Amber trông thấy một thanh niên bịt mũi khi đi qua nhà mình.
Amber nhìn xuống bên dưới, thấy một người lính vác kích đứng gác trước cửa. Như thế có nghĩa là một chữ thập đỏ đã vẽ lên cánh cửa nhà và hai người sẽ bị nhốt trong nhà bốn mươi ngày đêm, nếu như họ không bị chết. Mấy ngày trước đây hẳn cô phải khiếp sợ, nhưng bây giờ cô chấp nhận sự việc một cách thờ ơ.
- Này anh lính!
Cô nhẹ nhàng gọi, anh ta ngẩng đầu lên.
- Anh có thể nhờ ai bỏ hộ tôi bức thư này vào thùng bưu điện không? Tôi xin tạ ơn anh.
Anh ta gật đầu, cô liền ném thư và tiền xuống rồi đóng cửa lại. Nhưng cô vẫn đứng một lúc ngắm cây cối và bầu trời như một tù nhân. Cô quay lại và một lần nữa đắp lại chăn cho chàng. Gần chín giờ tối mới thấy người nữ hộ lý tới. Amber nghe thấy bên dưới có người nói với anh lính gác rồi có tiếng gõ cửa. Cầm lấy cây đèn nến, cô vội xuống để đưa người hộ lý vào. Cô hỏi:
- Tại sao bà đến muộn thế? Bác sĩ đã nói với tôi đưa bà đến vào buổi trưa?
- Thưa bà, tôi vừa mới từ giã người bệnh cuối cùng của tôi xong. Chết thì cần gì phải vội vã!
Amber trèo vội lên cầu thang và giơ cao ngọn đèn để soi đường, nhưng bà già lên rất chậm chạp, thở dốc. Lên hết cầu thang, Amber quay lại nhìn. Người mới đến không đáng tin cậy tí nào.
Đó là một mụ già khoảng sáu mươi tuổi, rất béo. Mặt mụ tròn và mềm nhũn, mũi nhọn hoắt và một cái mồm như không có môi. Mụ mang một thứ tóc giả màu vàng đặt lên đầu rối bù, một cái áo nhung màu đỏ sẫm bẩn và cũ kĩ, để hở hai vai bẩn thỉu và bó chặt bộ ngực đồ sộ mềm nhũn. Người mụ toát lên một mùi hôi và khai. Amber hỏi:
- Tên bà là gì?
- Thưa bà, tên tôi là Spong.
- Còn tôi là Dangerfield, người ốm nằm trong này.
Amber đi vào buồng ngủ và Spong lắc lư theo sau, cặp mắt xanh kỳ quặc của mụ không để sót một chi tiết nào của căn phòng. Mụ cũng chẳng thèm ngó đến Bruce, làm cô bực:
- Thế nào?
Cô hỏi. Mụ khẽ giật mình, cười mơ hồ ngốc nghếch làm lộ ra mấy cái răng khấp khểnh đen sì.
- Ồ, người ốm đấy à? - Mụ quan sát Bruce một lúc rồi hỏi. - Ông có vẻ không được khỏe phải không?
Amber bực bội và thất vọng vì vớ phải mụ già ngu ngốc này.
- Không! Bà có phải là một hộ lý không? Hãy cho tôi biết tôi cần phải làm gì? Làm sao cho cơn bệnh thuyên giảm được. Tôi đã theo đủ mọi căn dặn của bác sĩ rồi…
- Vậy thưa bà, bác sĩ đã dặn bà rồi, tôi còn biết nói gì hơn?
- Nhưng bà thấy bệnh nhân thế nào? Bà đã từng phục vụ nhiều bệnh nhân khác, bà thấy ông đây so với các bệnh nhân khác ra sao?
Mụ Spong xem xét một lúc, mút lưỡi rồi nói:
- Như thế này, có những kẻ xấu hơn và cũng có những kẻ tốt hơn. Nhưng thành thực mà nói, ông nhà có vẻ không tốt đâu. Và bây giờ, thưa bà, bà có còn chút thức ăn nào để thết con mụ già tội nghiệp và đói khát này không? Ở nơi cuối cùng vừa rồi không còn một tí gì có thể ăn được; xin thề với bà…
Amber nhìn mụ già ghê tởm, nhưng vì lúc đó Bruce lại bắt đầu nôn, cô vội một tay hứng cái chậu con, một tay chỉ vào bếp nói:
- Ở trong kia!
Cô cảm thấy mệt mỏi hơn và hoàn toàn thất vọng. Cái mụ già gớm ghiếc này còn giúp ích được gì cho cô. Không bao giờ cô dám để cho mụ mó vào người Bruce, vả lại chính mụ cũng tỏ vẻ không dám lại gần. Tất cả điều mà Amber mong mỏi nhất, là sao cho mụ canh Bruce đêm nay để cô có thể ngủ được một chút. Hôm sau cô sẽ tống mụ đi và kiếm một người khác khá hơn.
Nửa giờ trôi qua chẳng thấy Spong đâu, cuối cùng chán ngán cô đi tìm mụ, và thấy cái bếp xinh xắn sạch sẽ biến thành một cái buồng chứa rác thực sự. Tủ chứa thức ăn mở toang, một quả trứng vỡ nằm dưới đất. Miếng giăm bông bị sứt sẹo, bánh phó mát thiếu một phần tư. Spong quay lại ngạc nhiên nhìn cô. Một tay mụ cầm khoanh giăm bông, tay kia cầm chai sâm banh mà cô đã mở hôm qua.
Amber hài hước nói:
- Thế nào! Tôi mong rằng bà không bị chết đói ở đây đấy chứ?
- Thưa bà không ạ! - Mụ xác nhận. - Tôi vẫn mong được phục vụ ở những nhà quyền quý hơn. Còn ở bọn họ, chẳng có gì ăn cả, bà thấy đấy.
- Vào trong buồng trông nom đức ngài. Tôi còn phải chuẩn bị cho ngài thức gì để ăn chứ! Nếu thấy đức ngài tung chăn ra hoặc muốn nôn thì gọi tôi… nhưng không được mó tay đến…
- Đức ngài đấy à? Bà có lẽ cũng là đức bà, phải không?
- Thôi, đi phục vụ ngài đi và làm theo lời tôi dặn.
Spong nhún vai tuân lời. Amber chau mày nghiến răng và lập tức cô bắt tay vào chuẩn bị khay thức ăn. Vài giờ trước đây cô đã cho chàng ăn được một bát cháo nấu từ đêm trước; nhưng chỉ mười lăm phút sau chàng đã trả lại hết.
Lần này, bưng cái chậu con trong lúc chàng nôn tháo ra cô thất vọng đến phải khóc lên. Spong nhìn nhận vấn đề với nhiều triết lý hơn. Nằm ườn trong cái ghế bành cách giường vài bước, mụ nhấm nháp rượu với miếng thịt vịt còn lại, ném xương qua cửa sổ và trao đổi những mẩu chuyện tục tĩu với người lính gác. Từ trong bếp đi ra, thấy thế Amber liền quát lên và đóng mạnh cửa sổ lại:
- Tôi cấm bà không được mở cửa sổ ra. Bà làm gì thế?
Spong giật mình:
- Thưa bà, trời ơi! Tôi có làm gì ngài đâu!
- Hãy làm theo lời tôi, không được mở cửa này ra nữa. Mụ già ngu ngốc bẩn thỉu! - Cô nói trong kẽ răng.
Sau đó Amber đi vào rửa bát đĩa và dọn dẹp trong bếp.
Bruce mỗi lúc một cựa quậy mãnh liệt hơn, theo Spong nói, đó là do cái hạch gây đau đớn. Hai trong số bệnh nhân của mụ, theo mụ nói một cách thản nhiên, đã điên và tự sát.
Thật là kinh khủng, thấy chàng đau mà không làm sao được! Amber không một lúc nào rời chàng, tìm biết những ý muốn dù nhỏ nhất của chàng. Cô đắp lại chăn mỗi khi chàng hất ra, thay đổi lá thuốc cao. Một lần, khi cô đang cúi xuống người chàng, chàng liền tống cho cô một quả đấm thật mạnh đến nỗi nếu cô không lùi kịp đã bị lăn xuống sàn. Cái hạch đã to lắm, hiện đã có kích thước của toàn bộ quả bóng quần vợt và chỗ da phủ lên nó dày và đen sì.
Mụ Spong thì ngồi, miệng lẩm bẩm hát, khẽ đập cái chai không vào đùi. Amber vì bận và quá lo âu nên đã quên mất sự có mặt của mụ.
Tuy nhiên vào khoảng mười một giờ đêm, sau khi cô đã xếp đặt đâu vào đấy, cởi quần áo và rửa ráy, cô quay lại bảo mụ già:
- Đêm trước không được ngủ tới ba giờ, tôi kiệt sức lắm rồi. Bà có thể trông nom ngài trong ba bốn tiếng không? Sau đó bà sẽ đánh thức tôi, tôi sẽ thay bà. Chúng ta phải thay đổi nhau vì không thể để ngài một mình được. Bà sẽ đắp lại chăn nếu ngài tung ra, được không?
- Thưa bà được ạ, - Spong trả lời với cử chỉ quả quyết quá đến nỗi làm rơi bộ tóc giả và để lộ ra mớ tóc bạc thưa thớt và bẩn thỉu - Bà có thể tin ở tôi, xin thề!
Amber lắp cái giường con bên cạnh cái giường ngủ rồi nằm lên đó, mặc nguyên áo ngủ nhưng không đắp chăn vì trong phòng rất nóng. Cô sợ ngủ quên, không dám bỏ chàng, nhưng cô cảm thấy cần phải vậy. Sau mấy giây, cô thiếp đi.
Cô bị đánh thức dậy bởi một quả đấm vào giữa mặt, một thân hình nặng nề đè lên người cô. Vô tình cô kêu lên, hiểu việc gì xảy ra, cô liền tìm cách gỡ mình ra. Bruce, trong cơn giãy giụa, đã rơi từ trên giường xuống và lăn vào cô. Bây giờ chàng nằm đó bất động. Cô gọi Spong nhưng không có tiếng trả lời. Lúc cô đứng lên được thì thấy mụ đang mở có một mắt. Vội vòng quanh giường, giáng một cái tát mạnh lên bộ mặt mềm nhẽo và cầm lấy một cánh tay buông thõng, lay thật mạnh, cô hét:
- Đứng lên! Đứng lên! Con mụ già ăn mày này! Lại đây…
Bị đánh thức đột ngột, mụ bật lên từ chiếc ghế bành, lanh lẹn hơn bình thường. Mấy giây sau hai người đàn bà đặt lại được Bruce lên giường, chàng hoàn toàn bất động. Amber lo lắng cúi xuống cầm lấy cổ tay chàng bắt mạch. Mạch còn đập nhưng rất yếu.
Bỗng nhiên có tiếng rên rỉ; đó là Spong đang than vãn:
- Trời ơi… Tôi đã sờ phải, bây giờ tôi sắp bị lây…
Amber tức giận quay lại quát:
- Cho mụ đáng đời! Mụ già ghê tởm! Mụ đã ngủ, để ngài rơi ra khỏi giường. Mụ có thể giết chết ngài! Nhưng lạy Chúa! Nếu ngài chết, cầu cho mụ mắc bệnh dịch để mà tự kết liễu còn hơn… ta sẽ bóp cổ mi. Chúa làm chứng cho ta… Ta sẽ bóp cổ mi cho đến chết bằng chính bàn tay của ta…
Spong run rẩy lùi lại:
- Trời ơi, thưa bà! Tôi chỉ mới chợp đi có một chút, tôi xin thề! Nhân danh Chúa, xin bà đừng hại tôi!
Amber quay đi ghê tởm, bỏ rơi hai nắm tay xuống:
- Mụ chẳng làm được việc gì cả. Ngày mai tôi sẽ tìm một hộ lý khác.
- Thưa bà không được đâu. Bà không thể đuổi một hộ lý. Tôi được giáo khu phái đến và ở lại cho đến khi hai người đều chết hết.
Amber thốt ra tiếng thở dài kiệt sức, bộ tóc rơi xuống che cả mặt:
- Thôi được, đi mà ngủ, tôi sẽ thức. Đằng kia có cái giường.
Cô chỉ tay vào phòng trẻ.
Trong suốt cái đêm dài dằng dặc ấy, cô không rời mắt khỏi chàng. Bruce lúc này đã yên ắng hơn. Bên ngoài tiếng chuông cầu hồn đánh ba lần, người đi tuần đêm tung lên âm thanh của mình như tiếng nhạc:
- Xin chú ý đến đồng hồ và các khóa cửa.
- Đừng để tắt lửa và ánh sáng. Chúa sẽ đem lại một đêm tốt lành. Một giờ sáng!